Đồng thời, qua luận văn, chúng tôi muốn mang đến cái nhìn lịch đại đối với sáng tác của hai nhà văn nữ thuộc hai thời kì: Trước năm 1975 và sau năm Với hai công trình ―Tự sự học – Một s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trương Thị Quỳnh Anh
NGƯỜI TRẦN THUẬT VÀ DIỄN NGÔN TỰ SỰ
TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU NGUYỄN THỊ THUỲ VŨ, NGUYỄN NGỌC TƯ
– MỘT CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh − 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trương Thị Quỳnh Anh
NGƯỜI TRẦN THUẬT VÀ DIỄN NGÔN TỰ SỰ
TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU NGUYỄN THỊ THUỲ VŨ, NGUYỄN NGỌC TƯ
– MỘT CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh − 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thành Thi Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với bất cứ công trình nào khác
Luận văn có sử dụng một số trích dẫn, kết quả từ những công trình nghiên cứu khác Tất cả đều được trích dẫn đúng quy định
Tác giả luận văn
Trương Thị Quỳnh Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ
từ nhà trường, thầy cô và gia đình Thông qua luận văn, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Quý thầy cô giáo Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Sau đại học, Tổ Thông tin Thư viện Đại học Sư phạm đã giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
PGS TS Nguyễn Thành Thi – người hướng dẫn khoa học – người thầy tận tâm đã định hướng, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu Sự giúp đỡ của thầy là kim chỉ nam và là động lực lớn để giúp tác giả hoàn thành luận văn Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp − những người đã hỗ trợ, động viên tác giả trong thời gian thực hiện luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời chúc sức khỏe và hạnh phúc đến tất cả mọi người
Trương Thị Quỳnh Anh
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG 13
1.1 Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài 13
1.1.1 Tự sự học và tính khả dụng của tự sự học trong nghiên cứu văn xuôi hư cấu 13
1.1.2 Một số khái niệm công cụ 15
1.1.3 Phê bình nữ quyền và vấn đề chủ thể trần thuật trong lối viết nữ 29
1.2 Cơ sở thực tiễn 33
1.2.1 Hai nhà văn nữ viết nhiều về nữ giới 33
1.2.2 Hai nhà văn nữ viết nhiều về cuộc sống con người Nam Bộ 34
1.2.3 Hai tác giả dấn thân trên con đường sáng tạo văn chương ở hai chặng đường khác nhau 37
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2 CHỦ THỂ TRẦN THUẬT NỮ VỚI ĐỒNG THUẬT, DỊ THUẬT VÀ CÁC TÌNH HUỐNG TỰ SỰ ƯA CHUỘNG 42
2.1 Chủ thể trần thuật nữ trong sáng tác của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư 42
2.1.1 Cuộc sống nhìn từ lăng kính chủ thể nữ 43
2.1.2 Âm hưởng nữ quyền 48
2.2 Phương thức đồng thuật và dị thuật trong sáng tác của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư 56
2.2.1 Đồng thuật – sự can dự trực tiếp của người trần thuật 57
2.2.2 Dị thuật – sự ẩn mình của người trần thuật 63
2.3 Phương thức sử dụng tình huống tự sự 74
Trang 62.3.1 Xu hướng ưa chuộng nội tiêu điểm – tình huống tự sự ngôi thứ
nhất và tình huống tự sự hoá thân 76
2.3.2 Sự ―kiến tạo‖ lại thế giới qua lăng kính nữ 85
Tiểu kết chương 2 92
Chương 3 CHỦ THỂ TRẦN THUẬT NỮ VỚI CÁI TÔI TRẢI NGHIỆM VÀ XU HƯỚNG KIẾN TẠO DIỄN NGÔN TỰ SỰ 93
3.1 Chủ thể nữ với cái tôi trải nghiệm trong truyện kể 93
3.1.1 Trải nghiệm cá nhân 93
3.1.2 Trải nghiệm giới nữ 99
3.2 Xu hướng ưa chuộng diễn ngôn gián tiếp tự do 105
3.2.1 Tính song điệu của diễn ngôn gián tiếp tự do 105
3.2.2 Cấu trúc của diễn ngôn gián tiếp tự do 112
3.3 Xu hướng hoà phối diễn ngôn tả, kể, bình luận đậm ―cá tính của miền Nam‖ 118
3.3.1 Hoà phối diễn ngôn kể, tả – lời văn giàu cảm xúc và bức tranh thiên nhiên, con người Nam Bộ 120
3.3.2 Hoà phối diễn ngôn kể, bình luận: nốt trầm trong bản nhạc cuộc sống và những suy tư, chiêm nghiệm của tác giả 128
3.3.3 Hoà phối diễn ngôn kể và bình luận: lời văn chiêm nghiệm và tiếng lòng thổn thức 131
Tiểu kết chương 3 134
KẾT LUẬN 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 140 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo quan điểm của lý thuyết tự sự học, truyện ngắn và tiểu thuyết có khả năng miêu tả, tái hiện những bức tranh rộng lớn về đời sống, số phận con người Cùng với sự chuyển động của nền văn học thế giới, văn học Việt Nam nói chung và truyện ngắn – tiểu thuyết nói riêng dần có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong việc cách tân, làm mới nghệ thuật trần thuật
Trong dòng chảy văn học, những cây bút nữ như Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Phạm Thị Hoài, Thuận, Nguyễn Ngọc Tư,… đã đánh dấu lên ―bản đồ‖ văn học Việt Nam những dấu ấn rõ nét, góp phần xác lập vị thế của văn học nữ trong nền văn học Việt Nam Trong đó, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư đã mang đến cái nhìn đa diện về sự chuyển mình mạnh mẽ trong sáng tác của nhà văn nữ đương đại Nếu như Nguyễn Thị Thuỵ Vũ được đánh giá là một trong bốn cây viết nữ xuất sắc của nền văn học đô thị miền Nam Việt Nam trước năm 1975 thì Nguyễn Ngọc Tư được xem là nhà văn nữ tiêu biểu của văn học Việt Nam những năm gần đây Hai nhà văn nữ, hai thế hệ khác nhau, hai bối cảnh khác nhau nhưng đều gặp gỡ nhau
trên con đường cách tân và đổi mới nghệ thuật trần thuật Từ ―Chiều xuống êm đềm‖, ―Khung rêu‖, ―Thú hoang‖,… của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ đến ―Khói trời lộng lẫy‖, ―Cánh đồng bất tận‖,… của Nguyễn Ngọc Tư, hình ảnh người con người và
cuộc sống dần được khắc hoạ rõ nét Bằng vốn liếng đời sống đa dạng cùng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư đã cất lên những tiếng nói riêng về số phận con người, đậm tô những trở mình nhức nhối của cuộc sống đương thời Để rồi từ đó, bức tranh cuộc sống được hiện hình rõ nét trên từng trang văn, chân thật và đầy thổn thức
Những tiếng nói ấy được khéo léo gửi gắm sau những kí hiệu về không gian, thời gian, ngôn ngữ, chi tiết, sự việc, nhân vật trong mỗi tác phẩm Hiện hữu trong toạ độ không gian – thời gian ấy là những mảnh đời tha hương lưu lạc, những kiếp người sống mòn và tàn tạ trong một trái tim đầy tổn thương Và để có thể giải mã những kí hiệu ấy trong tác phẩm, nghệ thuật trần thuật trở thành một ―công cụ‖ đắc
Trang 8lực Trong đó, người trần thuật và diễn ngôn tự sự đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải nội dung và thông điệp tác phẩm; đồng thời là ―đất diễn‖, tạo nên phong cách nhà văn
Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài ―Người trần
thuật và diễn ngôn tự sự trong văn xuôi hư cấu Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Nguyễn Ngọc Tư – Một cái nhìn đối sánh” Với đề tài này, chúng tôi mong muốn mang
đến một hướng tiếp cận mới với sáng tác của hai nhà văn nữ nổi bật của văn học Việt Nam Đồng thời, qua luận văn, chúng tôi muốn mang đến cái nhìn lịch đại đối với sáng tác của hai nhà văn nữ thuộc hai thời kì: Trước năm 1975 và sau năm
Với hai công trình ―Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử‖ (2017, Nxb Đại học Sư phạm) và ―Tự sự học – Lý thuyết và ứng dụng‖ (2018, Nxb Giáo
dục Việt Nam), Trần Đình Sử đã có những đóng góp quan trọng trong việc làm rõ
các nội dung quan trọng của tự sự học Nếu như ―Tự sự học – Lý thuyết và ứng
dụng‖ tập hợp những bài nghiên cứu về tự sự học thì công trình ―Tự sự học – Một
số vấn đề lí luận và lịch sử‖ đã cung cấp hệ thống lí thuyết quan trọng của tự sự
học Trong đó vấn đề ―Người kể chuyện và loại hình của nó‖ và ―Điểm nhìn trần thuật‖ lần lượt được làm rõ ở chương V và chương VI của công trình Hai công
trình nghiên cứu của Trần Đình Sử trở thành la bàn chỉ hướng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình
Trong công trình nghiên cứu ―Điểm nhìn và ngôn ngữ trong truyện kể‖,
Nguyễn Thị Thu Thuỷ đã tập trung làm rõ các phương diện quan trọng của điểm nhìn Điểm nổi bật của công trình này là tác giả đã cung cấp hệ thống lý thuyết chi
Trang 9tiết về điểm nhìn, điểm nhìn và các phương thức kể chuyện, điểm nhìn trong thoại dẫn Song song với lý luận, tác giả đã đưa ra những minh hoạ, ứng dụng của lý thuyết điểm nhìn Từ đó, các vấn đề về điểm nhìn được trình bày chi tiết, cụ thể và
có chiều sâu
Công trình dịch thuật ―Biên giới của truyện kể” (2010) của Trần Huyền Sâm
đã trình bày những quan điểm của G Genette về khái niệm truyện kể Với việc đưa
ra sự phân biệt giữa những cặp khái niệm đối lập như truyện kể và bắt chước, sự trần thuật và miêu tả, truyện kể và diễn ngôn, G Genette đã làm rõ ―những biên giới cần thiết của truyện kể‖ Bên cạnh đó, Trần Huyền Sâm còn tóm tắt những lý
thuyết trọng tâm của G Genette về thời gian trần thuật, người kể chuyện và phối cảnh trần thuật
Cùng với Trần Huyền Sâm, tác giả Nguyễn Mạnh Quỳnh đã đưa lý thuyết
của G Genette đến gần hơn với độc giả thông qua công trình dịch thuật ―Một số
luận điểm cơ bản trong Diễn ngôn tự sự của G Genette‖ (2006) Trong công
trình, tác giả đưa ra khái lược về ―ba phạm trù được Genette hình dung để mô tả thời gian là trật tự, khoảng thời gian (hay tốc độ) và tần số‖ Bên cạnh việc dịch
