SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓATRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY VĂN BẢN “VỢ CHỒNG A PHỦ” CỦA TÔ HOÀI THÔNG QUA CÁCH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY VĂN BẢN
“VỢ CHỒNG A PHỦ” CỦA TÔ HOÀI THÔNG QUA
CÁCH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Người thực hiên: Lưu Thị Tâm Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 MỞ ĐẦU……… 1
1.1 Lí do chọn đề tài……… 1
1.2 Mục đích nghiên cứu……… 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu……… 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu……… 2
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM……… … 2
2.1 Cơ sở lí luận……… 2
2.1.1 Năng lực học sinh và bản chất của dạy học phát triển năng lực ở bộ môn Ngữ văn 2
2.1.1.1.Khái niệm năng lực học sinh 2
2.1.1.2.Bản chất của dạy học phát triển năng lực ở bộ môn Ngữ văn 3
2.1.2 Cơ sở của việc dạy học bộ môn ……… ….3
2.1.3 Cơ sở của việc nắm kiến thức, kĩ năng 3
2.2 Thực trạng của vấn đề 4
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4
2.3.1 Cách thức tiến hành đề tài 4
2.3.2 Số liệu khảo sát trước khi nghiên cứu 4
2.3.3 Thời gian tiến hành 4
2.3.4 Cách tổ chức các hoạt động trong dạy học phát triển năng lực 4
2.3.5 Thuận lợi – khó khăn 6
2.3.6 Nâng cao hiệu quả giảng dạy văn bản “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài thông qua cách tổ chức các hoạt động dạy học phát triển năng lực 6
2.4 Hiệu quả của SKKN 17
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Thực trạng của việc dạy và học môn văn trong trường phổ thông hiện nay
là một vấn đề đang được ngành giáo dục và cả xã hội quan tâm Có thể khẳngđịnh, bước sang thế kỉ XXI chương trình giáo dục phổ thông ở nhiều nước trênthế giới đã có sự thay đổi mạnh mẽ theo hướng chuyển từ dạy học truyền thụkiến thức sang dạy học phát triển năng lực của người học Giáo dục Việt Namcũng không ngoài xu thế đó Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổimới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủđộng sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lốitruyền thụ áp đặt, một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cáchnghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới trithức, kỹ năng, phát triển năng lực…”
Hướng tới dạy học phát triển năng lực, những năm gần đây phong trào đổimới dạy học đã được phát động, nhiều phương pháp dạy học mới được áp dụngnhằm phát huy tính tích cực của học sinh Học sinh cũng đã tích cực hơn trongcác giờ học, các em không còn quá lúng túng khi giáo viên yêu cầu thảo luận,làm việc theo nhóm Tuy nhiên, sự đổi mới phương pháp còn chưa rõ, đôi khithể hiện sự tùy tiện của giáo viên trong việc đưa ra các phương pháp giảng dạymới mà chưa có sự cân nhắc kĩ đã làm cho bài học trở nên phức tạp Hay sự lúngtúng trong cách thức tổ chức các hoạt động dạy học, chuyển giao nhiêm vụ họctập cho học sinh khiến các em khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ, giờ học
bị “vỡ trận”, mất kiểm soát của thầy và trò
Trước thực trạng đó, để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học, cải thiệntình hình thực tế đòi hỏi ở người thầy phải có tầm hiểu biết rộng, người thầyphải thường xuyên theo dõi những xu hướng, những định hướng của môn mìnhphụ trách Đồng thời phải tự học, tự bồi dưỡng để đổi mới phương pháp dạyhọc, nâng cao chất lượng giờ dạy
Tôi đã thử nhiều giải pháp, mỗi giải pháp đem lại thành công nhất định.Vìthế qua mỗi lần thử nghiệm, tôi đã tự điều chỉnh và tự hoàn thiện dần phươngpháp dạy học
Từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy cách tổ chức các hoạt động trong dạy
