Lời nói đầu Qua một quá trình tìm tòi, nghiên cứu và đợc sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài: Nớc mắt trong thế giới nghệ thuật của sáng tác Na
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 2tríc c¸ch m¹ng
Chuyªn ngµnh: V¨n häc ViÖt Nam
M· sè: 60 22 34luËn v¨n th¹c sÜ ng÷ v¨n
Ngêi híng dÉn khoa häc: TS BiÖn Minh §iÒn
Vinh - 2007
Trang 4Lời nói đầu
Qua một quá trình tìm tòi, nghiên cứu và đợc sự giúp đỡ của các thầy
cô giáo, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài: Nớc mắt trong thế giới
nghệ thuật của sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách mạng Đây là kết quả của
nhiều năm tháng học tập và bớc đầu nghiên cứu khoa học của tôi Trongkhuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, những vấn đề nêu ra mới chỉ đợc giảiquyết ở chừng mực nhất định, tất yếu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.Tác giả mong nhận đợc sự góp ý, chỉ bảo chân tình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Biện Minh Điền, ngời thầygiáo đã dành nhiều thời gian và tâm huyết giúp đỡ tôi hoàn thành công trình;xin chân thành cảm ơn các GS, PGS, TS trong hội đồng bảo vệ luận văn thạcsĩ; các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, khoa đào tạo Sau Đại học Trờng Đạihọc Vinh đã dạy bảo, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và bảo vệluận văn
Vinh, tháng 12 năm 2007 Tác giả
Lê Thị Đăng
Mục lục
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài 7
3.2 Phạm vi, giới hạn của đề tài 7
Trang 54 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
Chơng 1: Nhà văn Nam Cao và một chủ nghĩa nhân đạo đầy
1.1 Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc, một phong cách lớn
1.1.1 Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945 và sự xuất hiện hiện tợng Nam Cao 91.1.2 Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc 131.1.3 Hành trình sáng tạo của Nam Cao 181.2 Nam Cao - nhà nhân đạo lớn, với một quan niệm nghệ thuật
mới mẻ đầy tình thơng và niềm tin vào con ngời 231.2.1 Chủ nghĩa nhân đạo kiểu Nam Cao 231.2.2 Một quan niệm nghệ thuật mới mẻ, đầy tình thơng và niềm
1.2.3 Con ngời trong sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách mạng 33
Chơng 2: Những giọt nớc mắt trong thế giới nghệ thuật của
2.1 Thế giới nghệ thuật trong sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách
2.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật 412.2.2 Thế giới nghệ thuật trong sáng tác Nam Cao 412.2 Những giọt nớc mắt trong thế giới nghệ thuật truyện ngắn 45
2.2.2 Ngời tiểu t sản trí thức nghèo 552.3 Những giọt nớc mắt trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết 622.4 Nớc mắt nh một thành tố của cấu trúc thế giới nghệ thuật
Chơng 3: Biểu tợng nớc mắt và nghệ thuật thể hiện của
3.1 Biểu tợng nớc mắt trong sáng tác của Nam Cao 763.1.1 Giọt nớc mắt là “giọt châu của loài ngời” 76
Trang 63.1.2 Giọt nớc mắt là “miếng kính biến hình vũ trụ” 80
3.2.1 Biểu tợng nớc mắt và ngôn ngữ, giọng điệu trữ tình thấm
3.2.2 Biểu tợng nớc mắt và nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm
lý nhân vật uyển chuyển, tinh tế của Nam Cao 953.3 Những thành công và hạn chế của nam Cao qua nghệ thuật
xây dựng và thể hiện biểu tợng nớc mắt 1013.3.1 Những thành công của Nam Cao qua nghệ thuật xây dựng
1.Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1 Nam Cao (1917 - 1951) là nhà văn hiện thực lớn của nền văn họcViệt Nam hiện đại Ông thuộc trong số những cây bút hiếm hoi của nền vănxuôi Việt Nam hiện đại có t tởng, phong cách và thi pháp sáng tạo riêng độc
đáo, có những cách tân lớn lao, góp phần quan trọng vào tiến trình hiện đạihoá nền văn học dân tộc Chỉ với mời lăm năm cầm bút (1936 - 1951), NamCao đã để lại một sự nghiệp văn chơng tuy không thật đồ sộ về khối lợng nhnglại luôn ẩn chứa một sức sống khỏe khoắn, bền lâu của một giá trị văn chơng
đích thực, có sức vợt lên trên “các bờ cõi và giới hạn”, tìm đến đợc sự tri kỷ tri
âm và tạo đợc sự hấp dẫn kỳ lạ đối với nhiều thế hệ công chúng Suốt đời văncủa ông, Nam Cao đã gắn ngòi bút của mình, sự nghiệp văn chơng của mìnhvới cuộc đời, khơi “những nguồn cha ai khơi” Bằng tài năng, tâm huyết vàtrái tim ngời nghệ sĩ luôn thức đập với những buồn vui, đau khổ của con ngời.Nam Cao đã tạo đợc một văn nghiệp lớn, với những tác phẩm nổi tiếng nh:
Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn, Đôi mắt, Nhật ký ở rừng
Trang 71.2 Nam Cao là tác gia có vị trí quan trọng và có nhiều sáng tác đợctuyển chọn giảng dạy từ phổ thông đến bậc đại học Các điển hình nghệ thuậttrong sáng tác Nam Cao nh Chí Phèo, Thị Nở, Lão Hạc, văn sỹ Hộ, giáo Thứ trở nên gần gũi, quen thuộc với mọi ngời dân Việt Nam Một con đờng giữathủ đô Hà Nội, một ngôi trờng ở quê hơng Nam Cao đợc vinh dự mang tên
ông Và ngay trong đợt đầu tiên (1996), nhà nớc cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam đã phong tặng giải thởng Hồ Chí Minh cao quý cho nhà văn NamCao là nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, sáng tác của
ông giàu “sức chứa và sức mở’’ (Phong Lê), “càng thử thách càng ngời sáng”(Trần Đăng Suyền) đã vợt qua đợc thử thách khắc nghiệt của thời gian Nhiềunhà nghiên cứu đã có cơ sở khi so sánh Nam Cao với A P Tsêkhốp
1.3 Nớc mắt trong thế gới nghệ thuật của sáng tác Nam Cao thời kỳ
trớc Cách mạng là một hiện tợng độc đáo trong văn học Việt Nam Đi sâu tìm
hiểu vấn đề này, chúng tôi hi vọng nhằm đi đến xác định một phơng diện quantrọng trong quan niệm nghệ thuật của tác giả, tìm đợc dấu ấn riêng đặc sắc mànhà văn đã để lại trong lịch sử văn học dân tộc
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch trình nghiên cứu về Nam Cao đã có ngót nửa thế kỷ Hơn nửathế kỷ qua, con ngời và tác phẩm Nam Cao đã trở thành đối tợng tìm hiểu củagiới lý luận nghiên cứu, phê bình văn học và của nhiều thế hệ độc giả Đếnnửa cuối thế kỷ XX, Ông trở thành một trong những nhà văn lớn của thế kỷ đ-
ợc nghiên cứu nhiều nhất, liên tục nhất
Theo nh thống kê trong Th mục về Nam Cao (sách Nam Cao về tác gia
và tác phẩm do Bích Thu tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Giáo dục năm 2001)
thì có khoảng 200 công trình lớn và nhỏ viết về ông và tác phẩm của ông Đặcbiệt trong thập niên cuối thế kỷ XX có hai cuộc Hội thảo lớn kỷ niệm 40 nămngày mất (1951 - 1991) và 80 ngày sinh (1917 - 1997) Nam Cao, cho thấyNam Cao đã đợc đặt vào vị trí quan trọng của một nhà văn lớn trong lịch sửvăn học Việt Nam hiện đại Việc nhà nớc phong tặng giải thởng Hồ Chí Minhcho nhà văn đã là bằng chứng cao nhất cho sự đánh giá và công nhận của bạn
đọc với sự nghiệp Nam Cao, điều đó lại thêm chứng tỏ việc nghiên cứu NamCao ngày càng có ý nghĩa đối với lịch sử phát triển của văn học nớc nhà
Trớc Cách mạng tháng Tám 1945, số bài viết về Nam Cao cha nhiều,nhng có một bài viết có thể nói rằng đã đánh giá khá chuẩn xác về phong cách
Trang 8cũng nh bản lĩnh sáng tác của Nam Cao Đó là bài tựa của Lê Văn Trơng cho
tác phẩm Đôi lứa xứng đôi (1941) Lê Văn Trơng nhận xét: “Giữa lúc ngời ta
đang đắm chìm trong những truyện tình thơ mộng và hùa nhau “phụng sự” cáithị hiếu tầm thờng của độc giả, ông Nam Cao đã mạnh dạn đi theo một lốiriêng, nghĩa là không thèm đếm xỉa đến cái sở thích của độc giả Những cạnhtài của ông đã đem đến cho văn chơng một lối văn mới, sâu sa, chua chát vàtàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con ngời biết tin ở tài mình, ở thiên chức của mình”[67, 493] Nh vậy, Lê Văn Trơng đã chỉ ra đợc “lối văn mới”, yếu tố tạo nêngiọng văn độc đáo trong sáng tác của Nam Cao Cũng thời kỳ này, không phải
ai cũng có một cái nhìn chính xác về nhà văn Nam Cao nh Lê Văn Trơng
Từ sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao gây đợc nhiều sự chú ý củacác nhà nghiên cứu, các nhà phê bình và lý luận văn học Có nhiều bài viết đãcung cấp đợc những t liệu quý giá về nhà văn Nam Cao của chúng ta Nhngphải đến những năm 80 của thế kỷ này, ngời ta mới nghiên cứu nhiều về NamCao nh một sự phát hiện mới mẻ mà càng tìm kiếm càng phát hiện thêm nhiều
tầng vỉa mới Năm 1987, Phong Lê viết tiểu luận Nam Cao, văn và đời Tiểu
luận có giá trị này, vừa kế thừa những thành quả đã nghiên cứu của ông vềNam Cao trớc đó, vừa có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về “sự chiến thắng
đầy vất vả và vinh quang của chủ nghĩa hiện thực kiểu Nam Cao”, và nhữngkhám phá mới mẻ về tính chất đối thoại t tởng của sáng tác Nam Cao Năm
1991, kỷ niệm 40 năm ngày mất của nhà văn Nam Cao, có một cuộc Hội thảo
với quy mô lớn về nhà văn và cuốn Nghĩ tiếp về Nam Cao do Phong Lê chủ
biên (xuất bản 1992) tập hợp những bài nghiên cứu mới, có giá trị nhằm tiếptục khẳng định vị trí của nhà văn hiện thực xuất sắc này Năm 1997, kỷ niệm
80 năm ngày sinh nhà văn có rất nhiều bài viết giá trị về Nam Cao ra đời Bên
cạnh đó cần phải kể đến hai công trình Nam cao, đời văn và tác phẩm (1997)
của Hà Minh Đức, tập hợp những công trình nghiên cứu của ông về Nam Cao
và Nam Cao, phác thảo sự nghiệp và chân dung (1997) của Phong Lê bao
gồm những tiểu luận, những bài viết trớc đó và có bổ sung một số bài viết mới
về Nam Cao Năm 1998, công trình Nam Cao về tác gia và tác phẩm (do Bích
Thu tuyển chọn, giới thiệu) đã công bố tập hợp những bài nghiên cứu tiêu biểu
về Nam Cao từ những năm 40 đến nay
Trong Văn học và học văn (Nxb Văn học 1999), nhà nghiên cứu Hoàng
Ngọc Hiến có bài Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo ghi nhận cảm
Trang 9hứng nhân văn trong sáng tác Nam Cao Các bài viết của Phong Lê (Nam Cao
- nhìn từ cuối thế kỷ in trong Văn học trên hành trình của thế kỷ XX, Nxb
ĐHQGHN, 1997), Nguyễn Văn Hạnh (Nam Cao và khát vọng về một cuộc
sống lơng thiện, xứng đáng in trong Nghĩ tiếp về Nam Cao), Nguyễn Đăng
Mạnh (Cái đói và miếng ăn trong tác phẩm Nam Cao in trong Nhà văn Việt
Nam hiện đại chân dung và phong cách) tiếp tục khẳng định t tởng nhân đạo
sâu sắc và mới mẻ của Nam Cao
Năm 2001, trong văn học Việt Nam hiện đại - những chân dung tiêu
biểu (Nxb ĐHQGHN, 2001), Phong Lê dành 67 trang trên tổng số 539 trang
giới thiệu Nam Cao cùng với 17 nhà văn khác Cũng trong năm 2001, nhà
nghiên cứu Trần Đăng Suyền công bố chuyên luận Chủ nghĩa hiện thực Nam
Cao (Nxb KHXH, 2001) nghiên cứu khá toàn diện và hệ thống những phơng
diện của chủ nghĩa hiện thực Nam Cao
Ngoài ra, còn có nhiều luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ đã nghiên cứu
và đề cập tới nhiều phơng diện trong sáng tác Nam Cao Sáng tác của NamCao còn thu hút sự chú ý của những nhà nghiên cứu nớc ngoài nh T.Mkhitarian, I Dimônhia, Niculin
Tóm lại, với t cách một tác gia văn học lớn, một phong cách độc đáotrong văn học Việt Nam hiện đại, Nam Cao đã đợc tìm hiểu nghiên cứu trênnhiều phơng diện nh vấn đề t tởng, cảm hứng chủ đạo, thế giới nhân vật,phong cách nghệ thuật Tuy nhiên không vì thế mà việc nghiên cứu về NamCao dừng lại Còn rất nhiều vấn đề về tác giả văn học này cần phải đợc tiếptục đi sâu tìm hiểu
2.2 Hơn nửa thế kỷ qua, nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình đãtiếp cận Nam Cao, khám phá sáng tác của nhà văn trên nhiều phơng diện, dớinhiều góc độ Số lợng sách và bài nghiên cứu về Nam Cao đã lên đến con số
trên 200 Vấn đề Nớc mắt trong thế giới nghệ thuật của sáng tác Nam Cao
thời kỳ trớc Cách mạng nhìn chung vẫn còn là vấn đề mới mẻ, cha có một
công trình nghiên cứu nào bàn riêng về vấn đề này Có một vài tác giả có nói
đến những giọt nớc mắt trong sáng tác Nam Cao nhng nhìn chung còn đại lợc,cha thấy đó là vấn đề nổi bật trong sáng tác của ông Có thể kể đến một số ýkiến:
Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết: Nam Cao và khát vọng về một cuộc
sống lơng thiện, xứng đáng (in trong Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc,
Trang 10Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2003) nhận xét: “ ở Nam Cao, thỉnh thoảng
có sự châm biếm, có tiếng cời, nhng đây là tiếng cời độ lợng, có thể chua chát,nhng không bao giờ độc ác, tiếng cời xót xa cho nhân thế, tiếng cời pha nớcmắt nuốt vào bên trong” [68, 163]
ý kiến của Nguyễn Hoành Khung trong bài viết Đời thừa (in trong
Nam Cao về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003) là đáng chú ý
hơn cả: “Với Nam Cao, nớc mắt là biểu tợng của tình thơng và ông gọi nớc
mắt là “giọt châu của loài ngời”, là “miếng kính biến hình vũ trụ” [67, 297].