thuật lý thuyết, Nguyễn Mạnh Quỳnh còn đưa ra những nhận định, diễn giải từ quan
điểm cá nhân Đặc biệt, phần lý thuyết về trần thuật sự kiện (narrative of events) – trần thuật ngôn từ (narrative of words) và tụ điểm trần thuật (focalization) đã giúp
chúng tôi hiểu thấu hơn về khái niệm người trần thuật và diễn ngôn trần thuật
Trong công trình nghiên cứu ―Phối cảnh và điểm nhìn trong truyện kể‖,
Đào Duy Hiệp đã lược thuật những vấn đề phối cảnh và điểm nhìn trong truyện kể
trong công trình ―Figure III‖ của G Genette Không dừng lại ở việc dịch thuật lý
thuyết, Đào Duy Hiệp còn minh hoạ và phân tích thông qua các văn bản nghệ thuật
Từ đó, tác giả đi đến kết luận về vai trò của phối cảnh và điểm nhìn trong văn bản
nghệ thuật: ―Phối cảnh và tụ tiêu là cả một hành trình khám phá bản chất sáng tạo của người nghệ sĩ Mỗi nhà nghệ sĩ là một “cái nhìn” cuộc đời và triết lí nhân sinh
Lí thuyết làm sáng rõ quá trình đó”
Với sự phổ biến và giá trị học thuật, lý thuyết tự sự học được nhiều nhà nghiên cứu vận dụng vào các công trình của mình
Trang 10Trong công trình nghiên cứu ―Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt
Nam đương đại‖ (2008), Thái Phan Vàng Anh đã đưa ra những nhận xét, đánh giá
về tính đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật Qua đó, tác giả nhấn mạnh vai trò quan
trọng của người trần thuật: ―Với cách vận dụng linh hoạt ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ vùng miền; và nhất là cách tổ chức đồng thời nhiều tiếng nói khác nhau, người trần thuật có vai trò quan trọng trong việc cấu trúc tác phẩm, dẫn dắt mạch truyện‖
Trong bài báo “Diễn ngôn gián tiếp tự do trong truyện ngắn “Cá sống” của
nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần” (2013), Hoàng Tố Mai đã làm rõ những biểu hiện
của diễn ngôn gián tiếp tự do trong truyện ―Cá sống‖ Từ đó, tác giả khẳng định vai trò của lớp diễn ngôn này “trong việc tạo ra những câu văn tinh tế, bề sâu cho truyện ngắn Nguyễn Ngọc Thuần”
Trong luận văn thạc sĩ ―Đặc điểm diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn
Hồ Anh Thái‖ (2014), Đoàn Thị Minh Huyền đã vận dụng lý thuyết tự sự học để
khảo sát về đặc điểm diễn ngôn trần thuật và đánh giá về hiệu quả hoà phối các lớp diễn ngôn người kể chuyện và diễn ngôn nhân vật Từ đó, tác giả đưa ra đánh giá về hiệu quả hoà phối đối với sáng tác của Hồ Anh Thái trong giai đoạn đầu và giai
đoạn sau: ―Diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái có sự vận động, thay đổi theo chiều hướng phù hợp với sự vận động của văn nghệ dân tộc‖
Phạm Thị Thanh Phượng đã vận dụng lý thuyết tự sự vào công trình nghiên
cứu ―Người kể chuyện ngôi thứ nhất trong truyện ngắn nữ đương đại Việt Nam‖
(2014) Trong công trình nghiên cứu, tác giả đã trình bày đặc điểm của các kiểu người kể chuyện ngôi thứ nhất trong truyện ngắn nữ đương đại Việt Nam, bao gồm
―cái tôi trải nghiệm (tự kể về mình) và ―cái tôi chứng kiến” (kể chuyện người
khác)
Công trình nghiên cứu ―Hình tượng người kể chuyện trong văn xuôi Bùi
Ngọc Tấn‖ của Phan Thuý Hằng nghiên cứu các hình thức của chủ thể kể chuyện
và mối quan hệ giữa tác giả và người kể chuyện trong các sáng tác của Bùi Ngọc Tấn Từ đó, tác giả khẳng định những kế thừa và cách tân hình thức người kể chuyện của Bùi Ngọc Tấn
Trang 11Với hệ thống lý thuyết đa dạng và phong phú, tự sự học thường xuyên được ứng dụng trong các công trình nghiên cứu về đặc điểm sáng tác của các nhà văn
Trong luận văn thạc sĩ ―Phương thức tự sự trong truyện ngắn Quế Hương‖, Võ
Anh Tuấn đã trình bày chi tiết, kĩ lưỡng về vấn đề người kể chuyện và điểm nhìn
Lê Thị Nguyệt trong ―Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp‖ đã vận dụng lý thuyết tự sự học để tìm hiểu về diễn ngôn kể và diễn
ngôn trữ tình ngoại đề Từ đó, tác giả đi đến kết luận: ―Toàn bộ sáng tác cho thấy, nhà văn linh hoạt trong ngôi kể và điểm nhìn phù hợp với đối tượng phản ánh‖
Cùng hướng đi với Lê Thị Nguyệt, trong công trình nghiên cứu ―Thế giới nghệ
thuật trong văn xuôi Phương Anh Quốc‖, tác giả Lê Thị Trà My đã phân tích hình
tượng người kể chuyện và giọng điệu trần thuật trong văn xuôi Trương Anh Quốc
Với ―Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Ngô Tự Lập‖, Lê Thị Nhung tìm hiểu về
nghệ thuật xử lí điểm nhìn trần thuật và diễn ngôn của người kể chuyện trong sáng tác của nhà văn Ngô Tự Lập Có thể thấy, lý thuyết tự sự học nói chung và lý thuyết
về người trần thuật, diễn ngôn trần thuật nói riêng ngày càng được ứng dụng rộng rãi
2.2 Các công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Thị Thuỳ Vũ và Nguyễn Ngọc Tƣ
Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư là hai cây bút văn xuôi nổi bật, có sức ảnh hưởng trong nền văn học Việt Nam Những công trình nghiên cứu về sáng tác của hai nhà văn trải rộng trên nhiều phương diện, trong đó có trần thuật học
Nguyễn Thị Thuỵ Vũ là một trong bốn cây viết nữ xuất sắc của nền văn học
đô thị miền Nam Việt Nam trước 1975 Tuy nhiên, những nghiên cứu về sáng tác của nữ nhà văn vẫn còn khá hiếm hoi, đặc biệt là những công trình nghiên cứu về người trần thuật và diễn ngôn tự sự trong văn xuôi của bà
Đánh giá văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ trên khía cạnh nội dung trần
thuật, Võ Phiến nhận định, văn xuôi của Thụy Vũ là ―văn xuôi tả chân‖ được viết
nên từ sự tương đồng, sự trải nghiệm của nữ sĩ trong môi trường xã hội, kết quả
những năm tháng bà lăn lộn, bươn chải ngoài đời: ―Bà Nguyễn xông vào cơn gió bụi, phanh phui những cảnh đời lầm than làm lắm kẻ sững sờ, nhăn mặt (…) Tình
Trang 12cờ vì lí do sinh kế mà bà Nguyễn làm cây bút tả chân đầu tiên ở nước ta, về phía nữ phái, mạnh dạn phơi bày một phương diện của thực trạng xã hội ta vào thời điểm
đặc biệt Bà có vị trí riêng trong thời kì văn học bấy giờ” (Võ Phiến, Tổng quan
văn học miền Nam, 1986)
Tương đồng với nhận định của Võ Phiến, trong bài viết ―Nguyễn Thị Thuỵ
Vũ đã trở lại‖ (Khoa văn học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn), tác giả
Nguyễn Thị Thanh Xuân đã dành những lời đánh giá cao đối với sáng tác của nữ
nhà văn, đặc biệt là khả năng quan sát và tái hiện cuộc sống của bà: ―Quan sát tận tường, miêu tả táo bạo, phơi mở nhiều cảnh huống, dõi theo nhiều số phận, chạm khắc những tâm trạng, tung hứng nhiều lời thoại dí dỏm,…tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ nói với chúng ta bà là nhà văn bẩm sinh.” (Nguyễn
Thị Thanh Xuân, 2017)
Bên cạnh sự đánh giá về nội dung như Võ Phiến và Nguyễn Thị Thanh
Xuân, công trình nghiên cứu ―Đặc điểm văn xuôi Nguyễn Thị Thuỵ Vũ‖ của tác
giả Phạm Thị Nhung còn phục dựng lại bức chân dung nghệ thuật của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ thông qua sự phân tích, lý giải trên nhiều phương diện Qua đó, tác giả làm rõ những suy nghĩ, trải nghiệm của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ về cuộc sống, cọn người; những cách tân tìm tòi trong nghệ thuật trần thuật của nhà văn qua hai đặc điểm cơ bản: Ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu Từ đó, văn xuôi nghệ thuật của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ được nhìn nhận một cách đa chiều và toàn diện hơn
Xuất phát từ phương diện nghệ thuật, công trình nghiên cứu “Điểm nhìn
trần thuật về vấn đề nữ quyền trong văn xuôi Nguyễn Thị Thuỵ Vũ” của Nguyễn
Thị Mỹ Duyên, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP HCM đi sâu vào việc phân tích, khẳng định vai trò của điểm nhìn trần thuật trong việc thể hiện vấn
đề nữ quyền: “Khai thác từ góc độ điểm nhìn vừa cho thấy nội dung táo bạo lại cho thấy tài năng độc đáo của nữ nhà văn Thụy Vũ khi nói đến những rào cản và sự bứt phá của nữ giới miền Nam giữa thế kỉ XX (Nguyễn Thị Mỹ Duyên, 2018) Từ đó,
tác giả khẳng định những đóng góp quan trọng của Thụy Vũ trong văn học nữ Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
Trang 13Cùng hướng đi với Nguyễn Thị Mỹ Duyên, công trình nghiên cứu ―Văn xuôi
Nguyễn Thị Thuỵ Vũ nhìn từ diễn ngôn trần thuật nữ‖ của tác giả Huỳnh Thị Lệ
Thi đã tập trung làm rõ diễn ngôn trần thuật nữ trong các sáng tác của Nguyễn Thị
Thuỵ Vũ Thông qua việc ―giải phẫu‖ những ―câu chuyện mang âm hưởng nữ quyền‖ và ―dấu ấn của chủ thể trần thuật nữ qua cấu trúc và diễn ngôn trần thuật‖
(Huỳnh Thị Lệ Thi, 2019), tác giả đã mang đến góc nhìn toàn diện về diễn ngôn mang đặc trưng nữ giới Qua đó, người viết khẳng định những đóng góp của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ đối với văn xuôi nước nhà
2.2 Các công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
Nguyễn Ngọc Tư là một trong những cây viết văn xuôi nổi bật của văn học Việt Nam đương đại Đồng thời, Nguyễn Ngọc Tư cũng là gương mặt quen thuộc với độc giả cả nước Do vậy, những công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đa dạng và nổi bật trên nhiều khía cạnh và phạm vi
Bài nghiên cứu “Người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”
(Khảo sát qua hai tập “Cánh đồng bất tận” và “Ngọn đèn không tắt”) của Lã Thị
Thuỳ Linh đã tập trung làm rõ ba vấn đề: Người kể chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu
Ở phần đầu, Lã Thị Thuỳ Linh đã trình bày ngắn gọn về khái niệm người kể chuyện, khẳng định vai trò của người kể chuyện trong việc thể hiện quan điểm tác giả Tác giả lần lượt trình bày kết quả khảo sát việc sử dụng ngôi kể thứ nhất và thứ
ba trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư, trong đó ―ngôi thứ ba chiếm đa số tác phẩm‖ Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra sự ―luân phiên phối hợp nhiều điểm nhìn” trong hai
tập truyện ngắn Phần cuối, tác giả nhận xét sự tài tình của Nguyễn Ngọc Tư trong
việc ―lựa chọn và xử lý ngôn ngữ: đối thoại và độc thoại nội tâm‖ Tác giả khẳng
định những cách tân, đổi mới trong các yếu tố như cốt truyện, kết cấu, người kể chuyện, nhân vật, Nhận định về Nguyễn Ngọc Tư, Lã Thị Thuỳ Linh đã viện dẫn
chính câu nói của nhà văn: ―Tôi viết trong nỗi im ắng, không phản hồi.‖
Luận văn ―Đặc điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư‖ của Nguyễn Thị
Phương, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
đã làm rõ yếu tố người kể chuyện và giọng điệu trần thuật trong sáng tác Nguyễn Ngọc Tư Cụ thể, tác giả khẳng định Nguyễn Ngọc Tư nhiều lần lựa chọn hình thức
Trang 14trần thuật theo ngôi thứ nhất, tiêu biểu là các truyện ngắn như ―Cái nhìn khắc khoải‖, ―Dòng nhớ‖, ―Cánh đồng bất tận”,… Đối với ngôi kể thứ ba, tác giả lấy ví
dụ từ những tác phẩm như ―Ngọn đèn không tắt‖, ―Chuyện của Điệp‖, ―Cải ơi‖,…
Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Phương còn chỉ ra các kiểu giọng điệu cơ bản trong sáng
tác Nguyễn Ngọc Tư: Giọng điệu dân dã, mộc mạc, tự nhiên; Giọng điệu ấm áp, chan chứa yêu thương; Giọng điệu trữ tình, mượt mà Cùng với đó, tác giả còn đánh giá về đặc điểm ngôn ngữ trong sáng tác của nhà văn: ―Ngôn ngữ đời thường đậm chất Nam Bộ‖, ngôn ngữ của một vùng ―văn hoá sông nước‖ (Nguyễn Thị Phương,
2012)
Đinh Thị Kiều Oanh trong luận văn thạc sĩ ―Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư nhìn từ cấu trúc trần thuật‖ tiếp cận sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư ở hai
khía cạnh: ―Cấu hình các cảnh trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư‖ và ―Cấu trúc diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư‖ Ở chương ba của công
trình nghiên cứu, tác giả đã lần lượt làm rõ khái niệm diễn ngôn trần thuật và cấu trúc diễn ngôn trần thuật; các thành phần của diễn ngôn trần thuật và hiệu ứng trần thuật của sự hoà phối các lớp diễn ngôn Qua đó tác giả khẳng định vai trò của diễn ngôn trần thuật trong việc làm nên ―chất riêng‖ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc
Tư
Luận văn thạc sĩ “Người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”
của Nguyễn Minh Thu, Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2012 lựa chọn hướng nghiên cứu theo lý thuyết tự sự học Vận dụng lý thuyết tự sự học, tác giả lần lượt
làm rõ các phương diện của người kể chuyện, gồm ―ngôi kể và một số loại hình người kể chuyện‖ và ―ngôn ngữ, giọng điệu người kể chuyện‖ trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư Từ đó, Nguyễn Minh Thu khẳng định những đóng góp quan
trọng của Nguyễn Ngọc Tư trong ―việc khắc phục tính kể chuyện đơn âm của cách
kể chuyện truyền thống và đem đến những khả năng tự sự mới cho văn học đương đại‖
Luận văn thạc sĩ ―Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư‖ của Vũ Thị Hải Yến đã trình bày chi tiết về vấn đề người kể chuyện trong
truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư: Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong
Trang 15truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư và người kể chuyện ẩn mình qua hình thức kể chuyện trần thuật ngôi thứ ba Từ đó, tác giả đưa nhận nhận định khái quát:
―Dù trần thật diễn ra dưới hình thức nào thì nó vẫn thể hiện cái nhìn bao
quát của tác giả, một Nguyễn Ngọc Tư luôn có thức nhìn vào tận sâu bản chất cuộc sống, một trái tim nhạy cảm trước sự nghiệt ng của cuộc đời Vì thế mà
truyện của chị mới là những câu chuyện nhỏ về gia đình, bạn bè, làng xóm thân
thuộc nhưng được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt và đồng cảm sâu sắc
(Vũ Thị Hải Yến, 2012) Tìm hiểu, nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư, thông thường các công trình chỉ dừng lại ở việc trình bày đặc trưng của từng sáng tác mà ít có sự đề cập, liên hệ đến sáng tác với các nữ nhà văn khác Thao tác đối sánh mang góp phần rút ra bản chất, cách thức thể hiện cũng như sự phát triển của các sáng tác trong từng giai đoạn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn tập trung tìm hiểu, đánh giá đặc điểm người trần thuật và diễn ngôn
tự sự trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về sự gặp gỡ cũng như những cách tân, đổi mới nghệ thuật của hai nhà văn
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau: Đưa ra những quan điểm về trần thuật, người trần thuật, tình huống tự sự, diễn ngôn tự sự
Phân tích những đặc điểm của người trần thuật và diễn ngôn tự sự
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi tập trung nghiên cứu các tác phẩm văn xuôi của nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
Trang 164.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ
- Tập truyện ―Mèo đêm‖
- Tập truyện ―Lao vào lửa‖
- Truyện dài ―Thú hoang‖
- Truyện dài ―Ngọn pháo bông‖
- Truyện dài ―Khung rêu‖
- Truyện dài ―Nhang tàn thắp khuya‖
- Truyện dài ―Như thiên đường lạnh‖
- Truyện dài ―Chiều xuống êm đềm‖
- Truyện dài ―Cho trận gió kinh thiên‖
4.2.2 Tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Ngọc Tư
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nhiệm vụ khoa học đã xác định trước, chúng tôi vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp so sánh
Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để phân tích, làm rõ được điểm tương đồng, khác biệt trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư
Trang 17- Phương pháp loại hình
Truyện ngắn và tiểu thuyết là hai loại hình thuộc hệ thống các thể loại văn xuôi Vì vậy, khi nghiên cứu tác phẩm của hai nữ nhà văn, chúng tôi đặt trong hệ thống đặc điểm thi pháp thể loại để thấy được sự đổi mới, sáng tạo của hai tác giả
- Phương pháp thống kê – phân loại
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình khảo sát các tác phẩm văn xuôi để có những cứ liệu xác đáng cho luận điểm
6 Ý nghĩa luận văn
Luận văn góp phần dựng lại bức chân dung nghệ thuật của hai nhà văn nữ từ góc nhìn trần thuật học, qua đó mang đến cái nhìn đối sánh về sáng tác của hai nhà văn
Luận văn đóng góp thêm một tiếng nói trong việc khẳng định những giá trị trong sáng tác văn xuôi của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư, từ đó làm nổi bật phong cách sáng tác riêng của mỗi nhà văn
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, luận văn được tổ chức thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đối tượng
Trong chương này, chúng tôi khái quát những luận điểm lý luận – nền tảng của việc nghiên cứu đề tài Các luận điểm tập trung trên hai phương diện: cơ sở lý luận và thực tiễn Với cơ sở lý luận, chúng tôi tập trung làm rõ triển vọng của việc nghiên cứu đề tài, những lý thuyết về người trần thuật và diễn ngôn trần thuật Từ
đó, chúng tôi tiếp tục làm rõ những cơ sở thực tiễn của đề tài thông qua việc tìm hiểu những nét nổi bật trong văn xuôi Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư Việc xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn là tiền để để chúng tôi phân tích chương 2
Trang 18Chương 2: Chủ thể trần thuật nữ với đồng thuật, dị thuật và các tình huống
tự sự ưa chuộng
Từ những lý luận và thực tiễn, chúng tôi tiến hành đối sánh tác phẩm của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư trên phương diện chủ thể trần thuật nữ đồng thuật, dị thuật và các tình huống tự sự ưa chuộng Ở phương diện này, chúng tôi nhận thấy những tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng chủ thể trần thuật của hai nữ nhà văn Đó cũng là cơ sở để chúng tôi tiến hành đối sánh ở những
phương diện trong chương 3
Chương 3: Chủ thể trần thuật nữ với cái tôi trải nghiệm và xu hướng kiến tạo diễn ngôn tự sự
Tiếp nối những kết quả nghiên cứu ở chương 2, chương 3 làm rõ sáng tác của hai nữ nhà văn trên phương diện chủ thể trần thuật nữ với cái tôi trải nghiệm và
xu hướng kiến tạo diễn ngôn tự sự Từ đó, chúng tôi đi đến những đặc trưng nổi bật trong phong cách của hai nữ nhà văn từ phương diện chủ thể trần thuật
Mối liên hệ mật thiết giữa ba chương đã góp phần mang đến cái nhìn tổng quát về sáng tác của hai nữ nhà văn từ cái nhìn đối sánh Từ đó, chúng tôi mang đến cái nhìn lịch đại đối với sáng tác của hai nữ nhà văn cũng như định hình phong cách mỗi tác giả
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG
1.1 Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài
1.1.1 Tự sự học và tính khả dụng của tự sự học trong nghiên cứu văn xuôi hư cấu
Nếu như tu từ học tập trung nghiên cứu ―biểu cảm của diễn ngôn‖ (Trần Đình Sử, 2007) thì tự sự học mở ra ―chân trời nghiên cứu thể loại tự sự‖ (Trần Đình
Sử, 2007) Do vậy, mặc dù xuất hiện sau Tu từ học và Thi pháp học (cổ điển) nhưng
Tự sự học đã nhanh chóng khẳng định vị trí bởi các lý do: ―có tiêu điểm mạnh (kể),
có thực tế mạnh (tiểu thuyết), có căn cứ khoa học mạnh (ngôn ngữ học, nhân học)
và có tinh thần mở (hiện đại)‖ (Trần Đình Sử, 2017)
Khi nghiên cứu văn bản tự sự nói chung và văn bản tự sự hư cấu nói riêng, người nghiên cứu cần có những kiến thức về tự sự học Nếu không, những quan
điểm, phán đoán của người nghiên cứu dễ dàng rơi vào những sai lầm và ―các kết luận chỉ có thể là những lâu đài trên cát‖ (Trần Đình Sử, 2017) Trần Đình Sử cho rằng: ―Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hoặc nói cách khác
là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc‖ (Trần Đình Sử, 2004) Do vậy, bộ công cụ cơ bản mà lí thuyết tự sự cung cấp
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tìm hiểu, nghiên cứu văn xuôi hư cấu Lí thuyết tự sự học cung cấp các khái niệm về cấu trúc trần thuật, người kể chuyện,
điểm nhìn, Đây là các ―khái niệm mẫu, có tính phổ quát‖ (Trần Đình Sử, 2017)
Khi được vận dụng vào việc nghiên cứu văn bản truyện cụ thể, các khái niệm trên
có thể có ―những sai lệch, khiếm khuyết, đôi dư để cho thấy cái đặc trưng‖ (Trần
Đình Sử, 2017)
Lí thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên cho người đọc thấy rõ vai trò quan trọng của người trần thuật Tự sự học cung cấp hệ thống phương tiện để làm rõ yếu
Trang 20tố này, đồng thời khu biệt giữa hai khái niệm tác giả và người trần thuật Trong văn bản tự sự, tác giả chỉ xuất hiện dưới tư cách tác giả hàm ẩn để thể hiện quan điểm
và giá trị trong tác phẩm Trong khi đó, người trần thuật là nhân vật được sáng tạo
ra để mang lời kể Cùng với hình tượng người trần thuật là sự phức tạp trong ngôi
kể, giọng điệu,… Bài viết ―Hình tượng người trần thuật trong tác phẩm “Người
tình” của Marguerrite Duras‖ của Trần Huyền Sâm đã khẳng định vai trò quan
trọng của yếu tố người trần thuật đối với thành công của tác phẩm Mặc dù nhiều sự kiện, địa điểm,… được tái hiện dựa trên kí ức của tác giả nhưng người trần thuật
không phải là tác giả Bởi theo Trần Huyền Sâm ―từ lai lịch của cuộc đời đến hình tượng trần thuật trong tác phẩm đ là một quá trình “sắp xếp lại”, hư cấu, sáng tạo của nhà văn‖ Có thể thấy, tác giả bài viết đã phân rõ ranh giới giữa tác giả M Duras và người trần thuật M Duras trong tác phẩm ―Người tình‖ không ghi dấu ấn
bởi một cốt truyện kịch tính hay những sự kiện đột phá Điều làm nên sức hút của
tác phẩm nằm ở ―phương thức trần thuật có tính nội quan‖ (introspetion) (Trần
Huyền Sâm, 2002) Để làm sống dậy thế giới kí ức, Duras đã lựa chọn cái tôi trần thuật chủ quan Với phương thức này, người trần thuật có thể ―phô‖ ra những vùng
kí ức sâu thẳm nhất, thậm chí là những ẩn ức của nhân vật Và chính sự lựa chọn này đã mang đến một hình tượng con người toàn vẹn và bản ngã nhất
Bên cạnh người trần thuật, mô hình tự sự cũng là một trong những vấn đề
được tự sự học quan tâm Trong bài viết ―Về mô hình tự sự Truyện Kiều‖, Trần
Đình Sử đã khẳng định sự thay đổi của Nguyễn Du ―từ mô hình kể ngôi thứ ba, khách quan kèm bình luận đánh giá thiên về mặt lí trí, sang mô hình tự sự ngôi thứ
ba mang tính cảm thụ cá nhân, kèm theo bình luận, đánh giá thiên về cảm xúc‖
(Trần Đình Sử, 2017) Chính sự sáng tạo, đột phá ấy của Nguyễn Du đã nâng tầm
―Truyện Kiều” lên, vượt xa cái bóng ―Kim Vân Kiều Truyện‖ của Thanh Tâm tài
Trang 21đại, bối cảnh xã hội lịch sử, nội dung phản ánh, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nhân đạo” Đó đều là những vấn đề lớn không thể xem nhẹ Tuy nhiên, nếu thiếu đi
sự phân tích cấu trúc tự sự bên trong, sự vận động của các yếu tố, thì chúng ta vẫn chưa hiểu lịch sử văn học với tư cách là lịch sử nghệ thuật ngôn từ và lịch sử văn
hoá Điều đó đã được Vương Trí Nhàn khẳng định trong bài viết ―Vài nét về tư duy
tự sự của người Việt‖:
―Để hiểu một nền văn học trong mối quan hệ với cộng đồng đ sản sinh ra
nó, người ta có thể đi vào nghiên cứu theo một hệ thống khác: quan niệm toát ra từ nền văn học đó về cái đẹp, cái thực, thậm chí không bình thường, cái kì quặc ma
quái…; Đặc điểm đó thể hiện qua các phương thức như tự sự, trữ tình‖
(Trần Đình Sử, 2017) Với việc nghiên cứu văn xuôi hư cấu của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư từ người trần thuật và diễn ngôn tự sự, chúng tôi mong muốn có thể mang đến một hướng tiếp cận mới cho sáng tác của hai nữ nhà văn Bên cạnh việc khai thác những bề mặt đặc sắc trong cấu trúc văn bản tự sự, luận văn còn hướng đi việc đối sánh các tác phẩm văn xuôi hư cấu của hai nữ nhà văn, từ đó mang đến cái nhìn bao quát về sáng tác của hai tác giả Hai nhà văn, hai thời kì văn học có giao điểm nào không? Điểm khác biệt trong sáng tác của hai nữ nhà văn là gì? Yếu tố nào chi phối sự tương đồng, khác biệt ấy Và đằng sau những lớp ngôn từ ấy, những tiếng nói nào của xã hội được đan cài? Những câu hỏi ấy, sẽ được tháo gỡ thông qua việc
―giải phẫu‖ chủ thể trần thuật và diễn ngôn tự sự
1.1.2 Một số khái niệm công cụ
1.1.2.1 Khái niệm trần thuật (Narrative) và người trần thuật (Narrator) Khái niệm trần thuật (Narrative)
Trần thuật ―Narrative‖ là thuật ngữ cơ bản của ngành tự sự học ―Tự‖ có nghĩa là kể, ―sự‖ là sự việc ―Tự sự‖ có nghĩa là kể chuyện Mặc dù đã xuất hiện từ
lâu nhưng chỉ khoảng 50 năm trở lại đây, dưới ảnh hưởng trực tiếp của trường phái cấu trúc luận Pháp, tự sự mới được nhìn nhận như một phạm trù nghiên cứu độc lập với văn học và hư cấu
Trang 22Theo quan điểm của Roland Barthes trong công trình nghiên cứu “Nhập
môn phân tích cấu trúc truyện kể‖, tự sự thể hiện ở nhiều phương diện Từ ngôn
ngữ tự nhiên đến ngôn ngữ cơ thể, từ kí hiệu tay đến hình vẽ,… đều có khả năng tự
sự Song song với sự đa dạng trong phương tiện thể hiện, tự sự xuất hiện ở nhiều thể loại khác nhau của văn học như truyện ngắn, sử thi, bi kịch, chính kịch, ngụ ngôn,… Bên cạnh đó, tự sự còn xuất hiện ở điện ảnh, tranh vẽ, báo chí Không chỉ khẳng định các dạng thức đa dạng của tự sự, Roland Barthes còn đề cao vai trò, vị
trí của tự sự trong tiến trình lịch sử ―Tự sự bỏ qua mọi cách biệt giữa văn học có giá trị hay tầm thường, xé bỏ những rào cản về văn hóa, lịch sử và dân tộc, nó tồn tại trong thế giới như chính bản thân cuộc sống‖
Claude Bremond cho rằng tự sự gồm ba yếu tố: Lời văn tự sự, chuỗi sự kiện
và hứng thú về con người, có tính nhân loại Trong đó, chuỗi trở thành đơn vị nhỏ nhất của câu chuyện Không đề cao tính chức năng như V Propp, C Bremond chú
trọng vào tính nhân quả giữa các chuỗi sự kiện: ―Nếu chỉ các tình huống nối tiếp nhau mà thiếu tính tự sự thì không phải nhân quả‖ (Dẫn theo Trần Đình Sử, 2018)
Còn theo G Genette trong ―Giới hạn của tự sự‖, tự sự sử dụng ngôn ngữ,
đặc biệt là ngôn ngữ viết để biểu hiện một chuỗi hành động có thực hoặc hư cấu
Tiếp nối quan điểm của Genette, trong ―Từ điển thuật ngữ phê bình văn học‖, R
Fowler bổ sung thêm về hàm nghĩa của tự sự Bên cạnh việc biểu hiện chuỗi sự kiện
hay hành động, tự sự còn ―xác định mối quan hệ của các sự kiện đó‖ Trong ―Diễn ngôn tự sự‖, G Genette xác định khái niệm tự sự phải bao gồm ba phương diện:
―Một là diễn ngôn nói hoặc viết thể hiện một hoặc một chuỗi sự kiện; hai là sự kiện hay chuỗi sự kiện là chủ đề và giữa chúng có quan hệ nối tiếp, đối chiếu hoặc lặp lại; ba là bản thân sự kiện tự sự như như là một sự kiện‖ (Dẫn theo Trần Đình Sử,
2018) Trong khi đó, nhà cấu trúc luận Tz Todorov thì không đề cao sự kiện như
Genette Do vậy, Tz Todorov hiểu tự sự như là ―diễn ngôn, là lời văn tạo ra quan
hệ của các sự kiện‖ (Dẫn theo Trần Đình Sử, 2018)
Trong lí luận văn học phương Tây, thuật ngữ ―Narrative‖ xuất hiện từ lâu
Để làm rõ những hàm nghĩa phức tạp, thuật ngữ ―Narrative‖ được đặt trong sự đối sánh với thuật ngữ ―Narration‖ Tự sự học hiện đại cố gắng khu biệt hai thuật ngữ
Trang 23này như là khu biệt giữa ―chuyện kể ra‖ và ―hoạt động kể chuyện‖ Theo Trần Đình
Sử, ―narration” có thể dịch thành ―thuật kể/ trần thuật/ kể chuyện‖, còn ―narrative‖ dịch thành“tự sự/ truyện kể‖ – kết quả của hoạt động ―narration‖ Tuy nhiên, sự
phân chia này vẫn tạo nên những tranh cãi bởi rất khó để xác định những sự việc đã
xảy ra vốn có tính khách quan Và ―các tác phẩm tự sự không phải là biểu đạt sự kiện như là biểu đạt sự thực đ biết, mà là biểu đạt chúng như là sản phẩm của sức mạnh hay yêu cầu của thoại ngữ‖ (Trần Đình Sử, 2007)
Bàn về cấu trúc của văn bản tự sự, tự sự học chia thành hai khuynh hướng:
Lưỡng phân và tam phân Bắt đầu từ khuynh hướng lưỡng phân Fabula/ Xiuzhet
của chủ nghĩa hình thức Nga, tự sự học phân chia cấu trúc tự sự thành hai phần: nội dung – hình thức hoặc chuyện – truyện Cùng quan điểm với cách chia của chủ
nghĩa hình thức Nga là cách chia cấu trúc văn bản tự sự thành Historie/ récit (chuyện kể/ bản kể); Story/ Discours (chuyện/ lời kể) hoặc récit/ narration (bản kể, hành vi kể) (Trần Đình Sử, 2007) Trong khi đó, G Genette và M Bal phân chia cấu trúc văn bản tự sự thành ba phần histoire/ récit/ narration (câu chuyện/ chuyện
kể/ thoại ngữ) Phương pháp tam phân của Genette đề cao hành vi tự sự bởi hành vi
tự sự là nguồn gốc làm nảy sinh diễn ngôn tự sự, tức câu chuyện được kể ra Lý thuyết của Genette tiếp tục được phát triển bởi Shlomith Rimmon – Kenan
Rimmon – Kenan phân chia cấu trúc tự sự thành câu chuyện (story), văn bản (text)
và hành vi tự sự (narration)
Khái niệm người trần thuật (Narrator)
―Người trần thuật‖ (Narrator) là một trong những vấn đề quan trọng của lí
thuyết tự sự Đây là nhân vật trung tâm của các văn bản tự sự Bởi vậy, vấn đề người trần thuật nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, bắt đầu từ các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như A.Veksler, I.Gruzdel Tuy nhiên, phải đến
những công trình nghiên cứu ―Tự sự học‖ của I U Lotman, Tz Todorov, R
Barthes, G Genette, những quan điểm về người trần thuật mới được định hình tương đối rõ ràng
Khái niệm người trần thuật được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác
nhau Trong ―Thi pháp chủ nghĩa cấu trúc”: “Đồng tình” và “phản đối”, Tz
Trang 24Todorov đã trình bày quan điểm về người trần thuật Tác giả khẳng định vị thế của người trần thuật đối với văn bản tự sự: ―Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng,… Không thể có trần thuật nếu thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật nam tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt” Cùng quan điểm với Tz Todorov, G N Pospelov cho rằng người trần thuật ―là người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc được xảy ra‖ (Dẫn
theo Đào Tuấn Ảnh, 2018) Trong khi đó, W Kayser nhấn mạnh tính chất hư cấu
của người trần thuật: ―Đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học Ở nghệ thuật kể, không bao giờ người kể chuyện là vị tác giả
đ hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận‖ Trong
công trình ―Dẫn luận thi pháp văn học”, Trần Đình Sử đã đưa ra quan điểm về
người trần thuật dựa trên những biểu hiện của người trần thuật trong văn bản tự sự:
―Đọc văn bản tự sự, bao giờ ta cũng nghe thấy một lời kể, một giọng điệu, một tiếng nói cho ta biết sự việc gì đ và đang xảy ra Có người xưng “tôi”, có cá tính, giới tính, có người chỉ nghe thấy tiếng, mà không biết ai, có truyện một người kể, có nhiều người kể thay thế nhau, có trường hợp không thấy dấu hiệu của người kể, dường như “câu chuyện tự kể” (Trần Đình Sử, 2017)
Mối quan hệ của người trần thuật và tác giả trong trần thuật viết có sự khác biệt so với trần thuật miệng Điều này xuất phát từ sự khác biệt trong cách hiểu về
thuật ngữ ―Người trần thuật‖ Trong trần thuật miệng, người kể chuyện là người có
thực, có thân phận và là đối tượng trực tiếp truyền đạt thông tin tới người nghe Người nghe tiếp xúc trực tiếp và nhận thức rõ ràng về người trần thuật Trong văn học, người trần thuật và tác giả thống nhất nhưng không đồng nhất với nhau Trong trần thuật viết phi văn học (lịch sử, báo chí), người kể chuyện đồng nhất với tác giả Tuy nhiên, trong trần thuật có tính chất văn học thì người kể chuyện có thể ẩn hoặc hiện, có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với tác giả Theo M Bakhtin, tác giả
luôn đứng ngoài thế giới thế nghệ thuật và ―thể hiện sự im lặng‖ (Dẫn theo Trần
Đình Sử, 2018) Tất cả sự tác động của tác giả với thế giới nghệ thuật đều thông qua
Trang 25người kể chuyện Đồng quan điểm với M Bakhtin, R Barthes khẳng định: ―Không thể đồng nhất người thật, người viết với người kể trong truyện‖ (Dẫn theo Trần
Đình Sử, 2018)
Người trần thuật trong văn bản tự sự chỉ là người thay thế cho tác giả để phát ngôn, thực hiện chức năng tự sự như là người chứng kiến và kể Theo G Genette
trong ―Diễn ngôn tự sự‖ (1972), người kể chuyện có 5 chức năng: Chức năng kể
chuyện, chức năng chỉ huy, chức năng tổ hợp, chức năng truyền đạt, chức năng chứng thực Tuy nhiên, theo R Barthes, suy cho cùng, người trần thuật cũng là
những ―sinh thể bằng giấy‖ Tất cả thông tin đều xuất phát từ tác giả Do vậy, thực
chất, người kể chuyện chỉ có một chức năng: kể chuyện Trong ―Tự sự học – Lí
thuyết và ứng dụng‖, Trần Đình Sử đã chỉ ra 5 chức năng của người trần thuật:
1) Người kể chyện thực hiện chức năng kể chuyện; 2) Với tư cách là là một
yếu tố của cấu trúc tự sự, nó phải thực hiện chức năng truyền đạt; 3) Với tư cách là
người can dự trần thuật, can dự vào trần thuật; 4) Chức năng bình luận của người
kể ra câu chuyện; 5) Hoặc ít hoặc nhiều trở thành nhân vật của truyện, thực hiện
chức năng tự trở thành vai “cái tôi”
Nói cách khác, ―người kể chỉ là mặt nạ của tác giả hàm ẩn, chức năng của
nó chỉ có thể là đóng vai, chứng kiến và truyền đạt‖ (Trần Đình Sử, 2018) Tuy
nhiên, khi kể chuyện, tác giả phải nhìn theo cái nhìn của người kể chuyện, đứng từ
vị trí của người kể chuyện để quan sát Do vậy, đối với người kể chuyện, mọi nhân vật và câu chuyện được kể đều là thật Còn đối với tác giả, tất cả chỉ là hư cấu
Theo lí thuyết tự sự học truyền thống, ―ngôi kể‖ là một trong những phương
thức kể chuyện Dựa trên quan điểm về ngôi kể, lí luận văn học truyền thống Nga
có sự phân biệt giữa ―người trần thuật‖ (povestvovatel) – người kể theo ngôi thứ ba
và người kể chuyện (raskzhik) – người kể xưng ―tôi‖ N D Tamarchenko đã phân biệt giữa khái niệm ―người trần thuật‖ và ―người kể chuyện‖:
―Người kể chuyện (cũng như người trần thuật) – là chủ thể lời nói và là
người đại diện cho điểm nhìn trong tác phẩm văn học; nhưng – khác với người
Trang 26trần thuật, được khách quan hóa và được tách biệt rõ rệt với tác giả cả về mặt
không gian, lẫn bình diện tu từ; mà cụ thể là, nó được gắn với một hoàn cảnh văn
hóa – xã hội và ngôn ngữ cụ thể để từ vị thế ấy nó mô tả các nhân vật khác‖
(Lã Nguyên, 2015)
Nhưng thực chất, đây chỉ là các hình thức tự sự khác nhau của khái niệm
“Narrator‖ Do vậy, chúng ta chỉ nên quy về một thuật ngữ ―người trần thuật‖ hoặc
―Người kể chuyện‖
Tuy nhiên, theo Genette, ―ngôi kể‖ là một thuật ngữ do ngộ nhận mà có Khái niệm ―ngôi kể‖ thực chất là một sự phái sinh từ khái niệm ngôi trong ngữ pháp
tiếng phương Tây như tiếng Pháp, tiếng Nga Trong giao tiếp, ngôi thứ nhất và thứ
hai đóng vai trò là chủ thể lời nói ―Bất kể truyện kể nào đều ở ngôi thứ nhất, bởi vì người kể chuyện của nó lúc nào cũng có thể tự chỉ định bằng đại từ ngôi thứ nhất‖ (Lộc Phương Thuỷ, 2007) Trong khi đó, ngôi thứ ba là ―kẻ luôn vắng mặt trong mọi cuộc hội thoại, do đó không thể đóng vai trò chủ thể trực tiếp trong lời kể được‖ (Trần Đình Sử, 2018) Do vậy, khi bàn luận về ―ngôi thứ ba‖ trong truyện kể
tức là đang nhắc đến người được nói đến, chứ tuyệt nhiên không phải người kể
chuyện Thuật ngữ tự sự ―homo-heterodiegetic‖ được sử dụng để chỉ ra sự hiện
diện/ vắng mặt của người kể chuyện Đây là những thuật ngữ thay thế cho thuật ngữ
ngôi thứ nhất/ ngôi thứ ba Trong đó, tiền tố ―Homo‖ ý chỉ cùng một bản chất Tiền
tố ―hetero‖ là khác bản chất ―Diegetic‖ liên quan đến tường thuật Sự phân biệt giữa ―homo‖ và ―hetero‖ được chỉ ra từ 1955, trong bài viết của Friedman G Genette chỉ thêm vào thuật ngữ ―autodiegetique‖ để chỉ trường hợp thuộc ―homo‖
Người kể chuyện là nhân vật chính trong câu chuyện của cô ấy Cách thuật này làm suy yếu vai trò của nhân vật chính
Dựa vào việc xác định yếu tố ―giọng‖, G Genette phân biệt các kiểu người trần thuật Theo G Genette, người trần thuật được đặt trong mối quan hệ với tiêu
điểm, thức, giọng, tần suất, Genette cho rằng, việc phân biệt giữa giọng (voice) và thức (mood) có thể giải thích cách thức một câu chuyện được kể Hay nói cách
khác, cần phân biệt giữa người kể chuyện và đối tượng mà điểm nhìn của anh ta
Trang 27hướng đến Khác với những nhà cấu trúc luận khác, Genette không chú ý vào sự kiện, bối cảnh, nhân vật, chủ đề mà tiến hành giải thích chung Từ đó, G Genette chia ra bốn kiểu chuyện tương ứng với bốn kiểu người kể chuyện Dựa vào vị trí trần thuật, G Genette phân chia thành hai loại người trần thuật: người trần thuật bên
trong (intradiegetic narrator) và người trần thuật bên ngoài (extradiegetic narrator) Dựa vào mức độ can dự vào câu chuyện, Genette phân chia thành: người
kể chuyên dị thuật (heterodiegetic narrator) và người kể chuyện đồng thuật (homodiegetic narrator)
R Scholes và R Kellogg chú ý đến vai trò và quyền năng của người trần thuật dựa trên mối quan hệ với người trần thuật và thế giới được kể, mối quan hệ giữa các nhân vật, sự kiện và tính chân thực của sự kiện đó Trong công trình
nghiên cứu ―The Nature of Narrative‖ (1966), R Scholes và R Kellogg đã làm rõ
đặc điểm cũng như quyền năng của từng kiểu người trần thuật Đối với kiểu người trần thuật truyền thống, người trần thuật luôn kể về những sự kiện trong quá khứ
Đó là quyền lực của người trần thuật Tuy nhiên, cũng chính điều đó giới hạn, bó buộc người trần thuật về tính sáng tạo; người trần thuật phải vượt lên giới hạn bằng
cảm hứng Trong ―Bản chất của tự sự‖, tác giả đã khảo sát quyền năng của người
kể chuyện Từ đó, R Scholes và R Kellogg phân chia thành bốn kiểu người trần
thuật: Người trần thuật truyền thống (tradictional narrator), sử quan (histor), chứng nhân (eye-witness) và người kể chuyện toàn tri (omnisciene) Đối với R Scholes và
