thường người ta chỉ viết một cuốn hồi kí hoặc tự truyện để tổng kết, nhìn nhận lại cuộc đời mình, nhưng riêng trường hợp Tô Hoài, ông viết nhiều cuốn về nhiều giai đoạn trong cuộc đời, t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NHÂN VẬT NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG HỒI KÍ VÀ TỰ TRUYỆN TÔ HOÀI
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Mục lục………
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do cho ̣n đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp của luận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Cấu trúc nội dung luận văn
B PHẦN NỘI DUNG………
Chương 1: TÔ HOÀI VÀ THỂ HỒI KÍ, TỰ TRUYỆN
1.1 Giới thuyết về hồi kí, tự truyện và người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện 1.1.1 Hồi kí
1.1.2 Tự truyện………
1.1.3 Sự giao thoa thể loại………
1.1.4 Nhân vật người kể chuyện trong thể hồi kí, tự truyện………
1.2 Vài nét về hồi kí, tự truyện Tô Hoài………
1.2.1 Hồi kí, tự truyện Tô Hoài trong sự phát triển của thể loại………
1.2.2 Sự vận động trong mạch hồi kí, tự truyện Tô Hoài………
1.2.3 Quan điểm trần thuật của Tô Hoài trong hồi kí, tự truyện………
* Tiểu kết ………… ………
Chương 2: CHÂN DUNG NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG CÁC TÁC PHẨM HỒI KÍ, TỰ TRUYỆN TÔ HOÀI………
2.1 Chân dung người kể chuyện với tư cách nhà văn – nghệ sĩ………
2.1.1 Người kể chuyện trong quan niệm về nghề văn……… …………
2.1.2 Người kể chuyện trong quan niệm về người nghệ sĩ………
1
3
3
5
8
8
9
10
11
11
11
11
13
15
20
23
23
25
29
32
33
33
33
36
Trang 32.2 Chân dung người kể chuyện với tư cách con người đời thường………
2.2 1 Người kể chuyện - con người từng trải………
2.2.2 Người kể chuyện có cái nhìn linh hoạt, nhân văn về cuộc đời và con người 2.2.3 Người kể chuyện có cách sống hợp thời, dễ dàng thích nghi với cuộc sống 2.2.4 Người kể chuyện - con người thành thật với chính mình………
2.3 Chân dung người kể chuyện với tư cách một chứng nhân của thời đại
2.3.1 Phơi mở những góc khuất của lịch sử………
2.3.2 Quan niệm, thái độ trước sự thật lịch sử………
* Tiểu kết ………
Chương 3: NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TÁC PHẨM HỒI KÍ, TỰ TRUYỆN TÔ HOÀI………
3.1 Ngôn ngữ người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài…………
3.1.1 Người kể chuyện có vốn ngôn từ phong phú ………
3.2.2 Người kể chuyện có sở trường miêu tả………
3.2 Giọng điệu của nhân vật người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài… 3.2.1 Giọng tự nhiên, dung dị………
3.2.2 Giọng dửng dưng, lạnh lùng, pha chút khinh bạc………
3.2.3 Giọng đôn hậu, chân tình, ấm áp………
3.2.4 Giọng điệu dí dỏm, tinh quái, thấp thoáng nét uy-mua………
3.3.5 Giọng ngậm ngùi, xót xa………
3.3.6 Giọng trữ tình, hoài niệm………
* Tiểu kết ………
C PHẦN KẾT LUẬN
D TÀI LIỆU THAM KHẢO
42
41
45
52
55
59
60
63
68
70
70
71
77
82
83
84
87
88
92
95
97
98
100
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Hồi kí, tự truyện là những thể loại văn học phát triển mạnh mẽ ở phương Tây từ thế kỉ XIX và vài chục năm gần đây trở thành một “trào lưu” trong xã hội Việt Nam Cùng với sự phát triển của nền dân chủ, những điều cấm kị trong đời sống cá nhân, xã hội và văn chương dần được xóa bỏ, văn học Việt Nam chứng kiến sự “bùng nổ” của các thể loại hồi kí, tự truyện Đã đến lúc, người ta dám nói ra và thực sự có nhu cầu được nói ra sự thật về bản thân mình, sự thật về những gì đã được chứng kiến, trải nghiệm Hồi kí, tự truyện đã trở thành thể loại hữu dụng cho nhu cầu bộc lộ, giải tỏa những bí mật hay những ẩn ức bị dồn nén bấy lâu trong mỗi cá nhân Từ các nhà phê bình văn học, các chính trị gia, đến những người hoạt động trong lĩnh vực giải trí (diễn viên, ca sĩ, người mẫu, cầu thủ bóng đá,…), hay những cá nhân vô danh trong xã hội nhưng có số phận không bình thường (người đồng tính…) cũng viết hoặc hợp tác viết
và công bố hồi kí, tự truyện Hầu hết sự ra đời của những cuốn hồi kí, tự truyện đó đều thu hút sự chú ý của công luận Thậm chí, có cuốn tác giả không chính thức công bố, chỉ lan truyền “ngầm” (trường hợp hồi kí của GS Nguyễn Đăng Mạnh) nhưng sự xuất hiện của nó thực sự trở thành một “cơn sốt”, một hiện tượng “chấn động” trong đời
là một mảng quan trọng trong sáng tác của ông, cả về số lượng và giá trị Thông
Trang 5thường người ta chỉ viết một cuốn hồi kí hoặc tự truyện để tổng kết, nhìn nhận lại cuộc đời mình, nhưng riêng trường hợp Tô Hoài, ông viết nhiều cuốn về nhiều giai đoạn
trong cuộc đời, từ thủa hoa niên Cỏ dại cho tận đến lúc tuổi đời đã Chiều chiều, và có
vẻ như nguồn hồi ức phong phú của nhà văn này chưa hề có dấu hiệu vơi cạn Tất cả những cuốn hồi kí, tự truyện đó đều để lại dấu ấn trong nền văn học Việt Nam với
những giá trị đặc sắc, cả về nội dung cũng như nghệ thuật Với Cỏ dại, Tô Hoài đã
“đóng góp vào văn học ta mảng sống buồn bã, vật lộn của một thế hệ tuổi thơ, hoặc được nhìn qua cách nhìn của trẻ thơ để nói một cái gì bản chất của cuộc đời cũ”; còn
Tự truyện được đánh giá “là một phần đặc sắc không thể không nhắc tới” (Vân Thanh)
khi nói về kí ức tuổi thơ và tuổi thanh niên của ông Đặc biệt khi Cát bụi chân ai và
Chiều chiều xuất hiện, chúng đã thực sự gây ra một tiếng vang, một hiện tượng “chấn
động” trong văn giới và trong lòng độc giả Chúng đồng thời cho thấy: “Tô Hoài đã trở thành một nhà văn thượng thặng trong thể hồi kí” (Vũ Đình Nam)
Trước những đóng góp to lớn của hồi kí, tự truyện Tô Hoài, luận văn của chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu những tác phẩm tiêu biểu nhất trong mảng sáng tác này để
có thể khẳng định tầm vóc và bản sắc riêng của ông
1.3 Trong cấu trúc tự sự của thể loại hồi kí, tự truyện, nhân vật người kể chuyện giữ vị trí quan trọng, là nhân vật trung tâm của tác phẩm, đồng thời là nhân vật mang hình bóng của tác giả với những chi tiết có thật về cuộc đời, số phận, tính cách Vì vậy, nghiên cứu nhân vật NKC trong hồi kí, tự truyện, một mặt giúp người đọc hiểu được nghệ thuật tự sự của tác giả - tác phẩm, mặt khác, có thể tái hiện lại chân dung người viết, cung cấp những tư liệu chân thực, sinh động về tác giả Đọc hồi kí, tự truyện, người đọc không chỉ thấy những sự thật “sự kiện” mà còn là những “sự thật nội tâm”,
cảm xúc, suy nghĩ, cách đánh giá của NKC về chính mình, về con người và cuộc đời
Như vậy, ngoài tiểu sử, đây là một “kênh thông tin” tương đối tin cậy để tìm hiểu về tác giả Ở luận văn này, chúng tôi nghiên cứu “nhân vật NKC trong các tác phẩm hồi
kí, tự truyện Tô Hoài” với mong muốn có thể hiểu sâu sắc hơn về con người, đời sống,
nhân sinh quan của Tô Hoài, để có thêm tư liệu góp phần quan trọng trong quá trình
đọc - hiểu các tác phẩm của ông Trong thể hồi kí, tự truyện Tô Hoài, “nhân vật trung
Trang 6tâm chính là cái tôi của người viết Cho nên, sức hấp dẫn của văn phong Tô Hoài xét
đến cùng là sức hấp dẫn của cái Tôi ấy” (Nguyễn Đăng Mạnh) Vì vậy, đặt vấn đề
nghiên cứu NKC trong hệ thống các tác phẩm hồi kí, tự truyện Tô Hoài, chúng tôi
mong muốn có thể “giải mã” cái Tôi đầy bản sắc của nhà văn này
2 Lịch sử vấn đề
Hồi kí, tự truyện của Tô Hoài là mảng sáng tác nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà phê bình, nghiên cứu Đã có rất nhiều bài viết trên các tạp chí, những tham luận, luận văn, luận án, chuyên khảo đánh giá, nghiên cứu về mảng sáng tác này Ngay
từ khi tác phẩm thuộc dạng hồi kí, tự truyện đầu tiên của Tô Hoài ra đời (Cỏ dại - 1943) cho tới Chiều chiều (1997), hành trình nghiên cứu về hồi kí, tự truyện Tô Hoài
luôn song song với hành trình sáng tạo của nhà văn và ngày càng có nhiều công trình giá trị Chúng ta có thể chia các nghiên cứu này thành 3 hướng:
1) Nghiên cứu, thảo luận về phong cách nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của
Tô Hoài trong đó có nhắc đến hồi kí, tự truyện với các công trình của Nguyễn Đăng Mạnh (1978) [43], (2000) [44]; Hà Minh Đức (1987) [14], (2007) [15]; Trần Hữu Tá (1990) [67]; Trần Đình Nam (1995) [45]; Phong Lê (1999) [37]; (2000) [38]; Nguyễn Văn Long (2002) [39]; Nguyễn Đăng Điệp (2004) [12]; Mai Thị Nhung (2005) [54],v.v… Trong khi nghiên cứu về phong cách nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật tác phẩm Tô Hoài, đã có một số ý kiến gợi ý cho giới nghiên cứu về cái tôi tác giả Tô Hoài, nghệ thuật ngôn từ của Tô Hoài trong hồi kí, tự truyện Chẳng hạn, Nguyễn Đăng
Mạnh trong bài Tô Hoài với quan niệm về con người đánh giá: “Tự truyện là thể văn sở
trường nhất của Tô Hoài…ở thể văn này, nhân vật trung tâm chính là cái tôi của người
viết Cho nên sức hấp dẫn của văn phong Tô Hoài xét đến cùng là sức hấp dẫn của cái
Tôi ấy (…) Một cái tôi khôn ngoan, tinh quái, thóc mách, lõi đời, rất mực hiểu mình,
hiểu người và có đá chút khinh bạc” [44; 7] Trong một công trình khác, ông viết: “Nhà văn có một khiếu quan sát hết sức phong phú và sắc sảo, tài hoa, hiểu theo nghĩa vận dụng toàn bộ các giác quan để ghi nhận cảnh vật bên ngoài với tất cả hình dáng, sự hoạt động, âm thanh, màu sắc, mùi vị của nó…Ông có một trí tưởng tưởng mạnh mẽ giúp ông rất nhiều khi miêu tả….đồng thời có một vốn ngôn ngữ giàu có mà ông cần
Trang 7cù tích lũy để tạo nên những bức tranh chân thực, góc cạnh và đầy hương sắc” [43; 24]
Hay trong Lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài, Hà Minh Đức dành lưu ý: “Ông có ý thức
qua tự truyện để tự phân tích, đánh giá lại quá trình sáng tác của mình Hồi kí và tự truyện của ông kết hợp được dòng kể tự nhiên, xác thực với ý thức phân tích tỉnh táo các hiện tượng và phần tâm sự của tác giả Tô Hoài không xem hồi kí tự truyên là một
dạng hồi tưởng tự nhiên” [14, tr.5] Và Phong Lê trong bài Ngót sáu mươi năm văn Tô
Hoài có nhận xét rất xác đáng: “Đọc Cát bụi chân ai rồi lại đọc Chiều chiều, người đọc
luôn luôn được cuốn hút bởi những gì mới mẻ, không trùng lặp, không nhạt mờ,không
kém sút trong cái kho kỉ niệm của nhà văn Chẳng lên giọng cũng chẳng cần ra bộ
khiêm nhường, Tô Hoài cứ tự nhiên mà kể những gì mình đã biết, đã trải Trên cái kho
ít có dấu hiệu vơi cạn đó, Tô Hoài cứ nhẩn nha dẫn ban đọc đi cùng mình, đến với những gì lạ mà quen, hoặc quen mà lạ Và chính khả năng hoán đổi vị thế đó tạo nên sức hút của tác phẩm” [37, tr.40] Đặc biệt, Phong Lê đã chỉ ra chân dung: “Một Tô Hoài không lẫn với bất cứ ai, một Tô Hoài hết mình Hóm hỉnh và thông minh Nhẹ nhõm mà có sức nặng, cứ như đùa mà thật nghiêm chỉnh Nhũn nhặn, khiêm nhường
mà thật dũng cảm, chẳng biết sợ là gì” [37, tr.41];v.v… Đó là những gợi ý quan trọng
để tiến tới nhận thức ngày càng rõ về người kể chuyện và nghệ thuật trần thuật trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài
2) Nghiên cứu, thảo luận từng tác phẩm hồi kí, tự truyện Tô Hoài với các công trình của Vân Thanh (1980) [68], Võ Xuân Quế (1990) [62], Xuân Sách và Trần Đức Tiến (1993) [63], Nguyễn Văn Bổng (1995) [7], Đặng Thị Hạnh (1998) [19], Trần Văn Thọ (2006) [72], Lê Thị Biên (2007) [5], v.v… Những công trình nghiên cứu này nhìn chung đánh giá đúng, trúng đặc sắc, giá trị của các tác phẩm hồi kí, tự truyện Tô Hoài, giúp ích nhiều cho những nghiên cứu khái quát hơn Đáng chú ý nhất là Vân Thanh
muốn tìm hiểu “Tô Hoài qua Tự truyện”, tức tìm hiểu bức chân dung của tác giả, tiếp
cận rất gần vấn đề NKC Trong hướng nghiên cứu này cũng có một số ý kiến nhất định
gián tiếp bàn đến người kể chuyện, nghệ thuật kể chuyện Chẳng hạn, đánh giá về Tự
truyện, Vân Thanh nhận xét: “Những chuyện mà Tô Hoài viết trong Tự truyện là
những chuyện cá nhân, gia đình, xa hơn nữa là chuyện Kẻ Chợ…rồi lần theo trường
Trang 8đời của ông đi kiếm sống, tìm việc làm, miếng ăn mà mở rộng ra (…) Nhưng dẫu gần hoặc xa, dẫu là chuyện bản thân hay là chuyện gia đình làng xóm, đâu đâu qua những trang hồi ức của Tô Hoài cũng vẫn một màu xám, một điệu buồn như vậy” [68, tr.32]
Hay trong bài viết Viết về cuộc đời và những cuộc đời (hay là nghệ thuật tự sự trong
Cát bụi chân ai), Đặng Thị Hạnh rất quan tâm đến cấu trúc thời gian và ngôn ngữ trong
Cát bụi chân ai Theo bà: “Dòng hoài niệm trong Cát bụi chân ai chạy lan man rối rắm
như ba mươi sáu phố phường, những phố hẹp của Hà Nội cổ đan xen nhau dày đặc với những rẽ ngoặt quanh co… vương quốc của Tô hoài, Nguyễn Tuân và bạn bè Thời gian hồi tưởng như ngẫu hứng cũng chạy lông bông theo dòng hoài niệm… Nhìn một cách tổng thể, cuốn sách có dáng vẻ đi theo một trình tự biên niên, căn cứ trên việc từ 1 đến 6… nhưng chỉ cần dừng lại chương một, ta đã có thể thấy các bước chuyển không, thời gian khiến trình tự biên niên bị phá vỡ tới mức nào” [19, tr.37] Trần Văn Thọ
trong Vài cảm giác với Chiều chiều đánh giá: “Chiều chiều rất cuốn hút Nó đầy ắp
những sự kiện vừa quen vừa lạ trong cuộc sống Đọc văn Tô hoài cần sự tĩnh lặng của tâm hồn người đọc mới cảm thụ hết được các tầng của tác phẩm dù là Tự truyện (…)
Cái dòng chảy của Chiều chiều là dòng chảy của tự nhiên là thứ văn chương lạ đến
mức tự nhiên Tự nhiên, dung dị đạt được phải là bậc thặng thừa của văn chương” [72]
Trao đổi với Trần Đức Tiến trên báo Văn nghệ (1993), Xuân Sách khẳng định: “Tác phẩm Cát bụi chân ai mang dấu ấn đậm nhất phong cách Tô Hoài - từ văn phong đến
con người Thâm hậu mà dung dị, thì thầm mà không đơn điệu, lan man tí chút nhưng không kề cà vô vị, một chút umua với cái giọng khơi khơi mà nói, anh muốn nghe thì nghe, không bắt buộc nghe rồi hiểu, đừng cật vấn… Và vì thế, sức hấp dẫn chủ yếu là
sự chân thật” [63]; v.v…
3) Nghiên cứu, thảo luận về hồi kí, tự truyện Tô Hoài nói chung với các công trình, bài viết của Đặng Tiến (1999) [74]; Đoàn Thị Thúy Hạnh (2001) [21]; Vương Trí Nhàn (2002) [50], (2005) [49]; Trương Thị Thu Huyền (2007) [33];v.v… Đây là hướng nghiên cứu có nhiều ý kiến, nhận định bàn đến nghệ thuật trần thuật, cái tôi tác
giả trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài,… Chẳng hạn, Vương Trí Nhàn khi nghiên cứu Tô
Hoài và thể hồi kí đã chỉ ra một số đặc điểm của hồi kí Tô Hoài: “sống đến đâu viết đến
Trang 9đấy; quan niệm của Tô Hoài về cái thực – một điều hết sức thiết cốt với hồi kí; hồi kí
Tô Hoài có sự phân thân: trong người có mình… [50, tr.20] Hay công trình của Đoàn Thị Thúy Hạnh đã chỉ ra vai trò đặc biệt của miêu tả trong nghệ thuật trần thuật của Tô Hoài, phân tích cách tổ chức cốt truyện và phát triển mạch truyện trong hồi kí Tô Hoài, giọng điệu trần thuật của Tô Hoài Hoặc qua việc khảo sát tất cả những cuốn hồi kí của
Tô Hoài được công bố từ trước tới nay, Trương Thị Thu Huyền chỉ ra những đặc trưng của thể loại hồi kí;v.v…Trong các bài viết, công trình của một số tác giả cũng đã đề
cập đến chân dung Tô Hoài ở một vài khía cạnh (tính cách, lối sống, cuộc đời), hoặc
dừng lại ở việc chỉ ra một số bình diện liên quan đến nhân vật người kể chuyện (như
giọng điệu, ngôn ngữ, tài dẫn chuyện,v.v…) Tuy nhiên đó chỉ là những ý kiến lẻ tẻ,
không có hệ thống, không dựa trên một khung lí thuyết tiếp cận đầy đủ, chính xác, khách quan
Dựa vào những gợi ý trên, lấy nhân vật NKC là đối tượng nghiên cứu, chúng tôi
đã tiến hành khảo sát một cách hệ thống các tác phẩm hồi kí, tự truyện Tô Hoài, đánh giá mọi phương diện của NKC trong cấu trúc tự sự để có thể đem lại cái nhìn tương đối đầy đủ về NKC - nhà văn Tô Hoài, qua những gì ông bộc lộ trên những trang hồi kí, tự truyện của ông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhân vật NKC trong các tác phẩm hồi kí,
tự truyện Tô Hoài trên các phương diện về nội dung và biểu hiện (nghệ thuật)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi nghiên cứu cả hệ thống các tác phẩm hồi kí, tự truyện
của Tô Hoài, bao gồm 4 tác phẩm: Cỏ dại (1943), Tự truyện (1973), Cát bụi chân ai
(1990), Chiều chiều (1997)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp của luận văn
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn cố gắng tổng hợp các thành tựu nghiên cứu trước đây để giới thuyết lại khái niệm thể loại hồi kí, tự truyện Luận văn còn tìm hiểu những vấn đề lí thuyết về
Trang 10người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện dựa trên cơ sở lí thuyết về người kể chuyện trong thể loại tự sự Luận văn điểm lại hành trình sáng tác hồi kí, tự truyện Tô Hoài, chỉ
ra “nhân duyên” và “kết quả” trong mối quan hệ giữa tác giả này với thể hồi kí, tự truyện; lấy đó làm cơ sở để tìm hiểu vai trò của người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện của ông
Vận dụng lí thuyết người kể chuyện, luận văn tái hiện lại chân dung người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài qua điểm nhìn của nhân vật này trên mọi tư cách đời sống của anh ta: con người nghệ sĩ, con người đời thường, con người với tư cách chứng nhân của lịch sử Để có cái nhìn bao quát, toàn diện về người kể chuyện, luận văn tiếp tục làm sáng tỏ đặc điểm của nhân vật này dưới góc độ ngôn ngữ và giọng điệu kể chuyện
4.2 Đóng góp của luận văn
Luận văn đã đóng góp một cái nhìn rộng mở, linh hoạt hơn về thể loại hồi kí, tự truyện, đồng thời có những đóng góp nhất định nhằm làm sáng rõ vị trí, đặc điểm của nhân vật NKC trong hai thể loại này Có thể khẳng định, đây là công trình đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện về NKC trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài
Điều mà độc giả quan tâm nhất khi tiếp xúc với hồi kí, tự truyện là phát hiện ra những góc khuất trong cuộc đời, những bí ẩn về số phận và tính cách của NKC, để có thể hiểu sâu sắc hơn về NKC – hình bóng của tác giả Nghiên cứu “Nhân vật người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài” đem lại một cái nhìn hệ thống, một cách đánh giá khách quan về NKC - nhà văn Tô Hoài - thông qua những gì nhà văn bộc lộ trên các trang hồi kí, tự truyện
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại
Đó là phương pháp dựa vào đặc trưng của thể loại hồi kí, tự truyện để tiến hành phân tích đặc điểm, chân dung, phong cách của NKC Có thể xếp hồi kí, tự truyện trong loại hình tự sự, nhưng có những điểm đặc thù (đặc biệt là về người kể chuyện),
do đó cần phân tách đâu là nhà văn, đâu là người kể chuyện, đâu là cái thực, đâu là hư
Trang 11cấu Sự phân tích của chúng tôi đối với NKC trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài luôn nằm trong ý thức đó
5.2 Phương pháp hệ thống
Phương pháp hệ thống là phương pháp đặt các đối tượng quan sát, nghiên cứu trong chỉnh thể, hệ thống để tìm ra những quy luật cấu thành cũng như sự vận động, phát triển của chúng Hồi kí, tự truyện Tô Hoài vừa đa dạng, đa thể lại vừa có một quá trình vận động, phát triển không ngừng Ở đây, chúng tôi đặt nhân vật NKC trong hồi
kí, tự truyện Tô Hoài trong hệ thống các vấn đề (cuộc đời, tính cách, quan niệm, ngôn ngữ, giọng điệu) để theo dõi và tìm hiểu các phương diện khác nhau của nhân vật đặc biệt này
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Để làm khẳng định nét đổi mới, tìm tòi và sự riêng biệt, đặc sắc của nhân vật NKC trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài, luận văn đã tiến hành đối chiếu giữa các hồi kí,
tự truyện Tô Hoài với nhau, giữa các hồi kí tự truyện Tô Hoài với các sáng tác khác của ông và với một số sáng tác (đặc biệt là các hồi kí, tự truyện) của các nhà văn khác trước và cùng thời với Tô Hoài
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng thao tác thống kê, phân loại như những phương pháp bổ trợ
6 Cấu trúc nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm ba chương như sau:
Chương 1: Tô Hoài và thể hồi kí, tự truyện
Chương 2: Chân dung người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài
Chương 3: Ngôn ngữ, giọng điệu của người kể chuyện trong các tác phẩm hồi
kí, tự truyện Tô Hoài
Trang 12B NỘI DUNG
Chương 1
TÔ HOÀI VÀ THỂ HỒI KÍ, TỰ TRUYỆN
1.1 Giới thuyết về hồi kí, tự truyện và người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện
1.1.1 Hồi kí
Theo Từ điển Thuật ngữ văn học, hồi kí là “một thể loại thuộc loại hình kí, kể
lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng
kiến” [18, tr.127] Từ điển Tường giải và liên tưởng Tiếng Việt cũng nhận định: “Hồi kí
là ghi chép dựa trên sự hồi tưởng lại những sự việc đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả
là người chứng kiến hoặc tham dự” [9, tr.61], “là thể văn thuật lại những sự việc mà tác giả đã trải qua hoặc chứng kiến, phần nào có mối liên hệ với thời đại” [9, tr.61] Sách
Từ điển Văn học cho biết: “Hồi kí: còn được gọi là hồi ức ( ) Lời văn của hồi kí cốt
xác đáng, trung thực, giàu suy nghĩ và cảm tưởng cá nhân” [23, tr.319]
Như vậy, hầu hết các từ điển đều xác định hai đặc điểm lớn của thể hồi kí về nội
dung là tính xác thực của sự kiện và tính chủ quan của người hồi tưởng Ở đặc điểm
thứ nhất, sự kiện được kể lại trong hồi kí là những sự kiện mà người viết đã trực tiếp
trải nghiệm hoặc tận mắt chứng kiến, tức người viết là người trong cuộc hoặc là một nhân chứng đáng tin cậy Điều đó tạo cho hồi kí tính xác thực cao, rất ít yếu tố hư cấu Hiện nay, rất nhiều cuốn được xuất bản dưới dạng hồi kí nhưng chúng lại đặt ra nhiều nghi vấn về tính xác thực Đó không được coi là những cuốn hồi kí chân chính Một cuốn hồi kí đích thực đòi hỏi phải tôn trọng tính chân thực của câu chuyện Sự việc, số liệu, thời gian phải chính xác Trên phương diện này, hồi kí mang những đặc điểm của văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, hấp dẫn người đọc bởi những tư liệu giá trị về bản thân người viết và về không khí thời đại mà cuốn hồi kí đó dựng lên Chính vì tính xác thực của hồi kí mà Cục Văn hóa Thông tin đã ra quyết định cấm xuất bản hồi kí của những người ở một số vị trí công tác đặc biệt, bởi lẽ những cuốn hồi kí của họ có thể tiết lộ bí mật quốc gia
Trang 13Đặc điểm thứ hai của hồi kí là tính chủ quan do cơ chế của hoạt động hồi tưởng
và do lăng kính của NKC Từ điển Văn học đã nhấn mạnh: “Hồi kí ( ) nhằm ghi lại
những sự việc thuộc quá khứ, qua sự nhớ lại ( ) người viết hồi kí lấy bản thân mình làm địa bàn chính để nhớ lại sự việc đã qua” [23, tr.319] Vì hồi kí ghi lại những sự việc đã xảy ra trong quá khứ, nên các sự việc đó không khỏi chịu tác động bởi các quy luận quên lãng, làm méo lệch do cơ chế hồi ức Hơn nữa, tính chủ quan của hồi kí còn được tạo nên bởi cảm xúc, sự nhìn nhận đánh giá của NKC Bằng cách tái hiện lại hiện thực qua sự nhìn nhận, trạng thái cảm xúc của mình, NKC không giữ được thái độ khách quan như các sử gia Vì vậy, mặc dù đó là hiện thực nhưng là hiện thực mà NKC được tiếp nhận, hiện thực phiến diện, in đậm dấu ấn chủ quan, không thể so bì với các
tư liệu gốc, các chứng tích về tính xác thực Do đó, hồi kí chỉ là một phần cơ sở để xác minh hiện thực trên phương diện lịch sử - xã hội nhưng lại là “bằng chứng” quan trọng
để tìm hiểu về NKC, giúp người đọc nhìn nhận rõ hơn về NKC Thông qua các sự kiện, chi tiết tiểu sử cũng như qua cách đánh giá, nhìn nhận, thái độ, tình cảm trước những gì được kể lại, NKC đã gián tiếp bộc lộ mình Vì vậy, công trình của chúng tôi đã vận dụng đặc điểm này của hồi kí để tìm hiểu về nhà văn Tô Hoài thông qua nhân vật NKC trong các tác phẩm hồi kí của ông
Mặc dù hồi kí không đảm bảo sự xác thực tuyệt đối của sự kiện - chân lí tuyệt đối vốn là cái không bao giờ đạt được - nhưng bù lại, nó được kể bằng cảm tưởng trực tiếp của cá nhân tác giả, “bản thân người viết hồi kí luôn luôn được mô tả trình bày ở bình diện thứ nhất” tạo cho hồi kí văn phong sinh động, làm sống dậy cả không khí của
sự kiện, của thời đại đã qua
Một nét đặc trưng nữa của hồi kí là cách kể chuyện theo dòng hồi tưởng, nhớ đến đâu kể đến đấy, thường không sử dụng cốt truyện Cách kể này không đảm bảo trật
tự thời gian do sự linh động của ý thức Sau này thể loại tiểu thuyết cũng đã vận dụng
thủ pháp trên với tên gọi “dòng ý thức” (stream of consciousness), tạo nên dòng tiểu
thuyết mới đầu thế kỉ XX, có khả năng tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, xúc cảm và liên tưởng ở con người, tạo nên diện mạo mới mẻ của tiểu thuyết
Trang 14Những gì được viết trong hồi kí thường là những điều diễn ra đã lâu, bản thân người viết hồi kí đã chờ một khoảng dài đủ để lắng lại, để nhìn nhận mọi việc điềm tĩnh hơn, sâu sắc hơn Người viết hồi kí là người từng trải, luôn chứa đựng trong mình đầy ắp những bí mật cần giải tỏa, những tâm sự cần bộc bạch, vì vậy mà nội dung của hồi kí thường là những chiêm nghiệm, hé mở những bí mật trong cuộc đời (cả bí mật riêng tư và bí mật cộng đồng); những khoảnh khoắc lớn lao của thời đại, những trăn trở, suy ngẫm về cuộc đời và con người
Tuy NKC luôn “được mô tả trình bày ở bình diện thứ nhất” nhưng không phải lúc nào NKC cũng là trung tâm của tác phẩm hồi kí Đôi khi những gì được kể trong hồi kí không tác động trực tiếp tới cuộc đời, số phận NKC mà chỉ là những điều NKC
đã được chứng kiến, những con người đã được gặp trong cuộc đời, những sự kiện để lại dấu ấn trong lịch sử mà bản thân mình tham dự hoặc chứng kiến… Tùy theo đối tượng trung tâm được đề cập trong hồi kí, người ta chia hồi kí thành nhiều loại khác nhau: hồi
kí xã hội, hồi kí chân dung, hồi kí thế sự, hồi kí đời tư,v.v…
1.1.2 Tự truyện
Tự truyện là thể loại phát triển khá sớm ở phương Tây, có nguồn gốc từ truyền thống “xưng tội” của các tín đồ Thiên Chúa giáo và thực sự xuất hiện ở thế kỷ Ánh sáng (XVIII), vào buổi sơ khai của trào lưu Lãng Mạn, khi chủ nghĩa cá nhân phát triển mạnh Ở Việt Nam, những năm gần đây, tự truyện mới bắt đầu phát triển Bởi lẽ, suốt một thời gian dài, văn học phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng là những nền văn học “vô ngã”- không có cái Tôi Và nếu có, cái Tôi đó luôn được thể hiện trong tư thế hòa nhập với cộng đồng, với vũ trụ Bước vào thời hiện đại, dân tộc Việt Nam lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh lớn Do yêu cầu của thời đại, văn chương thời kì này chỉ tập trung vào “đại tự sự”, nói về những vấn đề chung, tình cảm, tâm trạng, suy nghĩ chung, cái tôi cá nhân một lần nữa bị bỏ quên Mãi tới những năm gần đây, thể loại tự truyện mới có cơ hội “nở rộ” cùng với sự phát triển của nền dân chủ, khi mà người viết ý thức sâu sắc về cái tôi của mình, có nhu cầu bộc lộ mình
Có lẽ do tự truyện xuất hiện muộn màng, tương đối mới mẻ ở Việt Nam, nên chúng ta vẫn chưa có được một khái niệm chính xác, trọn vẹn về thuật ngữ này Do
Trang 15một số đặc điểm chung, nhiều người hay đánh đồng tự truyện với thể loại hồi kí Rất nhiều bài viết trên các báo, kể cả các tạp chí chuyên ngành, khi nhắc tới hai thể loại này, người ta thường không có ý thức phân biệt Thậm chí, ngay cả các tác giả nhiều khi cũng không có sự phân loại rõ ràng Chính sự nhập nhằng về khái niệm đã tạo ra những sai lệch trong định hướng của người viết và người đọc
Vậy thế nào là tự truyện? Theo Từ điển Văn học, tự truyện “là tác phẩm văn học
thuộc loại tự sự do tác giả tự viết về cuộc đời mình Trong đó “các sự kiện tiểu sử chỉ đóng vai trò cơ sở cho sự sáng tạo nghệ thuật” [24, tr.490] Có nhiều ý kiến tranh luận không nên xếp tự truyện vào thể loại tự sự bởi tự sự là thể loại văn học hoàn toàn hư cấu, còn tự truyện thì không hẳn như vậy Theo ý kiến của chúng tôi, chỉ có thể coi tự
sự là một phương thức biểu đạt của tự truyện Tự truyện nằm trong khái niệm “écriture
de soi” (văn viết về chính mình) nhưng đến nay vẫn chưa tìm được một từ thích hợp để dịch ra tiếng Việt Vì vậy, tạm thời chỉ có thể coi “tự sự chỉ là chiếc áo mặc nhờ” của tự truyện [71] Theo nhà nghiên cứu Pháp P Lejeune, tự truyện là “một câu chuyện mà một người có thật ngược dòng thời gian, kể lại đời mình, nhấn mạnh tới cuộc sống cá nhân, đặc biệt tới sự hình thành tính cách” [dẫn theo 71] Như vậy, một tác phẩm chỉ có thể coi là tự truyện khi tác giả, NKC và nhân vật chính là một, trong đó NKC phải đặt cái “tôi” của mình ở vị trí trung tâm tác phẩm để tìm hiểu, phân tích Có thể coi tự truyện như là sự tìm kiếm chính bản thân mình của NKC, lí giải về mình thông qua những câu chuyện về cuộc đời mình, qua đó mà được “sống lại một lần nữa đoạn đời
đã qua” Nhận định về tự truyện, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên cũng cho rằng:
“Tự truyện là mình kể chuyện đời mình, và yêu cầu của thể loại này khi viết là người
kể phải xác định được ba yếu tố cơ bản: Tôi là ai? Cuộc đời đã sống có ý nghĩa thế nào đối với tôi? Cái nhìn của tôi hướng về tương ai thế nào?” [71] Nhân vật “Tôi” - NKC
đã coi tự truyện như là một phương tiện để tìm hiểu bản thể dựa trên việc tái hiện và phân tích những sự kiện đời tư Vì vậy, yếu tố đời tư là chủ đạo trong tự truyện, là đối tượng chính của tự truyện Tự truyện cũng có thể phản ánh thế sự, sử thi nhưng đó chỉ
là những yếu tố phụ, là cái nền, là môi trường hình thành nên đời sống, tính cách của NKC
Trang 16Về những đặc điểm của tự truyện, có thể lí giải từ sự chiết tự khái niệm “Tự” là
tự mình, về mình, tức đem cái tôi của mình, cuộc đời của mình làm đối tượng chính Còn “truyện” (tên khác của tự sự) là phương thức biểu đạt của tác phẩm, tức kể (chuyện) Với phương thức biểu đạt này, tự truyện cũng có cốt truyện được triển khai
“nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng” [24, tr.490] Từ đó có thể thấy, nội dung của tự truyện chính là “bản thân cái tôi” của người viết Còn cách biểu đạt của tự truyện, giống như thể loại tự sự, cần nhờ tới sự sắp xếp, hỗ trợ của các chi tiết nghệ thuật để hình thành nên một cốt truyện Do có yếu tố “truyện”, tự truyện không tránh khỏi sự “sáng tạo nghệ thuật” Nếu so với các loại kí, tự truyện được phép sáng tạo, hư cấu nhiều nhất Nhưng so với các thể loại tự sự khác, sự hư cấu của tự truyện lại thấp nhất NKC thường xuyên phải đấu tranh để bảo toàn tính xác thực trong
tự truyện Tuy nhiên, chỉ nội dung các sự kiện kể lại mới có thể đảm bảo được tính chính xác, còn những cảm xúc, suy nghĩ trong nội tâm khó có thể khôi phục nguyên vẹn Trong trường hợp này, NKC phải “sáng tạo lại” cái tôi trong quá khứ một cách trung thực nhất với chính cái tôi của hiện tại Vì vậy, những tác phẩm được xuất bản dưới dạng “hợp tác”, đồng tác giả, trong đó một người kể lại chuyện, một người ghi chép, không nên coi là “tự truyện đúng nghĩa” Nói theo cách của Đoàn Cầm Thi, có thể gọi đó là dạng “tự truyện second hand” bởi lẽ mỗi người có một cách kể, cách diễn đạt riêng không giống nhau Dù người ghi chép và người kể có hiểu nhau đến đâu, họ vẫn là “hai người khác”, điều đó vi phạm vào yếu tố “tự” (tự mình) trong tự truyện
1.1.3 Sự giao thoa thể loại
Theo quy luật của sự phát triển, các thể loại văn học luôn trong quá trình vận động, tìm ra hình thức biểu đạt mới hoặc thâm nhập vào nhau, mượn các thủ pháp của nhau để tự làm mới mình Sự “tiến hóa” của thể loại đôi khi dẫn tới sự “lỗi mốt” của lí thuyết Nếu cứ đem đúng lí thuyết cứng nhắc để quy chiếu, chắc sẽ có nhiều tác phẩm không được xếp vào bất cứ thể loại nào, nhất là những thể loại gần gũi nhau cả về nội dung và hình thức thể hiện như hồi kí và tự truyện Do đó cần phải xác định giới hạn giao thoa giữa hai thể loại này để có thể phân biệt, tạo ra cách tiếp cận đúng hướng,
Trang 17đồng thời cũng là để có một cái nhìn linh động hơn trong cách đánh giá, nhìn nhận về thể loại của chúng
Hồi kí và tự truyện giống nhau rất nhiều điểm Cả hai thể loại này đều có nhân vật NKC ở ngôi thứ nhất số ít xưng “tôi”, có tham vọng ghi lại lịch sử sự kiện và lịch
sử tâm hồn con người từ “cái nhìn bên trong”, phơi mở những bí mật trong cái Tôi, hoặc những bí mật mà cái Tôi nắm giữ Điều đó khiến cho hồi kí và tự truyện có sức hấp dẫn lớn đối với cả người viết và người đọc Qua những trang hồi kí, tự truyện, dường như NKC được giải tỏa những dồn nén, những tâm sự chất chứa trong lòng Với người đọc, hồi kí, tự truyện lại thỏa mãn họ ở trí tò mò, sự hiếu kì khi tìm hiểu đời tư những người nổi tiếng, tìm kiếm những sự thật quá khứ đã từng bị vùi lấp
Tuy đều nói về cái Tôi nhưng cả hai thể loại này không hề xa rời những vấn đề lớn của thời đại Qua hồi kí, tự truyện, người đọc cũng như được sống lại thời đại mà NKC đã trải qua, thấy sự tác động của thời đại đó đối với “cái Tôi” của NKC và ngược lại Nói “tôi” không đồng nghĩa với vứt bỏ thế giới mà qua “tôi” để có thể đạt tới
“chúng ta”… Từ cuộc đời của một người, hồi kí, tự truyện có khả năng khái quát những thân phận người
Cả hồi kí và tự truyện đều là những thể loại nhằm tái sinh quá khứ, làm sống dậy thế giới của kí ức đã từng bị thời gian phủ mờ NKC đứng ở thời điểm hiện tại nhìn nhận lại những gì đã qua, vì vậy mà hồi kí và tự truyện đều có tính tổng kết, lí giải (một cuộc đời, một đoạn đời, một thế hệ, một thời đại); đều chịu sự tác động của cơ chế hồi ức, nghĩa là sự quên lãng Quá khứ được phục hiện trong hồi kí, tự truyện không hoàn toàn nguyên bản, khó tránh khỏi tính phiến diện, chủ quan của thông tin, tính không đầy đủ của sự kiện, tính thiếu chính xác của trí nhớ…
Trong số các tiểu loại của hồi kí, hồi kí đời tư gần nhất với tự truyện, đến mức nhiều khi khó xác định được ranh giới giữa chúng Hồi kí đời tư là một thuật ngữ mới xuất hiện Bản thân thể loại này cũng chưa hoàn toàn được định hình, được dùng để chỉ một dạng hồi kí tập trung kể lại các chi tiết, sự việc có tính chất riêng tư của NKC - nhà văn Hồi kí đời tư và tự truyện giống nhau ở chỗ chúng đều lấy đời sống quá khứ của cái Tôi cá nhân làm đề tài, vì vậy những thể loại này chỉ có thể phát triển được trong
Trang 18mỗi trường xã hội có khoảng tự do cho mỗi cá nhân Càng ngày, hai thể loại này càng phát triển bởi những điều riêng tư thầm kín của mỗi người hấp dẫn hơn nhiều so với những hồi ức tập thể chung chung Về mức độ hư cấu, về cách kể chuyện, hai thể loại này cũng gần giống nhau và có thể tráo đổi cho nhau, do đó rất khó để phân biệt Chỉ
có thể phân biệt chúng trong từng trường hợp cụ thể với những mục đích cụ thể
Nếu vậy thì điểm khác nhau giữa hồi kí và tự truyện là gì? Làm thế nào để có thể phân biệt chúng?
Trước hết là sự khác biệt ở đối tượng trung tâm của tác phẩm Hồi kí không nhất thiết phải kể về cái tôi (trừ hồi kí đời tư), mặc dù “Tôi” là NKC Bên cạnh câu chuyện về mình, hồi kí còn có thể tập trung tái hiện bức tranh của thời đại, hoặc đi sâu tìm hiểu những mảng đời khác có liên hệ với NKC trong quá khứ Những trường hợp
đó, cái tôi chỉ là “chất dẫn” của mạch cảm hứng, của mối liên hệ Trong khi đó tự truyện lại xoáy vào cá nhân người viết, NKC chỉ khai thác đời sống cá nhân của mình nhằm tìm hiểu, lí giải chính mình
Thời gian ra đời của tự truyện và hồi kí cũng khác nhau Tự truyện có thể được viết bất kỳ lúc nào trong cuộc đời bởi mục đích của nó là khẳng định sự tồn tại của cái Tôi và chủ đề để suy tưởng thường gắn với một sự kiện nhất định Hồi kí thường được viết khi tác giả đã về già, đã từng trải, muốn nhìn lại cuộc đời và thời đại mình đã sống
Nếu hồi kí đặc biệt chú ý tới sự thật của sự kiện, tự truyện lại chú ý nhiều tới sự thật của nội tâm, nghĩa là tâm sự, giãi bày, bộc bạch cũng nhiều hơn Bởi lẽ hồi kí thuộc loại hình kí, còn tự truyện lại có yếu tố “truyện” (nguồn gốc tự sự), một đằng chú
ý nhiều đến việc ghi chép chính xác, một đằng lại quan tâm hơn đến những giá trị văn học Vì vậy hồi kí có tính chân thực cao hơn tự truyện Tác giả hồi kí có ý thức để đạt tới tính chính xác cao nhất trong khi tác giả tự truyện lại không coi tính chính xác của những điều được kể là tiêu chuẩn đánh giá Thật ra, trước kia “tự truyện truyền thống” cũng ngầm mang hiệp ước về “sự thật”, nhưng ngày nay, “tung hỏa mù”, “đánh bóng”
là thị hiếu của các nhà văn viết về mình Có những tác phẩm tự truyện nhà văn coi việc tạo ra thái độ nghi ngờ cho độc giả như một thủ pháp, khiến cho người đọc hoang mang không thể xác định được đâu là “sự thật” Vì vậy, người ta không còn đọc tự
Trang 19truyện như một bản lí lịch tự thuật mà thưởng thức nó như một tác phẩm nghệ thuật đích thực Trong khi đó ở Việt Nam, khi mà người đọc chỉ chăm chăm lật tẩy những bí mật, còn người viết thì lệ thuộc vào trình độ, quan niệm hạn chế và sự chiều chuộng thị hiếu của người đọc, phần lớn tự truyện Việt Nam vẫn chỉ được coi như một thứ văn chương gây sốc
Một đặc điểm nữa tạo nên sự khác biệt giữa hồi kí và tự truyện là: hồi kí mang đặc trưng của loại hình kí, “không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành tính cách của các cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh” [18, tr.137]; trong khi đó, tự truyện lại nhấn mạnh đến việc lí giải cái Tôi, tại sao cái tôi của quá khứ lại trở thành cái tôi của ngày hôm nay?
Việc xác định thể loại hồi kí hay tự truyện tuy đã có những tiêu chí nhất định nhưng đôi khi công việc đó phức tạp đến mức nhiều tác giả và các nhà phê bình đã phải
chọn giải pháp dung hòa Đặng Thị Hạnh khi viết Cô bé nhìn mưa đã định danh thể
loại cho tác phẩm này là “hồi ức” với ý nghĩa do tác giả bộc bạch là “để thể hiện sự giao thoa giữa hồi kí và tự truyện”
Hồi kí, tự truyện không chỉ mang nhiều đặc điểm giống nhau mà bản thân chúng còn dung nạp đặc điểm của nhiều thể loại văn học khác hoặc ngược lại, bị các thể loại khác dung nạp Hồi kí xã hội gần với văn xuôi lịch sử, hồi kí thế sự lại phần nào giống với tiểu thuyết vì tính chất bao quát đời sống của nó, trong khí đó hồi kí chân dung nhiều khi khó phân biệt được với thể loại chân dung văn học
Mối quan hệ giữa tiểu thuyết và tự truyện cũng vậy Trải qua một chặng đường dài, hai thể loại này dường như ngày càng tiệm cận nhau hơn Tiểu thuyết vượt lên khỏi
sự “hướng ngoại” của loại tiểu thuyết “tấm gương”, tìm đến với văn chương “hướng nội”, khai thác đời sống nội tâm của con người để đạt tới chiều sâu vô tận của các giá trị tinh thần Trong khi đó, tự truyện lại ngày càng “gia tăng” các thủ pháp kể chuyện học hỏi từ tiểu thuyết để tăng thêm sức hấp dẫn Do vậy, nhiều lúc khó có thể phân biệt hai thể loại này Những cuộc “gặp gỡ” như thế giữa tiểu thuyết và tự truyện ngày càng
nhiều Trong tiểu thuyết Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, hay Ba người khác của
Tô Hoài, nhân vật NKC xưng tôi, “tự kể về mình” với các chi tiết rất gần với những chi
Trang 20tiết tiểu sử ngoài đời của tác giả Các tác giả đã đem chính bản thân mình và những người xung quanh mình làm đối tượng hư cấu của văn chương Có thể coi đó là một dạng tiểu thuyết - tự truyện
Sự đan xen phức tạp giữa các thể loại thực sự gây lúng túng cho hoạt động thưởng thức cũng như phê bình, nghiên cứu văn học Đó là xu hướng không thể tránh khỏi, đòi hỏi người đọc phải được trang bị một “phông” văn hóa nhất định để có trình
độ tiếp nhận phù hợp với quy luật phát triển của văn học
Trước khi phân chia thể loại cụ thể cho các tác phẩm được nghiên cứu trong luận văn này, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi mượn tạm khái niệm
“écriture de soi” trong tiếng Pháp (tức là văn học viết về chính mình) để chỉ chung cả hai thể loại hồi kí và tự truyện Bởi lẽ cả hai thể loại này đều lấy quá khứ của cái tôi làm đối tượng chính hoặc lấy cái tôi ấy để soi rọi vào cuộc đời chung, là “đầu mối liên lạc” cho những gì được nhắc tới trong tác phẩm
Các tác phẩm “écriture de soi” của Tô Hoài được nghiên cứu trong luận văn này đều là những tác phẩm không thuần nhất về mặt thể loại Có tác phẩm nhà văn cho là
Tự truyện lại được các nhà nghiên cứu xếp vào dạng hồi kí Có những tác phẩm từ
trước đến nay vẫn được công nhận là hồi kí, lại có những công trình nghiên cứu mới
gọi là tiểu thuyết - tự truyện [5] Đặc biệt, trường hợp Cát bụi chân ai và Chiều chiều
được cho là những tác phẩm có sự pha trộn giữa rất nhiều thể loại: “hồi kí, chân dung, tiểu thuyết, tùy bút, bút kí, phóng sự, nhật kí ghi chép, phê bình văn học, thư từ…” [65, tr.30] Dựa vào khung lí thuyết đã được xác định như trên, chúng tôi tiến hành phân loại các tác phẩm văn học hồi tưởng của Tô Hoài như sau:
Cỏ dại và Tự truyện là hai tác phẩm kể lại quãng đời ấu thơ và niên thiếu của Tô
Hoài Không chỉ có giá trị tiểu sử, người đọc còn được sống trong thế giới tâm hồn của nhân vật NKC - cu Bưởi, anh Sen - với những tưởng tượng hồn nhiên, những ý nghĩ ngây thơ về cuộc sống, những cảm nhận, ấn tượng chủ quan dưới con mắt trẻ thơ về
những người thân trong gia đình Cỏ dại không chỉ khiến NKC được sống trong kí ức
mà ngay cả người đọc dường như cũng như thấy một phần tuổi thơ của mình, cũng bị lây cái cảm giác buồn man mác như tâm trạng trong một buổi chiều tắt nắng ở làng
Trang 21quê Đến Tự truyện, không chỉ tiếp tục mạch kỉ niệm thời thơ ấu, những bước giang hồ
phiêu bạt tìm việc làm khắp đất Kẻ Chợ cho tới cảng Hải Phòng, những ngày đầu tiên đến với cách mạng; nhà văn còn có ý thức “tự phân tích, đánh giá lại quá trình sáng tác của mình” [14, tr.5-6], tự lí giải con đường đến với văn nghiệp của mình Về mặt hình
thức, ở cả hai tác phẩm này, kí ức đều đã được “biên tập lại” Trong Cỏ dại, tác giả
không kể theo trật tự của trí nhớ, của “dòng ý thức” mà thành từng nội dung (Về căn nhà của ông bà ngoại, Về thầy u, Về ông bà, Về những đứa em, Về việc đi học…)
Trong Tự truyện, NKC cũng sắp xếp nội dung truyện kể thành từng chương mục (Mùa
hạ đến, mùa xuân đi; Những người thợ cửi; Một chặng đường…) Cách thức biên tập, sắp xếp lại kí ức của hai tác phẩm này đã cho thấy dấu hiệu của yếu tố truyện Với
những biểu hiện trên, tạm thời có thể xếp Cỏ dại và Tự truyện vào thể loại tự truyện
Cát bụi chân ai và Chiều chiều đúng là có sự pha trộn của rất nhiều thể loại,
nhưng thật ra nó chỉ mượn phương thức tái hiện cuộc sống của các thể loại đó để có thể
đi đến tận cùng của sự việc Bản chất của nó vẫn là hồi kí Qua kí ức của NKC, hai tác phẩm tái hiện lại một thời đại đã qua với những trải nghiệm sâu sắc của nhân vật NKC, dựng lại chân dung của những người nghệ sĩ cùng thời trong mối liên hệ với tác giả,
làm sống dậy không khí của một thời Cái tôi của NKC được nhắc tới ít hơn trong Cỏ
dại và Tự truyện nhường chỗ cho kí ức về chân dung và thế sự Vì vậy có thể xếp Cát bụi chân ai và Chiều chiều vào dạng hồi kí thế sự
1.1.4 Nhân vật người kể chuyện trong thể hồi kí, tự truyện
1.1.4.1 Quan niệm về người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện
Vấn đề NKC (narrator) là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp văn xuôi hiện đại Không thể có trần thuật nếu không có NKC Từ cuối thập kỉ 50, đầu thập
kỉ 60, các nhà nghiên cứu phương Tây và Liên Xô đã nhắc tới thuật ngữ này Cùng với
sự phát triển của thi pháp kể chuyện, ngày càng có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu vấn đề NKC trên phương diện lí thuyết cũng như việc ứng dụng nghiên cứu vấn đề NKC trong từng tác giả, tác phẩm cụ thể Từ những công trình nghiên cứu đó, có thể
khái lược lại vấn đề NKC trong tác phẩm tự sự như sau: NKC là một công cụ do nhà
văn hư cấu nên để kể chuyện NKC là một nhân vật nhưng là một dạng nhân vật đặc
Trang 22biệt, có chức năng tổ chức các nhân vật khác, tổ chức kết cấu của tác phẩm Giữa NKC với tác giả có một mối liên hệ mật thiết với nhau Qua nhân vật NKC ta có thể thấy được tư tưởng, quan niệm của tác giả nhưng ta tuyệt đối không được đồng nhất giữa NKC với bản thân tác giả
Trong thể loại hồi kí, tự truyện, nhân vật NKC có sự khác biệt nhất định so với những đặc điểm đã được xác định như trên về NKC trong thể loại tự sự nói chung NKC trong cả hồi kí và tự truyện đều có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi trong hai thể loại trên NKC chính là hiện thân của tác giả, mang hình bóng của tác giả, đồng thời là nhân vật trung tâm của tác phẩm hoặc là nhân chứng, có mối liên hệ mật thiết với những gì được kể trong tác phẩm Vì vậy NKC giữ vai trò thống soái trong tác phẩm Anh ta xưng tôi, nhưng anh ta lại biết tuốt bởi những gì được kể là quá khứ mà anh ta
đã từng tham dự hoặc chứng kiến Không những thế, NKC còn có khả năng đi sâu khám phá những tình cảm, những ẩn ức, những ám ảnh vô thức trong thế giới nội tâm nhân vật bởi nhân vật được kể lại phần nhiều chính là anh ta
Nhân vật NKC trong hồi kí, tự truyện còn thường có những đặc điểm chung nhất định về số phận và tính cách Hầu hết họ đều là những người đã từng trải qua nhiều thăng trầm, biến động trong cuộc đời Họ có nhiều bí mật cần giải tỏa Hoặc họ
là người thuộc về những thời đại có nhiều vấn đề đặt ra Quan trọng nhất, họ phải là những người nhạy cảm, hay chiêm nghiệm, có nhu cầu chia sẻ để giải tỏa Hầu hết NKC trong hồi kí, tự truyện đều là những người có xu hướng hướng nội, thích phân tích bản thân; tự họa chân dung để phác thảo lại cái tôi của mình Mỗi tác phẩm hồi kí,
tự truyện, đặc biệt là tự truyện đều là hành trình đi tìm lại cái Tôi của NKC Một cuộc đời nhạt nhẽo hoặc một tâm hồn đơn giản thường không có nhu cầu viết hồi kí, tự truyện và cũng không đủ tư liệu để có thể viết thể loại này
Trong những nghiên cứu về vấn đề NKC từ trước tới nay, các học giả đều nhất quán khẳng định mặc dù NKC và nhà văn có những mối liên hệ mật thiết, nhưng cũng không nên đồng nhất hai đối tượng này Điều đó hoàn toàn đúng đối với thể loại tự sự
Ngay cả với hồi kí (thể kí), và tự truyện (một thể loại mà “tự sự chỉ là chiếc áo mặc
nhờ” [71]), ý kiến trên vẫn xác đáng Bởi lẽ tuy tác giả kể về mình với những gì đã
Trang 23được chứng kiến, trải nghiệm nhưng thế giới tồn tại của tác giả và thế giới tồn tại của nhân vật được kể lại hoàn toàn khác nhau về thời gian, không gian, trạng thái tâm lí, lứa tuổi, cảm xúc Cái tôi của ngày hôm nay kể lại đã không còn là cái tôi của ngày trước Đặc biệt là những cảm xúc, suy nghĩ - những giá trị tinh thần phi vật chất, khó có thể đảm bảo sự chính xác khi khôi phục lại Tác giả - NKC chỉ có thể cố gắng dùng cái tôi hiện tại để cảm nhận, phục hiện lại cái tôi trong quá khứ Tuy nhiên, trên phương diện tìm kiếm tư liệu về tác giả, cả hai cái tôi đó đều có giá trị ngang nhau
1.1.4.2 Vai trò của người kể chuyện trong hồi kí, tự truyện
Với tác giả, trong các tác phẩm tự sự, NKC là điểm tựa để nhà văn bộc lộ những
suy nghĩ, quan niệm về cuộc sống Ở hồi kí, tự truyện, NKC cũng giúp nhà văn thể hiện quan niệm về cuộc sống nhưng không cần thông qua các hình tượng nghệ thuật
hư cấu mà thông qua chính cuộc đời nhà văn khi nhà văn hóa thân vào nhân vật NKC Bằng quá trình hồi tưởng, NKC giúp tác giả làm một cuộc hành trình trở về với quá khứ, tìm lại chính mình, khám phá bản thân mình Điều đó lí giải tại sao hồi kí, tự truyện “bùng nổ” trong những năm gần đây, khi mà nhiều giá trị trong cuộc sống đã bị đảo lộn, bị phá vỡ Con người trở nên hoang mang, mất niềm tin vào thế giới xung quanh Lúc đó, con người chỉ còn tin vào chính mình, có xu hướng quay vào đối thoại
với bản thân mình Hồi kí, tự truyện giúp tác giả có cơ hội hiểu mình hơn
Với tác phẩm, “hình tượng này có tầm quan trọng hết sức to lớn trong việc xây
dựng tác phẩm bởi các quan niệm, các biến cố xảy ra, cách đánh giá các nhân vật và các biến cố đều xuất phát từ cá nhân NKC” [75, tr.235] Trong các tác phẩm tự sự nói chung, NKC có vai trò tổ chức hệ thống hình tượng nhân vật, tổ chức các hệ thống sự kiện, liên kết chúng lại để tạo thành truyện, sắp xếp bố cục của trần thuật, lựa chọn, kết hợp các thành phần trần thuật, tổ chức điểm nhìn trần thuật NKC trong hồi kí, tự truyện cũng có những vai trò như trên Sự khác biệt ở chỗ, trong hồi kí, tự truyện nội dung truyện kể là những gì mà NKC đã từng “tham dự hoặc chứng kiến”, mọi diễn biến của câu chuyện đều là những điều đã xảy ra và đã được nắm bắt bởi NKC Tuy vậy, NKC cũng không có vai trò toàn năng như NKC ở điểm nhìn biết hết trong thể loại tự sự, bởi anh ta không được sáng tạo lại cuộc đời theo ý muốn Anh ta bắt buộc
Trang 24phải tuân theo một đáp án đã có sẵn, chỉ có điều anh ta được quyền giải bài toán đó theo cách riêng với lập luận biện chứng của mình nghĩa là nhìn nhận, lí giải những gì
đã diễn ra qua lăng kính của mình
Với người đọc, NKC là cầu nối giữa người đọc và tác phẩm Bằng thủ pháp kể,
tả, giải thích, bình luận, NKC giúp người đọc tiếp cận với nhân vật, hiểu rõ những hành động, những diễn biến tâm lí, những bí ẩn trong thế giới nội tâm của nhân vật Trên cơ
sở những hiểu biết về nhân vật, về những điều được trần thuật trong tác phẩm, NKC hướng người đọc cùng suy ngẫm, chia sẻ, đồng cảm với những chiêm nghiệm, những suy nghĩ của mình về cuộc đời Trong nhiều trường hợp, NKC còn tiến hành đối thoại, tranh luận với người đọc để cùng nhau kiếm tìm, khám phá chân lí cuộc sống Nếu ở thể loại tự sự, người đọc được hiểu biết về thế giới hư cấu như một ẩn dụ trong tác phẩm, thì ở hồi kí, tự truyện, người đọc còn được cung cấp những tư liệu về thế giới thực của nhà văn qua chuyện kể của nhân vật chính - NKC NKC là cầu nối giúp người đọc hiểu nhà văn hơn, đồng thời hiểu hơn về quá trình sáng tác và quan điểm nghệ thuật của nhà văn Qua đó người đọc có thể tìm được cách tiếp cận thích hợp với các
sáng tác của tác giả đó
1.2 Vài nét về hồi kí, tự truyện Tô Hoài
1.2.1 Hồi kí, tự truyện Tô Hoài trong sự phát triển của thể loại
Về thể loại tự truyện, có lẽ Tô Hoài không có nhiều đóng góp đặc sắc Không chỉ riêng Tô Hoài, tự truyện ở Việt Nam nói chung cũng không phải là một thể loại có thế mạnh và thành tựu đáng kể Những năm gần đây, do một số nguyên nhân chủ quan
và khách quan, viết và xuất bản tự truyện dần trở thành một trào lưu được ưa chuộng Nhưng như ở trên đã nhận định, chúng tôi không coi tự truyện hợp tác viết là những “tự truyện chân chính” về mặt thể loại Đây là thể loại còn cần thời gian để khẳng định vị
thế của mình trên văn đàn Việt Nam Hai tác phẩm được xếp vào loại tự truyện (Cỏ dại
và Tự truyện) của Tô Hoài cũng chưa hẳn đã đạt được những tiêu chí nhận diện của thể
loại này
Về thể loại hồi kí, Tô Hoài có nhiều đóng góp với hai tác phẩm Cát bụi chân ai
và Chiều chiều Như chúng ta biết, từ năm 1986, hòa trong không khí chung, phong
Trang 25trào “đổi mới” trong sáng tác văn học đã được phát động và phát triển rầm rộ Tuy nhiên, không khí đó chỉ diễn ra ở một số thể loại như thơ ca, tiểu thuyết, truyện ngắn,v.v… những thể loại khác vẫn “yên vị” trong những gì đã được định hình, kể cả
kí Với Cát bụi chân ai, Tô Hoài trở thành nhà văn có công đầu đưa thể loại hồi kí vào
sự nghiệp đổi mới văn học, đem lại một phong cách mới mẻ cho thể hồi kí Việt Nam Trước Tô Hoài, hầu hết hồi kí Việt Nam được viết theo dạng hồi kí đời tư, nghĩa là những cuốn sách người viết tự kể về đời mình, nếu có nói về những người khác cũng là
nhân tiện mà nói, nói tạt ngang cho đậm đà câu chuyện Hồi kí Đặng Thai Mai của Đặng Thai Mai, Những năm tháng ấy của Vũ Ngọc Phan hay Từ bến sông Thương của Anh Thơ,v.v đều chung một kiểu viết như vậy Đến Cát bụi chân ai và Chiều chiều,
Tô Hoài đã tạo cho thể tài một sự xô đẩy nho nhỏ, hồi kí đời tư được thay thế bằng hồi
kí chân dung, hồi kí thế sự Tác giả không nói nhiều về mình mà chủ yếu tái hiện chân dung những nghệ sĩ cùng thời, những con người ngang qua cuộc đời mình để lại nhiều dấu ấn, hay những sự kiện của đời sống xã hội Trong khi những tác phẩm hồi kí khác viết trên tinh thần tổng kết lại những gì đã qua, nhìn nhận cuộc sống ở sự hoàn thành,
trọn vẹn, thì ở hồi kí Tô Hoài, Cát bụi chân ai, Chiều chiều lại vẽ lên một bức tranh với
những chi tiết cuộc sống còn ngổn ngang, dang dở Với Cát bụi chân ai và Chiều
chiều, Tô Hoài đã thoát ra khỏi tư duy sử thi vốn chi phối sâu sắc cả nền văn học đã
qua, đưa tư duy tiểu thuyết vào thể loại hồi kí Những nhân vật, những cuộc đời trong
hồi kí Tô Hoài đều được tiếp cận ở cự li gần và được quan sát ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Không giống như hồi kí của các nhà văn khác, Tô Hoài từ bỏ “môtif hào quang” khi viết về những tên tuổi lớn trong nền văn học Việt Nam mà khai thác những nhu cầu nhân tính, đi vào những khuất khúc, éo le, thăng trầm trong cuộc đời Dưới những trang viết của Tô Hoài, mỗi chân dung được khắc họa đều trở nên sống động, gần gũi, giàu nhân tính và có sức khát quát về thân phận con người
Về phương diện tổ chức tác phẩm, Tô Hoài đã phá vỡ cấu trúc thuần nhất của thể hồi kí, du nhập rất nhiều thể loại khác vào nó để đa dạng hóa phương thức tái tạo
đời sống Cát bụi chân ai và Chiều chiều là sự pha trộn giữa hồi kí với tiểu thuyết,
phóng sự, tùy bút, bút kí, nhật kí, phê bình văn học…tạo ra nhiều giọng điệu mới lạ và
Trang 26tính đa thanh cho tác phẩm Có thể nói, Tô Hoài sở hữu một cách viết hồi kí rất đặc biệt
mà theo như Đặng Tiến thì chỉ có ông mới nắm bắt được những kĩ thuật đó Nhờ vậy, hồi kí của Tô Hoài không chỉ có giá trị về mặt tư liệu mà còn mở ra những giá trị vô biên của văn học
1.2.2 Sự vận động trong mạch hồi kí, tự truyện Tô Hoài
Những tác phẩm hồi kí, tự truyện của Tô Hoài nối tiếp nhau kể lại những chặng
đường đời nhà văn, từ khi là một cậu bé làng Bưởi đến lúc Chiều chiều trải qua bao
thăng trầm của cuộc đời Trong dòng hồi ức như một dòng chảy miên man dường như không đứt gãy ấy, người đọc nhận thấy hai nguồn mạch cảm hứng, hai cách viết hoàn toàn khác nhau ở hai giai đoạn khác nhau : trước và sau Đổi Mới Trong giai đoạn
trước Đổi Mới (1986), Tô Hoài viết Cỏ dại khi tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ Ba
mươi năm sau, mạch truyện Tô Hoài vẫn giữ được sự dào dào, tươi tắn, sống động của
hoài niệm trong Tự truyện Nhưng chúng ta có cảm giác không có sự vận động Phải
đến giai đoạn sau 1986, người đọc mới nhận thấy sự vận động rõ rệt trong dòng hồi kí,
tự truyện Tô Hoài Cát bụi chân ai và Chiều chiều được ông viết khi đã ở cái tuổi “tri
thiên mệnh”, giọng trầm lắng và thấm đượm chất triết lí ngay từ nhan đề Nghiên cứu
hệ thống các sáng tác hồi kí, tự truyện của Tô Hoài, chúng tôi nhận thấy mạch vận động đó không chỉ diễn ra trên bề mặt văn bản (đối tượng được đề cập, cách viết) mà còn ở tầng sâu ý thức sáng tạo của nhà văn
1.2.2.1 Về nội dung kể chuyện
Trước 1986, Tô Hoài viết Cỏ dại và Tự truyện kể lại tuổi thơ và thời niên thiếu của mình Cỏ dại ghi lại kí ức về một thời thơ dại với những kỉ niệm “vui thương, chìm
sâu trong những ngày cũ buồn bã” Đó là những năm tháng đầu đời sống với ông bà ngoại và các dì ở làng Bưởi, trong một căn nhà cổ thừa tự “cô hồn như nhà hoang” và một mảnh vườn “lổn nhổn cây cối” Bên cạnh gương mặt những người thân thiết gắn
bó với tuổi thơ của NKC, nổi bật lên cả là hình bóng NKC thời thơ bé với những suy
nghĩ, ước mơ, tưởng tượng trẻ con về cuộc sống quanh mình Tiếp nối mạch kí ức đó,
Tự truyện tái hiện lại chặng đường đời niên thiếu của nhà văn từ lúc còn là học sinh lớp
nhất trường Yên Phụ cho đến khi phải nghỉ học, lang thang khắp đất Kẻ Chợ đến cảng
Trang 27Hải Phòng tìm việc, rồi vào nghề văn, tiếp tục những ngày “phiêu lưu kiểu kiến bò cho qua cơn trống trải” cùng các văn nghệ sĩ đến những ngày tháng sôi nổi hoạt động cách
mạng trong phong trào Văn hóa cứu quốc Ở cả Cỏ dại và Tự truyện, yếu tố đời tư là
đối tượng chính của tác phẩm Người đọc được cung cấp nhiều tri thức về cuộc đời NKC, từ chuyện gia đình (ông bà, thầy u, các dì, các em…) đến bản thân NKC với những chi tiết về ngoại hình, tính cách, đường đời Cả hai tác phẩm đều viết về mình,
lấy những sự kiện trong cuộc đời mình làm trung tâm Đến Cát bụi chân ai và Chiều
chiều, những chi tiết đời tư mờ dần, tác giả không kể nhiều về mình, về gia đình mình
Ngay cả việc người con trai đi xuất khẩu lao động, mất ở Lai-xích (Đức), NKC cũng chỉ nhắc tới một vài câu Nội dung chủ yếu của tác phẩm là những câu chuyện về cuộc đời, về bạn bè, đồng nghiệp, về những người đã từng gặp gỡ trong công tác xã hội hoặc ngoài đời thường… Những đoạn văn phân tích tâm lí, “tự khám phá chính mình” cũng
có nhưng so với gần 1000 trang hồi kí không thấm tháp vào đâu, không phải là đối
tượng chính Như vậy có thể thấy, từ Cỏ dại, Tự truyện đến Cát bụi chân ai, Chiều
chiều, nhà văn đã làm một cuộc hành trình trong nội dung kể chuyện, đi từ tiểu sử cá
nhân, chi tiết đời tư đến những vấn đề thế sự
1.2.2.2 Về hình thức kể chuyện
Trước 1986, Cỏ dại và Tự truyện vẫn tuân theo kết cấu truyền thống, các chi tiết được kể lần lượt theo trật tự thời gian của sự kiện Sau 1986, Cát bụi chân ai và Chiều
chiều đã phá vỡ kết cấu tuyến tính của thời gian, viết tự nhiên theo dòng hồi tưởng,
bước đầu theo quy luật của dòng ý thức Đặng Thị Hạnh đã chỉ ra sáu bước chuyển thời gian phá vỡ trình tự biên niên của câu chuyện: “Đầu thập kỉ 40 - Hà Nội quanh Hồ Gươm; Trước những năm 60 - Ngã sáu Hàng Kèn; Năm 49 - Chiến dịch sông Thao, trận Đại Bục; Sau năm 54 - Ngã sáu Hàng Kèn; Thời kháng chiến chống Pháp (không
rõ năm) - Rừng Thượng Yên; Sau năm 54 - Ngã sáu Hàng Kèn” [19, tr.23] Nội dung chuyện kể có thể từ sự kiện này sang sự kiện khác, từ mốc thời gian này sang mốc thời gian khác, nhiều khi chỉ neo bám vào những liên tưởng ngẫu nhiên, bất ngờ Đang kể chuyện Nguyễn Tuân và Lương Đức Thiệp bị bắt, giải đi trên con tàu Chantili, câu
chuyện lại quay sang Vũ Hoàng Chương với bài thơ Tặng con tàu Chantili và câu
Trang 28chuyện tình lãng mạn ngắn ngủi trên tàu của thi nhân; Nhìn thấy ông Ngải và Hến sau hai năm trở lại xóm Đồng, lại liên tưởng đến những ngày đi thực tế, tới Đặng Đình Hưng, Trần Đức Thảo hồi còn chăn bò ở nông trường Ba Vì… Những liên tưởng bất ngờ tạo nên một lối viết đầy ngẫu hứng cho những trang hồi kí Tô Hoài
Ở Cỏ dại và Tự truyện, điểm nhìn kể chuyện là điểm nhìn của Cu Bưởi - Tô Hoài thời thơ bé; của chàng thanh niên, nhà văn trẻ Đến Cát bụi chân ai và Chiều
chiều, câu chuyện được kể từ điểm nhìn của một người đứng tuổi - “bác Tô Hoài”,
“ông Tô Hoài”, vì vậy mà giọng điệu kể chuyện cũng mang những âm hưởng khác nhau Không còn cái trẻ trung yêu đời “Này đây một cánh hoa trong rừng xuân mới rỡ ràng của những Ngày Lớn chúng ta đương nằm trong lòng bàn tay tôi, ơi người đồng
chí thân mến” [28, tr.6], Cát bụi chân ai và Chiều chiều là những trang văn đầy ám ảnh
của môtif tuổi già - bệnh tật - hư vô Từ những người tên tuổi một thời đến những số
phận tầm thường, tất cả rồi cũng già nua và trở về với cát bụi, để nhận ra thân phận con
người vừa mòn mỏi dông dài vừa ngắn ngủi hư vô Ở giai đoạn này, tính triết lí, suy ngẫm nhiều hơn, cách nhìn nhận, đánh giá về con người và cuộc sống cũng sâu sắc
hơn Có thể nói, đến Cát bụi chân ai và Chiều chiều, Tô Hoài mới đạt tới độ chín cả về
con người lẫn phong cách văn chương
Nếu ở giai đoạn đầu của hồi kí, tự truyện Tô Hoài, điểm nhìn kể chuyện là điểm nhìn đơn nhất của nhân vật Tôi, sang giai đoạn sau tác giả đã tạo nên những cuộc phiêu lưu mới của điểm nhìn kể chuyện Cái nhìn về con người và cuộc sống được mở rộng, trải ra dưới nhiều góc độ khác nhau nhờ có sự di chuyển điểm nhìn Nhiều đoạn, NKC không còn ở ngôi thứ nhất mà chuyển sang ngôi kể thứ ba, từ điểm nhìn bên trong sang điểm nhìn bên ngoài Khi kể lại chuyến lên đường đầu tiên trong đời “thiếu quê hương” của Nguyễn Tuân, NKC đứng ở điểm nhìn bên ngoài, ngôi thứ ba, tạo khoảng cách với những nhân vật được nhắc đến Từ chất liệu là những sự kiện có thật trong câu chuyện của Nguyễn Tuân và Lương Đức Thiệp, tác giả đã hư cấu, nhào nặn lại, tên của nhân vật không được tiết lộ, các chi tiết cũng được kể bằng giọng điệu đầy bí mật Người đọc cảm thấy hồi hộp, nóng lòng muốn biết về nhân vật và chờ đợi diễn biến của câu chuyện như đang theo dõi một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu Bằng cách kể chuyện trực
Trang 29tiếp với độc giả, không qua lăng kính của nhân vật Tôi, những trang văn đó đã giúp người đọc được sống cùng chặng đường nhân vật đã trải qua, bằng những cảm xúc và
sự đánh giá của riêng mình, không bị chi phối bởi thái độ, tình cảm của NKC Cách kể như vậy tạo ra một không khí mới trong dòng hồi tưởng, thể hiện sự sáng tạo độc đáo của Tô Hoài Có những đoạn, điểm nhìn kể chuyện lại được di chuyển sang nhân vật được kể, làm cho câu chuyện thêm chân thật, sống động Để khắc họa tâm trạng đau đớn của Vũ Hoàng Chương khi người yêu qua đời, có những đoạn điểm nhìn kể chuyện được di chuyển linh động sang Vũ Hoàng Chương: “Nguyễn Bính thì cố nhân Hương, Hương cố nhân, Đinh Hùng thì em Liên Hàng Bạc, người đẹp biết thổi
ácmônica như ngọc nữ xuống trần gian thổi sáo gọi nhau Những búp hoa quỳ trắng
này Liên mang đến mùa hạ, giờ đã sang thu, cuống hoa đã héo quắt trong chiếc độc
bình, mà em thì, Liên đã nằm dưới mộ” [28, tr.265] Lời của NKC và lời của nhân vật
đan xen vào nhau, tạo nên những trang văn giàu cảm xúc
Trong Cát bụi chân ai và Chiều chiều, NKC xưng tôi không đơn nhất như các
tự truyện giai đoạn trước mà được phân thân thành nhiều biến thể ở nhiều thời điểm khác nhau trong quá khứ Nhiều lúc người đọc không phân biệt được NKC đang ở dạng biến thể nào trên biểu đồ thời gian, từ hiện tại nhìn về quá khứ hay đang ở phân đoạn nào của quá khứ để hồi tưởng Ở chương I, sự kiện Tô Hoài cùng Nguyễn Tuân ngồi ở ngã sáu Hàng Kèn vào những năm sáu mươi được thực tại hóa Hai người ngồi
ở cái ngã sáu đường đời đó mà hồi tưởng lại những kỉ niệm liên quan đến cái ngã sáu này Toàn bộ những sự kiện sau đó được nhìn bằng điểm nhìn trong quá khứ và rơi vào bình diện của thực tại Lối kể chuyện như vậy khiến cho những trang viết của Tô Hoài vừa ngẫu hứng, bất định, vừa nên thơ, lại vừa ám ảnh
Như vậy, qua hai giai đoạn trong sáng tác hồi kí, tự truyện của Tô Hoài, chúng tôi nhận thấy có một sự vận động khá rõ về nội dung kể chuyện và cách kể chuyện Tuy nhiên ở một vài điểm, mạch vận động đó không hoàn toàn là sự thay đổi mà là sự
kế tiếp, gối nhau giữa hai giai đoạn Ở Tự truyện, tác giả đã không ngại phơi bày “chất
văn xuôi của ngày thường”, đó chính là những “mầm mống”, tiền đề sau này được triển
khai mạnh mẽ ở Cát bụi chân ai và Chiều chiều
Trang 301.2.3 Quan điểm trần thuật của Tô Hoài trong hồi kí, tự truyện
1.2.3.1 Viết hồi kí là quá trình “đấu tranh tư tưởng để nói ra sự thật”
Tô Hoài từng nói về việc viết hồi kí như sau: “Mỗi lần viết kí là một lần đấu tranh tư tưởng để nói ra sự thật Sự thật đó có lẽ nhiều nhà văn cố gắng đạt cho được nhưng có làm được hay không lại là chuyện khác Khi có cuốn không được phát hành hoặc bị phê phán, tôi nghĩ mình vẫn phải viết mà không để ý cuốn sách đó liệu có được
xuất bản hay không” [70] Chiều chiều và Cát bụi chân ai là những cuốn hồi kí đã từng chịu số phận như vậy, thậm chí Chiều chiều đã được xuất bản (1999) nhưng một thời
gian sau lại bị lặng lẽ thu hồi, có lẽ cũng vì những “sự thật” khốc liệt mà nó đề cập đến Khi viết về sự thật, Tô Hoài ý thức rất rõ: “không đấu tranh với chính mình thì chưa chắc đã nói ra được sự thật mà đôi khi chỉ là một nửa sự thật” [70]
Để có thể toàn tâm toàn ý trung thành với hiện thực, đòi hỏi người viết phải có một động cơ trong sáng: “Tôi không ngại, không nề hà những chuyện phải né tránh vì động cơ trong sáng của người viết, không định kiến, không nhằm đối phó với ông A, ông B, ông C” [15, tr.84]
Khi được hỏi vấn đề liệu có thêm thắt vào những câu chuyện khi xây dựng chân
dung các nhà văn trong các cuốn hồi kí của mình hay không Tô Hoài khẳng định: “Sự
thật đã là đẹp rồi Đời tôi khi tôi tự hỏi, cách viết của mình có gì không đúng chăng?
Tôi chỉ sợ viết những điều mình không biết Ví dụ như viết về thời đi học ở trường chính trị 2 năm, thực tế thế nào thì tôi viết như thế Cuối cùng viết xong người ta không bằng lòng vì cho rằng ở trường đó không thể có chuyện mất cắp được Còn nếu hỏi có thêm thắt hay không thì tôi khó có thể trả lời câu hỏi này Khi tôi viết mười năm có nhiều người phê bình dữ dội mà tôi đâu có nản lòng, chỉ rút kinh nghiệm cho mình thôi…” [70] Không để đối phó với ai, không nói quá cho ai hay tô vẽ, lí tưởng hóa ai,
để giữ được động cơ trong sáng này đòi hỏi người viết thể loại hồi kí, tự truyện phải là người tấm gương về nhân cách Có thể nói trong những tác phẩm hồi kí của mình, Tô Hoài đã làm được điều đó Tuy nhất quán với cách viết hiện thực nhưng Tô Hoài lại rất linh hoạt trong quan niệm về hiện thực Ông đã từng tâm sự: “chữ thực kia cũng có năm bảy đường Mỗi người có một sự thực của riêng mình mà cả những mơ hồ ảo
Trang 31tưởng của người ta rút cuộc rồi cũng thực nốt” [70] Đi từ “hiện thực ngây thơ” trong
Cỏ dại và Tự truyện, “hiện thực” có cả “những mơ hồ ảo tưởng” của Cát bụi chân ai và Chiều chiều đã tạo nên những trang hồi kí đầy ám ảnh của Tô Hoài
1.2.3.2 Viết hồi kí dưới góc nhìn tiểu thuyết hóa
Xuất phát từ quan niệm “sự thật đã là đẹp rồi”, trên những trang hồi kí, tự truyện
Tô Hoài không ngại phơi bày “hiện thực trần trụi” của cuộc sống Những nhân vật
được nhắc tới trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài được tiếp cận ở tầm gần, ở góc độ đời thường Tô Hoài không hạ thấp, bôi bác các nhà văn mà đó là một sản phẩm của lối tư duy mới với đời sống Với quan niệm “người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ”,
Tô Hoài đã vén bức màn hào quang lấp lánh xung quanh nhà văn được thêu dệt bởi bao giai thoại, huyền thoại, rút ngắn “khoảng cách sử thi”, tiếp cận họ ở góc độ “người”
nhất Cát bụi chân ai đã tái hiện các nhà văn với những yêu ghét giận hơn rất đời thường, những chuyện “tình tang” hay thậm chí không từ cả việc đái ỉa của nhà văn…
Bản thân Tô Hoài quan niệm “đã là sự thật thì không tầm thường”, bởi vậy, bằng cách tiếp cận theo hướng “tư duy tiểu thuyết”, ông không có ý định dung tục hóa, tầm thường hóa nhà văn mà dựng lại chân dung họ ở góc độ con người đời thường, chân
thật nhất, giàu nhân tính nhất Vì vậy mà khi Cát bụi chân ai mới ra đời, nhiều người
cho rằng Tô Hoài đã “đập vỡ thần tượng của họ”, nhưng đấy chỉ là cái nhìn hời hợt bên ngoài Đằng sau những chi tiết “tiếp cận tầm gần”, hiện thực đến phũ phàng, người đọc
sẽ nhận thấy tình cảm đôn hậu, chân thành mà Tô Hoài dành cho những người được
nói đến trong hồi kí Mặc dù viết về người thật việc thật nhưng hồi kí Cát bụi chân ai
và Chiều chiều mang nhiều đặc điểm của tiểu thuyết bởi nó phản ánh một bức tranh xã
hội rộng lớn: những vấn đề văn hóa, tư tưởng, những vấn đề đạo đức xã hội, có cả sự phức tạp trong tâm hồn, tính cách của nhân vật hay những bi kịch cá nhân, những số phận, những cuộc đời, những biến cố lịch sử… Điều đó tạo nên sức khái quát đời sống cho các tác phẩm hồi kí Tô Hoài
1.2.3.2 Viết hồi kí trên tinh thần dân chủ
Tinh thần dân chủ trước tiên là sự bình đẳng, ngay cả khi viết về mình Không ít người viết hồi kí để tự tôn mình Họ có thể trung thực, khách quan khi nói về người
Trang 32khác nhưng rất khó để khách quan với chính mình Ngay bản thân Tô Hoài cũng có nhận xét: “Nhiều người muốn khoe mình thì giữ cái nhìn khách quan là rất khó Nhưng trước mười người đọc, sẽ có mười suy nghĩ khác nhau, không lo người đọc không nhận
ra cuốn hồi kí nào là chân thực hay không chân thực” [11] Sợ mắc phải bệnh “yêu mình” khó tránh khỏi, Tô Hoài chọn giải pháp ít viết về mình Trò chuyện với báo Lao
Động, ông nói: “Nhìn chung, trong hồi kí thường thì người ta không nói thật lắm về
mình hoặc chỉ nói tốt về mình Tôi ít viết về mình mà viết về các nhà văn” [70] Đó là một lựa chọn thể hiện sự thận trọng của nhà văn khi muốn viết đúng sự thật Khi viết
Cát bụi chân ai và Chiều chiều, ông đủ từng trải để hiểu viết thật về mình là một thử
thách với bất kì ai Và khi đã viết về mình, dù ít hay nhiều, ông đều cố gắng đạt tới sự chân thật nhất
Do sự chi phối của tư duy tiểu thuyết, cái Tôi của nhà văn được quan sát trong
kí ức bình đẳng với các nhân vật khác và trở thành một nhân vật Nhà văn lùi ra xa mình, quan sát mình như một đối tượng khách quan, tái tạo lại cái Tôi của mình cả trong ý thức và vô thức để có thể “vạch trần mình”, tìm kiếm chính mình, thậm chí hoài nghi về nhân cách của mình Khi bị Như Phong gọi là “thằng ngoại ô láu cá”, Tô Hoài
đã suy nghĩ rất nhiều, cố gắng tìm hiểu và lí giải mình: “Có thể thế Tôi sinh ra nơi thành phố với làng mạc lẫn lộn, thế lực chánh lí không khạc ra lửa như trời đất làng Đại Hoàng của Nam Cao, ở quê tôi túi bạc đâm toạc tờ giấy, có tiền là có cả, bấy lâu tôi lăn lóc trong khóe đời ấy ” [27, tr.256]
Tinh thần dân chủ trong những trang hồi kí Tô Hoài cũng được thể hiện trong lối viết “tiểu thuyết hóa” Tô Hoài không xác tín điều mình kể mà để cho độc giả phán xét Ông không coi những điều mình viết ra là chân lí, bởi ông biết “có lẽ ít ai biết được
sự thực như thế nào Người viết chỉ biết đấu tranh tư tưởng và đảm bảo tính chân thực” Khi viết hồi kí, mọi người thường thích đưa ra tiếng nói cuối cùng về đời mình về đời những con người mà mình đã gặp trong đời thì Tô Hoài chỉ cố nói những điều vừa nghĩ hôm nay đồng thời để ngỏ khả năng mai kia mình có thể nghĩ khác mà mọi người càng
có thể nghĩ khác Ông không kết luận gì về mình cũng như về bất cứ ai được nhắc tới
trong hồi kí của mình “Có cảm tưởng rằng viết hồi kí với tác giả đầy kinh nghiệm này
Trang 33giống như những bước dò dẫm trên chính quá khứ Ngay trong trang viết, ông vẫn đang
đi tìm Trước mặt ông là một khối mù mờ, ông đi vào đó với tấm lòng rộng mở Ngay
cả quá khứ của mình cũng vậy, mà hình như càng là quá khứ của mình thì càng như vậy, ông phải mò mẫm, ông phải kiểm chứng, ông phải đuổi bắt Biết chắc rằng những định kiến hôm qua vẫn chưa buông tha ngòi bút, ông không hề hứa rằng mình nói thực
tất cả, ông chỉ cố gắng nói ra điều có thể nói” [50, tr.25] Khi xuất bản Cát bụi chân ai
và Chiều chiều lần đầu, Tô Hoài không ghi thể loại mà bỏ lửng Đó là một sự cố ý
mang theo những thông điệp của người viết Tô Hoài không muốn bị ràng buộc vào những quy định ngặt nghèo của thể loại Ông muốn bỏ ngỏ mọi chuyện Tự nhận sách của mình thuộc thể loại hồi kí, có nghĩa là đã kí vào “hiệp ước sự thật”, dùng tên của thể loại để bảo lãnh cho những gì được viết ra Tô Hoài chỉ cố gắng viết thật nhất nhưng không có ý định xác minh sự thật trong những điều mình viết Ông không muốn
áp đặt vốn hiểu biết của mình để khái quát cuộc sống, nhưng chính cách viết bỏ ngỏ của ông lại có khả năng tạo ra sức khái quát cho tác phẩm
* Tiểu kết
Hồi kí, tự truyện là hai thể loại loại mang yêu cầu cao về tính chân xác, khách quan của sự kiện và giá trị tư liệu nhưng cũng mang tính chất chủ quan của nhà văn.Trong đó, hồi kí thiên về tính tư liệu, ghi chép sự kiện, có tầm bao quát thời đại, xã hội; Còn tự truyện thiên về tính chủ quan, cá nhân, tính truyện Hai thể loại này có sự giao thoa rất lớn, đặc biệt là vai trò của cái tôi tác giả Điều đó khiến cho NKC trong hồi kí, tự truyện rất gần gũi với tác giả, phản ánh cá tính, quan điểm, phong cách của tác giả Nhưng vẫn cần phân biệt tác giả với NKC ở chỗ: NKC là nhân vật hư cấu: đóng vai trò 1 nhân vật trong tác phẩm và đóng vai trò trần thuật Sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài có mảng rất lớn là hồi kí, tự truyện Hồi kí, tự truyện Tô Hoài luôn đồng hành, phản ánh bước trưởng thành, sự vận động của cuộc đời và văn nghiệp của ông
Trang 34Chương 2 CHÂN DUNG NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG CÁC TÁC PHẨM HỒI KÍ - TỰ TRUYỆN TÔ HOÀI
Hồi kí, tự truyện là thể loại có thể giúp người viết “đi tìm thời gian đã mất”, sống lại những giai đoạn thăng trầm, những dấu mốc trọng đại trong cuộc đời mình Ở các tác phẩm đó, Tô Hoài đã tái hiện muôn mặt đời sống của mình với nhiều tư cách khác nhau tạo nên bức chân dung đa diện và sống động: Tư cách nhà văn – nghê ̣ sĩ; Tư cách con người đời thường; Tư cách chứng nhân của li ̣ch sử Trong chương này, chúng tôi tái hiê ̣n la ̣i chân dung NKC với tất cả các tư cách trên nhằm mục đích tìm hiểu về nghê ̣ thuâ ̣t tự sự của nhà văn, đồng thời, cung cấp phần nào thông tin về tác giả đằng sau hình bóng NKC, không hoàn toàn đồng nhất tác giả với nhân vâ ̣t NKC
2.1 Chân dung người kể chuyện với tư cách nhà văn – nghệ sĩ
“Nhà văn – nghệ sĩ” là tư cách lớn nhất, được độc giả biết đến nhiều nhất của
Tô Hoài Bản thân Tô Hoài cũng cho rằng những công việc khác, tư cách khác chỉ là quá trình thâm nhập thực tế, phục vụ cho công việc của nhà văn Trên những trang hồi
ức của mình, thông qua những tuyên ngôn trực tiếp, hoặc gián tiếp qua cách suy nghĩ, cách ứng xử của NKC với văn chương, với con người và cuộc đời, đặc biệt qua cảm quan về những người nghệ sĩ cùng thời, người đọc có thể đánh giá được tư cách nghệ sĩ của nhà văn
2.1.1 Người kể chuyện trong quan niê ̣m về nghề văn
Từ một anh thợ cửi, một nhân viên hãng giày, vào làng văn là bước ngoặt lớn trong cuộc đời NKC Tô Hoài đã gia nhập làng văn với lối sống nghệ sĩ “vừa thiếu thốn vừa chơi bời, dù là chơi bời cò con và cò rả”: Theo chân các bậc đàn anh lai vãng vài
ba tiệm thuốc phiện, nửa đêm vào nghĩa địa đốt bản thảo thơ dưới mộ người đẹp hay đi
“giang hồ vặt” Có những chuyến giang hồ - theo định nghĩa của Nguyễn Bính là đi chơi không cần tiền, “chằng bửa, dày mặt”, vừa đi vừa nghêu ngao đọc thơ, “ngất nghểu ba thằng rồ” Đó là cuộc sống lảng vảng bên hố trụy lạc của lớp nghệ sĩ trước cách mạng, vừa “hào hoa, ngông nghênh dở”, vừa bế tắc, tuyệt vọng Vốn là người làm
Trang 35ăn bình thường, chân chỉ, NKC sớm nhận ra “cái dớ dẩn, chua chát” trong lối sống ấy
và tỉnh ngộ
Trong quá trình tìm hiểu nghề, trực tiếp chứng kiến cách sống và làm việc của các nhà văn, Tô Hoài có những nhận thức mới, “hiểu biết” mới về nghề văn Hóa ra nghề văn cũng có chợ đen và làm xiếc Có người thuê “đàn em” viết rồi kí tên bên dưới Có người lại bày ra những trò ảo thuật dao găm, đầu lâu trên bàn viết, chậu nước mưa đầu hè “để lúc viết hăng quá, nhà văn ra dìm mặt vào nước mát cho dịu bộ óc”… tất cả không hẳn là những thú chơi độc đáo, cá tính kiểu nghệ sĩ mà chỉ là “để bẫy các ông nhà xuất bản” Do đó, Tô Hoài có cái nhìn tương đối “tỉnh táo” với nghề viết Không bị ảo tưởng, choáng ngợp, bản chất lại là người lao động chân chất, Tô Hoài coi viết văn cũng như những nghề bình thường khác, như nghề bán giày, làm kế toán, đánh máy chữ, coi kho hay dạy trẻ học Ông không mắc phải “bệnh” thiêng liêng hóa văn chương như nhiều người viết mà chỉ coi đó là một nghề để kiếm sống, một nghề có thể đem lại nhiều tiền hơn những nghề ông đã từng làm: “Tôi không thể so sánh và tưởng tượng ra giá một bài báo với công sá những công việc đã làm bấy lâu để kiếm sống Hãng giày bata mỗi tháng trả lương tôi sáu đồng Bấy giờ, một cái truyện ngắn tôi được mười đồng” [28, tr.139] Từ vị trí của một thanh niên đang lay lắt kiếm sống, Tô Hoài nhận thấy đây là nghề có thể duy trì sự sống và cũng phải nghiêm túc cần mẫn thì mới sống nổi Đây là quan niệm thực tế mà lâu nay các nhà văn Việt nam vẫn né tránh
Từ những nhận thức thực tế về nghề văn, NKC đã hình thành những quan niệm hết sức dung dị về nghệ thuật Tiếp xúc ban đầu với nền văn học lúc bấy giờ, ông nhận thấy: “Ngót nửa thế kỷ văn học quốc ngữ, được dăm tác phẩm có giá trị Còn thì người
ta cầm bút không vì cái gì cả hoặc chỉ để gãi cái thích của số người đọc ít ỏi lúc ấy” [28; tr.123] Hầu hết những tác phẩm văn chương lúc bấy giờ chỉ toàn những nhân vật chàng và nàng phù phiếm, “nhảm nhí tệ hại, lướt qua bìa sách cũng đã thấy nặng mùi:
Ngoại tình, Thả cỏ, Một đêm với Dương Quí Phi” [28, tr.121]; hoặc những loại sách
“ca ngợi xê dịch, tán tụng vẩn vơ cái thú đi lông bông” Là một thanh niên đã được giác ngộ, Tô Hoài có những suy nghĩ thật chín chắn: “Ai không thích nhởn nhơ đi đây
đi đó Xưa nay, bài hát đáng hát nhất là bài hát giục lên đường Nhưng lên đường đi
Trang 36đâu? Tuổi trẻ chúng ta bây giờ đi đâu? Đi đâu? Cất bước trong một buổi mai, nhắm cái phía chân trời mới đỏ thắm màu hi vọng, những người thanh niên bốn phương của đất nước Chớ không phải giang hồ mà mắm miệng lôi cái va li cà khổ lếch thếch” [28, tr.129] Từ những nhận thức đó, Tô Hoài quan niệm nghệ thuật trước hết phải được xuất phát từ một lí tưởng: “Sáng tác của tôi còn nhiều thiếu sót dường như tự nhiên chủ
nghĩa, nhưng gốc tôi giữ được cho tâm hồn cái dáng dấp lí tưởng mình theo đuổi từ khi chưa làm nghề văn” [28, tr.127] Ngay từ những sáng tác đầu tay Con dế mèn và Dế
mèn phiêu lưu kí đã thể hiện “cái ước ao thế giới đại đồng của Dế Mèn, của Dế Trũi,
của Châu Chấu Voi, của Xiên Tóc” cũng là những hoài bão, lí tưởng của chính tác giả
về cách mạng khi đất nước chìm trong ách thực dân nô lệ Khát vọng tự do, “tự do như núi cao, tự do như sông dài” đã thổi vào những trang sách Tô Hoài lúc bấy giờ một niềm tin dào dạt: “Tôi tin tưởng Tôi có quyền tin tưởng lắm chứ Này đây một đoá hoa trong cánh rừng Xuân mới rỡ ràng của những Ngày Lớn chúng ta đương nằm trên lòng bàn tay tôi, ơi người đồng chí thân mến” [28, tr.127] Sau này, tùy vào từng giai đoạn lịch sử, lí tưởng đó có sự thay đổi Không còn những bồng bột cách mạng của tuổi trẻ, Tô Hoài trở thành nhà văn của đời thường, người thường, chuyện thường
Trong Tự truyện, rất nhiều lần NKC nhấn mạnh tới việc văn chương cần phải
phản ánh hiện thực Đó là hiện thực của “tâm trạng tôi, gia đình tôi, làng tôi - mọi cái
của mình, quanh mình Quê người, Giăng thề, Nhà nghèo, Xóm Giếng, ngày xưa trong
đó có những mảnh đời, mảnh tình cỏn con của mình, của những người cùng túng Cái nhìn còn bế tắc hoặc có phần nhẹ nhàng, hay xót xa, hay đá chút khinh bạc, ấy là phần nào con người và tư tưởng chán chường của tôi Từng chi tiết và từng nhân vật trong
sáng tác của tôi, các bạn lứa tuổi tôi trong làng là người và chuyện tiểu thuyết Quê
người Truyện ngắn Nước lên hao hao giống ai, là ai Cái nhà giáo trong truyện Giăng
thề, đời sống các ông hương sư vùng quê Cả những truyện loài vật tưởng như xa lạ kia cũng không ngoài cái rộn ràng hay thầm lặng của mảnh vườn trước cửa, trong luỹ tre cuối xóm hay trên bãi Cơm Thi bên kia cửa đinh làng Nghè bờ sông Tô Lịch Tôi ngồi giữa làng tôi mà viết, hối hả viết ( ) Ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giờ là viết văn tả thực, văn xã hội” [28, tr.146] Đó phải là hiện thực nguyên xi cả những chất liệu xù xì của
Trang 37cuộc sống Bởi vậy mà khi đọc tiểu thuyết lãng mạn của Khái Hưng, Nhất Linh, mặc dầu rất thích những truyện ấy nhưng không bao giờ Tô Hoài có ý định học theo, vì một
lẽ giản dị: “viết truyện viển vông giang hồ kỳ hiệp, ai cũng có thể tưởng tượng, nhưng viết giống cái thật thì nhân vật trong truyện của các ông nhà giàu con quan có đồn điền như thế, tôi không biết những kiểu người ấy, không bắt chước được.…” [28, tr.146] Ngay từ khi mới vào nghề, NKC đã sớm nhận ra những chuyện giang hồ kì hiệp, những chuyện tưởng tượng viển vông, hay thế giới của giàu sang hoa lệ không phải là
sở trường của mình Tô Hoài cũng từng viết chuyện tình lãng mạn, nhưng đó là
“chuyện tình nhà quê” của các anh trai làng và các cô thợ cửi, không giống những chuyện “chàng - nàng” mang màu sắc “Tự lực văn đoàn” Bởi hiện thực mà NKC được sống là hiện thực của làng mạc, của những kiếp người dưới đáy xã hội mà tác giả đã
từng gặp gỡ trong cuộc đời Ông cũng từng tâm sự trong Tự truyện: “Ý thức viết của
tôi rõ rệt hơn từ khi tham gia hoạt động Văn hoá Cứu quốc Lí trí tôi khẳng định được
vấn đề miêu tả xã hội đau khổ là đúng Tuy nhiên, hiểu biết số phận nhân vật trong một
xã hội với quy luật của nó thì nhiều năm sau này, mới dần dần vỡ ra” [28, tr.153] Điều
đó cho thấy quan niệm về hiện thực đã được NKC nhìn nhận lại trong từng giai đoạn cầm bút Càng về sau, trong hành trình hồi kí, tự truyện Tô Hoài, người đọc nhận thấy NKC càng đạt tới độ chín trong quan niệm về hiện thực Trước năm 85 quan niệm, nhận thức về hiện thực của Tô Hoài còn đơn giản, hiện thực được tiếp cận dưới góc độ sử thi Giai đoạn sau, đặc biệt là trong các tác phẩm hồi kí, hiện thực đã được tiếp cận bằng tư duy tiểu thuyết Đó là hiện thực còn dở dang, chưa hoàn thiện, các nhân vật được tiếp cận ở tầm gần để thấy được những chuyện rất “đời”
mà cũng rất “người” ở họ Đặc biệt, NKC quan tâm hơn đến số phận thăng trầm của mỗi nhân vật đằng sau những thành công của họ Điều đó thể hiện sự phản tỉnh sâu sắc của Tô Hoài trong quan niệm về nghệ thuật
2.1.2 Người kể chuyện trong quan niệm về người nghệ sĩ
Khi viết Cát bụi chân ai, Tô Hoài đã từng tâm sự : “Tôi có viết hồi kí cho riêng tôi đâu, tôi viết cho cả những người thân sơ đã cùng tôi chia sẻ cái cuộc đời lạ lùng này” [50] Vì vậy, mỗi trang hồi ức của Tô Hoài đều đầy ắp chân dung, số
Trang 38phận, cuộc đời của những con người đã cùng nhà văn trên hành trình kiếp người Đặc sắc nhất là những trang văn viết về những người nghệ sĩ Họ có thể là bạn thâm giao hoặc cũng có thể chỉ tình cờ lướt qua cuộc đời NKC nhưng để lại nhiều ấn tượng Qua những bức chân dung nghệ sĩ được tái hiện trong hồi kí, tự truyện Tô Hoài, người đọc có thể nhận thấy quan niệm của NKC về giới nghệ sĩ và qua đó bộc lộ chính bản thân mình Bởi lẽ “mọi con đường đi đến bản thân đều đi qua người khác”
2.1.2.1 Nghệ sĩ trước hết phải là những người có cá tính
Nghệ sĩ là những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ…những người sáng tạo giá trị tinh thần, đem cái đẹp đến với đời sống Trong cảm nhận của người trong cuộc, họ trước hết là những cá tính độc đáo
Nguyễn Tuân chính là “một cái định nghĩa về người nghệ sĩ” bởi phong cách tài hoa, tài tử, lịch lãm, tinh tế và độc đáo đến… khác người Ngay từ trang phục của Nguyễn đã gây sự chú ý Đó là khi Nguyễn mới hơn ba mươi Lúc về già cũng vẫn giữ cái cốt cách đỏm dáng đầy ấn tượng ấy, “tay cầm gậy song, mặc bộ áo cánh lụa màu cậy dáng nhà Phật “của người ta cho”, “tóc vuốt ngược ra sau, thả lòa xòa” rất “nghệ sĩ”, cá tính Cái ăn cái uống của Nguyễn cũng vậy Không chỉ trong văn chương với
các thiên bút kí Phở, Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi, tập truyện ngắn Vang bóng một
thời,v.v… trong đời sống thực, Nguyễn Tuân cũng “nền nã, cầu kì, tuyệt nhiên không
xô bồ Hay bảo là cốt làm ra khác thường cũng được” [28, tr.527] Ông uống rượu ngữ như các cụ ngày trước, có thổ mua rượu riêng, không uống tạp Ăn phở thì tuyệt nhiên chỉ ăn một thứ phở chín, “phở thịt bò chín Không đụng đũa vào bất cứ thứ phở nào khác” Vậy nên khi món phở thành “cơm phở”, người ta ăn phở lấy no thì Nguyễn Tuân thôi không ăn phở nữa! Cung cách sống của Nguyễn Tuân cũng vậy, ghét ai, yêu
ai không giấu diếm, bộc lộ ra mặt “Đã không thích thì ông dửng dưng dù người ta giơ tay định bắt”, rồi khi “thấy ông ấy ở cùng phòng trong bệnh viện thì nhất định đổi sang buồng khác” Khi những cái cá tính như thế va chạm, nhiều chuyện tức cười xảy ra Nguyễn Tuân và Nguyễn Sáng vốn là chỗ thân tình, Nguyễn Sáng đã từng vẽ Nguyễn Tuân những chân dung đặc sắc Thế nhưng trong bữa rượu năm mới, Nguyễn Sáng đã
bị Nguyễn Tuân đuổi thẳng cửa chỉ vì Sáng có chén rượu vào “bốc lên”, tự coi “chỉ có
Trang 39một mình thằng Sáng này thôi, còn thì cứt hết” Nguyễn Sáng đến nhà Tô Hoài, đầm đìa nước mắt, nói một câu sắc rợn: “Nó cũng khinh người bỏ mẹ, lại bảo mình khinh người” Những cái tài và những cái tai gặp nhau là vậy, nhiều lúc cả trong sinh hoạt lẫn
xử thế, “lắm cái như trẻ con” [26, tr.224]
Cá tính của Nguyễn là thế, cứ muốn hằn cả bản sắc của mình lên văn chương
và trong lối sống Sự khác người ở thời nào cũng vậy, luôn tạo ra những dư luận trái chiều Với Nguyễn Tuân, ai yêu thì mê như điếu đổ, ai ghét thì như hắt nước đổ đi
Về điểm này, NKC đã bênh vực ông bạn vong niên bằng lí lẽ hết sức “Tô Hoài” :
“Ô hay, người ta ra người ta thì phải là người ta đã chứ” Đã là cái riêng của người
ta thì phải tôn trọng, chấp nhận Và muốn giữ được mình, muốn là mình thì ai yêu ai ghét đâu quan trọng Cái triết lí đó, phải cá tính lắm, cá tính thâm thúy lặn vào trong như Tô Hoài mới có thể nói lên được
Dưới góc nhìn của NKC Tô Hoài, ông hoàng thơ tình Xuân Diệu cũng là người nổi tiếng vì những chuyện “khác người” Xuân Diệu đỏm dáng, ăn mặc chải chuốt, nhiều cái cẩn thận “như đàn bà” Thi nhân chăm chút kĩ lưỡng bảy tám bài nói, “trau dồi đến thuộc làu”, “chỗ nào giơ tay, chỗ nào nghiêng phải, nghiêng trái, lên giọng và nhấn mạnh, chỗ nào đợi vỗ tay, đợi cười và mỉm cười” Khi Xuân Diệu đi nói chuyện, người ta buồn cười vì thấy nhà thơ “chốc chốc lại đổi lọ hoa, bê cái đèn từ chỗ này qua chỗ kia”, “thỉnh thoảng lại quát người nghe: Vỗ tay đi chứ! Tôi lao động thì đồng bào phải vỗ tay khuyến khích tôi Vỗ tay nào!” [26, tr.254]
Riêng Nguyên Hồng, NKC cũng phải thừa nhận đây là kiểu người “một mình một tính”: Bức xúc vì những lời quy chụp, Nguyên Hồng đùng đùng bỏ Hà Nội, kéo theo bầu đoàn thê tử về vùng đồi núi Nhã Nam Cơ quan có đợt giảm biên chế, “cũng chỉ một mình Nguyên Hồng xin về hưu non mà thôi” Con người khí phách ấy lại có những sở thích hết sức độc đáo: đặc biệt khoái tẩm quất “Nguyên Hồng ưỡn oằn người theo từng cú đầu gối như cái đầu chày của người tẩm quất Hự hự, ghê cả tai Nguyên Hồng rãn xương sống, nằm thẳng cẳng, rên ú ớ, dễ chịu quá, sướng quá Đến lúc mơ màng nghe tiếng ông lão loà lại rao tẩm quất, tẩm quất như mèo kêu trên đầu lại cũng như nghĩa là xong rồi, xong rồi ra ý đuổi khéo ông khách Nguyên Hồng lồm cồm ngồi
Trang 40dậy, trả tiền rồi cứ vắt áo quần lên cánh tay, lừ rừ đi” Sở thích tẩm quất tra tấn của Nguyên Hồng là nét độc đáo mà cũng thật gần gũi của nhà văn với “cái thú Hà Nội”, cái thú của người bình dân;v.v…
Độc đáo, cá tính và “ngông” là những nét tiêu biểu mà NKC cảm nhận được về những người bạn cùng thời - những người nghệ sĩ chân chính
2.1.2.2 Nghệ sĩ là những người nhạy cảm, dễ bị tổn thương
Nghệ sĩ là người có khả năng nắm bắt cái hồn của đời sống bằng những rung động tế vi Ngông, phớt đời chỉ là một biểu hiện của họ Bên trong những cá tính ấy là những tâm hồn đặc biệt nhạy cảm và vì vậy mà cũng dễ bị tổn thương Trong hồi kí, NKC đã khai thác cái phần rất đặc biệt đó để làm nên những chân dung nghệ sĩ
Xuân Diệu là nhà thơ mang trong mình một nỗi đau nhân bản, “yêu rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”, bởi đó là những mối “tình trai” Không được đồng cảm, ngược lại còn bị phê phán “tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi”, Xuân
Diệu đã nức nở khóc trong cuộc “họp kiểm điểm”: “Đấy là tình trai của tôi tình
trai… Rồi nghẹn lời, nước mắt ứa ra” [26, tr.243] Giọt nước mắt của thi nhân là nỗi
đau đớn, tủi thân, bẽ bàng của một tình yêu luôn khát khao mãnh liệt mà không được chấp nhận
Nguyên Hồng với “cái quần nâu, tấm áo cánh mồ hôi muối ăn đã bạc cả hai vai, chiếc mũ lá cọ, đôi dép lốp chẳng khác chút nào với màu sắc, dáng nét của những người đi chợ, người nghỉ quán hàng, người trên đường…” [26, tr.245], nghĩa là vẻ ngoài của Nguyên Hồng không được “nghệ sĩ” như những gì chúng ta vẫn hình dung
về giới này Tuy vậy, trong con mắt NKC Tô Hoài, Nguyên Hồng cũng lại là một cái
định nghĩa về tính cách nghệ sĩ Đó là con người duy cảm, luôn trong trạng thái “bùng
nổ” cảm xúc: Nóng nảy, quyết liệt, nhưng cũng mau nước mắt, hay có những “cảm
hứng giữa đường giữa chợ” Chỉ ăn cái bánh cuốn gợi hương vị bánh lốc bểu đã từng
ăn thời bé, có thế mà nước mắt lã chã, không nói lên lời Khi bị kiểm điểm vì tờ báo
Văn, chẳng cần phân tích đúng sai để biện minh cho mình, Nguyên Hồng chỉ “xòe bàn
tay lên mặt báo vuốt vuốt mếu máo nói, nước mắt như trút…tôi thức đêm thức hôm…tôi bỏ cả sáng tác…bài này về đề tài công nhân, bài này về kháng chiến…bài