Nguyễn Hoành Khung có phân tích một số nét về những giọt nớc mắt của
nhân vật trong truyện ngắn Đời thừa, tiểu thuyết Sống mòn.
Nguyễn Đăng Mạnh cũng đa ra nhiều nhận xét sâu sắc và chính xác vềnhững giọt nớc mắt trong sáng tác của Nam Cao thời kỳ trớc Cách mạng: “ởNam Cao, nớc mắt của tình thơng là miếng kính biến hình vũ trụ Chính nhờ
có đôi mắt yêu thơng ấy mà nhà văn chẳng những đã nhìn thấy tấm lòng vịtha, xa kỷ của Lão Hạc mà còn phát hiện đợc cả chất thơ trong trẻo của tâmhồn tởng chừng đã hoàn toàn đen độc của Chí Phèo nữa” [67, 358]
Nhà văn Nguyễn Minh Châu trong bài viết: Nam Cao (in trong Nam
Cao nhà văn hiện thực xuất sắc, Nxb VHTT, Hà Nội, 2003) cũng có nhận xét:
“Mắt Nam Cao nhòa đi Đến bây giờ ngồi đây mắt Nam Cao vẫn còn nhòa đivì nớc mắt khi ông nhớ lại cái ngày cớp chính quyền tháng Tám ở làng Vũ
Đại Nam Cao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt ngời làng mình Đã từng bỏlàng đi ra tỉnh kiếm miếng cơm và cũng mong ngóc đầu dậy nữa, nhng NamCao vẫn yêu cái làng mình nhất Suốt đời ông yêu những con ngời hiền lành,chất phác và đói khổ ở đấy, mặc dầu cha bao giờ ông dùng ngòi bút tô vẽ họ”[68, 136]
Trong sáng tác Nam Cao, không bao giờ có một giọng đơn lẻ, nhà vănluôn biết kết hợp một cách khéo léo các sắc thái giọng điệu với nhau, thể hiệnmột cái nhìn có chiều sâu, trên mọi góc độ về con ngời, về cuộc đời của ông.Nguyễn Đăng Mạnh cũng đa ra một nhận xét khi bàn về tính phong phú củagiọng văn Nam Cao Đó là giọng văn “vừa ngậm ngùi buồn tủi, vừa cay đắngchua chát lại pha chút tự trào cời ra nớc mắt”
Nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng có nhận xét: “Nam Cao có biệt tài
tr-ớc những biểu hiện tâm lý mang tính nhân cách, ông diễn tả nó dới cái vẻdửng dng khôi hài mà trào nớc mắt” [68, 128]
Trang 11Dõi theo lịch sử vấn đề nghiên cứu Nam Cao, các nhà nghiên cứu, phêbình tập trung khám phá và có những phát hiện sâu sắc về t tởng, về nội dungtrong sáng tác Nam Cao Tuy nhiên, những ý kiến đánh giá khái quát này lạicha đợc chứng minh cụ thể và lý giải một cách cặn kẽ Tiến hành nghiên cứu
đề tài, chúng tôi tiếp nhận kết quả của những ngời đi trớc với những gợi mở,
nhận xét, đánh giá đáng tin cậy để triển khai nghiên cứu Nớc mắt trong thế
giới nghệ thuật của sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách mạng
2.3 Luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên tập trung đi sâu tìm
hiểu Nớc mắt trong thế giới nghệ thuật của sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc
Cách mạng với t cách nh một đối tợng chuyên biệt và với một cái nhìn hệ
thống, toàn diện
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Nh tên đề tài đã xác định, đối tợng nghiên cứu của luận văn là nớc mắttrong thế giới nghệ thuật của sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách mạng thángTám (bao hàm cả truyện ngắn và tiểu thuyết)
3.2 phạm vi, giới hạn của đề tài
Luận văn chủ yếu khảo sát, tìm hiểu Nớc mắt trong thế giới nghệ
thuật của sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách mạng (bao hàm cả truyện
ngắn và tiểu thuyết) Nớc mắt ở đây đợc xem nh là một thành tố, một hình ợng và biểu tợng quan trọng trong thế giới nghệ thuật của nhà văn Trong quátrình nghiên cứu, luận văn có thể đối sánh với một số tác phẩm của một vài tácgiả khác để làm rõ vấn đề
t-Tài liệu luận văn khảo sát là sáng tác của Nam Cao thời kỳ trớc Cáchmạng (bao hàm cả truyện ngắn và tiểu thuyết) Văn bản tác phẩm Nam Cao
chúng tôi dựa vào cuốn: Tuyển tập Nam Cao do Hà Minh Đức tuyển chọn và
giới thiệu [Nxb Văn học, Hà Nội, 2002, 2 tập]
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xác định t tởng nhân đạo và quan niệm về con ngời trong thế giớinghệ thuật của sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách mạng
4.2 Khảo sát, phân tích nớc mắt trong thế giới nghệ thuật của sáng tácNam Cao thời kỳ trớc Cách mạng (bao hàm cả truyện ngắn và tiểu thuyết)
4.3 Xác định, luận giải vai trò nghệ thuật của yếu tố nớc mắt trong thếgiới nghệ thuật của sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách mạng
Trang 125 Phơng pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng và phối hợp nhiều phơng phápnghiên cứu khác nhau, trong đó có các phơng pháp chính: Phơng pháp thống
kê, phơng pháp phân tích - tổng hợp, phơng pháp so sánh - đối chiếu, phơngpháp cấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn có thể xem là công trình (ở mức độ là luận văn thạc sĩ) đầu
tiên nghiên cứu Nớc mắt trong thế giới nghệ thuật của sáng tác Nam Cao
thời kỳ trớc Cách mạng tháng Tám với một cái nhìn có tính toàn diện và hệ
thống, góp phần vào thành tựu nghiên cứu về Nam Cao, tiếp tục khẳng định vịtrí của nhà văn trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc
Tác phẩm của Nam Cao không chỉ đợc nhiều bạn đọc chú ý mà còn đợc
đa vào chơng trình các cấp học từ phổ thông đến đại học Kết quả của luậnvăn có thể vận dụng làm tài liệu tham khảo giúp cho việc dạy - học tác gia, tácphẩm Nam Cao trong học đờng
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn đợc triển khai trong 3 chơng :
Chơng 1: Nhà văn Nam Cao và một chủ nghĩa nhân đạo đầy tình thơng, niềm
tin vào con ngời
Chơng 2: Những giọt nớc mắt trong thế giới nghệ thuật của sáng tác Nam
Cao thời kỳ trớc Cách mạng
Chơng 3: Biểu tợng nớc mắt và nghệ thuật thể hiện của Nam Cao.
Chơng 1 Nhà văn Nam Cao và một chủ nghĩa nhân đạo đầy tình
thơng, niềm tin vào con ngời
Trang 131.1 Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc, một phong cách lớn của văn
học Việt Nam hiện đại
1.1.1 Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
và sự xuất hiện hiện tợng Nam Cao
Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945hình thành và phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử văn hóa xã hội có tínhchất đặc thù Trong lịch sử văn học dân tộc, đó là một trào lu văn học tiến bộ,
có vị trí quan trọng và đóng góp to lớn vào quá trình phát triển và hiện đại hóavăn học Suốt chặng đờng phát triển của nó, cảm hứng chủ đạo là phê phán xãhội đơng thời và bênh vực ngời dân lao động Các sáng tác của Nguyễn CôngHoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng đều tập trung phê phán, tố cáo mãnhliệt những thủ đoạn áp bức bóc lột của giai cấp thống trị, đồng thời phơi bàynỗi thống khổ của nhân dân lao động với một thái độ cảm thông sâu sắc Sángtác của Nam Cao - ngời ở chặng cuối của dòng văn học hiện thực phê phán -vẫn là sự tiếp nối cảm hứng chủ đạo ấy nhng đã có thêm sắc diện mới Nếu
nh các nhà văn khác tập trung phản ánh hiện thực thì ở Nam Cao là cảm hứngphân tích, lý giải khám phá con ngời trớc hiện thực
Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Việt Nam, một mặt, đợcnảy sinh từ hoàn cảnh xã hội văn hóa Việt Nam, một mặt tiếp thu những thànhtựu vĩ đại của trào lu hiện thực chủ nghĩa của văn học thế giới, cảm hứng chủ
đạo của nó ngoài tính chất chung cũng có những nét riêng mang đậm bản sắcdân tộc Đợc mệnh danh là trào lu hiện thực phê phán, cảm hứng phê phán xãhội đơng thời là cảm hứng chủ đạo, nổi bật nhất, xuyên suốt chặng đờng củachủ nghĩa hiện thực, thấm nhuần trong sáng tác của các nhà văn từ NguyễnCông Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng đến Nam Cao
Văn học hiện thực chặng đờng từ 1930 - 1935 với những sáng tác của
Nguyễn Công Hoan (tập truyện Kép T Bền), của Vũ Trọng Phụng (vở kịch
Không một tiếng vang, các phóng sự Cạm bẫy ngời và Kỹ nghệ lấy Tây), của
Tam Lang (tập phóng sự Tôi kéo xe) đã thể hiện tinh thần phê phán tính chất
bất công, vô nhân đạo của xã hội đơng thời, đồng thời bộc lộ sự cảm thông,thơng xót đối với những nạn nhân của xã hội đó Bớc sang chặng đờng từ 1936
- 1939, do tình hình xã hội có nhiều thuận lợi cho sự phát triển của văn họchiện thực, các cây bút hiện thực chủ nghĩa nh Nguyễn Công Hoan, Vũ TrọngPhụng, Ngô Tất Tố đã đạt tới độ chín của tài năng, liên tiếp cho ra những tác
Trang 14phẩm xuất sắc: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê (Vũ Trọng Phụng), Tắt đèn (Ngô Tất
Tố), nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết của nguyễn Công Hoan, Lan Khai Hầuhết các tác phẩm đều tập trung phê phán, tố cáo mãnh liệt những thủ đoạn ápbức bóc lột, những chính sách mị dân bịp bợm, giả dối của giai cấp thống trị,
đồng thời phơi bày những nỗi thống khổ của nhân dân với một thái độ cảmthông sâu sắc Nhiệt tình phê phán đã hớng ngòi bút của Vũ Trọng Phụng,Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố vào việc khắc họa những nhân vật điển hìnhphản diện có ý nghĩa phê phán gay gắt, quyết liệt Đến chặng đờng thứ ba củachủ nghĩa hiện thực (chặng đờng từ 1940 đến 1945), cảm hứng phê phán vẫntiếp tục là cảm hứng chủ đạo, có thêm nét đặc sắc mới, đợc thể hiện rõ nhất,nổi bật nhất trong sáng tác của Nam Cao Nếu nh Nguyễn Công Hoan, NgôTất Tố chủ yếu thiên về sự miêu tả, phản ánh xã hội đơng thời thì Nam Caokhông chỉ miêu tả mà còn phân tích, lý giải những hiện tợng, những vấn đềcủa hiện thực đó Ngòi bút Nam Cao luôn có xu hớng hớng tới việc phân tíchxã hội Cảm hứng phê phán, đến Nam Cao, đã thực sự trở thành cảm hứngphân tích phê phán
Nam Cao viết văn bằng sự kết hợp hài hòa giữa một trái tim nóng hổitình yêu thơng con ngời với một khối óc tỉnh táo và sắc sảo Đối mặt với thựctại, phanh phui, phân tích, mổ xẻ những mặt đen tối của cuộc sống, nhà vănvừa gióng lên hồi chuông cảnh báo về hiện thực xấu xa, vừa khẳng định quyềnsống và lẽ sống chân chính của con ngời nói chung và ngời nghệ sĩ nói riêng.Sống trong một xã hội hỗn loạn, tù đọng, mù tối, ngời nghệ sĩ chân chínhkhông có quyền quên đi nhiệm vụ của mình Phải “đứng trong lao khổ, mởhồn ra để đón lấy những vang động của cuộc đời” để từ đó có thể viết đợc một
“tác phẩm thật giá trị, vợt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn”, đó “phải làmột tác phẩm chung cho cả loài ngời Nó phải chứa đựng một cái gì đó lớnlao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thơng, tình bác