học có thể khắc phục hạn chế của lối dạy học truyền thụ tri thức hướng tới xu
thế dạy học định hướng phát triển năng lực để mỗi giờ đọc – hiểu văn bản trởnên nhẹ nhàng, hứng thú, hiệu quả và trên hết để học sinh biết cách học và biếtcách tự học
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả giảng
dạy văn bản “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài thông qua cách tổ chức các hoạt động dạy học phát triển năng lực”
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu
- Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm:
+ Nâng cao chất lượng dạy môn Ngữ văn đối với học sinh ở trường trunghọc phổ thông để đáp ứng yêu cầu thi THPT Quốc gia và chương trình thay sáchgiáo khoa mới
+ Định hướng phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh: Năng lựcthu thập thông tin liên quan đến văn bản; Năng lực giải quyết các tình huống đặt
ra trong các văn bản; Năng lực đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại; Nănglực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa văn bản; Năng lực hợptác thảo luận về một vấn đề trong tác phẩm; năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt…
Từ đó khơi gợi niềm say mê với môn học
+ Mong muốn được HĐKH các cấp nhận xét, đánh giá, ghi nhận kết qủa nỗlực của bản thân giúp cho tôi có nhiều động lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụđược giao
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
+ Đối tượng là hai lớp học sinh tôi trực tiếp giảng dạy: 12A5, 12A6 trườngTHPT Yên Định 3
+ Phạm vi nghiên cứu: Tác phẩm“Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài (Sách
giáo khoa ngữ văn 12, tập 2, NXB giáo dục năm 2008)
1.4 Phương pháp nghiên cứu: Để triển khai đề tài“Cách tổ chức các
hoạt động trong dạy học phát triển năng lực bài “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài ", tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩnkiến thức, các tài liệu về dạy học phát triển năng lực…
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra; Phươngpháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động; Phương pháp khảo nghiệm, thửnghiệm
+ Phương pháp đối chiếu so sánh: Đối chiếu so sánh mức độ tiến bộ củahọc sinh trước và sau khi áp dụng đề tài
Những phương pháp trên sẽ được chúng tôi sử dụng đan xen trong quá trìnhnghiên cứu
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Năng lực học sinh và bản chất của dạy học phát triển năng lực ở
bộ môn Ngữ văn
2.1.1.1 Khái niệm năng lực học sinh
Theo các nhà tâm lí học Việt Nam: “Năng lực là tổng hợp các đặc điểm,thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt độngnhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đạt hiệu quả cao” Người ta cũng chianăng lực thành năng lực chung và năng lực chuyên môn, trong đó năng lựcchung là cốt lõi làm nền tảng để phát triển năng lực chuyên môn
- Năng lực chung:
Trang 5+ Năng lực tự chủ và tự học (năng lực này học sinh thể hiện qua việctìmhiểu nội dung thông tin liên quan đến bài học)
+ Năng lực giao tiếp và hợp tác (đặc biệt thể hiện ở phần hoạt động nhóm)+ Năng lực giải quyết các vấn đề và sáng tạo (được thể hiện trong hoạtđộng luyện tập thực hành; hoạt động mở rộng, tìm tòi)
- Năng lực chuyên môn hay còn gọi là năng lực đặc thù gắn với đặc trưng
của từng môn học Với bộ môn Ngữ văn năng lực đặc thù bao gồm:
+ Năng lực ngôn ngữ Môn văn cấp THPT năng lực ngôn ngữ gồm ba năng
lực chủ yếu sau: năng lực làm chủ ngôn ngữ (tiếng Việt); năng lực sử dụng
ngôn ngữ để giao tiếp; năng lực sử dụng ngôn ngữ để tạo lập văn bản.
+ Năng lực thẩm mĩ Với bộ môn Ngữ văn năng lực thẩm mĩ gồm năng lực
khám phá cái đẹp và năng lực thưởng thức cái đẹp (năng lực cảm thụ văn học) 2.1.1.2 Bản chất của dạy học phát triển năng lực ở bộ môn Ngữ văn
Chương trình Ngữ văn 2018 nói chung đặt ra một vấn đề hết sức cấp thiết
là cần giúp giáo viên chuyển từ dạy học chạy theo nội dung sang dạy học theohướng phát triển năng lực Dạy học theo hướng phát triển năng lực không hướngđến việc cung cấp thật nhiều kiến thức ngôn ngữ và văn học mà quan tâm đếnviệc vận dụng những kiến thức ấy một cách hiệu quả trong giao tiếp
Dạy học theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi người giáo viên phải cầnthay đổi, từ bỏ một số thói quen do quá lâu ngày dạy theo cách cũ Trước hết cầnphải chuyển từ cách dạy giảng văn sang dạy đọc hiểu văn bản; chuyển từ việcnói cho học sinh nghe những gì thầy cô hiểu, yêu thích sang hướng dẫn để các
em biết tìm ra cái hay cái đẹp của tác phẩm theo cách nhìn và suy nghĩ, cảmnhận của chính học sinh Dạy học Ngữ văn theo lối giảng văn, phân tích tácphẩm có những ưu điểm Nhưng cách dạy ấy có chung một hạn chế ở chỗ thầynói là chính, giáo viên giảng những điều thầy cô hiểu về tác phẩm cho học sinhnghe, áp đặt cách hiểu của người dạy, học sinh chỉ ghi chép theo giáo viên.Trong khi lí thuyết tiếp nhận đòi hỏi mỗi người đọc phải là một chủ thể sáng tạo,phải tham gia tạo nghĩa, lấp đầy khoảng trống của văn bản; đặc biết phải biếtcách đọc, cách khám phá ra các giá trị của văn bản Giáo viên không làm thay,làm hộ học sinh mà là người tổ chức dẫn dắt, khơi gợi sự sáng tạo của học sinh
Từ đó định hướng phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù cho ngườihọc
2.1.2.Cơ sở của việc dạy học bộ môn:
Dạy học là một tác động hai chiều giữa giáo viên và học sinh, trong đó họcsinh là chủ thể của quá trình nhận thức, còn giáo viên là người tổ chức các hoạtđộng nhận thức cho học sinh Nếu giáo viên có phương pháp tốt thì học sinh sẽnắm kiến thức dễ dàng và ngược lại
2.1.3.Cơ sở của việc nắm kiến thức, kĩ năng
- Về mặt kiến thức: Học sinh phải nắm được các đơn vị kiến thức cơ bản
trong sách giáo khoa, trong giờ giảng văn Đó là nền tảng cơ bản để các em pháttriển tư duy, nâng cao năng lực cảm thụ văn học
Trang 6- Về kĩ năng: Học sinh phát huy tính chủ động, tích cực trong việc chiếm
lĩnh nội dung tác phẩm văn học từ đơn giản đến phức tạp, từ tái hiện kiến thứcđến vận dụng kiến thức
em học văn chỉ với tính chất đối phó, ít em có năng khiếu thực sự
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Cách thức tiến hành đề tài
+ Khảo sát đối tượng học sinh trước và sau tác động của đề tài: Tôi lựachọn khảo sát ở hai lớp 12A5, 12A6: Đây là hai lớp có mặt bằng chung tronglớp không đồng đều, một số em học khá nhưng cũng có một số em lực học hạnchế, ý thức chưa cao
+ Tổ chức phân loại đối tượng học sinh, đặc biệt chú ý đến đối tượng có lựchọc còn yếu
+ Thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm cho học sinh.+ Xây dựng thiết kế lên lớp theo tinh thần ứng dụng những nghiên cứu lýluận
+ Trao đổi thống nhất với giáo viên trong tổ kế hoạch thực nghiệm
