25.19 Hội thoại tồn tại ở hai dạng: - Lời ăn tiếng nói hàng ngày - Lời trao đáp của nhân vật Hội thoại hầu nh có mặt trong các sáng tác Văn bản văn học, nhng tathấy rằng văn bản văn học
Trang 11.2 Tìm hiểu đặc điểm lời thoại nói chung, lời dẫn thoại nói riêng nhằmxác định rõ hoạt động của lời dẫn thoại trong các hoàn cảnh cụ thể nhằm gópphần làm rõ phong cách ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật
1.3 Truyện ngắn của hai nhà văn Tô Hoài và Nam Cao có rất nhiều đoạnhội thoại, lời dẫn thoại Đây là nguồn t liệu tin cậy, phong phú để thực hiện đềtài này
Trên đây là những lý do chủ yếu để chúng tôi chọn đề tài này
2 Phạm vi nghiên cứu
ở đề tài luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát lời dẫn thoại trong tập
"Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài gồm 3 truyện: "Cứu đất cứu Mờng", "MờngGiơn", "Vợ chồng A Phủ" của NXB dân tộc, 1999 và một số truyện ngắn trớccách mạng của Nam Cao: "Nghèo", "Chí Phèo", "Con Mèo", "Trẻ em không đợc
ăn thịt chó", "Lão Hạc", "Đời Thừa", "Quên điều độ", "Nửa đêm" trong tuyển tậptruyện ngắn Nam Cao của NXB VH, HN 1995
3 Lịch sử vấn đề
3.1 Về tác phẩm "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài và truyện ngắn trớc cách mạng của Nam Cao
3.1.1 Về tác phẩm "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài
Tô Hoài là một tác giả lớn của văn học Việt Nam hiện đại Nhiều tácphẩm của ông đã có tiếng vang lên trong nớc và quốc tế Đã có nhiều tác giảnghiên cứu về tác phẩm Tô Hoài từ nhiều phơng diện khác nhau
Phan C Đệ, trong cuốn "Nhà văn Việt Nam hiện đại", đã dành một mụcnhận xét các sáng tác của Tô Hoài, trong đó có "Truyện Tây Bắc", ông đánh giácao tính hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm "Tác phẩm đã nói lên mộtcách đau xót nỗi thống khổ bao đời của các dân tộc anh em ở vùng cao dới áchchiếm đóng của thực dân pháp và bè lũ tay sai" ( 21.15)
Phong Lê đề cập đến mảng sáng tác về đề tài miền núi của Tô Hoài saucách mạng trong chuyên luận "Tô Hoài 60 năm viết" Tác giả chuyên luận này
Trang 2đã phân tích các mặt thành công, những đóng góp nổi bật của Tô Hoài đối vớivăn học Việt Nam.
Các nhà nghiên cứu khác nh: Nguyễn Thành Long, Hoàng Trung Thông,
Đỗ Kim Hồi cũng đã có nhiều bài viết về tác phẩm Tô Hoài trong đó có nhiềutrang viết phân tích, nhận xét về "Truyện Tây Bắc"
Giáo s Hà Minh Đức đã kết luận: "Trong nghệ thuật ngôn từ, Tô Hoài chú
ý đến cách cấu trúc câu văn không viết theo mô hình câu có sẵn trên sách báo,
ông viết theo sự tìm tòi riêng của mình để diễn đạt cho đợc chủ đề và t tởng tácphẩm, câu văn của Tô Hoài mới mẻ, ông sáng tạo ra những quan hệ mới, cấutrúc mới trong cấu trúc thi ca"
3.1.2 Về truyện ngắn trớc cách mạng của Nam Cao
Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc và có nhiều đónggóp cho nền văn học dân tộc Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhà vănNam Cao trên nhiều phơng diện văn học và phơng diện ngôn ngữ học
Xét trên phơng diện ngôn ngữ học: Có một số bài viết, tiêu biểu là hai bàiviết: "Phong cách truyện ngắn Nam Cao" trớc cách mạng của tác giả Bùi Thuấn,
"Phong cách truyện ngắn Nam Cao" của Vũ Tuấn Anh.Vũ Tuấn Anh đã nhận xétrằng: "Trong hầu khắp truyện ngắn của Nam Cao có những chi tiết cứ trở đi trởlại nh một ám ảnh: miếng ăn, cái đói, cái chết và nớc mắt Chúng là những nốtnhấn thê thảm trong cả chuỗi văn buồn Nam Cao, nhiều khi không chỉ là nhữngchi tiết, chúng trở thành hình tợng, trở thành mô típ truyện"
Trong đề tài này, chúng tôi tiếp tục hớng nghiên cứu về tác gỉa Nam Cao ởphơng diện ngôn ngữ học để khai thác cái độc đáo, phong phú trong một số biểuhiện phong cách ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao trớc cách mạng
3.2 Về việc nghiên cứu lời dẫn thoại
Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong giao tiếp của ngôn ngữ học hiện đại đãmặc nhiên đề cập đến hội thoại Các công trình viết về dụng học của các tác giảnớc ngoài (S.C.Levinson, G.Yule,V.Dik) và trong nớc (Đỗ Hữu Châu, Nguyễn
Đức Dân, Đỗ Thị Kim Liên) đã bàn đến hội thoại ở những mức độ khác nhau.Những điểm nổi bật của hội thoại đợc chú ý là: đơn vị hội thoại, cấu trúc cuộcthoại, quan hệ tơng tác trong hội thoại
Tuy vậy, về "lời dẫn thoại" thì trong các công trình hay bài viết còn ít đ ợc
đề cập đến Tuy nhiên, những thành tựu nghiên cứu về hội thoại có thể soi sángcho việc tìm hiểu về lời dẫn thoại, làm cơ sở lý thuyết để phân tích vai trò, đặc
điểm của lời dẫn thoại Qua một số công trình mà chúng tôi tiếp cận về tác giảTô Hoài, Nam Cao, chúng tôi thấy cha có bài viết nào, đề tài khoa học nào đi sâutìm hiểu đặc điểm lời dẫn thoại trong tập "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài, trongtruyện ngắn Nam Cao trớc cách mạng Đó là lý do chúng tôi lựa chọn, đi sâu vào
Trang 3tìm hiểu "Đặc điểm lời dẫn thoại qua khảo sát tập truyện "Truyện Tây Bắc" củaTô Hoài và truyện ngắn của Nam Cao trớc cách mạng
4.3 Phơng pháp phân tích tổng hợp:
Trên cơ sở thống kê phân loại và so sánh, chúng tôi đã tiến hành phân tíchnhững đặc điểm về mặt cấu trúc ngữ nghĩa, từ đó tổng hợp khái quát để rút ranhững đặc điểm chung về lời dẫn thoại
5 Đóng góp của luận văn
Đề tài khảo sát câu văn dẫn thoại trong truyện ngắn Tô Hoài, Nam Caodựa trên cơ cở lý thuyết liên ngành ngữ dụng học và văn bản, đóng góp thêm tliệu nghiên cứu về lời hội thoại
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn sẽ đợc trìnhbày trong 3 chơng
Chơng 1: Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Đặc điểm lời dẫn thoại trong truyện ngắn của Tô Hoài và NamCao
Chơng 3: Vai trò của lời dẫn thoại trong truyện ngắn của Tô Hoài và NamCao
Trang 4Chơng 1
Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Hội thoại và ngôn ngữ hội thoại
1.1.1 Lý thuyết hội thoại
1.1.1.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp thờng xuyên, phổ biến của hoạt động ngônngữ, nó cũng là cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác trong sáng tác văn học
Theo Đỗ Thị Kim Liên: "Hội thoại là một trong những hoạt động ngônngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất
định mà giữa họ có sự tơng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhậnthức nhằm đi đến một đích nhất định" (25.19)
Hội thoại tồn tại ở hai dạng:
- Lời ăn tiếng nói hàng ngày
- Lời trao đáp của nhân vật
Hội thoại hầu nh có mặt trong các sáng tác (Văn bản văn học), nhng tathấy rằng văn bản văn học (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch) hội thoại không xuấthiện độc lập mà nó luôn gắn liền với ngữ cảnh Ngữ cảnh của hội thoại (cuộcthoại) có thể gắn với đoạn trớc nó hay sau nó Ngữ cảnh có thể (và phần lớn) làlời tác giả Một trong những phần của lời tác giả để chuẩn bị cho hội thoại, đó làlời dẫn thoại
VD1: Nhấn đứng lại ngẫn ngơ nhìn Sơn rồi nói:
- Anh Sơn ơi! Tôi nói anh Sơn chuyện này Tôi không phải là ngờiMán, anh Sơn biết cha? (Cứu đất cứu Mờng 20.316)
VD2: Một lũ chạy xuống lôi bà ả ng lên, hỏi :
- Nhà bà già ở đâu?
- Nhà ta đây Châu Đoàn Vàng cầm vàng quát lại :
- Nhà mày ở đâu?
Trang 5Bà ả ng nói:
- Nhà tao ở Dinh Quan Châu Né Mờng Cơi, mày không biết à?Châu Đoàn Vàng quát to :
- Con già Mờng này rồ thật
Bà ả ng lại nói:
- Mày là cái khố đỏ cầm vàng con Châu né bây giờ làm chứ ai.Châu Đoàn Vàng giật mình, rồi chau mặt, quắc mắt :
- Con già Mờng này hoá rồ à?
(Cứu đất cứu Mờng 20.326)
ở đoạn thoại trên, sau mỗi lời đáp của bà ảng, tác giả chú thích thêm vềthái độ biểu hiện bằng các lời dẫn thoại (trớc lời thoại của nhân vật)
VD3: Lão rân rấn n ớc mắt, bảo tôi:
- Trớc khi đi, nó còn cho tôi 3 đồng bạc, ông giáo ạ!
(Lão Hạc 2.237)VD4: Cụ Bá c ời nhạt, những tiếng c ời giòn giã lắm, ng ời ta bảo cụ hơnng
ời cũng chỉ bởi cái c ời
- Cái anh này nói mới hay: Ai làm gì mà anh phải chết?