ái, sự công bình nó làm cho ngời gần ngời hơn” (Đời thừa) Đó không chỉ là
mục đích của văn chơng chân chính, đó còn là mục đích xây dựng lòng nhân
đạo trong một xã hội tiến bộ Nhà văn khẳng định giá trị của một con ngờithật sự nằm ở tình yêu thơng đồng loại, nằm ở lẽ sống chân chính
Từ t tởng cao sâu ấy, Nam Cao sáng tác với một thái độ trân trọng và đềcao con ngời Cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của ông còn là niềm khátkhao cháy bỏng con ngời đợc sống với danh hiệu cao quý của con ngời, đợc
Trang 15sống lơng thiện và đợc phát triển “tận độ” khă năng chứa đựng trong mình Từniềm khát khao mãnh liệt ấy, nhà văn đã đau đớn khôn nguôi khi phải chứngkiến tình trạng con ngời bị xúc phạm về nhân phẩm, bị hủy hoại về nhân tính,mọi ớc mơ, khát vọng chân chính bị bào mòn khi con ngời bị đẩy vào tìnhtrạng áo cơm ghì sát đất, lay lắt sống trong tình trạng “chết mòn”, chết khi
đang sống Dù viết về ngời nông dân hay ngời trí thức, điều mà Nam Cao quan
tâm là cuộc sống chết mòn, quẩn quanh của họ Từ Chí Phèo, T cách mõ, Một
bữa no, Trẻ con không đợc ăn thịt chó đến Đời thừa, Quên điều độ, Cời, Sống mòn đều có những nhân vật luôn phải gánh chịu những bi kịch đau đớn
của tâm hồn Họ có thể là những con ngời bị xúc phạm đến thô bạo về nhânphẩm, t cách, đạo đức dẫn đến việc hủy hoại nhân tính, biến dạng nhâncách Họ có thể là những con ngời không đợc nhìn nhận, đánh giá thỏa đáng,dẫn đến việc mất t cách Và họ, có lúc bị cuộc sống áo cơm đẩy đến chỗ bấtlực, đầu hàng hoàn cảnh Nam Cao luôn day dứt trớc vấn đề nhân cách conngời có nguy cơ bị bào mòn, hủy hoại
Chứng kiến khát vọng, mong ớc cống hiến sức lực, tài năng của nhữngngời trí thức chân chính không đợc thỏa mãn, khát vọng đợc quay về cuộcsống lơng thiện, đợc sống cuộc sống bình thờng nh những con ngời bình thờngkhông đợc ủng hộ, không đợc đáp ứng, chứng kiến nhân cách con ngời cónguy cơ bị bào mòn, hủy họai, Nam Cao đã tìm cách phân tích, lý giải cănnguyên Và ông đã chỉ ra kẻ trực tiếp gây nên nỗi khổ của những con ngời bénhỏ ấy chính là hoàn cảnh, chính là xã hội thực dân nửa phong kiến thối nát,
mà ở đó con ngời đối với con ngời thật tàn nhẫn Đồng lõa với điều đó còn có
sự buông xuôi, bất lực của chính con ngời ở góc độ này, Nam Cao khôngngần ngại chế giễu thói giả dối, nhỏ nhen, ích kỷ, sự sĩ diện và tâm lý hammuốn phàm tục, tầm thờng của con ngời Miêu tả những nét tâm lý tinh vitrong mỗi con ngời cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ thể, ở Nam Cao còn làcảm hứng vừa bi vừa hài Đó là cái nhìn vừa tinh tế và sắc sảo cũng vừa rấttrung thực, xuất phát từ nền tảng nhân đạo sâu sắc, từ khát vọng hớng thiệncủa nhà văn Điều thú vị hơn hết là con ngời trong sáng tác Nam Cao dù lâmvào bế tắc họ vẫn luôn luôn tìm cách hành động để cải tạo, thay đổi hoàn cảnh
để cứu vãn lơng tri, nhân phẩm của mình Cách nhìn con ngời nhân đạo tíchcực ấy đã quy định cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nam Cao
Trang 16Văn học hiện thực phê phán chặng đờng này cũng ít gắn với không khíthời sự của đất nớc, không có những cuộc biểu tình, mít tinh, những cuộc đấutranh giai cấp, những nhân vật hoạt động chính trị trong tiểu thuyết Chế độkiểm duyệt khắt khe và sự khủng bố của chính quyền thực dân không chophép các nhà văn hiện thực viết về đề tài ấy Tuy nhiên xét về chủ đề t tởng,chủ nghĩa hiện thực trong văn học Viêt Nam giai đọan 1930 - 1945 lại cónhững chiều sâu mới Các nhà văn đã đề xuất những t tởng sâu sắc về thânphận con ngời, về tơng lai đất nớc, về vấn đề cải tạo xã hội Nam Cao là nhàvăn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lý bậc thầy Ông có khả năng du lịchtriền miên trong đời sống nội tâm của con ngời để theo dõi và diễn tả nhữngquá trình tâm lý phức tạp nhất Từ đó dẫn đến cách dắt dẫn mạch truyện linhhoạt biến hóa, đảo lộn không gian và thời gian theo dòng tâm sự và suy t củanhân vật Sự thông thạo tâm lý nhân vật cũng giúp nhà văn có thể trần thuậttheo quan điểm và giọng điệu các nhân vật, tạo nên tính đa thanh, phức điệucủa văn Nam Cao Nam Cao còn có đóng góp lớn trong sự phát triển ngôn ngữvăn xuôi nớc nhà, với một kho từ vựng phong phú vừa góc cạnh vừa tinh vi và
đầy chất sống
1.1.2 Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc
Nói đến chủ nghĩa hiện thực, ngời ta không thể không nói đến NamCao Toàn bộ tác phẩm của Nam Cao thờng đợc mọi ngời nâng niu trân trọngkhông phải biểu lộ niềm kính yêu luyến tiếc một nhà văn đã sớm mất đi màchính là do bản thân tác phẩm của ông có giá trị hiện thực sắc sảo, t tởng nhân
đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo
Trong trào lu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945, Nam Cao là nhàvăn đợc nghiên cứu nhiều nhất, liên tục nhất So với Nguyễn Công Hoan, NgôTất Tố, Vũ Trọng Phụng ông là cây bút có ý thức sâu sắc nhất về quan điểmnghệ thuật của mình Ông phê phán khá toàn diện và triệt để tính chất thoát ly,tiêu cực của văn chơng lãng mạn đơng thời, coi đó là thứ “ánh trăng lừa dối”,yêu cầu nghệ thuật chân chính phải về với đời sống, phải nhìn thẳng vào sựthật, nói lên đợc nỗi thống khổ của hàng triệu nhân dân lao động lầm than
Nam Cao quan niệm, văn học phản ánh hiện thực phải khám phá vàobản chất, vào chiều sâu của nó Xuất hiện trên văn đàn khi mà trào lu hiệnthực chủ nghĩa đã đạt đợc nhiều thành tựu xuất sắc, Nam Cao có ý thức sâusắc rằng: “Văn chơng chỉ dung nạp những ngời biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi
Trang 17những nguồn cha ai khơi, và sáng tạo những cái gì cha có” (Đời thừa) Và
Nam Cao đã thực sự tìm đợc cho mình một hớng đi riêng trong việc tiếp cận
và phản ánh hiện thực Nếu nh Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất
Tố - những nhà văn xuất sắc thời kỳ mặt trận dân chủ (1936 - 1939) đều tậptrung trực tiếp phản ánh những mâu thuẫn, xung đột xã hội thì sáng tác củaNam Cao - đại biểu u tú nhất của trào lu hiện thực chặng đờng cuối cùng(1940 - 1945) trực tiếp đề cập tới xung đột giai cấp, còn các tác phẩm khác
đều tập trung thể hiện xung đột trong thế giới nội tâm của nhân vật Nhiều tácphẩm của ông đợc dệt nên bằng những “cái hàng ngày” chủ yếu liên quan đếncuộc sống riêng t của các nhân vật Cha bao giờ cái vặt vãnh hàng ngày lại cómột sức mạnh ghê gớm nh trong sáng tác của Nam Cao
Trớc Cách mạng tháng Tám, Nam Cao viết các truyện ngắn: Lão Hạc,
Chí phèo, Đời thừa, Trăng sáng Hầu hết các truyện này bàng bạc một màu
không khí sầu tủi nh cuộc đời nô lệ tăm tối với các nhân vật cô đơn, lầm lì, ủ
rũ, bạc nhợc, âm thầm đi vào sa ngã, kéo dài một kiếp “sống mòn” rỉ, thiểunão, quẩn quanh không lối thoát Thêm vào đó, xã hội thì đầy chuyện kìmhãm, áp bức, bất công, bốn bề ngột ngạt tù túng Quay về phía nào cũng thấychắn ngang những bức tờng bế tắc, và thảm họa thì cứ chồng chất lên ngàycàng nhiều Dựng lên thái độ và những mẩu đời mục nát, rêu mốc ấy, chínhNam Cao đã dựng lên cả một thời đại Sức tố cáo của những câu chuyện nằmngay trong những sự việc vốn rất thờng tình nhỏ nhặt, song càng nhỏ nhặt th-ờng tình thì cái ý nghĩa phản kháng của nó lại càng sâu sắc, càng nâng giá trịcủa một ngòi bút vốn đã sẵn góc cạnh của một nhà văn Điều làm cho ngời
đọc cảm phục là tuy sống giữa cảnh đời nô lệ nhục nhã, Nam Cao vẫn giữ đợc
ý thức chủ động hoàn cảnh và nhất là bao giờ cũng biểu lộ đợc một tấm lòng
gắn bó, yêu thơng trân trọng những kẻ bị áp bức, bóc lột Qua truyện Trăng
sáng, độc giả thấy hình ảnh một văn sỹ Điền sau một đêm trằn trọc suy nghĩ,
sáng dậy vẫn bình tĩnh để ngồi viết “giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng,tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm và cả tiếng chửi bới của một ngời lánggiềng ban đêm mất gà” [8, 131]
Ngời đọc lại càng ngỡng mộ Nam Cao khi thấy rằng dù bị đày đọa giữamột xã hội kim tiền ruồng nát trớc kia, nhà văn vẫn giữ vững đợc cái liêmkhiết tối thiểu của một lơng tâm nghề nghiệp Nam Cao không những cămgiận cái thối tha của xã hội cũ, bất mãn với trật tự phong kiến suy đồi xa mà
Trang 18nhiều lúc còn thù hận cả với những bớc đi trầy trật vấp váp của bản thân mình.Con ngời tiểu t sản Nam Cao hôm nào đây còn xót xa trong nớc mắt Từnhững chuyện vụn vặt đời thờng, Nam Cao đã thực sự động chạm đến vấn đề
có tính chất nhân bản, đã đặt ra những vấn đề sâu sắc về cuộc sống, về thânphận của con ngời, về vấn đề cải tạo xã hội, về tơng lai của dân tộc và nhânloại Bi kịch của đời thờng, của những cái vặt vãnh hàng ngày, qua ngòi bút
đầy tài năng của Nam Cao đã trở thành những bi kịch vĩnh cửu
Sáng tác của Nam Cao giàu sức khám phá sáng tạo Với phong cách độc
đáo, Nam Cao đã thể hiện một nghệ thuật già dặn của việc thể hiện tâm lý.Miêu tả tâm lý trong chiều sâu của vận động và phát triển của nhân vật vàcảnh ngộ là một yêu cầu quan trọng của chủ nghĩa hiện thực Trong tiểu
thuyết Sống mòn Nam Cao viết: “Sống tức là cảm giác và t tởng Sống cũng là
hành động nữa, nhng hành động chỉ là phần phụ, có cảm giác, có t tởng mớisinh ra hành động” Một quan niệm về con ngời nh thế đã chi phối thi phápchủ nghĩa hiện thực tâm lý của Nam Cao Sự chú ý đặc biệt tới thế giới bêntrong của con ngời đã thờng xuyên chế ớc hứng thú nghệ thuật ngày càng tăngcủa nhà văn đối với tính chất nhiều dự định của cá tính con ngời, động cơ nộitại của hành vi nhân vật và quan hệ phức tạp của nó với hiện thực xung quanh
Đối với Nam Cao, cái quan trọng hơn cả trong nhiệm vụ phản ánh chânthật cuộc sống là cái chân thật của t tởng, của nội tâm nhân vật Cái quantrọng nhất trong tác phẩm không phải là bản thân sự kiện, biến cố tự thân mà
là con ngời trớc sự kiện, biến cố Vì vậy, trong sáng tác của Nam Cao, hứngthú của những chi tiết tâm lý thờng thay thế cho hứng thú của chính bản thâncác sự kiện, biến cố Nh một nguyên tắc, các sự kiện, biến cố, tình tiết giữ vaitrò “khiêu khích” các nhân vật, để cho nhân vật bộc lộ những nét tâm lý, tính
cách của mình Cho nên trong Mua nhà, Nam Cao không tập trung miêu tả sự