+ Tổ chức dạy học song song hai loại giáo án thực nghiệm và đối chứng + Tiến hành kiểm tra HS: sau khi học xong tác phẩm thực nghiệm, đưa racác câu hỏi kiểm tra kiến thức giống nhau cho cả lớp thực nghiệm và đối chứng + Tiến hành phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm và đối chứng để rút
ra những kết luận về thực nghiệm
2.3.2 Số liệu khảo sát trước khi nghiên cứu
*Chất lượng học sinh môn Ngữ văn
Lớp khảo sát
Giỏi Khá Trung bình Yếu kém
Sốlượng
Tỉlệ
%
Sốlượng
Tỉ lệ
%
Sốlượng
Tỉ lệ
%
Sốlượng
Tỉ lệ
%12A5(44HS) 01 2,27 14 31,8 19 43,1 10 22,712A6 (43HS) 02 4,65 12 29,9 20 46,5 09 20,9
2.3.3 Thời gian tiến hành: Giáo viên áp dụng giảng dạy trong giờ học trên
lớp, trong buổi dạy thực nghiệm
2.3.4 Cách tổ chức các hoạt động trong dạy học phát triển năng lực
Trong dạy học phát triển năng lực, dạy cái gì (nội dung) không quan trọngbằng dạy thế nào, bằng cách nào (phương pháp) Do đó, để dạy học theo hướngphát triển năng lực đòi hòi người giáo viên phải có sự chuẩn bị thật tốt vềphương pháp, biết cách tổ chức các hoạt động, hỗ trợ trò chiếm lĩnh tri thức, chútrọng phát triển khả năng giải quyết vấn đề của trò Trong mô hình trường họcmới, chú trọng tới năm hoạt động trong dạy học phát triển năng lực người học:
Trang 7* Hoạt động 1: Hoạt động khởi động
- Mục tiêu: Đây là hoạt động vô cùng quan trọng tạo nhằm tạo tâm thế,hứng thú cho học sinh Hoạt động này nhằm giúp học sinh (HS) huy động nhữngkiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề có nội dung liên quanđến bài học mới
- Cách tổ chức: Giáo viên (GV) có thể đưa ra các tình huống, xem clip hoặcnêu các câu hỏi gợi mở và yêu cầu HS đưa ra ý kiến nhận xét về các vấn đề liênquan đến nội dung kiến thức trong bài học GV cần hướng dẫn tiến trình hoạtđộng khởi động của HS thông qua hoạt động cá nhân hoặc nhóm được tổ chứclinh hoạt sao cho vừa giúp các em huy động kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm củabản thân, vừa xây dựng được ý thức hợp tác, tinh thần học tập lẫn nhau trong
HS Việc trao đổi với GV có thể thực hiện sau khi đã kết thúc hoạt động nhóm
* Hoạt động 2: Hình thành kiến thức
- Mục tiêu: Hoạt động này giúp HS tìm hiểu nội dung kiến thức trọng tâmcủa bài học, rèn luyện năng lực cảm nhận, cung cấp cho HS cơ sở khoa học củanhững kiến thức được đề cập đến trong bài học
- Cách tổ chức: Ở hoạt động này, GV có thể đặt các loại câu hỏi để HS tìmhiểu kiến thức liên quan trực tiếp đến các nội dung trong chủ đề hoặc câu hỏisáng tạo khuyến khích các em tìm hiểu thêm kiến thức liên quan ngoài nội dungtrình bày trong chủ đề GV cần nêu nhiệm vụ cụ thể và hướng dẫn HS hoạt độngtheo nhóm để thực hiện nhiệm vụ Kết thúc hoạt động, HS phải được báo cáosản phẩm của mình trước tập thể lớp để các bạn cùng góp ý GV là người cuốicùng chốt lại kiến thức và giải đáp những thắc mắc của HS
*Hoạt động 3: Luyện tập
- Mục tiêu: Hoạt động này yêu cầu HS phải vận dụng những kiến thức vừatiếp thu được ở hoạt động hai để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, qua đó GVxem HS đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm được ở mức độ nào Đây lànhững hoạt động như trình bày, luyện tập, bài thực hành,… giúp cho HS thựchiện tất cả những hiểu biết ở trên lớp và biến những kiến thức thành kĩ năng
- Cách tổ chức: Hoạt động luyện tập có thể thực hiện qua hoạt động cánhân rồi đến hoạt động nhóm để các em học tập lẫn nhau, tự sửa lỗi cho nhau,giúp cho quá trình học tập hiệu quả hơn
về nhà
* Hoạt động 5: Tìm tòi, mở rộng
- Mục tiêu: Hoạt động này khuyễn khích học sinh tiếp tục tìm hiểu thêm để
mở rộng kiến thức, nhằm giúp HS hiểu rằng ngoài kiến thức đã học trong bàicòn rất nhiều điều cần phải tiếp tục học hỏi, khám phá
Trang 8- Cách tổ chức: GV giao cho HS những nhiệm vụ nhằm bổ sung kiến thức
và hướng dẫn các em tìm những nguồn tài liệu khác, cung cấp nguồn sách thamkhảo và nguồn tài liệu trên mạng để HS tìm đọc thêm Phương thức hoạt động làlàm việc cá nhân (hoặc theo nhóm), chủ yếu là làm ở nhà đồng thời yêu cầu họcsinh làm các bài tập đánh giá năng lực
2.3.5 Thuận lợi – khó khăn
* Khó khăn:
- Để học tốt bài, học sinh phải dành nhiều thời gian ở nhà để chuẩn bị choviệc đọc và tìm hiểu tác phẩm HS không chỉ làm việc cá nhân mà còn phải biếthợp tác cùng nhóm để hoàn thành nhiệm vụ; HS phải có kỹ năng tích hợp kiếnthức cả chiều rộng và chiều sâu để liên hệ, so sánh… Điều này sẽ rất khó vớinhững học sinh 12 học không chuyên, coi môn văn chỉ là môn học điều kiện thitốt nghiệp
- Sĩ số học sinh trong một lớp đông sẽ khó khăn trong việc tổ chức hoạtđộng nhóm, GV khó quan tâm đến từng học sinh
2.3.6 Nâng cao hiệu quả giảng dạy văn bản “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài thông qua cách tổ chức các hoạt động dạy học phát triển năng lực (Thời gian thực hiện: 3 tiết)
TIẾT 1
HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG (10 phút)
Mục tiêu: Kiểm tra việc đọc văn bản ở nhà, năng lực tìm hiểu kiến thức chung
về tác giả và tác phẩm
Định hướng phát triển năng lực: Năng lực thu thập thông tin liên quan đến
văn bản; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; năng lực thuyết trình
Cách thức tổ chức: GV đưa ra các tình huống, nêu vấn đề
Tình huống 1: Bạn đọc biết đến nhà văn Tô Hoài qua tác phẩm nào?
Dự kiến HS trả lời:
+ “Dế mèn phiêu lưu kí”
+ Nhiều người yêu văn học, thích đọc văn Tô Hoài còn rất thích những trangvăn của Tô Hoài về Hà Nội Năm 2010 ông được trao giải thưởng “Bùi XuânPhái – vì tình yêu Hà Nội”
GV định hướng: Bài học này sẽ giúp các em đến với một không gian khác, không phải không gian phiêu lưu trong “Dế mèn phiêu lưu kí” hay không gian
đậm chất văn hóa Hà Nội mà đó là không gian Tây Bắc
Trang 9Tình huống 2: HS xem một số tranh ảnh về vùng Tây Bắc:
GV hướng HS hình dung cuộc sống lam lũ của người dân vùng núi Tây Bắc.
Tình huống 3 : GV dẫn đường Link để học sinh nghe bản nhạc sáo về Tây Bắc
“Những bản tình ca sáo Mèo Tây Bắc không lời hay” – YouTube
Tình huống 4:
- GV tổ chức một trò chơi: Thuyết trình về chủ đề Tây Bắc Trong đó GV đưa
ra 3 gợi ý nhỏ: Em hiểu biết gì về thiên nhiên, con người, văn hóa – phong tục của người Tây Bắc.
- Yêu cầu: HS chia làm 3 nhóm nhỏ, chuẩn bị trong 2 phút; Mỗi nhóm cử đạidiện thuyết trình, các HS khác bổ sung
- Sau đó GV yêu cầu học sinh chốt được một ý tổng quát và có ấn tượng nhất để
giới thiệu vào bài và đưa ra mục tiêu của bài học.
- Cảm nhận được sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị
- Hiểu được tính cách, số phận của nhân vật A Phủ; mối quan hệ giữa Mị và APhủ
Tiết 3:
- Tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
- Thực hành luyện tập các bài tập theo mức các mức độ từ nhận biết - thônghiểu - vận dụng để viết bài nghị luận văn học theo dạng đề thi THPT Quốc gia
Trang 10HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Mục tiêu: Giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới về tác giả Tô Hoài và truyện
ngắn “Vợ chồng A Phủ” thông qua hệ thống nhiệm vụ học tập GV chuyển giao
Định hướng phát triển năng lực: Năng lực đọc - hiểu văn bản; Năng lực hợp
tác; năng lực khám phá chi tiết đặc sắc; năng lực thuyết trình; năng lực cảm thụvăn học; năng lực trải nghiệm (đóng vai)
Cách thức tổ chức:
Hoạt động của giáo viên và học sinh Kiến thức cần đạt
Hoạt động 1: Tìm hiểu tác giả và
tác phẩm (10 phút)
* GV kiểm tra việc thực hiện nhiệm
vụ đã chuyển giao về nhà của HS
- Nhóm 1: Trình bày những hiểu biết
về cuộc đời và sự nghiệp văn học của
nhà văn Tô Hoài
* HS thực hiện báo cáo kết quả
- Đại diện nhóm trình bày
- Thời gian thuyết trình mỗi nhóm: 3
phút
- Nhóm còn lại theo dõi và nhận xét:
+ Nội dung kiến thức
+ Hình thức trình bày
+ Khả năng thuyết trình
* Đánh giá và chốt ý:
- GV đánh giá trình bày của 2 nhóm
- GV bổ sung thông tin: Nhận định
hay về Tô Hoài và truyện “Vợ
- Là nhà văn đã mở cánh cửa văn học đến với vùng đất Tây Bắc trong dòng chảy văn học kháng chiến.
* Kết cấu và vị trí đoạn trích
- Tác phẩm gồm 2 phần+ Phần đầu viết về cuộc đời của Mị
và A Phủ ở Hồng Ngài+ Phần sau viết về cuộc sống nên vợnên chồng, tham gia cách mạng của
Trang 11Thao tác 1 GV hướng dẫn HS tìm
hiểu sự xuất hiện của nhân vật Mị
(7 phút)
* GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
- Đặt câu hỏi: Mị xuất hiện ngay ở
những dòng đầu tiên của truyện.
Bằng việc cảm nhận các chi tiết trong
văn bản, anh/chị hình dung và cảm
* HS báo cáo kết quả
- 1 HS báo cáo kết quả
- GV sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi:
+ Trước khi bị bắt làm con dâu gạt
nợ Mị là một cô gái như thế nào?
+ Tại sao Mị bị bắt làm con dâu gạt
nợ?
+ Em hiểu thế nào về cụm từ “con
dâu gạt nợ”?
+ Đời “con dâu gạt nợ” của Mị ở
nhà thống lý Pá Tra được miêu tả
a Sự xuất hiện của Mị
- Hình ảnh: Một cô con gái “ngồi
quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa” lẻ loi, âm thầm như lẫn vào các vật vô tri vô giác
- Dáng điệu: “Lúc nào cũng vậy…
cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi” hé mở thế giới nội tâm ẩn
ức, cam chịu.
=> Cách giới thiệu nhân vật ấn
tượng để dẫn dắt vào quá trình tìm hiểu số phận nhân vật.
tự do, không ham giàu sang phú quý.+ Một người con hiếu thảo
=>Mị hội tụ nhiều phẩm chất đáng quý, Mị xứng đáng được hưởng cuộc sống hạnh phúc và hạnh phúc đó đang ở trong tầm tay của Mị Tuy nhiên, trái với những gì Mị đáng được hưởng, bi kịch đã đến với Mị một cách phũ phàng bởi cường quyền bạo lực và thần quyền hủ tục
* Từ khi bị bắt về làm dâu trừ nợ
- Nguyên nhân: Vì một món nợtruyền kiếp từ khi bố Mị cưới mẹ Mịkhông có đủ tiền cưới phải đến vay
bố của thống lí Pá Tra bây giờ, mỗinăm phải trả lãi một nương ngô, chotới khi mẹ Mị đã chết, bố Mị đã già,
Trang 12* HS thực hiện nhiệm vụ học tập
- HS hoạt động cặp đôi, thảo luận
- Ghi chép ra giấy
* Báo cáo kết quả
Đại diện HS báo cáo kết quả; các
nhóm khác nhận xét, bổ sung
* GV đánh giá kết quả và chốt ý
Mị thì đã lớn mà món nợ đó vẫnchưa trả được
- “Con dâu gạt nợ” :
+ Bề ngoài là con dâu nhưng thựcchất Mị chỉ là “con nợ” Điều đauđớn trong thân phận của Mị là ởchỗ : nếu chỉ là “con nợ” trả nợ thaycho bố mẹ thì Mị hoàn toàn có thể hivọng vào một ngày nào đó sẽ đượcgiải thoát sau khi món nợ đã đượctrả Nhưng Mị lại là con dâu, bị cướp
về và “cúng trình ma” ở nhà thống
lý Linh hồn Mị đã bị “con ma” ấy
“cai quản” Đến hết đời, dù món nợ
đã được trả, Mị cũng sẽ không baogiờ được giải thoát, được trở về vớicuộc sống tự do Đây chính là bi kịchtrong cuộc đời Mị
- Đời “con dâu gạt nợ” của Mị ở
nhà thống lý là một quãng đời thê thảm, tủi cực, sống mà như đã chết:
+ Mị dường như đã bị tê liệt cả lòngyêu đời, yêu sống lẫn tinh thần phảnkháng
+ Mị chỉ là một công cụ lao động.+ Thân phận của Mị không bằng contrâu, con ngựa trong nhà
+ Mị âm thầm như một cái bóng + Mị như một tù nhân của chốn địangục trần gian, đã mất tri giác vềcuộc sống
=> Số phận bất hạnh, cùng cực của
Mị điển hình cho nỗi thống khổ của người dân miền núi dưới ách thống trị của bọn phong kiến, thực dân.
TIẾT 2 (45 phút)
* Thao tác 3: GV hướng dẫn HS tìm
hiểu sức sống tiềm tàng của Mị
trong đêm tình mùa xuân (15 phút)
* GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
đi chơi” – tiếng sáo gọi bạn tình
“vọng” vào tâm hồn Mị “thiết tha bổihổi”
Trang 13+ Yêu cầu: HS làm việc với văn bản,
tìm chi tiết, phân tích ý nghĩa, đánh
giá cảm nhận của em nhân vật Mị
- Hoạt động theo nhóm, hoàn thành
phiếu học tập trong thời gian 5 phút
- GV giúp đỡ, giải quyết khó khăn
cho HS khi thảo luận nhóm
* Báo cáo kết quả
- Sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở và
đặt câu hỏi nâng cao để kết luận và bổ
sung kiến thức
+ Bữa cơm Tết cúng ma đón nămmới rộn rã “chiêng đánh ầm ĩ” vàbữa rượu tiếp ngay bữa cơm bên bếplửa
- Tiếng sáo gọi bạn tình, “tiếng sáo
rủ bạn đi chơi”: chính là tiếng ca của
hạnh phúc, là biểu tượng của tìnhyêu đôi lứa Nó đã xuyên qua hàngrào lạnh giá bên ngoài để “vọng” vàomiền sâu thẳm trong tâm hồn Mị,đánh thức cái sức sống vẫn được bảolưu đâu đó trong cõi lòng người thiếu
nữ Tây Bắc này
*Diễn biến tâm lý, hành động
+ Đầu tiên, Mị “ngồi nhẩm thầm bàihát của người đang thổi”
+ Ngày Tết, “Mị cũng uống rượu”.+ Mị “thấy phơi phới trở lại, tronglòng đột nhiên vui sướng như nhữngđêm Tết ngày trước” Mị cảm thấy
“Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mịmuốn đi chơi”
+ Mị cảm thấy rõ hơn bao giờ hếtcái vô nghĩa lý của cuộc sống thựctại : “Nếu có nắm lá ngón trong taylúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứkhông buồn nhớ lại nữa”
+Hành động: thắp đèn, quấn lại tóc,
“với tay lấy cái váy hoa vắt ở phíatrong vách” để “đi chơi”
Rõ ràng, cái khát vọng sống, niềmkhát khao hạnh phúc vẫn được bảolưu ở đâu đó trong sâu thẳm tâm hồnnhân vật Mị Nó giống như hòn thanvẫn đang âm ỉ cháy dưới lớp tro tànnguội lạnh và chỉ cần một ngọn gióthổi tới là nó có thể bùng cháy mộtcách mãnh liệt
* Khi bị A Sử trói đứng:
+ Mị quên hẳn mình đang bị trói, vẫnthả hồn theo tiếng sáo gọi bạn tìnhtha thiết bên tai
Nhà văn đặt sự hồi sinh của Mị
Trang 14vào tình huống bi kịch: khát vọngmãnh liệt – hiện thực phũ phàng,khiến cho sức sống của Mị càngthêm mãnh liệt.
- Nhận xét:
+ Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vậttinh tế, ngòi bút của Tô Hoài đã đisâu vào ngõ ngách tâm lí nhân vật đểmiêu tả, kể cả những ý nghĩ mớichập chờn trong tiềm thức của nhânvật
Thao tác 4 Tìm hiểu sức phản
kháng của Mị trong cảnh Mị cắt dây
cởi trói cứu A Phủ (15 phút)
* Chuyển giao nhiệm vụ:
- GV nêu vấn đề cho học sinh thảo
luận:
- Diễn biến tâm trạng và hành động
của Mị trong đêm mùa đông khi thấy
A Phủ bị trói?
- GV gợi ý 1 số câu hỏi:
+ Lúc đầu Mị phản ứng như thế nào
khi chứng kiến cảnh A Phủ bị trói? Vì
sao;
+ Cuối cùng Mị đã hành động như
thế nào? Hành động này làm cho
anh/chị cảm thấy ra sao?
+ Anh/chị có suy nghĩ gì về câu nói
của Mị với A Phủ: "A Phủ cho tôi đi…
Ở đây thì chết mất”?
+ Khái quát nghệ thuật xây dựng
nhân vật Mị của nhà văn Tô Hoài?
- Vận dụng phương pháp Bàn tròn
văn học
+ Yêu cầu 4 thành viên trong lớp
tham gia; sẽ có 1 thành viên là dẫn
chương trình, điều khiển (nhóm
trưởng), các thành viên còn lại mỗi
người đóng vai như một chuyên gia
để bổ sung vấn đề
* Khi thấy A Phủ bị trói đứng:
- Lúc đầu “Mị vẫn thản nhiên thổi
lửa hơ tay…” Đó là biểu hiện của
con người bị sự tê liệt tinh thần, vô cảm trước nỗi đau của người khác.
- Sau đó khi nhìn thấy “một dòng
nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm
má đã xám đen lại…” của A Phủ: Mị thức tỉnh dần.
+ Nhớ lại cảnh mình từng bị trói; nhớtới cảnh người đàn bà đời trước cũng
bi trói đến chết;
+ Nhận thức được tội ác của nhà
thống lí: “Chúng nó thật độc ác…”; + Thương cảm cho A Phủ: “Cơ
chừng chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”;
+ Mị tưởng tượng khi A Phủ đã trốn
được thì “Mị sẽ phải trói thay vào
đấy” nhưng Mị không sợ, tình
thương lớn hơn nỗi sợ đã tiếp thêmsức mạnh cho Mị đi đến hành động
- Hành động can đảm, quyết liệt: Cắt
dây trói, cứu A Phủ, hai người dìu nhau chạy khỏi Hồng Ngài Đó là hành động tất yếu; là con đường giải thoát duy nhất, cứu người cũng là tự cứu mình.
* Tiểu kết
Khi sức sống tiềm tàng trong con người được hồi sinh thì nó là ngọn