(Chí phèo 2.23)VD5: Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn:
- Khổ quá! giá có tôi ở nhà thì đâu có đến nỗi
Tình thế giao tiếp trao lời ngầm ẩn rằng ngời B tất yếu phải có mặt đi vàotrong lời của A Vì thế "ngay trớc khi B đáp lời thì B đã đợc đi vào trong lời traocủa A và thờng xuyên kiểm tra, điều hành lời nói của A" Cũng chính vì thế, ởphía ngời nói - ngời trao, lời nói có nghĩa là "lấn trớc vào ngời nghe B, phải dựkiến trớc phản ứng của ngời nghe để chọn lời thích hợp, để làm sao có thể "áp
đặt" điều mình muốn nói vào B" (8.74)
Khi trao lời, có các vận động cơ thể (điệu bộ, nét mặt, cử chỉ, ) hớng tớingời nhận hoặc hớng về phía mình (gãi đầu, gãi tai, đấm ngực ) bổ sung cho lờitrao:
Trang 6VD6: Hắn vừa gãi đầu, vừa gãi tai, vừa lải nhải:
- Bẩm cụ, từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù, bẩm cóthế con có nói gian thì trời chu đất diệt, bẩm quả là đi tù sớng quá
(Chí phèo 2 24)
ở VD trên câu trao của Chí hớng tới ngời nhận là "Bá Kiến" bằng các từ:
"Bẩm cụ", "Con" Trong câu trao đã có sự hiện hữu của ngời nhận, thái độ củaChí đợc tác giả miêu tả bằng câu dẫn: "Hắn vừa đi vừa gãi đầu, vừa gãi tai, vừalải nhải" thể hiện thái độ của Chí
b Sự trao đáp
Hội thoại chính thức hình thành khi ngời B đáp lại lợt lời của ngời nói A
"Phát ngôn là sản phẩm của các hành động ở lời Tất cả các hành động ngôn ngữ
đều đòi hỏi một sự hồi đáp" (25.75) Khi đợc thoả mãn bằng một sự hồi đáp thìphát ngôn sẽ trở thành hội thoại nghĩa là hình thành một cặp trao đáp
Tiếp theo VD1, sau lời van xin của Chí và sự đáp lại của Bá Kiến
Cụ đứng lên vỗ vai hắn mà bảo rằng:
- Anh bứa lắm ! Nhng này, anh Chí ạ anh muốn đâm ngời cũng không khógì Đội Tảo nó còn nợ tôi năm mời ngàn đấy, anh chịu khó đến đòi cho tôi, đòi
đợc thì tự nhiên (Chí phèo 2 24)
Khi xuất hiện lời đáp của ngời nhận B thì vận động trao đáp - cái lõi củahội thoại sẽ diễn ra liên tục, lúc nhịp nhàng, lúc khúc mắc, lúc nhanh, lúc chậmvới sự thay đổi của vai nói - vai nghe Chẳng hạn ở VD1 (1.1.1) trong cặp thoạithứ nhất Châu Đoàn Vàng sắm vai ngời nói dới hình thức câu hỏi còn bà ảngsắm vai ngời nghe - trả lời Trong cặp thoại thứ hai, bà ảng lại sắm vai ngời nói
ở lời trao, nhng ở lời đáp Châu Đoàn Vàng đã có sự chuyển vai thoại sang ngờitrao lời khi xuất hiện câu hỏi : "Nhà tao ở dinh quan Châu Né mày không biếtà?" Lúc đó Châu Đoàn Vàng đã trở thành ngời nhận lời và có sự đáp lời: "Châu
Đoàn Vàng quát to: - Con già này rồ thật"
đi đến xung đột Đây chính là sự tơng tác trong hội thoại Theo Đỗ Hữu Châu, sựtơng tác đợc hiểu là: "Các nhân vật giao tiếp ảnh hởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau
đến cách ứng xử của từng ngời trong quá trình hội thoại"(8.209)
Với văn bản tác phẩm văn học, sự tơng tác hội thoại có thể phát triển theonhững chiều hớng khác nhau:
Trang 7- Tạo điều kiện cho tâm lí nhân vật phát triển, đa cuộc thoại đạt đến đích
nh cuộc thoại của Châu Đoàn Vàng và bà ảng trong "Cứu đất cứu Mờng"
- Làm cho hội thoại thêm căng thẳng và đi đến xung đột do không hoàphối đợc những khác biệt, ví dụ ở cuộc thoại của Chí Phèo và Bá kiến khi ChíPhèo đòi Bá kiến trả lại quyền làm ngời lơng thiện: "Ai cho tao lơng thiện"
(Chí Phèo - Nam Cao)
- Hé gợi sự tình của nhân vật nh cảm giác thèm khát đợc thoát khỏi sự tùtúng của Hộ ( Đời thừa - Nam Cao)
Ba vận động trao lời, trao đáp và tơng tác là ba vận động đặc trng cho hộithoại, trong đó hai vân động đầu do từng đối tác thực hiện nhằm phối hợp vớinhau thành vận động thứ ba Bằng vận động trao lời và trao đáp, các nhân vật hộithoại sẽ tự hoà phối để thực hiện sự tơng tác trong hội thoại
Dạng đơn thoại biểu hiện rõ nhất ở kiểu lời trần thuật của nhân vật, có nghĩa
là lời nói nhân vật có xen một yếu tố kể của mình, của ngời Chẳng hạn, kí ức của
"tôi" trong một lần về quê bạn là đợc nghe chị Hiên kể về những kỉ niệm của chịtrong "Những bài học nông thôn" của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp:
Chị Hiên thủ thỉ: "ở nhà quê buồn lắm Tôi mới đợc ra Hà Nội mỗi mộtlần Hồi ấy cha lấy chồng, vui vui là nhng cứ sợ ngời Hà Nội ai trông cũng ác.Hôm ấy ở bến xe có ông đeo kính, để râu con kiến, tuổi bằng bố tôi "
Thông thờng dạng đơn thoại là vắng lời đáp, nhng ta thấy lời đáp nhân vậtnếu cha thông tin câu trao thì cũng có thể xếp vào dạng thoại này Mỗi nhân vật
tự đeo đuổi theo một ý nghĩa riêng của mình Chính vì vậy ta thấy trong truyệncủa Nam Cao hay truyện của Nguyễn Huy Thiệp có nhiều câu thoại bâng khuâng
đến thế, nhiều câu thoại không hớng về mục đích nào cả, ở một số truyện ngắncủa Nam Cao và Nguyễn Huy Thiệp chúng ta thờng bắt gặp hiện tợng đối thoạingầm Có một đoạn đối thoại giữa hai ngời, trong đó những câu đối đáp của ngờitiếp chuyện thứ hai bị bỏ trống, nhng ý nghĩa chung không hề bị suy chuyển
Trong "Những bài học nông thôn", thầy giáo Triệu chính là một hình tợngcủa tác giả đợc ẩn sau Các phát ngôn của Triệu là những quan niệm nhân sinh,nhân bản về nỗi suy nghĩ nhọc nhằn:
" Anh Triệu thở dài suy nghĩ một lát rồi nói: Còn điều này nữa, đã nói thìnói cho xong Thời loạn dứt khoát phải có một nền thống trị bá đạo Còn thời bình,
Trang 8đờng lối bá đạo chính trị sẽ đa dân tộc đến thảm họa" Chúng tôi lặng im AnhTriệu bảo: Hiếu này, chú đừng nghe tôi Tôi nông cạn và sai lầm lắm ".
ở đoạn thoại trên chỉ thấy anh Triệu phát ngôn, còn nhân vật "tôi" thì imlặng Nhng sự im lặng của nhân vật "tôi" lại tác động sâu sắc đến nội dung phátngôn của anh giáo Triệu
b Song thoại
Đây là dạng thoại chủ yếu của lí thuyết hội thoại Song thoại làm nền tảngcho việc nghiên cứu đa thoại Theo Nguyễn Đức Dân: "Nếu không có chú thíchgì đặc biệt thì thuật ngữ hội thoại đợc hiểu là song thoại" (26.77) Song thoại làlời của ngời trao hớng đến ngời nghe và có sự đối đáp bằng hành vi ngôn ngữ -chúng tôi gọi là hành vi trao lời và hành vi đáp lời ở dạng thoại này, nhân vậttrực tiếp đa lời nói của mình vào hội thoại, bảo đảm yếu tố lời trao và lời đáp củanhân vật, bảo đảm nguyên tắc luân phiên lợt lời hội thoại
VD: Đoài hỏi: - Sinh biết nhà này tơng lai thuộc về ai không?
Sinh bảo: - Không
Đoài bảo: - Về tôi
Sinh hỏi: - Sao thế?
Đoài bảo:- Bố già bố chết Thằng Khiêm trớc sau cũng vào tù Thằng Khảm ra trờng không đi Tây Bắc cũng Tây Nguyên Thằng Tốn không nói làm gì, vô tích sự ”
( Không có vua, 104 - Nguyễn Huy Thiệp)
ở đoạn thoại trên, qua lời dẫn, xuất hiện hai nhân vật tham gia vào hội thoại là sinh và Đoài, mỗi lời đáp đều hớng vào trọng điểm hỏi, hớng vào nội dung của câu trao, mỗi một lời trao là một lời đáp, không có hiện tợng đè lên nhau, mặc dù là một đoạn thoại bộc lộ bản chất xấu xa của Đoài, sự tính toán khốn nạn của Đoài nhng Sinh bình tĩnh chất vấn!
Có thể không có lời dẫn và từ dẫn mà đợc biểu hiện bằng dấu hiệuhình thức “gạch ngang đầu dòng”
Trang 9này là đối thoại xen độc thoại, đây là một dạng thoại đợc vận dụng do hệ quả củasong thoại.
VD: “ Cha tôi bảo: Anh nhu nhợc Duyên do là anh đếch sống đợc mộtmình” Tôi bảo: “ Không phải, cuộc đời nhiều trò đùa lắm” Cha tôi bảo: “ Anhcho là trò đùa à?” Tôi bảo: “ Không phải trò đùa nhng cũng không phải nghiêmtrọng.” Cha tôi bảo: “ Sao tôi cứ nh lạc loài”
( Tớng về hu, 487 - Nguyễn Huy Thiệp)
Song thoại là dạng thức hội thoại cơ bản của lý thuyết hội thoại
ở đoạn thoại trên xuất hiện ba nhân vật, ngời nói (Bố Lâm), nhân vật tôi,
Bà Lâm Khi ngời nói (Bố Lâm) hớng câu hỏi trực tiếp đến nhân vật tôi, nhng vaitrò của nhân vật tôi đã bị lu mờ đi, câu trao đã hớng đến ngời tiếp nhận thứ ba(Bà Lâm)
Trong mọi cuộc trao đổi, giao tiếp trong cuộc sống cũng nh trong văn
ch-ơng luôn xảy ra hiện tợng có hơn hai nhân vật giao tiếp trở lên ở hình thức giaotiếp này có thể quy về dạng tam thoại
d Đa thoại
Đa thoại là lời của nhiều nhân vật đan xen vào nhau trong một ngữ cảnh hộithoại cụ thể, chúng tôi gọi đây là lời của đám đông (nhân vật) Dạng thức hội thoạinày chúng ta bắt gặp trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng ở cảnh đa tang cụ cốHồng Hay trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu chúng tôi thấy có sự đan xenngôn ngữ (lời nói của ba hoặc nhiều nhân vật trong một ngữ cảnh cụ thể)
VD: Anh Quang và anh Định này:
- Sắp kết thúc bữa tiệc chè, cái Hơng nói với hai ông anh:
Trang 10- Cân khế và nửa cân đờng này mà vào tay chị Phấn - chị gái Phaithì không đến nỗi nào.
Đang bê chồng bát trên tay, sẵn miệng cái H ơng nói luôn:
- Hay là anh Quang lấy quách chị Phấn về chị ấy nấu mứt khế cho:Tao với mày làm bà mối, Phai nhỉ?
Cái Phai ch a kịp gật đầu thì anh Định đang ngồi xếp bằng trên chiếcdép giữa nền nhà bếp, vội hớn hở nắm lấy tay cái Phai :
- Phần anh, phần anh!
Nh
ng anh Định ch a dứt lời thì anh Qang đã kéo cái Phai về phía mình:
- Phần anh, chị Phấn của Phai là phần anh, Phai nhỉ?
(Hơng và Phai - 408,409)
1.1.2.2 Hành động ngôn ngữ
a Khái niệm hành động ngôn ngữ
Ngôn ngữ tồn tại để thực hiện chức năng hớng ngoại - chức năng làm công
cụ giao tiếp Khi ngôn ngữ đợc sử dụng để giao tiếp tức là ngôn ngữ đang hànhchức Vậy nói năng là một dạng hành động đặc biệt của con ngời - hành độngbằng ngôn ngữ
Đó là "Những hành động bộ phận nằm trong hoạt động giao tiếp nóichung khi miêu tả, hỏi, yêu cầu, khuyên nhủ là chúng ta đang hành động -hành động bằng ngôn ngữ " (26.69)
Trong đề tài này, đối tợng chúng tôi tìm hiểu là hành động ở lời qua đặc
điểm câu văn dẫn thoại
b Phân loại các dạng hành động trong lời thoại nhân vật :
* Hành động bảo, nói năng
Trong dạng này lời trao chủ yếu là những câu hỏi và cần có thông tin hồi
đáp ở câu đáp Lời trao - đáp ở đây thờng mang sắc thái trung tính
Trang 11VD: Bà ả ng nói rồi khóc Nhấn bảo:
- Rồi bộ đội sẽ về cứu nó Bấy giờ mẹ đi với tôi
(Cứu đất cứu mờng 20.322)VD: Bà xỉa xói vào mặt cái con cháu ba m ơi tuổi mà ch a trót đời
động cầu khiến có những dấu hiệu nghi thức đặc thù chung nhng xuất phát từnhững đặc trng giới tính khác nhau chính vì lẽ đó, chúng tôi chia hoạt động cầukhiến ra các kiểu nhóm mang giá trị biểu cảm khác nhau: a, b, c, d
Dạng hành động cầu khiến xuất hiện hầu hết ở các câu trao và tuỳ từng nộidung mà câu trao đa ra sẽ có câu đáp
+ Đề nghị:
Ngời nói đa ra lời trao đối với ngời nghe đề nghị cho phép mình thực hiện một hành vi gì đó hay đè nghi ngời nghe thực hiện một hành vi gì đó có lợi cho mình nên sắc thái câu trao thờng là mềm dẻo, thể hiện thái độ lịch sự
a Lời trao là sự thân thiện, biết ơn
- Thế nào hôm rằm cũng đến ăn cơm với cô, cháu nhé!