việc mua đợc cái nhà gỗ rẻ mà tập trung xoáy sâu vào những suy nghĩ, dằnvặt, những ân hận của nhân vật ngời kể chuyện về tình trạng “hạnh phúc chỉ là
một cái chăn quá hẹp Ngời nay co thì ngời kia bị hở” [8, 172] Đời thừa cũng
không hớng ngòi bút vào việc miêu tả nỗi khổ áo cơm mà tập trung thể hiệnphản ứng tâm lý của con ngời trớc gánh nặng áo cơm làm mai một tài năng vàxói mòn nhân cách Cho nên, trớc khi bán một con chó mà Lão Hạc phải trảiqua biết bao băn khoăn, day dứt, dằn vặt, và khi buộc phải bán nó thì lão vôcùng ân hận, tột cùng đau đớn, tuổi già mà lão khóc hu hu nh con nít Chí
Trang 19Phèo, con quỷ dữ của làng Vũ Đại, ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, chửibới, dọa nạt trong lúc say, nh là con vật sống trong vô thức, vậy mà sau lầngặp Thị Nở ở bờ sông, Chí Phèo cứ “vẩn vơ nghĩ mãi ” Nam Cao chẳngnhững miêu tả sinh động những chi tiết, những biểu hiện tâm lý nhỏ nhặt nhất
mà còn theo dõi, phân tích quá trình tích tụ của chúng dẫn tới sự nảy sinhnhững phẩm chất mới trong tâm hồn con ngời Không chỉ dừng lại ở nhữngkhoảnh khắc, Nam Cao đã miêu tả thành công những quá trình tâm lý củanhân vật Ngòi bút của ông tỏ ra có biệt tài trong khi miêu tả những trạng tháitâm lý phức tạp, những hiện tợng lỡng tính dở say dở tỉnh, dở khóc dở cời,mấp mé ranh giới giữa thiện với ác, giữa hiền với dữ, giữa con ngời với convật Nam Cao đã khắc phục đợc tính phiến diện, đơn giản trong việc miêu tảtâm lý nhân vật Qua ngòi bút của ông, tâm lý con ngời đợc thể hiện một cáchphong phú, đa dạng
Trong sáng tác của Nam Cao, tâm hồn con ngời là sân khấu bi kịch và
bi hài kịch của những xung đột t tởng, ý tởng Thi pháp chủ nghĩa hiện thựctâm lý của Nam Cao thích ứng với việc nghiên cứu, phân tích và khám phábằng nghệ thuật tâm lý của nhân vật, hơn là việc phân tích và miêu tả nhữngbiến cố, xung đột đích thực của chính bản thân đời sống xã hội Đối với NamCao, sự phân tích tâm lý hầu nh là điều kiện cơ bản nhất của việc thể hiện conngời theo phơng pháp hiện thực có chiều sâu của ông Nam Cao đã lấy thế giớinội tâm nhân vật làm đối tợng chính của sự miêu tả Ông đã hớng ngòi bút củamình vào việc khám phá con ngời trong con ngời, miêu tả và phân tích mọichiều sâu, mọi chuyển biến trong thế giới tâm hồn của nhân vật Chính vì vậy
mà đối với ông, việc miêu tả ngoại hình chỉ có ý nghĩa khi nó nhằm thể hiện
và làm nổi rõ bộ mặt tinh thần của nhân vật Những cảnh vật thiên nhiên cũngchỉ có lý do tồn tại khi nó gắn liền với tâm trạng của con ngời Giữa nhữngbức tranh phong cảnh thoáng nhìn tởng thuần túy chỉ là những cảnh vật thiênnhiên, nhà văn đã khéo léo treo lên những mảnh tâm hồn của nhân vật
Nam Cao mong muốn khai thác những vấn đề của cuộc sống khôngphải ở bề rộng mà là ở bề sâu Nam Cao đã tập trung bút lực vào việc miêu tảnội tâm của nhân vật Nhà hiện thực chủ nghĩa Nam Cao đã tập trung sự phản
ánh hiện thực bằng cách khai thác sâu sắc thế giới tâm hồn của con ngời Đốivới Nam Cao, việc phân tích tâm lý nhân vật không tách rời việc phân tíchcuộc sống xã hội nói chung Thông qua việc miêu tả, phân tích tâm lý để thể
Trang 20hiện những mâu thuẫn, xung đột xã hội, Nam Cao đã mở ra một khuynh hớngphân tích mới cho phơng pháp hiện thực chủ nghĩa trong văn học Việt Nam.
Có thể nói, cảm hứng phân tích phê phán thấm nhuần trong toàn bộ sáng táccủa Nam Cao
Một chủ nghĩa hiện thực, một bút pháp hiện thực Nam Cao, một giọng
điệu Nam Cao - đó là nét in dấu và nổi đậm lên trên những trang văn NamCao vào đầu những năm 40, khiến cho Nam Cao không lặp lại với NguyễnCông Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng và đa Nam Caolên hàng đầu dòng văn học hiện thực Việt Nam ở chặng cuối
1.1.3 Hành trình sáng tạo của Nam Cao
Nhà văn Nam Cao không chỉ là đại biểu xuất sắc của dòng văn học hiệnthực phê phán mà còn là một trong những tác gia tiêu biểu nhất của văn họcViệt Nam thế kỷ XX Độ dài thời gian càng xa sự nghiệp văn học Nam Caocàng đợc khẳng định Tác phẩm của ông qua sự tiếp nhận của nhiều thế hệ độcgiả đợc phát hiện thêm nhiều giá trị nghệ thuật mới Văn Nam Cao tiềm tàng,
có sức hấp dẫn mạnh mẽ, tạo nên niềm say mê đồng cảm của hàng triệu tráitim Viết về những chuyện đời thờng vặt vãnh của những tầng lớp ngời lao khổtrong xã hội thực dân phong kiến Việt Nam trớc Cách mạng tháng Tám, nhngnhững vấn đề mà tác giả đặt ra không bị bó hẹp bởi khuôn khổ không gian,thời gian ấy T tởng nhà văn mã hóa trong những hình tợng thật sự lớn lao, caocả Văn nghiệp Nam Cao đã làm phong phú thêm những giá trị tinh thần đờisống con ngời, đánh dấu và khẳng định bớc tiến của văn học dân tộc trên hànhtrình hiện đại hóa
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, ông sinh ngày 29/10/1917 trong mộtgia đình nông dân thuộc làng Đại Hoàng, Phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Làng
Đại Hoàng là vùng đồng bằng chiêm chũng, nông dân khi xa quanh nămnghèo đói, lại bị bọn cờng hào ức hiếp, đục khoét tàn tệ Nam Cao là con cảtrong một gia đình đông anh em, nhng ông lại là ngời đợc học hành nhiều hơncả Học xong bậc thành chung, Nam Cao vào Sài Gòn giúp việc cho một hiệumay, thời kỳ này, ông bắt đầu sáng tác và mơ ớc đi xa, mở mang kiến thức,trau dồi tài năng, xây dựng một sự nghiệp văn học có ích Nhng rồi vì ốm yếu,Nam Cao lại trở về quê và thất nghiệp Sau ông lên Hà Nội, dạy học ở một tr-ờng tiểu học t thục, vùng bởi, ngoại ô Nhng cuộc đời “giáo khổ trờng t” đócũng không yên: Quân Nhật vào Đông Dơng, trờng của ông phải đóng cửa để
Trang 21làm chuồng ngựa cho lính Nhật Nhà văn lại thất nghiệp, sống lay lắt bằngnghề viết văn và làm gia s, trong khi gia đình ở quê đang càng ngày càng khốnkhó Năm 1943, Nam Cao tham gia Hội văn hóa cứu cứu quốc do Đảng cộngsản tổ chức và lãnh đạo Bị khủng bố gắt gao, ông về hẳn làng quê rồi thamgia cớp chính quyền ở địa phơng và đợc bầu làm chủ tịch đầu tiên ở xã Nhngngay sau đó ông đợc điều động lên công tác ở Hội văn hóa cứu quốc tại HàNội Ông theo đoàn quân Nam tiến vào vùng Nam Trung Bộ kháng chiến.Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946), Nam Cao về làng làm công táctuyên truyền ở tỉnh Hà Nam Năm 1950 Nam Cao tham gia chiến dịch biêngiới Tháng 11/1951, trên đờng vào công tác vùng sau lng địch thuộc liên khuIII, Nam Cao đã bị địch phục kích Nhà văn ngã xuống giữa lúc còn ấp ủ cuốntiểu thuyết về làng quê đang đứng lên trong cách mạng và kháng chiến Hànhtrình sáng tạo văn học của Nam Cao trải qua hai thời kỳ, trớc và sau Cáchmạng tháng Tám, hai thời kỳ nhng t tởng lại rất thống nhất.
Trớc Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuấtsắc Nhng ông thờng mang nặng tâm sự u uất, bất đắc chí Đó không chỉ làtâm sự của ngời nghệ sĩ “tài cao, phận thấp, chí khí uất” (Tản Đà), mà còn lànỗi bi phẫn của ngời trí thức giàu tâm huyết trong cái xã hội bóp nghẹt sựsống con ngời khi đó Song Nam Cao không vì bất mãn cá nhân mà trở nênkhinh bạc, trái lại ông có một tấm lòng thật đôn hậu, chan chứa yêu thơng
Đặc biệt sự gắn bó ân tình sâu nặng với bà con nông dân nghèo khổ ruột thịt ởquê hơng là nét nổi bật ở Nam Cao Chính tình cảm yêu thơng gắn bó đó làmột sức mạnh bên trong của nhà văn, giúp ông vợt qua những lối sống củathoát ly hởng lạc, tự nguyện tìm đến và trung thành với con đờng nghệ thuậthiện thực “vị nhân sinh” Nam Cao đã có ý thức về nhiệm vụ của một nhà văn
là phải viết về sự thật của đời sống Văn học nghệ thuật không phải “ánh trănglừa dối” mà phải là tiếng nói vang lên mạnh mẽ từ những kiếp sống lầm than.Nhà văn phải mạnh dạn nhìn thẳng vào cuộc đời với thái độ thẳng thắn và ýthức trách nhiệm, chống lại mọi biểu hiện lừa dối, lẩn trốn thực tế hoặc tự an
ủi vỗ về mình Quan điểm sáng tác ấy của Nam Cao thời bấy giờ có ý nghĩatiến bộ sâu sắc, có sức mạnh phủ định mọi khuynh hớng thoát ly, tiêu cựctrong thời đại ông (trớc 1945)
Tác phẩm Nam Cao là lỡi dao sắc rạch vào cơ thể ung nhọt của xã hội
cũ, phơi bày thực trạng xấu xa của một chế độ sắp đến ngày sụp đổ Căm thù
Trang 22chế độ thống trị bao nhiêu, Nam Cao lại càng thông cảm và thơng yêu nhữngnạn nhân của chế độ đó bấy nhiêu Đó là điểm nổi bật xác định giá trị nhân
đạo của những tác phẩm Nam Cao trớc Cách mạng tháng Tám Trình bàynhững cảnh đời khổ cực, tù túng, bế tắc của nông thôn và thành thị, Nam Cao
đã vẽ ra khung cảnh xã hội Việt Nam ở thời kỳ đen tối nhất dới chế độ phát xítNhật - Pháp Trong đêm tối dày đặc của chế độ cũ, tác phẩm của Nam Cao đã
ánh lên những tia sáng của một ngày mới, thể hiện ở lòng ớc mơ và niềm khátvọng một sự đổi thay đa tới một xã hội công bằng tốt đẹp
Nam Cao có sáng tác đăng báo từ 1936, nhng sự nghiệp văn học của
ông chỉ thực sự bắt đầu từ truyện ngắn Chí Phèo (1941) Sáng tác của Nam
Cao trớc Cách mạng tập trung vào hai đề tài chính: Cuộc sống ngời trí thứctiểu t sản nghèo và cuộc sống ngời nông dân ở quê hơng
ở đề tài trí thức tiểu t sản, đáng chú ý là các truyện ngắn: Những truyện
không muốn viết, Trăng sáng, Mua nhà, Truyện tình, Cời, Nớc mắt, Đời thừa và tiểu thuyết Sống mòn (1944) Trong những sáng tác này, Nam Cao
đã miêu tả hết sức chân thực tình cảnh nghèo khổ, dở sống dở chết của nhữngnhà văn nghèo, những “giáo khổ trờng t”, học sinh thất nghiệp Nhà văn đặcbiệt đi sâu vào những bi kịch tâm hồn của họ, qua đó, đặt ra những vấn đề có
ý nghĩa xã hội to lớn Đó là tấn bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn củangời trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm nhng lại bịgánh nặng áo cơm và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phảisống cuộc sống “đời thừa” Những tác phẩm đó đã phê phán sâu sắc một xãhội vô nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con ngời, đồng thời đãthể hiện sự tự đấu tranh bên trong của ngời trí thức tiểu t sản trung thực cố vơnlên một cuộc sống đẹp đẽ, thực sự có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con ng-ời
ở đề tài nông dân, Nam Cao thờng quan tâm tới những hạng cố cùng,những số phận hẩm hiu, sự ức hiếp nhiều nhất Họ càng hiền lành nhẫn nhụcthì càng bị chà đạp phũ phàng Ông đặc biệt đi sâu vào những trờng hợp conngời bị lăng nhục một cách độc ác, bất công, mà xét đến cùng, chẳng qua chỉvì họ nghèo đói, khốn khổ Tuy giọng văn lắm khi lạnh lùng, nhng kỳ thực,Nam Cao đã dứt khoát bênh vực quyền sống và nhân phẩm những con ngời bất
hạnh, bị xã hội đẩy vào tình cảnh nhục nhã đó (Chí Phèo, Một bữa no, T cách
mõ, Lang Rận ) Viết về những ngời nông dân bị lu manh hóa, nhà văn đã kết
Trang 23án sâu sắc cái xã hội tàn bạo đã tàn phá cả thể xác và linh hồn ngời nông dânlao động, đồng thời, ông vẫn phát hiện và khẳng định bản chất lơng thiện đẹp
đẽ của họ, ngay trong khi họ bị vùi dập tới mất cả hình ngời, tính ngời Trongnhiều tác phẩm, Nam Cao không những đã vạch ra nỗi khổ cùng cực của ngờinông dân lao động mà còn thể hiện cảm động bản chất đẹp đẽ, cao quý trongtâm hồn của họ
Trong toàn bộ sáng tác của Nam Cao, dù viết về ngời nông dân hay
ng-ời trí thức, mỗi trang văn của ông đều tha thiết tình yêu và khẳng định nhữnggiá trị tốt đẹp của con ngời Điều đó cũng xuất phát từ con ngời nhà văn Ôngvốn là một ngời rất giàu lòng nhân ái, là nhà văn đầy ân tình với những conngời nghèo khổ Trái tim nhân hậu của ông không cho phép ông nhìn con ngờimột cách phiến diện, bề ngoài Phải xem xét đằng sau cái biểu hiện dù là điênkhùng, lu manh (nh Chí Phèo), dù bề ngoài có vẻ gàn dở, lẩm cẩm (nh LãoHạc), dù là so đo, tính toán (nh Thứ, San, Oanh ) họ vẫn là con ngời và còn
có những phẩm chất tốt đẹp, lơng thiện, chân chính mà chỉ có con ngời mới
có Suy t, dằn vặt, trăn trở về cuộc sống, về kiếp ngời, những trang viết củaNam Cao thờng đạt tới một tầm khái quát nhân sinh to lớn nên đề tài dù hẹp
mà t tởng thì rộng lớn, sâu sắc
Từ sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao lao mình vào mọi công táccách mạng và kháng chiến Ông tự nguyện làm ngời cán bộ tuyên truyền vôdanh của Cách mạng và có ý thức tự rèn luyện, cải tạo mình trong thực tế
kháng chiến Truyện ngắn Đôi mắt (1948) là một thành công xuất sắc của văn
nghệ kháng chiến chặng đầu khi đó Nhật ký ở rừng (1948) viết trong thời kỳ
nhà văn công tác ở vùng rừng sâu Bắc Kạn và tập ký sự Chuyện biên giới
(1950) viết khi ông đi chiến dịch Cao - Lạng, đều là những sáng tác giá trị củanền văn xuôi mới còn non trẻ bấy giờ Nhà văn hi sinh giữa lúc t tởng và tàinăng đang độ phát triển nhất trong thời đại mới, hứa hẹn những sáng tác cótầm vóc mới
Từ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nớc với biết bao biến động và đổithay, từ sự thức tỉnh của ý thức cá nhân đến những khai phá của lớp nhà văn đitrớc, Nam Cao vừa nhạy cảm nắm bắt, vừa phát huy cá tính sáng tạo của mình
và đã trở thành ngời kết thúc vẻ vang và hoàn thiện công cuộc hiện đại hóavăn học nớc nhà Mỗi sáng tác của Nam Cao là niềm khát khao vô bờ bến chonhững mong ớc, mong ớc cho ngời gần ngời hơn, cho con ngời đợc sống có ý
Trang 24nghĩa, đợc phát triển đến “tận độ” năng lực của mình Bởi thế nhà văn đã đauxót biết bao khi thấy hoàn cảnh và có lúc có cả sự bất lực của con ngời làmcho cuộc sống cứ mòn đi, gỉ ra Cộng hởng trong sự da diết và sâu sắc củangòi bút ấy là cá tính sáng tạo, là sự nhân ái và cả sự tự trọng của con ngời đờithờng và ngời nghệ sĩ Nam Cao Tất cả những điều đó đã làm cho sáng tác của
ông có một cách diễn đạt riêng, một tiếng nói riêng
1.2 Nam Cao - nhà nhân đạo lớn, với một quan niệm nghệ thuật mới mẻ
đầy tình thơng và niềm tin vào con ngời
1.2.1 Chủ nghĩa nhân đạo kiểu Nam Cao
Trong tiểu thuyết Sống mòn qua nhân vật thứ, Nam Cao đã bộc lộ lý
t-ởng của mình: “Tạng ngời y không cho y cầm súng, cầm gơm Y sẽ cầm bút
mà chiến đấu ” Suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nam Cao đã chiến đấu vì
lý tởng nhân đạo cao cả Ông khao khát viết đợc những tác phẩm có giá trị,
v-ợt lên tất cả những bờ cõi và giới hạn, trở thành tác phẩm chung cho cả loàingời Một tác phẩm nh thế, theo quan điểm của Nam Cao: “Phải chứa đựngmột cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn , lại vừa phấn khởi Nó ca tụng
lòng thơng, tình bác ái, sự công bình nó làm cho ngời gần ngời hơn” (Đời
thừa) T tởng nhân đạo đó đã chi phối sâu sắc quá trình sáng tạo của Nam
để phát huy những khả năng tiềm tàng u việt của mình
Nam Cao là nhà văn của những ngời nông dân nghèo khổ và bất hạnh,nhà văn của những ngời khốn khổ, tủi nhục nhất trong xã hội thực dân phongkiến Viết về những con ngời dới đáy xã hội, Nam Cao đã bộc lộ sự cảm thônglạ lùng của một trái tim nhân đạo lớn Thế giới, cuộc đời, con ngời, mối quan
hệ giữa những con ngời đợc nhìn nhận bằng những con mắt của chính họ Nhàvăn, trong những đánh giá và nhận xét, đã xuất phát từ lợi ích và yêu cầu củachính những con ngời cùng khổ nhất, bị xã hội áp bức, chà đạp Ông “là ngời
Trang 25hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con ngời
dễ bất bình trớc tình trạng con ngời bị lăng nhục và bị đầy đọa vào cảnh nghèo
đói cùng đờng quyết đứng ra minh oan, chiêu tuyết cho những con ngời bịmiệt thị một cách bất công” (Nguyễn Đăng Mạnh) Với trái tim đầy yêu thơngcủa mình, Nam Cao Vẫn tin rằng trong tâm hồn của những ngời không còn làngời, những con ngời bề ngoài đợc miêu tả nh những con vật vẫn còn nhântính, vẫn còn những khát khao nhân bản Ông nhận ra đằng sau những bộ mặt
xấu xí đến “ma chê quỷ hờn” của Thị Nở (Chí Phèo), của Mụ Lợi (Lang Rận), của Nhi (Nửa đêm) vẫn là một con ngời, một tâm tính ngời thực sự, cũng
khao khát yêu thơng, cũng mong muốn hạnh phúc đời thờng Và khi đợc ngọnlửa tình yêu sởi ấm, những tâm hồn tởng nh đã cằn cỗi, khô héo ấy cũng ánhlên những vẻ đẹp Thậm chí trong đáy sâu tâm hồn đen tối của một kẻ cụcsúc, u mê nh Chí Phèo - một kẻ đã bị cuộc đời tàn phá, hủy hoại từ nhân hình
đến nhân tính thì nhà văn vẫn nhận thấy những rung động thực sự của tìnhyêu, của niềm khát khao muốn trở lại làm ngời lơng thiện ở Chí Trong quanniệm của Nam Cao, con ngời có thể bị tiêu diệt, nhng nhân tính, bản chất lơngthiện của con ngời là bất diệt Có thể nói, cùng với việc lên án gay gắt nhữngthành kiến, định kiến tồi tệ, những sự nhục mạ danh dự và phẩm giá của conngời, chính việc phát hiện ra cái phần con ngời còn xót lại trong một kẻ lumanh, trân trọng những khát khao nhân bản và miêu tả những rung động trongsáng của những tâm hồn tởng chừng đã bị cuộc đời làm cho cằn cỗi, u mê đãlàm cho Nam Cao trở thành một trong số những nhà nhân đạo lớn trong nềnvăn học Việt Nam hiện đại
Nam Cao là nhà văn của những ngời trí thức nghèo, của những kiếp
“sống mòn” có hoài bão, có tâm huyết, tài năng, muốn vơn lên cao nhng lại bịchuyện áo cơm ghì sát đất Nếu nh mỗi tác phẩm viết về đề tài ngời nông dâncủa Nam Cao đều là sự trả ơn, gửi gắm ân tình với ngời nghèo khổ thì mỗitrang viết về đề tài ngời trí thức đều chứa đựng tâm sự, nỗi đau và niềm khátkhao cháy bỏng của chính nhà văn Đọc Nam Cao, mỗi ngời đều có thể tìmthấy trong những nhân vật trí thức của ông những ớc mơ, say mê, khát vọngchân chính của mình bị dập vùi vì không gặp đợc một điều kiện, hoàn cảnhthuận lợi Nam Cao đã dựng lên trớc mắt chúng ta hình ảnh những con ngờichân chính bị dồn đẩy đến chỗ không sao sống yên ổn đợc, không sao thựchiện đợc lý tởng của cuộc đời mình, bị thui chột tài năng, xói mòn nhân phẩm,
Trang 26dẫn đến tình trạng có những hành động tàn nhẫn với vợ con, với những ngờixung quanh Điều đáng chú ý là, trong khi miêu tả con ngời bị đẩy vào tìnhtrạng có những hành động tàn nhẫn, Nam Cao vẫn không chấp nhận cái ác,vẫn kiên định giữ vững nguyên tắc tình thơng của mình Nhân vật Điền trong
Nớc mắt, sau cái cử chỉ không phải của mình đối với ông Ký nhà dây thép
tỉnh, lại thấy “thơng ông ấy quá”, sau cái lúc gắt gỏng vì tức giận, nói nhữnglời tàn nhẫn, cay độc với vợ con lại tự giày vò, ăn năn, hối hận: “Bây giờ lònghắn chỉ còn lại sự xót thơng, hắn thơng vợ con, thơng tất cả những ngời phảikhổ đau” [9, 65] Mặc dù phải sống trong đau khổ và bế tắc, có lúc mong
muốn đợc giải thoát để lo sự nghiệp cho riêng mình, nhng Hộ trong Đời thừa
vẫn không chấp nhận sự tàn nhẫn và cũng không thể vứt bỏ tình thơng: “Hắn
có thể hi sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỷ đi; nhng hắn không tầm thờng, nhnghắn vẫn còn đợc là ngời: hắn là ngời chứ không phải một thứ quái vật bị saikhiến kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỷ” [8, 319] Qua dòng suy nghĩ của nhânvật Hộ, Nam Cao đã để lại cho đời một câu nói bất hủ: “Kẻ mạnh không phải
là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỷ Kẻ mạnh chính là kẻ giúp
đỡ kẻ khác lên trên đôi vai mình” Nhân vật của Nam Cao không phải không
có lúc ngả nghiêng, chao đảo, nhng cuối cùng đều đứng vững trên lập trờngnhân đạo, đều giữ vững đợc cái lẽ sống tình thơng cao cả của mình
Nam Cao cũng giống nh Xuân Diệu, Thạch Lam ở chỗ đã thức tỉnh ngời
đọc một cách sâu sắc về ý thức cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cánhân trên đời Họ hết sức nhạy cảm với những kiếp sống nhỏ bé, cơ cực, sốngmòn mỏi, lay lắt, quẩn quanh, bế tắc của con ngời Nhng có lẽ không ai trong
số họ lại đau đớn khôn nguôi, phẫn uất cao độ nh Nam Cao trớc tình cảnh conngời không sao thoát khỏi những kiếp “sống mòn” Trớc Cách mạng, không
có nhà văn nào có cái nhìn sâu sắc, có tầm triết lý, tổng hợp khái quát cao vềtình trạng “chết mòn” của con ngời nh nhà văn Nam Cao Mỗi nhân vật của
ông là một kiểu “đời thừa”, một lối “sống mòn”, một cách “chết mòn” NamCao không chấp nhận cuộc sống của con ngời chỉ là sự tồn tại sinh học, ôngcoi đó không phải là cuộc sống xứng đáng của con ngời Cuộc sống xứng
đáng với danh hiệu cao quý của con ngời, theo quan niệm của Nam Cao làphải có đời sống tinh thần cao đẹp, sống với đầy đủ giá trị của sự sống Xuấtphát từ tởng cao siêu đó, Nam Cao đã đồng cảm sâu sắc và đau đớn vô hạn tr -
Trang 27ớc bi kịch của những con ngời muốn sống có ý nghĩa bằng sự cống hiến củamình mà rốt cuộc phải sống nh “một kẻ vô ích, một ngời thừa”.
Qua những nhân vật trí thức tâm huyết của mình nh Hộ, Điền, Thứ Nam Cao thể hiện niềm khát khao một lẽ sống lớn, có ích và có ý nghĩa Thứ
trong Sống mòn đã từng “thích làm một việc gì có ảnh hởng đến xã hội ngay”
và mong muốn đem “những sự đổi thay lớn lao đến cho xứ sở mình” Con ng
-ời mang hoài bão lớn ấy khi chạm chán với cuộc đ-ời đều nếm trải đắng cay,
đau đớn, đều lâm vào tình trạng “sống mòn” Nhng dẫu bị “cơm áo ghì sát
đất”, tuy “sống mòn” nhng họ cha hoàn toàn cạn kiệt hết niềm tin, niềm hivọng, vẫn khao khát đợc sống, đợc cống hiến, đợc phát triển để góp vào côngviệc tiến bộ chung của loài ngời Cao cả và đẹp đẽ biết bao lý tởng nhân văncủa Nam Cao đợc gửi gắm qua những dòng suy ngẫm của nhân vật Thứ về sựsống: “Thứ vẫn không thể nào chịu đựng đợc rằng sống là chỉ làm thế nào chomình và vợ con có cơm ăn, áo mặc thôi Sống là để làm một cái gì đó cao đẹphơn nhiều Mỗi ngời sống phải làm thế nào cho phát triển đến tận độ nhữngkhă năng của loài ngời chứa đựng trong mình Phải gom góp sức lực của mìnhvào công việc tiến bộ chung Mỗi ngời chết đi, phải để lại một chút gì chonhân loại” Nh vậy, trong quan niệm của Nam Cao, ý thức cá nhân, sự tồn tại
có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời đâu chỉ một chiều mà tranh thủ từng giây,từng phút để tận hởng những khoảnh khắc đang có, cho “chếch choáng mùithơm”, cho “đã đầy ánh sáng”, cho “no nê thanh sắc của thời tơi” (XuânDiệu) Nam Cao đòi hỏi để cho mỗi cá nhân đợc phát triển đến tận độ với một
ý thức đầy trách nhiệm và trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển chungcủa cả xã hội loài ngời Có thể nói, chủ nghĩa nhân đạo mới mẻ và sâu sắc đócha từng có trong nền văn học Việt Nam hiện đại trớc cách mạng Đó là một ttởng lớn vợt ra ngoài cả thời đại Nam Cao
Tác phẩm của Nam Cao chan chứa những ý tởng nhân bản và thấmnhuần t tởng nhân đạo Ông là nhà văn đồng tình với khát vọng sống lơngthiện và khát vọng đợc phát huy đến tận độ tài năng của con ngời Chủ nghĩanhân đạo mới mẻ, phong phú và sâu sắc đó cho thấy nhà văn không chỉ dừnglại ở chỗ tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp quyền sống của con ngời màcòn đòi hỏi xã hội tạo những điều kiện để con ngời đợc sống một cuộc sốngthực sự có ý nghĩa
Trang 28Tuy nhiên, cũng cần phải thấy chủ nghĩa nhân đạo kiểu Nam Cao vẫncòn những hạn chế không tránh khỏi đối với một nhà văn hiện thực phê phán.
ấy là khi ông triết lý một cách bi quan: “Những ngời yếu đuối vẫn hay hiềnlành Muốn ác phải là kẻ mạnh” Có khi tình thơng của ông đặt không đúngchỗ, thể hiện một thái độ vô nguyên tắc: “Chao ôi! Cái chết còn hung bạo hơncả những thằng hung bạo Những kẻ hung bạo chết cũng đáng lòng thơng hại.Những kẻ hung bạo chết cũng chỉ là ngời chết, nạn nhân của một sức mạnh
mù quáng và khốc liệt” (Nửa đêm) Nam Cao cha thấy đợc triển vọng tơi sáng
của xã hội và sự đổi đời của số phận Tính cách bất lực trớc hoàn cảnh Tuynhiên đây cũng là hạn chế chung của chủ nghĩa hiện thực
Tóm lại, tuy không tránh khỏi những hạn chế, nhng về cơ bản, NamCao xứng đáng là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn trong nền văn học Việt Namhiện đại Cái gốc, nền tảng vững chắc của chủ nghĩa hiện thực Nam Cao làchủ nghĩa nhân đạo Chính điều đó đã làm cho sáng tác của ông hòa nhập vàodòng văn học u tú, tiến bộ nhất của dân tộc trong mọi thời đại
1.2.2 Một quan niệm nghệ thuật mới mẻ, đầy tình thơng và niềm tin vào
con ngời
Mỗi nhà văn lớn đều có một quan niệm nghệ thuật về con ngời, mangdấu ấn cá nhân rõ rệt Nhìn một cách khái quát, ở trào lu hiện thực phê phán,quan niệm nghệ thuật về con ngời đã có một quá trình vận động, phát triển từNgô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng đến đỉnh cao là NamCao Nhng quan niệm đó của Nam Cao ít khi đợc phát biểu trực tiếp dới dạng
lý luận mà thờng đợc bộc lộ qua những sáng tác và hình tợng nghệ thuật
Quan niệm nghệ thuật về con ngời phản ánh cấu trúc nhân cách của conngời và các hình thức phức tạp tơng ứng trong quan hệ con ngời đối với thếgiới ở mỗi thời đại khác nhau quan niệm về con ngời cũng khác nhau Vìquan niệm về con ngời mang dấu ấn sáng tạo của ngời nghệ sĩ, trong khi đóthì t tởng, thế giới quan của ngời nghệ sĩ lại gắn kết với một thời đại lịch sử cụthể
Quan niệm nghệ thuật về con ngời của các nhà văn hiện thực là “conngời xã hội”, các nhà văn hiện thực có cảm hứng tái hiện chân xác hiện thực,
có ý thức khám phá, khát vọng hớng tới đời sống ở chủ nghĩa hiện thực, tinhthần nhân đạo nh một cái gì đó thuộc về bản chất Muốn tố cáo phơi bày thựctrạng xã hội thì phải có sự chân thực bắt nguồn từ vấn đề nhân đạo Nhà văn
Trang 29phải có một “đôi mắt” nh thế nào? Đó chính là lập trờng của ngời viết Từ lậptrờng ấy mà có những cách nhìn khác nhau Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,
Vũ Trọng Phụng đi vào chủ nghĩa hiện thực mà đôi khi không hề ý thức rằngmình viết hiện thực Do vậy mà họ sáng tác một cách không phải là hoàn toàn
tự giác trên lập trờng của chủ nghĩa hiện thực
Ngô Tất Tố là một trong những cây bút xuất hiện khá sớm trên văn đàn
văn học hiện thực phê phán Đoản thiên Tắt đèn, đã thực sự gây một tiếng
vang lớn trong bầu không khí văn học giai đoạn ấy Sự đổi mới, cách tân vềvấn đề quan niệm nghệ thuật về con ngời đã có một bớc tiến dài so với các câybút có khuynh hớng hiện thực trớc đó nh Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Hồ
Biểu Chánh Trong Tắt đèn con ngời đợc nhìn nhận trên bình diện đạo đức
thẩm mỹ, Ngô Tất Tố đã lấy tiêu chí đạo đức - nhân tính để phân định cáchạng ngời Nhân vật lý tởng của ông là con ngời mang vẻ đẹp đạo lý Chị Dậu
là một hình tợng kết tinh nhiều vẻ đẹp truyền thống Vợ chồng Nghị Quế đợcnhìn nhận trong sự khinh bỉ, ghê tởm Chúng là những kẻ trọc phú, dốt nát vàtáng tận lơng tâm Với quan niệm nghệ thuật ấy, con ngời trong tác phẩm củaNgô Tất Tố đợc phân tuyến rạch ròi Con ngời luôn đặt trong hai tuyến đối lậpnhau, đấu tranh và loại trừ nhau quyết liệt Các nhân vật của ông có thể thay
đổi số phận cá nhân dới tác động của hoàn cảnh song những nét tính cách thìkhông hề thay đổi Vì vậy, tính cách nhân vật của ông thờng mang tính chấttĩnh, ít vận động, biến đổi
Dới ngòi bút của Nguyễn Công Hoan, cái sân khấu hài kịch và những
“diễn viên” hề ấy hiện lên đủ mọi dạng thức Chồng ép vợ làm trò “tam tòng
tứ đức” (Xuất giá tòng phu), quan lại thì diễn trò công lý (Đồng hào có ma)
Nguyễn Công Hoan đã ném vào xã hội ấy tiếng cời trào phúng mang d vị chuachát đắng cay Ông đã phủ nhận tất cả, tung hê tất cả để vạch trần bộ mặt giảdối, dơ bẩn của xã hội đơng thời ở Nguyễn Công Hoan, con ngời xã hội lànhững kẻ tha hóa giả dối, là con ngời với căn tính nô lệ đánh mất lòng tin,
đánh mất chính mình
Cùng chung cái nhìn bi quan ấy, Vũ Trọng Phụng lại có một hớng đikhác Tuy ông có đứng về phía ngời nghèo, bênh vực ngời nghèo, nhng trongtác phẩm của ông lại không có một khuôn mặt ngời lao động nghèo nào khỏekhoắn, đẹp đẽ Ông không thấy đợc vẻ đẹp ở con ngời chân chính, vì vậy cáinhìn của ông nhuốm màu hoài nghi, bi quan về cuộc đời, con ngời Thế giới
Trang 30quan của ông là sự căm ghét phẫn uất đối với một xã hội bất công Song nhìnchung, t tởng của Vũ Trọng Phụng là thứ t tởng bi quan, thiếu niềm tin vàocuộc đời, con ngời ngay cả khi ông kết án đanh thép xã hội đơng thời.
Đến Nam Cao, quan niệm về con ngời đã có một quá trình chuyển hóa
từ tự phát sang tự giác Sáng tác của ông đợc đan dệt từ những nỗi niềm trăntrở sống và viết Vì thế, mới có những quan niệm về nghề văn, đời văn trong
Đời thừa, Trăng sáng Có thể coi Trăng sáng nh một tuyên ngôn của chủ
nghĩa hiện thực: “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánhtrăng lừa dối” Dới ánh trăng, mọi thứ có thể trở nên lung linh, kỳ ảo hơn Nh-
ng đó là cái đẹp lừa dối Nhà văn có lơng tri là nhà văn không đợc phép quaylng, làm ngơ trớc hiện thực cuộc đời, phải biết “đứng trong lao khổ, mở hồn ra
để đón lấy những rung động của cuộc đời” Thực chất Trăng sáng là vấn đề
chỗ đứng của nhà văn Nhà văn phải có trái tim biết yêu thơng, căm hờn manggiá trị nhân bản sâu sắc Sự giác ngộ ấy ở Nam Cao không phải từ t tởng, đờnglối mà nó đợc gạn lọc từ một trái tim đầy nhân hậu với những vấn đề của cuộcsống con ngời
Nam Cao là một nhân cách lớn, một con ngời chân thật, “trung thực vôngần” (lời Tô Hoài) Ông không bao giờ chịu uốn cong ngòi bút của mình,không thèm đếm xỉa đến cái sở thích, cái “thị hiếu tầm thờng của độc giả” (LêVăn Trơng) Ông viết thật lòng mình, viết với những điều mình cảm, mìnhnghĩ, mình phát hiện Ông có đủ bản lĩnh để đẩy đến tận cùng những tình cảmchân thật, những suy nghĩ, t tởng sâu sắc của mình Thái độ , tình cảm ấy đã
đem đến cho những tác phẩm của Nam Cao tính chân thật sâu sắc
Các nhà văn hiện thực lớn luôn có ý thức miêu tả ảnh hởng, tác độngcủa hoàn cảnh đối với tính cách của con ngời Đối với họ, hoàn cảnh xã hội,
môi trờng sống quyết định tính cách nhân vật Những truyện T cách mõ, Sao
lại thế này? của Nam Cao thể hiện rất rõ quan niệm này của nhà văn Trong
T cách mõ Nam Cao đã miêu tả quá trình anh Cu Lộ, từ một nông dân hiền
lành, chăm chỉ làm ăn trở thành một thằng mõ “đủ t cách mõ, chẳng chịu kémnhững anh mõ chính tông một tí gì: Cũng đê tiện, cũng lầy là, cũng tham ăn”
Lộ không cờ bạc, rợu chè, chăm chúi làm để nuôi vợ con Nghèo túng nhng
“bụng dạ anh ta khá’’, “ăn ở phân minh” Vậy mà bị dỗ ngon dỗ ngọt làm mõ,
bị mọi ngời tìm cách làm nhục, Lộ đã trở thành thằng mõ Qua trờng hợp cụthể của nhân vật Lộ, Nam Cao đã rút ra một nhận xét khái quát: “Thì ra lòng
Trang 31khinh trọng của chúng ta có ảnh hởng đến cái nhân cách của ngời khác nhiềulắm”.
Nếu nh T cách mõ viết về quá trình anh Cu Lộ từ một ngời nông dân
hiền lành, chăm chỉ trở thành một thằng mõ đê tiện thì truyện Sao lại thế này?
lại viết về sự đổi thay của một ngời phụ nữ từ một “ngời vợ nhà quê”, “mấtnết” thành bà Hng Phú với nhiều đức tính tốt đẹp Thông qua câu chuyện nàyNam Cao đã lên tiếng phê phán những thành kiến ngu ngốc, và nhất là nhấnmạnh tầm quan trọng của môi trờng, hoàn cảnh đối với việc hình thành tínhcách của con ngời Trong quan niệm của ông, “một cô gái giang hồ với mộtngời đàn bà lơng thiện không khác nhau là mấy Chỉ có những hoàn cảnhkhác Hoàn cảnh đổi, rất có thể là ngời đổi, tâm tính đổi” Sau này, trong tiểu
thuyết Sống mòn, Nam Cao tiếp tục khẳng định: “Thời thế đổi, lòng ngời đổi”.
Ông xem đó chính là một quan niệm mới về con ngời, về cuộc sống Nh vậy
qua việc miêu tả sự chuyển biến tính cách của Lộ (T cách mõ), của bà Hng Phú (Sao lại thế này?), Nam Cao đã thể hiện nhận thức sâu sắc, hoàn toàn tự
giác của mình về một quan điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện thực: Tính cáchcủa con ngời là do hoàn cảnh xã hội, môi trờng sống quyết định Đây cũng làmột đóng góp cơ bản của sáng tác Nam Cao nói riêng và chủ nghĩa hiện thựcnói chung
Xuất phát từ cái gốc nhân đạo sâu xa ấy, trong quan niệm nghệ thuật vềcon ngời, Nam Cao luôn ca ngợi nớc mắt Nớc mắt là biểu tợng của tình th-
ơng, lòng nhân đạo Nó là “miếng kính biến hình của vũ trụ” và “ngời ta chỉxấu xa h hỏng trớc đôi mắt ráo hoảnh của phờng ích kỷ” Mỗi khi nhân vậtcủa Nam Cao khóc là có một sự thay đổi lớn trong tâm hồn, biểu hiện sựthanh lọc của nhân cách
Nh vậy ở Nam Cao chúng ta thấy có sự kế thừa của các nhà văn lớp trớctrong quan niệm nghệ thuật về con ngời Đó là sự kế thừa quan niệm “con ng-
ời xã hội” của các nhà văn hiện thực phê phán đàn anh và quan niệm “con
ng-ời cá nhân” của văn học lãng mạn Nhìn một cách khái quát, ở Nam Cao quanniệm nghệ thuật về con ngời dựa trên hai tiêu chí:
Xuất phát từ chủ nghĩa nhân đạo để đa ra vấn đề tình thơng, nghiênghẳn về phía những con ngời bị xúc phạm về nhân phẩm, bị hủy hoại nhân tính,trở thành tha hóa Trong quan niệm nghệ thuật của mình, Nam Cao tiếp cậnvấn đề con ngời trên tinh thần “con ngời xã hội”
Trang 32Xuất phát từ chủ nghĩa nhân văn, Nam Cao đa ra kiểu con ngời hoànhảo Những con ngời luôn vơn lên để sống cuộc sống đúng nghĩa làm ngời, đ-
ợc phát huy tận độ mọi khả năng, khát vọng, hoài bão nhng bị rơi vào tìnhtrạng sống mòn không lối thoát Trên tinh thần này, Nam Cao tiếp cận con ng-
ời ở góc độ “con ngời cá nhân” Đây là một khám phá sáng tạo độc đáo về conngời của Nam Cao mà ở các cây bút cùng trào lu trớc đó không có
Nam Cao đã đa ra đợc một quan niệm nghệ thuật mới mẻ, đầy tình
th-ơng và niềm tin vào con ngời Điều đó đã đợc lý giải ở sự kế thừa “con ngời xãhội” của trào lu hiện thực, “con ngời cá nhân” của chủ nghĩa lãng mạn Nhngvấn đề không đơn thuần chỉ là sự kế thừa, mà có lẽ ở nhiều nguyên nhân khácnữa nh đặc điểm gia đình, t tởng nghệ thuật và rộng hơn là không khí lịch sửthời đại So với các nhà văn cùng thời nh Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, VũTrọng Phụng Riêng ở Nam Cao, lối viết mới hơn so với một số nhà văn đitheo con đờng truyền thống quen thuộc thì không thể không có ảnh hởng củaluồng t tởng dân chủ t sản tiến bộ: Những sáng tác của Balzac, L.Tônxtôi,
Đoxtoiepxki Tinh thần khoa học và triết học duy vật, phơng pháp miêu tảtheo chủ nghĩa khách quan, cách tân theo hớng nghệ thuật hiện đại của cáccây bút tiền bối Đó là một tiền đề quan trọng để Nam Cao có thể kế thừa cáinhìn về cuộc đời, con ngời trong sáng tác của mình Mặt khác, trong cái nhìnmới về cuộc đời và con ngời, ở Nam Cao còn phải tính đến sự ảnh hởng của
phong trào cách mạng quần chúng và ảnh hởng của Đảng với Đề cơng văn
hóa 1943 T tởng văn học của Đảng đã ít nhiều ảnh hởng tới vấn đề sáng tác
của Nam Cao Vì vậy một số tác phẩm ở giai đoạn cuối của Nam Cao nh Sống
mòn, Điếu văn đã thấy lóe lên những ánh sáng mới về sự đổi thay, về tơng lai
của con ngời
Tóm lại, với sự kế thừa quan niệm nghệ thuật về con ngời của các thế
hệ nhà văn đi trớc, chịu ít nhiều ảnh hởng của phong trào cách mạng quầnchúng, Đảng cộng sản và nhất là ý thức về trách nhiệm và lơng tri của ngờicầm bút, Nam Cao đã tạo lập đợc một quan niệm nghệ thuật mới mẻ, đầy tìnhthơng và niềm tin vào con ngời Ông là ngời phát ngôn đầy đủ và sâu sắc nhất
về đặc trng và nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực Đó là một đónggóp rất đáng trân trọng của ông đối với chủ nghĩa hiện thực trong văn học ViệtNam
1.2.3 Con ngời trong sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách mạng
Trang 33Với bút pháp hiện thực sâu sắc, Nam Cao đã đi vào miêu tả thế giới conngời với những cảnh nghèo đói khốn cùng của ngời nông dân cũng nh ngời tríthức tiểu t sản trớc cách mạng Con ngời trong tác phẩm của Nam Cao hiệnlên với nhiều vẻ khác nhau, đa dạng, sinh động Đặc biệt tác giả đã khắc họa
đợc hình ảnh các nhân vật từ ngoại hình đến tâm hồn mà nét chung nhất vẫn là
để khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của con ngời
Vào những năm ba mơi trở đi, xã hội Việt Nam có những biến động sâusắc trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa Vì vậy nhiều giá trị truyềnthống dân tộc đang đứng trớc sự lựa chọn mất còn Sự xâm nhập của một cơcấu kinh tế xã hội mới ít nhiều mang màu sắc hiện đại t sản Phơng Tây đã tác
động mạnh mẽ làm biến chuyển nhiều cuộc đời, nhiều số phận c dân nôngnghiệp Trong đó vấn đề con ngời bị xúc phạm về nhân phẩm, bị đẩy vào tìnhtrạng tha hóa, lu manh hóa là một hiện tợng có tính quy luật phổ quát
Viết về đề tài ngời nông dân, một điều dễ nhận thấy ở Nam Cao là nỗibăn khoăn day dứt của ông về vấn đề nhân phẩm và thái độ khinh trọng đốivới con ngời Điều đó xuất phát từ một ý thức sâu sắc, một niềm khát khaocháy bỏng là con ngời đợc sống lơng thiện Hơn ai hết, Nam Cao đã thấu hiểumột cách sâu sắc những nỗi khổ cực cay đắng của ngời nông dân trong xã hội
cũ Do đó, bên cạnh việc quan tâm đến những con ngời bị đè nén áp bức,những số phận hẩm hiu, bất hạnh, Nam Cao đặc biệt chú ý tới những ngời bịngợc đãi, bị lăng nhục một cách bất công Trong một số tác phẩm, Nam Cao
đã trực diện đặt ra vấn đề này và ông luôn đứng ra bênh vực bảo vệ, minh oancho những con ngời bị miệt thị, bị khinh bỉ, bị lăng nhục một cách đáng th-
ơng
Nhân vật Lộ trong truyện ngắn T cách mõ là một trờng hợp nh thế Một
con ngời hiền lành, tốt bụng, chăm chỉ Anh đợc quyền sống bình thờng nhnhững ngời khác Nhng chỉ vì là một thằng mõ - hèn hạ, thấp kém trong conmắt đố kị, khinh ghét của những ngời xung quanh mà anh phải sống trong biếtbao cay đắng, tủi nhục Anh bị đồng loại đối xử thật tàn tệ: Bị gọi bằng thằng,không ai thèm bắt chuyện, không đợc ngồi ăn cùng mọi ngời Và nh vậy họ
đã cố tình coi anh không phải là một thành viên trong cộng đồng - không đ ợccoi là một con ngời
Còn với bà lão trong Một bữa no chỉ vì quá đói, cùng đờng quẫn bách
nên bà lão phải tính đến việc đi xin ăn Ngòi bút Nam Cao cứ lặng lẽ phơi lên
Trang 34trang giấy cái mặt đời nhỏ nhoi mà từ đó hiện thực tàn khốc của cuộc sốnghiện ra đậm nét hơn, nhng cũng chua xót hơn Một bữa xin ăn đối với một bàlão khi đã già nua, không nơi nơng tựa thì thật chẳng có gì đáng nói Cái daydứt lòng ngời ở đây là thái độ nhục mạ con ngời vì cái đói dồn đẩy đến cùng
đờng Bữa cơm mà bà lão đợc cho chẳng khác gì bữa ăn ngời ta cho một loàivật ăn vậy Chúng ta từng chứng kiến nỗi khốn cùng của mẹ con chị Dậu trong
Tắt đèn của Ngô Tất Tố phải ăn cháo loãng, ăn cả rễ khoai nhng họ vẫn còn
đợc cọi là con ngời Còn nhân vật bà lão, cái đói đã đẩy bà lão vào tình cảnh
đợc Bởi cách đối xử của bà Cựu và cô Đính chủ nhà Họ cấm đoán cả niềmvui nhỏ bé của con ngời khốn khổ tội nghiệp ấy là đợc ngồi với họ, nghe họnói cời, đợc góp với họ vài câu nói Đến cả sự chia sẻ, săn sóc ân cần của mụLợi cũng bị coi là dị thờng trớc sự ngạc nhiên, tò mò cao độ của bà chủ và côchủ Trong quan niệm của họ đó là thứ tình cảm chỉ dành cho ngời bình thờngchứ không bao giờ dành cho những kẻ nửa ngời, nửa ngợm nh ông Lang Rận
và mụ Lợi Họ “dò la, dình chực ” coi đó là một trò vui đùa, giải trí Và cáikết thúc bi thảm xẩy ra - Lang Rận treo cổ tự tử
Miêu tả cặn kẽ cuộc sống đáng thơng của những con ngời khốn khổ,Nam Cao đã bộc lộ tấm lòng của một con ngời đau đời và thơng đời da diết.Nam Cao yêu thơng những con ngời bị cuộc sống đày đọa, bị đẩy vào cảnhkhốn cùng không đạt đợc gì trong cuộc đời, không đủ điều kiện để phát huynhững khả năng u việt của mình Với ngòi bút sắc sảo và trái tim đầy yêu th-
ơng của mình, Nam Cao đã nhìn thẳng vào hiện thực và phản ánh chân thựchiện thực Từ những cái vặt vãnh trong đời sống hàng ngày, Nam Cao đã đặt
ra vấn đề con ngời và quyền sống của con ngời Cái bề ngoài nhếch nhác của
Lang Rận, sự dở hơi của mụ Lợi (Lang Rận), sự đói nghèo cùng quẫn của bà cái Tý (Một bữa no), của Lộ (T cách mõ), không thể là nguyên cớ để lăng
nhục họ Nh mọi ngời, họ có quyền đợc sống, đợc tôn trọng, có quyền yêu
Trang 35th-ơng, có quyền hạnh phúc Ta thấy trong cái nhìn của Nam Cao dờng nh ở đời,tình thơng, lòng cảm thông và sự trân trọng nhân phẩm con ngời là điều quantrọng hơn tất cả Đó là cái nhìn của một nhà văn hiện thực xuất sắc, đồng thời
là một nhà nhân đạo lớn
Tình trạng đen tối, đói nghèo, tù túng của xã hội Việt Nam trớc cáchmạng là căn nguyên của sự hủy hoại nhân tính, biến chất tâm hồn và dẫn đếntình trạng tha hóa Đề cập tới vấn đề này, dới cây bút của Ngô Tất Tố, NguyễnCông Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng đời sống của những ngời dânlàng quê, lớp dân nghèo thành phố đọng lại chân thực, sinh động, qua đó tốcáo tội ác của chế độ xã hội cũ Nam Cao cũng khai thác lại đề tài đó trênnhững cơn xoáy lốc mới của một thời kỳ lịch sử đen tối, nặng nề, kiếp sốngcon ngời đau khổ phũ phàng hơn
Hoàn cảnh đã làm nảy sinh bao tấn bi kịch và những kiểu ngời mới lạ
Điển hình là con ngời bị đẩy vào tình trạng tha hóa với các mức độ khác nhau
Từ chỗ họ là nạn nhân của xã hội, họ dần trở thành những kẻ gây tội tình chomọi ngời, cho dân làng và trớc hết cho gia đình mình Miêu tả loại nhân vậtnày, Nam Cao dã thật khách quan lột tả chân xác những mẫu ngời đang thahóa, biến chất Đó là những kẻ say từ cơn này sang cơn khác, những kẻ thâu
đêm châu bên canh bạc để rồi tan nát cửa nhà Nam Cao đã dựng lên hàngloạt kiểu ngời này từ lúc chúng bắt đầu trợt dốc cho đến khi hoàn toàn h hỏng
Điều đó góp phần chứng minh cho một quy luật khá phổ biến: Chế độ thựcdân phong kiến dang xô đẩy hàng loạt những ngời nông dân đến chỗ kiệt quệ
để rơi vào cảnh cùng đờng liều lĩnh Trong cái xã hội ấy, con đờng dẫn đến tộilỗi luôn đợc mở rộng và thuận chiều Và ngợc lại, chế độ thống trị luôn chặn
đứng mọi con đờng trở lại lơng thiện của con ngời
Hàng loạt các nhân vật nh: Thai (Làm tổ), bà cái Tý (Một bữa no), ngời cha - hắn (Trẻ con không đợc ăn thịt chó), bà ngoại Ngạn (Nhìn ngời ta sung
sớng) họ đều là những con ngời một đời lam lũ, quanh năm sớm tối gắn với
mảnh đất đồng ruộng T tởng tình cảm của họ bị giam hãm trong lũy tre làngmuôn thuở Họ cha bao giờ có một điều gì tính toán xa hơn, vợt ra khỏi cái
làng của họ dù là mơ ớc Nhân vật ngời cha trong Trẻ con không đợc ăn thịt
chó chỉ suy nghĩ quẩn quanh đến bữa rợu có món “rợu mận” không làm sao
mà ngóc đầu lên đợc và để cho sự thèm khát hủy hoại nhân tính con ngời Anh
cu Lộ chỉ vì để gia đình đỡ nghèo túng, để đối chọi với mọi ngời xung quanh,
Trang 36anh đã không thể không nghĩ đến một cái gì hơn là càng trâng tráo, càng thamlam, đê tiện để dân làng nhìn vào đó mà tức tối Tóm lại, đó là những con ngờicủa t tởng làng xã, hoặc vì miếng ăn, hoặc vì sự ghen ghét, đố kị hay bị ghẻlạnh mà cuộc đời họ bị xoáy vào cơn lốc của sự tha hóa.
