1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm văn xuôi nguyễn quang thiều qua truyện ngắn và ký

85 922 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đinh Trí Dũng đã chú ý đến truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều như là một trong những cây bút văn xuôi trữ tình tiêu biểu: “Nguyễn Quang Thiều cùng với các nhà văn khác như Nguyễn Ngọc Tư, Ph

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS Đỗ Hải Ninh

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận

khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào Tôi

xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình

TÊN TÁC GIẢ

PHẠM THỊ THẢO

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ VỊ TRÍ CỦA VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG THIỀU TRONG DÒNG MẠCH VĂN XUÔI TRỮ TÌNH THỜI KỲ ĐỔI MỚI 9

1.1 Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Thiều 9

1.2 Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong dòng mạch văn xuôi trữ tình thời kỳ đổi mới 17

CHƯƠNG 2 : CẢM QUAN VỀ ĐỜI SỐNG TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG THIỀU 24

2.1 Hình ảnh làng quê và nông thôn trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều 24

2.2 Cảm thức về đô thị trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều 39

2.3 Vấn đề hậu chiến trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều 44

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU CỦA VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG THIỀU 56

3.1 Ngôn ngữ văn xuôi Nguyễn Quang Thiều 56

3.2 Giọng điệu văn xuôi Nguyễn Quang Thiều 63

3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 71

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn học Việt Nam sau 1975 có sự nở rộ và phát triển mạnh mẽ ở loại hình văn xuôi nghệ thuật Có thể nói, đây là “thời kì vàng” của văn xuôi Việt Nam Xu hướng dân chủ hóa trong văn học đã mở ra cho các nhà văn những chân trời khám phá và những thể nghiệm mới về hiện thực cuộc sống Hàng loạt các tác phẩm văn xuôi với những cách tân vượt trội cùng với sự xuất hiện của một lực lượng đông đảo các nhà văn trẻ đã làm nên diện mạo đặc biệt cho văn học giai đoạn này

Thực tế đời sống văn học cho thấy, văn học Việt Nam từ 1975 đến nay, nhất là sau 1986 được nghiên cứu khá nhiều với ý nghĩa là văn học thời

kỳ đổi mới Người ta gọi văn học Việt Nam sau 1986 là giai đoạn “văn học trong thời kì đổi mới”, “văn học đổi mới” Và để làm nổi bật sự đổi mới đó, bên cạnh việc nghiên cứu tổng quát về những đặc điểm văn học, thành tựu văn học, thì việc tìm hiểu phong cách của từng nhà văn sẽ góp phàn nhận diện bức tranh trong thể đa sắc của văn học thời kỳ đổi mới

Nguyễn Quang Thiều không chỉ là một trong những nhà thơ cách tân hàng đầu trong đổi mới mà còn là cây bút văn xuôi giàu cảm xúc Ông là một gương mặt nổi bật trong nền văn học Việt Nam đương đại, thành công ở nhiều loại hình nghệ thuật như: Thơ, truyện ngắn, kí, tiểu thuyết, truyện thiếu nhi, dịch thuật, tiểu luận và tản văn Hiện nay, ông đã xuất bản 10 tập thơ, 16 tập văn xuôi, 3 tập sách dịch Nói đến Nguyễn Quang Thiều người ta vẫn thường nói nhiều đến thơ của ông mà chưa chú ý đúng mức đến các sáng tác văn xuôi Không được chú ý nhiều như thơ nhưng văn xuôi Nguyễn Quang Thiều có nhiều nét đặc sắc và có phong cách riêng, tiêu biểu cho lối viết văn đậm chất trữ tình, tạo được những dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc và giành được nhiều giải thưởng có uy tín Một số truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều đã được chuyển thể thành phim và gây được hiệu ứng rộng rãi đối với

công chúng như: Người đàn bà tóc trắng, Mùa hoa cải ven sông, Hai người đàn bà

xóm Trại Và không chỉ tạo được sự chú ý của độc giả ở Việt Nam, một số truyện

của ông còn được dịch và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới như: Hoa Kỳ, Pháp, Nauy,Nhật, Thụy Điển, Australia, Thái Lan, Inđônêxia Hai tập truyện ngắn của

Trang 5

nhà văn đã được dịch và xuất bản tại Pháp: La Fille Du Fleuve (1997), La Petite

Marchande De Vermaicelles (1998)

Có thể thấy văn xuôi Nguyễn Quang Thiều thể hiện rất rõ ý thức tìm tòi, đổi

mới về mặt thể loại với một phong cách riêng đậm chất trữ tình Chọn đề tài Đặc

điểm văn xuôi Nguyễn Quang Thiều qua truyện ngắn và ký, luận văn muốn tìm

hiểu một cách hệ thống những sáng tác thuộc thể loại văn xuôi, khái quát những đặc điểm cơ bản văn xuôi của nhà văn này cả về phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Qua đó, góp phần khẳng định sự đa dạng, phong phú của văn học Việt Nam đương đại và ít nhiều đóng góp cho công tác giảng dạy, học tập văn xuôi Việt Nam hiện đại thêm hiệu quả

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều từ khi ra đời đã tạo được nhiều ấn tượng, dư vang trong lòng bạn đọc nói chung và nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình nói riêng Tuy nhiên, phần lớn là các bài viết ngắn, thiên về cảm nhận, nhận xét và đánh giá Những bài viết có tính chất nghiên cứu vẫn còn rất hạn chế và thường chỉ quan tâm đến một tác phẩm nào đó hoặc một khía cạnh nào đó mà chưa có những bài nghiên cứu mang tính khái quát, tổng hợp Hầu hết các bài viết được đăng rải rác trên các trang báo, tạp chí, từ nguồn internet, hoặc từ trang cá nhân của một số bạn bè văn chương của nhà văn

2.1 Những nhận xét, đánh giá về văn xuôi Nguyễn Quang Thiều nói chung

Trong bài Ra mắt tuyển thơ Nguyễn Quang Thiều in trong Tác phẩm

và dư luận ngày 26 - 1 - 2011, tác giả Hoài Khánh đã khẳng định: “Nguyễn

Quang Thiều không chỉ là nhà thơ tiên phong với trào lưu hiện đại mà còn là cây viết văn xuôi giàu cảm xúc Trong anh không chỉ có con người bay bổng,

ưu tư với những phiền muộn thi ca, mà còn có một nhà báo linh hoạt và nhạy bén”

Trong bài Mạch trữ tình trong truyện ngắn thế hệ nhà văn sau 1975,

PGS.TS Đinh Trí Dũng đã chú ý đến truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều như là một trong những cây bút văn xuôi trữ tình tiêu biểu: “Nguyễn Quang Thiều cùng với các nhà văn khác như Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Nguyên Hương, Quế Hương, đã tiếp nối và làm phong phú thêm mạch ngầm trữ tình trong văn

Trang 6

xuôi hiện đại, làm cho bức tranh truyện ngắn thêm khởi sắc”

Tác giả Trần Thị Trường trong bài Nguyễn Quang Thiều: Kẻ đa tài in trên

báo Vietnamnet.vn (26 - 12 - 2015) cũng nhận định: “ Văn xuôi của Thiều kích thích các nhà sản xuất điện ảnh”

Trên báo Văn nghệ số 17 +18 (24 - 8 - 2012), trong bài: Hộp đen -

Nguyễn Quang Thiều tác giả Thiên Sơn cũng nhấn mạnh đến những đặc sắc

nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều: “Truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều hấp dẫn bởi chất thơ, bởi những chi tiết độc đáo và cả sắc màu

kỳ ảo, chiều sâu nhân văn và triết lý Anh thường tạo ra những chi tiết đầy bất ngờ cuối mỗi truyện, gây được ấn tượng sau mỗi cái kết”

N hà nghiên cứu Nguyễn Bích Thu trong bài Những thành tựu của truyện

ngắn sau 1975 (TCVH số 9, 1996), cũng khẳng định “Nguyễn Quang Thiều

cùng với nhiều nhà văn khác như Tạ Duy Anh, Y Ban, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Thị Thu Huệ… đã tạo nên một diện mạo mới cho truyện ngắn thời kì đổi mới”

Đặc biệt, trong lời giới thiệu Cùng bạn đọc đầu tuyển tập Truyện ngắn

Nguyễn Quang Thiều - Người nhìn thấy trăng thật, tác giả Nguyễn Chí Hoan

khẳng định: “Truyện của anh giàu chất thơ, hơi thở huyền tích, thấm đẫm nhân văn, lại không lạm dụng kỹ thuật nên đi vào tâm hồn thật tự nhiên, thật đầy đặn” [56,6]

Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu và tìm hiểu những khía cạnh khác nhau trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều như:

Trương Thị Thường (2006) với đề tài Chất thơ trong truyện ngắn của Nguyễn

Quang Thiều, Nguyễn Thị Liên (2007) với đề tài Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều, Trịnh Thị Thảo (2010) với đề tài Cấu trúc truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều, Tăng Thị Hoàn (2012) với đề tài Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều nhìn từ góc độ thể loại

Nhìn chung, các ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu đều cho thấy vị trí của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong văn học đương đại, đồng thời chú ý nhiều đến những đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn và ký của ông

2.2 Các bài phê bình về các tập truyện, ký của Nguyễn Quang Thiều

Trang 7

Bên cạnh những đánh giá nhận xét chung về Nguyễn Quang Thiều trong văn xuôi Việt Nam đổi mới, nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra ý kiến đánh giá của mình với một số tác phẩm trên những phương diện cụ thể

Bùi Việt Thắng trong bài Một số gương mặt truyện ngắn 1993 viết:

“Nguyễn Quang Thiều là cây bút có hạng hiện nay Mùa hoa cải bên sông, Cái

chết của bầy mối, Bầu trời của người cha là những truyện ngắn đẫm chất thơ Bút

pháp truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều từ thơ mà ra tinh tế, bay bổng, giàu chất

cho rằng: “Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều kén chọn bạn đọc - dường như họ phải sành điệu Tuy vào nghề chưa lâu nhưng Nguyễn Quang Thiều là cây bút có nghề Anh có một lối văn tự nhiên, linh động nên người đọc ít có cảm giác dùng

kỹ xảo” [49, 306 - 310]

Khi nghiên cứu Các kiểu kết thúc của truyện ngắn hôm nay (TCVH số 4 -

1995), Lê Thị Hường cũng đã khảo sát và đánh giá kết thúc của truyện ngắn

Mùa hoa cải bên sông của Nguyễn Quang Thiều: “cách kết thúc của Nguyễn Quang Thiều tiêu biểu cho kiểu kết thúc của truyện ngắn hôm nay và là mô hình kết thúc phổ biến”

Nguyễn Khắc Viện cũng đã đọc và phân tích rất kỹ truyện ngắn Gió dại trong tập truyện Người đàn bà tóc trắng của Nguyễn Quang Thiều và ông đưa ra kết luận: “Chỉ qua một truyện ngắn mà tác giả đã nêu lên bao nhiêu vấn

đề tâm lý đi sâu vào những manh mối thầm kín nhất của tâm tư con người Nguyễn Quang Thiều quả là nhà tâm lý học xuất sắc” (Báo Văn nghệ, số 19, ra

ngày 12.5.2007)

Đặc biệt, các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều khi được dịch

và xuất bản ở nước ngoài cũng tạo được sự chú ý và nhận được những đánh giá

cao “Những truyện ngắn bình dị nhưng đẹp và xót xa Mỗi trang viết ngừng lại

trước một hình ảnh, hiện ra giữa vùng sáng một Việt Nam của hôm nay, một mảng ghép hài hòa một cách lạ lùng giữa truyền thống và hiện đại…” (Alexia

Lorca - Lire) [32] Hay: “Thế mạnh của nhà văn trẻ Việt Nam này (Nguyễn

Quang Thiều) tập trung trong sự giản dị nhưng đẹp ngời ngợi của câu chữ và vấn

đề được đặt ra! Đẹp và thống thiết!” (Jean-Luc Douin - Le Monde) [32] Và:

Trang 8

“Với phong cách viết nhẹ nhàng, trong sáng chảy xuyên yên ả như sông Đáy chở

ta đi giữa dòng yêu thương, tươi mát và tràn đầy xúc cảm, tác giả tìm kiếm một nơi ẩn ngụ thanh bình Nhưng tôi không thể cưỡng lại được ý nghĩ rằng sự yên tĩnh này chỉ là mặt sau của một cuộc sống đầy chấn động mà tác giả đã thấm trải suốt một thời thơ ấu trong cuộc chiến tranh thảm khốc của Việt Nam giành tự

do và độc lập Vẻ thanh bình, giản dị và tươi mát kia chỉ là một phần hiển hiện từ một tảng băng giấu che những vết thương chưa lành hẳn, những kỷ niệm nặng

nề, những nỗi đau còn sót lại của một cuộc chiến Nhưng, như con phượng hoàng, dân tộc Việt Nam hôm nay đang gắng làm sống lại từ tro bụi một kỷ nguyên mới thanh bình” (Denis Billaboz) [32] Điều này cho thấy tác phẩm của

Nguyễn Quang Thiều không chỉ tạo được ấn tượng với độc giả trong nước mà còn tạo được dấu ấn với độc giả nước ngoài

Với thể loại tiểu luận và ký của Nguyễn Quang Thiều, hiện chưa có nhiều

công trình nghiên cứu, bài viết quan tâm, đề cập đến Về tập Có một kẻ rời bỏ

thành phố, trong bài: Vấn đề sinh thái - đô thị trong văn xuôi Việt Nam thời đổi

mới, tác giả Đặng Thái Hà đã nhận định: “ Tập truyện là cách nhà văn trực tiếp

nêu lên một tư thế, một thái độ sống, hay, có thể nói, một phản ứng khá quyết liệt trước cuộc sống nhiễu nhương xô bồ tù ngục nơi đô thị phồn hoa”

Nhân dịp ra mắt tập ký Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng

cũng có một số ý kiến đánh giá về tập ký này PGS TS, Nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Điệp khi đọc “Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng”

đã đúc kết ra rằng: “Khi đọc sách, tôi nghĩ về giấc mộng, không nghĩ về Nguyên Quang Thiều mà nghĩ về sách, Nguyễn Quang Thiều đã đi giữa hoang tưởng và phân liệt, trang viết của anh xuống tận đáy, nó là điểm khởi đầu và điểm đến, neo giữ Nguyễn Quang Thiều Tôi nghĩ những giấc mộng này là như thế nào đối với Nguyễn Quang Thiều Nguyễn Quang Thiều không hẳn viết cho vợ và con, viết cho người thân thuộc mà viết cho cả người ở bên kia chiến tuyến Tất cả nằm trong điểm quy tụ là nhân tính, tôi tin đây là khởi đầu của những thành công” TS Đỗ Hải Ninh cho rằng: “Tiểu luận có chất thơ trong văn xuôi bởi cuối mỗi bài tiểu luận là có một bài thơ Đây là một sự hô ứng thơ và văn xuôi và chính những bài

tiểu luận trong cuốn sách này cũng như một bài thơ”( T.Lê, Người kể chuyện lúc

Trang 9

nửa đêm: Ám ảnh số phận con người!, quang-thieu-ra-sach-nguoi-ke-chuyen-luc-nua-dem-300576.html)

http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/nguyen-Họa sĩ Lê Thiết Cương lại cho rằng “vì là nhà thơ viết văn xuôi nên văn xuôi Nguyễn Quang Thiều càng độc đáo 25 bài thơ như văn bản thứ hai của 25 câu chuyện Ở đây có sự tương tác, xâm nhập, giao thoa, mở rộng đường biên thể loại” PGS, TS Lưu Khánh Thơ phát biểu: “những văn bản thơ đính kèm văn bản văn xuôi trong cuốn sách của Nguyễn Quang Thiều tạo ra hiện tượng đọc liên văn bản rất thú

vị” (Hoàng Hoàng Phố, Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng,

giac-mong-8856.html)

http://vannghequandoi.com.vn/Su-kien/nguoi-ke-chuyen-luc-nua-dem-va-nhung-Như vậy có thể thấy những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều

mà đặc biệt là truyện ngắn từ khi ra đời đã tạo được nhiều ấn tượng, dư vang trong lòng bạn đọc nói chung và nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình nói riêng Những công trình, bài viết trên, những ý kiến đánh giá về truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều đã nói lên phần nào phong cách của nhà văn nhưng chỉ thể hiện ở một phương diện nào đó và do dung lượng của các bài viết ngắn nên chưa thực sự đi sâu vào nội dung cũng như nghệ thuật trong văn xuôi của ông Đồng thời, những bài nghiên cứu, phê bình, những ý kiến đánh giá về văn xuôi Nguyễn Quang Thiều còn chưa mang tính hệ thống Đó là những gợi dẫn cho chúng tôi lựa chọn văn xuôi Nguyễn Quang Thiều làm đối tượng nghiên cứu Trên tinh thần tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nhà phê bình đi trước, với đề tài này, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ những đặc điểm nổi bật trong phong cách văn xuôi Nguyễn Quang Thiều qua truyện ngắn và ký

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ tình hình nghiên cứu đã nêu trên, trong điều kiện tư liệu và khả năng cho phép, chúng tôi xác định mục đích của đề tài là: Tìm hiểu những đặc điểm cụ thể về nội dung và nghệ thuật ở những tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn và ký của Nguyễn Quang Thiều Từ đó thấy được ý thức cách tân thể loại và những thành công của cây bút này trong lĩnh vực văn xuôi, qua đó góp một tiếng nói khách quan trong việc đánh giá vai trò, vị trí của Nguyễn Quang Thiều trong nền

Trang 10

văn chương đương đại

Đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ có ý nghĩa như một tư liệu tham khảo để những độc giả quan tâm đến sự nghiệp văn học của Nguyễn Quang Thiều có thể sử dụng để hiểu rõ hơn những nét đặc sắc trong mảng sáng tác văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở những vấn đề lý thuyết và lịch sử văn học thời kỳ đổi mới, luận văn đặt ra mục tiêu: Nghiên cứu các phương diện nội dung và nghệ thuật trong

các sáng tác văn xuôi của nhà văn Nguyễn Quang Thiều qua truyện ngắn và ký

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tiến hành nghiên cứu đặc điểm văn xuôi Nguyễn Quang Thiều qua truyện ngắn và ký cụ thể trên các phương diện nội dung và nghệ thuật Sự nghiệp văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều khá phong phú nhưng trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ chọn khảo sát truyện ngắn và ký là hai mảng văn xuôi ấn tượng hơn của Nguyễn Quang Thiều và mang nhiều dấu ấn với tư duy nghệ thuật thơ của tác giả

nhà văn

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp hệ thống giúp xác định vị trí văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn nói chung

- Phương pháp loại hình được sử dụng nhằm khảo sát, phân loại và xác định đặc điểm thể loại văn xuôi trong sáng tác của Nguyễn Quang Thiều

- Phương pháp lịch sử được vận dụng để miêu tả, phân tích những đặc điểm văn xuôi của một nhà văn được đặt trong sự vận động chung của một giai đoạn văn học (cụ thể là giai đoạn văn học hiện đại Việt Nam sau 1975)

Trang 11

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các thao tác nghiên cứu hỗ trợ như thống

kê, phân tích, tổng hợp, giảng bình, đánh giá… để lý giải một số vấn đề, hiện tượng được đặt ra trong tác phẩm

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Trước hết, đây là đề tài nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về đặc điểm văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Qua đó, đề tài có ý nghĩa tích cực trong việc khẳng định vị trí của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều nói riêng và vị trí của nhà văn nói chung, góp phần làm nên diện mạo đa dạng về tác giả, tác phẩm cũng như phong cách nhà văn ở thời kì văn học hiện đại giai đoạn sau 1975

- Bên cạnh những nghiên cứu đánh giá về vai trò và tầm vóc của Nguyễn Quang Thiều với tư cách là nhà thơ cách tân hàng đầu của văn học Đổi mới, với việc tìm hiểu văn xuôi của nhà văn, đề tài sẽ góp phần nhận diện tác giả Nguyễn Quan Thiều trong toàn bộ hành trình sáng tạo và phong phú của ông

- Từ việc tìm hiểu nhận diện đặc điểm văn xuôi của trường hợp là Nguyễn Quang Thiều sẽ góp phần lý giải những xu hướng của văn xuôi đương đại nói chung

7 Cơ cấu của luận văn

Cơ cấu luận văn: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Phụ lục, phần trọng tâm là Nội dung chính gồm ba chương

Chương 1 Quá trình sáng tác và vị trí của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong dòng mạch văn xuôi trữ tình thời kỳ đổi mới

Chương 2 Cảm quan về đời sống trong văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều Chương 3 Một số phương diện nghệ thuật tiêu biểu của văn xuôi Nguyễn Quang Thiều

Trang 12

CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ VỊ TRÍ CỦA VĂN XUÔI NGUYỄN QUANG THIỀU TRONG DÒNG MẠCH VĂN XUÔI TRỮ TÌNH THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1.1 Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Thiều

1.1.1 Nhà văn Nguyễn Quang Thiều và quá trình sáng tác

Nguyễn Quang Thiều sinh ngày 13 tháng 02 năm 1957 tại làng Chùa ven sông bờ Đáy thuộc xã Sơn Công – Huyện Ứng Hòa – Tỉnh Hà Tây cũ (Nay thuộc

Hà Nội) Hiện giờ ông sống ở Hà Đông – Hà Nội Nguyễn Quang Thiều xuất thân trong một gia đình viên chức, thủa nhỏ sống ở quê Chính những ký ức về làng quê nghèo, nơi có dòng sông Đáy hiền hòa thơ mộng gắn liền với những huyền thoại, lễ nghi, với những hủ tục, lề thói của người làng quê và cả nhữn con người nồng hậu, chân chất đã trở thành ngồn cảm hứng sáng tạo vô tận, là điểm tựa tinh thần để nhà văn tìm về sau bao bươn trải gian nan

Sau khi tốt nghiệp đại học ở Cu Ba, ông về nước công tác ở ngành an ninh

một thời gian Ông công tác tại Bộ công an và bắt đầu với sự nghiệp báo chí Khi thì ông phụ trách báo Văn nghệ, khi thì ở An ninh thế giới do chính ông sáng lập, đặc biệt việc ông thực hiện tờ báo Cảnh sát toàn cầu đã được đông đảo bạn

đọc quan tâm Tiếp sau đó, Nguyễn Quang Thiều còn tham gia sáng lập tờ

Nghệ thuật mới, một tờ báo ngay từ buổi đầu đã có lượng ấn bản ấn tượng hơn

bất kỳ một tờ báo văn học nào khác

Nguyễn Quang Thiều bắt đầu làm thơ vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, khi mới ngoài 20 tuổi Bằng tình yêu đối với thơ, ông đã sớm thành công và cho ra đời những bài thơ với những cảm xúc đẹp đẽ, trong sáng Năm 1983 - 1984, ông đạt giải ba cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ quân đội,

năm 1989, đạt giải thưởng thơ hay Tập thơ Ngôi nhà 17 tuổi xuất bản năm

1990, sau đó một năm được bình chọn là tác phẩm hay nhất của năm

Không dừng lại ở đó, Nguyễn Quang Thiều luôn trăn trở ngày đêm trên từng trang viết của mình, từ thẳm sâu réo gọi đã thôi thúc ông cầm bút và

tập thơ Sự mất ngủ của lửa ra đời năm 1992 Năm 1993 tập thơ này đã được trao

giải thưởng Hội nhà văn Với tập thơ này, Nguyễn Quang Thiều lần đầu tiên

Trang 13

mang đến một thứ thơ khác, một thứ thơ khởi phát từ nội lực mạnh mẽ chất chứa những trầm tích bí mật, những huyền thoại, những gấp khúc của tư duy Tựa như một cảnh giới kỳ dị, vừa ảo huyền, sương khói, vừa mộng

mị lại vừa trần trụi, bộn bừa, không màu mè; vừa đơn sơ, vừa quen thuộc lại vừa ẩn chứa vẻ xa lạ… Với ông, làm thơ lúc ấy thật hồn nhiên và nó như một nhu cầu tự thân nhằm giải thoát chính mình Đây là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Quang Thiều, đánh dấu bước ngoặt đổi mới trong tư duy thơ của ông

Bên cạnh đó, Nguyễn Quang Thiều còn là người nghệ sĩ có tâm hồn Á Đông đa cảm, mơ mộng, nhân hậu và đẹp đẽ kết hợp với óc phân tích sắc sảo của phương Tây Có được điều đó là do ông đã từng có thời gian học tập ở nước ngoài, vốn ngôn ngữ thông thạo giúp ông có cơ hội tiếp xúc với văn hóa, văn học nhiều nước trên thế giới Vốn sống phong phú, học vấn uyên thâm, giao lưu văn hóa rộng, bản lĩnh sáng tạo của người nghệ sĩ giúp Nguyễn Quang Thiều tìm đến một hướng cách tân truyện ngắn đáng chú ý

Có thể nói, Nguyễn Quang Thiều là một người nghệ sĩ đa tài, ở ông có sự tổng hòa các lĩnh vực nghệ thuật: thơ ca, kịch, họa Những năm qua trên báo chí

đã xuất hiện khoảng trên 300 bài ký, phóng sự, nghị luận, tản văn của Nguyễn Quang Thiều Ngoài ra ông còn viết nhiều kịch bản phim, vẽ tranh và tiểu thuyết, truyện ngắn… Cho đến nay, ông đã xuất bản 10 tập thơ, 16 tập tiểu thuyết và truyện ngắn, 10 cuốn sách dịch, sách thiếu nhi và hơn 300 bút ký, tiểu luận, phê bình, tản văn Ngoài giải thưởng hội nhà văn Việt Nam 1993 cho

tập thơ Sự mất ngủ của lửa, Nguyễn Quang Thiều còn dành được rất nhiều giải

thưởng văn học trong nước ở mọi thể loại: thơ, kịch bản phim, truyện ngắn,

sách thiếu nhi Truyện ngắn Mùa hoa cải ven sông đã được dựng thành phim Lời

nguyền của dòng sông do Khái Hưng làm đạo diễn, từng đạt giải Vàng Liên hoan

phim truyền hình quốc tế tại Bỉ năm 1993 Truyện ngắn Hai người đàn bà xóm

Trại được giải tạp chí Văn nghệ quân đội năm (1993 - 1994) sau được chuyển

thể thành phim truyền hình Thời gian của dòng sông Lúc đương thời cả hai bộ

phim được chuyển thể từ hai truyện ngắn này đều gây được tiếng vang trong

Trang 14

dư luận và công chúng Ngoài ra có thể kể đến những tập truyện ngắn khác của

Nguyễn Quang Thiều như: Người đàn bà tóc trắng (1996), Đứa con của hai dòng

họ (1997), Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều (1998), Người cha (truyện thiếu nhi) (1998), Người nhìn thấy trăng thật (2003) Năm 2012, ông xuất bản một

cuốn tiểu luận, tản văn mang tên Có một kẻ rời bỏ thành phố Gần đây nhất, năm

2016, ông xuất bản tập tiểu luận, ghi chép mang tên Người kể chuyện lúc nửa

đêm và những giấc mộng

Những tác phẩm thơ và truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều đã được xuất bản ở Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Na -Uy, Thụy Điển, Nhật Tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều được các nhà xuất bản ở Mỹ chọn dịch cả thơ và văn xuôi và