(Nguyễn Huy Thiệp, Huyền thoại phố phờng, 77)
b Lời trao là một câu đề nghị có ý nghĩa nh một câu hỏi, thăm dò Lời đáp
nh một sự hởng ứng
Trang 12- Bng mâm nhé?
- ừ, làm thì làm!
(Trẻ con không đợc ăn thịt chó 2.123)
c Lời trao là một sự đề nghị, lời đáp là một sự từ chối
- Thầy tặng em bức tranh này nhé
- Cái đó thì không đợc
(20 truyện ngắn hay 94, Vũ Ngọc Thạnh- 290)
d Lời trao là một câu đề nghị Lời đáp là một sự ngăn cản thực hiện theolời đề nghị đó
- Dạ, con đến đây hỏi mấy đứa nhỏ mai đi cấy, con đi với!
- Xa! Một cũng xa, hai cũng xa Còn chúng bay không đợc gần nhau đi! (Nguyễn Thi, ớc mơ của đất -316)
đ Lời trao là một câu đề nghị Lời đáp là một sự xác định lại
- Cô còn muốn mẹ con tôi ở lại thì đừng đa ai về dây nhé Tôi sợ lắm
- Tởng gì, hoá ra cấm cửa
(Tô Hoài, Những ngõ phố, ngời đờng phố -16)
+ Lời trao là câu cầu khiến:
Ngời nói xuất phát từ một nhu cầu tự thân và mong muốn đợc ngời nghe
đáp ứng Khi lời trao đợc đa ra bày tỏ một sự mong muốn, ở lời đáp bày tỏ sự
đồng tình với lời trao
+ Lời trao là câu khuyên răn:
Ngời trao đa ra lời khuyên để bày tỏ sự quan tâm đối với ngời nghe
Lời trao là lời khuyên, còn lời đáp tỏ thái độ phản ứng với lời khuyên bằng hình thức câu hỏi:
- Này nhà vắng quá, cới vợ đi thôi!
- Vâng, cới
- Nhanh lên chứ, kì này đang rỗi
- Vâng! Kể cũng rỗi ( Chu Văn, Bão biển -108)
Lời trao là lời khuyên Lời đáp bày tỏ thái độ phản ứng
- Em phải đi học, Mi! Cô khuyên em
- Khuyên, khuyên, đồ hủ hoá, lại còn khuyên
( 20 truyện ngắn hay 94 , Ngô Quang Lập.116)+ Lời trao là câu mệnh lệnh:
Ngời nói đa ra lời trao với thái độ nghiêm trang, bực tức hay căng thẳng bắtngời nghe thực hiện theo hành vi mệnh lệnh Loại này thờng dùng các động từnh: câm, im, về, cút, bớc, nói, đi, xéo, dậy, ra, trói Kèm ngữ điệu nhấn mạnh,
Trang 13căng thẳng Ngời nghe thờng tỏ thái độ phản ứng, chống chế hay tìm cách trìhoãn.
a Lời trao là một mệnh lệnh Lời đáp bày tỏ thái độ đáp ứng hành vi:
- Đồ gì để đó, về đi
- Không đợc, h hao rồi ai bồi thờng
( Nguyễn Thi, Ước mơ của đất - 61)
b Lời trao là câu mệnh lệnh Lời đáp là một sự chất vấn trở lại về hành vi mệnh lệnh để gián tiếp không thực hiện mệnh lệnh:
- Đầu hàng thì sống! Giơ tay lên!
động này thờng mang những ý nghĩa triết lí, khái quát
a Lời trao là một câu mời lễ phép Lời đáp là câu than vãn có lí do để từ chối câu trao:
- Làm sao thế ?
Đứa con gái vừa mếu máo vừa đáp lại:
- Con đau bụng
- Giời ơi là giời
ấy là tiếng vợ Điền rên lên Rồi thì mắng con:
- ăn bậy lắm Chết thì phải
Trang 14(Giăng sáng 2.317)
* Hành động trần thuật
Đó là những hành động kể hay trần thuật, miêu tả nhằm cung cấp cho vai nghe những nội dung miêu tả hay lõi mệnh đè của câu kèm theo
1.1.3 Cấu trúc lời thoại
1.1.3.1 Phân biệt lời thoại và lời dẫn
a Lời thoại
* Gồm lời đối thoại và lời độc thoại
+ Lời đối thoại:
Lời đối thoại (đối đáp) là lời trong cuộc giao tiếp song phơng mà lời nàyxuất hiện nh là một phản ứng đáp lại lời nói trớc Lời đối thoại bộc lộ khi hai bên
đối thoại có sự tiếp xúc phi quan phơng và không công khai, không bị câu thúc,trong không khí bình đẳng về mặt đạo đức của ngời đối thoại Lời đối thoại th-ờng kèm theo động tác cử chỉ biểu cảm và tạo nên bởi phát ngôn của nhiều ngời
+ Lời độc thoại:
Lời độc thoại không đòi hỏi sự đáp lại, độc lập với phản ứng của ngời tiếpnhận và đợc thể hiện rõ cả trong hình thức nói lẫn viết Bề ngoài lời độc thoạikhông bị ai ngắt quãng, nhng cũng có khi bi ngắt bởi “ngời đối thoại” trong tởngtợng
* Phân biệt ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại
+ Về nội dung:
- Ngôn ngữ đối thoại: Có 2 nhân vật trở lên
Ngôn ngữ đối thoại là lời phát ngôn chính thức, là tuyên ngôn của cá nhân
A với cá nhân B Một khi đã phát ra, ngời đó phải chịu trách nhiệm về hành viphát ngôn của mình, gây tác động đến B đòi hỏi B có phản ứng hồi đáp Nếu Bkhông hồi đáp thì cũng không vô can còn với A nh trớc khi nghe phát ngôn củaA
- Ngôn ngữ độc thoại: Chỉ có một nhân vật
Ngôn ngữ độc thoại có khi cũng có dạng song thoại (có ngời gọi là songthoại gián tiếp để phân biệt với song thoaị trực tiếp).Tuy nhiên ngôn ngữ độcthoại hớng tới những nội dung phức tạp thuộc về nội tâm, phần lớn dừng lại ở dự
định, toan tính chứ cha thành hiện thực, ngời độc thoại cha bị quy trách nhiệmgì
+ Về hình thức: Ngôn ngữ độc thoại có những tín hiệu hình thức khác với tín hiệu hình thức trong ngôn ngữ đối thoại
So sánh 2 ví dụ:
1, “Bác nói: -“Không có gì quý hơn độc lập tự do”
Động từ “ nói” cùng dấu câu[ : - “ ”] lại thể hiện đây là lời nói trực tiếp
Trang 152, Nh ng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ : -“ Chắc nó trừ mình ra”.
Động từ "nhủ" cùng dấu câu [ : - “ ”] lại thể hiện đây là lời độc thoại
* Cấu trúc lời thoại:
+ Lời thoại có cấu trúc ngắn gọn
Lời thoại nhân vật thờng chỉ mang tính chất giới thiệu nên câu văn ngắn, ítbình luận, gần với lời thoại của kịch nói
Lời thoại nhân vật thờng đi thẳng vào sự việc, không quanh co, không xen
kẻ tả, không che dấu, có khi sắc lạnh
Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật thờng hớng đến mục đích thực dụng hàng ngày mà bỏ qua những ớc mơ khát vọng về một vẻ đẹp hớng thiện cần có
+ Lời thoại không có dấu hiệu hình thức thể hiện thành cặp trao đáp
Có những nhà văn có cách thể hiện trái với truyền thống tức là thể hiện lờithoại nhân vật không bằng dấu hiệu hình thức: “Hai chấm- xuống dòng- gạchngang đầu dòng”
+ Lời thoại sử dụng các yếu tố chỉ tình thái đa dạng :
Trong hội thoại, khi một phát ngôn đợc nói ra thì bên cạnh phần nghĩamiêu tả thờng do các yếu tố từ vựng mang nghĩa chân thực đảm nhận, còn cóphần thể hiện thái độ, đánh giá của ngời nói đối với hiện thực đợc nói tới, phầnnày thờng do các yếu tố tình thái trong phát ngôn đảm nhận
Quá trình vận động hội thoại, lời trao và lời đáp đều hờng tới đối tợngnghe một cách trực tiếp Vì vậy mỗi một cá nhân khi tiếp nhận những thông tincủa khách thể đều có những tâm t, tình cảm, thái độ nhất định
- Dùng trợ từ tình thái
- Dùng từ, tổ hợp từ mang nghĩa tình thái
- Dùng quán ngữ thể hiện thái độ đánh giá
- Dùng hình thức tách xen
+ Lời thoại sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Thành ngữ, tục ngữ là sự chiêm nghiệm, đúc kết từ ngàn đời nay Nó cócấu trúc đơn giản lại đợc diễn đạt bằng những từ, ngữ, hình ảnh gần gũi với cuộcsống con ngời nên nó thờng dễ nhớ, dễ hiểu, nó tránh đợc sự tối nghĩa Thànhngữ, tục ngữ là sự cô đúc, sự rút gọn từ chính con ngời, từ chính cuộc đời nên đócòn là một cách triết lí về cuộc đời của ông cha ta
Trang 16* Vị trí: Lời dẫn thoại có thể nằm trớc câu thoại, giữa câu thoại hay sau câu thoại.
Dù ở vị trí nào thì lời dẫn thoại cũng có chức năng cơ bản là dẫn dắt, báo trớc sự tồn tại của lời nói nhân vật
VD: Ng ời làng ra hỏi thăm, A Phủ vừa kể vừa chửi :
- Con chó đẻ ra thằng Tây! Nó trói, bắt nằm cả ngày một chỗ với con lợn ( Vợ chồng APhủ 20.460)
* Cấu tạo:
- Lời dẫn thoại có chức năng mang tính dự báo, miêu tả cách thức nhân vậtnói năng và thể hiện tính đặc trng trong ngôn ngữ kể chuyện của tác giả trớc khixuất hiện lời thoại
- Lời dẫn thoại luôn hiện diện trong truyện ngắn - thể loại tự sự tái hiện sựkiện, quan hệ, diễn biến cuộc đời nhân vật Tuỳ theo ý đồ nghệ thuật, cách thức
tổ chức cốt truyện, phong cách ngôn ngữ của mỗi nhà văn, dạng lời nói này có sựhiện diện rất khác nhau
- Lời dẫn thoại thờng có cấu tạo ngắn gọn, súc tích Nó thờng tập trung ở các kiểu câu phổ biến là câu đơn, câu ghép và các kiểu câu mở rộng
* Nội dung: Qua khảo sát một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao nh :Chí Phèo, Giăng Sáng, Lão Hạc và tập "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài cho thấylời dẫn thoại có tần số xuất hiện lớn và tờng thuật rất cụ thể, chi tiết Hầu nh bất cứcâu thoại nào của nhân vật cũng đều đợc tác giả báo trớc bằng ngôn ngữ tờngthuật, miêu tả của mình
Lời dẫn thoại luôn chiếm số lợng lớn trong tác phẩm của Tô Hoài, NamCao Chúng khiến cho lời thoại của nhân vật đợc tiếp nối một cách tự nhiên liềnmạch và tạo ra một không khí đối thoại liên tục, kế tiếp Lời thoại đợc cung cấpthêm nhiều thông tin về tâm trạng, cách thức nói năng của nhân vật, ngữ cảnhtình huống phát ngôn do đó, trở nên cụ thể, sinh động và gắn bó mật thiết vớicá tính chủ thể Mặt khác, nó cũng là lời văn mà tác giả có thể bộc lộ sở trờngmiêu tả, sử dụng từ ngữ của mình
1.2 Đặc điểm của ngôn ngữ trong truyện ngắn và truyện ngắn của Tô Hoài, Nam Cao.