R Kellogg, vấn đề được đặt ra không phải là việc nhân vật được kể theo ngôi thứ nhất hay thứ ba là mà nhận thức về uy quyền và sự chi phối của người trần thuật trong truyện kể Điều này phụ thuộc về loại truyện kể là sử thi, tiểu thuyết lãng mạn Quan điểm về cách phân chia kiểu người trần thuật của R Scholes và R Kellogg có sự khác biệt với G Genette Genette phân chia người trần thuật trong mối quan hệ với các yếu tố trong văn bản Còn Scholes và R Kellogg nghiên cứu người kể chuyện trong tiến trình lịch sử
1.1.2.2 Khái niệm diễn ngôn tự sự (Narrative discourse)
a Diễn ngôn (Discourse)
―Một thuật ngữ mới chỉ xuất hiện khi nào phát hiện chỗ khiếm khuyết trong
Trang 28hệ thống tiếp cận cũ‖ (Trần Đình Sử, 2017) Sự xuất hiện của thuật ngữ ―Diễn
ngôn‖ nhằm lấp đầy chỗ ―khiếm khuyết‖ do ngôn ngữ học cấu trúc để lại Trong ngôn ngữ học cấu trúc của F de Saussure, ngôn ngữ và lời nói đối lập với nhau Ngôn ngữ học tập trung nghiên cứu hệ thống các nguyên tắc chi phối việc sử dụng ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, cú pháp mà bỏ qua phương diện lời nói Nhận ra sự thiếu sót này, một số nhà nghiên cứu ngữ học đã đề xuất việc nghiên cứu văn bản,
diễn ngôn Theo tác giả Diệp Quang Ban trong “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo
văn bản‖, E Buysen – nhà ngôn ngữ học người Bỉ là người đầu tiên sử dụng khái
niệm ―discourse‖ như một khái niệm chuyên môn trong ―Hoạt động nói năng và văn bản‖ (1943)
Từ những năm sáu mươi của thế kỉ XX, phân tích diễn ngôn bắt đầu được quan tâm ở Châu Âu Lần lượt những công trình nghiên cứu của M Foucault, J Derrida, R Barthes,… đã mở đường cho sự phát triển của ngành diễn ngôn Cùng với sự phát triển của ngành diễn ngôn học là sự ra đời của nhiều khái niệm về diễn
ngôn Theo Trần Đình Sử trong ―Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học
hôm nay‖, ―khái niệm diễn ngôn đ xuất hiện rất nhiều trong các bài nghiên cứu đủ
loại, nhiều đến mức không sao có thể định nghĩa thông suốt hết‖ Cũng trong bài
viết, Trần Đình Sử đã trích lược đôi nét về khái niệm diễn ngôn theo từ điển New
Webster’s Dictionary:
―Diễn ngôn được định nghĩa gồm hai nghĩa Một là sự giao tiếp bằng tiếng
nói (trò chuyện, lời nói, bài phát biểu); hai là sự nghiên cứu tường minh, có hệ
thống về một đề tài nào đó (luận án, các sản phẩm của suy luận, ví dụ “Discours
de la methode…” của Descarte, vì trong tiếng Latin, từ đó đồng nghĩa với từ
“Dissertatio de…”) Cả hai nghĩa đó đều chỉ thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ, nhưng chưa nói đến cái nghĩa hiện đại là hình thức của ý thức hệ và quyền lực, cũng chưa
đề cập đến giao tiếp phi ngôn từ, như cử chỉ thân thể, sự mô phỏng động tác, sự thay đổi tư thế của thân thể, trang phục, nghi thức,… Đồng thời cả một lĩnh vực rộng lớn là nghệ thuật như hội hoạ, điêu khắc, múa nhảy, âm nhạc, thi ca đều nằm
Trang 29ngoài định nghĩa đó‖
Trong lí luận hiện nay, có ba hướng nghiên cứu diễn ngôn học: Tiếp cận ngữ học, tiếp cận phong cách học, tiếp cận xã hội học
Hướng tiếp cận ngôn ngữ học được hình thành trên cơ sở luận điểm của F
de Saussure trong ―Giáo trình ngôn ngữ học đại cương‖ Sự đối lập giữa ngôn
ngữ và lời nói được để cập trong công trình đã tạo tiền đề cho sự phân biệt giữa
discourse (diễn ngôn) và text (văn bản) David Crystal cho rằng: ―Phân tích diễn ngôn tập trung vào cấu trúc của ngôn ngữ nói xuất hiện một cách tự nhiên trong các diễn ngôn như lời đàm thoại, phỏng vấn, bình luận và lời nói Phân tích văn bản tập trung vào các cấu trúc của ngôn ngữ viết, trong các văn bản như tiểu luận, thông báo, biển chỉ đường và các chương sách‖ (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc Minh,
2012) Từ đó, ngôn ngữ học chia thành hai hướng nghiên cứu Hướng thứ nhất tập trung đi sâu cấu trúc nội tại của văn bản như một hệ thống chỉnh thể, khép kín và biệt lập Hướng thứ hai nghiên cứu diễn ngôn trong mối quan hệ với ngữ cảnh phát ngôn, nhân vật phát ngôn,…
Hướng nghiên cứu diễn ngôn thứ hai là hướng tiếp cận phong cách học, mà
tiêu biểu là M Bakhtin Trong ―Ba cách tiếp cận diễn ngôn‖, tác giả Nguyễn Thị
Ngọc Minh đánh giá ―tư tưởng về diễn ngôn của Bakhtin có vai trò như một bản lề, hay một cầu nối bắc từ quan niệm về diễn ngôn của ngôn ngữ học cấu trúc sang quan niệm diễn ngôn của trường phái lí luận hậu hiện đại‖ M Bakhtin phản đối
cách nghiên cứu ngôn từ độc lập, tách rời khỏi đời sống Theo ông, tất cả đặc điểm
của diễn ngôn là ―tính kí hiệu thuần tuý, tính thích ứng phổ biến với ý thức hệ, tính tham dự giao tiếp đời sống‖ (Hà Bắc, 1998) Do đó, diễn ngôn trở thành đối tượng
nghiên cứu trực tiếp của khoa học xã hội và nhân văn Trên cơ sở ấy, Bakhtin đề
xuất ―siêu ngôn ngữ‖ – ngành khoa học chuyên nghiên cứu “đời sống của lời nói‖,
―dòng chảy ngôn từ‖ Với cách nghiên cứu này, ngôn ngữ hiện lên như một thực thể
sống, có tính lịch sử chứ không hoàn toàn độc lập, tách rời cuộc sống như hướng nghiên cứu ngữ học nhìn nhận
Hướng tiếp cận diễn ngôn thứ ba là nghiên cứu trên bình diện xã hội học
Hướng nghiên cứu này gắn với M Foucault Ông phát hiện ―giữa từ ngữ và đồ vật
Trang 30bị gián cách bởi loại hình tri thức (episteme) và quyền lực‖ Theo Foucault, diễn
ngôn là một thực tiễn, sản sinh vô số nhận định chi phối sự vận hành Do vậy, diễn ngôn không có sẵn, tự thân mà nó là các quy tắc để tạo nên những phát ngôn nói hoặc viết cụ thể Về bản chất, diễn ngôn là quan điểm, tư tưởng, cách thức tư duy và hành xử ra đời trong một bối cảnh cụ thể Và bối cảnh ấy được quy định bởi thiết chế quyền lực và tri thức thời đại Lời nói của con người không phải là sự biểu hiện
tư do mà bị sự chi phối của các khung tư tưởng trong xã hội Ví dụ, diễn ngôn nữ giới trong các tác phẩm văn học trung đại của Việt Nam hình thành trong xã hội nam quyền, thể hiện các đặc điểm của tính nữ như yếu đuối, chịu đựng Tuy nhiên, quyền lực không phải là sự cưỡng bức, cản trở mà là điều kiện của sự phát ngôn
―Quyền lực không chỉ là sự trấn áp từ bên ngoài mà còn là sự phản kháng từ bên dưới‖ (Nguyễn Thị Ngọc Minh, 2012)‖ Diễn ngôn có thể lan truyền và sản sinh
quyền lực nhưng cũng có thể trở thành vật cản quyền lực ấy Có thể thấy, Foucault chủ yếu tập trung nghiên cứu các yếu tố chi phối sự vận hành và cấu trúc diễn ngôn như quyền lực, tri thức hệ,… mà không tập trung cấu trúc ngôn từ bên trong Do vậy, văn học không phải là đối tượng nghiên cứu của Foucault mà chỉ là dữ liệu để
từ đó, Foucault nhìn nhận và đánh giá sự thay đổi của ý thức hệ
Ba hướng nghiên cứu diễn ngôn đã cung cấp ba khái niệm diễn ngôn trong ngữ học, văn hoá học và thi pháp học Đối với các nhà ngữ học, diễn ngôn là khái niệm chỉ cấu trúc, liên kết của đơn vị ngôn ngữ Đối với hướng nghiên cứu phong cách học, diễn ngôn như là lời nói, biểu thị tư tưởng hệ Còn đối với hướng nghiên cứu xã học, diễn ngôn là công cụ cấu tạo tri thức và thực hành quyền lực Ba hướng nghiên cứu đã góp phần làm rõ nội hàm cũng như sự phát triển của ngành diễn ngôn học, thể hiện những bước chuyển biến trong tư duy lý luận văn học nói riêng và khoa học xã hội nói chung
Có nhiều cách phân loại diễn ngôn Trong bài viết ―Bước đầu nhận định:
Diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ‖, tác giả Trần Thiện Khanh đã điểm
qua một số cách phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau Dựa vào dạng tồn tại của
ngôn ngữ, diễn ngôn được chia thành ―diễn ngôn nói và diễn ngôn viết‖ Dựa vào các lĩnh vực tri thức, diễn ngôn được chia thành: ―diễn ngôn văn học, diễn ngôn
Trang 31khoa học, diễn ngôn tôn giáo, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn hành chính, diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn phi nghệ thuật,…‖ Dựa vào thể loại,
có thể chia thành ―diễn ngôn tin tức, diễn ngôn quảng cáo, diễn ngôn phóng sự, diễn ngôn tường thuật‖ Dựa vào cấp độ diễn ngôn, có thể phân chia thành ―diễn ngôn và siêu diễn ngôn‖ Dựa vào chủ thể diễn ngôn có thể chia thành ―diễn ngôn của cá nhân và diễn ngôn tập thể, diễn ngôn có nhu cầu tên “tác giả” và diễn ngôn không có nhu cầu tên “tác giả”, diễn ngôn văn học nữ giới.‖ Dựa vào cấu trúc có thể xác định ―diễn ngôn độc lập và diễn ngôn phụ thuộc, diễn ngôn nguồn, diễn ngôn phụ trợ và diễn ngôn bao chứa; diễn ngôn của người kể chuyện và diễn ngôn của nhân vật; diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn‖ Dựa vào chức năng ngôn ngữ có thể chia thành hai loại: ―diễn ngôn giao dịch và diễn ngôn liên nhân‖
b Diễn ngôn tự sự (Narrative Discourse)
Sự chuyển hướng từ nghiên cứu truyện kể sang diễn ngôn trần thuật là một trong hai chuyển biến lớn của tự sự học Người có đóng góp lớn nhất đối với bước chuyển biến này là G Genette Khác với hướng nghiên cứu ngữ pháp, tự sự học nghiên cứu các hình thức biểu đạt Tự sự học phân biệt nội dung và phương pháp của tự sự Trong đó, diễn ngôn được xem là phương pháp tự sự Còn nhân vật, sự kiện, bối cảnh là nội dung tự sự
―As Dolezel puts it, "Every narrative text T is a concatenation and alternation of DN [narrator's discourse] and DC [character's discourse]" (Dolezel 1973: 4).‖1
(Như Dolezel đ nói: Mỗi văn bản tự sự là sự kết hợp giữa diễn ngôn của người kể chuyện và diễn ngôn của nhân vật Về cơ bản, mỗi văn bản tự sự có thể chia thành văn bản của người trần thuật và diễn ngôn của người kể chuyện.)
Hướng nghiên cứu diễn ngôn tập trung vào lĩnh vực ―lời nói, phát ngôn, biểu đạt‖ (Trần Đình Sử, 2018) Các nhà nghiên cứu theo hướng diễn ngôn tập trung
nghiên cứu các phương thức biểu đạt của tự sự Trong ―Tự sự như là diễn ngôn‖,
Tz Todorov đã nghiên cứu các hình thức của tự sự như thời gian, thể thái, ngữ thức
G Genette trong ―Diễn ngôn tự sự‖ đã nghiên cứu “hệ thống hình thức tự sự bao
1
http://www.uni-koeln.de/~ame02/pppn.htm#N8
Trang 32gồm trật tự, độ dài, tần suất của thời gian, ngữ thức, ngữ thái,… ‖ Khái niệm diễn ngôn của G Genette được xây dựng dựa trên cơ sở ba phạm trù tự sự: tense/time (thời), mood (thức), voice (thái/giọng) Bên cạnh đó, Genette cho rằng ―diễn ngôn‖ (discourse) là một trong ba phạm trù cơ bản của nghiên cứu tự sự Trong đó, trần thuật là đối tượng trực tiếp, lời văn và câu chuyện là đối tượng gián tiếp ―Nghiên cứu lời văn trần thuật là xem xét mối quan hệ của nó với câu chuyện và hành vi kể chuyện‖ (Trần Đình Sử, 2018)
Trong tác phẩm văn bản tự sự nói chung và văn bản tự sự hư cấu nói riêng, diễn ngôn trần thuật đóng vai trò quan trọng, đảm nhận nhiều chức năng tự sự: Miêu tả khung cảnh, giới thiệu nhân vật, miêu tả nhân vật, tóm tắt thời gian, trình bày những điều nhân vật không nói đến hoặc không nghĩ đến, bình luận
Chức năng miêu tả là một trong những chức năng nổi bật của diễn ngôn trần thuật Trong các văn bản, tác giả sử dụng ngôn ngữ miêu tả để gợi liên tưởng, hình
dung cho người đọc về khung cảnh thiên nhiên, cuộc sống Trong tác phẩm ―Hai
đứa trẻ‖, bằng lời văn tinh tế đầy chất thơ, Thạch Lam đã vẽ nên khung cảnh thiên
nhiên phố huyện trong chiều tà: ―Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời‖ (Thạch Lam, 2014) Những đường nét ấy của buổi chiều đã khơi
nguồn cho dòng cảm xúc của nhân vật Liên trước khung cảnh phố huyện, trầm buồn
và thinh lặng trong hoàng hôn
Bên cạnh việc tái hiện thế giới bên ngoài, diễn ngôn trần thuật còn đi sâu vào thế giới nội tâm, qua đó thể hiện những dòng tâm tư, cảm xúc của nhân vật Trong
tác phẩm ―Chiếc lược ngà‖, Nguyên Quang Sáng đã miêu tả tâm trạng nhân vật ông
Sáu trong những ngày xa con: ―Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt Có cây lược, anh càng mong gặp lại con‖ (Nguyễn Quang
Sáng, 2014) Dòng cảm xúc nhớ thương của ông Sáu không chỉ làm nổi bật nỗi lòng của một người cha mà còn tô đậm những hi sinh của người lính trong những năm tháng chiến tranh Từ đó, nhà văn gieo vào lòng người đọc những khắc khoải về một thời gian khó nhưng hào hùng
Trang 33Giới thiệu hoàn cảnh nhân vật là một trong những chức năng của diễn ngôn
trần thuật Hoàn cảnh của nhân vật Mị trong ―Vợ chồng A Phủ‖ đã được Tô Hoài
giới thiệu ngay từ đầu: ―Mị về làm dâu nhà Pá Tra đ mấy năm Từ năm nào, không nhớ, cũng không ai nhớ Ngày xưa bố Mỵ lấy mẹ Mỵ không đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lý, bố của thống lý Pá Tra bây giờ‖ (Tô Hoài, 2020) Qua việc giới
thiệu hoàn cảnh nghèo khó, nhà văn tô đậm thêm cuộc đời của nhân vật Mị, từ đó phác hoạ những đường nét cơ bản trong bức chân dung con người Tây Bắc dưới sự kìm kẹp của chế độ thực dân Pháp
Cùng với việc giới thiệu hoàn cảnh, diễn ngôn trần thuật còn còn có chức
năng tóm tắt hoặc lược thuật thời gian trong câu chuyện kể Trong ―Chí Phèo‖,
Nam Cao đã tóm tắt 40 năm cuộc đời Chí Phèo bằng một số câu Bắt đầu từ đoạn
―Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương” cho đến ngày Chí Phèo “đi biệt tăm đến bảy tám năm, rồi một hôm hắn lại lù lù đâu lần về‖ (Nam Cao, 2016)
Việc lược thuật như vậy giúp người đọc hiểu rõ hơn chặng đường của Chí Phèo trước khi sa lầy vào con đường tha hoá Từ đó, bi kịch của Chí Phèo được đậm tô rõ nét hơn
Bên cạnh chức năng miêu tả, diễn ngôn trần thuật còn đảm nhận chức năng bình luận Trong tác phẩm, những diễn ngôn bình luận là kiểu diễn ngôn có tính chất chủ quan, góp phần thể hiện quan điểm, cảm nhận chủ quan của người kể Tuy nhiên, chức năng bình luận không thường xuyên xuất hiện trong các phát ngôn của người trần thuật
Để nói những điều nhân vật không nghĩ đến, diễn ngôn trần thuật được sử
dụng: ―Chưa bao giờ Chí Phèo nhận thấy thế bởi chưa bao giờ hết say Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say dài Cũng như những người say tỉnh dậy, hắn thấy miệng đắng lòng mơ hồ buồn‖ (Nam Cao,
2016) Với việc sử dụng điểm nhìn của nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã miêu tả chân thực, tinh tế cảm xúc của Chí Phèo sau khi tỉnh dậy Những rung động sâu xa trong tâm hồn đã đánh dấu con đường hoàn lương của Chí Phèo
Diễn ngôn tự sự cũng chỉ ra mối quan hệ giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật thông qua sự phân chia các kiểu diễn ngôn: Diễn ngôn trực tiếp, diễn ngôn
Trang 34gián tiếp, diễn ngôn gián tiếp tự do
Diễn ngôn trực tiếp được sử dụng thường xuyên trong các tác phẩm văn học Kiểu diễn ngôn này tái hiện trực tiếp lời của các nhân vật Diễn ngôn của nhân vật
độc lập với diễn ngôn của người trần thuật Nhờ đó, ―tính cá thể và toàn vẹn‖ (Trần
Đình Sử, 2018) của lời nhân vật được giữ nguyên Lời nhân vật thường được dẫn nguyên văn, đặt trong dấu ngoặc kép hoặc xuống dòng, gạch đầu dòng Với hình thức diễn ngôn này, sự can thiệp của tác giả được hạn chế tối đa Như quan điểm của G Genette, với việc sử dụng hình thức diễn ngôn trực tiếp, dấu vết của chủ thể
tự sự đã hoàn toàn bị xoá bỏ Thay vào đó, quyền phát ngôn được trao lại cho nhân vật Hình thức phổ biến của diễn ngôn trực tiếp là lời đối thoại, độc thoại của nhân vật Bên cạnh đó, một số lời độc thoại nội tâm của nhân vật cũng sử dụng diễn ngôn trực tiếp
Nếu như diễn ngôn trực tiếp giữ nguyên vẹn lời nhân vật thì với diễn ngôn gián tiếp, hình thức là lời của người trần thuật nhưng nội dung là lời của nhân vật
―Diễn ngôn gián tiếp là hỗn hợp của diễn ngôn nhân vật với diễn ngôn của người trần thuật.‖ Khác với diễn ngôn trực tiếp, dấu hiệu nhận biết diễn ngôn gián tiếp là
các động từ tường thuật Tác giả sử dụng các động từ để thuật lại lời của nhân vật
Để phù hợp với văn bản tự sự, đại từ xưng hô và thời gian cũng được thay đổi để phù hợp
Diễn ngôn gián tiếp tự do là sự kết hợp giữa diễn ngôn trực tiếp (người phát ngôn là người trần thuật) và diễn ngôn gián tiếp (người phát ngôn là nhân vật) Trong những công trình nghiên cứu ngôn ngữ trước thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu đều thống nhất về tính đơn điệu trong ngôn ngữ trần thuật Theo đó, mỗi câu trần thuật có một giọng điệu Đó có thể là giọng của tác giả hoặc giọng của nhân vật Quan điểm này đã dần bị thay thế bởi lý thuyết đa thanh do nhà phê bình văn học
người Nga Mikhail Bakhtin đề xuất năm 1934 trong công trình ―Diễn ngôn trong
tiểu thuyết‖ (tiếng Nga) ―Theo Bakhtin, trong mỗi tác phẩm văn học đều đồng thời
xuất hiện nhiều giọng điệu và cũng không có những giọng điệu trội hơn chi phối những giọng điệu khác‖ (Nguyễn Đức Dân, 2019) Dựa trên lý thuyết đa thanh của
Bakhtin, nhà ngôn ngữ học người Pháp Oswald Ducrot đã vận dụng vào phân tích
Trang 35diễn ngôn trong bài viết ―Sự phân tích văn bản và ngôn ngữ học của sự phát
ngôn‖ Một trong những phát hiện quan trọng nhất của ông là ―trong một phát ngôn
riêng lẻ có thể chứa nhiều giọng điệu khác nhau‖ (Nguyễn Đức Dân, 2019)
Diễn ngôn gián tiếp tự do là ―lời biến đổi của nhân vật thành lời của người
kể chuyện Nó là lời thuật lại lời độc thoại thầm kín của người khác một cách gián tiếp, nhưng vẫn giữ màu sắc, giọng điệu trực tiếp của nhân vật‖ (Trần Đình Sử,
2018) Đặc điểm cơ bản của diễn ngôn gián tiếp tự do là tính song điệu Kiểu câu này có sự hoà lẫn giữa lời của người trần thuật và lời của nhân vật Người đọc khó xác định chủ thể phát ngôn là người trần thuật hay nhân vật tham gia câu chuyện Tính chất ấy tạo nên sự mơ hồ trong phát ngôn Khi miêu tả tâm trạng của nhân vật
Mị trong tác phẩm ―Vợ chồng A Phủ‖, nhà văn Tô Hoài đã sử dụng diễn ngôn gián
tiếp tự do:
―Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi Bao nhiêu người có chồng
cũng đi chơi ngày Tết Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải
ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay! Không buồn nhớ lại nữa‖ (Tô Hoài, 2020)
Trong đoạn văn này, hình thức là lời của người kể chuyện Tuy nhiên, chủ thể ý thức lại là nhân vật Mị Từ điểm nhìn của nhân vật Mị, Tô Hoài bộc lộ khéo léo những tâm tư thổn thức trong lòng cô gái trẻ Lời nhân vật lồng vào lời của chủ thể trần thuật tạo nên sự lơ lửng trong phát ngôn Từ đó, dòng cảm xúc của nhân vật được bật lên rõ nét
1.1.3 Phê bình nữ quyền và vấn đề chủ thể trần thuật trong lối viết nữ
Một trong những bước ngoặt quan trọng của tự sự học hậu kinh điển là sự ra đời của tự sự học nữ quyền Tự sự học nữ quyền chính là phép cộng giữa tự sự học
và phê bình nữ quyền Mục đích chính của tự sự học nữ quyền ―nghiên cứu mối liên
hệ của các nhân tố nhứ “giới tính” (sex), “phái tính” (gender) và “dục tính” (sexuality) đối với bản chất hình thức, chức năng của tự sự‖ (Trần Đình Sử, 2018)
Trang 361.1.3.1 Phê bình nữ quyền
Từ những thập niên 1960 ở phương Tây, dưới sự ảnh hưởng của ―phong trào
nữ quyền‖, phê bình nữ quyền bắt đầu manh nha hình thành Cùng với sự ý thức về tầm quan trọng của sự đấu tranh tự do, bình đẳng cho người phụ nữ của phong trào
nữ quyền, phê bình nữ quyền bắt đầu với việc nền văn học nhận thức được tầm quan trọng của hình tượng người phụ nữ Với sự xuất hiện của hình ảnh người phụ
nữ trong văn học, phê bình nữ quyền tạo nên tính ―xã hội hoá‖ ―bởi vì nó đ cung cấp các vai trò mẫu mực chỉ cho nữ và nam về cái gì tạo nên những quan điểm được chấp nhận về “nữ tính” và những mục đích, nguyện vọng chính đáng của nữ giới‖ (Dẫn theo Cao Hạnh Thuỳ, 2013)
Trong giai đoạn đầu, phê bình nữ quyền tập trung vào việc khai thác sự bất bình đẳng giữa nam nữ Hướng phê bình này được đánh giá là có tính tranh đấu và
tranh luận ―Một căn phòng riêng‖ (A Room of One’s Own, 1929) của nhà văn nữ
người Anh Virginia Woolf (1882 – 1941) mở đầu cho phê bình nữ quyền trong văn học Cùng với Virginia Woolf (1882 – 1941), nữ triết gia hiện sinh người Pháp Simone de Beauvoir (1908 –1986) đã dành cả cuộc đời cho các sáng tác đấu tranh
tự do cho nữ giới, nổi bật là ―Giới tính thứ hai” (Le deuxième sexe, 1949), tác
phẩm kinh điển của chủ nghĩa Nữ quyền Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ những năm
1980 Trong giai đoạn này, sự phát triển của phê bình nữ quyền gắn kết với những khuynh hướng phê bình khác, tạo nên sự chuyển biến trong nhận thức Bên cạnh đó, thay vì công kích, đấu tranh với nam giới, phê bình nữ quyền đi sâu vào sự khám phá bản chất, trải nghiệm nữ giới Đặc biệt, giai đoạn này còn khẳng định sự cần thiết trong việc hình thành một lối viết cho nữ giới
Sau ba mươi năm phát triển, phê bình nữ quyền dần khẳng định được vị trí
và triển vọng nghiên cứu của mình, như Susan Lanser đã khẳng định:
―Các tự sự học nữ quyền luận và đồng tính luận đ làm thay đổi cảnh quan
văn chương và, nếu nói khiêm tốn hơn, cảnh quan của nữ quyền luận và đồng tính luận, theo những cách mà hẳn khi Wayne Booth xuất bản Rhetoric of Fiction (Tu từ học tiểu thuyết) và Genette công bố Figures III không thể nghĩ đến‖
(Dẫn theo Trần Ngọc Hiếu, 2015)
Trang 37Việc tiếp cận tác phẩm văn học từ hướng phê bình nữ quyền sẽ góp phần làm bật nổi những bề sâu bị chìm lấp, đặc biệt là trong bối cảnh văn học mà ―cái nhìn của đàn ông‖ đã được duy trì và cũng cố trong một thời gian dài
1.3.1.2 Chủ thể trần thuật trong lối viết nữ
Tự sự học hậu kinh điển mang đến những cái nhìn mới mẻ về vấn đề ―giới‖ trong văn học Nếu trong tự sự học kinh điển, những tác phẩm phê bình nữ quyền chủ yếu lấy chất liệu là các tác phẩm của nam giới thì ở tự sự học hậu kinh điển, sự
xuất hiện của tự sự học nữ quyền luận đã ―phá vỡ cấu trúc tự sự học kinh điển như một đại tự sự‖ (Trần Ngọc Hiếu, 2016)
Tự sự học nữ quyền là sự kết hợp giữa tự sự học và phê bình nữ quyền Thuật ngữ được đề xuất bởi Susan S Lanserb trong bài báo đăng trên tạp chí
―Style‖ năm 1986 Quan điểm về ―giới‖ trong hình thái giao tiếp của Miller khẳng
định tầm quan trọng của lối viết nữ trong sáng tác Lối viết nữ là đặc trưng tiêu biểu của bộ phận văn học nữ Đặc điểm này khu biệt với những sáng tác của nam giới
Theo các phê bình Pháp, lối viết nữ (L’écriture féminine) là ―một phương thức tư duy và thể hiện văn bản nghệ thuật mang phong cách nữ giới‖ (Dẫn theo Hồ Khánh
Vân, 2014) Cùng quan điểm với Miller, trong lý thuyết nữ quyền, Hélène Cixous cho rằng lối viết nữ được xác lập dựa trên mối quan hệ giữa giới tính và diễn ngôn
Trong những tác phẩm như Một chuyến đi (Sortie), Tiếng cười nàng Medusa (The laugh of the Medusa) và Đến để viết (Coming to writing), nhà phê bình đã nhận xét
về sự vắng bóng của phụ nữ trong các hoạt động diễn ngôn Từ đó dẫn đến sự khép kín của thế giới bên trong của nữ giới Ngay cả khi người phụ nữ có quyền tự do
ngôn luận thì họ vẫn ―vay mượn lối nói của nam giới chứ không có một hệ thống tu
từ đặc trưng của giới mình‖ (Dẫn theo Hồ Khánh Vân, 2014)
Theo S Lanser, giữa giới tính và người trần thuật có mối liên hệ mật thiết Chủ thể trần thuật trong sáng tác của những nhà văn nữ thể hiện những cái nhìn cảm tính, chủ quan của nữ giới Những vấn đề được thuật lại một cách cụ thể và cảm xúc, đặc biệt là những vấn đề riêng tư, đặc thù của nữ giới Đây là điều mà những nhà văn không thể có được bởi những người đàn ông không ở trong thế giới phụ nữ
nên không thể ―nói chuyện đàn bà tinh tế bằng đàn bà nói lấy chuyện của mình‖
Trang 38(Phan Khôi, dẫn theo Trần Thiện Khanh, 2016) Bằng sự mẫn cảm, tinh tế, người viết nữ đưa ra những góc nhìn riêng về cuộc sống Ngay cả khi khai thác những vấn
đề góc cạnh, vốn thuộc về nam giới như chiến tranh, những truyện ngắn của nữ nhà văn cũng thể hiện rõ dấu ấn của thiên tính nữ Chiến tranh được nhìn từ sự biến động của tâm hồn, những ―vết nứt‖ trong tình cảm, những nỗi đau, thổn thức riêng
tư Khai thác những vấn đề lịch sử, có tính thời đại như chiến tranh từ những câu chuyện riêng tư, góc nhìn bên trong mang đến vị thế riêng cho những nhà văn nữ
Có thể thấy, dù câu chuyện được kể bởi người trần thuật nam hay nữ thì đều nhấn vào thế giới cảm xúc, tâm tư, tình cảm, những rung động và vô thức của nhân vật
Để có thể diễn tả những rung động của tâm hồn, chủ thể trần thuật với lối viết nữ thường là người trần thuật đồng thuật hoặc người trần thuật dị thuật sử dụng nội tiêu điểm Bên cạnh đó, chủ thể trần thuật trong lối viết nữ thường sử dụng ―tự
thuật‖ như một hình thức ―thúc đẩy phụ nữ quay về bản thân mình và tự yêu mình
so với đàn ông‖ (Simond de Beauvior, Giới nữ, dẫn theo Hồ Khánh Vân, 2013)
Nếu như chủ thể trần thuật trong sáng tác của nam giới hình dung về nữ giới thông
qua chủ thể nam thì với lối viết nữ, “cá nhân người nữ phải viết chính mình, phải khám phá cho riêng mình cơ thể mình cảm thấy như thế nào, và làm sao để viết về thân thể ấy trong ngôn ngữ (Simond de Beauvior, Giới nữ, dẫn theo Hồ Khánh Vân,
2013)
Hoà mình vào nền văn học thế giới, văn đàn Việt Nam được thêm hương sắc bởi sự xuất hiện của những cây viết nữ nổi bật Giai đoạn trước 1975, văn học nữ giới được làm phong phú bởi sự xuất hiện của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Nhã Ca, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Hoàng Bước sang những năm đầu thế kỉ XX, sự xuất hiện của những cây viết nữ như Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Dạ Ngân, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh,… đã mang đến sinh khí mới cho nền văn chương nước nhà Góp mình vào dòng chảy văn học nữ, với phong cách và lối viết nữ đặc trưng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư đã làm đa dạng, phong phú bức tranh văn xuôi của nữ giới, góp phần khẳng định vị thế của văn học nữ trong văn học dân tộc
Trang 391.2 Cơ sở thực tiễn
Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư là hai nhà văn nổi bật của nền văn học Việt Nam Sáng tác của hai nữ nhà văn mang đến những góc nhìn về hình ảnh người phụ nữ, con người và mảnh đất Nam Bộ Hai nhà văn, hai thời đại lịch sử nhưng đã gặp nhau ở tiếng nói về nữ giới và mảnh đất miền Nam Sự gặp gỡ trong quan điểm, tư tưởng sáng tác là tiền đề để chúng tôi đưa ra những so sánh về sáng tác của hai nữ nhà văn
1.2.1 Hai nhà văn nữ viết nhiều về nữ giới
Xuyên suốt dòng chảy lịch sử văn học Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ là một trong những mạch nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn, nhà thơ, đặc biệt là
những nhà văn nữ Từ những người phụ nữ trong câu ca dao than thân ―Thân em như tấm lụa đào‖ đến những người phụ nữ với khát vọng tình yêu trong ―Sóng‖ của
Xuân Quỳnh, hình ảnh nữ giới trong văn chương lấp lánh những vẻ đẹp và thổn thức những tiếng lòng thầm kín Góp thêm tiếng nói vào mảng văn chương về nữ giới, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư đã mang đến những làn gió mới cho văn chương viết về người phụ nữ nói chung và văn chương của nhà văn nữ viết
về nữ giới nói riêng
Hình ảnh người phụ nữ là đề tài xuyên suốt sáng tác của Nguyễn Thị Thuỵ
Vũ Trong số 16 truyện được lựa chọn để khảo sát, hình ảnh người phụ nữ xuất hiện trong cả 16 tác phẩm Với Nguyễn Ngọc Tư, trong số 81 truyện chúng tôi lựa chọn
để khảo sát, có 67 truyện có đề tài về người phụ nữ, chiếm 83% Tuy nhiên, ở
những truyện còn lại như ―Osho và bồ‖, ―Vào ngày linh ái nở‖, ―B o đêm‖,
―Chuyện của Lụt‖, ―Áo đỏ bắt đèn‖, ―Chụp ảnh gia đình‖, ―Đi thật xa mới đến nhà bạn cũ‖, ―Dây diều‖, ―Giữa mùa chán chết‖, hình ảnh người phụ nữ cũng đóng vai
trò quan trọng trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm Như nhân vật người vợ
trong ―Bão đêm‖, dù chỉ xuất hiện thoáng qua trong một vài phân cảnh nhỏ trong
truyện nhưng đã để lại ấn tượng sâu đậm Hình ảnh người vợ với ―làn da xanh xao‖
vì dầm mưa dãi nắng nhiều đã khắc hoạ chân thật hình ảnh người phụ nữ miền biển với những vất vả, tần tảo, lo toan Có thể thấy, dù viết về đề tài nào, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tử cũng dành sự quan tâm đặc biệt cho nữ giới
Trang 40Người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ còn là hiện thân của những con người Nam Bộ sinh ra trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử Hơn ai hết, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ thấu hiểu nỗi lòng của người phụ nữ lúc bấy giờ
Đó là người phụ nữ với cuộc đời đầy nước mắt trong những sáng tác viết về cô gái
Snackbar như ―Lao vào lửa‖, ―Mèo đêm‖, ―Ngọn pháo bông‖; Những người phụ nữ với thân phận bị kìm kẹp trong lễ giáo phong kiến như bà Phủ trong ―Khung rêu‖;
Hay người phụ nữ trước những ngã rẽ cuộc đời như bà Đốc phủ sứ, bà Chợ lớn, Ba
Ngoạn, Quế hương trong ―Nhang tàn thắp khuya‖ Tất cả đã góp phần hoàn thiện
diện mạo chung của người phụ nữ trong xã hội đương thời
Cũng như Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc hoạ hình ảnh người phụ nữ Nam Bộ trước sự thay đổi của xã hội Nếu như người phụ nữ trong truyện Nguyễn Thị Thuỵ Vũ là chân dung nữ giới trong một thời đại đầy biến động của lịch sử thì người nữ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là hiện thân của những
cuộc đời long đong lận đận giữa dòng đời như Sáo trong ―Nước như nước mắt‖, Viên trong ―Ngổn ngang‖; Những thân phận với trái tim tan vỡ như Hậu trong ―Một trái tim khô‖, Út trong ―Nhà cổ‖ hay những người nghệ sĩ với trái tim đa cảm, sẵn sàng từ bỏ tất cả để đi theo đam mê như Lý trong ―Chuyện của Điệp‖, bà Hồng trong ―Cuối mùa nhan sắc‖,… Mỗi một người phụ nữ là một nét vẽ trong chân dung
người nữ của những năm đầu thế kỉ XXI Đằng sau những nét vẽ ấy không chỉ là tình cảm chân thành mà nhà văn nữ Cà Mau muốn gửi gắm tới những người phụ nữ
mà còn là tiếng nói đấu tranh cho những thân phận ―hạng hai‖ trong xã hội Cùng với Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc ghi những dấu ấn sâu sắc trong làng văn học nữ, từ đó mang đến những diện mạo mới mẻ cho văn học nữ nói riêng
và văn học Việt Nam nói chung
1.2.2 Hai nhà văn nữ viết nhiều về cuộc sống con người Nam Bộ
Không chỉ gặp gỡ nhau trong những sáng tác về đề tài người phụ nữ, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và Nguyễn Ngọc Tư còn có nhiều tác phẩm viết về cuộc sống con người Nam Bộ Hình ảnh con người và miền đất sông nước hiện lên chân thật và gần gũi trong sáng tác của hai nữ nhà văn