đã được đăng tải hầu hết các báo, tạp chí uy tín ở nước Mỹ Truyện ngắn

được dịch nhiều thứ tiếng, đặc biệt tác phẩm Bầy chim chìa vôi được chọn làm

một chuyên đề trong một trường đại học ở Nhật Ở Pháp, hai tập truyện ngắn

được dịch, xuất bản: La Fille Du Fleuve (1997), và La Petite Marchande De

Vermaicelles (1998)

Có thể thấy, Nguyễn Quang Thiều là một cây bút sung sức, đa tài Và ở bất cứ một lĩnh vực nghệ thuật nào ông cũng gặt hái được những thành công nhất định và tạo được những dấu ấn sâu đậm đối với bạn đọc Có sức viết dồi dào ở nhiều loại hình nghệ thuật nhưng Nguyễn Quang Thiều chủ yếu được biết đến là nhà thơ cách tân gây nhiều tranh luận đa chiều Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận vị trí đáng kể của văn xuôi trong sự nghiệp sáng tác của ông với 16 tập tiểu thuyết và truyện ngắn, 10 cuốn sách dịch, sách thiếu nhi và hơn 300 bút ký, tiểu luận, phê bình, tản văn Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều và văn xuôi của ông nói chung không thuộc dòng cách tân mà tiếp nối dòng mạch văn xuôi truyền thống Các tác phẩm của ông quan tâm đến bi kịch hậu chiến, quan tâm đến nông thôn và

đô thị hóa, quan tâm đến số phận, những cung bậc khác nhau của đời sống tinh thần con người

Viết về chiến tranh, nhà văn đã không nhìn lên những ánh hào quang của chiến công và sự chiến thắng mà ông cúi xuống để thấy, để cảm nhận và phản

Trang 15

ánh những sự thật đau lòng mà chiến tranh gây ra cho con người, đó là những

bi kịch thời hậu chiến, bi kịch của những người lính sau chiến tranh, bi kịch của những người phụ nữ Viết về con người, nhà văn quan tâm đến số phận của cá nhân Nổi bật lên trong đó là những chuyện đời tư, những số phận riêng, những

bi kịch của con người, những mâu thuẫn trong đời sống tình cảm con người Nhà văn xoáy sâu vào những sự thật nghiệt ngã, những tình cảnh trớ trêu, phũ phàng của cuộc đời, dù là trong chiến tranh hay trong cuộc sống thường nhật, để từ đó khắc họa nên những số phận khác nhau của con người

Truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều thường không có độ dày về sự kiện, nhân vật, mà chỉ là một lát cắt, có khi rất nhỏ về cuộc đời Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Quang Thiều có khả năng trong việc tạo nên độ sâu của suy nghĩ, sự lắng đọng của cảm xúc Các tác phẩm truyện ngắn của ông thường không có những kịch tính, những cao trào do cốt truyện thường giản dị, được xây dựng từ những chất liệu đời thường nhưng luôn được điểm vào đó những mạch cảm xúc, suy nghĩ và tâm trạng của nhân vật làm cho câu chuyện trở nên sâu lắng Với thể loại truyện ngắn, cách viết của nhà văn không quá cách tân (như trong thơ) mà thiên về cốt truyện tâm lý, đậm chất chữ tình Yếu tố trữ tình trong văn xuôi của ông đã góp phần tạo nên những trang văn giàu chất thơ đan xen với nội dung phản ánh hiện thực, tạo được ấn tượng sâu sắc đối với bạn đọc Đúng

như nhận định của PGS.TS Đinh Trí Dũng trong bài Mạch trữ tình trong truyện

ngắn thế hệ nhà văn sau 1975: “ Người đọc cũng khó quên một mùa hoa cải bên sông, một làng Chùa với những bến sông, cổng làng, bờ đê, ruộng lúa trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều”

Đối với thể loại tản văn, Nguyễn Quang Thiều cũng chọn cho mình một lối viết riêng Đề tài trong tản văn của ông là những câu chuyện đời thường, chuyện hàng ngày được viết lại từ những điều tai nghe mắt thấy và từ kí ức của chính nhà văn Đó là những chuyện kí ức về tuổi thơ, về quê hương và những người bạn của nhà văn Có chuyện có thật, nhưng cũng có chuyện được bịa như thật Nội dung trong tản văn được truyền tải bằng giọng văn triết lý, chiêm nghiệm

Trang 16

Qua tản văn, nhà văn trực tiếp nêu lên thái độ sống, một phản ứng quyết liệt trước

sự đổi thay của hiện thực cuộc sống

Tóm lại, Nguyễn Quang Thiều là nhà văn trưởng thành ở chặng đường sau của văn học hiện đại sau 1975 Ông có sức viết dồi dào ở nhiều loại hình nghệ thuật và chủ yếu được biết đến là nhà thơ cách tân gây nhiều tranh luận Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận vị trí đáng kể của văn xuôi trong sự nghiệp sáng tác của ông Với các tác phẩm văn xuôi của mình, nhà văn Nguyễn Quang Thiều

đã góp phần tiếp nối dòng mạch trữ tình trong văn xuôi thời kỳ đổi mới và mang đến cho văn xuôi đương đại một chất giọng văn xuôi giàu chất thơ

1.1.2 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Quang Thiều

Nguyễn Quang Thiều là một trong những cây bút cách tân táo bạo của thơ Việt Nam đương đại Với thể loại văn xuôi, ông cũng được nhiều nhà phê bình đánh giá là cây bút “có nghề” Mặc dù hành trình sáng tác truyện ngắn không dài nhưng những tác phẩm của ông đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc như nhận định của nhà biên tập trong cuốn Mùa hoa cải bên sông Nguyễn Quang

Thiều, H Kim Đồng, 2003: “Nguyễn Quang Thiều là một cây bút truyện ngắn tài

hoa Anh có lối kể chuyện hư hư thực thực, ẩn hiện, mê hoặc…văn chương

và con người anh như một thứ rượu để lâu, uống vào rất dễ say” [55, tr 4] Ở mỗi

một loại hình nghệ thuật mà ông tham gia, ông đều tạo được những dấu ấn và thành công nhất định Để tạo được những thành công đó, ngoài sự nỗ lực và quá trình làm việc nghiêm túc, sự say mê và tài năng của bản thân còn bởi nhà văn có quan niệm nghệ thuật đề cao sự sáng tạo trong cách viết Quan niệm nghệ thuật đó không chỉ được nhà văn phát biểu trực tiếp trong những bài trả lời phỏng vấn mà còn được thể hiện qua chính những sáng tác của ông

Trả lời phỏng vấn trên internet, nhà văn nói: “ Tôi yêu tất cả những gì thuộc

về vẻ đẹp sáng tạo Tôi quan niệm sự sáng tạo là “chất xúc tác” giải phóng mình bởi ở đó những ý tưởng riêng, cá tính được chắp cánh bay cao” [46]

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Quang Thiều đã bộc lộ khá

rõ nét quan niệm của ông về nghệ thuật, về văn chương, cái đẹp, tình yêu, nỗi tuyệt vọng, niềm hy vọng, sự sống, cái chết, nỗi ám ảnh, sự hối hận…tất cả trở

Trang 17

thành khát vọng sáng tạo in dấu trong các sáng tác của ông Trong đó, vấn đề

có tính khái quát trong văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều chính là nỗi yêu thương thống thiết đối với cái đẹp bị lâm nguy Bởi lẽ, trong cuộc sống đô thị hóa, đồng hành với cuộc sống hiện đại cũng là sự suy tàn của môi trường thiên nhiên, bên cạnh đó là nỗi lo âu về sự xuống cấp đạo đức, sự đánh mất những giá trị tinh thần cao quý của con người

Nói về quan niệm thi ca Nguyễn Quang Thiều nhấn mạnh: “Quan

điểm thơ ca của tôi là làm sống lại những cái đã chết và làm mới lại những cái đã cũ Tôi không xây dựng lên một thế giới mới mà tôi chỉ làm sống lại tất cả những vẻ đẹp của đời sống này” [60, tr 31] Với ông, sứ mệnh của nhà thơ là:

“Phải mang đến những tiếng khèn mới, những giai điệu mới đầy sức sống” và

“ Khai mở - là sứ mệnh lớn nhất của nhà thơ” Đây có thể được coi là tuyên

ngôn nghệ thuật của nhà thơ, nó cho người đọc thấy được vai trò cũng như nhiệm vụ quan trọng của người nghệ sĩ đó là phải mang đến cái mới cho thi ca nói riêng và cho nghệ thuật nói chung Điều này còn được Nguyễn Quang

Thiều phát biểu trực tiếp trong tản văn Những con chim đập cánh vào ô cửa:

“Trong cuộc đời, mỗi chúng ta ít nhất có một lần sững sờ trước một khung cảnh, một đồ vật hay một con người mà chúng ta từng gặp trước đó nhưng chúng ta lại không hề để ý Nhưng đến một ngày, một nhà văn hay một họa sỹ cho chúng ta đọc hay nhìn những tác phẩm của họ viết và vẽ những cảnh vật hay những con người mà chúng ta từng biết đến, chúng ta bỗng rung động lạ kỳ (…) Sự sáng tạo của nhà văn hay họa sỹ đã mang đến cho chúng ta một cái nhìn mới với những gì đã quá quen thuộc và trở thành sáo mòn trong cảm xúc chúng ta”[62,

điều gì là mới, chỉ có cách nhìn mới về con người, về thế giới này mà thôi Và

sứ mệnh của nhà thơ là phải kết nối tất cả vật thể trên thế giới này: Cỏ cây, mây trời, thú vật, côn trùng Với ông, vẻ đẹp, sự kỳ diệu nằm ở những điều bình dị nhất Nhà thơ phải bằng sự nhạy cảm và tinh tế của người nghệ sĩ để phát hiện và làm sống dậy vẻ đẹp ấy Đó cũng có thể được xem chính là sứ mệnh lớn nhất của nhà thơ

Trang 18

Cuộc sống thực tại với những nỗi nhọc nhằn, với những lo toan của cơm áo gạo tiền đôi khi đã làm con người mất đi sự nhạy cảm với cái đẹp Thực chất, cái đẹp không xa lạ, không bí ẩn với chúng ta, nó ở ngay cạnh chúng

ta nhưng chúng ta lại không cảm nhận nó Khát vọng khám phá cái đẹp là cảm hứng bao trùm không chỉ xuất hiện trong thơ Nguyễn Quang Thiều mà còn cả trong văn xuôi của ông Người nghệ sĩ luôn khát khao khám phá cái đẹp, cái

kỳ vĩ trong một khoảnh khắc đặc biệt Chính khoảnh khắc ấy làm đời sống thăng hoa Cái đẹp được khám phá từ một khoảnh khắc kì diệu của đời sống

Nếu như trong thơ cái đẹp hiện lên qua sự chuyển động của ốc sên (Như đêm

vũ hội) thì trong truyện ngắn có thể là khoảnh khắc trong một đêm trăng, hoạt

động bay lên của bầy chim, hay khoảnh khắc hạnh phúc khi được nhìn thấy

mái tóc như từ vầng trăng chảy xuống Trong Chạy trốn khỏi vầng trăng nhà văn bày tỏ quan niệm về cái đẹp trực tiếp qua đoạn trữ tình ngoại đề: “Bạn ơi!

Bạn hãy thử một đêm nào đó khuya khoắt đứng dưới trăng mười sáu một mình Bạn hãy ngửa mặt hứng lấy từng dòng trăng chảy xuống… chỉ một lát sau thôi bạn không thể bình tĩnh được Bạn sẽ hoảng hốt, rồi lăn lộn, rồi như mê sảng Và đâu đấy trong không gian mênh mang kỳ ảo ánh trăng có ai đó dịu dàng gọi bạn Bạn sẽ thấy hai cánh tay mình biến thành hai vây cá mỏng Bạn khẽ khàng khỏa đôi vây Bạn sẽ bồng bềnh trôi đi, trôi mãi theo tiếng gọi dịu dàng như tiếng nước kia” [61, tr 362] Cái đẹp ở đây là cái đẹp không lời Cái

đẹp của sự tưởng tượng, thức nhận về cuộc sống

Với Nguyễn Quang Thiều, vẻ đẹp, sự kỳ diệu nằm ở những điều bình dị nhất Khát khao đi tìm cái đẹp, bám lấy cuộc sống, tìm kiếm vẻ đẹp diệu kỳ trong những gì thân thuộc nhất Cái đẹp có khi nằm ở một trạng thái giản dị nhất hay ở một chuyển động thô sơ nhất Với ông thiên đường không phải là

cái gì cao siêu, huyền bí mà là một đời sống tinh thần kỳ diệu ở ngay thế gian

này Đó có thể chỉ là một chiều chân trần trên cánh đồng rực vàng của lúa chín với cõi lòng thanh sạch vô cùng, được đắm chìm trong hương lúa Từ những con đường đất đỏ với bước chân trần mẹ đi về sau mỗi chiều vất vả đến những mái ngói, bờ tre của những thôn quê nghèo khó Có thể là một đêm

Trang 19

khuya tĩnh lặng được ngồi ngắm trăng hay một buổi chiều ngồi trên triền đê ngắm hoa tầm xuân Khi chúng ta nhận biết được vẻ đẹp của thiên nhiên và

sự sống thì nghĩa là chúng ta biết được thiên đường

Với người nghệ sĩ, để tạo ra được một tác phẩm lớn thì cần phải có sự sáng tạo, có tình yêu đối với cuộc sống, có trách nhiệm với bản thân và đồng loại Vì vậy, Nguyễn Quang Thiều cũng từng nói: Chính đời sống không trung thực, một đời sống thiếu sự sáng tạo, thiếu cảm hứng, thiếu trách nhiệm với bản thân và

đồng loại sẽ vô cùng khó khăn để sinh ra những tác phẩm lớn “Không thể nào

trên một mảnh đất hoang hóa, khô cằn lại có thể sinh ra những mùa màng trù phú” (Trần Thị Trường: Nguyễn Quang Thiều: Kẻ đa tài) Tranh bàn thế nào là

tác phẩm lớn, nhà văn cho rằng: “Đó là một tác phẩm khi người ta đọc xong,

người đọc thay đổi Tác phẩm mang đến cho người đọc một thế giới mới hơn, rộng lớn và sâu sắc hơn Trong một khía cạnh nào đó, con người đó đã được khai sáng, và họ thầm cúi đầu tôn kính cuốn sách ấy”

Không chỉ nêu ra quan niệm của mình về thơ ca, về văn chương, nhà văn cũng đã bày tỏ rõ quan niệm của mình về vẻ đẹp của con người mà đặc biệt là

người phụ nữ Ông đã từng nói trong nhiều cuộc phỏng vấn rằng: “điều thu hút

tạo cảm hứng cho tôi là tâm hồn và số phận của người phụ nữ chứ không phải nhan sắc của họ Trong đời thường, một phụ nữ không nhan sắc thì tôi không có cách nào làm cho người phụ nữ đó có nhan sắc Nhưng trong tác phẩm, tôi có quyền tạo ra một phụ nữ nhan sắc” [4, tr.22] Như vậy có thể thấy

nhà văn luôn luôn trân trọng và đề cao vẻ đẹp phẩm chất, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Có lẽ cái nhan sắc mà nhà văn muốn nói ở đây chính là vẻ đẹp của sự thành thực, hồn nhiên, mộc mạc, vẻ đẹp tâm hồn tự nó toát ra một cách tự nhiên nhất Chính vì vậy, trong các sáng tác của mình khi viết về những người phụ nữ nhà văn không chú trong đến việc miêu tả ngoại hình của nhân vật

mà ông tập trung làm nổi bật lên vẻ đẹp tâm hồn của họ Đó là vẻ đẹp của sự tần tảo, lam lũ, vẻ đẹp của sự thủy chung, và của đức hi sinh cao cả

Khát vọng kiếm tìm trong Nguyễn Quang Thiều là những ý nghĩ bay lên để cứu rỗi sự nghèo nàn tâm hồn nhất là trong cái xã hội con người dần

Trang 20

cô đơn không tìm thấy tri ân Cái xã hội nghèo nàn đang dần mất đi sự thơ mộng

Sự lo âu của Nguyễn Quang Thiều là sự lo âu xuống cấp đạo đức, đánh mất giá trị tinh thần của con người trong xã hội hiện đại

Nguyễn Quang Thiều cũng luôn suy nghĩ về lẽ sinh tử trong cõi đời Trong

một bài trả lời phỏng vấn nhà văn có nói rằng: “Để cái chết trở nên giản dị và

mang những bí ẩn khám phá đối với tôi thì chỉ có đời sống của chúng ta đang sống và suy nghĩ về đời sống ấy Khi ấy, cái chết không phải là chết nữa mà nó là một đời sống với hình thức mới Tôi quan niệm đời sống là hiện tại (hôm nay) và cái chết là tương lai (ngày mai) Và chúng ta nhìn nhận cái chết như là một ban mai đến với thế gian này” Thực chất Nguyễn Quang Thiều không chịu ảnh

hưởng cụ thể của một tôn giáo nào Với nhà thơ, khi đức tin đã được thiêng liêng hóa nó sẽ mang lại sự bí ẩn của những điều thiêng Cụ thể đức tin của nhà thơ là: Sự sống bất diệt, sự sống mang vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp hoàn hảo của thế gian Đó cũng là cảm hứng thống nhất làm nổi bật khát vọng sáng tạo không chỉ trong thơ mà còn xuyên suốt trong các sáng tác văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều

Với một quá trình sáng tác không ngừng nghỉ, từ thơ ca, báo chí, kịch bản, hội họa đến văn xuôi, với khao khát sáng tạo, chủ động đổi mới Nguyễn Quang Thiều đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả Xuất phát từ quan

niệm như một tuyên ngôn trong văn chương: “làm mới lại những gì đã cũ,

làm sống lại những gì đã chết”, Nguyễn Quang Thiều đã đem đến những

cách tân nghệ thuật đáng chú ý cho văn học nước nhà Có thể khẳng định rằng cùng với một đội ngũ nhà văn hùng hậu thời kì đổi mới, Nguyễn Quang Thiều với những truyện ngắn và ký của mình đã góp phần làm mới thể loại văn xuôi đương đại đồng thời đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của thời đại và công chúng

1.2 Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong dòng mạch văn xuôi trữ tình thời kỳ đổi mới

1.2.1 Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong dòng mạch văn xuôi trữ tình

Trong đời sống phức tạp, sôi động và sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi Việt Nam đương đại có một dòng chảy lặng thầm, nhỏ nhẹ Dòng chảy này đã

Trang 21

nhanh chóng trở thành một xu hướng sáng tạo mang vẻ đẹp riêng với tính chất độc đáo, đặc sắc của văn xuôi đổi mới đó chính là văn xuôi trữ tình Văn xuôi trữ tình sau đổi mới đã góp một tiếng nói riêng để tạo nên những thành tựu chung của văn học thời kỳ này trong đó phải kể đến đóng góp của nhà văn Nguyễn Quang Thiều

Nói tới yếu tố trữ tình là nói tới tính thơ, chất thơ trong thi ca Theo Giáo

trình lý luận văn học tập 2 (Tác phẩm và thể loại văn học) của Trần Đình Sử chủ

biên thì trữ tình được xác định là một trong những phương thức nhằm tạo dựng hình

tượng trong văn bản văn học cùng với các phương thức khác như: Trần thuật, miêu

tả, nghị luận Trữ tình là biện pháp cơ bản nhất nhằm bộc lộ tư tưởng, tình cảm của tác giả

Từ văn học giai đoạn 1930 – 1945, người đọc thấy xuất hiện nhiều truyện ngắn mang âm hưởng trữ tình tiêu biểu với các tên tuổi lớn như: Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếch, Xuân Diệu Dòng truyện ngắn trữ tình được hình thành từ các tác phẩm viết theo phong cách trữ tình, nghiêng về phân tích đời sống tâm hồn con người Thạch Lam viết về một phố huyện nghèo với những con người nhỏ bé với cuộc sống lam lũ, thiếu thốn, về cuộc sống nhọc nhằn khốn khó của một cô hàng

xén nơi chợ huyện trong tác phẩm Hai đứa trẻ, Cô hàng xén, nhà văn vẫn khiến

người đọc xúc động bằng những trang văn giàu chất thơ Thanh Tịnh với những truyện ngắn mang phong vị riêng, đầy chất thơ và tràn đầy một tình yêu quê hương tha thiết Đúng như có người đã nhận xét: mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh là một bài thơ

Bước sang giai đoạn văn học 1945 -1975, bên cạnh dòng văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu vẫn có những truyện ngắn lãng mạn, trữ tình của Nguyễn

Minh Châu với Mảnh trăng cuối rừng, Nguyên Ngọc với Rẻo cao, Nguyễn Thành Long với Lặng lẽ SaPa, Đỗ Chu với Hương cỏ mật Có thể nói, những tác phẩm

trữ tình có sức hấp dẫn riêng ẩn dấu dưới những lời văn nhẹ nhàng trong trẻo như

nhà văn Ma Văn Kháng đã nói: “Truyện ngắn phải có cái gì bay bay một tí, không

nên mơ màng quá, mà trần trụi quá cũng không ổn” Sau năm 1975, văn học Việt

Nam nói chung và truyện ngắn nói riêng trở nên hết sức đa dạng với sự xuất hiện của một loạt các tên tuổi như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo,

Trang 22

Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư Đề tài, nội dung phản ánh, cách viết, hình thức truyện phong phú đa dạng có nhiều tìm tòi phát hiện mới Mỗi tác giả đều tạo cho mình một ấn tượng riêng với độc giả Cuộc sống hiện thực hàng ngày, những uẩn ức trong đời sống tinh thần con người (đặc biệt là người phụ nữ), những ám ảnh sau chiến tranh, sự vật lộn trong cuộc sống mới theo cơ chế thị trường tất cả đều được đưa vào các trang viết một cách sinh động Song bên cạnh những nội dung đó, trong văn xuôi sau 1975 vẫn tồn tại một mạch truyện ngắn theo phong cách trữ tình của nhiều cây bút tiêu biểu là Nguyễn Quang Thiều, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc

Tư, Phan Thị Vàng Anh, Nguyên Hương, Đỗ Bích Thúy Đọc những truyện ngắn của họ, người đọc bắt gặp một mạch ngầm da diết như tiếp nối dòng mạch trữ tình sâu thẳm của văn chương truyền thống

Như vậy, có thể thấy, cùng với nhiều nhà văn thế hệ sau 1975, nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã có sự tiếp nối dòng mạch trữ tình của văn chương truyền thống Chất trữ tình thấm đẫm trên các trang văn của ông ngay từ nhan đề của tác

phẩm: Chiều hoa tầm xuân, Giấc mơ hoa cỏ trắng, Khúc hát của dòng sông, Người

nhìn thấy trăng thật Và dù viết về đề tài nào thì đọc truyện ngắn của ông người

đọc luôn thấy phảng phất âm hưởng cổ tích giữa đời thường và có sự hòa trộn cái

thực và cái ảo Mùa hoa cải ven sông, Tiếng gọi cuối mùa đông, Ngựa trắng vừa là

những câu chuyện của hiện tại nhưng cũng là những câu chuyện tình thi vị, lãng mạn Trong những tác phẩm đó, nhà văn đã khắc họa những diễn biến nội tâm của nhân vật với sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và ảo làm cho cốt

truyện đôi khi bị mờ hóa nhiều lúc chỉ là dòng tâm trạng chắp nối như: Chiều hoa

tầm xuân, Hương khúc nếp cuối cùng Đọc những trang văn của Nguyễn Quang

Thiều người đọc sẽ khó có thể quên hình ảnh một làng Chùa với những bến sông,

bờ đê, ruộng lúa, những đêm trăng và một mùa hoa cải nở vàng trên bến sông

1.2.2 Văn xuôi Nguyễn Quang Thiều trong bối cảnh đổi mới

Năm 1986 là một dấu mốc quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội cũng như văn hóa của nước ta Đối với văn học, năm 1986 là năm văn học chính thức bước vào giai đoạn đổi mới một cách toàn diện Đây là giai đoạn bừng nở và phát triển mạnh mẽ của văn xuôi Nhiều cây bút đã lựa chọn các thể loại văn xuôi

Trang 23

như một phương tiện đắc dụng trong việc thể nghiệm và khám phá hiện thực sâu rộng của cuộc sống Ít có bao giờ văn học Việt Nam lại có một đội ngũ nhà văn đông đảo và số lượng tác phẩm đồ sộ, đạt chất lượng như ở giai đoạn này Bên cạnh những nhà văn đã trưởng thành từ giai đoạn trước đang say mê với những thể nghiệm mới ở những năm đầu sau 1975 như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng,… là sự xuất hiện của một loạt cây bút mới như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài,… với những sắc thái khác nhau và những đổi mới mà họ đem đến đã làm thay đổi toàn bộ diện mạo của văn xuôi Việt Nam

Không chỉ có thể loại tiểu thuyết mà cả với truyện vừa, truyện ngắn, tư duy tiểu thuyết cũng được sử dụng tối đa và ngày càng chiếm ưu thế ở giai đoạn này Cùng với sự thay đổi tư duy nghệ thuật là sự thay đổi tất yếu các yếu tố cơ bản trong cơ cấu một tác phẩm văn xuôi cả về nội dung như đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật lẫn hình thức nghệ thuật như ngôn từ, lời văn, giọng điệu,… Trong sự thức nhận về con người và hiện thực trên bình diện chiều rộng và cả chiều sâu đã tạo nên những hiện tượng văn học mới lạ

Một trong những đổi mới của văn xuôi giai đoạn này là sự đổi mới quan hệ giữa nhà văn và hiện thực với nhu cầu được “nói thật” Do đó, những mặt tiêu cực của hiện thực, cái xấu cái ác trong cuộc sống, những điểm đen của con người, đều bị đem ra mổ xẻ, phanh phui đến tận cùng Hiện ra trong các trang văn xuôi

là một hiện thực trần trụi với tính đa sự, đa đoan, cùng những mối quan hệ phức tạp và chằng chịt của nó Sự đổi mới quan niệm về hiện thực tất yếu kéo theo sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người Ý thức cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ và đòi hỏi cần được giải phóng đã làm thay đổi sâu sắc quan niệm về con người trong quá

trình sáng tạo của hầu hết các nhà văn ở giai đoạn này “Con người trong văn học

hôm nay được nhìn từ nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: con người với xã hội, con người với lịch sử, con người của gia đình, gia tộc, con người với phong tục, với thiên nhiên, với những người khác và với chính mình”

[14;16] Con người không chỉ được soi xét trên phương diện xã hội mà còn được

mở rộng, “đào bới” ở bình diện đời tư cá nhân, những bình diện tồn tại riêng lẻ của

Trang 24

những mảnh đời, số phận Trong khả năng ấy, quan niệm nghệ thuật về con người chẳng những được sâu sắc, đa dạng và phong phú hơn mà còn khẳng định được thành tựu từng bước trong quá trình phát triển của nó Các nhà văn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Lê Lựu, Thái Bá Lợi,… đã không ngừng nỗ lực mở rộng những chiều kích về tâm hồn, đạo đức, lối sống, đào sâu con người ở bản thể nhà văn trên cơ sở sở trường của mình, để

từ đó có sự nhìn nhận, lý giải riêng về con người hôm nay

Văn xuôi sau 1975 đặc biệt quan tâm đến con người cá nhân, xây dựng được khá nhiều kiểu loại nhân vật, vốn chưa từng có hoặc ít thấy trong giai đoạn trước như: nhân vật cô đơn, con người bi kịch, con người lạc thời, nhân vật tư tưởng, nhân vật kì ảo,… Các nhân vật tồn tại như một nhân cách, một tính cách riêng biệt chứ không còn là một ý niệm Và nó đã trở thành đối tượng thẩm mỹ quan trọng của văn xuôi Việt Nam đương đại

Cùng với sự đổi mới về đề tài, chủ đề, là sự cách tân vượt bậc về nghệ thuật Cần phải ghi nhận một số xu hướng nghệ thuật nổi bật trong văn xuôi sau 1975 là

sự đa dạng hóa về thi pháp thể loại, điểm nhìn trần thuật, phương thức tiếp cận, ngôn ngữ, giọng điệu,… Với sự thay đổi điểm nhìn trần thuật theo từng kiểu loại nhân vật, từng vị trí khác nhau, hoặc nhà văn có thể là người kể chuyện hoặc hóa thân vào nhân vật trong tác phẩm, mà nhờ đó văn xuôi mang tính thông tin cao, phản ánh và lý giải được các chiều sâu, rộng của cuộc sống Nghệ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức và nghệ thuật đồng hiện đã mở ra cho nhà văn những hướng

tiếp cận khác nhau Có thể kể đến các tác phẩm như Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai,

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thời xa vắng của Lê Lựu, Phiên chợ Giát của

Nguyễn Minh Châu, Kịch câm của Phan Thị Vàng Anh, Bức thư gửi mẹ Âu Cơ của

Y Ban Đặc biệt là sự cách tân về giọng điệu và ngôn ngữ Có thể tìm thấy những giọng điệu chủ âm trong văn học giai đoạn này là: giọng hài hước, hóm hỉnh; giọng mỉa mai, giễu nhại; giọng suy tư, chiêm nghiệm; giọng hoài nghi, chất vất; giọng triết lý điềm tĩnh hay giọng trữ tình tha thiết;… Thứ ngôn ngữ trang trọng, chuẩn mực dường như đã bị chối bỏ, dần trở nên mờ nhạt, nhường chỗ cho thứ ngôn ngữ đời thường, đậm tính khẩu ngữ, thông tục Các sáng tác của thế hệ nhà văn

Trang 25

mới trưởng thành từ sau 1975 như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Quang Lập,… là sự nỗ lực không ngừng đem đến cho văn học một không khí đời sống thường nhật sinh động, chân thực

Trong bối cảnh ấy, nhà văn Nguyễn Quang Thiều là người đặt bút viết muộn hơn so với những tên tuổi lớn vốn đã nhiều trải nghiệm từ giai đoạn trước đó Ông thuộc thế hệ các nhà văn mới xuất hiện và trưởng thành từ những năm 1980 Nhà văn cũng đã thể hiện sự cảm nhận sâu sắc về hiện thực mà mình đang sống qua nhiều tác phẩm để lại dấu ấn đối với bạn đọc cũng như thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình Cũng giống như các nhà văn cùng thời, Nguyễn Quang Thiều rất nhạy cảm với các vấn đề thế sự, nhân sinh, đặc biệt là sự quan tâm đến bi kịch và thân phận con người, nhưng nhà văn cũng đã khéo léo chọn cho mình một chỗ đứng riêng, tránh sự trùng lặp, sáo mòn Nguyễn Quang Thiều đã hòa mình vào xu hướng đổi mới trong văn học với các nhà văn cùng thời và tự mình khẳng định được một phong cách viết đầy cá tính, sáng tạo trong cách nhìn nhận và phản ánh hiện thực

Ở truyện ngắn, với Hai người đàn bà xóm trại, Mùa hoa cải ven sông, Nguyễn Quang Thiều đã xác lập vị trí là một cây bút truyện ngắn xuất sắc khi nhìn vào cuộc đời và số phận của những người phụ nữ nông thôn hậu chiến bằng cái nhìn cảm thông, chia sẻ

Riêng với ký, một thể loại vốn ít được chú ý trong văn học ở các giai đoạn trước, đến giai đoạn hiện đại lại trở thành một thể nghiệm mới, một món ăn tinh thần mới, có sức hấp dẫn đối với nhiều nhà văn trẻ trong giai đoạn này Họ bắt đầu tìm thấy ý nghĩa và sự cần thiết của thể loại này như một nhu cầu được lắng lòng giữa những bộn bề cuộc sống Và thực tế cho thấy thể loại này đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể, làm nên một vị trí riêng khá đặc biệt trong bối cảnh đổi mới văn học giai đoạn sau 1975 Đặc biệt là trong vòng mươi, mười lăm năm trở lại đây, nhiều tác phẩm tản ký ra đời đã góp phần làm nên sự thành danh cho nhiều nhà văn Tuy lực lượng sáng tác không đông đảo, và cũng không có những nhà văn viết riêng cho thể loại này, song đây vẫn là thể loại có sức hấp dẫn

Trang 26

đặc biệt đối với những cây bút không muốn trói mình vào một khuôn định nào, thậm chí đôi khi còn là nơi thể hiện cái “ngông” của người viết

Tiếp đó, nhất thiết phải kể đến những cây bút đặc biệt thành công ở thể loại này như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Phan Thị Vàng Anh, Phong Điệp, Mỗi tác giả với một phong cách riêng đầy cá tính đã tạo nên sự đa dạng về sắc thái

cho thể loại, một vùng khám phá mới Tạp văn Phan Thị Vàng Anh cũng chất

chứa nhiều suy tư về cuộc đời và con người từ những điều nhỏ nhất đến những

chuyện quốc gia đại sự… Và Có một kẻ rời bỏ thành phố và Người kể chuyện lúc

nửa đêm và những giấc mộng c ủ a Nguyễn Quang Thiều được viết rất sâu sắc và

thấm thía về chuyện đời, chuyện người đã thực sự khẳng định và tô đậm cá tính sáng tạo của nhà văn Như vậy ký của Nguyễn Quang Thiều bày tỏ trực tiếp những cảm xúc suy tư của nhà văn về cuộc sống; nỗi lo âu về cái dẹp biến mất, về sự biến đổi làng quê do quá trình đô thị hóa Bằng lối viết riêng của mình, NguyễN Quang Thiều đã để lại ấn tượng sâu đậm

Tiểu kết

Với một quá trình sáng tác không ngừng nghỉ, từ thơ ca, báo chí, kịch bản, hội họa đến văn xuôi, Nguyễn Quang Thiều đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả Khao khát sáng tạo và dám chủ động đổi mới những sáng tác của mình để khám phá vẻ đẹp đời sống, khơi gợi những cảm xúc mới mẻ trong lòng người đọc cũng chính là xuất phát điểm để Nguyễn Quang Thiều viết nên những trang văn giàu cảm xúc trong văn xuôi của mình Sự góp mặt của ông đã góp phần làm phong phú thêm mạch ngầm trữ tình trong văn xuôi Việt Nam đương đại và đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ phong phú, đa dạng của bạn đọc

Trang 27

CHƯƠNG 2 CẢM QUAN VỀ ĐỜI SỐNG TRONG VĂN XUÔI

NGUYỄN QUANG THIỀU 2.1 Hình ảnh làng quê và nông thôn trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều

Việt Nam là một đất nước nông nghiệp trồng lúa nước, do vậy cư dân phần lớn sống ở nông thôn Làng quê chính là địa bàn cư trú, là nơi gắn bó cả cuộc đời với người dân Hơn nữa, làng quê trở thành cái nôi, là điểm tựa để con người ta bước vào đời Nó cũng đồng thời là nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn

qua các thời kỳ Trong văn học dân gian không gian làng quê chiếm ưu thế Con người trong ca dao sinh hoạt trong cảnh làng quê, gắn bó với cây đa, giếng nước, đồng ruộng,… Gắn liền với không gian đó là những nhân vật chân chất mộc mạc như anh trai cày, cô thôn nữ, đứa trẻ chăn trâu Những con người này bày tỏ tâm tình trong khung cảnh làng quê bình dị Đến văn học trung đại, không gian làng quê cũng xuất hiện nhiều trong thi ca Các nhà thơ tìm về làng quê làm thú vui cho mình như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến Còn trong văn học hiện đại, không gian làng quê rất phong phú và mang nhiều màu sắc khác nhau ở các trào lưu văn học Ta bắt gặp một làng quê bình dị, tĩnh lặng và rất thơ mộng trong sáng tác của các nhà văn “Tự lực văn đoàn” Một bức tranh quê trong Thơ mới buồn mà đẹp ở thơ Anh Thơ, Huy Cận, Hàn Mặc Tử… Còn làng quê trong trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 không còn cái yên ả nữa mà nhốn nháo bởi tiếng trống giục nộp sưu thuế, hay hoang vắng, xơ xác, tiêu điều như trong sáng tác của Nam Cao Tất cả những điều đó đã diễn tả cuộc sống đói nghèo không lối thoát của người dân lao động lúc bấy giờ

Ngày nay xã hội đang từng bước phát triển về mọi mặt, sự phát triển nhiều mặt của đời sống xã hội cũng đã mở ra nhiều đề tài mới mẻ cho đời sống văn học

Và vì vậy, với con mắt tinh tế nhạy cảm, mỗi nhà văn lại chọn cho mình một vùng thẩm mỹ riêng Song trong dòng chảy của cuộc sống hối hả, xô bồ đó cũng có những nhà văn dường như lại muốn quay trở lại với cuộc sống bình dị yên ả nơi

Trang 28

làng quê Với nhà văn Nguyễn Quang Thiều cũng vậy, rời bỏ thành thị phồn hoa, nhộn nhịp, ông đã trở về với làng quê bằng sự lắng đọng của tâm hồn, bằng sự gợi dẫn của kỷ niệm và sự khơi gợi của ký ức Nhà văn Nguyễn Quang Thiều luôn gắn

bó với làng quê nơi ông sinh ra và lớn lên Làng quê trong các sáng tác của ông vừa thực vừa ảo, vừa gần, vừa xa, bởi đó là hình ảnh của ký ức còn lưu giữ lại được nơi

nhà văn Với ông: “Phải rời bỏ cố hương là một điều bất hạnh Đôi khi đối với một

số người, nó giống như một cái chết”(Giống như một cái chết)[63, tr 254]

2.1.1 Không gian làng quê trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều

Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều thấm đượm hương vị làng quê Cái tên được ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong truyện ngắn của mình: làng Chùa - nơi gắn bó với tuổi thơ ông Trong dòng ký ức về làng quê những hình ảnh đã trở thành

ấn tượng không thể phai mờ trong tâm trí của nhà văn là hình ảnh dòng sông quê hương và những đêm trăng

Hình ảnh dòng sông, những cánh đồng và những đêm trăng đã trở thành vùng thẩm mỹ nhạy cảm nhất, sâu sắc nhất không chỉ trong văn xuôi mà cả thơ trong thơ của Nguyễn Quang Thiều Trong thơ của ông hình ảnh dòng sông, cánh đồng và những đêm trăng xuất hiện với tần xuất khá lớn và để lại dư âm trong lòng bạn đọc về nét đẹp của làng quê trong thời hiện đại Những hình ảnh đó không chỉ được hiện lên với vẻ đẹp gần gũi, thân quen mà thiêng liêng và mang đậm màu sắc tâm linh, tôn giáo Cánh đồng khôn chỉ là nơi trở về, nơi gắn bó với những kỉ niệm tuổi thơ mà còn là nơi ẩn giấu những điều thiêng Con sông không chỉ là nơi chứng kiến bao mối tình, bao cảnh đời mà còn là nơi thanh lọc tâm hồn sau những giông bão đời sống, đồng thời là nơi tái sinh những vẻ đẹp kỳ diệu nhất trong đời sống tinh thần Tất cả những nội dung này cũng được Nguyễn Quang Thiều thể hiện trong các sáng tác văn xuôi của ông Điều đó cho người đọc thấy sự tương đồng, nhất quán giữa thơ và văn xuôi của ông

Hình ảnh dòng sông xuất hiện trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều nhiều lần như một sự ám ảnh nghệ thuật Khảo sát tập truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều, chúng tôi nhận thấy có khoảng 15 truyện ngắn có sự hiện diện của dòng sông Trong các tập ký hình ảnh dòng sông cũng xuất hiện nhiều lần Đây không chỉ là

Trang 29

dòng sông Đáy đã gắn bó với nhà văn suốt thời thơ ấu mà còn là dòng sông tâm tưởng, dòng sông ký ức, hiện lên với muôn sắc màu, dáng vẻ như là một biểu tượng

để nhà văn thể hiện ý đồ của mình

Trong các truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều, dòng sông Đáy không chỉ trĩu nặng phù sa châu thổ mà còn là dòng sông chở nặng yêu thương, nghĩa tình Không gian dòng sông luôn là không gian ẩn chứa ngững kí ức nơi con

người ta sinh ra, lớn lên, là nhân chứng cho những mối tình… Ở Mùa hoa cải bên

sông “Chinh - đứa con gái duy nhất của ông đã sinh ra trên chiếc thuyền này, trên dòng sông này Ngày Chinh ra đời ông cắt rốn thả xuống dòng sông và cầu nguyện cho con… Chinh lớn lên khoẻ mạnh dịu dàng và âm vang như dòng sông Cô thừa hưởng sắc đẹp dịu dàng của mẹ, sự dũng cảm của cha và sự bí ẩn của dòng sông” [61, tr 31 - 32] Dòng sông làm tôn lên vẻ đẹp kỳ diệu của

con người Đặc biệt, Nguyễn Quang Thiều miêu tả dòng sông như một sinh thể

sống động, có hồn:“Con sông Đáy mùa nước cạn thắt co lại, gầy mảnh mà giờ

đây dềnh lên đẩy đôi bờ hút xa”(Khúc hát của dòng sông) [61, tr 294] Vào mùa

lũ, dòng sông dâng lên nghiêng ngả, trong tiếng cựa mình lớn lên Có khi

“Con sông Đáy trong mưa bụi và sương sớm trông như một dòng sữa” [61, tr 105]

Dòng sông gắn bó mật thiết với cuộc đời mỗi con người Mùa hè, mọi người

thường ra sông tắm mát Sơn“như nghe thấy tiếng sông chảy Tiếng chảy dịu

dàng như làm tan đi những mệt mỏi, u buồn Anh cởi áo, bước từng bước xuống dòng sông Nước sông đang chầm chậm dưng lên cơ thể anh Anh nhoài người bơi… Cứ thế anh cứ tan vào nước sông thênh thang trôi” (Người nhìn thấy mặt trăng) [61, tr 260] Còn Chinh cũng thích thả mình xuống dòng sông vào

những đêm mùa hạ: “Cô bơi mềm mại như một nàng tiên cá trong truyện cổ Đâu

đây có những đàn cá lấp lánh trăng xuyên qua mặt nước bơi theo cô Thỉnh thoảng cô co người lại, hai tay bó gối để cho cơ thể tuổi dậy thì lóng lánh như giọt thuỷ ngân lắng dần xuống đáy sông” (Mùa hoa cải bên sông) [61, tr 32] Hơn thế,

dòng sông trở thành nơi hò hẹn, nơi chứng kiến tình yêu và in dấu hạnh phúc lứa

đôi Trong Người nhìn thấy mặt trăng, dòng sông là nơi gặp gỡ giữa Sơn và

người con gái bí ẩn Sơn bị mù đã ba năm nay, anh đã không còn được nhìn thấy

Trang 30

ánh trăng nữa Thế rồi vào một đêm trăng sáng anh đã xuống dòng sông tắm Chính nơi đây anh đã gặp một cô gái có cùng cảnh ngộ với mình cũng đi tắm vào những đêm trăng mùa hạ Dòng sông trong cảm nhận của họ thật đẹp Nhìn xa

“sông như không còn đôi bờ đất nữa Nước sông như đang dâng ngập cả đất trời hay đó là ánh trăng chảy giàn giụa xóa đi mọi giới hạn” [61, tr 261 - 262] Lại

gần “dòng sông như một dòng ánh sáng chói loà và trong dòng nước ấy có những

con cá làm bằng pha lê” [61, tr 262] Dòng sông càng thi vị hơn vào những đêm

trăng Đây không còn là dòng sông thực mà là dòng sông trong tâm tưởng Đối

với Chinh và Thao trong truyện Mùa hoa cải bên sông, dòng sông là nơi ghi dấu kỷ niệm buồn vui “Những đêm trên dòng sông dịu dàng chảy, họ quấn quýt với nhau

như một đôi cá thần Dòng sông bí mật truyền vào cuộc đời họ sức mạnh hạnh phúc và khổ đau” [61, tr 40] Còn Thuỳ và Đán trong Tiếng gọi cuối mùa đông

cũng chọn dòng sông làm nơi bày tỏ tình cảm chân thực của mình Lúc này

dòng sông đối với họ không phải là dấu hiệu của sự ngăn cách: “giữa dòng sông

họ không nhận thấy đôi bờ nữa Họ thấy dòng sông đang dâng lên Con thuyền đang dâng lên mãi những vì sao khuya như không có thật” (Tiếng gọi cuối mùa đông) [61, tr 114] Tình yêu say đắm giữa Hưng và Lựu trong truyện ngắn Đêm cá

đẻ cũng tìm đến dòng sông để làm nơi hò hẹn Trong giây phút hạnh phúc nhất “Họ thấy họ rơi vào lơ lửng vào dòng sông Đáy trong tiếng mưa hân hoan bất tận và trong thế giới biền biệt của nước đang chảy tưng bừng ra biển” (Đêm cá đẻ) [61,

tr 211 - 212]

Có khi dòng sông trở nên đằm sâu, lắng đọng hơn với những suy tư Sông là nơi con người ta tìm về sao bao bươn bả, lo toan Con người tìm đến dòng sông không phải tìm kế sinh nhai mà chủ yếu để thả hồn mình vào sông nước Sông

như người bạn thân thiết để chia sẻ những buồn vui Nhân vật Thuỳ trong Tiếng

gọi cuối mùa đông đã tìm được sự gắn bó thân thiết với dòng sông: “Chiều chiều sau một ngày làm việc mệt nhọc chị thường ra bờ sông và nhìn ra bờ bên kia Chị say sưa ngắm nhìn những sợi khói xanh bay lên từ những vòm cây um tùm, xanh thẳm Những đàn trâu tắm trên sông Những con thuyền lửng lờ trôi dọc dòng sông trong sắc chiều tím như những quả dâu chín” (Tiếng gọi cuối mùa

Trang 31

đông) [61, tr 106] Dòng sông là ranh giới ngăn cách giữa hai làng quê nhưng với

Thuỳ luôn cảm thấy có sự gần gũi Chị nhận thấy như có một sợi dây vô hình nối chị với bờ bên kia Còn đối với Đán, con sông quê hương là nơi để anh tìm về, nơi

có người mẹ già và cô gái anh yêu đang ngày đêm ngóng trông chờ đợi Nhân vật

May trong truyện Gió dại khi biết sự thật về thân phận của mình thì đã ra đi, tìm đến với dòng sông “Sông chảy phờ phạc… Sông thì thào kể cho cô nghe về bố cô

- một người đàn ông hầu như suốt đời không nói” [61, tr 64] Và chính nơi dòng

sông này cô đã gặp được mẹ đẻ của mình sau hai mươi năm xa cách Dòng sông

là nơi hội ngộ, là nơi May tìm thấy tình cảm thiêng liêng nhất của đời mình - tình mẫu tử Dòng sông trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều còn là sự ngưng

tụ của thời gian Khi biết được niềm hạnh phúc thiêng liêng của con người thì

“dòng sông chợt ngừng chảy, im phắc, lắng nghe cô rồi trào lên những ngọn sóng reo vui, nhảy với nhau loan báo cho các loài thuỷ tộc biết điều hạnh phúc liêng liêng” (Mùa hoa cải bên sông) [61, tr 40] Có những thời khắc tưởng chừng

như nước ở dòng sông không bao giờ chảy nữa Đó là lúc dòng sông biết được nỗi

đau và sự mặc cảm của con người “Dòng sông chợt lặng phắc như không còn

một giọt nước sau câu nói của Sơn” [61, tr 260] Rồi đến “dòng sông lại lặng phắc sau câu nói của cô gái” (Người nhìn thấy mặt trăng) [61, tr 260]

Dòng sông cũng có thể là “dòng sông nước mắt”, bởi nơi đây diễn ra bao cuộc chia tay Xưa nay, dòng sông và bến đò là biểu tượng của sự chia li cách trở Dòng sông của Nguyễn Quang Thiều cũng không nằm ngoài ý nghĩa truyền thống

đó Thao và Chinh trong Mùa hoa cải bên sông đã dũng cảm vượt lên những định

kiến vô lý bất nhân để bảo vệ tình yêu Nhưng cũng chính trên dòng sông tình yêu, họ đã mất nhau Dù Thao đã lao vào cuộc hành trình dọc dòng sông Đáy nhưng vẫn không tìm thấy Chinh Có thể chàng trai đã thất vọng nhưng anh không

hề tuyệt vọng Bởi cái mà anh theo đuổi là một khát khao rất người “dòng sông

bí mật truyền vào cuộc đời họ sức mạnh hạnh phúc và khổ đau” [61, tr 40]

Cuộc sống đã đem đến cho anh hy vọng khi một buổi sáng dậy sớm anh thấy “Suốt

cả bãi sông làng anh rực vàng hoa cải Những bông hoa cải nhỏ nhắn, mềm mại,

ấm áp đung đưa trong gió …” (Mùa hoa cải bên sông) [61, tr 47] Ký ức dòng

Trang 32

sông đối với ông Cầm trong Giấc mơ hoa cỏ trắng vừa hạnh phúc, vừa khổ đau

Dòng sông là nơi gặp gỡ, nên duyên và hạnh phúc của đời ông Một buổi sáng ra bến đò để sang sông có việc, ông đã gặp và yêu một cô gái làng Lai Tảo bên sông Nhưng khi ông tham gia hoạt động cách mạng thì ở nhà vợ ông mò hến ở sông bị cảm và chết ngay ở đó Từ đây, dòng sông gợi lại cho ông kí ức buồn Dòng sông cũng là nơi tiễn đưa những người lính vào mặt trận Ân và Mật trong

Hai người đàn bà xóm Trại đã tiễn đưa chồng của họ vượt sông Đáy về phía Miếu

Môn Và rồi dòng sông ấy trở thành dòng sông kỷ niệm, nó cứ loang ra, loang mãi trong kí ức của bà lão Mật Do đó chỉ cần một cử động nhỏ của tiếng cá quẫy sát

bờ cũng làm đánh thức cả một trời quá khứ trong bà “ Bà từ từ ngồi xuống nhìn

dòng sông trong đêm Nơi đây, mấy chục năm về trước bà đã tiễn chồng theo bộ đội sang sông Và cũng chính nơi đây bà đã tiễn Bấc đi trong lần người lính ghé qua nhà không gặp vợ mình… Bao nhiêu kỉ niệm mờ đi theo tuổi tác, nhưng những đêm như thế vẫn bám dai dẳng trong ký ức bà lão Mật” [61, tr 149] Ký

ức về dòng sông không chỉ đối với người ở lại mà cả đối với người ra đi Người lính vào chiến trường mang theo cả dòng sông ký ức Dòng sông Đáy là hình ảnh của quê hương - nơi có người vợ đang ngày đêm ngóng đợi Trong thư gửi cho

Ân đầu năm 1968, Bấc nói anh đang đóng quân ở Quảng Bình bên cạnh một dòng sông đẹp như dòng sông Đáy quê anh Dòng sông quê hương luôn là điểm tựa tâm hồn của những người xa xứ

Dòng sông trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều gắn với những huyền

tích của câu chuyện cổ Truyện Khúc hát của dòng sông gắn liền với huyền thoại

về Trương Chi - Mị Nương Không gian được thi vị hoá, trở nên hư ảo, mông lung khi lồng vào đó những giấc mơ của nhân vật Nhân vật như đang sống giữa hai bờ hư - thực Dòng sông lúc này được phủ lên một lớp sương khói và ảo ảnh

Ở đây không gian nghệ thuật của tác phẩm được bao phủ màu sắc huyền thoại với câu chuyện lạ kỳ ấy Điều này tạo nên chất thơ cho truyện ngắn Chất thơ ấy còn được tô đậm khi nhà văn miêu tả âm thanh của dòng sông Dòng sông không chỉ đẹp, thơ mộng mà còn chứa nhiều điều bí ẩn Sông như biết hết mọi điều về cuộc đời và con người, thậm chí còn hiểu cả nỗi day dứt, dằn vặt của con người May

Trang 33

trong truyện ngắn Gió dại tìm ra bến sông khi biết rằng người đàn bà xưa nay cô

gọi là mẹ không phải là mẹ ruột của cô Sông đã thì thào kể cho cô nghe về bố cô - một người đàn ông hầu như suốt đời không nói Nhưng cô không nghe lời sông

và quyết đi tìm mẹ Sau bao nhiêu va vấp cám dỗ của cuộc đời, cô đã gặp được người mẹ của mình ở bến sông này sau hơn hai mươi năm xa cách Còn Thuỳ

trong Tiếng gọi cuối mùa đông luôn ám ảnh bởi tiếng “ơ…ơ…ơ…” của một ai

đó trên chiếc thuyền dọc dưới bến sông âm vang da diết và rạo rực khôn cùng

Dòng sông tiếp lấy tiếng “ơ ơ…ơ…”, nửa như một câu hò, nửa như một tiếng gọi

và chở mãi ra biển Thuỳ ngồi dậy trong đêm, càng ngày chị càng nghe rõ hơn tiếng chị âm thầm và đau khổ Đôi lúc chị thấy tiếng gọi ấy như của bà mẹ lúc như của Đán, đôi lúc như của dòng sông Tiếng gọi ấy làm chị thổn thức và thôi

thúc chị đến một quyết định: “Ngày mai, mẹ sẽ đưa các con về bên sông với

bà” [61, tr 117] Ở đây âm thanh dòng sông có một vai trò quan trọng Nó vang

vọng, ngân xa và tạo nên vẻ đẹp huyền bí cho dòng sông Dòng sông như mênh mông hơn, bát ngát hơn và bí ẩn hơn khi có những âm thanh như thế

Trong văn học Việt Nam, có lẽ không chỉ Nguyễn Quang Thiều ám ảnh về

dòng sông Nhà thơ Tế Hanh đã từng có “một dòng sông quê hương xanh biếc” Còn nhà thơ Hoàng Cầm nổi tiếng với dòng sông Đuống “nằm nghiêng nghiêng

trong kháng chiến trường kỳ” Và ta cũng đã từng biết đến con sông Đà của

Nguyễn Tuân“tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn

hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở như hoa ban, hoa gạo” Hoàng Phủ Ngọc

Tường lại mãi luyến lưu dòng Hương Giang diễm lệ Nhưng có thể nói rằng, Nguyễn Quang Thiều được nuôi dưỡng bởi dòng sông Đáy quê ông Dòng sông Đáy gắn bó với cuộc sống của bao con người làng Chùa Đó là nơi mưu cầu cuộc sống, mưu cầu hạnh phúc, là nơi diễn ra những mối tình trai gái đầy lãng mạn Dòng sông không chỉ bồi đắp phù sa châu thổ cho ruộng đồng mà còn nuôi dưỡng tâm hồn con người, là nơi để con người tĩnh tâm để tìm lại được chính mình Sự gắn

bó máu thịt ấy giải thích vì sao hình ảnh dòng sông, con thuyền lại đi vào trang viết của ông vừa mang vẻ dịu dàng, mượt mà lại ẩn chứa bao nỗi niềm trắc ẩn đến vậy

Trang 34

Không chỉ xuất hiện trong truyện ngắn, hình ảnh dòng sông còn xuất hiện trong các tác phẩm ký của Nguyễn Quang Thiều Trong dòng kí ức và thậm chí là cả trong những giấc mơ hình ảnh dòng sông luôn hiện hữu và đó luôn là những kỉ niệm

đẹp đối với nhà văn: “Chưa bao giờ tôi thấy dòng sông Đáy hiện lên như đêm nay

Hai bờ sông ảo huyền sương khói như chốn thiên thai Cả dòng sông như một dòng vàng lấp lánh trôi và tỏa hương ngào ngạt” (Giấc mộng tôi kể không phải là một giấc mộng) [63, tr.94]

Bên cạnh hình ảnh dòng sông, trong dòng ký ức của nhà văn về làng quê luôn tràn ngập ánh trăng Trong văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều, ánh trăng hiện lên như một huyền thoại, lung linh ngời sáng, đài các lộng lẫy giữa trời nước mênh mông, giữa những con người làng Chùa có tâm hồn bay bổng đầy yêu thương

Không gian làng quê thơ mộng hơn khi có ánh trăng xuất hiện “Trăng muộn

đổ ánh sáng lành lạnh Những cây thông non mới len ngang đầu người túa những chùm lá dưới trăng như những chùm kim thâu.” (Ngựa trắng) [61, tr

156] Cảnh vật vào những đêm trăng lung linh hơn, huyền ảo hơn “Vào những

đêm trăng mùa hạ, cô (Chinh) thích thả mình xuống dòng sông Cô bơi mềm mại như một nàng tiên cá trong truyện cổ Đây đây có những đàn cá lạ lấp lánh trăng xuyên qua mặt nước bơi theo cô Thỉnh thoảng cô co người lại, hai tay ôm bó gối

để cho cơ thể tuổi dậy thì lóng lánh như giọt thuỷ lắng dần xuống đáy sông”

(Mùa hoa cải bên sông) [61, tr 32] Hay trong Thông điệp từ một đêm trăng nhà văn viết: “Làng quê trong đêm trăng yên tĩnh trở nên huyền bí và mênh mang vô tận

Trăng vằng vặc trên sân nhà soi rõ cả những con kiến lang thang trong đêm ”

Hơn nữa ánh trăng còn tôn lên vẻ đẹp của con người Dưới ánh trăng,

Chinh hiện lên với một vẻ đẹp thật lạ lùng khiến cho chàng trai phải tự hỏi: “Sao

trong đêm trăng tĩnh lặng trên bãi sông ở một làng quê hẻo lánh lại xuất hiện một cô gái đẹp như thế? Chợt những làn mây mỏng tan đi Ánh trăng trong veo

đổ tràn trên gương mặt cô… Chiếc áo tối màu và vầng trăng làm ngời lên bàn tay, cái cổ thon và gương mặt đẹp…” (Mùa hoa cải bên sông) [61, tr 36] Một lúc sau

Thao mới nhận ra mái tóc như thiên thần của cô: “Có lẽ mái tóc ấy đã từ vầng

trăng chảy xuống” [61, tr 37] Còn trong truyện Chạy trốn khỏi vầng trăng,

Trang 35

nhân vật tôi - đồng thời là người kể chuyện - nhớ về một đêm trăng hai năm về

trước: “Đêm ấy trăng sáng quá Ánh trăng rời rợi soi rõ từng chiếc gân lá xanh

mỡ màng Đêm ấy trăng sáng lạ lùng Khi đến đầu ngõ thì một làn gió mỏng trong trăng thoảng về…Trăng đưa hương nấm bưởi đến với tôi Hai cánh tay trần của em như tạc bằng hai mảnh trăng mười sáu Em mỉm cười nhìn tôi Hàm răng của em như cũng làm bằng mảnh trăng ấy… Giọng em nói nhỏ lắm, tưởng như không có trăng thì tôi không nghe được… Còn đôi mắt em trong đêm như khoảng tối của vầng trăng khuyết” [61, tr 361] Trong không gian kỳ ảo ánh

trăng, cảnh vật hiện lên thật lung linh, huyền ảo, con người cũng ngời sáng như những thiên thần

Trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều ánh trăng không chỉ làm nền để

con người xuất hiện mà còn là tác nhân của tình cảm Trong truyện Mùa hoa cải

bên sông ánh trăng đã dẫn đường để Thao gặp được Chinh Giữa khung cảnh thần

tiên của một đêm trăng vắng lặng nơi làng quê bình dị, hai con người ấy đã đến với nhau Họ đứng nhìn nhau trong ánh sáng mờ mờ của trăng bị mây mỏng che khuất Thao đã chọn đêm trăng để bày tỏ tình yêu của mình - một tình yêu trong trắng, nguyên sơ và trọn vẹn Lúc này ánh trăng là chứng nhận cho tình yêu của

Thao và Chinh Sơn và cô gái trong truyện Người nhìn thấy mặt trăng đến với

nhau được là nhờ ánh trăng Sơn bị hỏng mắt từ ba năm nay - ba năm anh sống

trong bóng tối Nhưng qua câu nói của các cô gái đi làm đồng về “đêm nay có

trăng” [61, tr 259] làm Sơn chợt tỉnh Câu nói đó như một tiếng gọi, như một sự

thôi thúc dẫn anh đến một hành động táo bạo đối với người khiếm thị: tắm sông vào ban đêm Chính ở đây, Sơn đã gặp một cô gái cũng đi tắm sông Đêm ấy, anh

được nghe cô gái kể về vầng trăng: “Bầu trời mênh mang Trăng như đang trôi

miên man, và hình như có những âm thanh như tiếng chuông bạc, chuông vàng mỏng tang đang trôi bất tận không bến bờ Sông như không còn đôi bờ đất nữa Nước sông dâng ngập cả đất trời hay đó là ánh trăng chảy giàn giụa xoá đi mọi giới hạn Và lại gần, lại gần, dòng sông như một dòng ánh sáng chói loà Và trong dòng nước ấy có những con cá làm bằng pha lê…”(Người nhìn thấy mặt trăng) [61, tr 261 - 262] Trăng trong cảm nhận của cô gái thật là đẹp và thơ

Trang 36

mộng Điều đặc biệt, cô gái này bị mù từ nhỏ, cô chưa một lần nhìn thấy ánh sáng, đặc biệt là ánh trăng Tuy vậy cô vẫn cảm nhận về ánh trăng thật sinh động

và gợi cảm Cô đã tưởng tượng, hình dung và say sưa kể về ánh trăng với ngập tràn cảm xúc và suy tư Trăng đã đánh thức cảm nhận tinh tế của con người Cảm nhận ấy đã đưa lại những trang viết về trăng rất thi vị và độc đáo Đây chính là nơi chất thơ của truyện ngắn có sức lan toả, thấm sâu vào tâm thức người đọc Có thể nói rằng, đến với truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều, ta không chỉ bắt gặp vầng trăng thực mà còn cảm nhận được vầng trăng trong tâm tưởng, nó đánh vào cảm xúc, thức dậy những rung động sâu xa trong lòng người đọc

Vầng trăng cũng là một biểu tượng biểu hiện thời gian Những đêm trăng là

thời điểm để các chàng trai, cô gái hẹn hò, gặp gỡ Trong truyện Người đàn bà

tóc trắng, Mô đã hẹn gặp Gừng vào lúc trăng lên “Đêm ấy trăng sáng lắm Ánh trăng chui qua khe cửa gỗ cũ hắt vào nơi Gừng nằm… Đêm càng trôi trăng càng sáng” [61, tr 94] Ánh trăng thôi thúc giục giã khiến cô không thể nằm yên được

nữa Cô quyết định ra góc vườn để gặp Mô Khi ở trong vòng tay của Mô, tựa vào lòng Mô, cô chợt nhận thấy trăng thật đẹp Đối với cô, đêm ấy là một đêm trăng thật hạnh phúc, thật sự viên mãn và tràn đầy Cô thấy ánh trăng đêm như một dòng nước đang tan chảy trên da thịt Hơn nữa, đêm trăng ấy đã làm thay đổi cuộc đời của cô Từ đây, Gừng thoát khỏi cảnh “ăn nhờ ở đậu” để đến với một cuộc đời hạnh phúc

Trong cuộc đời mỗi con người có rất nhiều khoảnh khắc đáng nhớ Nhiều khi chính đêm trăng đã đóng vai trò ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ đó Đối

với gia đình ông Lư trong Mùa hoa cải ven sông thì “khi vầng trăng cuối tháng

hiện lên ven chân trời thì chiếc thuyền từ bãi Yên trở về làng Chùa” [61, tr 31]

là thời điểm đáng nhớ nhất, thiêng liêng nhất Bởi đây là ngày cả gia đình ông nghỉ làm để đến bãi Yên sửa sang ngôi mộ cho người vợ quá cố của ông Trong

truyện Người thổi kèn lá dứa, nhân vật xưng “tôi” vẫn nhớ mãi ngày chia tay với chị Ty Bởi “đêm chị rời làng tôi ra đi là một đêm trăng” [61, tr 331] Đó

là một đêm mùa hạ đầy gió “Tôi đâu có biết rằng, đêm chia tay ấy là đêm đầu tiên

và cũng là đêm cuối cùng tôi thực sự có chị” [65, tr 332] Còn ông Miêng trong

Trang 37

truyện Lời hứa của thời gian lại ký ức về một đêm trăng đầy đau thương và mất mát trong chiến tranh:“Đêm ấy, trời đầy sao… và trong ánh sáng mờ của sao và

vầng trăng đầu tháng ông nhận ra đồng đội ông đang nằm như ngủ bình yên trên đỉnh đồi” [61, tr 315 - 316] Cả tiểu đội của ông chiến đấu anh dũng và đã hy

sinh Họ trở về đất với mẹ thật thanh thản dưới ánh sáng của vầng trăng Đêm trăng

ấy thôi thúc ông trồng thông phủ kín cả khu đồi Những đêm trăng sáng ông thường ngồi im lặng nhìn đỉnh đồi Mây lững lờ bay qua đỉnh đồi trong ánh trăng non Những đêm như thế ông nghe tiếng đồng đội gọi mình Ở đây ta bắt gặp sự trỗi dậy kỳ diệu của một sức sống bất diệt đã chiến thắng sự chết chóc, ảm đạm Ánh trăng sáng cũng chính là ánh sáng của niềm tin, của hy vọng, của sự mong mỏi chờ đợi vào một tương lai tốt đẹp hơn Hơn nữa đó còn là ánh sáng của tình thương, tình đồng đội cao cả, thiêng liêng

Vầng trăng ký ức thật sự sống động trong truyện Chạy trốn khỏi vầng

trăng qua sự hồi tưởng của nhân vật tôi - đồng thời cũng là người kể chuyện

Trong truyện ngắn này hình ảnh đêm trăng được lặp lại nhiều lần như một sự mờ

ảo xa xôi Mạch truyện được viết theo dòng cảm xúc về ánh trăng của nhân vật

tôi.“Đêm ấy tôi đã ngửa mặt nhìn trăng Ánh trăng chảy giàn giụa trên mặt tôi”

[61, tr 361] Đêm trăng ấy khởi đầu cho mọi hạnh phúc và khổ đau Ánh trăng như xoá đi mọi mặc cảm tội lỗi và giới hạn Nó còn là cho con người sống thực với lòng mình Đêm trăng ấy đã rũ sạch bụi bặm trên trái đất, nó còn xoá hết mọi ranh giới của sự mặc cảm và đau buồn Ánh trăng dẫn đường để con người tìm đến với nhau, cảm thông, chia sẻ Lúc này, hơn bao giờ hết, trăng là chứng nhân cho hai con người, hai tâm trạng Trong quan niệm của mọi người ngày ấy, họ là người

có tội Một thầy giáo đến giúp đỡ con em liệt sĩ và đã yêu thương người vợ cô đơn

vì mất mát Nhưng ánh trăng là minh chứng cho họ Trong hoàn cảnh ấy con người rất cần sự yêu thương và chia sẻ Đó chính là tình cảm chân chính của con người Ánh trăng vốn có vẻ đẹp kỳ diệu, thiêng liêng và bí ẩn, nó làm cho con người mất đi ý niệm về thời gian Trong buổi họp để xét kiểm điểm, Huy đã

nhìn “ánh nắng như ánh trăng sáng loà… Trước mắt tôi lúc đó không có ông hiệu

trưởng, không có đại diện chính quyền Chỉ có ánh sáng chảy miên man trên da thịt

Trang 38

tôi, chỉ có âm thanh “mang… mang” lạ lùng, kỳ diệu” [61, tr 369] Huy đã phải

“chạy trốn khỏi vầng trăng” để sống với vầng trăng trong ký ức Ở nơi hang sâu,

Huy nghĩ về quá khứ và suy ngẫm về cuộc đời: “Tôi cố lí giải xem trong ánh

trăng chứa đựng tố chất gì… và cái âm thanh “mang…mang” kia là thứ ngôn ngữ gì mà vừa gần gũi vừa linh thiêng đến thế” [61, tr 375] Và khi con người

sắp từ giã với đời lại có một mong ước thật giản dị: “Tôi thèm khát được đi

trong những đêm trăng, hít thở được hương thơm của nấm bưởi em gội tóc” [61,

tr 375] Cuối cùng, anh cũng gặp trăng: “Trăng thật gần gũi mà xa vời Giản dị

và bí hiểm Ánh trăng len lỏi vào từng chân tóc hôi hám của tôi Lặng lẽ ngấm vào da thịt tôi như nước thấm vào chân cỏ … Tôi nằm thanh thản trong ánh trăng tràn ngập không gian như chú bống nhỏ nằm trong dòng suối đầu nguồn, trong vắt… Và đêm đêm trăng sẽ thong thả rót thứ ánh sáng kỳ diệu ấy vào từng ống xương tôi như người ta rót rượu đỏ vào từng chiếc sừng trâu trong ngày lễ hội… Hình như tôi gọi vầng trăng Hơi thở cuối cùng mỏng như đôi cánh bay ra khỏi ngực tôi Nó tan vào trong tiếng trăng lung linh, dào dạt” [61, tr 375] Nhân

vật “tôi” đã chạy trốn khỏi vầng trăng nhưng cuối cùng lại bắt gặp nó và trong giây phút sắp phải từ giã cõi đời, tâm hồn“tôi” như được hồi sinh trước vầng trăng thật kỳ diệu Truyện đã xoáy sâu vào về một kiếp người muốn tìm nguồn sống, nguồn hạnh phúc cho mình nhưng rốt cuộc người đội lốt thú suốt đời phải sống chui lủi, bất hạnh, suốt đời khát khao hạnh phúc lứa đôi vào cuộc sống gia đình Đó là niềm khát khao trở lại làm người để có thể mang lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác

Ánh trăng trong những trang viết của Nguyễn Quang Thiều là ánh trăng thôn quê với vẻ đẹp nguyên sơ, trong trẻo chứ không phải là ánh trăng giữa khung cảnh ồn ào, náo nhiệt của phố phường, hay ánh trăng bị va đập bởi những nhà cao tầng chót vót hoà lẫn với ánh sáng chói loà của điện Trong đêm khuya yên tĩnh,

êm ả giữa thiên nhiên thơ mộng, trăng càng lung linh, huyền ảo hơn Có thể nói rằng, trăng làm cho con người thổn thức và cảm nhận tinh tế hơn Nếu như vầng trăng ấy bị khuất lấp giữa bức tranh quê thì không gian làng quê sẽ thật tẻ nhạt biết bao Dẫu cũng viết về ánh trăng nhưng ở mỗi nghệ sỹ lại có cách thể hiện

Trang 39

riêng Với Nguyễn Quang Thiều, trăng đã tạo nên một không gian làng quê thơ mộng, nơi có những mối tình trong trẻo dưới trăng Đúng như nhà văn Sêkhốp nhận

xét: “Anh có thể viết hay về một đề tài đã cũ mèm như viết về ánh trăng, miễn là biết

nhìn ra trong ánh trăng một cái gì của mình mà không phải một cái gì đã quá nhàm”

2.1.2 Hình ảnh làng Chùa – nguồn cảm hứng sáng tạo của nhà văn

Nguyễn Quang Thiều sinh ra ở làng Chùa bởi vậy đối với ông làng Chùa là nơi thân thiết, là cội nguồn bám sâu vào tiềm thức, vào cảm hứng sáng tác

và trở thành đề tài luôn được nói đến trong các sáng tác của ông Làng Chùa chính

là nơi lưu giữ những trầm tích văn hóa còn lại, những phong tục và thậm chí cả những hủ tục, lề thói, nếp sống của người làng quê Đó cũng chính là nơi những người nông dân sinh ra và lớn lên, nơi gắn liền, chứng kiến những đổi thay của cuộc sống với biết bao thăng trầm Đây là nơi được nhà văn nhắc đi nhắc lại rất nhiều

lần: “Làng tôi tên xưa gọi là làng Chùa, tuy bây giờ trong khai sinh, trong lý lịch

người ta đều đề là sinh quán Hoàng Dương nhưng dân làng tôi đi đâu bị khảo cũng xưng là người làng Chùa Gọi là Chùa vì trước kia những ngôi chùa chiếm một phần ba làng… Làng tôi nằm bên sông Đáy” (Con chuột lông vàng) [61 Tr 74-76]

Làng Chùa còn được Nguyễn Quang Thiều thể hiện một cách sắc nét trong nỗi nhớ quê da diết của nhân vật tha hương Chính ở đây, chúng ta thấy được những nét tình cảm cao đẹp của con người dành cho quê hương và đồng loại Ta bắt gặp nỗi nhớ

quê sâu lắng của Bấc trong Hai người đàn bà xóm Trại Mặc dù anh đang đóng

quân ở Quảng Bình nhưng lòng luôn hướng về dòng sông Đáy quê hương Bởi nơi

ấy đang có người vợ đang ngóng trông, chờ đợi Những người xa quê dù không gian

xa hay gần đều nhớ và khao khát được trở về quê Ngay như chính bản thân nhà văn

trong những chuyến đi xa ông luôn đau đáu nhớ về quê hương Với ông: “Phải rời

bỏ cố hương là một điều bất hạnh Đôi khi đối với một số người, nó giống như một cái chết”(Giống như một cái chết (Giấc mộng thứ ba)) Nhà văn cũng đã nói: Mỗi

kỷ niệm đi qua trong đời họ đều sống dậy và hiện lên trong những dòng suy nghĩ Những kỷ niệm tưởng chừng nhỏ bé, tầm thường nhưng lại đưa con người ta vào mong ước sống tốt đẹp hơn Quê hương là nơi trở về sau bao vất vả, gian nan, là cội nguồn, là nơi trú ngụ cuối cùng của con người Quê hương thật sự sống dậy với hồi

Trang 40

ức của hàng loạt nhân vật trong các truyện Cô tôi, Người thổi kèn lá dứa, Khúc hát

của dòng sông, Gió dại, Người đi chợ Vừng… Những truyện ngắn này đều mang

tính chất tự truyện bộc lộ tâm tình của nhà văn Nguyễn Quang Thiều không chỉ ghi lại kỷ niệm mà còn sống với những kỷ niệm đó với một tâm trạng vừa bồi hồi, vừa nuối tiếc, vừa xót xa Lẽ ra những kỷ niệm êm đềm này chỉ dành cho thơ nhưng ở đây lại được mô tả thật cảm động trong truyện ngắn Với lối viết thuần cảm xúc, đạt được sự hồn nhiên tươi trẻ, truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều thực sự có được chất thơ trầm lắng Mọi tình tiết trong từng tác phẩm không bị chi phối bởi tính chất sự kiện mà được bộc lộ tự nhiên, tự tại Nhiều lúc cảm xúc tâm tình của nhà văn được dàn trải trực diện trên từng con chữ Chất thơ của tác phẩm được chắt lọc từ cảm xúc chân thực, hồn nhiên, trong sáng, dung dị của người cầm bút

Có thể nói rằng, trên từng trang viết của Nguyễn Quang Thiều đều thấm đượm hương vị làng quê - một làng quê êm đềm đầy ắp tình đời và tình người Đây

là xứ sở của hoa, của trăng và của dòng sông thơ mộng Làng Chùa của Nguyễn Quang Thiều cũng như phố huyện Cẩm Giàng của Thạch Lam, làng Mỹ Lý của Thanh Tịnh, làng Cầm của Trần Tiêu, Nghĩa Đô của Tô Hoài, quê ngoại của Hồ Dzếnh… Tất cả đọng lại trong ký ức của mỗi người với bao tình yêu thương và những kỷ niệm êm đềm của đời mình Những kỷ niệm, hay nói đúng hơn là những hoài niệm được tâm hồn nhạy cảm của nhà văn – thi sĩ cảm nhận và diễn tả thật tinh

tế và gợi cảm

Ký ức về làng quê êm đềm còn được bộc lộ rõ nét qua lăng kính tuổi thơ Nhắc đến những kỷ niệm ấu thơ, Nguyễn Quang Thiều đã viết về những ấn tượng đáng nhớ nhất Đó là những ấn tượng ngọt ngào gắn với quê hương, với làng Chùa

Truyện ngắn Người thổi kèn lá dứa ghi lại một kỷ niệm thời thơ ấu Kỷ niệm ấy gắn

với chị Ty và chiếc kèn lá dứa Trên mặt đê làng, chị đã lấy lá dứa dại làm hai cái kèn Hai chị em đều đưa chiếc là kèn dứa lên thổi, hai tiếng kèn lá dứa hoà vào nhau

u trầm đổ từ mặt đê xuống triền bãi dài bất tận Kỷ niệm đẹp nhưng buồn bởi sau đó chị Ty mất vì tai nạn ô tô Và rồi kỷ niệm ấy ăn sâu vào tiềm thức và theo nhà văn suốt cuộc đời Bên cạnh đó, trong nhiều tác phẩm ký nhà văn cũng ghi lại những kỷ

Ngày đăng: 26/05/2017, 09:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003
2. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí văn học, (Số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1998
3. Nguyễn Minh Châu (1987), Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, Văn nghệ, (49 - 50) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
4. Diễm Chi (2008), Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Chỉ có con người làm khổ con người, Báo phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: Chỉ có con người làm khổ con người
Tác giả: Diễm Chi
Năm: 2008
5. Lê Tư Chỉ (1996), Để phân tích truyện ngắn, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để phân tích truyện ngắn
Tác giả: Lê Tư Chỉ
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1996
6. Trần Cương (2001), Sự vận động của thể loại văn xuôi trong văn học thời kì đổi mới, Tạp chí văn học nghệ thuật, (Số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động của thể loại văn xuôi trong văn học thời kì đổi mới
Tác giả: Trần Cương
Năm: 2001
7. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2005
8. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2007), Truyện ngắn Việt Nam - Lịch sử, thi pháp, chân dung, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Việt Nam - Lịch sử, thi pháp, chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2007
9. Hà Minh Đức (1998), Văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1998
10. Hà Minh Đức (2002), Những thành tựu trong văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Văn học, (Số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Những thành tựu trong văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 2002
11. Hà Minh Đức (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, đồng chủ biên (2009), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2009
13. Lê Bá Hán, Hà Minh Đức (1973), Cơ sở lý luận văn học, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn học, tập 2
Tác giả: Lê Bá Hán, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1973
14. Nguyễn Văn Hạnh (1987), Đổi mới tư duy khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật, Tạp chí Văn học, (Số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tư duy khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1987
15. Võ Thị Hảo (1999), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
16. Nguyễn Thị Hiền (2005), Nguyễn Quang Thiều trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam sau 1975, Luận văn Thạc sỹ Ngữ Văn, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Thiều trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2005
17. Đỗ Đức Hiểu (2004), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn Hà Nội
Năm: 2004
18. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2000
19. Phan Thị Hoài (1990), Trích hội thảo về tình hình văn xuôi hiện nay, Văn nghệ, (Số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trích hội thảo về tình hình văn xuôi hiện nay
Tác giả: Phan Thị Hoài
Nhà XB: Văn nghệ
Năm: 1990
20. Nguyễn Huy Hoàng (1984), Về thể loại truyện ngắn, Văn nghệ quân đội, (Số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thể loại truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Năm: 1984

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w