Trang 17hơi không nghỉ.Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t duy mới, một cách nhìn cuộc
đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại
b Đặc trng thể loại truyện ngắn
Đặc trng cơ bản của truyện ngắn là hình thức lời văn, đó là bằng văn
xuôi Đặc trng cơ bản của thể loại truyện ngắn thể hiện chủ yếu qua ba phơngdiện: Phơng thức tiếp cận đời sống, phơng thức xây dựng hình tợng, và phơngthức tổ chức lời văn
1.2.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn:
.a.Vốn từ ngữ phong phú
Từ ngữ là sản phẩm chung của toàn dân, nó là kết quả của một quá trìnhlịch sử văn hoá lâu dài Tài năng của mỗi nhà văn thể hiện ở chỗ họ biết vậndụng vốn ngôn ngữ đó nh thế nào trong sáng tạo nghệ thuật của mình Đối vớiTô Hoài, Nam Cao, hai ông đã khai thác một cách tinh tế vốn từ ngữ của dân tộc,làm nên chất giọng riêng, đậm dấu ấn, phong cách của mình ở những trang viết.Vốn từ ngữ đó thể hiện trong những lĩnh vực sau:
* Câu ghép và các kiểu câu mở rộng
1.2.2 Truyện ngắn Tô Hoài, Nam Cao
1.2.2.1 Truyện ngắn Tô Hoài
a Về tác giả
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen.Ngoài bút danh Tô Hoài quen thuộc vớibạn đọc,Tô Hoài còn có các bút danh khác: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phơng,Hồng Hoa (dùng cho viết báo)
Tô Hoài sinh ngày 27.9.1920 Quê nội của Tô Hoài ở thị trấn Kim Bài,huyện Thanh Oai, tỉnh Hà tây Ông sinh ra và lớn lên ở quê ngoại tức làng Nghĩa
Đô - phủ Hoài Đức - tỉnh Hà Đông (cũ), nay là phờng Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy
- Hà Nội
Trớc cách mạng tháng 8.1945, Ông vừa viết văn vừa tham gia các hoạt
động xã hội Những truyện ngắn và sáng tác văn xuôi hiện thực của Tô Hoài từ
đầu những năm 1940 rất thu hút sự chú ý của độc giả lúc đó
Trang 18Sau cách mạng tháng tám,Tô Hoài lên việt Bắc làm báo cứu quốc, chủnhiệm, chủ bút tạp chí Cứu Quốc Từ 1951 về công tác ở Hội văn nghệ ViệtNam.Sau ngày hoà bình lập lại, ông đợc bầu làm Tổng th ký của hội nhà văn Từ1966-1996, ông tham gia nhiều công tác xã hội khác nh : đại biểu Quốc hội khoáVII, phó chủ tịch Uỷ ban đoàn kết - á Phi
Sự ngiệp văn học:
+ Trớc cách mạng: Tiêu biểu là những tác phẩm: “Dế mèn phiêu luký’’(1941),“Quê ngời’’(tiểu thuyết1941),“ổ chuột’’ (tập truyện ngắn 1942),
“Giăng thề’’(truyện1943), “Nhà nghèo’’(tập truyện ngắn 1944)
Những tác phẩm ấy có hai mảng đề tài chính:
Truyện đồng thoại về loài vật và truyện về đời sống con ngời ở vùng quêven thành.Trên những trang viết,Tô Hoài toả ra là một ngòi bút am hiểu phongtục,có khả năng quan sát, miêu tả tinh tế con ngời và cảnh vật vùng nông thônViệt Nam trớc cách mạng
+ Sau cách mạng:
Tiêu biểu trong các sáng tác: “Núi cứu quốc’’(tập truyện ngắn1948),
“Ngợc sông thao’’(1949), “Xuống làng’’(tập truyện ngắn 1950) và thành côngnhất là “Truyện Tây Bắc’’(tập truyện 1953) Ngòi bút của Tô Hoài ngày càng tỏ
ra sung sức và thành công trên nhiều thể loại Tác phẩm tiêu biểu ở thời kỳ nàycủa Tô Hoài là các tập truyện ngắn: “Khóc trớc’’(1957), “Vỡ tỉnh” (1962), “Ng-
ời ven thành’’(1972), “Miền Tây’’(1967) [đạt giải thởng Hoa Sen của Hội nhàvăn á phi] Theo thống kê của một số nhà nghiên cứu cho biết sáng tác trớc vàsau cách mạng của Tô Hoài lên tới 150 tác phẩm
Tô Hoài đã nói về quá trình sáng tác của mình: “Cho tới nay tôi đã viết và
in hàng trăm đầu sách, tôi đã ở Việt Bắc ngót 10 năm về sau còn đi lại nhiều nữa,nhờ vậy tôi am tờng đôi chút về một số dân tộc anh em nh Tày- Mờng- Dao-HơMông Tôi coi Việt Bắc, Tây Bắc cũng nh một quê hơng, đề tài của tôi Nh đãnói, đề tài của tôi chỉ có hai, không nhiều và không phải cái gì cũng viết đợc.Còn nh tôi thờng miêu tả phong tục, tập quán thì cũng là một quan niệm và ph-
ơng pháp xây dựng truyện và nhân vật của tôi Tôi cho rằng câu truyện và nhânvật phải luôn luôn đợc bao bọc và ảnh huởng qua lại với phong tục, tập quán,nghề nghiệp và quê hơng từ gia đình ra ngoài xã hội” ("Tô Hoài, chuyện bếp núcvăn chơng" - Báo văn nghệ số 14.tháng 10.1995)
Có thể thấy qua nhiều tác phẩm Tô Hoài đã có lúc “đi trong lầy lội, có lúcchoáng váng, có lúc mờ mờ’’(“Hồi ký một chặng đờng”- Tạp chí, tác phẩm mới
số 16 tháng 11-12-1979) nhng cái gốc tâm hồn của anh lúc nào cũng giữ đợc vẻ
Trang 19đẹp trong sáng của lý tởng mình theo đuổi Tác phẩm của anh hồi đó cũng có lúcmấp mó giữa chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tự nhiên.
Nh vậy, Tô Hoài là tấm gơng sáng về lao động sáng tạo nghệ thuật.Tácphẩm của ông mang theo phong vị và hơng sắc của đời sống và tâm hồn dân tộc.Bạn bè thế giới đã tìm thấy trong tác phẩm của ông nhiều giá trị và những phẩmchất riêng của dân tộc.Từ chỗ đứng quen thuộc của một nhà văn hiện thực TôHoài đã tiếp nhận đợc nhiều t tởng mới góp phần nâng cao và mở ra trên trangviết một tầm nhìn và viễn cảnh mới
Gần nửa thế kỷ lao động sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài đã có những đónggóp quan trọng vào nền văn học cách mạng Ông có mặt ở cả hai thời kỳ trớc vàsau cách mạng tháng tám Tác phẩm của ông ở cả hai thời kỳ phản ánh đợcnhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nớc, đi sâu đợc vào nhiều giá trị thẩm
mĩ phong phú và sáng tạo “Quá trình sáng tác của Tô Hoài đã đi qua nhiềuchặng đờng dài với những đóng góp quan trọng Ông vẫn đang ở độ tuổi sungsức của ngòi bút Đến với nghệ thuật, ông là ngời nghệ sĩ sáng tạo, ông cũng làngời thợ cần cù trong công việc, ông treo một tấm gơng lao động Đó là tấm g-
ơng của một ngời lao động có tài năng, có bản sắc và tự tin vào công việc bình dị
mà cao đẹp của mình (Tuyển tập Tô Hoài, tập 1,NXBVH, H,1987) Chínhnhững điều đó Danh hiệu Huân chơng độc lập xứng đáng dành cho nhà văn TôHoài
Những tác phẩm chính của Tô Hoài :
“Dế mèn phiêu lu ký” (1941), “Quê ngời” (1941), “ổ chuột” (1942), “Giăngthề” (1943), “Nhà nghèo” (1944), “Núi cứu quốc” (1948), “Truyện Tây Bắc”(1953), “Vỡ tỉnh” (1962), “Ngời ven thành” (1972) , “Miền Tây” (1967)
b Về tác phẩm, tập truyện "Truyện Tây Bắc"
Nếu đóng góp của một nhà văn vào nền văn học dân tộc, vào đời sốngtinh thần của cộng đồng là ở phong cách, ở khối lợng và chất lợng tác phẩm thì
có thể nói Tô Hoài là một trong những đời văn đẹp của văn học Việt Nam đ ơng
đại Mùa thu năm 1952, nhà văn Tô Hoài đi với bộ đội vào giải phóng Tây Bắc.Sau khi tìm hiểu chung về tình hình cuộc sống ngời dân, Tô Hoài quyết định đisâu vào những khu du kích của đồng bào các dân tộc thiểu số trên vùng cao: Sơn
La, Lai Châu đi khắp những vùng du kích hiểm trở nhất Mùa thu 1953 Tô Hoài
đã viết xong tập “Truyện Tây Bắc”dựng lên những con ngời, những khung cảnhchiến đấu của vùng rừng núi hiểm trở và giàu có của Tây Bắc nớc ta Nhà văn đã
kể lại những ấn tợng và trờng hợp viết truyện “Truyện Tây Bắc” nh sau: “Năm
1952 tôi theo bộ đội chủ lực, tiến quân vào Miền Tây, tham dự chiến dịch giảiphóng đợc một dải đất đai rộng lớn phía hữu ngạn, trong đó bao gồm nhiều khu
Trang 20du kích của các dân tộc anh em đã chiến đấu ròng rã nhiều năm giữa lòng địch( ) cái kết quả lớn nhất và trớc nhất của chuyến đi tám tháng ấy là đất nớc vàngời Miền Tây đã để thơng để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên.Tôi không thể bao giờ quên đợc lúc vợ chồng A Phủ tiễn tôi khỏi dốc núi làng TàSúa rồi cùng vẫy tay gọi theo: “Chéo lù! Chéo lù!” (Trở lại, Trở lại), không baogiờ tôi quên đợc lúc vợ chồng Lý Nủ Chu tiễn chúng tôi dới chân núi Cao Phạcũng vẫy tay kêu: “Chéo lù! chéo lù! chéo lù!chéo lù!” Hai tiếng: “Trở lại! Trởlại!” chẳng những nhắc tôi có ngày trở lại, phải đem trở lại cho những ngời thơng
ấy của tôi một kỷ niệm tấm lòng mình, một cái gì làm hiển hiện lại cả cuộc đờingời Mèo trung thực, chí tình dù gian nan đến thế nào bao giờ cũng đợi cán bộ,
đợi bộ đội, bao giờ cũng mong anh em trở lại ( ) Hình ảnh Tây Bắc đau thơng
và dũng cảm lúc nào cũng thành nét thành ngời, thành việc trong tâm trí tôi ( )
ý thiết tha với vấn đề tài là một lẽ quyết định Vì thế tôi viết “Truyện Tây Bắc” [28.70 – 72]
c Tập "Truyện Tây Bắc"
“Truyện Tây Bắc” gồm 3 truyện: “Cứu đất cứu Mờng”, “Mờng Giơn”,
“Vợ chồng APhủ” viết năm 1953, ngay sau chuyến thâm nhập thực tế của TôHoài Tập truyện này đã đợc tặng giải nhất giải thởng “Hội văn nghệ Việt Nam”năm 1954-1955 Tô Hoài từ Tây Bắc trở về với nhiều tài liệu sống, một hiểu biếtmới và một cảm tình nồng nàn với ngời, cảnh và cuộc sống ở Tây Bắc Nội dungcủa “ Truyện Tây Bắc” phản ánh số phận và con đờng đấu tranh của các dân tộc
ở Tây Bắc Số phận của cô ính (Mờng Giơn), Mỵ và APhủ (Vợ chồng APhủ), bà
ảng (Cứu đất cứu Mờng) đã chứng minh và khẳng định con đờng tất yếu giảiphóng các dân tộc ít ngời là đi cùng với cách mạng, khẳng định sức mạnh lớn laocủa cách mạng đối với việc giải phóng nhân dân miền núi Đọc “Truyện TâyBắc” chúng ta nhận ra nó vừa là bản cáo trạng chất chứa hờn căm tố cáo thực dânphong kiến miền núi vừa là bản tình ca, ca ngợi cảnh đẹp, tập quán hay tinh thầncách mạng, quan hệ giữa ngời với ngời, giữa quần chúng và Đảng ở Tây Bắc,tình ca viết với một bút pháp trữ tình nồng đợm và nên thơ
1.2.2.2 Truyện ngắn Nam Cao
a Về tác giả
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29.10.1917 tại làng ĐạiHoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, nay là xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh
Hà Nam Ninh Ông viết văn dới bút danh Nam Cao (ghép hai chữ đầu tiên huyện
và tổng quê: Nam Sang, Cao Đà), cùng một số bút danh khác nh: Nguyệt, Thuý
R, Xuân Du, Nhiêu Khê Sự kiếm sống khá vất vả, vì vào nghề viết văn kháchật vật và dạy học t thu nhập bấp bênh.Vợ con và bố mẹ sống ở quê- làng Đại
Trang 21Hoàng, nơi nhà văn thờng xuyên đi về để nghỉ ngơi, và khai thác chất liệu đểviết.
Trớc cách mạng tháng 8 1945: Nam Cao hoạt động trong nhóm Văn hoácứu quốc bí mật ở Hà Nội từ năm 1943 Cách mạng tháng tám về làng, ông thamgia cớp chính quyền ở xã, rồi làm báo thông tin, văn hoá tỉnh Chuyển ra Hà Nộicông tác ở hội văn hoá cứu quốc và tham gia toà soạn tạp chí Tiên Phong cơquan ngôn luận của Hội
Sau cách mạng tháng 8 1945: Giữa năm 1947 Nam Cao đợc điều lên ViệtBắc làm báo Cứu Quốc Việt Bắc cùng Tô Hoài, Trần Đình Thọ Thời gian này đ-
ợc kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dơng
ở Việt Bắc Nam Cao làm báo, viết văn Sau chiến dịch Biên giới 1950, vềcông tác ở Hội văn nghệ Cuối năm 1951, sau khi cùng Nguyễn Huy Tởng vàokhu bốn trở ra, Nam Cao tham gia vào đoàn cán bộ Thuế nông nghiệp, bị địchphục kích và bắn chết ở quãng Miễu Giáp- Hoàng Đan (tỉnh Ninh Bình cũ) ngày31- 11- 1951
* Sự nghiệp văn học:
+ Trớc cách mạng : Tiêu biểu là những tác phẩm: Chí Phèo (1941), Nửa
đêm ( tập truyện 1943), Truyện ngời hàng xóm (truyện dài 1944), Cời (tậptruyện 1946), Sống mòn (tiểu thuyết 1944), Nghèo (1937), Cái chết của conmực(1940), Con mèo (1942), Trăng sáng (1942), Trẻ con không đợc ăn thịt chó(1942), Lão Hạc(1943), Đời thừa (1943), Một bữa no (1943), Lang Rận (1944).Các tác phẩm của Nam Cao trớc cách mạng viết về sự bế tắc tuyệt vọng của tầnglớp tiểu t sản thành thị và nỗi đau nhục nhã vì miếng cơm manh áo của nhân dânlao động
+ Sau cách mạng: Nam Cao nhiệt tình dùng ngòi bút của mình phục vụcách mạng và kháng chiến.Vì sớm hi sinh nên Nam Cao không viết đợcnhiều.Trong số những tác phẩm: Truyện biên giới (1951), Cời (1946), ởrừng( 1948), Sống mòn, Nớc mắt, truyện ngắn "Đôi mắt"( 1954) xứng đáng đợcxem là tác phẩm vào loại xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam thời kì khángchiến chống thực dân Pháp
b Về tác phẩm, truyện ngắn Nam Cao trớc cách mạng:
Trong trào lu Hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 30- 45, Nam Caonổi lên nh một nhà văn tiêu biểu và độc đáo Là "ngời th ký trung thành của thời
đại", trớc cách mạng Nam Cao tập trung vào hai đề tài chính: Cuộc sống của
ng-ời trí thức tiểu t sản nghèo và cuộc sống ngng-ời nông dân ở quê hơng
ở đề tài ngời trí thức tiểu t sản, đáng chú ý là các truyện ngắn: "Trăngsáng", "Đời thừa", "Quên điều độ", tiểu thuyết "Sống mòn"
Trang 22ở đề tài ngời nông dân, Nam Cao viết về cuộc sống tối tăm, vất vả, thêthảm của ngời lao động nghèo cực khổ: "Nghèo", "Chí Phèo", "Con Mèo", "Nửa
đêm", "Lão Hạc" Viết về nông dân, Nam Cao thờng chú ý đến những số phận bithảm Ông không đặt nhân vật của mình trong những quan hệ xã hội rộng lớn màchỉ đi vào những vấn đề thuộc quan hệ gia đình nhỏ hẹp diễn ra âm thầm trongnhững túp lều tranh tối tăm Từ đó ông phản ánh đợc chế độ thực dân đã bóc lộtvơ vét ngời dân lao động đến cùng kiệt nh thế nào
Có thể nói dù viết về ngời trí thức nghèo hay về ngời nông dân cùng khổ,một mặt Nam Cao luôn day dứt, đau đớn trớc tình trạng con ngời bị xói mòn vềnhân phẩm, thậm chí bị huỷ diệt cả nhân tính trong cái xã hội phi đạo đơng thời.Mặt khác Nam Cao tỏ thái độ trân trọng, xót thơng đối với những ngời nông dânnghèo Phần lớn những truyện ngắn viết về đề tài nông dân của Nam Cao ra đờivào những năm 1940- 1945 Cái dấu ấn một thời kỳ đen tối để lại khá sâu đậmtrong nhiều truyện ngắn của Nam Cao Đó là số phận ngời nông dân đợc đặt ởnhững thử thách khốc liệt của cảnh nghèo: anh Đĩ Chuột ( Nghèo), Lão Hạc (LãoHạc) Bên cạnh nhân vật chịu sự đày đoạ, chà đạp của xã hội nhng vẫn giữ đợcnhân phẩm của mình, còn có một loại nhân vật đã bắt đầu bị biến chất, tha hoánh: Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo (Chí Phèo), Trơng Rự (Nửa đêm), và khôngchỉ vậy, truyện ngắn trớc cách mạng của Nam Cao còn thể hiện rất rõ cuộc sốngcủa ngời trí thức tiểu t sản nghèo: Hộ (Đời thừa), Hài (Quên điều độ)
Chơng 2
Đặc điểm lời dẫn thoại trong truyện ngắn Tô Hoài và
truyện Nam Cao
2.1 Phân loại các lời dẫn thoại trong tập "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài và truyện ngắn Nam Cao.
Trang 23VD: Đầu câu chuyện với khách, APhủ hỏi :
- Ăn cơm cha ? ăn cơm nhà tao đi
Rồi APhủ và ng ời lạ vào bếp, lấy mấy nắm bột ngô xuống ăn với thịt chuột nấu rau cải, Mỵ vừa nhổ ở m ơng về Họ ăn và nói chuyện :
- ở đâu về đấy?
- ở ngoài vào " (Vợ chồng APhủ 20.461)Các cuộc thoại hay đoạn thoại trong tác phẩm của Tô Hoài có vai trò giúp choviệc miêu tả hoàn cảnh, cuộc sống và tính cách nhân vật phong phú, thể hiện chủ
đề t tởng của nhà văn đợc rõ ràng, sinh động, tạo nên sự phản ánh chân thực cuộcsống và con ngời miền núi Tây Bắc, nơi tác giả gắn bó, yêu thơng tha thiết
Dĩ nhiên truyện ngắn hay tiểu thuyết của nhà văn nào cũng có những đoạnthoại, cuộc thoại.Trong truyện ngắn của Nam Cao cũng có nhiều đoạn thoại nhvậy
VD: Vợ gật đầu bảo thằng cu:
- Con ngồi đây với thầy cho bu đi đong gạo nhé?
Nó không chịu, sợ sệt nhìn cha, chị mắng:
- Con nhà vô phúc, lại sợ Bố ! Khốn nạn, tại đi về không có tiềnmua bánh cho nó nên nó giận ấy mà, phải tội chết con ạ"
Nh
ng anh đĩ chuột bảo:
- Cho cả nó đi, kẻo nó khóc
( Nghèo 2.15) Với Tô Hoài, Nam Cao, các cuộc thoại này đã góp phần tô đậm rõ dấu ấn phong cách của nhà văn mà phần sau sẽ đợc luận văn chứng minh
2.1.2 Phân loại các lời dẫn thoại
Tần số xuất hiện của lời dẫn thoại trong tập "Truyện Tây Bắc" của TôHoài và một số truyện ngắn của Nam Cao trớc cách mạng, sử dụng lời dẫn thoạitrớc mỗi câu thoại với tỉ lệ cao Hầu nh tất cả lời dẫn thoại của nhân vật đều đợctác giả báo trớc bằng ngôn ngữ tờng thuật, miêu tả của mình
Bảng 1 Số lợng lời dẫn thoại trong truyện Tô Hoài
Trang 24Các câu có lời dẫn thoại luôn chiếm một số lợng lớn trong truyện ngắn
của Tô Hoài, Nam Cao, theo thống kê trong tác phẩm của Tô Hoài gồm 222 câu
có lời dẫn thoại, câu không có lời dẫn thoại gồm 17 câu; trong truyện ngắn củaNam Cao gồm 263 câu có lời dẫn thoại, 39 câu không có lời dẫn thoại, chúngkhiến cho lời thoại của nhân vật đợc tiếp nối một cách tự nhiên, liền mạch và tạo
ra một không khí đối thoại liên tục, kế tiếp Lời thoại nhân vật ngắn gọn, súc tíchchứng tỏ nhân vật là con ngời của cuộc sống ngày hôm nay, rất ít khi ta gặp mộtnhân vật nói dài dòng, lê thê Chỉ trong một vài từ, một vài câu nói của nhân vật,chúng ta có thể hình dung ra những nét tính cách của nhân vật, nét tâm lý đặc sắccủa nhân vật Lời thoại nhân vật đợc cung cấp thêm nhiều thông tin về tâm trạng,cách thức nói năng của nhân vật, ngữ cảnh, tình huống phát ngôn do đó trở nênsinh động, cụ thể và gắn bó mật thiết với cá tính chủ thể
2.1.2.2 Vị trí lời dẫn thoại
a Trớc câu thoại:
Vị trí lời dẫn thoại ở trớc câu thoại là phổ biến nhất.Theo thống kê trongtác phẩm của Tô Hoài và Nam Cao có 236 lời dẫn thoại ở trớc câu thoại, chiếm97,7% trong tổng số câu dẫn thoại.Trong lời dẫn thoại trớc câu thoại ta thờng bắtgặp dấu hai chấm, dấu gạch ngang hay tóm lại ta có thể mô hình hoá bằng côngthức sau:
Câu dẫn thoại - lời thoại
VD1: Lúc ấy, Châu đoàn cầm Vàng từ ngoài vào:
- Nhà mày ở đâu? Thóc lúa để những đâu quanh cái nơng này? ( Cứu đất cứu Mờng 20.326)
Trang 25VD2: Hôm sau Lão Hạc sang nhà tôi.Vừa thấy tôi, lão báo ngay:
- Cậu vàng đi đời rồi, ông giáo ạ ( Lão Hạc 2.239) VD3: Một hôm, đi ra tỉnh Nó hí hởn,vừa c ời nhe cả lợi ra vừa nhăn nhóbảo chồng:
- Cậu ạ, con nuôi của chúng ta đây này
b Lời dẫn thoại xen giữa câu thoại:
Lời thoại xen giữa câu thoại là lời thoại nhân vật đợc thể hiện trên văn bảntheo các câu thoại, nhng ở giữa, xen kẻ lời thoại, lời có lời dẫn thoại, có tác dụnglàm rõ xuất xứ hay bình luận, chú thích cho lời thoại Mô hình nh sau:
- Lời thoại - Lời dẫn thoại - Lời thoại
VD1: - Tao muốn làm ngời lơng thiện ! Bá Kiến c ời ha hả : - ồ tởng gì !Tôi chỉ cần anh lơng thiện cho thiên hạ nhờ (Chí Phèo 2.36 )
VD2: - Có lẽ hôm nay đã mồng hai , mồng ba tây rồi, mình nhỉ?
- à phải ! Hôm nay mồng ba Gía mình không hỏi tôi thì tôiquên Tôi phải đi xuống phố Từ nhắc khéo: - Hèn nào mà em thấy ngời thu tiềnnhà sáng nay đã đến (Đời thừa 2.263)
VD3: - APhủ cho Aphủ cha kịp nói, Mỵ lại vừa thở vừa nói: - ở đâychết mất ( Vợ chồng A Phủ 20.453)
VD4: - ông sợ thì ông về một mình Không ai nghe ông dụ dỗ về đồnvới Tây nh ở Mờng Lùng nữa đâu Một ng ời khác nói : - Mặc kệ nó.Qua mùa này
đã ( Mờng Giơn 20.367))
Trang 26Qua những ví dụ trên ta thấy lời dẫn thoại giữa câu thoại tuy xuất hiệntrong tác phẩm Tô Hoài và Nam Cao không nhiều, theo thống kê chỉ có 21 câutrong tổng số 263 câu dẫn thoại chiếm 7,9% nhng chúng có tác dụng làm chocâu văn dẫn thoại thể hiện, nhấn mạnh đợc suy nghĩ, cảm xúc của ngời nói, nhờvậy câu văn dẫn thoại phản ánh đợc hiện thực khách quan trong tác phẩm c.Lời dẫn thoại sau câu thoại :
Mô hình lời dẫn thoại sau câu thoại:
- Lời thoại - Lời dẫn thoại
VD1: - Cuốn Đờng về chỉ có giá trị địa phơng thôi, các anh có hiểu
không? Ngời ta dịch nó vì muốn biết phong tục của mọi nơi Trung gật gù
c ời, vẫn cái c ời của y Mão thì c ời hô hố Hộ không c ời, mặt căng lên vì hứngkhởi Hắn nói say s a lắm ( Đời thừa 2.265)
VD2: - Khỏi sợ rồi, mai em cũng đi Mỵ tủm tỉm c ời
đời thờng một cách có chọn lọc Với Tô Hoài, Nam Cao "tính cách nào ngôn ngữấy" Ngôn ngữ của ông Lí trởng, Bá Kiến là ngôn ngữ của ngời hách dịch, quáttháo còn ngôn ngữ của chị em Mát và ính, chị em Gái là ngôn ngữ của những côgái miền núi ngây thơ trong sáng và hồn nhiên, ngôn ngữ của bà ảng, Lão Hạc
là ngôn ngữ của một ngời nông dân đầy lòng căm thù, sự phẫn uất trớc cuộcsống Hay ngôn ngữ của APhủ, Mỵ, Chí Phèo là ngôn ngữ của những ngời nôngdân bị áp bức muốn vơn lên số phận của mình, muốn đấu tranh để đòi lơngthiện Tất cả mọi lớp ngôn ngữ ấy đều đợc đa dẫn bằng một hình thức giốngnhau Điều đó cho ta thấy rằng nhân vật của Tô Hoài, Nam Cao dù đứng ở vị trínào trong xã hội, dù sống ở đâu, làm gì, dù xng "tôi" hay đang "độc thoại" thì vềcơ bản vẫn là những ngời nói năng và hành động, những từ ngữ của họ đều rấtmộc mạc mà ngắn gọn, súc tích
Trang 272.2 Khảo sát đặc điểm lời dẫn thoại
2.2.1 Các từ ngữ dùng trong lời dẫn thoại
2.2.1.1 Dùng động từ chỉ sự nói năng:
Trong tập "Truyện Tây Bắc"của Tô Hoài và truyện ngắn Nam Cao thờngchỉ dùng một số lợng nhất định để đa vào lời dẫn thoại, mà phổ biến nhất là các
động từ chỉ sự nói năng : nói, bảo, hỏi.Theo thống kê ba truyện, từ "nói" đợc nêu
lên 67 lần trong Truyện Tây Bắc, từ "bảo" đợc nêu 24 lần, từ "hỏi" 33 lần Cụ thể
đợc thể hiện trong bảng sau:
Tên truyện "Hỏi" Từ đợc nêu trong truyện (số lần) "Bảo" "Nói"
Tên truyện "Hỏi" Từ đợc nêu trong truyện (số lần) "Bảo" "Nói"
VD: Một hôm Nhấn nói với Bố:
- Bố à, tôi xuống Mờng Cơi ( Cứu đất cứu Mờng 20.321)VD: Aphủ hấp tấp bảo vợ :
- Nó là cán bộ! (Vợ chồng APhủ 20.461)VD: í nh thật thà nói:
- Các quan Mờng làm khổ ngời ở goá không có thóc ăn Sao không đikiện quan Mờng?
Mát lại nói:
- Mày về hỏi ngời già ( Mờng Giơn 20 339)
VD: Khi sắp đi, ông Mờng hỏi sạ :
- Con ơi, con có biết việc nhà mấy năm nay khổ nh thế nào không" (Mờng Giơn 20.412)
Trang 28VD: Nó trơ tráo bảo :
- Tôi yêu anh hiền lành Muốn lấy anh làm chồng quá ! Anh có lấytôi không, anh Đức? ( Nửa đêm 2.307)
VD : Cái Gái lấy ngón tay di một cục chè rồi bỗng nói to lên :
- à ! Con biết rồi! Không phải chè, cám mà ! ( Nghèo 2.14)
VD : Sáng hôm sau ở nhà hát ra Th hỏi :
- Bây giờ chúng ta đi về nhà anh chứ ? ( Quên điều độ 2.355)
VD : Lão chua chát bảo :
- Ông giáo nói phải ! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho
nó để nó làm kiếp ngòi, may ra nó có sung sớng hơn một chút
( Lão Hạc 2.237)
Sự khảo sát này cho thấy tác giả rất thành công trong việc miêu tả câu dẫnthoại, nhờ dùng các động từ chỉ sự nói năng mà câu văn dẫn thoại vừa ngắn gọn,súc tích lại làm ngời đọc dễ hiểu khi đi vào phân tích nhân vật, tác phẩm
2.2.1.2 Dùng động từ chỉ mệnh lệnh :
Thể hiện cụ thể qua các từ ngữ: "Quát, yêu cầu, đề nghị, khuyên " các từngữ này luân phiên thể hiện trong tác phẩm, tiêu biểu là từ "quát" đợc nhắc đếnnhiều lần, cụ thể đợc thể hiện trong bảng sau:
Tên truyện
Từ đợc nêu trong truyện (số lần)
Từ đợc nêu trong truyện (số lần)
Trang 29- Con già Mờng này rồ thật! (Cứu đất cứu Mờng 20.327)VD: Hắn trợn mắt lên quát :
- Thế thì thằng nào ăn đi ? ( Chí Phèo 2 35)
VD: Anh cu trông thấy quát :
- Mèo ! Đuổi nó đi ! Con mèo ! ( Con Mèo 2.74)
VD: .Nh ng ng ời bố trợn mắt thật to và quát :
- Những thằng này hỗn ! Chỗ chúng mày ngồi đấy à?
( Trẻ con không đợc ăn thịt chó 2.120)
VD: Tức khắc, nó lại quệt tay áo lau n ớc mắt, chỉ vào mặt con bé quát :
- Việc gì mà mày khóc! Tao đi đâu mày đi đấy ( Nửa đêm 2.320)
Trong câu, thái độ của chủ thể đóng vai trò hết sức quan trọng Thái độ đó
là điều kiện để lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ đi kèm những sắc thái đánh giákhác nhau Tô Hoài và Nam Cao dùng động từ chỉ mệnh lệnh đã bộc lộ rõ cảmxúc, tính cách trong cuộc sống của nhân vật Có khi là lời quát mắng, có khi làlời đề nghị, yêu cầu, hay là những lời khuyên răn, tâm sự giữa những con ngờivới nhau
2.2.1.3 Dùng động từ khác nh : "van, lạy, chửi, cãi "
Ngoài sử dụng các động từ nói năng lời dẫn thoại trong tập "Truyện TâyBắc" và truyện ngắn Nam Cao, còn đợc Tô Hoài và Nam Cao thể hiện thành
công qua các động từ khác nh : van, lạy, chửi, nạt, thét, gào, cãi thể hiện sự đa
dạng về ngôn từ, phong phú về hình ảnh Cụ thể qua bảng số liệu sau:
Tên truyện vanTừ đợc nêu trong truyện (số lần)lạy chửi, cãi
Tên truyện vanTừ đợc nêu trong truyện (số lần)lạy chửi, cải
Trang 30VD2: Bân chắp tay lạy ông Mờng
- Bố ơi! Bố đừng ra ruộng, đánh trâu về thôi"
(MờngGiơn 20.377)
VD3: A Phủ cãi :
- Đợc con hổ ấy còn nhiều tiền hơn con bò Thể nào tôi cũng bắn đợc"
(Vợ chồng APhủ 20.452) VD4: Chị Chuột mắng yêu con :
- Làm gì có nhiều mật mà ngọt ( Nghèo 2.13) VD5: Bà Quản Thích bực mình, chửi :
- Cha mẹ chúng nó ngứa mồm ( Nửa đêm 2.314) VD6: Thằng chồng chửi :
- Đồ phản trắc! Đồ bất lơng! Đồ giết chồng ! ( Nửa đêm 2.316) VD7: Lão Hạc nạt to hơn nữa :
- Mừng à? Vẫy đuôi à? Vẫy đuôi thì cũng giết ( Lão Hạc 2.238)VD8: Nó càng nâng cao hơn, mồm thét :
- Khoan! Khoan! Kẻo vỡ
(Trẻ con không đợc ăn thịt chó 2.122)VD9: Hài nói to nh thét :
- Đi chứ! Cố nhiên là phải đi ( Quên điều độ 2.35)VD10: Rồi tiếng ng ời đàn bà, gào to hơn:
- Mày cứ đánh chết bà đi! Mày đánh chết bà xem nào!
(Con Mèo 2.77)
2.2.1.4 Lợc bỏ động từ, dùng các từ miêu tả.
Lời dẫn thoại trong truyện của Tô Hoài và Nam Cao phần lớn tác giả đã
không dùng động từ để dẫn dắt, báo hiệu, tờng thuật câu thoại của mình mà tậptrung thể hiện qua các từ ngữ bỏ trống, dùng các từ miêu tả hình dáng, giong điệu,thái độ rất thành công Điều đó thể hiện trong bảng thống kê sau đây:
Tên truyện
Từ miêu tả hình dáng, giọng điệu, thái độ
nêu trong truyện (số lần)
hình dáng giọng điệu thái độ
Tên truyện
Từ miêu tả hình dáng, giọng điệu, thái độ
nêu trong truyện (số lần)
hình dáng giọng điệu thái độ
Trang 31- Bu mày đâu? ( Nghèo 2.16)VD: Thị đứng lên, vừa nguýt hắn ,vừa làu bạu :
- Đong mấy hào? ( Trẻ con không đợc ăn thịt chó 2.119)VD: Th chìa tay ra :
- Vậy để chút nữa Chúng tôi đợi anh ở chỗ nào?
(Quên điều độ 2.358)
2.2.2 Các cách thức diễn đạt trong lời dẫn thoại.
2.2.2.1 Lời dẫn thoại miêu tả cử chỉ của ngời nói
a Lời dẫn thoại trong tập "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài
Đây là cách thức tờng thuật phản ánh một cách khá tập trung khả năngquan sát đời sống cũng nh tài năng sử dụng từ ngữ của Tô Hoài Thể hiện cử chỉcủa nhân vật Tô Hoài dùng những bộ phận: tay, chân, mặt, mắt qua đó làm nổibật tính cách trong hành vi nói năng của nhân vật
Bân chắp tay lạy ông Mờng:
- Bố ơi! Bố đừng ra ruộng, đánh trâu về thôi
Trang 32(Mờng Giơn 20.378)
b Lời dẫn thoại trong tập truyện ngắn của Nam Cao
Nam Cao cũng sử dụng những từ ngữ : tay, chân, mặt, mắt, miệng, đầu
để miêu tả cử chỉ của nhân vật
VD: Hắn hất cả cái đầu cá ra mặt đất, và bảo thẳng vào mặ t vợ :
- Cái đầu cá này thì chỉ có bố mày ăn đợc thôi ( Nửa đêm 2.298)VD: Lão rân rấn n ớc mắ t, bảo tôi:
-Trớc khi đi, nó còn cho tôi ba đồng bạc, đấy ông giáo ạ!
( Lão Hạc 2.237)VD: Thế là hắn lại đổi mặt ra t ơi c ời:
-Thì bu mày liệu đấy Có ba ngời khách với tôi là bốn
(Trẻ con không đợc ăn thịt chó 2.119)VD: .Nh ng ng ời bố trợn mắt thật to và quát:
- Những thằng này hỗn! Chỗ chúng mày ngồi đấy à?
( Trẻ con không đợc ăn thịt chó 2.120)VD: Ông Cửu nghiến răng lại:
-Thôi hàng xóm ngời ta chửi chúng mày ngoài kia
( Nửa đêm 2.310)VD: Mụ vừa kéo áo lên quệt n ớc mũi , vừa bảo:
- Chúng cháu không dám chắc lép nhng quả là ít vốn
( Chí Phèo 2.37)VD: Bố nó chép miệng :
- Khốn nạn, chè đâu mà ăn, cơm còn không có nữa là chè
( Nghèo 2.10)VD: Hắn lắc đầu :
- Không đợc!Ai cho tao lơng thiện
( Chí Phèo 2.55)VD: Ông trố to đôi mắt thật to nhìn Hài Ông bảo:
- Ông có bệnh ( Quên điều độ 2.350)
VD: Mặt lão nghiêm trang lại :
-Việc gì thế cụ ( Lão Hạc 2.241)Qua một số ví dụ trên ta thấy Tô Hoài, Nam Cao hay dùng những từ ngữchỉ bộ phận của con ngời nh "mắt, mặt" để làm rõ hơn sắc thái tình cảm củahành động, tác giả thờng miêu tả chúng với những từ ngữ chỉ cảm xúc, mức độ,
cách thức thể hiện lời nói của chủ thể "Sầm mặt", "quắc mắt ", "trợn mắt", "bng mặt" Hầu nh không cần đến các động từ nói năng, những lời dẫn thoại miêu tả
cử chỉ của ngời nói hoàn toàn có thể báo trớc sự xuất hiện của các phát ngônngay sau đó Chúng khiến cho lời nói nhân vật đợc tờng thuật sinh động và đầy
Trang 33đủ hơn Điểm đặc biệt trong cách đẫn thoại ở đây là Tô Hoài, Nam Cao thờngchú trọng vào việc miêu tả những cách thức nói năng gần gũi với đời sống sinhhọat mang tính chất dân gian của những con ngừơi miền núi, con ngời nôngthôn.
2.2.2.2 Lời dẫn thoại miêu tả thái độ, cách thức nói năng của ngời nói
a Trong "Truyện Tây Bắc" của Tô Hoài
Miêu tả thái độ và cách thức nói năng của nhân vật đợc tác giả thể hiện
qua hàng loạt các từ ngữ rất phong phú và đa dạng "Cời ha hả, gật gật, xăm xăm chạy đến, hầm hầm nhiếc, thở dài đăm đăm, long lanh mắt giơ tay nói to, vắt tay lên mang tai, khẽ khẽ nói, lắp bắp, cơng quyết "
Tô Hoài đã đi thẳng vào những hành vi, thái độ của nhân vật bằng những
từ ngữ rất gần gũi với đời sống, sinh hoạt của con ngời đó là cuộc trò chuyệncủa Sạ, ính và Mát hàng ngày hay ông Mờng và Tạo On Tất cả các nhân vật đ-
ợc nhà văn soi vào tận bên trong để phát hiện ra nét tâm lý riêng của họ và nhận
ra rõ đợc tâm trạng chung là buồn tủi vì đất bản Mờng bị quân tây cớp bóc, chémgiết dã man Ông Mờng tiêu biểu cho ngời nông dân miền núi: lầm lỳ, ít nói nh-
ng gan góc bớng bỉnh, đối với giặc bề ngoài có vẻ sợ sệt nhng bên trong chứachất lòng căm thù và tinh thần phản kháng mạnh mẽ Ông hiểu đợc rằng "ở vớiquân ác thì không thể nhìn nhau đợc" trải qua bao nhiêu đau khổ, thử thách rènluyện, ông Mờng càng bộc lộ tất cả những đức tính trung kiên của nông dânnghèo vùng cao Rõ ràng nhờ có kinh nghiệm lâu năm, cùng ăn, cùng ở đã giúpTô Hoài phần nào nhìn thấy vẻ đẹp bên trong tiềm ẩn của những con ngời nơi
đây, Tô Hoài thờng nói: "Họ thật đẹp và yêu đời làm sao cho tôi thể hiện đợclòng tin, lòng yêu cuộc đời của những ngời trẻ tuổi "(Tô Hoài, Một số kinhnghiệm viết văn của tôi, NXBVH, 1959, 168) Tô Hoài miêu tả anh Sạ, ngờithanh niên nông dân luôn diễn ra một sự giằng xé nội tâm gay gắt khi âm ỉ, khiquyết liệt Trớc tiên, anh cảm thấy cay cú với cái số phận ở rể của mình bởi: "cáithân đi ở rể, ăn cơm ngồi góc bếp, hút điếu thuốc phải hút vụng, dù vợ chồngthật yêu nhau cũng cứ phải giả vờ xa cách nh mặt trăng với mặt trời"(Mờng Giơn20.335), yêu tha thiết nhng vẫn bị gò bó trong tục lệ phong kiến khắc nghiệt.Chính vì vậy hành vi nói năng của nhân vật Sạ là hành vi của con ngời thích tự
do, có chí vợt qua tất cả
Trong tác phẩm"Cứu đất cứu Mờng" Tô Hoài tập trung miêu tả nhân vậtcô ảng Đứng trớc bọn lính trong đó có Cầm Vàng - Con tri châu Né - Bà ảngdiễn ra một tâm lý: "Nên gào, nên chửi nên khóc thật to hay nh thế nào", lòngcăm thù đã đến đỉnh cao nhng rồi bà ảng dần trở lại bình tĩnh Và không ngờngời đàn bà ấy giờ đây lại mạnh mẽ, gan dạ dám thách thức bằng câu trả lờichỏng lỏn: "Nhà tao ở dinh quan châu Né Mờng Cơi, mày không biết à ?
Trang 34Mày là cái khố cầm vàng con châu Né bây giờ làm quan châu đoàn chứ ai Màycớp con gái tao rồi" (Cứu đất cứu Mờng 20.326) giữa lúc bọn binh lính bắt gà,nhổ sắn Bà xông ra giữa đám, quờ quạng hai tay dờng nh muốn nắm đứa nào.Lúc này lòng căm thù đã dẫn đến ngọn lửa hành động, không còn bó tay, bất lựctrớc cờng quyền bạo lực, bà ảng vẫy vùng, nổi loạn Không sợ chết, bất chấp sợidây đang trói mình vào gốc xoan, bà vẫn dãy giụa rồi kêu lên : "Thóc tao! Thóccủa tao! Cầm Né! Cầm Né! Thằng cầm vàng đốt thóc của mẹ con tao?"
Nh vậy, đời sống tâm hồn, những tâm trạng của ngời dân miền núi vớinhiều sắc thái riêng biệt đợc Tô Hoài có nhiều kinh nghiệm miêu tả cặn kẽ vàtinh tế (Bùi Hiển) Nhân vật cô ảng có quá trình nội tâm tuy cha thực sự phứctạp nhng có sự biến chuyển từ chỗ ngậm ngùi cam chịu đến lúc vùng vẫy nổi dậyphản kháng dù biết rằng cái chết là điều không thể tránh khỏi Tô Hoài hiểu rõtừng suy nghĩ, từng bớc đi của nhân vật và đã miêu tả cách thức nói năng củanhân vật với ngòi bút xác thực
í nh cau mặt, c ơng quyết bảo :
- Không lo Biết đứa nào thì boả nhau kiềng mặt nó, không cho ngồi
Lúng túng thì Yên b ớc ra tr ớc mặt trung đội tr ởng nói và khóc:
- Các anh cho em đi với"
Nhờ những từ ngữ miêu tả kết hợp : xăm xăm, nghiêm trang, hốt hoảngnói, thấy trời đùng đục, long lanh mắt, thở thở nói, uống rồi nói mà lời dẫn thoạitrở nên uyển chuyển, chứa đựng nhiều thông tin hơn hẳn so với kiểu kết cấukhuôn mẫu của nó Chính vì vậy mà "Truyện Tây Bắc" nhanh chóng gây đ ợc ấntợng ở ngời đọc không chỉ là ở sự miêu tả hay về thiên nhiên, phong tục mà mộtphần quan trọng là ở khả năng miêu tả tinh vi quá trình tâm lý cũng nh mọi hành
động của nhân vật.Từ khi cha đến với cách mạng các nhân vật nh cô ảng, Mát,
Mỵ, đến ông Mờng, TạoOn, Bân có quá trình tâm trạng, tâm hồn thờng đau khổ,xót xa, hờn tủi, căm tức Nhng khi gặp cách mạng họ là những con ngời vợt lênmọi thử thách, có niềm vui, hy vọng, khát khao về cuộc sống, tình yêu và hạnhphúc Những biến đổi của Nhấn, bà ảng (Cứu đất cứu Mờng) và của ính, chịYên, ông Mờng (Mờng Giơn) và của vợ chồng APhủ chính là quá trình tạo rathay đổi nhờ "cái nguyên cớ đẹp đẽ bên trong" ấy Qua những lời thoại trong tácphẩm cho thấy tác giả đặc biệt nhấn mạnh lòng trung thành với cách mạng của
Trang 35con ngời miền núi khi họ giác ngộ cách mạng Đồng bào ở đây sốt rét quanhnăm "mỗi năm thờng thiếu ăn đến ba bốn tháng" nhng họ không quản công sức
để bảo vệ cách mạng Nhng để đến với cách mạng và tin cách mạng thì tâm línhân vật không theo một con đờng thẳng Đúng nh tâm lý của ngời dân miềnnúi, Tô Hoài miêu tả chính xác con đờng tâm lý của họ từ chỗ cũng có những
"ngờ vực" đến niềm tin tuyệt đối Nhà văn đã phát hiện ra quy luật biện chứngcủa tâm hồn, miêu tả quá trình phát sinh, phát triển, chuyển hoá tình cảm, t tởngcủa con ngời Tập "Truyện Tây Bắc" là thành công xuất sắc, khẳng định bớc pháttriển mới của phong cách sáng tạo Tô Hoài
b Trong truyện ngắn của Nam Cao
Cũng nh Tô Hoài, Nam Cao miêu tả thái độ và cách thức nói năng của nhân vật
qua hàng loạt các từ ngữ: hụ hị kêu, khoặm mặt lại, hất hàm hỏi, cời ha hả, trợn mắt quát, lẩm bẩm trách, tủm tỉm cời, xồng xộc chạy, tò mò hỏi, nguây ngẩy, gật
gù cời, rụt rè đáp, the thé, dịu dàng bảo, trơ tráo bảo, rên rẩm kêu,vội vàng chộp, dõng dạc hỏi
Đọc truyện ngắn của Nam Cao trớc cách mạng, ta nh đi vào một thế giớikhác hẳn, không còn sự dài dòng và sang trọng, kiểu cách mà ngôn ngữ NamCao sử dụng trong các đoạn thoại gần gũi với ngời dân mang đậm chất khẩu ngữcủa quần chúng lao động Chẳng hạn trong tác phẩm "Chí Phèo" chỉ lớt qua một
số từ ngữ: trợn mắt nói, cời ha hả đã cho ta thấy đợc thái độ cử chỉ của nhân
vật Chí Phèo tợn tạo nh thế nào - một kẻ lu manh mất hết nhân tính, rạch mặt ănvạ Hay trong truyện ngắn "Nửa đêm" khi miêu tả hành động của Trơng Rự,
Nam Cao đã sử dụng một loạt từ ngữ: hắn cời ha hả, vênh cái mặt, trợn mắt lên, hắn cào, hắn cấu, hắn bóp cổ, đấm bằng tay, đá bằng chân Một loạt những
hành động ấy cho ta thấy Trơng Rự là một con ngời vũ phu, hành động giết vợkhông khác nào một con thú vật hung dữ
Trong truyện "Trẻ con không đợc ăn thịt chó" Nam Cao tập trung miêu tảthái độ, cách thức nói năng của nhân vật "Hắn" ngời chồng cùng với hàng loạt từngữ: Hắn trợn mắt, hắn gờm gờm, hục hặc nói, hất hàm hỏi qua đó nhấn mạnhtâm trạng ấm ức nghẹn ngào của "thị" ngời vợ hắn: "Thị nghẹn ngào cả cổ, Thịmuốn gào thật lớn Nhng còn vớng mấy ngời bạn đấy Thôi cũng đành cắnrăng Thị quăng thị xuống cái phản gỗ sung đến phịch Chao ôi là chán nản,Thị thấy một chán nản rời rã xâm lấn ngời ".Và trong tác phẩm "Lão Hạc" ta lạithấy thái độ, cử chỉ lời nói nhân vật dờng nh khác hẳn nhân vật Chí Phèo,Trơng
Rự, đó là thái độ cử chỉ: hu hu khóc, bùi ngùi nhìn, chua chát bảo cho thấy Lão
là một con ngời nhân hậu, đầy tình yêu thơng
Nh vậy, lời dẫn thoại trong truyện ngắn Tô Hoài, Nam Cao trở thành mộtloại phơng tiện ngôn ngữ đảm nhận đợc nhiều chức năng: báo hiệu sự xuất hiện
Trang 36của lời thoại, thể hiện sắc thái tâm trạng, đặc điểm nói năng của chủ thể và phản
ánh một đặc điểm quan trọng về ngôn ngữ nghệ thuật của tác giả
2.2.3 Các phơng tiện tu từ trong lời dẫn thoại
2.2.3.1 Sử dụng từ láy:
Đây là lớp từ có khả năng biểu cảm lớn, gợi ra những nét nghĩa tinh tế,phân biệt Chúng xuất hiện trong lời dẫn thoại với một số lợng khá lớn, phổ biếnnhất là những từ láy đôi miêu tả giọng điệu và cách thức nói năng của nhân vật
nh: lảm nhảm, đăm đăm, lo lắng, xôn xao, vu vơ, nhăn nhở, thủng thỉnh, hốt hoảng, lúi húi, thở thở, gật gật, ha hả, ngơ ngẩn, hầm hầm, thì thào, hấp tấp
VD1: Nhấn đứng lại, ngẩn ngơ nhìn Sơn, rồi nói :
- Anh Sơn ơi! Tôi nói với anh Sơn chuyện này Tôi không phải làngời Mán, anh Sơn biết cha? (Cứu đất cứu Mờng 20.316)
VD2: Mát thở dài, đăm đăm :
- Chuyện buồn quá Thế rồi con thần quái đại bàng bay đi đâu ?
(Mờng Giơn 20.344)VD3: APhủ hấp tấp bảo vợ:
- Nó là cán bộ ! (Vợ chồng APhủ 20.461)
Những từ láy đợc Tô Hoài miêu tả tuy không phải là lời nói trong phát ngôn
nh-ng lời dẫn thoại vẫn giúp nh-ngời đọc hình dunh-ng một cách cụ thể về cá tính nhânvật, nội dung biểu cảm của phát ngôn
Trong tập "Truyện Tây Bắc" Tô Hoài đã sử dụng rất thành công từ tợngthanh và từ tợng hình đem lại những hình ảnh đẹp, nên thơ, ấn tợng làm cho cảnhvật thiên nhiên, sự vật - hình tợng trong thế giới khách quan vốn đã cụ thể lại đợc
cụ thể hoá hơn Tô Hoài đã sử dụng từ láy nhằm thể hiện hình dáng con ngời.Các từ láy có khi đứng trớc đối tợng, có khi đứng sau đợc miêu tả rất rõ nét:
VD1: Lúc ấy, trong nhà đã tối b ng, Mỵ rón rén b ớc lại, APhủ vẫn nhắmmắt, nh ng Mỵ t ởng t ợng nh Aphủ đ ơng có ng ời b ớc tới"
(Vợ chồng APhủ 20.445)VD2: Ông Mờng long lanh mắt, giơ tay, nói to:
- Thằng Tây không làm nổi cái đồn Lạn Phạ, phải chạy hết về rồi"
(Mờng Giơn 20.365)Nam Cao đã rất khéo léo trong cách vận dụng từ láy Lớp từ láy trongtruyện ngắn Nam Cao rất độc đáo và mới lạ.Tác giả đã sử dụng cả hai dạng láy
âm và láy vần trong những tình huống rất cụ thể tạo nên sự đa dạng, phong phútrong cách miêu tả Chẳng hạn:
" Cái tiếng hắn choang choang" ( Nửa đêm 2.297)
" nói toang toang ngay ngoài chợ" ( Chí Phèo 2.198)
Trang 37Các từ "choang choang", "toang toang" là những từ láy tợng thanh nhằm
chỉ tiếng kêu của vật dễ vỡ nhng ở đây Nam Cao lại dùng để tả tiếng nói, tiếnghát của con ngời Hai từ này dùng cho một loại ngời cụ thể nhằm làm nổi bật đặctrng, tính cách của loại ngời này: Vừa có cái gì đó đây ta đầy sĩ diện nhng thực
ra lại rỗng tuếch nh chính cái tiếng nói đầy sức vang của âm lợng giọng nói
Đặc biệt, trong khi tác giả miêu tả trạng thái vui, buồn, giận dữ của nhân
vật, tác giả sử dụng khá linh hoạt từ láy: cái cời lúc thì "ha hả, khành khạch", lúc thì "the thé, khe khẽ", khi miêu tả trạng thái buồn, tác giả viết: "hu hu, rơm rớm, chua chát, bùi ngùi, rân rấn, nhăn nhó "
TT Tên truyện Từ láy gợi tả cử chỉ, hình dáng,
trạng thái nhân vật
1 Cứu đất cứu mờng
Ngẩn ngơ, lẽo đẽo; (nói) hấp tấp; (con mắt) mờ mịt, mải miết;(bớc)lập cập;(Cằm) chệu chạo; qờ quạng, luống cuống, lùi lũi, lẳng lặng; (áo rách) loả toả;
hốc hác, thờ thẫn
2 Mờng Giơn
(Cời) rũ rợi, nghiêng ngả, gật gật; (đi) lẳng lặng, lúi
húi, thấp thoáng, đăm đăm, tần ngần; (đi) ngất
ng-ỡng;(đội mũ) chênh vênh; (bớc) lập cập,quệnh quạng; (cúi) lom khom; (nói) lảm nhảm, lặng lặng; (tiếng dày)xô xát; (ngồi) chầu hẫu; (mắt) ngơ ngác, than thở, lác đác, ngờ ngợ, tất tởi, lao đảo; (say) liên miên; (mặt) hầm hầm; (hút thuốc) phập phèo; (gầy) vêo vao, lúng túng; (má) nhợt nhạt; (mắt) long lanh; (mặt) lầm lỳ; (áo quần) xúng xính, đủng đỉnh, sừng sững, lừ đừ, hớt hải, ngơ ngác; (mắt) trờn trợn; (nói, khóc) phều phào, lố nhố, lốm đốm.
3 Vợ chồng APhủ (Mặt buồn) rời rợi, hồi hộp, lùi lũi; (run) bần bật;
mờ mờ, trăng trắng, phơi phới, thổn thức, bồi hồi
bàng hoàng, chệnh choạng, loang lở, lầm rầm; (bớc) tập tễnh; (mắt) trừng trừng; (nớc mắt) lấp lánh, rón rén, tơi tả, ngơ ngác, hấp tấp, nhồm nhoàm; (say)
Trang 38chếnh choáng; (nói) lẩm bẩm
(mắt) lờ đờ, từ từ, rụt rè (đáp); (nói) the thé, (miệng)
nheo nhéo, lẩm bẩm, lếch thếch, lôi thôi, lẳng lặng,
khe khẽ, phều phào, ti tỉ, (nhìn) chòng chọc.
5 Chí Phèo
(cời )ha hả, giòn giã; (mặt) hầm hầm, xng xỉa; (nói)
giõng dạc, lôi thội; miệng lải nhải, phàn nàn, nhúc
nhích; (mắt) lim dim, khóc khóc, mếu mếu, lè bè
8 Quên điều độ (cầm) vội vàng; (nói) lúng túng, năn nỉ, toang
toang; (đi) lủi thủi
có tính chất gợi hình cao mà đúng nh tác giả Tô Hoài đã từng tâm sự trong cuốn
"Sổ tay viết văn" rằng "Ngôn ngữ trong văn xuôi phải là một thứ ngôn ngữ giàutính tạo hình"
2.2.3.2 Sử dụng biện pháp so sánh
So sánh là biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó ngời ta đối chiếu hai hiện ợng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn màchỉ có một nết giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giácmới mẻ về đối tợng
t-Tác giả Đinh Trọng Lạc trong giáo trình "Phong cách học Tiếng việt" chorằng: "So sánh là phơng tiện diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật