1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật nữ trong văn xuôi của nguyễn thị thụy vũ

131 139 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân Vật Nữ Trong Văn Xuôi Của Nguyễn Thị Thụy Vũ
Tác giả Phan Thị Mai
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hồ Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, từ năm 1971, khi tác phẩm Khung rêu được giải thưởng Văn học miền Nam, tên tuổi của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ được rất nhiều nhà nghiên cứu miền Nam đề cập đến, trong đó có ba công t

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lê Thị Hồ Quang NGHỆ AN – 2018

Trang 3

Nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ

Trang 4

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

KHXH : Khoa học xã hội KHXH &NV: Khoa học xã hội và Nhân văn Nxb : Nhà xuất bản

TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số trang

đứng sau Ví dụ: [79, tr.126] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu

tham khảo là 79, nhận định trích dẫn nằm ở trang 126 của tài liệu này

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lí do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát 7

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……… 7

5 Phương pháp nghiên cứu……… 8

6 Những đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc luận văn……… 9

Chương 1 SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI MIỀN NAM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1965 – 1975 1.1 Khái lược về bối cảnh lịch sử và sự phát triển của văn xuôi giai đoạn 1965 – 1975 ở miền Nam Việt Nam ……… 10

1.1.1 Đặc điểm lịch sử, văn hóa - xã hội miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975……… 10

1.1.2 Đặc điểm văn xuôi miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975…….12

1.1.3 Những tác giả nổi bật của văn xuôi miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975……… 16

1.2 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Thị Thụy Vũ………19

1.2.1 Tiểu sử……… 19

1.2.2 Những tác phẩm chính……… 21

1.2.3 Những đề tài nổi bật trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ………… 21

1.3 Nhìn chung về nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ…… ……… ……… 24

Trang 6

1.3.1 Nhân vật nữ - kiểu nhân vật nổi bật trong văn xuôi của Nguyễn

Thị Thụy Vũ…….……….24

1.3.2 Nguyên nhân dẫn đến cảm hứng khám phá hình tượng nhân vật nữ trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ……… …27

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ KIỂU DẠNG NHÂN VẬT NỮ TRONG VĂN XUÔI CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ 2.1 Những đặc điểm nổi bật của nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ……… 31

2.1.1 Hấp dẫn về ngoại hình……… 31

2.1.2 Có số phận trớ trêu………37

2.1.3 Đời sống tinh thần không đơn giản……… 44

2.1.4 Bản năng tình dục mạnh mẽ……… 48

2.2 Một số kiểu nhân vật nữ nổi bật trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ 54

2.2.1 Người phụ nữ truyền thống đầy ý thức trách nhiệm, bổn phận….……54

2.2.2 Người phụ nữ tân thời với lối sống “Mỹ hóa”……… 59

2.2.3 Những cô gái điếm ………64

2.2.4 Những nữ sinh tỉnh lẻ………70

2.3 Sự tương đồng và khác biệt ở nhân vật nữ của Nguyễn Thị Thụy Vũ với một số tác giả nữ cùng thời… ……… …74

2.3.1 Sự tương đồng ……… 74

2.3.2 Sự khác biệt……… 77

Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT NỮ TRONG VĂN XUÔI CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ 3.1 Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật……… 80

Trang 7

3.1.1 Đặt nhân vật vào những tình huống tâm lý……… 80

3.1.2 Chú ý khai thác sự đối lập giữa vẻ ngoài và nội tâm nhân vật……… 84

3.1.3 Đặt nhân vật nữ trong quan hệ đối sánh với nhân vật nam………… 90

3.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ……… 94

3.2.1 Ngôn từ mang màu sắc Nam Bộ………94

3.2.2 Sử dụng lời thoại linh hoạt, dí dỏm……… 99

3.3 Nghệ thuật sử dụng giọng điệu……… 107

3.3.1 Sử dụng giọng châm biếm, giễu cợt………107

3.3.2 Sử dụng giọng tâm tình……… 112

KẾT LUẬN……… 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… 119

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Hai mươi năm (1954 -1975) là một đoạn đường dài đối với lịch sử đương đại cũng như với văn chương Việt Nam Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc, trên một nửa đất nước tính từ vĩ tuyến 17 đến đất mũi Cà Mau, một giai đoạn văn học với nhiều đặc điểm khác biệt so với văn học miền Bắc đã tồn tại và phát triển Và trong hơn hai thập niên này, diễn trình văn xuôi miền Nam không thẳng một đường, hướng tới một đích mà quanh co, biến hóa khác thường Cùng với sự phân hóa đa dạng đó, bộ phận văn học miền Nam thời kì này đánh dấu sự xuất hiện của nhiều cây bút mới với sức sáng tạo độc đáo, đáng chú ý là sự xuất hiện của một số nhà văn nữ Sáng tác của các cây bút nữ này thực sự mới mẻ về giọng điệu, ngôn từ; đặc biệt là việc khai thác và thể hiện các yếu tố tình dục, bản năng, lối sống hiện sinh

1.2 Nguyễn Thị Thụy Vũ là một hiện tượng khá đặc biệt trong số những văn sĩ miền Nam lúc bấy giờ Bên cạnh Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng và Trùng Dương, Thụy Vũ cũng là một trong số những cây bút phụ nữ gây biết bao xao động trong văn giới Với Nguyễn Thị Thụy Vũ, có thể thấy mảng đề tài xuyên suốt trong những sáng tác của nhà văn là cuộc sống sinh hoạt nông thôn miền Nam với nhiều bối cảnh của thập niên 1940 Bên cạnh đó, ngòi bút nữ này còn chạm đến đề tài thời thượng về giới “ăn sương”, các cô gái snack bar khi Mỹ đổ quân vào miền Nam Chỉ trong khoảng thời gian 10 năm, bà đã cho ra đời 10 tác phẩm, gồm ba tập truyện

ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông và bảy tập truyện dài: Khung

rêu (giải thưởng Văn học miền Nam 1971), Thú hoang, Nhang tàn thắp khuya, Ngọn pháo bông, Như thiên đường lạnh, Cho trận gió kinh thiên, Chiều xuống êm đềm Sự xuất hiện những tác phẩm này đã tạo ra một làn gió

Trang 9

mới cho nền văn chương miền Nam Việt Nam trong bối cảnh ngập tràn khói lửa máu xương

1.3 Xung quanh hiện tượng văn học Nguyễn Thị Thụy Vũ đã có khá nhiều bài viết và công trình nghiên cứu, tìm hiểu Song chúng tôi vẫn mạnh dạn tìm một hướng đi mới để có thể hiểu sâu hơn nữa về những đứa con tinh thần được xem là tâm huyết suốt một đời văn của bà Đề tài về nhân vật không phải là mới nhưng ở các công trình nghiên cứu trước chủ yếu mới chỉ

đề cập đến ở dạng khái lược Đây cũng chính là lý do tại sao chúng tôi chọn

Nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ để làm đề tài nghiên

cứu của luận văn

2 Lịch sử vấn đề

Tính từ khi Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất hiện trên văn đàn văn học cho tới ngày nay, đã có không ít những công trình nghiên cứu về truyện của bà

Đặc biệt, từ năm 1971, khi tác phẩm Khung rêu được giải thưởng Văn học

miền Nam, tên tuổi của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ được rất nhiều nhà nghiên cứu

miền Nam đề cập đến, trong đó có ba công trình đáng kể là: cuốn Mười khuôn

mặt văn nghệ hôm nay (bao gồm: Trịnh Công Sơn, Tuý Hồng, Nguyễn Thị

Thuỵ Vũ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nhật Tiến, Thế Uyên, Thế Phong, Bùi Giáng và Võ Hồng) của Tạ Tỵ xuất bản tại Sài Gòn năm

1973; cuốn Các nhà văn nữ Việt Nam 1900 – 1970 (Song An, Mộng Sơn,

Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Nhã Ca, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương và Nguyễn Thị Thuỵ Vũ) của Uyên Thao xuất bản tại Sài Gòn năm

1973; cuốn Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta gồm 45 cây

bút từ 1964 – 1973 do Nguyễn Đông Ngạc chủ trương, nhà xuất bản Sóng, thực hiện vào năm 1974 đã đưa tên tuổi Nguyễn Thị Thuỵ Vũ trở thành cái tên sáng giá Về cơ bản, những công trình nghiên cứu này đề cập đến những đặc điểm cũng như sự phá cách trong văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ xét

Trang 10

về phương diện nội dung lẫn nghệ thuật Bên cạnh đó, một số công trình cũng dụng công tìm hiểu về thế giới nhân vật rất đa dạng, đặc biệt là các nhân vật

nữ trong các sáng tác của bà Có thể điểm lược một số ý kiến và công trình nghiên cứu bàn đến sáng tác của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài

Nhà phê bình Nguyễn Đình Tuyến trong cuốn Nhà văn hôm nay, tập 1

(Nxb Hội Nhà văn Việt Nam, 1969) đã nhìn thấy ở văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ những giá trị có tính thời đại: “Truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ thật là táo bạo Đọc xong truyện, tôi nghĩ đây mới thật là những truyện trình bày những sự kiện sống thực nhất của thời đại chúng ta Thời đại này rồi sẽ đi qua Những cái gì của thời này nếu không ghi kịp thì ngày mai sẽ mất” [72]

Một nhận xét về văn của Thụy Vũ mà như lật ra một mảng đời sống xã hội của miền Nam lúc bấy giờ Có thể thấy, với nhận xét này, nhà phê bình đã nhấn mạnh sự táo bạo của Nguyễn Thị Thụy Vũ khi dám mạnh dạn đi sâu khai thác những mảng đề tài hiện thực một cách tận cùng

Nhà văn, họa sĩ Tạ Tỵ trong Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (xuất

bản tại Sài Gòn năm 1973) cũng viết: “Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhà văn phái

nữ, hiện diện giữa khung trời văn nghệ với sắc thái đặc thù Những ý nghĩ bỏng cháy và rẫy rụa về thân xác trong mỗi tác phẩm, đôi khi vượt quá ý nghĩ của nhiều người” [73] Những nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thuỵ

Vũ hầu như đều mang những ám ảnh ẩn ức, những cuồng khát về dục tình xác thịt Dù là những cô gái bán phấn buôn hương, hay là những người phụ nữ sống đúng theo lễ nghi thông thường thì những ý nghĩ ấy vẫn như con sóng ngầm và nó hoàn toàn có đủ sức công phá, làm lung lay thậm chí phá vỡ đi những thứ mà họ cố tình che giấu Và điều đó cũng được chính ông nêu ra ở một trang khác của tác phẩm: “Thuỵ Vũ viết truyện ngắn với nhiều thể tài, mỗi thể tài được hàm chứa sự cuồng nhiệt của tuổi trẻ trong vấn đề tình yêu,

Trang 11

cũng như nỗi nhức mỏi về thân phận, thân phận người con gái với những ước

mơ táo bạo về dục tình” [73] Uyên Thao trong Các nhà văn nữ Việt Nam

1900 – 1970 (xuất bản tại Sài Gòn năm 1973) cũng phát hiện được đặc trưng

nổi bật này trong truyện Thuỵ Vũ qua những nhận xét như sau: “Theo quan điểm của Freud, chúng ta có thể cho rằng Nguyễn Thị Thuỵ Vũ là một người

bị dồn nén trầm trọng về tình dục” [57] Dễ thấy, ngọn bút của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ có tính cách táo bạo, sống động vì vậy đã gây sự phân chia xôn xao trong dư luận, một mặt là quan điểm phê phán về “tính cách sống sượng”,

“khiêu dâm” trong văn bà và mặt kia, ngược lại, là quan điểm đồng tình vì cho rằng sáng tác của Thuỵ Vũ thể hiện thực trạng, lối sống, tâm lí con người trong cuộc sống đương thời

Uyên Thao trong Các nhà văn nữ Việt Nam 1900 – 1970 (xuất bản tại

Sài Gòn năm 1973) cũng viết về Nguyễn Thị Thụy Vũ như sau: “Nguyễn Thị Thụy Vũ là một cây bút khá sắc bén và tinh tế, nhưng vẫn có những sơ hở nặng nề của một tinh thần tùy hứng” [57] Có lẽ những tác phẩm của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, như bà từng chia sẻ, chỉ là sự ghi chép một cách hoàn toàn tự nhiên những gì bà đã được chứng kiến cho nên nó có vẻ mang tính tuỳ hứng Nhưng theo chúng tôi, không phải bởi thế mà văn chương Thuỵ Vũ thiếu đi cái tinh tế và sắc sảo

Võ Phiến, trong Văn học miền Nam tổng quan (xuất bản tại Hoa Kỳ

năm 1999) nói về sách của Nguyễn Thị Thụy Vũ là dạng sách mà "các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết" [48] Hãy cùng đọc bài viết về Nguyễn Thị Thụy Vũ trong quyển 2 của bộ

biên khảo Văn học miền Nam do Văn Nghệ xuất bản: “Đàn bà cầm bút, đa số

viết chuyện tình ái hoặc lâm ly hoặc éo le, chuyện vui chuyện buồn loanh quanh trong gia đình, giữa các chàng với các nàng v v Bà Nguyễn xông vào cơn gió bụi, phanh phui những cảnh đời lầm than, làm lắm kẻ sững sờ, nhăn

Trang 12

mặt Ở nước ta, từ trước tới nay chuyện bà Nguyễn làm là chuyện của đàn ông Nam phái vẫn xông xáo hơn nữ phái Chuyện kéo xe, người ngựa ngựa người, chuyện làm đĩ, chuyện lục-xì, móc túi, đánh cướp, buôn lậu v.v thường do các ông tìm hiểu và kể lại cho nhau nghe Các bà các cô không tiện tìm, không tiện kể, mà cũng không mấy thích nghe Bà là người đàn bà khác thường Tôi ngờ không hẳn do năng khiếu, chẳng qua do một trường hợp ngẫu nhiên Có một độ, hình như lúc từ dưới tỉnh về Sài Gòn, bà dạy Anh văn cho những cô gái có công việc làm ăn giao thiệp với Mỹ, hay có chồng Mỹ Nhiều người trong số ấy đem tâm sự tỉ tê với bà Cuộc đời và tâm sự của họ xúc động bà, thành đề tài sáng tác của bà Người đọc nhận thấy trong các truyện của bà Nguyễn thỉnh thoảng có một cô giáo Anh văn xuất hiện Tình

cờ, vì lý do sinh kế, mà bà Nguyễn làm cây bút tả chân đầu tiên ở xứ ta, về phía nữ phái, mạnh dạn phơi bày một phương diện của thực trạng xã hội ta vào một thời điểm đặc biệt Bà có vị trí riêng trong thời kỳ văn học bấy giờ” [48]

Năm 2008, luận văn thạc sĩ của Hồ Khánh Vân trường Đại học Khoa

học Xã hội Nhân văn TP HCM với đề tài Từ lý thuyết phê bình nữ quyền

nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ năm

1990 đến nay là một công trình khoa học nghiêm túc, có giá trị cũng đã đặt

vấn đề về ý thức nữ quyền trong các sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Ngoài ra, trên các website cũng có không ít những bài viết nghiên cứu cũng như trình bày quan điểm của các tác giả, các nhà phê bình về cuộc đời, văn nghiệp cũng như nội dung những sáng tác của nhà văn Nguyễn Thị Thụy

Vũ Trong đó, đáng chú ý nhất có thể kể đến những bài viết của các tác giả sau:

- Đoàn Dự trong bài viết “Đôi nét về nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ” đăng trên website http://thoibao.com đã đưa ra những thông tin khá đầy đủ về

Trang 13

cuộc đời lẫn sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ Viết dưới dạng là những ghi chép nên phần nào, bài viết có thể giúp cho người đọc có cái nhìn khá chân thực về cuộc đời cũng như sáng tác của nữ nhà văn

- Lam Điền trên website http://tuoitre.vn, nhân sự kiện nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ tái ngộ với độc giả sau một khoảng thời gian dài vắng bóng đã

có bài viết “Nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ sau gần 50 năm ẩn dật” nhằm thống kê các tác phẩm của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ cũng như những ý kiến đa chiều về những sáng tác của bà Qua những ý kiến thống kê đó, người đọc có thể hình dung rõ hơn về nội dung cũng như phương châm sáng tác của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và lí giải được vì sao những tác phẩm của bà có thể tạo được ấn tượng mạnh trong lòng công chúng đương thời đến vậy

- Hồ Trường An trong bài “Tổng quan văn chương của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ” trên trang www.namkyluctinh.com cũng đã có những trình bày khái quát về văn chương của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ trong bối cảnh văn xuôi miền Nam đương thời Bằng những dẫn chứng và sự phân tích sắc sảo, tác giả bài viết đã khẳng định sự xuất hiện của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ bên cạnh những nhà văn nữ đương thời đã tạo ra một làn gió mới góp phần làm sôi động hơn cho đời sống văn học miền Nam lúc bấy giờ

- Tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân với bài viết “Nguyễn Thị Thuỵ Vũ

đã trở lại” đăng trên website http://khoavanhoc.ngonngu.edu.vn cũng đã giúp người đọc có một cái nhìn toàn diện về văn chương Nguyễn Thị Thuỵ Vũ khi khái quát lại những giá trị nội dung cũng như nghệ thuật trong tất cả các sáng tác của bà

Có thể thấy, đã có khá nhiều công trình cũng như đề tài nghiên cứu về truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ Song các công trình đó chỉ mới dừng lại ở mức nghiên cứu chung chung mà chưa đi sâu vào khai thác khía cạnh nhân vật nữ - hình tượng nhân vật được coi là trung tâm và xuyên suốt trong các sáng tác

Trang 14

của bà Trước tình hình đó, luận văn của chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu hình tượng nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ, với mong muốn góp thêm một cách tiếp cận, lý giải khoa học về tác phẩm của bà

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ

3.2 Phạm vi văn bản khảo sát

Luận văn khảo sát văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ, cụ thể các tác

phẩm sau đây:

- Ba tập truyện ngắn: Lao vào lửa (xuất bản năm 2016) (gồm 3 truyện:

Chiếc giường, Lao vào lửa và Đêm nổi lửa); Mèo đêm (xuất bản năm 2017)

(gồm 5 truyện: Một buổi chiều, Đợi chuyến đi xa, Mãnh, Nắng chiều vàng,

Mèo đêm); Chiều mênh mông (xuất bản năm 2017) (gồm 7 truyện: Chiều mênh mông, Tiếng hát, Lìa sông, Cây độc không trái, Trôi sông, Đêm tối bao

la và Lòng trần)

- Bảy tập truyện dài: Khung rêu (giải thưởng Văn học miền Nam 1971) (xuất bản năm 2016), Thú hoang (xuất bản năm 2016), Nhang tàn thắp khuya (xuất bản năm 2016), Ngọn pháo bông (xuất bản năm 2017), Như thiên đường

lạnh (xuất bản năm 2017), Cho trận gió kinh thiên (xuất bản năm 2017), Chiều xuống êm đềm (xuất bản năm 2017)

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là khảo sát, nghiên cứu, đánh giá hình tượng nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ Từ đó đem lại một sự đánh giá khách quan và đầy đủ hơn về vị trí, giá trị của văn xuôi Nguyễn Thị Thuỵ

Vũ từ một góc nhìn cụ thể

Trang 15

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong bối cảnh văn xuôi

miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 - 1975

- Chỉ ra đặc điểm và kiểu dạng của nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ

- Chỉ ra nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:

5.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đi sâu phân tích, xem xét

từng phương diện của đề tài thể hiện qua mười tác phẩm, từ đó rút ra những đánh giá và nhận định khái quát

5.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Thiết lập và sắp xếp các vấn đề

một cách logic, khoa học; xem xét, đánh giá trong cấu trúc tổng thể của chúng

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh, đối chiếu giữa các tác

phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ để khái quát thành các luận điểm và so sánh Nguyễn Thị Thụy Vũ với một số nhà văn khác để thấy được nét chung và nét riêng

5.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tìm hiểu về các giai đoạn

lịch sử, văn hoá mà truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ phản ánh; nghiên cứu các tài liệu về văn hóa làm cơ sở tìm hiểu tư tưởng Nguyễn Thị Thụy Vũ và lí giải

về những thành công của nhà văn

6 Những đóng góp của luận văn

- Nghiên cứu hình tượng nhân vật nữ trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy

Vũ một cách hệ thống

Trang 16

- Là tài liệu tham khảo có ý nghĩa khi nghiên cứu về Nguyễn Thị Thụy

Vũ và văn xuôi miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính

của luận văn được triển khai qua ba chương:

Chương 1: Sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong bối cảnh văn xuôi

miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 - 1975

Chương 2: Đặc điểm và kiểu dạng nhân vật nữ trong văn xuôi của

Nguyễn Thị Thụy Vũ

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong văn xuôi của

Nguyễn Thị Thụy Vũ

Trang 17

Chương 1 SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI MIỀN NAM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1965 – 1975

1.1 Khái lược về bối cảnh lịch sử và sự phát triển của văn xuôi giai đoạn 1965 – 1975 ở miền Nam Việt Nam

1.1.1 Đặc điểm lịch sử, văn hóa - xã hội miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975

Với chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, ngày 21/7/1954, hiệp định ne-vơ được kí kết đã đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kéo dài trong suốt mười năm Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, đất nước tạm thời bị phân đôi Ở miền Bắc, Đảng ta chủ trương đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho việc tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, đấu tranh thống nhất nước nhà Ở miền Nam, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa do Mỹ dựng lên dần dần hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ, xã hội miền Nam cũng chuyển từ ảnh hưởng của thực dân Pháp sang ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân mới Có thể khẳng định, xã hội miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đang trải qua những biến cố lớn lao trên tất cả các phương diện, từ chính trị, xã hội đến kinh tế, văn hóa…

Giơ-Về chính trị, có thể nói, miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975, đặc biệt là giai đoạn sau 1963 ở trong tình trạng vô cùng rối ren và hỗn loạn Chính phủ Ngô Đình Diệm đang ở thời kỳ suy vong càng ngày càng bộc lộ những mặt trái của nó Chính sự khủng hoảng sâu sắc và trầm trọng này đã kéo theo sự bất mãn lớn lao trong lòng nhân dân cũng như làm nảy sinh những mâu thuẫn ngấm ngầm trong nội bộ chính quyền Những cuộc đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị nổ ra liên tiếp kèm theo sự chia rẽ mỗi lúc

Trang 18

mỗi trầm trọng trong hàng ngũ quốc gia khiến chính quyền lúc bấy giờ không còn đủ sức kháng cự

Một yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến nếp sống và văn hoá của miền Nam lúc bấy giờ đó chính là sự xuất hiện của người Mỹ Cùng với sự đổ quân ồ ạt của Mỹ vào miền Nam là những tư tưởng, văn hoá phương Tây, văn hoá Mỹ và lối sống Mỹ cũng được du nhập một cách nhanh chóng, tác động

rõ rệt đến đời sống văn hoá, tư tưởng của nhân dân miền Nam giai đoạn này Bên cạnh đó, cùng với sự du nhập của văn hoá Mỹ, nhiều trường phái triết học, mỹ học, lý luận phê bình văn học Âu Mỹ hiện đại cũng tràn vào miền Nam tạo nên một diện mạo văn hoá vô cùng đa dạng Tuy nhiên, cũng chính

sự tiếp thu một cách vồn vã và thái quá này đôi khi lại gây ra một hậu quả tiêu cực đó là nó dẫn đến nếp sống quá tự do, phóng túng Từ đó, những quan niệm về đạo đức xã hội cũng bị đảo lộn

Như vậy có thể thấy, cùng những biến cố về chính trị với những cuộc đảo chính, lật đổ và chiến tranh liên miên, tình hình kinh tế, xã hội của miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954, đặc biệt là từ 1965 đến 1975 cũng vô cùng rối

ren, phức tạp Võ Phiến trong cuốn Văn học miền Nam tổng quan từng đưa ra

nhận xét như sau: “Thời kì 1954 – 1975 mở đầu tưng bừng, kết thúc bi đát Trong hai mươi năm ấy, miền Nam trải qua nhiều diễn biến dồn dập, và toàn là những diễn biến lớn lao, ảnh hưởng đến xã hội, đến đời sống mọi người một cách sâu xa Thật vậy, những cuộc di cư hàng triệu người từ Bắc vào Nam, rồi hàng triệu người từ Việt Nam sang Tây phương là chuyện chưa từng xẩy ra trong lịch sử dân tộc, cũng là chuyện hiếm thấy trong lịch sử nhân loại; cuộc chiến tranh quốc cộng giữa Nam Bắc Việt Nam vừa rồi là một cuộc chiến tranh cực kỳ ác liệt tàn nhẫn; sự có mặt của hàng triệu quân nhân Mỹ tại miền Nam, cuộc tiếp xúc đầu tiên của người Việt với nếp sống Mỹ là một kinh nghiệm hoàn toàn mới mẻ đối với dân tộc ta Một tình hình như thế nhất định phải đưa

Trang 19

đến những thay đổi sâu xa trong tâm hồn chúng ta [48, tr.82] Có thể thấy, chỉ thông qua một lời nhận xét ngắn gọn, Võ Phiến đã khái quát về tình hình chính trị - xã hội cũng như lịch sử, văn hoá của miền Nam Việt Nam trong vòng hai mươi năm, từ 1954 đến 1975 một cách khá trọn vẹn

Cùng với sự sôi động về lịch sử - văn hoá – xã hội, văn học miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ cũng ghi dấu ấn khá sâu sắc của một sự chuyển biến toàn diện trên rất nhiều lĩnh vực Đặc biệt, bước sang giai đoạn cuối những năm 60, người ta có thể ghi nhận nhiều thay đổi quan trọng trong văn học nghệ thuật miền Nam Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ điểm qua những đặc điểm lớn trong thể loại văn xuôi trên một số phương diện cơ bản:

Thứ nhất, về lực lượng sáng tác

Trong bài nghiên cứu: “Vài nét về văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn

1954 – 1975” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học (số 5/2007), Nguyễn Thị

Thu Trang đã đưa ra một thống kê về sự phát triển của lực lượng các tác giả

văn xuôi miền Nam giai đoạn này như sau: “Năm 1973, trong cuốn Văn học

và tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ, có bản thống kê gọi là "Đồ biểu văn xuôi

Việt Nam”, tác giả ghi tên khoảng 50 tác giả văn xuôi ở miền Nam giai đoạn

từ 1954 đến 1973 cùng với các tác phẩm tiêu biểu của họ (bao gồm tác phẩm thuộc thể "truyện" và cả các công trình khảo cứu văn hóa, lịch sử) Năm 1986,

trong cuốn Hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975 (Phần tổng quan)

của Võ Phiến, ở phần thống kê cuối sách, người đọc tính được 267 tác giả trong đó hơn hai phần ba là tác giả văn xuôi Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá

trong tác phẩm Nhìn lại một chặng đường văn học đã qua, riêng trong phần

tuyển chọn tác phẩm của các cây bút có xu hướng "tiến bộ, yêu nước" ở vùng

đô thị miền Nam, đã đưa ra đến 60 tác giả văn xuôi So sánh với đội ngũ nhà

văn thời tiền chiến từ 1913 đến 1945 trong cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ

Trang 20

Ngọc Phan, nhà nghiên cứu Cao Huy Khanh cũng cho rằng số lượng các tác giả văn xuôi giai đoạn sau 1954 ở miền Nam rất lớn, lên tới 200 người” [67]

Như vậy, dù những con số đưa ra có thể chưa hoàn toàn chính xác, nhưng căn cứ vào bản thống kê trên, chúng ta có thể hình dung một cách rất

rõ ràng về sự thay đổi trong lực lượng sáng tác của bộ phận văn xuôi miền Nam Có thể khẳng định đội ngũ các nhà văn trong dòng văn học miền Nam giai đoạn này phát triển hết sức mau lẹ Chỉ tính theo số năm thống kê dựa trên khảo sát của các nhà nghiên cứu nói trên, người đọc cũng dễ dàng nhận thấy được sự tăng lên nhanh chống của các tác giả văn xuôi theo thời gian Họ

có thể là những nhà văn đã thành danh trước đó và vẫn tiếp tục con đường sáng tác của mình như Vi Huyền Đắc, Vũ Bằng, Nhất Linh, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh , cũng có thể là những nhà văn thuộc thế hệ trẻ xuất hiện sau 1964 như Hồ Minh Dũng, Nguyễn Mộng Giác, Trần Hoài Thư, Lê Văn Thiện Bên cạnh đó, một hiện tượng văn học cũng được dư luận quan tâm lúc bấy giờ đó là sự xuất hiện của hàng loạt những nhà văn nữ như Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH Những người phụ nữ hiện diện giữa bầu trời văn học đã góp phần tạo ra một làn gió mới, một sức sống mới cho văn học Mỗi nhà văn chọn một hướng đi riêng và xác lập được cho mình một phong cách riêng Tất cả họ đã cùng nhau tạo ra một diện mạo vô cùng sôi động cho

bộ phận văn xuôi miền Nam giai đoạn 1954, đặc biệt là giai đoạn từ 1965 –

1975

Thứ hai, về tác phẩm

Có thể khẳng định một điều rằng, tác phẩm văn xuôi trong bộ phận văn học miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 phát triển rất nhanh kể cả về số lượng lẫn chất lượng so với giai đoạn trước đó Về số lượng, để chứng minh cho sự tăng lên nhanh chóng của các tác phẩm, chúng ta cũng có thể dựa vào những

Trang 21

con số thống kê của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang được đưa ra trong bài

nghiên cứu nói trên Cụ thể, tác giả viết: “Tạ Tỵ viết hai tập Mười khuôn mặt

văn nghệ hôm nay giới thiệu sự nghiệp văn nghệ và tác phẩm của 20 nghệ sĩ

mà ông cho là thành đạt nhất ở miền Nam, trong đó có tới 13 tác giả văn xuôi, chiếm gần hai phần ba Từ số đầu tiên ra ngày 15/01/1957 đến số cuối cùng

là số 426 ra ngày 19/4/1975, ước tính có hơn 600 truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, tuỳ bút, tiểu luận của nhiều tác giả, đã được in trên Bách Khoa Trên tập san Văn do ông Nguyễn Đình Vượng chủ trương, con số trên còn tăng gấp đôi, gấp ba vì mục đích tập san này chỉ là in tuyển, giới thiệu tác phẩm văn, thơ Một tạp chí khác hoạt động ngắn ngủi, chỉ trong vòng hơn hai năm từ

1970 đến 1972 như tờ Trình Bày trong 42 số đã đăng khoảng gần 80 truyện ngắn, trung bình gần hai truyện trên một số Có thể dẫn chứng thêm, như nhà văn Bình Nguyên Lộc có khoảng 1000 truyện ngắn và nhiều tiểu thuyết, truyện dài khác; như học giả Nguyễn Hiến Lê tính đến năm 1975 có đúng 100 đầu sách các loại đã được xuất bản” [67] Như vậy, chính sự phát triển của các tờ báo đã có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phổ biến các tác phẩm văn xuôi đến với độc giả Nhờ có môi trường phát triển và truyền bá, chính điều đó đã góp phần kích thích sự sáng tác của các nhà văn khiến các tác phẩm văn xuôi giai đoạn này xuất hiện một cách vượt trội so với các giai đoạn khác

Về chất lượng, có thể thấy, các tác phẩm văn học giai đoạn này cũng đạt đến tính nghệ thuật cao hơn Đặc biệt các nhà văn luôn có ý thức trong việc mở rộng đề tài cũng như thể loại sáng tác Về thể loại, tác phẩm văn xuôi giai đoạn này được sáng tác trên rất nhiều thể loại khác nhau Có những nhà văn trung thành với những thể loại cũ như tiểu thuyết dài tình cảm, những chuyện gay cấn ly kỳ Một số nhà văn lại chọn sáng tác theo thể tuỳ bút, đoản văn, những bài nghị luận chính trị trên các tuần báo Cũng có nhà văn lại

Trang 22

chủ yếu sáng tác theo các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết Bên cạnh đó, các tác giả cũng luôn có ý thức mở rộng đề tài trong sáng tác Họ không còn tập trung và những đề tài mang tính chất cổ điển như trước mà chủ yếu khai thác các đề tài từ hiện thực, tái hiện trong tác phẩm những bức tranh cuộc sống chân thực nhiều khi đến trần trụi Chính điều đó phần nào đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu đang dần thay đổi của người đọc lúc bấy giờ

Thứ ba, về các bộ phận và khuynh hướng phát triển

Sự hình thành và phát triển của bất kì một nền văn học nào cũng phải bao gồm hai nhân tố Thứ nhất, đó là sự kế thừa và tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống đã hình thành trước đó Thứ hai, bên cạnh những cái cũ, mỗi nền văn học cũng luôn tuân theo quy luật tự vận động khi hình thành nên những giá trị hay khuynh hướng phát triển mới phù hợp với yếu tố thời đại

Bộ phận văn xuôi miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 cũng không nằm ngoài quy luật đó Cụ thể khi nghiên cứu văn xuôi giai đoạn này, chúng ta có thể nhìn thấy hai dòng văn học cùng song song tồn tại và phân biệt nhau một cách

rõ rệt Thứ nhất đó là những nhà văn thuộc dòng văn xuôi truyền thống Đây

là những tác giả không khác trước là mấy về tư tưởng nghệ thuật lẫn quan điểm xã hội, nghĩa là vẫn phản ánh các vấn đề đạo đức, tình cảm, tâm lý con người như các nhà văn của giai đoạn trước 1945 Tiêu biểu cho dòng văn xuôi này có thể kể đến Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Nhất Hạnh, Nguyễn Mộng Giác, Lê Tất Điều, Doãn Quốc Sỹ Song bên cạnh đó, ứng với hoàn cảnh xã hội rối ren và nhiều biến động lúc bấy giờ, các giá trị đạo đức, như đã nói ở trên, dường như bị đảo lộn, chính vì vậy, văn chương với tư cách là tấm gương phản chiếu hiện thực đã tự vận động và nảy sinh ra một dòng mới Đó chính là các tác phẩm đi vào phản ánh bức tranh hiện thực đương thời, phản ứng, chống đối lại cái truyền thống Tiêu biểu cho dòng văn xuôi này là các nhà văn như: Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu,

Trang 23

Nguyễn Thị Hoàng, Trần Thị NgH, Huỳnh Phan Anh, Lệ Hằng, Nguyễn Đông Ngạc, Chu Tử Nói về khuynh hướng phát triển này, Võ Phiến trong

cuốn Hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975 (Phần Tổng quan) có đưa

ra nhận xét như sau: "Vượt ra ngoài phạm vi tiểu thuyết, phạm vi văn nghệ;

sự chống đối ấy bao trùm cả nếp sống trong xã hội, cả nếp tư tưởng, cả phong cách con người, cả bút pháp các nhà văn như chúng ta đã thấy" [47, tr.267] Chính những chiều hướng phát triển này đã tạo nên một đời sống văn học vô cùng sôi động và góp phần hình thành nên diện mạo vô cùng phong phú cho

bộ phận văn xuôi miền Nam giai đoạn 1954 – 1975

1.1.3 Những tác giả nổi bật của văn xuôi miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975

Như đã trình bày ở trên, văn học miền Nam trong vòng 20 năm (1954 1975), mà đặc biệt là văn học giai đoạn 1965 -1975 không hướng một đường, thẳng một đích mà có sự phân hoá một cách đa dạng với nhiều khuynh hướng, nhiều trào lưu khác nhau Nằm chung trong bối cảnh đó, văn xuôi miền Nam giai đoạn này cũng có sự phân hoá đa dạng, kể cả về đề tài, chủ đề, khuynh hướng, cảm hứng sáng tác Trong đó, không thể không kể đến sự phân hoá

-vô cùng rõ rệt của lực lượng sáng tác làm nên diện mạo nền văn xuôi miền Nam giai đoạn này Có thể thấy, sau 1954, ở miền Nam phân biệt hai lớp trí thức văn nghệ sĩ:

Thứ nhất đó là những cây bút kì cựu đã từng hoạt động và nổi danh từ trước Tiêu biểu cho lớp nhà văn thuộc thế hệ “cũ” này có thể kể đến các cây bút như: Hồ Biểu Chánh, Nhất Linh, Tam Lang, Nguyễn Vỹ, Đỗ Đức Thu, Vi Huyền Đắc, Vũ Bằng, Hồ Hữu Tường, Đào Đăng Vỹ, Đỗ Thúc Vịnh, Tạ Tỵ,

Lý Văn Sâm, Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc, Lê Văn Siêu, Phi Vân, Phú Đức, Lê Văn Trương, Nguyễn Đức Quỳnh Các nhà văn thuộc thế hệ này,

họ vẫn tiếp tục sự nghiệp sáng tác của mình Tuy nhiên, do tính chất của thời

Trang 24

đại cũng như sự thay đổi về mặt thị hiếu của công chúng cho nên những tác phẩm của họ không còn đủ sức để thu hút người đọc như trước Lối viết cũng như những vấn đề mà những nhà văn này tập trung khai thác dường như không còn phù hợp với thời đại khiến cho những hoạt động sáng tác của họ cũng trở nên cầm chừng

Bên cạnh thế hệ nhà văn đã trở nên quen thuộc này, nền văn xuôi miền Nam còn ghi dấu sự xuất hiện của một loạt những cây bút trẻ, những người vừa mới bắt đầu sự nghiệp sáng tác và nổi danh ở giai đoạn sau năm 1954, chính xác hơn là những năm sau 1963 Và điều đáng nói ở đây là những cây bút thuộc thế hệ sau này lại chính là những người làm nên một diện mạo hoàn toàn khác hẳn cho nền văn xuôi miền Nam giai đoạn này Họ đã đưa đến một lối viết mới cũng như hướng những tác phẩm của mình vào việc phản ánh những vấn đề mang tính thời đại Họ nắm bắt được quy luật vận động của nền văn học, thị hiếu của công chúng cũng như phản ánh kịp thời những vấn đề nóng hổi xã hội vào văn học Tiêu biểu cho lớp nhà văn trẻ này là: Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Nguyễn Mạnh Côn, Sơn Nam,

Võ Hồng, Nguyễn Đình Toàn, Chu Tử, Viên Linh, Duyên Anh, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Vũ Hạnh, Y Uyên, Duy Lam, Thế Uyên, Lê Tất Điều, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang, Thế Nguyên, Thế Phong, Diễm Châu, Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh, Mặc Thu, Mặc Đỗ, Phan Du, Duy Thanh, v.v Đặc biệt, đó là sự xuất hiện của một loạt những cây bút nữ như: Nguyễn Thị Vinh, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị Ngh, Linh Bảo,

Về giới cầm bút thuộc thế hệ này, Nguyễn Văn Trung trong một bài nghiên cứu của mình có viết: "Giới cầm bút sau 1963, họ là những người hồi

1954 trên dưới mười tuổi theo gia đình vào Nam hoặc sinh trưởng lớn lên ở

Trang 25

miền Nam hầu hết có tú tài và tốt nghiệp đại học Số lượng giới trẻ cầm bút này càng ngày càng đông đảo theo đà thành lập các đại học ở các tỉnh Huế,

Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh và các đại học tư ở Sài Gòn như Vạn Hạnh, Minh Đức Họ trưởng thành về tuổi đời và nhận thức sau 1963, trong hoàn cảnh nhiều xáo trộn chính trị, xã hội chiến tranh mở rộng với sự can thiệp ồ ạt của quân đội nước ngoài ( ) Do đó, họ

có lối nhìn thời cuộc đất nước và nghệ thuật văn học khác hẳn với lối nhìn của đàn anh họ viết từ trước 1963 ( ) [70] Sáng tác của những cây bút trẻ lúc bấy giờ thực sự mới mẻ về giọng điệu, về đề tài Các nhà văn này, một số người tìm cách xây dựng tư tưởng trên nền triết học hiện đại, đưa con người

về hướng tìm hiểu chính mình, nhận thức chính mình, đi vào đào sâu thêm nhiều vấn đề trọng yếu của con người, của đất nước, đặt lại vấn đề chiến tranh như Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu ; một số khác chú tâm thể hiện

sự chán chường cũng như cuộc sống vật vờ trong say sưa, nơi vũ trường thành thị khi xã hội đang phải tiếp nhận và chịu ảnh hưởng quá lớn của lối sống phương Tây như Mai Thảo; một số lại đi vào miêu tả vùng bản năng sâu kín của tính dục như Võ Phiến Những tác giả nữ như Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Thụy Vũ, Trùng Dương, Nhã Ca, Trần Thị Ngh, lại đánh dấu sự có mặt của mình một cách đầy táo bạo khi đi vào xây dựng hình tượng những nhân vật nữ mang trong mình những đặc điểm của người phụ nữ thời đại Đó

là những người phụ nữ đang phải đứng giữa ranh giới của cái cũ và cái mới, phải “chao đảo trước một thứ nữ quyền vừa thành hình qua sự nhận diện thân xác, và bị dằn vặt trong một xã hội vẫn còn chưa hẳn thoát khỏi đạo lý Khổng Mạnh” [27] Nó tạo thành một dòng riêng biệt so với văn chương mà những nhà văn thuộc thế hệ đi trước đã từng tạo dựng

Như vậy có thể thấy, mỗi nhà văn, dù thuộc thế hệ nào đi chăng nữa, họ cũng chọn cho mình một lối đi, một vùng khai phá riêng Nhưng chính sự đa

Trang 26

dạng ấy lại tạo nên một đời sống vô cùng sôi động cho bộ phận văn xuôi miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 cũng như mở ra cho độc giả nhiều sự lựa chọn khác nhau khi đứng trước các tác phẩm

1.2 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Thị Thụy Vũ

1.2.1 Tiểu sử

Ngày 19/3/2017, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ tái ngộ bạn đọc nhân dịp 10 tác phẩm của bà được tái bản Như vậy là, sau 42 năm kể từ ngày gác bút, ở độ tuổi tròn 80, bà vẫn được chứng kiến một sự kiện lớn trong cuộc đời mình Nguyễn Thị Thuỵ Vũ xuất hiện trên văn đàn miền Nam khoảng những năm

1963 bằng những tác phẩm ban đầu được in trên tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn

Sự xuất hiện của bà ngay lập tức thu hút được chú ý của độc giả bởi sự mới lạ trong từng tác phẩm Và cũng chính sự mới lạ này đã từng đưa tới nhiều nhận định, thậm chí mâu thuẫn trong cách nhìn của giới cầm bút ở miền Nam lúc bấy giờ khi đánh giá về những sáng tác của bà

Du Tử Lê trong một bài viết đã nói về sự xuất hiện của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ như sau: Thời điểm mà những tác phẩm của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ chỉ vừa xuất hiện trên văn đàn thì đó đã là “thời điểm của một Nhã Ca đã sớm

có chỗ đứng riêng, vững vàng cả về thơ lẫn truyện; thời điểm của một Túy Hồng đã định hình lấy cho mình bằng một văn phong chanh ớt, rất địa phương, rất Huế; thời điểm của một Trùng Dương muốn trở thành phát ngôn viên của triết lý hiện sinh ở miền Nam, thể hiện qua văn chương, nối tiếp bước đi của Francoise Sagan ở Pháp và đó cũng là thời điểm của một Nguyễn

Thị Hoàng vừa chính ngọ, với tác phẩm "Vòng Tay Học Trò"… Tuy xuất

hiện có phần trễ hơn một chút so với những cây bút nữ vừa kể nhưng tác giả

của tập truyện ngắn Mèo đêm cũng đã cho thấy móng vuốt của mình Những

móng vuốt sắc, nhọn và một võ công có thể gây hiểm nghèo cho địch thủ khi lâm trận…” [32]

Trang 27

Sơ lược về tiểu sử, nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật là Nguyễn Thị Băng Lĩnh, sinh năm 1937 tại Vĩnh Long trong một gia đình khá giả và có truyền thống văn chương Cha bà là nhà văn Mặc Khải, cô là thi sĩ Phương

Đài Theo ghi chú của Hồ Trường An (em trai Thuỵ Vũ) trong cuốn Giai

thoại hồng, năm 1960, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ thi vào ngành giảng tập viên và

cam chịu làm cô giáo trường làng Trong suốt năm năm từ 1960 đến 1965, bà dạy tiểu học tại Vĩnh Long Nhưng dường như không chấp nhận được môi trường sư phạm bó hẹp cũng như sự chật chội của cuộc đời tỉnh lẻ, bà khăn gói lên Sài Gòn Khi lên mảnh đất Sài Gòn, bà đăng kí học tiếng Pháp ở Trung tâm văn hóa Pháp, học tiếng Anh ở London School và Hội Việt Mỹ Tại đây, ngay từ năm đầu tiên học tiếng Anh, bà được một bạn học giới thiệu

đi dạy tiếng Anh cho các cô gái làm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp

kè binh lính, sĩ quan Mỹ Vẫn tiếp tục nghề dạy học, nhưng giờ bà dạy cho người lớn, những cô gái dấn mình vào chốn bụi hồng, với cái vốn tiếng Anh thông dụng mà bà luyện thêm từ Hội Việt Mỹ Và chính những trải nghiệm này đã cung cấp thêm vốn liếng để bà mở rộng đề tài trong những sáng tác của mình Nguyễn Thị Băng Lĩnh (ngọn núi cao quanh năm băng giá) tự mình đổi tên thành Nguyễn Thị Thụy Vũ (cơn mưa lành) và đã ngày càng khẳng định được tên tuổi của mình trong văn giới đương thời Từ 1965 đến 1975 là giai đoạn sáng tác đắc ý nhất của bà khi hàng loạt tác phẩm lần lượt ra đời và được sự đón nhận, hưởng ứng nhiệt tình từ phía độc giả Sự đón đọc của công chúng từng ngày qua báo chí đã phần nào cho thấy một khuôn mặt văn chương nữ độc đáo của Việt Nam đang hiện diện và khẳng định được vị thế của mình trên văn đàn

Sau 1975, Thụy Vũ ngừng viết, chỉ buôn bán lặt vặt, kể cả làm lơ xe đò

để có tiền nuôi 3 đứa con nhỏ dại có với nhà thơ Tô Thùy Yên Hiện tại, nhà thơ Thuỵ Vũ đã 81 tuổi và sống cùng con cháu tại mảnh đất quê nhà Vĩnh

Trang 28

Long Dù đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng ở những năm tháng tuổi già, bà vẫn được hưởng một niềm vui trọn vẹn khi những tác phẩm “một thời vang bóng” của bà một lần nữa lại được công chúng đương thời đón nhận với một thái độ tích cực

1.2.2 Những tác phẩm chính

Nhìn tổng thể di sản văn học của bà, từ khi rời Vĩnh Long lên Sài Gòn cho tới 30/4/1975, trong vòng 10 năm, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã viết được 10 tác phẩm, trong đó có bảy truyện dài và ba tập truyện ngắn Bảy truyện dài

gồm: Ngọn pháo bông, Thú hoang, Khung rêu (đoạt giải Văn học nghệ thuật toàn quốc năm 1971), Như thiên đường lạnh, Nhang tàn thắp khuya, Chiều

xuống êm đềm, Cho trận gió kinh thiên Ba tập truyện ngắn gồm: Mèo đêm

(gồm 5 truyện: Một buổi chiều, Đợi chuyến đi xa, Mãnh, Nắng chiều vàng,

Mèo đêm); Lao vào lửa (gồm 3 truyện: Chiếc giường, Lao vào lửa, Đêm nổi lửa; Chiều mênh mông (gồm 7 truyện: Chiều mênh mông, Tiếng hát, Lìa sông, Cây độc không trái, Trôi sông, Đêm tối bao la và Lòng trần)

1.2.3 Những đề tài nổi bật trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ

Có hai mảng đề tài xuyên suốt trở đi trở lại trong những tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ Thứ nhất đó là những sinh hoạt nông thôn miền Nam Việt Nam với nhiều biến cố diễn ra trong bối cảnh của thập niên 1940 Bên cạnh đó, ngòi bút nữ này còn chạm đến mảng đề tài thời thượng về giới “ăn sương”, các cô gái snack bar, những cô gái làm nghề “bán phấn buôn hương” khi Mỹ đổ quân vào miền Nam

Mảng đề tài thứ nhất được tác giả tập trung khai thác và thể hiện trong rất nhiều tác phẩm Đó là nếp sống phong kiến của gia đình ông Phủ về hưu

trong Khung rêu – một vị quan lại quyền cao chức trọng dưới thời Pháp

thuộc, rất nhiều ruộng đất và quyền lực đối với tá điền nhưng đã ở thời kì suy

vi, khánh kiệt do thời cuộc đảo lộn Nhìn bề ngoài, gia đình này dường như

Trang 29

vẫn giữ cho mình được nếp sống quy cũ theo lề thói xưa, đó là một lối sống vương giả với những cách ăn uống, sinh hoạt cầu kì được một tay bà Phủ bươn chải đảm đương vun đắp Nhưng thực ra ẩn bên trong nó là cả một lớp sóng dữ dội của thời kì suy tàn đang ngấm ngầm đánh úp gia đình này với biết bao biến cố

Đó là câu chuyện về người vợ mực thước có tên Thục Nghi trong Nhang

tàn thắp khuya Vốn xuất thân trong một gia đình gia giáo và ngay từ nhỏ,

nàng đã được mẹ chuẩn bị cho những hành trang để cuộc đời làm dâu sau này

có thể đủ sức gánh vác giang sơn nhà chồng, Thục Nghi quen, cưới Đức và làm dâu trong một gia đình danh giá, giàu có, nhiều lễ nghi Tưởng rằng hạnh phúc viên mãn cứ thế êm đềm trôi qua Nhưng ngờ đâu ẩn dưới vẻ bề ngoài

đó lại là những đau khổ, dằn vặt của một người phụ nữ bị kẹt giữa tình yêu và trách nhiệm, bổn phận Thông qua những biến cố của gia đình này, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ cũng đã tái hiện lại những nếp sinh hoạt vương giả, cầu kì trong một gia đình giàu có, nề nếp đã một thời quá vãng

Đó còn là không gian của một vùng tỉnh lẻ với những cô cậu học trò tinh

nghịch ở lớp Đệ Tứ A trong Thú hoang Những không gian nông thôn miền

Tây quen thuộc, những miền sông nước bao la, những miệt vườn đầy ắp cây trái cùng với sự chân thành, vồn hậu và phóng khoáng của con người nơi đây

cứ thế hiện lên chân thực dưới những trang viết vô cùng sinh động của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ Thế nhưng, cuộc sống không bao giờ xuôi chiều, con người ta ai rồi cũng phải lớn lên Bởi thế, cùng với sự trưởng thành, những cô cậu học trò năm xưa cũng đã phải hứng chịu những nỗi đau, những vấp ngã Khi chính mình bắt đầu có những rung động đầu tiên trong cuộc đời, đám học trò ấy cũng buộc phải nhận ngay những trái đắng Để rồi sau đó, mỗi người theo một cách khác nhau bị dòng đời xô đẩy đi trên những ngã rẽ không mấy

dễ dàng

Trang 30

Như vậy, dù chỉ điểm qua một vài tác phẩm nhưng qua đó cũng đủ thấy, cuộc sống sinh hoạt đầy biến cố phức tạp thuộc đủ mọi tầng lớp cũng như cung cách sinh hoạt của vùng nông thôn miền Nam Việt Nam hiện lên khá sinh động dưới những trang viết của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ Có vẻ như dù không chủ định nhưng Nguyễn Thị Thuỵ Vũ vẫn là một “người ghi chép” trung thành về cuộc sống mà bà đã tham dự với tư cách một người cầm bút

Mà cái gì thuộc về tự nhiên, nó cũng sẽ bằng một cách tự nhiên nhất để gây được ấn tượng mạnh trong lòng người đọc

Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ cũng hướng ngòi bút của mình vào mảng đề tài khá nhạy cảm lúc bấy giờ, đó là viết về những me Tây, những cô gái cặp kè với lính Mỹ, những cô gái điếm làm việc trong các snack bar Dưới những trang viết đầy sống động của Thuỵ Vũ, có thể thấy những nhân vật này, mỗi người có một hoàn cảnh riêng và họ đến với nghề theo những

cách khác nhau Đó là Tâm trong truyện ngắn Chiếc giường (Lao vào lửa) đã

từng là người ăn chay niệm phật nhưng vì hoàn cảnh phải dấn thân vào chốn

bùn nhơ Đó là Tú trong truyện ngắn Lao vào lửa vừa từ giã ghế nhà trường,

là con gái nhà lành nhưng vì hoàn cảnh, phải nuôi sống gia đình mà cô phải vào làm ở một snack bar Dần dần, cô dấn thân vào con đường đi khách và quen dần với những cuộc truy hoan xác thịt Đó còn là Loan – người mẹ trong

truyện ngắn Mèo đêm vì đứa con trai ốm nặng mà phải đi bán bar và sau đó

trở thành gái bao hạng sang, nhưng cuối cùng cũng không cứu được đứa con của mình Và còn biết bao nhân vật khác cũng được hiện lên khá chân thật

và đầy đủ dưới con mắt nhìn của nữ nhà văn

Viết về những nhân vật này, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã không ngần ngại đưa vào trang viết của mình những vấn đề nhạy cảm như nạo phá thai, những

ý nghĩ cháy bỏng về dục tình, những cuộc truy hoan xác thịt Nhưng một câu hỏi được đặt ra ở đây rằng tại sao, những trang viết đó không hề gợi cho

Trang 31

người đọc một sự phản cảm mà trái lại tràn đầy tính nhân văn? Có lẽ bởi vì, khi viết về những đối tượng này, nhà văn không hề nhằm mục đích chỉ trích hay phẩm bình, phê phán họ Điều mà nhà văn hướng đến ở đây đó là cái nhìn cảm thông, cái nhìn đầy thiện chí và sẻ chia mà bà dành cho những cô gái mà trong một thời gian dài, bà đã có điều kiện được tiếp xúc và hiểu sâu sắc những tâm tư, nguyện vọng cũng như những trái ngang, bất công mà cuộc đời dành cho cái “nghề” của họ

1.3 Nhìn chung về nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ

1.3.1 Nhân vật nữ - kiểu nhân vật nổi bật trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Có thể khẳng định rằng, nhân vật là yếu tố vô cùng quan trọng, là hồn cốt của một tác phẩm văn xuôi Bởi vậy, trong nhiều năm qua, vấn đề tìm hiểu về nhân vật văn học đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Cũng đã có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về khái niệm nhân vật văn học, nhưng nhìn chung, đó là những ý kiến khá thống nhất Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin nêu ra một vài ý kiến tiêu biểu nhất Trong cuốn

150 thuật ngữ văn học, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa ra khái niệm nhân

vật văn học là “Hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn về con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người” [3,

tr.249] Trần Đình Sử trong sách Lí Luận phê bình văn học cũng đã khái quát

về nhân vật văn học như sau: “Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của ngôn từ” [52, tr.114] Như vậy, nhân vật đóng vai trò trọng yếu trong cấu trúc nghệ thuật

Trang 32

của tác phẩm tự sự nhằm thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn Theo đó, nhân vật văn học vừa phản ánh khách quan đời sống mà nhà văn nhận thức được, vừa thể hiện cuộc sống qua lăng kính chủ quan của tác giả

Dễ thấy, trong các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, dù là truyện ngắn hay truyện dài thì số lượng các nhân vật không nhiều Ở mỗi truyện, đặc biệt là truyện ngắn, nhà văn chỉ tập trung khắc hoạ vài ba nhân vật Họ có mối quan hệ qua lại lẫn nhau trong một không gian bó hẹp: đó có thể là những người anh em họ hàng trong phạm vi một gia đình như trong

Khung rêu, Như thiên đường lạnh, Nhang tàn thắp khuya, Chiều xuống êm đềm; đó là những đồng nghiệp với nhau trong một snack bar nhỏ trong Ngọn pháo bông, Mèo đêm hay Lao vào lửa, đó là những cô cậu học sinh và những

giáo viên thuộc một ngôi trường nhỏ tại một tỉnh lẻ trong Thú hoang; và rộng

hơn một chút, đó là những người dân lao động nghèo ở một xóm lao động

trong Cho trận gió kinh thiên Xét một số truyện ngắn, dễ thấy số lượng

nhân vật trong các truyện của Thuỵ Vũ không trên con số 10 nhân vật Truyện

ngắn nhiều nhân vật nhất của Thuỵ Vũ đó là Đợi chuyến đi xa cũng chỉ ngót

nghét trên 10 nhân vật, họ cùng sống với nhau trong khu trọ của chị Tám – một người đàn bà goá chồng sống với bốn người con Đó là xã hội của gái chưa chồng và những người quả phụ Mỗi người dường như có một thế giới riêng nhưng đều có một điểm chung đó là sự nhàm chán, tẻ nhạt Còn lại đa

số các truyện ngắn khác, nhà văn chỉ đơn thuần miêu tả thế giới của vài ba nhân vật với những mối quan hệ bó hẹp

Kể cả trong những truyện dài, số lượng các nhân vật được Thuỵ Vũ khắc

hoạ cũng hoàn toàn không đa dạng Cho trận gió kinh thiên được xem là một

xã hội thu nhỏ của xóm lao động nghèo Mỗi nhân vật đều có cá tính riêng, có cuộc sống riêng tư bê bối Đàn bà gặp lúc phong trào Mỹ qua Việt Nam tham chiến, đua nhau lấy Mỹ Rồi còn vụ ngoại tình, vụ tham dâm chuộng dục,

Trang 33

chuyện mê bài bạc sa đà, chuyện buôn thần bán thánh Tưởng chừng như để tái hiện lại được xã hội thu nhỏ đó, nhà văn phải dùng rất nhiều nhân vật Nhưng không, cả truyện cũng chỉ trở đi trở lại với trên dưới 20 nhân vật, xoay quanh những câu chuyện thường ngày cứ nối nhau diễn ra

Trong Khung rêu – tác phẩm từng được nhận giải thưởng Văn học toàn

quốc năm 1971 cũng tương tự như vậy Chuyện kể về gia đình một ông Phủ

về hưu ở thời kì quá vãn Để thuật lại những biến cố phức tạp từ lúc gia đình ông Phủ còn hưng thịnh với những nếp sống vương giả một thời, trải qua những thăng trầm đến lúc suy vi phải cần một khoảng thời gian khá dài Nhưng câu chuyện cũng chỉ được xoay quanh một hệ thống nhân vật khá ít ỏi

Đó chỉ là vợ chồng ông Phủ; là Canh, Thụ, Tường, Chiêu – bốn người con trai của ông; là Tịnh – cháu gọi ông Phủ bằng cậu; là Ngự - cháu gái gọi bà Phủ bằng cô; là Hoàng – cậu sinh viên ở trọ nhà ông Phủ có tài đàn hát; và có chăng nữa là những kẻ tôi tớ trong nhà và những người tá điền của ông Phủ

Số lượng nhân vật trong các tác phẩm ít Nhưng một điều đặc trưng và rất dễ nhận thấy là nhân vật nổi bật trong các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy

Vũ hầu hết là phụ nữ và họ thường có một đời sống tinh thần không đơn giản Theo thống kê của chúng tôi, trong 10 tác phẩm kể cả truyện ngắn và truyện dài của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ có sự xuất hiện của hơn 60 nhân vật nữ Bên ngoài, dường như họ vẫn tuân thủ những ràng buộc đã thành nền thành nếp trong cả gia đình lẫn xã hội, nhưng bên trong họ vẫn sục sôi một nhu cầu chống đối, nổi loạn, bộc lộ thành hành động và mức độ khác nhau tùy điều kiện và sự gan góc của từng người Mỗi tác phẩm, mỗi nhân vật của bà dường mang trong mình một cơn bão Bà hay mô tả câu chuyện tình yêu, tình đời của nhân vật nữ trong sự đổi thay của thời cuộc Ở đây, không chỉ là những biến động dữ dội bên ngoài xã hội mà còn là sự giằng xé, hỗn tạp, đa chiều từ

nội tâm của nhiều mẫu nhân vật Đó là bà Phủ, là Tịnh, Ngự trong Khung rêu;

Trang 34

đó là Thục Nghi – người phụ nữ giỏi nữ công gia chánh và cai quản giang sơn

nhà chồng nhưng lại rơi vào bi kịch tình yêu trong Nhang tàn thắp khuya; đó

là Liễu, Đức, Kim, Oanh – những cô nữ sinh trong Thú hoang với những trò

nghịch ngợm, phá bĩnh của tuổi học trò nhưng lại sớm vấp ngã khi bước chân

vào ngưỡng của cuộc đời; đó là ni cô Diệu Tâm trong truyện ngắn Lòng trần

với quá khứ huy hoàng của một đào hát và một cuộc đời đầy sóng gió; đó còn

là những cô gái điếm với những tủi nhục, ê chề cũng như những khát vọng về

tình dục lẫn tình yêu cháy bỏng trong những truyện ngắn Chiếc giường, Lao

vào lửa, Đêm nổi lửa, Nắng chiều vàng, Mèo đêm, Cây độc không trái và

rất nhiều những người phụ nữ khác Mỗi người họ có một số phận, một tính cách riêng Tất cả những điều đó được tái hiện một cách độc đáo dưới ngòi bút văn xuôi sắc sảo của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ

Trong mỗi trang viết của mình, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ tập trung khắc hoạ hình tượng các nhân vật nữ với nhiều tầng lớp, nhiều hoàn cảnh, nhiều cá tính riêng biệt Có thể thấy, mỗi nhân vật, họ - theo những cách riêng – tồn tại và đối diện với cuộc đời Nhưng hình ảnh những người phụ nữ trong văn xuôi Thuỵ Vũ, dù là những người phụ nữ nông thôn mang đậm lễ giáo phong kiến, những người phụ nữ đô thị với lối sống Mỹ hoá hay những cô gái “ăn sương” với nghề cặp kè lính Mỹ… thì theo một cách nào đó, họ chính là những mảnh ghép chân thực nhất để hoàn thiện bức tranh về lịch sử - xã hội lúc bấy giờ

1.3.2 Nguyên nhân dẫn đến cảm hứng khám phá hình tượng nhân vật

nữ trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ

Có thể thấy, có hai nguyên nhân dẫn đến việc Nguyễn Thị Thuỵ Vũ theo đuổi xây dựng hình tượng nhân vật nữ trong các sáng tác của mình Nguyên nhân thứ nhất xuất phát từ bối cảnh lịch sử - xã hội – văn hoá lúc bấy giờ Và nguyên nhân thứ hai khởi phát từ chính cuộc đời của nhà văn với những biến

cố thăng trầm mà bà đã tự mình trải qua và chiêm nghiệm

Trang 35

Ở nguyên nhân thứ nhất, như đã trình bày ở mục trên, giai đoạn 1954 –

1975, với sự đổ quân ồ ạt của lính Mỹ vào miền Nam, tình hình chính trị miền Nam Việt Nam giai đoạn này cực kì bất ổn Cùng những biến cố về chính trị, tình hình xã hội của miền Nam giai đoạn 1954, đặc biệt là từ 1965 đến 1975

vô cùng rối ren, phức tạp Kèm theo đó, sự hiện diện của quân Mỹ tại miền Nam lúc này cũng tạo ra những thay đổi lớn về đời sống của nhân dân, làm đảo lộn các hệ giá trị của xã hội lúc bấy giờ Con người ta không còn sống hoàn toàn trong khuôn phép của lễ giáo phong kiến thuần tuý mà bị chi phối bởi lối sống “Mỹ hoá” Chính điều đó đã mở rộng nếp nghĩ, nếp tư duy cố hữu đã tồn tại, đã bám rễ trong lòng dân chúng từ bao lâu nay Nhưng cũng chính nếp sống đó lại tạo nên một xã hội miền Nam với nhiều hệ luỵ Dường như sau một thời gian quá dài bị kìm kẹp trong khuôn khổ, phép tắc, giờ đây, khi một luồng gió mới tràn vào làm cho con người có cảm giác được cởi trói Bởi vậy, họ sống cuống quýt, tranh thủ phô diễn hết những ham muốn, những khao khát bên trong như một cách để phá toang đi cái gọng kìm đã khoá chặt

họ trong một khoảng thời gian rất dài Đặc biệt là đối với những người phụ nữ

- những người trong xã hội phong kiến đã phải phục tùng, phải bị giới hạn trong những tam tòng, tứ đức, những công – dung – ngôn – hạnh… thì đây chính là thời cơ tốt nhất để họ được sống đúng với những gì mình mong muốn

mà không sợ búa rìu dư luận Cho nên có thể thấy, trong truyện của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, bên cạnh những người phụ nữ nhu mì, nữ công gia chánh thì những nhân vật nữ chịu ảnh hưởng bởi lối sống “Mỹ hoá” cũng chiếm số lượng không phải nhỏ

Một điều cũng không thể không nhắc đến đó là sự xuất hiện và ảnh hưởng của triết học hiện sinh lên đời sống xã hội và văn học hiện sinh lên văn xuôi miền Nam giai đoạn này Triết học hiện sinh là triết lý về thân phận con người, với những khắc khoải, âu lo trước hiện hữu và hư vô Chủ nghĩa hiện

Trang 36

sinh đưa ra cách tiếp cận mới: coi sự hiện sinh cá nhân là nội dung cơ bản trong triết học Ảnh hưởng bởi triết học hiện sinh nên một phần rất lớn các sáng tác văn học đô thị miền Nam thời kỳ này đề cập đến sự hư vô của thân phận con người trong cuộc sống đầy những lo âu, rối ren, đau khổ Những nhân vật trong các tác phẩm đều là những con người chán chường, bi quan, không tìm được ý nghĩa đích thực cuộc sống của mình Các tác giả còn để cho nhân vật của mình ngẫm ngợi về thảm kịch cá nhân, về sự phi lý tột cùng của cuộc đời, về sự đổ vỡ của niềm tin Sự ảnh hưởng sâu sắc của văn học hiện sinh trong các sáng tác thể hiện rất rõ sự bơ vơ, mất phương hướng, thể hiện

bi kịch của con người trong hoàn cảnh xã hội rối ren và khốc liệt đó Nguyễn Thị Thuỵ Vũ có lẽ cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng này Những nhân vật

nữ mà bà xây dựng cũng mang trong mình những ẩn ức, những ám ảnh, những bi kịch về tinh thần Mỗi người họ, tận thẳm sâu tâm hồn, những ngọn xoáy khát vọng vẫn ngày đêm cuồng nộ Dù điều đó có thể được ẩn dưới vẻ lễ nghi bên ngoài, hay sự chán chường, chai sạn trước hoàn cảnh đi chăng nữa Nguyên nhân thứ hai và cũng không kém phần quan trọng khiến Nguyễn Thị Thuỵ Vũ tập trung thể hiện hình tượng nhân vật nữ trong các sáng tác của mình đó chính là xuất phát từ đời tư cá nhân, từ những gì bà đã từng trải qua

và đã từng chứng kiến Xuất thân từ vùng đất Vĩnh Long, đã từng là cô giáo dạy tiểu học tại trường làng, nhưng không chịu được sự tù túng của mảnh đất tỉnh lẻ này, bà khăn gói lên Sài Gòn học Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ Khi lên Sài Gòn, bà thuê một căn nhà mái tôn, vách ván, nằm trong một xóm lao động nghèo ở phía đối diện với chợ Đũi, quận 3, gần Tòa Đại sứ Miên ở chỗ ngã tư

Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng (nay là đường Cách Mạng Tháng 8 và Nguyễn Đình Chiểu, gần rạp chiếu phim Nam Quang) Cách Tòa Đại sứ Miên một khoảng có đình Phú Thạnh và phía sau ngôi đình ấy là “thế giới” của các

cư dân nghèo, của những cảnh đời sa đọa, đầy rẫy đĩ điếm, ma cô, hút xách,

Trang 37

rượu chè, cờ bạc, v.v… Tại đây, ngay từ năm đầu tiên học tiếng Anh, bà được một bạn học giới thiệu đi dạy tiếng Anh cho các cô gái làm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp kè binh lính, sĩ quan Mỹ Chính những buổi dạy này, bà hằng ngày tiếp xúc với những cô gái thuộc giới làm nghề đêm, nghe được những câu chuyện do họ tỉ tê kể lại, thấy được những gì họ trải qua và hiểu được những gì họ khao khát Và những điều đó lại đi vào những trang viết của bà một cách rất tự nhiên mà như đã nói ở trên, ở những trang viết này, bà không đóng vai trò là một nhà văn mà đơn giản chỉ là người chứng kiến và ghi chép lại một cách chân thực những gì mình đã mắt thấy tai nghe Điều đó

lí giải vì sao những trang viết của Thuỵ Vũ lại chân thật đến vậy

Trang 38

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ KIỂU DẠNG NHÂN VẬT NỮ TRONG VĂN XUÔI CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ

2.1 Những đặc điểm nổi bật của nhân vật nữ trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ

2.1.1 Hấp dẫn về ngoại hình

Ở nhân vật nữ của Nguyễn Thị Thụy Vũ, dù mỗi người có những hoàn cảnh, những tính cách, những khát vọng riêng, nhưng dường như ở họ có một điểm chung, đó là đều mang một vẻ đẹp về ngoại hình, dù đó là vẻ đẹp nhu

mì, thục nữ của những cô gái con nhà gia giáo, đầy lễ nghi; vẻ đẹp phồn sinh, gợi cảm của những cô gái “làm tiền” hay vẻ đẹp trong sáng, ngây thơ của những cô nữ sinh mới bước đầu chập chững vào đời

Nàng Thục Nghi trong Nhang tàn thắp khuya có lẽ là nhân vật để lại ấn

tượng nhất Bởi lẽ nàng không chỉ có vẻ đẹp về ngoại hình mà còn là một người phụ nữ đảm đang, tháo vát, biết gánh vác và sắp xếp giang sơn nhà chồng một cách chu toàn Về ngoại hình, nàng mang vẻ đẹp nhẹ nhàng, nhu

mì nhưng không kém phần thanh lịch, sang trọng Ngay từ buổi đầu về nhà chồng, Thục Nghi đã gây ấn tượng mạnh với Bà Bảy – người tớ gái đã theo hầu mẹ chồng nàng từ thuở bà mới về làm dâu và các cô em chồng đang chờ nàng bằng cặp mắt soi mói với một vẻ đẹp dịu dàng, thanh thoát: “Bà chợt thấy nàng có vẻ mặn mòi, hiền hậu trong chiếc áo dài bằng hàng Bom Bay màu hồng phấn nên nhếch một nụ cười thân thiện” [79, tr.21] Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà Đức – chồng nàng lại từ chối biết bao bóng hồng xinh đẹp vây quanh chàng để chọn Thục Nghi làm vợ Ngay cả cách phục sức, trang điểm, nàng cũng chọn cho mình một lối trang điểm nhã nhặn “Nàng không tô phấn nhiều, nhưng đánh má hồng tô son thật tươi Chiếc áo gấm

Trang 39

hồng với những bông cúc vàng càng làm nàng thêm chói chang, lộng lẫy

Nàng soi gương tỉ mỉ Viền mắt nàng tô màu xanh đậm thật táo bạo” [79, tr.126] Chính cách phục sức ấy đã khiến cho Đức phải thốt lên “- Em đẹp quá, Thục Nghi à” Và cũng chính vẻ đẹp ấy đã cuốn hút Duy – người bạn thân của chồng nàng để từ đó kéo theo biết bao đợt sóng ngầm giày vò nàng

Không chỉ riêng Thục Nghi, những người phụ nữ được xuất hiện trong

Nhang tàn thắp khuya, tất cả họ, mỗi người đều mang một vẻ đẹp riêng về

ngoại hình Đó là những cô em chồng của Thục Nghi: Tư Kiên, Hai Diệm, Ba Ngoạn, Sáu Niệm và Quế Hương, mỗi người được nhà văn vẽ nên bằng những nét vẽ khác nhau “Tư Kiên giống mẹ ở nước da trắng, giống cha ở tướng cao ráo, dong dải Vẻ mặt cô nghiêm nghị, thông minh” [79, tr.35] và

“Thật ra, dù đã sanh hai lần, cô Tư Kiên vẫn giữ vẻ sắc sảo với gương mặt trái xoan và đôi mắt lá răm Đây là gương mặt lâu già nhất, được kết hợp bởi những nét cong mềm dịu Trái với mọi chị em, lúc nào cô Tư cũng giữ gìn đường cong nét lượn trên thân thể” [79, tr.80]) Còn “cô Sáu Niệm có khuôn mặt trái xoan, mắt lá răm Da mặt cô không mấy mịn nhưng nhờ có nhiều nét đẹp, nên dùng son phấn rất nổi” [79, tr.37] Cô Ba Ngoạn lại “có sắc thái hiền hậu, nhưng cặp mắt của cô như sóng thu, sáng ướt” [79, tr.37] Chị gái của Ba Ngoạn là Hai Diệm lại có một vẻ đẹp khác “Hàm răng của cô đẹp và trắng nuột, được nụ cười vị tha nở rộng để phô bày men bóng ngời Cặp mắt của cô như được nỗi vui âm ỉ bên trong rọi ra, rạng rỡ bội phần” [79, tr.122] Quế Hương lại “có vẻ sắc sảo, nhưng đoan trang, cương quyết” [79, tr.202] Ngay

cả đến những người phụ nữ đã luống tuổi trong gia đình này, đó là ba người

vợ của ông Đốc phủ sứ, cũng được miêu tả với những vẻ đẹp không kém gì những cô thiếu nữ trong nhà Bà Đốc phủ sứ là một người có nước da trắng trẻo, phương phi “ Đó là một người đẹp lão, có dáng dấp tiên phong đạo cốt”

79, tr.47] Bà Chợ Lớn lại mang vẻ đẹp trẻ trung nhưng không thiếu phần

Trang 40

cương quyết “Cái thân thể nhỏ nhắn, khuôn mặt lâu tàn tạ của bà làm mọi người tưởng lầm bà là chị của cô Sáu Niệm Nhưng càng nhìn khuôn mặt bà, Thục Nghi phát e sợ nét khắc nghiệt, nét quả quyết ở đôi mày giao sát nhau

và chiếc cằm bướng bỉnh” [79, tr.101] Còn bà Út lại mang vẻ đẹp nhã nhặn, quyến rũ “Những ngày sống gần gũi bà Út, Thục Nghi cũng bị vẻ nhã nhặn, quyến rũ của bà thâu phục Người thiếu phụ nhỏ nhắn, xinh đẹp đó gợi cho nàng một ánh nắng trong vắt lúc trời đã ngả hoàng hôn” [79, tr.147]

Một người vợ khác, Khương trong truyện dài Như thiên đường lạnh

cũng là một người đàn bà đẹp Chẳng bởi thế mà ngay từ ngày đầu gặp Khương, Tưởng đã xin ngay mẹ được cưới Khương làm vợ Dưới con mắt của Tưởng, Khương là một người phụ nữ có thể khiến chàng hãnh diện, dù cuộc sống vợ chồng đối với Tưởng dường như quá nhàm chán và tẻ nhạt

“Tưởng phì cười Chàng vụt vui lên vì thấy vợ hôm nay khá đẹp, khá tươi mát Tóc Khương đánh bính rồi bao lưới, cài thêm cái nơ bằng nhung đen Nàng ăn diện như một cô giáo trường tỉnh Điểm nổi nhất là đôi giày nhung đen tăng vẻ nõn nà của bàn chân nàng Hôm nay, Khương đánh phấn sương,

tô son dợt Chàng chợt nhớ lại những ngày chưa cưới và chàng nhận thấy ở Khương có một chút gì lôi cuốn thâm trầm mà chàng không thể phân tách nổi” [86, tr.64] Nhưng như vậy dường như vẫn chưa đủ với Tưởng Cuộc sống ngày ngày bên vợ cứ nện vào đầu óc chàng nỗi chán nản chất ngất Chàng muốn tìm một chút sinh thú mới, đó là việc ngoại tình Và điều gì khiến Tưởng có thể dũng cảm biến ý nghĩ đó thành hiện thực? Đó chính là vẻ đẹp đầy khiêu khích của cô Ba Hiển Khi ngồi sát cô, “mùi da thịt gợi cảm, đầm ấm, phảng phất khiến Tưởng chợt nhớ ra, từ lâu chàng muốn làm huyên náo dòng đời phẳng lặng của mình bằng cách ngoại tình” [86, tr.47] Dường như Tưởng càng ngày càng lún sâu vào những cuộc vụng trộm Và người tình thứ hai của Tưởng, cô Bảy Chợ Lách cũng lại là một người đàn bà đầy sức lôi

Ngày đăng: 01/08/2021, 12:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tuấn Anh (31/10/2008), “Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ trong văn học nghệ thuật”, http://tapchisonghuong.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ trong văn học nghệ thuật”
2. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
3. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
4. Lại Nguyên Ân (2009), Phê bình và tiểu luận, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình và tiểu luận
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2009
5. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki
Tác giả: Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
6. Gia Bảo (21/3/2017), “Nguyễn Thị Thuỵ Vũ – Người vẽ chân dung con người trong thời loạn ly giông bão”, http://vietnamnet.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Thuỵ Vũ – Người vẽ chân dung con người trong thời loạn ly giông bão”
9. Kim Cúc (10/6/2017), “Nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ: Xin cảm ơn cuộc đời và bạn bè”, http://danviet.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ: Xin cảm ơn cuộc đời và bạn bè”
10. Đào Đồng Diện (25/02/2006), “Phụ nữ là ... đàn bà”, http://tuoitre.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ là ... đàn bà”
11. Lê Tiến Dũng (2003), Giáo trình lí luận văn học (Phần tác phẩm văn học), Nxb ĐHQG TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb ĐHQG TP.HCM
Năm: 2003
12. Đoàn Dự (22/9/2014), “Đôi nét về nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ”, http://thoibao.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ”
13. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch sử và lý luận, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch sử và lý luận
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
14. Lam Điền (19/3/2017), “Nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ sau gần 50 năm ẩn dật”, http://tuoitre.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Thị Thuỵ Vũ sau gần 50 năm ẩn dật”
15. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
16. Hà Minh Đức (chủ biên) (2000), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2000
17. Hà Minh Đức (2002), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
18. Hà Văn Đức (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
19. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Trang Hạ (16/08/2009), “Phụ nữ viết văn: Lao công của nghề viết”, http://sgtt.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ viết văn: Lao công của nghề viết”
21. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000
22. Dương Thị Huyền (2009), “Nguyên lý tính mẫu trong truyền thống văn học Việt Nam, http://vannghequandoi.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý tính mẫu trong truyền thống văn học Việt Nam
Tác giả: Dương Thị Huyền
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm