1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật người kể chuyện trong tiểu thuyết ba người khác của tô hoài

73 1K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân vật người kể chuyện trong tiểu thuyết ba người khác của tô hoài
Tác giả Hoàng Thị Huần
Người hướng dẫn TS. Hoàng Mạnh Hùng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 477,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Túm lại, chỳng tụi chọn đề tài: “Nhõn vật người kể chuyện trong tiểu thuyết Ba người khỏc của Tụ Hoài” trước tiờn bởi niềm say mờ tỏc giả cựng với những đúng gúp đỏng quý của ụng cho văn

Trang 1

Trêng §¹i häc Vinh khoa ng÷ v¨n -*** -

Hoµng ThÞ HuÇn

Nh©n vËt ngêi kÓ chuyÖn trong

tiÓu thuyÕt ba ngêi kh¸c cña t« hoµi

1.1 Tô Hoài – một cây đại thụ văn học Việt Nam hiện đại, vào nghề từ tuổi

20, nay ông bước sang tuổi 90 nhưng sức sáng tạo còn rất dồi dào Giờ đây, TôHoài vẫn là một nhà văn sung sức Hơn nửa thế kỉ qua, Tô Hoài có mặt đều đặn

Trang 2

sộ Tớnh đến thời điểm này ụng đã cho cụng bố trờn 175 đầu sỏch với nhiều đềtài, thể loại khỏc nhau Về mặt số lượng, tỏc phẩm của Tụ Hoài vào loại bậcnhất cỏc nhà văn hiện đại, riờng điều đú đó rất đỏng trõn trọng Nhưng quý hơnnữa, là ở mỗi đề tài, thể loại tỏc giả đều đem lại những đúng gúp đỏng ghi nhận.

Tụ Hoài là một tài năng lớn, một cõy bỳt xuất sắc thuộc thế hệ cỏc nhà văntiền chiến, gúp phần hiện đại hoỏ nền văn xuụi quốc ngữ ễng “là một tỏc giả lớn của nền văn xuụi Việt Nam hiện đại thế kỉ XX”

Tụ Hoài – một tấm gương sỏng về tinh thần lao động, về cụng phu rốnluyện tay nghề “khỏm phỏ về ụng cả về văn, cả về đời là một niềm say mờ đốivới chỳng ta, những người cú hạnh phỳc được cựng thời với ụng, và chắc cả thế

hệ sau Khỏm phỏ về ụng là cả một vấn đề khoa học lớn lao…”[ , ]

1.2 Tụ Hoài là một trong những tỏc giả lớn được chọn để giảng dạy trongchương trỡnh mụn văn ở trường phổ thụng, việc nghiên cứu Tô Hoài sẽ gópphần nâng cao hiệu quả giảng dạy đồng thời giúp học sinh có đợc cái nhìn baoquát,toàn diện và sâu sắc hơn về nhà văn này

1.3 Tỏc phẩm của Tụ Hoài đều đạt được những giỏ trị đớch thực trong hơn

60 năm qua Nhưng trong thực tế, mảng sỏng tỏc thời kỡ sau 1975, đặc biệt là

tiểu thuyết Ba ngưũi khỏc là tỏc phẩm gõy nhiều tranh cói và ra mắt bạn đọc hơi

muộn Vỡ thế mà giỏ trị của tỏc phẩm này cũn chưa hoặc ít được khỏm phỏ Túm lại, chỳng tụi chọn đề tài: “Nhõn vật người kể chuyện trong tiểu

thuyết Ba người khỏc của Tụ Hoài” trước tiờn bởi niềm say mờ tỏc giả cựng với

những đúng gúp đỏng quý của ụng cho văn xuụi hiện đại Việt Nam Đồng thờicũng bởi đề tài này cũn là chỗ bỏ ngỏ trong việc nghiờn cứu tỏc giả Tụ Hoài.Chỳng tụi thực hiện khoỏ luận này với mong muốn sẽ gúp một phần sức mỡnh(dự rất nhỏ) vào việc khỏm phỏ những giỏ trị đớch thực của tỏc phẩm Tụ Hoài

để nhỡn nhận nhà văn này toàn diện hơn, thấu đỏo hơn, để cho chỳng ta hiểu TụHoài khụng chỉ là nhà văn của thiếu nhi, nhà văn của miền nỳi mà cũn là nhà

Trang 3

văn của những người nông dân Để cho việc học và tìm hiểu tác phẩm Tô Hoàisâu sắc và bao quát hơn.

Vì những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nhân vật người kể

chuyện trong tiểu thuyết Ba người khác của Tô Hoài”

2 §èi tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu.

Trong tác phẩm, mọi sự biểu hiện miêu tả đều từ tác giả mà ra, song

để tạo nên hình tượng nghệ thuật, tác giả thường tạo ra những kẻ môi giới,đứng ra kể chuyện, quan sát miêu tả Có thể gặp trong tác phẩm người trầnthuật (thường kể theo ngôi thứ ba) và người kể chuyện (thường kể theo ngôithứ nhất xưng “tôi”) Người kể chuyện thường đồng thời là nhân vật Sự phânchia này chØ lµ tương đối và thuần tuý mang tính íc lÖ vì nhà văn chọn cách nào

có hiệu quả cao nhÊt cho ý đồ nghệ thuật cuả mình

Từ trước đến nay đã có rất nhiều người mổ xẻ các tác phẩm của Tô Hoàikhông nhằm ngoài mục đích hiểu rõ hơn về những giá trị độc đáo của nhà văntài năng này Người ta đã xuất phát từ những điểm khác nhau và đi vào nhiều

vấn đề khác nhau, chúng tôi xét thấy nhân vật “tôi” trong tiểu thuyết Ba người

khác của Tô Hoài là một vấn đề rất hấp dẫn Vì vậy đối tượng mà chúng tôi đi

sâu và khai thác là “nhân vật người kể chuyện trong tiểu thuyết Ba người khác

của Tô Hoài”

2.2 Phạm vi nghiên cứu.

Do sự hấp dẫn và cần thiết bởi vấn đề đã nêu, chúng tôi đã thực hiện đề tàikhoá luận này Thực tế sáng tác của Tô Hoài rất phong phú nhưng do khuôn

khổ đề tài có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu trong tiểu thuyết Ba

người khác của ông.

3 Lịch sử vấn đề

Trang 4

Tụ Hoài là một nhà văn tài năng và là một tấm gương sỏng về lao độngnghệ thuật Đến nay ụng đó cú trờn 175 đầu sỏch được xuất bản Nhưng số bàiviết nghiờn cứu về Tụ Hoài chưa thật phong phỳ và chưa tương xứng với tầmvúc của một nhà văn như ụng Theo thống kờ số lượng bài viết, nghiờn cứu về

Tụ Hoài mới chỉ dừng ở con số 60, trong đó tập trung nghiờn cứu sỏng tỏc của

Tụ Hoài sau cỏch mạng (khoảng 50 bài viết) Để cú cỏi nhỡn đầy đủ hơn về tỡnhhỡnh nghiờn cứu sỏng tỏc của Tụ Hoài và để phục vụ cho vấn đề nghiờn cứu,chỳng tụi tạm chia lịch sử nghiờn cứu sỏng tỏc củaTụ Hoài thành hai thời kỡ:trước và sau cỏch mạng

3.1.Tỡnh hỡnh nghiờn cứu Tụ Hoài trước cỏch mạng Thỏng Tỏm

Bước vào làng văn năm 1940, Tụ Hoài đó cú nhiều tỏc phẩm đăng trờn Tiểu

thuyết thứ bảy nhưng chưa cú thành tựu Thực ra là hiện thực đời sống xó hội

lỳc bấy giờ đó cú nhiều nhà văn tờn tuổi viết về quờ hương với những ngườidõn quờ.Cú thể kể đến những cõy bỳt tiờu biểu của đề tài này:Nguyờn Hồng,Nguyễn Cụng Hoan, Nam Cao…khiến cho cái tờn Tụ Hoài lạ lẫm xuất hiệnchưa được chỳ ý Chớnh vỡ thế, tỡnh hỡnh nghiờn cứu về đề tài này khụng nhiều.Trong số cỏc bài viết hiếm hoi ấy,đỏng chỳ ý là bài viết của Vũ Ngọc Phan:

“Tụ Hoài- Nguyễn Sen”

Trong bài viết này ụng chủ Hà Nội tõn văn với “ con mắt xanh” tinh tường

đó sớm nhận ra những ưu thế đặc biệt của Tụ Hoài ở thể loại tiểu thuyết ễngviết khi mở đầu bài nghiờn cứu của mỡnh: “Tiểu thuyết của Tụ Hoài cũng thuộctiểu thuyết tả chõn như tiểu thuyết của Nguyễn Cụng Hoan nhưng tụ Hoài cúkhuynh hớng thiờn về xó hội” Và “ễng tỏ ra là một nhà văn tiểu thuyết cú conmắt quan sỏt xuất sắc”

Như vậy chỉ trong một bài viết ngắn Vũ Ngọc Phan đó giới thiệu Tụ Hoàinhư một nhà văn đầy tài năng Tuy nhiờn điều này mới chỉ mang tớnh phỏt hiện

Trang 5

mà chưa có sự nghiên cứu toàn diện để thấy được những đóng góp của Tô Hoàitrước cách mạng tháng Tám.

3.2.Tình hình nghiên cứu Tô Hoài sau cách mạng tháng Tám

Cách mạng tháng Tám thành công đã tạo ra bước ngoặt sáng tác của nhà văn

Tô Hoài nhanh chóng hoà mình vào không khí cách mạng và phản ánh kịp thờinhững vấn đề của hiện thực cuộc sống bấy giờ Tô Hoài viết ngày càng sungsức và đạt được nhiều thành tựu Chính vì thế, nhiều sáng tác của Tô Hoài đãđược giới nghiên cứu văn học và độc giả chú ý Đã có hơn 50 bài viết về đề tàimiền núi-mảng sáng tác đặc biệt thành công cña T« Hoµi

Chúng tôi xin dẫn ra một số bài nghiên cứu tiêu biểu thời kỳ này:

1 Phong Lê (1999), “Tô Hoài- sáu mươi năm viết”,Tô Hoài về tác giả, tác

6 Trần Hữu Tá (1990), “Tô Hoài”, VHVN 1945-1975, tập 2, Nxb GD.

7 Vũ Xuân Quế (1990), “Ngôn ngữ một vùng quê trong sáng tác ®ầu tay

của Tô Hoài”, Tạp chí văn học, số 5.

8 Nguyễn Đăng Mạnh (2000), “Tô Hoài với quan niệm: con người là con

người”, Nhà văn Việt Nam hiện đại ( Chân dung và phong cách), Nxb

tuổi trẻ Tp HCM

Trang 6

Có thể nói sau cách mạng tháng Tám, Tô Hoài đã gặt hái được rất nhiềuthành công về đề tài miền núi Chính vì vậy mà hầu hết các bài tiểu luận,nghiên cứu trên đều tập trung khai thác đặc sắc về mặt nội dung mà tác giả đãthực sự đạt đến độ chín của nó Tuy nhiên, cái làm nên thành công của Tô Hoàikhông chỉ dừng lại ở mặt nội dung mà còn là sự kết hợp với một nghệ thuậtđiêu luyện Và cái điêu luyện sắc sảo ấy ngày càng được mài sắc, tinh rèn Ở

các sáng tác sau 1975, mà đặc biệt là tiểu thuyết Ba người khác mà chúng tôi

đề cập tới vẫn còn rất ít người chú ý hoặc chưa thấy hÕt được giá trị của nó Tuy vậy, những bài viết, đánh giá của người đi trước một mặt giúp chúng tôithấy được những gì họ đã làm, đồng thời chúng tôi có thể tìm ra những gợi ý quýbáu để tiếp tục đi vào tìm hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về đối tượng nghiên cứu

Ba người khác từ khi mới ra đời đã gây nhiều tranh cãi một phần do hoàn

cảnh lịch sử, thêm nữa ẩn sau tác phẩm là những giá trị nghệ thuật mà bạn đọccũng như giới nghiên cứu luôn muốn khám phá Chính vì lẽ đó chúng tôi cũng

không nằm trong ngoại lệ Nhân vật người kể chuyện trong tiểu thuyết Ba

người khác là một thành công đặc biệt trong sáng tác của ông sau 1975 mà

chúng tôi rất quan tâm Thông qua đề tài, chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp mộtphần mới mẻ vào việc nghiên cứu Tô Hoài mà vấn đề này trước đó chưa được

đề cập đến, từ đó có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về Tô Hoài – cây đại thụcủa nền văn học Việt Nam hiện đại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Có cái nhìn khái quát về Tô Hoài cũng như hành trình sáng tạo của ông

4.2 Thấy được vị trí của tiểu thuyết Ba người khác trên hành trình sáng tạo

của Tô Hoài Đồng thời tìm ra những đặc sắc nghệ thuật, đặc biệt là việc xâydựng nhân vật người kể chuyện độc đáo trong tác phẩm

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

Nhằm thực hiện các nhiệm vụ đã nêu trên và xây dựng hoàn chỉnh nội dungkhoá luận, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp chủ yếu sau: đọc, liệt

kê, phân tích, hệ thống hoá để rút ra kết luận phù hợp với mục đích nghiên cứu

6.Cấu trúc khoá luận

Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài mở đầu, kết luận vµ tµiliÖu tham kh¶o, khoá luận được triển khai trong ba chương

Chương 1: Tiểu thuyết Ba người khác trên hành trình sáng tạo của Tô

Hoài Chương 2 : Điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện trong tiểu thuyết

Ba người khác của Tô Hoài

Chương 3 : Ngôn ngữ của nhân vật kể chuyện trong tiểu thuyết Ba người

khác

CHƯƠNG 1

TIỂU THUYẾT BA NGƯỜI KHÁC TRÊN HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO

CỦA TÔ HOÀI

Trang 8

1.1 Vài nét về tiểu sử

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen Sinh ngày 27/9/1920 (tức 16 – 8 Canhthân) Ông trở thành người trong cuộc của tất cả các hiện tượng chủ yếu củavăn học Việt Nam hiện đại: nhà văn tiền chiến, nhà văn kháng chiến, nhà vănhậu chiến và thậm chí cả nhà văn đương đại

Quê nội: thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc

Hà Nội) Sinh ra và lớn lên ở quê ngoại: làng NghÜa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh HàĐông cũ – nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội

Bút danh Tô Hoài gắn với 2 địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức củaquê ngoại

Ông có nhiều bút danh khác: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, HồngHoa (dùng cho viết báo)

Tô Hoài xuất thân trong một gia đình làm nghề thủ công nghèo.Học hếtbậc tiểu học; sau đó vừa tự học, vừa đi làm để kiếm sống: thợ thủ công, dạy học

tư, bán hàng, kế toán hiệu buôn…

Những sáng tác đầu tay của Tô Hoài được in trên Hà Nội tân văn và Tiểu

thuyết thứ bảy của Vũ Ngọc Phan vào cuối những năm 30

Năm 1938, trong thời kì Mặt trận dân chủ, Tô Hoài tham gia phong trào

Ái hữu thợ dệt, làm thư kí ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông Rồi tham giaphong trào Thanh niên phản đế Năm 1943, gia nhập tổ Văn hoá cứu quốc đầutiên ở Việt Nam

Năm 1945, Tô Hoài tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội Sau đó, thamgia phong trào Nam tiến; rồi lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc, chủ nhiệm Cứuquốc Việt Bắc, chủ bút tạp chí Cứu quốc Từ 1951 về công tác ở Hội văn nghệViệt Nam

Sau ngày hoà bình lập lại, trong Đại hội nhà văn lần thứ nhất, 1957 ôngđược bầu làm tổng thư kí của Hội Từ 1958 đến 1960 ông tiếp tục tham gia Ban

Trang 9

chấp hănh, rồi Phó tổng thư kí Hội nhă văn Việt Nam Từ 1966 đến 1996: Chủtịch Hội văn nghệ Hă Nội

Tô Hoăi còn tham gia nhiều công tâc xê hội khâc: đại biểu Quốc hội khoâVII, phó chủ tịch uỷ ban đoăn kết  – Phi, phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt -Ấn;

uỷ viín Ban chấp hănh Hội hữu nghị Việt – Xô …

1.2 Câc giai đoạn sâng tâc

1.2.1 Tô Hoăi trước câch mạng Thâng Tâm

Tô Hoăi đến với nghề viết văn khâ sớm Mười bảy, míi tâm tuổi ông đê

có một số sâng tâc thơ đăng trín Tiểu thuyết thứ bảy (Tiếng reo, Đan âo …)

Những băi thơ non nớt về nghệ thuật như thế đê giúp ông hiểu mình vẵng đê sớm chuyển hướng Từ giê vườn thơ, ông đến với cânh đồng văn xuôi,

từ chđn trời lêng mạn, ông đến với chủ nghÜa hiện thực tỉnh tâo tuy vẫn mangchất trữ tình

Vốn sinh ra trong một gia đình thủ công nghỉo, lại sống trong môi trườngNghĩa Đô, những con người cần lao chất phât, những cảnh đời điíu đứng, cùngquẫn Một câch tự nhiín, Tô Hoăi đê chuyển ngòi bút của mình sang mảng hiệnthực Ngoăi ra phải nói đến ảnh hưởng của phong trăo mặt trận dđn chủ §«ngDương vă tiếp đó lă tâc động của tổ chức Hội văn hoâ Cứu quốc đê khuyếnkhích Tô Hoăi thím quyết tđm đi văo chủ nghĩa hiện thực

Nước lín – truyện ngắn đầu tiín ghi nhận sự chuyển biến của Tô Hoăi,

đăng trín Hă Nội tđn văn Ông miíu tả nhiều cảnh được chứng kiến trong

chuyến đi hộ đí ở Tứ Tổng: cảnh canh đí, câc gia đình ven sông Hồng điíuđứng trong mùa nước

Có thể kể những tâc phẩm chính của Tô Hoăi in thănh sâch trong giai

®o¹n năy: tập truyện ngắn O Chuột (1942), Nhă nghỉo (1942); tiểu thuyết Dế

Mỉn phiíu lưu kí (1941), Giăng thề (1942), Quí người (1942), Xóm giếng ngăy xưa (1944), Cỏ dại (1944).

Trang 10

Nghiên cứu sáng tác của Tô Hoài giai đoạn này không thể không nhắc tới

Dế Mèn phiêu lưu kí, thiên đồng thoại xuất sắc viết cho thiếu nhi, truyện thế

giới loài vật Cuốn tiểu thuyết đã khẳng định tiếng nói đặc sắc cũng như vị trívăn học độc đáo của ông trong sinh hoạt văn học đương thời cũng như tronglịch sử văn học lâu dài sau này

Dế Mèn phiêu lưu kí thu hút đối tượng bạn đọc, có sức chiếm lĩnh rộng

lớn Tuổi thơ bị lôi cuốn bởi cốt truyện kì thú lạ lùng, giàu tính kịch, pha trộn

cả hiện tthực và huyền thoại, bởi thế giới loài vật bé nhỏ gần gũi: chµng DếMèn hùng dũng, đường hoàng, đáng yêu; anh Dế Trũi cần cù, chung thuỷ; bácXiến tóc trầm lặng, chán đời; các chị Cào Cào ồn ào, duyên dáng; cô Nhà Tròyếu đuối, đáng thương; võ sĩ Bọ Ngựa kiêu căng, ngạo mạn; Bác Cóc huênhhoang, dở hơi; Ếch Cốm đại vương khệnh khạng, thông thái giả,… ngần ấy convật đông đúc, nhếch nhác mà sinh động, quen thuộc đấy mà sao vẫn làm ta ngỡngàng Mỗi con vật đem lại cho trẻ nhỏ những hứng thú độc đáo, bồi đắp chocác cháu trí tưởng tượng phong phú, cách quan sát hóm hỉnh, vốn từ ngữ giàu

có và chính xác Không những thế đối tượng bạn đọc nhỏ tuổi còn có thể nhậnthấy được ở đây một số bài học đạo đức đơn giản nhưng góp phần hình thànhnhân cách tốt đẹp cho các em Còn đối với lớp người đọc lớn tuổi vẫn yêu tácphẩm vì những giá trị trên nhưng mặt khác còn suy ngẫm về những vấn đềthuộc quan niệm về nhân sinh sâu sắc

Dế Mèn phiêu lưu kí là tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài, nó thể hịên tập

trung nhất những mặt mạnh của một cây bút sở trường về miêu tả phong tụccủa nông thôn Việt Nam thông qua xã hội loài vật Sự ngỗ nghịch ăn năn thì đãmuộn rồi của Mèn gây nên tai hoạ cho chàng Dế Choắt, cảnh Mèn bị làm tròcho trẻ con, cuộc phiêu lưu ba chìm bảy nổi của Mèn và Dế Trũi, cảnh tranhhùng với võ sĩ Bọ ngựa… liên tiếp đem lại sự khoái trá và cuốn hút người đọc

Tô Hoài có tài dựng cảnh Ông thường có thói quen chấm phá các cảnh vật

Trang 11

bằng những chi tiết chọn lọc, rồi vẩy hồn mỡnh vào đấy, khiến cho cảnh vậthiện lờn lung linh sõu sắc.

Tỏc phẩm cũn chứng tỏ khả năng quan sỏt tinh tế mà kỹ lưỡng của TụHoài Phải cú con mắt tinh tường như vậy mới cú thể dựng dậy hỡnh ảnh convật một cỏch sắc nột như thế

Tụ Hoài là một nhà văn viết cho thiếu nhi với tất cả trỏch nhiệm, với niềmsay mờ và tõm huyết của mỡnh Mảng đề tài này đó gúp phần chứng minh chophong cỏch đa dạng và ngũi bỳt tài hoa của ụng

Sỏng tỏc của Tụ Hoài trước cỏch mạng bờn cạnh mảng đề tài viết chothiếu nhi rất thành cụng, cũn phải kể đến mảng viết về mỡnh-hồi ức mà tiờu

biểu là cỏ dại (1944).

Hồi ức Cỏ dại mang đậm chất tự truyện, biểu hiện khả năng ghi nhận sự

sống và bản lĩnh nghề nghiệp của Tụ Hoài Cỏ dại là một ỏng văn hay và cảm

động làm chỳng ta ngạc nhiờn vỡ tỏc giả cú thể viết hay đến thế về mỡnh, để quamỡnh mà hiểu đời, hiểu người, hơn thế, hiểu cả một thời

Viết hồi ức ở độ tuổi hai mươi nhưng tuổi thơ với những rung động cựcđiểm của nú đó lụi cuốn ngời đọc một cỏch hồn nhiờn và dung dị, làm nờn sứchấp dẫn tuyệt vời của tỏc phẩm

Bờn cạnh hai mảng đề tài trờn, trước cỏch mạng Tụ Hoài cũn dành nhiều

trang văn viết về quờ hương như: Nhà nghốo (1942), Quờ người (1942), Xúm

giếng ngày xưa (1944) Những trang viết này phần nào làm rừ nột đặc sắc của

ngũi bỳt Tụ Hoài trước cỏch mạng thỏng Tỏm: một tõm hồn gắn bú với quờnghốo, hiền hoà, bỡnh lặng, với những người ỏo nõu, chõn lấm ễng biết tỡm cỏiđẹp, cỏi giản dị trong khung cảnh đơn sơ rất đỗi Việt Nam, trong những conngười chất phỏc, nghĩa tỡnh và thụng cảm với niềm vui, nỗi đau thường trực củahọ

1.2.2 Tụ Hoài sau cỏch mạng thỏng Tỏm

Trang 12

Đối với Tô Hoài, cách mạng Tháng Tám đánh dấu một bước chuyển biếntrong tư tưởng và sáng tác So với nhiều nhà văn hiện thực khác, Tô Hoàikhông dừng lại quá lâu ở tâm trạng phân vân Nếu Nguyễn Công Hoan, NgôTất Tố, Nguyên Hồng và nhiÒu người khác nữa, chuyển sang cách mạng, bướcvào kháng chiến toàn quốc, còn tỏ ra lúng túng, chưa viết được hoặc viết khônghay lắm về cuộc sống mới, thì Tô Hoài có thể viết được tương đối thành côngmột số truyện, ký ng¾n góp phần vào bước chuyển chung của văn xuôi sau cáchmạng.

Những năm kháng chiến chống Pháp, cùng với Nam Cao, Tô Hoài đi vàođời sống các dân tộc ở Việt Bắc, tìm hiểu, miêu tả cuộc sống của họ Và sự đổimới trong sáng tác của ông trứơc hết là đổi mới cả về đề tài và chủ đề Với vốnliếng cũ nhưng nhận thức mới cùng với cái nhìn tỉnh táo, sắc sảo, Tô Hoài đã từcuộc sống quẩn quanh, chật hẹp của một vùng dân nghèo thợ thủ công , màchuyển sang cảnh sống rộng lớn tưng bừng của nhiều lớp người ở nhiều địaphương, hào hứng đi theo cách mạng và tham gia kháng chiến, trong đó nổi bật

là cuộc sống với những sự đổi thay, cách mạng của đồng bào các dân tộc thiểu

sè.Tập truyện Núi cứu quốc (1948) bước đầu chứng tỏ những kết quả của Tô

Hoài Một sáng tác khác cũng đáng chú ý của Tô Hoài vào thời kỳ đầu là

Ngược Sông Thao (1949) viết về chiến dịch mùa hè của quân dân Tây Bắc.

Năm 1950, tác giả viết phóng sự Đại đội Thăng Bình ca ngợi tinh thần vượt

khó khăn và dũng cảm chiến đấu của một đại đội độc lập hoạt động ở vùngđịch hậu với nhiệm vụ gây dùng phong trào du kích, quấy rối địch, giam chânđịch lại một chỗ Năm 1951, sau chiến dịch giải phóng Biên Giới, tập truyện

Xuống làng được xuất bản Cũng trong năm 1951, để phục vụ kịp thời chính

sách thuế nông nghiệp, Tô Hoài viết truyện ngắn Chính phủ tạm vay

Cuối năm 1953, Truyện Tây Bắc ra đời đánh dấu bước phát triển mới của

Tô Hoài về cả hai mặt tư tưởng và nghệ thuật Tập truyện gồm ba truyện ngắn:

Trang 13

Cứu đất cứu mường, Mường Giơn, Vợ chồng A phủ Tập truyện nhằm phản ánh

cuộc đấu tranh giai cấp của nhân dân các dân tộc miền núi chống chế độ áp bứccủa phong kiến, thùc dân, đồng thời ca ngợi cách mạng đã giải phóng cho nhândân Tây Bắc thoát khỏi cuộc đời tối tăm, ca ngợi những con người miền núi,nhất là lớp thanh niên đã vùng dậy làm chủ cuộc sống của mình, ca ngợi tinhthần đoàn kết giữa các dân tộc

Quá trình viết của Tô Hoài trong cách mạng tháng Tám vµ trong khángchiến chống Pháp thể hiện khá rõ sự phấn đấu của nhà văn theo yêu cầu cáchmạng Tuy vậy con đường viết văn của ông không tránh khỏi những vấp váp,quanh co Những chuyển biến mới của đời sống sau này khi hòa bình lập lại,nhất là khi miền Bắc bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, có làm cho nhà

văn bỡ ngỡ Tiểu thuyết Mười năm (1958) phần nào cho thấy những hạn chế

của Tô Hoài giai đoạn này Trong Mười năm có nhiều đoạn miêu tả sự việc một

cách tự nhiên chủ nghĩa Cảnh nạn đói năm 1945 hiện ra rất thê thảm nhưngcũng có gì ghê rợn Người ta chưa thấy tác giả qua việc miêu tả nạn đói mà gâyđược căm thù đối với phong kiến thực dân

Đến 1967, chúng ta mới lại được đọc một tiểu thuyết mới của Tô Hoài:

Miền Tây Tác phẩm miêu tả những thay đổi lớn lao về mọi mặt của người dân

Tây Bắc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Ở đây, ta được thấy cả

một nguồn ánh sáng trước đây mới le lói trong Mường Giơn, Vợ chồng A Phủ.

Nhưng cuộc sống vẫn còn khó khăn và cuộc đấu tranh giai cấp vẫn còn tiếp

diễn Cũng như Truyện Tây Bắc, trong Miền Tây, Tô Hoài vẫn sắc sảo trong

những trang miêu tả cảnh tối tăm của người dân miền núi trước cách mạng BàGiàng Súa khổ vì chồng chết trong khi đi phu cho quan Bà còn khổ vì dân làng

mê muội , tin lời quan cho là chồng bà phải ma chài nªn xa lánh bà đến nỗi mẹcon bà phải sống cô độc , chui rúc trong rừng sâu Bà còn khổ vì đứa con đầulòng là Thào Nhìa bị bắt đi phu Cách mạng thành công, bà sung sướng được

Trang 14

trở về sống trong tình thương và sự đùm bọc của bà con Bà tự hào vì sự trưởngthành của hai con bà là Thào Khay và Thào Mị Nhưng vẫn còn một nỗi buồncanh cánh vì một đứa con là Thào Nhìa đi nhầm đường

Cuốn sách cho thấy ánh sáng cách mạng chan hòa trên khắp mọi nẻo củavùng cao Nhưng trong bước đầu xây dựng một cuộc sống mới vẫn còn nhiềukhó khăn do đời sống kinh tế thấp kém và do sự phá phách của bọn phản động

Nhìn chung Miền Tây cho ta thấy bức tranh rộng lớn của miền núi trong buổi

đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Tô Hoài đã thành công khi miêu tả vẻ đẹp củacách mạng và những đổi thay giữa hai chế độ Ông cũng đã nêu lên đượcnhững mặt khó khăn phức tạp trong bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ởmiền núi Tuy vậy, phần miêu tả khí thế tưng bừng trong công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền núi và hình ảnh con người mới xã hội chủ nghĩa vẫn

chưa thật rõ nét hẳn trong bức tranh chung của Miền Tây.

Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ ( 1971) tiếp tục phương hướng cố gắng của Tô

Hoài trong yêu cầu xây dựng những hình ảnh con người cách mạng miền núivới vẻ đẹp toàn diện Trong tiểu thuyết này, Tô Hoài đã cố gắng dựng lên hìnhảnh người chiến sĩ cách mạng tiêu biểu cho lứa tuổi trẻ miền núi quyết tâm gác

bỏ hạnh phúc gia đình, quyết vượt mọi khó khăn, gian khổ để theo lý tưởng

Nếu như trong Núi cứu quốc”, Truyện Tây Bắc, Miền Tây đã có hình ảnh

những cán bộ miền núi từ bóng tối thoát ra và trưởng thành dưới sự lãnh đạo

của Đảng thì trong Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ tác giả đã hướng về lớp người tiên

phong, đi trước vạch đường chỉ lối cho dân Với họ, cách mạng đã gieo mầm,

và với họ, miền núi đã trở thành cái nôi của cách mạng Tuy vậy, Tuæi trẻ

Hoàng Văn Thụ vẫn chưa phải đã gây được một ấn tượng sâu sắc trong bạn

đọc Nhân vật chính ở đây chưa được thể hiện đậm nét do chưa được soi chiếutrên nhiều góc độ Không khí các mạng, bối cảnh cách mạng của Lạng Sơn-Cao Bằng, căn cứ địa nói riêng và của miền núi nói chung, nơi địa đầu đất

Trang 15

nước, nơi in dấu chân bao chiến sĩ cộng sản, cũng chưa thật nổi rõ, làm thànhmột cái nền cho nhân vật chính hoạt động Những mảng sáng trong đời sốngdân tộc vùng cao, trong ý thức của con người vùng cao chưa được khơi sâukhiến cho chủ đề cách mạng chưa trở thành một nét quán xuyến làm tôn nhân

vật chính lên Người đọc qua Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ chưa phải đã dễ dàng

cắt nghĩa ®ược chân dung, tính cách Hoàng Văn Thụ, một cán bộ ưu tú củaĐảng trên lĩnh vực tinh thần, tình cảm và cả về phưong diện trí tuệ cách mạngnữa

Có thể nói, sau cách mạng tháng Tám, Tô Hoài đặc biệt thành công khikhai thác mảng đề tài về miền núi Tác giả đã nỗ lực không ngừng đi sâu khámphá, ghi lại sinh động bằng hình thức nghệ thuật những chặng đường phát triểncủa các dân tộc vùng cao từ cách mạng dân tộc dân chủ đến cách mạng xã hộichủ nghĩa

Bên cạnh chủ đề miền núi được Tô Hoài khai thác đặc biệt thành công thìtác giả cũng luôn cố gắng bồi đắp sáng tạo về chủ đề làng quê Đã từ lâu TôHoài có ý định xây dựng một bộ tiểu thuyết liên hoàn về quê hương Viết xong

Quê người ( 1942), Tô Hoài vẫn tiếp tục ấp ủ nh÷ng suy nghĩ về quê hương.

Vẫn không gian ấy, vẫn mảnh đất của một làng ven thành với nghề dệt cửinhưng ông muốn tìm hiểu, miêu tả nó theo dòng thời gian Trở ngược lại vớinhững năm tháng qua khi quê hương như một thành luỹ nhỏ bắt đầu chống trả

với những thế lực ngoại xâm cũng như theo cho hết dòng thời gian của Quê

người, để ghi lại những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời cũ Khi Quê người

được in ra, Tô Hoài đã giới thiệu trên trang bìa tác phẩm Quê nhà (mà hơn ba

mươi năm sau ông mới viết) Quê nhà (1980) miêu tả về thời kỳ lịch sử khi

quân Pháp đặt chân đến mảnh đất Hà thành và gặp phải sự chống trả quyết liệtcủa nhân dân Việt Nam Tác giả không đi vào mô tả những trận đánh tiêu biểuthời kỳ này của quân lính triều đình, tình trạng Hà thành thất thủ và tấm gương

Trang 16

nghĩa liệt của Hoàng Diệu và những người anh hùng khác Tô Hoài muốn đivào miêu tả mảng chiến tranh nhân dân, những cuộc chiến đấu có tổ chức và tựgiác của những làng ven thành chống lại những thế lực xâm lược Điều đángquý là tác phẩm đã tạo được không khí của làng quê tham gia vào cuộc chiến

đấu với những hình thức linh hoạt của nhân dân Quê nhà chứng minh sự tiếp

nối truyền thống yêu nước từ đời cha ông cho đến thời kỳ hiện đại Những

chuyện trong Quê nhà ở vào một thời kỳ lịch sử chưa xa, nhưng rõ ràng tác giả

cũng không phải là người đồng thời Thế nhưng ông đã cố gắng khắc phục vàđem lại cho tác phẩm cảm hứng lịch sử đúng đắn và không khí xã hội chânthực

Bộ ba tiểu thuyết Quê người (1942), Mười năm ( 1958), Quê nhà (1980)

tuy không được viết ra theo một trật tự gần gũi nhưng có một đường dây nhấtquán về không gian và tiến trình lịch sử Đây là phần đóng góp đáng quý của

Tô Hoài về hình ảnh làng quê Việt Nam trong thế kỷ gần đây

Có thể thấy, Tô Hoài không chỉ là nhà văn có sự trải nghiệm hiện thựccuộc sống mà từ cuộc sống ấy ông luôn biết chắt lọc, khắc họa trên trang viếtmột cách tinh tế sắc sảo Tác phẩm của ông mang dấu ấn đậm nhất phong cách

Tô Hoài- từ văn phong đến con người th©m hậu mà dung dị, thì thầm mà khôngđơn điệu nhàm chán, lan man tí chút nhưng không hề kề cà vô vÞ, một chút “ umặc” với cái giọng khơi khơi mà nói…Và vì thế, đúng như nhà văn nói, sứchấp dẫn chủ yếu là sự chân thật Sức hấp dẫn ấy đã một lần nữa được khẳng

định khi nhà văn cho ra cuốn hồi kí Cát bụi chân ai (1992) lúc tác giả đã ngoại

thất tuần

Tiếp theo mảng viết đặc sắc về chân dung và hồi ức của Tô Hoài, sau Cát

bụi chân ai (1992) thì bảy năm sau tác giả lại cho ra cuốn tiểu thuyết Chiều

chiều (1999) Hai cuốn sách gần như là sự tiếp tục và xen cài nhau trên từng

mảng hồi ức và kỷ niệm của nhà văn; tức là những kỷ niệm gắn với nghề

Trang 17

nghiệp, gắn với đồng nghiệp, gắn với bối cảnh không gian, thời gian được mở

ra khá rộng theo hoạt động và công việc của Tô Hoài

Đọc Cát bụi chân ai, rồi đọc Chiều chiều người đọc luôn luôn được cuốn

hút bởi những gì mới mẻ, không trùng lặp, không nhạt mờ, không kém súttrong cái kho kỷ niệm của nhà văn Chẳng lên giọng, cũng chẳng cần phải ra bộkhiêm nhường, Tô Hoài cứ tự nhiên mà kể những gì mình đã biết, đã trải Trêncái kho ít thấy dấu hiệu vơi cạn đó, Tô Hoài cứ nhẩn nha dắt bạn đọc cùng đivới mình, đến với những gì lạ mà quen hoặc quen mà lạ Và chính với khả nănghoán đổi vị thế ấy mà làm nên sức hút của văn hồi ức Tô Hoài Nói như Phong

Lê: “ Tôi đọc Cát bụi chân ai rồi đọc Chiều chiều với hứng thú không giảm,

nếu không nói là còn tăng Ấy cũng là sự lạ trong cái chu trình nói chung củanghiệp văn Chẳng phải là cá biệt việc những tập hai, tập ba sút hẳn đi trongsức viết khiến cho những bộ sách nhiều tập vào bất cứ thời gian nào ở ta, cũng

đều gây hồ nghi Còn với Tô Hoài đọc xong Chiều chiều, tôi vẫn cảm thấy ông

còn trường vốn để viết Còn bao khoảng sống mà ông chưa viết, hoặc chưa viết

kỹ có dễ sau Chiều chiều vẫn còn những Chiều muộn, Chiều tối…” [12,4 ].

Quả đúng như Phong Lê trong “ Tô Hoài, sáu mươi năm viết” đã đánh giáchính những gì mà Tô Hoài đã trải nghiệm, nhà văn không những tri nhận mộtcách đầy đủ và sâu sắc mà còn bằng tài năng, tâm huyết của mình đã biết cáchtrải lòng mình để cho độc giả cùng cảm nhận, đánh giá những điều mà ôngthấy Và những giá trị mà ông tạo nên không chỉ dừng lại lúc tuổi đời còn sungsức mà nó càng được khẳng định, tinh lọc khi Tô Hoài đã được lên “ lão” Sở dĩchúng ta cần phải khẳng định sự sung sức trong bút lực của Tô Hoài vì nhữngcái mà ông làm được là không thể phủ nhận Điều đó được bạn đọc và giớinghiên cứu rất khâm phục khi “lão Tô Hoài” đã gần bước sang tuổi “cửu thập”

vẫn cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầy giá trị Ba người khác (2006) Cuốn tiểu

Trang 18

thuyết ra đời đã một lần nữa kiểm chứng một cách vững tr·i tâm huyết và tàinăng của cây đại thụ trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại - Tô Hoài.

Nhìn lại một cách khái quát về quá trình sáng tác của Tô Hoài, chúng tađều nhận thấy được ông là nhà văn có sức phấn đấu dẻo dai, bền bỉ để bámchắc vào cuộc sống và tự nâng mình lên không ngừng Với những gì mà ông đãlàm và đạt được, chúng ta đều thấy rằng hiếm có ai trong các nhà văn hiện đại

có thể sánh được với cây bút này

1.3 Vị trí của tiểu thuyết Ba người khác trong văn nghiệp Tô Hoài.

Tô Hoài- cây đại thụ trong khu rừng văn học Việt Nam hiện đại, nói cho

đúng hơn thì thế giới nghệ thuật của ông cũng là cả một cánh rừng với baonhiêu loài thảo mộc lớn nhỏ, đa dạng về chủng loại Nói đến Tô Hoài, ngườiđọc nhớ ngay đến Tô Hoài của những sáng tác về Hà Nội, Tô Hoài với miền

núi Tây Bắc, Tô Hoài của Dế Mèn phiêu lưu ký và những sáng tác cho thiếu

nhi, Tô Hoài của hồi ký tự truyện… Ở phương diện nào, Tô Hoài cũng tạo lậpđược một giá trị riêng, một gương mặt riêng không thể nhoè lẫn Trong cái thếgiới nghệ thuật hết sức đa dạng ấy, về mặt thể loại, không thể không nói đếntiểu thuyết, bên cạnh truyện ngắn, hồi ký, bút ký, chân dung văn hoc

Nếu tính về số lượng thì trong hơn 175 đầu sách của Tô Hoài, tiểu thuyết

và truyện dài chỉ chiếm khoảng 15cuốn, hành trình viết tiểu thuyết của Tô Hoàicũng dài trên suốt gần 70 năm viết của ông cho đến nay, kể từ khi tiểu thuyết

đầu tay Quê người(1942) cho đến cuốn gần đây nhất Ba người khác (2006).

Với thể loại tiểu thuyết, nhà văn Tô Hoài từng được nhận những vinh quang và

cả những cay đắng của người cầm bút Quê người được Vũ ngọc Phan đánh giá cao trong bộ sách Nhà văn hiện đại, tiểu thuyêt Miền Tây (1967) đem đến cho

Tô Hoài giải thưởng Hoa Sen của Hội nhà văn Á- Phi, nhưng Mười năm lại

từng bị chỉ trích gay gắt của một số cây bút phê bình và giới lãnh đạo văn nghệ

Trang 19

đương thời, còn một số tiểu thuyết được tác giả viết với nhiều tâm huyết, côngphu và vốn sống thì lại gặp sự thờ ơ của dư luận

Tô Hoài đến với tiểu thuyết khá sớm, ngay từ chặng đầu sáng tác: Quê

Người in năm 1942, cùng lúc với các tập truyện ngắn O chuột, Nhà nghèo, Giăng thề”…cũng đều khai thác đề tài về cuộc sống và con người ở vùng quê

ven thành của tác giả Có thể nhận ra một đặc điểm này trong hành trình viếtcủa Tô Hoài, với cùng một đề tài ông thường bắt đầu bằng những truyện ngắn,

ký rồi mới tích tụ trong các tiểu thuyết

Nếu các truyện ngắn là những mảnh nhỏ của cảnh đời, những ký họa chândung con người thì truyện dài và tiểu thuyết là cả một dòng sông cuộc đời trôichảy của bao nhiêu sự viêc, câu chuyện, đời người

Nhìn đề tài, tiểu thuyết Tô Hoài có ba mảng lớn: về Hà Nội ( chủ yếu vùngquê ven thành), về miền núi ( Tây Bắc, Việt Bắc), về thời huyền sử xa xưa củađất nước (khai thác các truyền thuyết, cổ tích) Ngoài ra còn có một vài cuốn

thuộc những mảng đề tài khác ( Một mình kể chuyện, Ba người khác) Tô Hoài

là nhà văn của Hà Nội, không chỉ ở tập ký đặc sắc Chuyện cũ Hà Nội và những

tập truyện ngắn Nhà nghèo, Giăng thề, Người ven thành…, mà còn phần quan

trọng là ở tiểu thuyết, trong đó có bộ ba tác phẩm về vùng ven thành quê ngoại

nhà văn: Quê người (1942), Mười năm ( 1958), Quê nhà ( 1980) Nếu xếp theo thời gian lịch sử được miêu tả, thì trình tự sẽ là: Quê nhà - Quê người - Mười

năm

Quê người là cuốn tiểu thuyết đầu tay nhưng đã bộc lộ rõ cái “ tạng” riêng

của tác giả, những đặc điểm của cây bút văn xuôi Tô Hoài Không có nhữngbiến cố lớn lao, xung đột xã hội gay gắt, cả truyện chỉ là những cảnh sống diễn

ra thường ngày ở một vùng quê ven thành có nghề thủ công., có chuyện làm ăn,đám cưới, đám giỗ, cảnh hội hè, đình đám, có đủ cả buồn vui, yêu đương, sumhọp, chia lìa Trên cái nền của cuộc sống đời thường ấy là câu chuyện của mấy

Trang 20

gia đình và hai đôi nam nữ: Hời – Ngây, Thoại – Bướm Nhưng qua những bứctranh sinh hoạt phong tục ấy, vẫn hiện lên rõ sự sa sút tiêu điều của một vùngquê vào thời kỳ kinh tế khủng hoảng và cùng với đó là những kiếp sống quẩn

quanh, buồn bã, bị dồn đẩy tới đói nghèo, ly tán, tha hương Mười năm được

Tô Hoài viết không chỉ b»ng những hiểu biết mà bằng cả những trải nghiệm,những háo hức, say mê bồng bột của một thời tuổi trẻ tác giả đến với phongtrào cách mạng từ thời kỳ Mặt trận dân chủ đến cách mạng tháng Tám Trongnhững nhân vật Lê, Lạc, Ba, Trung – những thanh niên Làng Hạ được giác ngộ,tham gia phong trào cách mạng với những nhận thức ban đầu còn khá ®ơn giản,

có một phần bóng dáng của chính tác giả Khi cuốn tiểu thuyết này mới ra mắtbạn đọc 1958 - 1959, tác giả đã phải chịu không ít những lời phê bình chỉ trích

khá gay gắt từ một số nhà phê bình, về những cái gọi là “ tự nhiên chủ nghĩa”,

tầm thường hoá những người cách mạng , sa vào quan niệm “ con người trung

bình” vv… Đến thời kỳ đổi mới, tiểu thuyết Mười năm đã dần được nhìn nhận lại, để đánh giá đúng giá trị và cả những hạn chế của tác phẩm Mười năm là

một tiểu thuyết đạt được nhiều công cả ở phương diện tái hiện bức tranh xã hội

và cả ở một số hình tượng nhân vật rõ nét, có sức sống Quê nhà trở lại với một

giai đoạn lịch sử đầy biến động trên đất nước ta, cũng như với Hà Nội: Khiquân viễn chinh Pháp tiến đánh và xâm lược Hà Nội, chúng cố mở rộng phạm

vi chiếm đóng ra các vùng xung quanh nhưng đã vấp phải sự kháng cự quyếtliệt và bền bỉ của dân chúng, tập hợp trong các đội nghĩa binh hoạt động trênmột vùng rộng lớn từ chân núi Ba Vì đến các làng ven thành Hà Nội Trên cáinền cảnh bi tráng của một giai đoạn lịch sử, tác giả tập trung làm nổi bật hìnhảnh của những nghĩa quân yêu nước, giàu khí phách và mưu trí

Miền núi, nhất là Tây Bắc, đã trở thành một đề tài gắn bó lâu dài và nặngtình, nặng nghĩa với Tô Hoài sau nhiều tập truyện ngắn, bút ký rất thành công

về miền núi

Trang 21

Năm 1967, Tô Hoài mới cho in tiểu thuyết Miền Tây Cùng với vốn hiểu

biết kỹ càng và nhiều mặt về các dân tộc ở Tây Bắc, tác giả đã khai thác nhiều

tư liệu lịch sử, chính trị, quân sự, với ý đồ dựng lại sự vận động của lịch sử quanhững biến đổi của cuộc sống, con người ở vùng Phìn Sa.Cuốn tiểu thuyết trìnhbày những bức tranh đối lập của hai thời kỳ xưa và nay trong cuộc sống và sốphận những con người miền núi ở một vùng xa xôi Họ Giàng ở Phìn Sa như là

sự tiếp nối và mở rộng chủ đề của của Miền Tây qua câu chuyện về lịch sử một

dòng họ ở vùng đất Êy Tiểu thuyết Nhớ Mai Châu(1988) đưa người đọc trở về

thời kỳ đầu cách mạng và kháng chiến hết sức căng thẳng, rối ren, phức tạp ởtrung tâm xứ sở của người Mường

Trong các truyện dài và tiểu thuyết của Tô Hoài còn phải kể đến bộ ba

truyện viết về thời kỳ dựng nước từ xa xưa của dân tộc: Đảo hoang, Chuyện nỏ

thần, Nhà Chử Những tác phẩm này khai thác các truyền thuyết, truyện cổ tích

rất tiêu biểu và quen thuộc nhưng đã được tác giả bổ sung và phát triển bằngnhững hiểu biết hết sức phong tục, văn hoá cổ xưa và bằng trí tưởng tượng,sáng tạo dồi dào

Tiểu thuyết Tô Hoài là hình ảnh của dòng đời tự nhiên, chảy trôi miênviễn.Cuộc sống hiện ra dưới cái nhìn của Tô Hoài thật dung dị tự nhiên như nóvốn thế : có mọi thứ của sinh hoạt đời thường vặt vãnh, cái tốt đẹp và cái tầmthường, có đời sống xã hội vận động của lịch sử và đời sống thế sự, sinh hoạtphong tục Cảm quan hiện thực đời thường và ngòi bút nghiêng về phong tục làđặc điểm riêng biệt của Tô Hoài, không chỉ trong tiểu thuyết Tô Hoài vẫn đượccoi là nhà văn của những “ chuyện thường, người thường, đời thêng” Nhưngcũng không vì thế mà lại không thấy ở tác phẩm cuả ông, nhất là tiểu thuyết, sựphản ánh những vấn đề xã hội và lịch sử theo một cách riêng, xã hội và lịch sửđược nhìn nhận được tái hiện trong những sự việc, chi tiết của đời sống sinhhoạt thế sự, gắn kết tự nhiên với đời sống thường nhật, với công việc làm ăn,

Trang 22

những buồn vui, đổi thay của số phận con người Sự đan dệt một cách tự nhiêngiữa những hoạt động cách mạng với những chuyện làm ăn,mưu sinh, yêuđương, mọi tập tục quen thuộc trong đời sống một làng quê, đó chính là cái

nhìn riêng của Tô Hoài trong tiểu thuyết Mười năm, làm hiện lên bức tranh đời sống nhiều mặt đa dạng, tự nhiên và rất thực Nhưng ở Miền Tây, việc thể hiện

những biến chuyển của xã hội, lịch sử và những đổi thay trong số phận conngười khá đơn giản, một chiều Nhãn quan phong tục

Ở mỗi giai đoạn lịch sử thì văn học và hiện thực luôn có mối quan hệ gắn

bó, khăng khít Nhưng cũng theo sự biến đổi của lịch sử mà mức độ nhìn nhậnhiện thực sẽ có những điểm khác nhau.Sự đổi mới quan hệ nhà văn với hịênthực từ sau 1975 có lẽ bắt đầu với nhu cầu được “nói thật” Đây là một tâm lý

xã hội điển hình, một nhu cầu khẩn thiết về chân lý được công cuộc “cải tổ”,

“đổi mới” của Đảng thổi bùng lên Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trungương Đảng tại Đại hội VI của Đảng nói rõ: “thái độ của Đảng ta trong việcđánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sựthật” Nghị quyết 05 của Bộ chính trị cổ vũ văn nghệ sĩ : “Tiếng nói của vănnghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là tiếng nói đầy trách nhiệm,trung thực, tự do, tiếng nói của lương tri, của sự thật, của tinh thần nhân đạocộng sản chủ nghĩa phản ánh được nguyện vọng sâu xa của quần chúng vàquyết tâm của Đảng trong công cuộc đổi mới đến thắng lợi” Là “bộ phận đặcbiệt nhạy cảm của văn hoá”, văn học sớm ý thức về đổi mới

Từ “phản ánh hiện thực” đến “nghiền ngẫm hiện thực”, vai trò chủ thể củanhà văn tăng lên Nhà văn đóng vai trò chủ động đối với việc lựa chọn hiệnthực, thoát ra khỏi ràng buộc của chủ nghĩa đề tài, chủ động về tư tưởng Kinhnghiệm của nhà văn trở nên quan trọng Đây là dấu hiệu cơ bản của dân chủhoá văn học.Với quan niệm mới về hiện thực, nhà văn sẽ không còn bị gò bó

“bút pháp tả thực” theo một nguyên tắc duy nhất Từ chủ trương “ cởi trói” cho

Trang 23

văn nghệ của Đảng ,sau đổi mới cỏc nhà văn đó đi vào hiện thực bằng nhiềucỏch, con đường khỏc nhau Cú người thụng qua sự tởng tượng, cú người bằngchớnh sự trải nghiệm của bản thõn cựng với tài năng nghệ sĩ đó làm nờn nhữngtỏc phẩm văn chương đầy màu sắc hiện thực nhưng tớnh nghệ thuật cũng rấtcao.

Tụ Hoài là một nhà văn tài năng đợc rốn giũa qua tuổi đời và tuổi nghề nờnngũi bỳt đi vào hiện thực cũng rất điờu luyện, tinh xảo Tỏc phẩm của Tụ Hoàikhụng chỉ thể hiện một bức tranh hiện thực xó hội mà cũn là một bức tranhnghệ thuật được vẽ lờn bằng ngũi bỳt nghệ sỹ tờn tuổi trong nền văn học ViệtNam hiện đại

Tiểu thuyết Ba người khỏc của ụng là một trong những tỏc phẩm ra đời khỏ

muộn nhưng trong đú vẫn thể hiện rất nổi bật chất hiện thực, đặc biệt là đặc sắcnghệ thuật trong ngũi bỳt văn xuụi sau 1975 của Tụ Hoài

1.4.1 Điểm nhỡn nghệ thuật

Văn xuụi thời kỳ đổi mới đó đem lại nhiều tỡm tũi, biến đổi trongnghệ thuật trần thuật Từ bỏ sự ỏp đặt một quan niệm được cho là đỳng đắnnhất đú là quan điểm của cộng đồng, ngày nay người viết cú thể đưa ra nhiềuquan điểm, chớnh kiến khỏc nhau Để làm được điều đú, cỏch tốt nhất là cú sựchuyển dịch thay đổi điểm nhỡn Từ điểm nhỡn chung, đại diện cho cộng đồngsang cỏi nhỡn nhõn vật, cỏ thể để mỗi nhõn vật cú thể tự núi lờn quan điểm , thỏi

độ của mỡnh và để cho cỏc ý thức cựng cú quyền phỏt ngụn, cựng đối thoại Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” thỡ điểm nhỡn : “là vị trớ mà từ đúngười trần thuật nhỡn ra và miờu tả sự vận động trong tỏc phẩm Khụng thể cúnghệ thuật nếu khụng cú điểm nhỡn bởi nú thể hiện sự chỳ ý quan tõm và đặcđiểm của chủ thể trong việc tạo ra cỏi nhỡn nghệ thuật Giỏ trị của sỏng tạo nghệthuật một phần khụng nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cỏi nhỡn về

Trang 24

cuộc sống Sự đổi thay của nghệ thuật bắt đầu từ sự thay đổi điểm nhỡn”[8,113].

Khỏc với văn học thời kỳ 45-75 thường cú một điểm nhỡn duy nhất, vănhọc sau 75 cú sự phối hợp nhiều điểm nhỡn Điều này cú nghĩa là chức năngcủa nhà văn đó bị giải thiờng, nhà văn từ chỗ là người toàn tri, biết hết, biết tuốttrở thành một người bỡnh thường với những hiểu biết hạn chế về thế giới xungquanh Sự phối hợp nhiều điểm nhỡn trong tỏc phẩm cũng đồng nghĩa với quỏtrỡnh tỏc phẩm chuyển từ đơn thanh sang đa thanh, hiện thực từ chỗ mang tớnhchủ quan chuyển sang lónh địa của khỏch quan thậm chớ phong phỳ và đa dạnghơn trước

Ba người khỏc cuả Tụ Hoài, bờn cạnh sự buụng lỏng cấu trỳc, phỏ vỡ cốt

truyện truyền thống bằng sự xỏo trộn, lồng ghộp, sử dụng kỹ thuật dũng ý thức,tỏc giả cũn tạo nờn sự độc đỏo trong việc đan xen nhiều điểm nhỡn khỏcnhau.Bờn cạnh điểm nhỡn của nhõn vật người kể chuyện xưng “ tụi” đúng vaitrũ chủ đạo, trong tỏc phẩm cũn cú sự phối ghộp điểm nhỡn cuả Bối, Đỡnh,Huỳnh Cự ….Từ những gúc nhỡn khỏc nhau, hiện thực cải cỏch ruộng đất đượcsoi rọi từ nhiều phớa, chõn thực và trọn vẹn hơn Với việc tăng cường điểmnhỡn, tỏc giả đó phỏ vỡ thể đơn thanh, gia tăng tớnh đối thoại

Tỏc phẩm là sản phẩm sỏng tạo,hư cấu của nhà văn.Mọi sự việc, diễnbiến xảy ra trong tỏc phẩm suy cho cựng đều nằm trong ý đồ nghệ thuật của tỏc

giả.Tuy nhiờn, với việc trao điểm nhỡn của tỏc giả cho nhõn vật thỡ Ba người

khỏc dưới sự tiếp nhận của bạn đọc khụng cũn là tiếng núi của riờng nhà văn

Tụ Hoài mà mỗi nhõn vật đợc tỏc giả xõy dựng lờn chớnh là một cỏch nhỡn, cỏchcảm nhận về hiện thực cải cỏch ruộng đất diễn ra trong một giai đoạn của lịch

sử xó hội Việt Nam

Đọc Ba người khỏc người đọc khụng nhận thấy một cỏch ỏp đặt nào của Tụ

Hoài đối với cỏc vấn đề, sự việc diễn ra trong tỏc phẩm mà thụng qua điểm

Trang 25

nhỡn của từng nhõn vật, người tiếp nhận từng bước đi vào khỏm phỏ những vỉangầm nội dung từ chớnh lời núi, hành động và cỏch nghĩ của từng nhõn vật.Cuốn tiểu thuyết dày 250 trang này cú thể hiểu như tự truyện của nhà văn

Tụ Hoài Bởi lẽ,với việc chuyển điểm nhỡn từ tỏc giả sang nhõn vật, đặc biệt làviệc khắc hoạ hỡnh tượng nhõn vật “tụi” - một người trong cuộc ,trực tiếpchứng kiến và trải qua cải cỏch ruộng đất kể về mỡnh và hai người khỏc là :Huỳnh cự và Đỡnh thỡ cỏc sự việc diễn ra rất sống động, rừ nột Tụ Hoài đóchọn cỏch viết từ lời kể của một tờn “tội phạm”, khỏc với những tỏc giả trướcđõy viết về thực trạng cải cỏch với tư thế là nạn nhõn, phỏp quan ,thầy đời vv… Dưới cỏi nhỡn của nhõn vật “tụi” thỡ Bối, Cự, Đỡnh thực sự là ba gó “lưumanh” theo ba kiểu khỏc nhau Khi về địa phương, họ bắt mối và tập hợpquanh mỡnh cỏc “rễ,chuỗi” u tối, toàn đui, quố, mẻ, sứt, nếu khụng cũng khựngkhựng, điờn điờn…

Cả ba ụng đội tuy cựng trỡnh độ văn hoỏ thấp, vẫn đầy đủ khụn ranh để biếtviệc nào đỳng, sai, tốt, xấu, lợi, hại, nhưng vỡ sức ộp thành tớch, vụ trỏch nhiệm,tham vọng quyền lực cỏ nhõn, ham muốn thoả món dục vọng thấp hốn, biết sai,xấu, vẫn làm; biết dối trỏ, tội ỏc, vẫn “vụ tư” lăn xả…gõy bao bi thương, tangtúc cho làng xúm

Trong Ba người khỏc chuyện tỡnh dục, tội lỗi được kể bằng thứ ngụn ngữ

chớnh xỏc, khoỏi cảm hả hờ, tõm đắc Chỉ với 250 trang sỏch mỏng, những cảnhhoang dõm, quần dõm diễn ra thường xuyờn, mọi lỳc, mọi nơi Ba anh đội:Huỳnh Cự, Bối, Đỡnh thay nhau, nhường nhau làm tỡnh cỏc nữ dõn quõn, bần

cố nụng “rễ chuỗi”: Đơm, Duyờn… bất kể ban đờm, ban ngày, trước, sau lỳchội họp, lỳc đấu tố; làm tỡnh ngay bụi cõy bờn đường làng, bờn đống rạ trongsõn; làm tỡnh cụ Đơm trước người mẹ tàn tật, làm tỡnh cụ Duyờn bờn ụng bốđiếc; đội Bối cũn quần dõm với nhiều nư dõn quõn trong một đờm ở lỏn canhgỏc…

Trang 26

Không những thế, từ điểm nhìn của nhân vật “tôi” thì hàng nghìn vụ xửán,kết án oan “kẻ thù giai cấp” qua các cuộc đấu tố địa chủ diễn ra khắp cácthôn hồi đó đều có chữ ký của chánh án Bối Mặc dù không đưa ra lời bình luậnđánh giá nào khi kể lại câu chuyện nhưng thông qua cái nhìn của nhân vật

“tôi”, người đọc cũng cảm nhận được hiện thực cải cách ruộng đất diễn ra trongtác phẩm như một tấn bi kịch hãi hùng đối với những người nông dân và kẻ gây

ra những tai hoạ ấy không ai khác chính là các cán bộ thực hiện cải cách “bacùng” với bà con nông dân

Sự thật về cải cách ruộng đất không chỉ được thể hiện dưới con mắt củanhân vật người kể chuyện xưng “tôi” mà mỗi nhân vật trong tác phẩm đều cónh÷ng cách nhìn khác nhau về các sự việc diễn ra trong quá trình tiến hành cảicách ở nông thôn

Đối với nhân vật Bối- đội phó cải cách, kiêm chánh án, một người vốnkhông hiểu gì về nông thôn và những người nông dân lại được giữ chức vụ rấtquan trọng khi tham gia cải cách và trực tiếp “ba cùng” với bà con nông dân thìvốn là một người trong cuộc, dưới con mắt nhìn của Bối, hiên thực cải cáchhiên lên cũng rất sắc nét

Ngay từ đầu, dưới con mắt của một người trực tiếp được tham gia cải cách,Bối đã được làm việc với cấp trên hướng dÉn mình cũng như những cán bộcùng đi và cả bà con n«ng d©n th× tất cả c¸c sự việc diễn ra từ đầu đến cuốiđều được Bối quan s¸t theo c¸i nh×n riªng cña m×nh Khi bắt đầu trªn đường

“h nh qu©n” ành qu©n” xuống nông thôn để tiến hành cải cách, Bối và những người cùng

đi đã nhận được sự hướng dẫn của đoàn uỷ cấp trên Nhưng chính những ngườihướng dẫn các cán bộ đi làm cải cách cũng không biết trả lời những thắc mắckhi được hỏi về nông thôn vµ nông dân ở vùng sắp đến tiến hành cải cách mànhững người thắc mắc chỉ nhËn được câu trả lời giống nhau khi có thắc mắcnêu lên là: “tài liệu đây, trong tài liệu có hết” [10,13] Đến khi bước vào trong

Trang 27

đợt cải cỏch được làm việc và tiếp xỳc trực tiếp với những người cỏn bộ khỏc:Đỡnh, Huỳnh Cự…thỡ Bối cũng cú cỏi nhỡn riờng về từng người.

Với đội trởng Huỳnh Cự, dới con mắt của Bối thì đây là một ngời đội trởngtính quyết đoán nóng nh lửa, gắt gao kỉ luật với mọi ngời Nhng đó cũng chỉ là

vẻ bề ngoài mà bờn trong cỏi hỡnh thức tưởng chừng như nghiờm tỳc ấy cũngchỉ là một tờn đạo đức giả mà thụi Dới cái nhìn của Bối, Cự cũng như một kẻlưu manh, thủ đoạn, cũng “hủ hoỏ” với nữ “rễ chuỗi”, khộp tội Đỡnh vào chỗphản động tới mức cỏi chết liền kề

Bờn cạnh cỏi nhỡn của Bối thỡ Cự và Đỡnh cũng là hai cỏn bộ cú cỏi nhỡnriờng của mỡnh khi tham gia tiến hành cải cỏch

Ở đội trưởng Huỳnh Cự, tỏ ra là một người cú con mắt tinh tường khiphỏt hiện ra cỏc địa chủ, “rễ chuỗi” cũng như thành phần phản động trong khilàm cải cỏch

Nếu như Bối chưa tỡm ra được địa chủ khi phụ trỏch thụn Am để đưa rađấu tố thỡ dưới con mắt của mỡnh, Cự lại đưa ra được một nhận định chắc chắn:

“địa chủ Thỡn đó bị bắt, thằng Diệc rễ cậu là rể nhà nú Cỏi con vợ đui quố cõmđiếc kia là con nhà địa chủ Thỡn Thằng tỏ điền Diệc phải rước của nợ đi, màthằng địa chủ đểu cỏng chỉ cho mượn hai miếng ruộng đầu đồng cuối đồng.Cho nờn, về mặt nụng dõn, nú khụng liờn quan, nhưng nú cũng chưa dỏm vạchtội ỏc địa chủ Cậu đó hiểu như tụi vừa núi chưa?” [10,86]

Hay nếu như Bối nhỡn Duyờn là một nữ dõn quõn mạnh dạn với khẩu sỳngkhoỏc sau vai thỡ với Đỡnh: “Tớ mỏch cho mà biết con ngựa cỏi ấy cỳ cỏo lắm

Tớ đương theo dừi xem nú cú phải quốc dõn đảng chui vào lũng đoạn hàngngũ chuỗi rễ” [10,75]

Như vậy, với tư cỏch là những cỏn bộ tiến hành cải cỏch ở nụng thụn thỡ ởBối, Đỡnh, Cự, mỗi người đều cú những cỏch nhỡn, quan điểm khỏc nhau khi

Trang 28

tham gia cải cách, tìm kiếm địa chủ, “rễ chuỗi” thực sự trong từng thôn phụtrách của mình

Bên cạnh cái nhìn của cán bộ khi đánh giá tìm hiểu nông dân thì chínhnông dân cũng có cái nhìn đối với những người cán bộ tiến hành cải cách, “bacùng” với bà con Ngay từ khi đoàn cải cách trên đường xuống các địa phương,khi ghé vào các chợ để nghỉ ngơi đã nhận thấy ngay thái độ của những bà connông dân: “đã hai năm, đoàn uỷ đóng ở cái đền này Hàng chợ đã thấy nhiềucán bộ đi về, áo cánh, áo vét khác nhau, nhưng ai cũng biết đấy là những “anhđội” xuống xã hét ra lửa Chẳng bận đến, người ta cũng ngại lẩn đi, bước nébên đường” [10,15] Sự xuất hiện của các anh đội khi tiến hành cải cách xuốngcác vùng nông thôn dường như đã quá quen với bà con nông dân Vì vậy nhữnghành động cố tỏ ra “ba cùng” với nông dân đều không qua được mắt của bà con: “tôi vác cào lên, một bên vai đeo túi dết Cả xóm biết anh đội đóng bộ đi làmđồng đấy Ai chả biết anh đội làm trò…Thấy người làm đồng đội mũ, quần xoetrên gối, người ta ngẩng lên rồi lại cúi xuống quờ tay quanh gốc lúa Anh đội,anh đội thăm đồng đấy mà” [10,48] Đến khi cán bộ §ình bị coi là phản độngrồi bị tra khảo dã man và đưa ra xét xử gần kề với cái chết, rồi chỉ thị trungương về công tác sửa sai đến kịp thời, Đình thoát chết thì chính những ngườinông dân lại lên tiếng nhận xét : “Đình được thả Xoá cái án chém mà nhẹ nhưkhông, những người già bảo rằng trời có mắt” [10,110]

Có thể nói, hiện thực cải cách ruộng đất qua điểm nhìn của từng nhân vậtđược thể hiện một cách khéo léo dưới bàn tay nhào nặn của tác giả Thông quaviệc trao điểm nhìn tác giả cho nhân vật qua lời kể của người kể chuyện xưng

“tôi” người đọc có điều kiện để thâm nhập vào tác phẩm bằng những cách, conđường riêng của mình Qua đó, có thể tự đưa ra những đánh giá, nhìn nhận củachính mình về những điều đọc được, cảm thấy và hiểu vấn đề như thế nào Bạnđọc được “tự do” trong việc thẩm định và nhìn nhận tác phẩm Việc tăng cường

Trang 29

điểm nhìn có ý nghĩa rất lớn trong việc tiếp nhận của người đọc Đó cũng chính

là ý đồ nghệ thuật khẳng định được tài năng ngòi bút của “lão” nhà văn TôHoài

1.4.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Trong văn xuôi trước 1975, các nhân vật được nhận diện trước hết theo lậptrường dân tộc và cách mạng, bởi thế dễ dàng xếp họ vào loại chính diện hayphản diện, tích cực hay tiêu cực Các nhân vật lại được khuôn vào trong nhữngkhung hình của tầng lớp xã hội- giai cấp Hệ thống nhân vật vì thế thường đượcphân chia theo tầng lớp, nghề nghiệp, vị trí xã hội hoặc lứa tuổi ( nông dân,công nhân, trí thức, người linh, bà mẹ, phụ nữ…)

Trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, khi đã vượt qua giới hạn chật hẹp vàcứng nhắc của cái nhìn con người và thể hiện nhân vật như trên thì đã mở ra sự

đa dạng, phong phú dường như vô tận của thế giới nhân vật Rất khó có thể đưa

ra một bảng phân loại hay liệt kê nào có khả năng bao quát được thế giíi nhânvật của văn xuôi hiện nay

Nhưng cũng có thể dễ dàng nhận ra khá nhiều kiểu nhân vật mới,vốn chưa

có hoặc rất ít trong văn xuôi trước 1975 : con người cô đơn, con người bi kịch,con người lạc thời, con người tâm linh, con người tự nhiên, con người dễ thahoá, sa bẫy, con người đa sự, nhiều ưu tư, con người nhân loại, nhân vật tưtưởng, nhân vật kỳ ảo Đó chỉ là một số trong những kiểu loại nhân vật đượcphân chia theo tiêu chí khác nhau của văn xuôi đương đại Nếu như trước đâykhắc họa tính cách điển hình theo quan niệm điển hình hoá của chủ nghĩa hiệnthực xã hội chủ nghĩa là mục tiêu hướng tới của các nhà văn trong xây dựngnhân vật thì ngày nay nhân vật không còn bị lệ thuộc quá nhiều vào chức năngthể hiện tính cách Nhà văn có quyền lựa chän và sáng tạo tự do đối với nhân

Trang 30

vật của mình Bằng sự sáng tạo, bằng kinh nghiệm cuộc sống cùng với đôi mắtquan sát độc đáo, sự suy ngẫm và sự cảm nhận tinh tế,Tô Hoài đã xây dựngđược một thế giới nhân vật độc đáo, ấn tượng, cả chiều sâu.

Ba người khác của Tô Hoài đã thể hiện được sự thay đổi độc đáo trong

cách xây dựng nhân vật của nhà văn Trong thế giới nhân vật phức tạp và đadạng đó, nổi bật lên hơn hết đó là nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” trongtác phẩm

Trong tiểu thuyết “Ba người khác”, hệ thống nhân vật rất phong phú từ đội

trưởng Cự, cán bộ đội Đình đến các nữ dân quân, bần cố nông “ rễ, chuỗi”:Đơm, Duyên….hay địa chủ Thìn, trưởng thôn Tư Nhỡ…Nhưng tất cả các nhânvật đều được hiện lên rõ nét trước lời kể của nhân vật “tôi” đứng ở vị trí trungtâm của truyện

Nhân vật “tôi” là loại nhân vật được tác giả hư cấu, nên nó mang tính chất

hư cấu Văn bản suy cho cùng là do nhà văn kể, tả mà ra nhưng nhà văn lại xâydựng một nhân vật người kể chuyện để thuận lợi trong việc kể tả, nhân vật thaynhà văn tạo nên văn bản ngôn từ để tạo nên tác phẩm văn học, nhân vật người

kể chuyện ấy chính là nhân vật “tôi” luôn đứng ở vị trí trung tâm của tác phẩm.Nhân vật “tôi” kể lại câu chuyện của mình, cuộc đời mình, số phận mình Nhânvật này tham gia vào câu chuyện, kể bằng lời của người trong cuộc rất chủquan Cái “tôi” ấy hiện lên không phải qua miêu tả của nhà văn mà là qua lời

kể của chính nhân vật “tôi”, nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của một câuchuyện, câu chuyện do chính nó kể ra

1.4.3 Kết cấu

Ba người khác khước từ kiểu kết cấu truyền thống với những đặc

điểm như: tuyến tính, nhân quả để thay vào đó là kiểu kết cấu lồng ghép, phân

Trang 31

mảnh Dường như câu chuyện không hề tập trung phản ánh một điểm gì làtrung tâm mà đó là sự lồng ghép các sự việc xảy ra theo dòng ý thức của nhânvật người kể chuyện xưng “tôi”, và cũng là nhân vật Bối-cán bộ cải cách trongtác phẩm

Vai trò của cốt truyện bị hạn chế thậm chí bị đảo lộn, sắp xếp không theotrật tự thời gian xảy ra các sự việc mà theo dòng ý thức nhân vật

Kết cấu lồng ghép trong Ba người khác là một sự thay đổi trong cách nhìn

nhận hiện thực và thể hiện quan niệm vể thế giới của nhà văn

“ Kết cầu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm Thuậtngữ kết cấu thể hiện một nội dung rộng rãi và phức tạp hơn bố cục tác phẩm

Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tươngquan bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà cßn bao hàm sự liên kết bêntrong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm Kết cấu ngoài việcchỉ sự sắp xếp, phân bố các chương đoạn, các bộ phận của tác phẩm theo mộttrình tự nhất định thì nó còn bao gồm: tổ chức hệ thống tính cách, tổ chức thờigian và không gian nghệ thuật của tác phẩm; nghệ thuật tổ chức những liên kết

cụ thể của các thành phần cốt truyện, nghệ thuật trình bày, bố trí các yếu tốngoài cốt truyện, … sao cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở thành một chỉnh thểnghệ thuật

Bất cứ tác phẩm nào cũng có một kết cấu nhất định Kết cấu là phươngtiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật Kết cấu đảm nhiệm chức năngrất đa dạng: bộc lộ chủ đề và tư tưởng của tác phẩm; triển khai trình bày hấpdẫn cốt truyện; cấu tróc hợp lý hệ thống tính cách, tổ chức điểm nhìn trần thuậtcủa tác giả tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như là một hiện tượng thẩm mĩ.Nếu những yếu tố kĩ thuật, thủ pháp là có giới hạn thì kết cấu là vô hạn, vì mỗitác phẩm là một “ sinh mệnh”, một “ cơ thể sống” nên kết cấu tác phẩm là một

Trang 32

kiÕn tróc, một tổ chức cụ thể, phù hợp với nội dung cụ thể của tác phẩm Kếtcấu bộc lộ nhận thức, tài năng và phong cách nhà văn” [8,157].

Văn xuôi truyền thống thường đề cao vai trò của cốt truyện Dường nhưmột thời các nhà văn thường chỉ quan tâm đến việc viết cái gì còn đéc giả chămchăm hướng vào câu chuyên xem nó nói về cái gì Văn xuôi sau 1975 có xuhướng nới lỏng cốt truyện Vai trò của cốt truyện bị hạn chế một cách tối đa,thậm chí không có cốt truyện hoặc có nhưng bị đảo lộn một cách không có trật

tự hoặc sự sắp xếp những mảng không hề quen biết bên cạnh nhau Có bốndạng kết cấu thường thấy, đó là kết cấu phân mảnh, kết cấu lồng ghép đa tạp,kết cấu mở và kết cấu theo kiểu luận đề Khước từ kiểu kết cấu của tác phẩmtruyền thống với những đặc điểm như tuyến tính, tính nhân quả, văn xuôiđương đại đề xuất tính phân mảnh như một đặc điểm nổi trội Trong tác phẩm,các chương, các đoạn ngắn, dài không đều nhau, kết nối với nhau rất lỏng lẻo,thể hiện tính phân ly của các phần với chủ đề trung tâm

Ví dụ: Thiên sứ của Phạm Thị Hoài thể hiện sự tách rời, phi tuyến tính rất

rõ với 17 chương độc lập Với những mảnh vỡ văn bản này, nhà văn thể hiệnmột trạng thái nhân sinh rã rời của quan hệ con người với con người

Nếu các nhà văn trước đây thường kết cấu tác phẩm theo nguyên tắc lôgicnhân quả, kết thúc có hậu thì các nhà văn đương đại thường làm ngược lại Họthường gây ấn tượng cho đéc giả bằng một kiểu kết thúc dở dang, bỏ lửngkhiến người đọc phải suy nghĩ Điều này vừa thể hiện một quan niệm về mộthiện thực không đoàn kết, vừa thể hiện sự dân chủ trong mối quan hệ giữa nhàvăn và công chúng

Sự phá vỡ, làm thay đổi kết cấu trần thuật truyền thống chỉ là hình thứcthể hiện của một quan niệm mới về thế giới hiện thực Đó không còn là một thếgiới đã được an bài, trật tự, hợp lý và dêng như có thể biết hết; mà là một thếgiới hỗn độn, bị chia cắt, xáo trộn, đầy mâu thuẫn và không thể nào biết hết

Trang 33

Ba người khác ( 2006) của Tô Hoài là một điển hình trong việc biến đổi

kết cấu truyền thống Kết cấu văn bản không còn gắn với những đặc điểmtuyến tính nhân quả mà thay vào đó là kiểu kết cấu lồng ghép, phân mảnh.Dường như câu chuyện không hề tập trung phản ánh một điểm gì là trung tâm

mà đó là sự lồng ghép các sự việc xảy ra theo dòng ý thức của nhân vật người

kể chuyện xưng “ tôi” Và cũng là nhân vật Bối – cán bộ cải cách trong tácphẩm

Vai trò của cốt truyện bị hạn chế thậm chí bị đảo lộn, sắp xếp không theotrật tự thời gian xảy ra các sự việc mà theo dòng ý thức nhân vật Qua lời kể,dẫn dắt của nhân vật “ tôi”, câu chuyện cũng xảy ra theo dòng ý thức nhân vật

Từ khi tổng kết xong đợt cải cách thứ nhất, đội lại tiến hành cải cách đợt mới.Vừa kể quá trình đội cải cách xuống các vùng nông thôn, nhân vật “ tôi” lạiquay về quá khứ trước đây khi Bối còn nhỏ đến trước khi tham gia cải cách đềukhông biết và hiểu gì về nông thôn và những người nông dân Rồi nhân vật “tôi” quay trở lại hiện thực khi tiến hành cải cách đến khi nghe tin Đình bị bắtthì nhân vật “ tôi” tiếp tục kể câu chuyện về Đình từ khi bị bắt đến lúc xét xử,

bị kết tội chết rồi thoát chết Tiếp theo dòng suy nghĩ về Đình, nhân vật “tôi”hướng về tương lai nhiều năm sau khi Đình cùng vợ con đi ăn xin và tiếp tụcchạy theo giấc mơ trại Đại Đồng hão huyền vào vùng kinh tế Lâm Đồng Kếtthúc câu chuyện về Đình, Bối quay trở lại cuộc cải cách với những công việccủa mình đến khi kết thúc cuộc cải cách, đội sửa sai về thì nhân vật “ tôi”hướng tới tương lai mười mấy năm sau tái ngộ với Tư Nhỡ Kết thúc câuchuyện là thông tin về cái chết mơ hồ của Huỳnh Cự

Kết cấu thời gian câu chuyện đứt gãy, không theo trật tự thời gian tuyếntính mà thông qua lời kể của nhân vật “ tôi” để tự sắp xếp thời gian xảy ra các

sự việc một cách hợp lý chứ không thể dựa vào trình tự sự việc xảy ra trongtruyện

Trang 34

Theo “dòng ý thức” của nhân vật người kể chuyện xưng “tôi”, một câuchuyện đã lùi xa hơn nửa thế kỷ được kể lại Từ một đội công tác cải cáchxuống các vùng miền nông thôn, mỗi người một hoàn cảnh xuất thân nhưngnhìn chung hiểu biết còn hạn chế Bản năng, hồn nhiên đi vào cải cách trongbuổi giao thời.Nội dung câu chuyện không vẽ lại diên mạo của cuộc cải cách,

mà đi sâu vào khía cạnh con-người, thế cuộc qua những nét sinh hoạt và tác vụxung quanh họ Chính vì vậy mà mạch truyện không liền mạch mà có sự đứtquãng, đan cài, xáo trộn giữa việc và người Mạch truyện không lấy sự kiệnlàm trung tâm mà thể hiện sự trải nghiệm của nhân vật làm chính.Chủ yếu làcái nhìn của một con người đã trải qua cải cách nhìn nhận lại một thực tế xảy ratrong lịch sử mà chính mình là người trong cuộc để kể lại.Vì vậy mà mạchtruyện cũng phải tuân theo dßng hồi ức của nhân vật

Câu chuyện xoay quanh “dòng ý thức” hồi tưởng của nhân vật “tôi” kể

về mình và hai người khác: Đình,Cự là những cán bộ cùng tham gia đợt cảicách ruộng đất Nhưng trong suốt quá trình cải cách “ ba cùng” với bà con chođến khi đội sửa sai về thì chính họ cũng chưa nhận ra, chưa biết mình sai ở chỗnào và đội sửa sai về thay họ có sửa sai được hay không và những con ngườikhông còn tiếp tục tham gia cải cách nữa như: Bối, Đình, Cự thì số phận cuộcđời sau này của họ như thế nào Ngay cả cái chết của Huỳnh Cự ở cuối truyệncũng là dấu chÊm hỏi đặt ra với bạn đọc Chính vì vậy, cốt truyện chưa đượckhép lại ở vấn đề nào mà nó lại mở ra cho bạn đọc những cách hiểu, cách nghĩkhác nhau về vấn đề, câu chuyện mà tác giả và nhân vật đưa ra Với sự khước

từ kiểu cốt truyện truyền thống, Ba người khác của Tô Hoài đã đem lại cho bạn

đọc một cách tiếp nhận mới khi tìm hiểu tác phẩm văn học Tác giả không còn

áp đặt người đọc vào một khuôn mẫu có sẵn nào mà để người đọc tự tìm ra cáikết cho câu chuyện Đây chính là cái sắc sảo trong ngòi bút tài năng Tô Hoài

mà thông qua Ba người khác người đọc ngày càng thêm khâm phục

Trang 35

1.4.4 Ngôn ngữ và giọng điệu

Mỗi một thời đại văn học, một trào lưu nghệ thuật đều cần có một

hệ hống ngôn ngữ phù hợp với ý thức nghệ thuật của mình, tạo ra một trườngngôn ngữ mang tính đặc trưng Sự đổi mới về ngôn ngữ vừa là yếu tố khởi đầu,vừa là kết quả của mọi sự đổi mới về tư tưởng, quan niệm, thi pháp Khi tư duytiểu thuyết đã mạnh lên, thay thế tư duy sử thi thì ngôn ngữ văn xuôi cũng biếnđổi theo hướng đó

Ba người khác của Tô Hoài cũng không nằm ngoài quy luật đó Tác phẩm

tiếp cận đời sống ở cự ly hẹp trong một đợt cải cách ruộng đất, ở một thôn nhấtđịnh chứ không phải qua một “khoảng cách sử thi tuyệt đối” (M.Bakhtin), vớithái đé thân mật với những người nông dân, những “rễ, chuỗi” cho nên ngônngữ cũng phải thay đổi từ ngôn ngữ trang trọng, chuẩn mực chuyển sang thứngôn ngữ đời thường đậm tính khẩu ngữ, thông tục, thậm chí thô tục

Ví dụ lời Vách nói với cán bộ Bối: “ Cái gì cũng bảo để xét, trên huyệncũng nói để xét, rồi mất hút con mẹ hàng lươn Để xét thì ăn mẹ gì!” [10,66] Ngay cả lời của những cán bộ cải cách được đánh giá là những người “ cótrình độ văn hoá cao” cũng không hơn gì những người nông dân kém hiểu biết

Ví dụ Đình nói với Bối: “ Này mày hãy lo cái thân mày đã nhé Mày chưa moiđược thằng địa nào Rễ chuỗi mày liên quan đến nhà địa, thối um lên khôngngửi thấy à? Lão Cự sắp thịt mày Khôn hồn thì cút mẹ mày đi” [10,66]

Với việc xây dựng người kể chuyện xưng “ tôi” trực tiếp thay tác giả dẫndắt câu chuyện, đồng thời chính người kể cũng tham gia, chứng kiến và trải

nghiệm những gì diễn ra trong tác phẩm thì Ba người khác đã phá vỡ thế đơn

thanh để chuyển sang ngôn ngữ đối thoại Lời văn trong tác phẩm cũng chính là

lời của nhân vật Với lối thuật kể ngắn gọn, khách quan, lời văn trong Ba người

khác được rút gọn giản lược đi rất nhiều.

Trang 36

Nếu giọng điệu trong văn học 45-75 thường là đơn giọng, giọng ngợi cahào hùng thì văn học sau 75 giọng ®iệu phong phú, đa dạng hơn

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì giọng điệu là: “ thái độ, tình cảm, lập

trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiệntrong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc thái tình cảm, cáchcảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm, …Chẳng hạn, trong thơ tình yêu của Thế Lữ, theo Hoài Thanh, có giọng điệu “lẳng lơ mà xa vời và thiếu tình ấm áp” thể hiện ở cách gọi thiếu nữ là cô em, dochưa đủ thân mật để gọi bằng em; giọng điệu ngọt ngào, êm ái trong Hồn bướm

mơ tiên của Khái Hưng; giọng suồng sã, đay nghiến trong Chì Phèo của NamCao, giọng mỉa mai trong Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc

Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm

mĩ của tác giả có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và có tácdụng truyền cảm trong việc tiếp nhận của người đọc Thiếu một giäng điệu nhấtđịnh, nhà văn chưa thể viết ra tác phẩm, mặc dù có đủ tài liệu và sắp xếp trong

hệ thống nhân vật

Không nên lẫn lộn giọng điệu với ngữ điệu là phương tiện biểu hiện củangười nói, thể hiện qua cách lên giọng, xuống giäng, nhấn mạnh, nhịp ®iÖu, …chỗ ngừng Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học Nó đòihỏi người trần thuật, kể chuyện hay nhà thơ trữ tình phải có khẩu khí, có giọngđiệu Giọng điệu trong tác phẩm gắn với cái giọng “ trời phú” của mỗi tác giả,nhưng mang nội dung khái quát nghệ thuật, phù hợp với đối tượng thể hiện.Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thường đa dạng, có nhiều sắc thái trên cơ

sở một giọng điệu cơ bản, chủ đạo chữ không đơn điệu” [10,134]

Ba người khác của Tô Hoài đề cập đến một vấn đề lịch sử - thời kì cải

cách ruộng đất ở miền Bắc sau 1954 Cuốn tiểu thuyết nhưng rất gần với hồi kí

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3.Châu Diên (2007),“ Tọa đàm về Ba ngời khác của Tô Hoài”, Talawas Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tọa đàm về "Ba ngời khác" của Tô Hoài”
Tác giả: Châu Diên
Năm: 2007
19.Vũ Ngọc Phan (1994),“Tô Hoài - Nguyễn Sen”, Sách nhà văn hiện đại, tËp 2. Nxb T©n D©n, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài - Nguyễn Sen”, "Sách nhà văn hiện đại, tËp 2
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb T©n D©n
Năm: 1994
20.Vũ Quần Phơng (1994),“Tô Hoài - văn và đời”, Tạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài - văn và đời”
Tác giả: Vũ Quần Phơng
Năm: 1994
23.Phan Hải Triều (2006),“Ba người khác đạt đến sự đơn giản từ lâu”, Tuổi trẻ chủ nhật(25/12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba người khác đạt đến sự đơn giản từ lâu”
Tác giả: Phan Hải Triều
Năm: 2006
1.M.Bakhtin (1998),Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w