Bằng cảm hứng phân tích, phê phán và bút pháp miêu tả độc đáo NamCao đã phát hiện ra một quá trình có tính quy luật của xã hội thực dân nửaphong kiến Việt Nam những năm trớc 1945 Đó là quá trình con ngời bị thahóa đến độ cao nhất của nó là lu manh hóa Các hình tợng nhân vật Chí Phèo,
Năm Thọ, Binh Chức trong tác phẩm Chí Phèo, nhân vật Thiên Lôi và Đức trong Nửa đêm là những nhân vật nh thế Sự biến đổi đó là một qúa trình có
tính quy luật, nh một vòng luân hồi nghiệt ngã đối với số phận con ngời trongxã hội thực dân phong kiến Chỉ trong một cái làng Vũ Đại nhỏ bé, hết NămThọ lại đến Binh Chức Binh Chức chết đi lại nảy ra Chí Phèo Kẻ sau dữ dằnhơn kẻ trớc, biến dạng đến cái mức cuối cùng là ngời thành quỷ dữ Chí Phèochết đi, Thị Nở “nhìn nhanh xuống bụng Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra
một cái lò gạch cũ không xa nhà cửa vắng ngời qua lại” (Chí Phèo) Tình tiết
nghệ thuật đầy ám ảnh ấy nh báo hiệu lại một vòng đời Chí Phèo xuất hiện, lạimột quá trình ngời bị biến đổi thành quỷ dữ nữa tiếp diễn Thằng Thiên lôichết đi lại xuất hiện thế hệ con thằng Thiên lôi cũng giết ngời không ghê tay
và mang theo cái nỗi ám ảnh truyền kiếp về thằng Thiên lôi “đâm lòi bụngvợ”
Xây dựng những nhân vật tha hóa, lu manh hóa, tác phẩm của Nam Cao
đã cất lên đợc một tiếng nói riêng Ông không chỉ nhìn thấy sức mạnh của conngời chống lại sự tha hóa, mà ở chiều sâu ý thức nghệ thuật, ông thấy con ngời
là nạn nhân của hoàn cảnh Đôi khi họ chỉ nh những cánh bèo lênh đênh trênmặt nớc, số phận cuộc đời, những suy t trăn trở của họ tiếc thay đã bị sợi dâyvô hình của ngoại cảnh chi phối Nam Cao đã phân tích, mổ xẻ đến độ thấu
đáo triệt để của vấn đề tha hóa Trong cái nhìn nghệ thuật của Nam Cao, sựtha hóa, lu manh hóa ấy là kết quả tất yếu của một hoàn cảnh lịch sử nhất
định, và đồng thời nó lại là sản phẩm dĩ nhiên thuộc về phần con ngời trongcon ngời
Sáng tác của Nam Cao thể hiện sâu sắc thái độ trân trọng và đề cao conngời Ông luôn quan tâm tới vấn đề sống chết của con ngời Với Nam Cao,sống là phải có tình yêu thơng đồng loại, phải có nhân cách, biết tự trọng, phải
Trang 37có lý tởng và có văn hóa cao Còn một cuộc sống đời thừa, với ông đồng nghĩavới cuộc sống chết khi đang sống, sống mòn hoặc chết mòn.
Qua những nhân vật trí thức tâm huyết của mình, những Điền, những
Hộ, những Thứ Nam Cao thể hiện một niềm khao khát một lẽ sống, khao
khát một cuộc sống sâu sắc, mãnh liệt có ích và có ý nghĩa Truyện ngắn Đời
thừa, nhân vật chính là Hộ - một văn sỹ nghèo với khát khao đợc sống mạnh
mẽ, sâu sắc, vợt lên trên cái bằng phẳng tầm thờng của cuộc sống mòn mỏi,
đơn điệu, vô vị
Nhân vật Điền trong truyện ngắn Nớc mắt, coi tình thơng là lẽ sống đời
mình Anh có khát vọng sống với tấm lòng yêu thơng mọi ngời: “Hắn thơng
vợ, thơng con, thơng tất cả ngững ngời phải khổ đau Lòng hắn tha thiết muốnvơn ra dể ấp ôm lấy mọi ngời”
Hơn hai trăm trang tiểu thuyết Sống mòn là nỗi ám ảnh da diết một cuộc
sống bế tắc quẩn quanh nh bị ngng đọng, là cuộc sống của những con ngời
“chết ngay trong lúc sống” Toàn bộ thế giới nhân vật trong đó là một nhânloại “sống mòn” San, Oang hay Thứ, thằng Mô, ông Học, tất cả đều là nhữngdạng “sống mòn”, chết mòn khác nhau mà thôi Nhân vật mang ý nghĩa kháiquát và sâu sắc nhất là Thứ Cũng nh nhiều nhân vật trí thức tiểu t sản nghèokhác, Thứ cũng đã một thời náo nức với những mộng ớc cao xa Nhng saunhững va chạm với thực tế cuộc sống, Thứ từng bớc nhợng bộ và bắt đầu củatấn bi kịch “chết mòn” về tinh thần
Viết về ngời trí thức tiểu t sản nghèo, Nam Cao đã mạnh dạn phân tích
và mổ xẻ tất cả Ngòi bút của ông đã đi đến tận cùng những ngóc ngháchtrong tâm hồn và suy nghĩ của một lớp ngời, và qua lớp ngời đó thể hiện sự bếtắc cùng quẫn của một xã hội Ngòi bút của Nam Cao đã xé toang lớp vỏ hàonhoáng bên ngoài của con ngời tiểu t sản để đi vào những vấn đề thực chất bêntrong Ông không rơi vào lối tô vẽ, thi vị hóa họ nh một số nhà văn lãng mạn
đơng thời, cũng không cực đoan, phiến diện nh Vũ Trọng Phụng Với quanniệm rất riêng của mình về ngời trí thức tiểu t sản nghèo trong cuộc sống đentối ngột ngạt đó, Nam Cao đã xây dựng nên những con ngời với biết bao lý t-ởng, hoài bão tốt đẹp nhng bị chật vật điêu đứng, tầm thờng đi bởi miếng cơmmanh áo ở đó, dới cái vẻ bề ngoài bất công, gần nh là dậm chân tại chỗ.Nhân vật của Nam Cao sống, hành động dằn vặt, lo âu quằn quại trong bế tắc
và tuyệt vọng Thực tế cứ bào mòn dần đi những lý tởng trong sáng buổi đầu
Trang 38Nh vậy, với tầm khái quát cao độ và cách nhìn hiện thực sâu sắc, conngời trong sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách mạng là con ngời “tha hóa”,con ngời “sống mòn” Từ những ngời nông dân sống quẩn quanh bế tắc trong
“kiếp lầm than” đến những ngời trí thức mòn mỏi trong kiếp “đời thừa”, tất cảtạo nên một quan niệm độc đáo, chua chát và vô cùng đau đớn của Nam Cao,thể hiện sâu sắc bản chất của một chế độ xã hội bất công, luôn đầy đọa vàgiam hãm con ngời trong nghèo đói, hủy hoại cuộc sống bình thờng cùng vớinhững ớc mơ chân chính của con ngời
Chơng 2 Những giọt nớc mắt trong thế giới nghệ thuật của
sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc cách mạng
2.1. Thế giới nghệ thuật trong sáng tác Nam Cao thời kỳ trớc Cách
mạng (Tổng quan)
2.2.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật
Theo từ điển thuật ngữ văn học: “Thế gới nghệ thuật nhấn mạnh rằngsáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng đợc sáng tạo ra theo các nguyên tắc ttởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con ngời, mặc
dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời
Trang 39gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, có quan niệm
đạo đức, thang bậc giá trị riêng chỉ xuất hiện một cách có ớc lệ trong sángtác nghệ thuật” [26, 251]
2.2.2 Thế giới nghệ thuật trong sáng tác Nam Cao
Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao đợc tạo nên trớc hếtbởi t tởng nghệ thuật độc đáo của nhà văn Dới ánh sáng của t tởng sáng tạochủ đạo này, một thế giới (bao hàm con ngời, không gian, thời gian, muôn vật,mọi sự ) đợc tổ chức lại theo cách riêng của Nam Cao Có thể nói đến từngthế giới nghệ thuật trong từng tác phẩm, từng thể loại Khái niệm thế giớinghệ thuật trong sáng tác Nam Cao chúng tôi dùng ở đây vừa là từng thế giớivừa bao hàm tất cả các thế giới ấy Có thể nói, mỗi tác phẩm của Nam Cao làmột tiếng kêu cứu trớc tình trạng con ngời bị đẩy đến chỗ phải hủy diệt cảdiện mạo lẫn tinh thần, không đợc sống với hai chữ Con Ngời Theo Nam Cao,con ngời sống trớc hết phải có văn hóa, phải có lòng nhân đạo, tình yêu thơng
T tởng cũng nh phong cách nghệ thuật của một nhà văn bao giờ cũngthế, vừa có tính thống nhất vừa phong phú đa dạng ở Nam Cao cũng vậy, t t-ởng nghệ thuật của ông tập trung vào phát triển đầy đủ nhất ở các sáng tácthời kỳ trớc Cách mạng tháng Tám T tởng ấy soi sáng toàn bộ thế giới nghệthuật của Nam Cao nhng ở mỗi tác phẩm cụ thể lại biểu hiện những vấn đềkhác nhau Sự khác nhau đó tạo nên thế giới nghệ thuật của Nam Cao không
đơn điệu mà nhiều màu sắc Dù viết về nông dân hay trí thức, điều mà NamCao lu tâm nhất đó là số phận, là kiếp sống của những con ngời
Là một trí thức tiểu t sản Nam Cao đã trải qua nhiều cảnh ngộ, đã ýthức, đã vật lộn để vơn tới một cuộc sống tốt đẹp nh các nhân vật của mình
Và cũng nh họ Nam Cao từng là nạn nhân của một hoàn cảnh, một môi trờngkhắc nghiệt Cuộc đấu tranh cho khát vọng hớng thiện đó đã tạo nên bi kịch
“tự ý thức” (Đinh Trí Dũng) trong hầu hết các nhân vật trí thức nghèo củaNam Cao Đây là một nét độc đáo của Nam Cao khi viết về ngời trí thứcnghèo và cũng là một trong những khía cạnh cơ bản của chủ nghĩa nhân đạoNam Cao
Bi kịch này bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa hoàn cảnh thực tại và khátvọng mà con ngời muốn vơn tới Ngời trí thức của Nam Cao trong nhiều trờnghợp bị hoàn cảnh chi phối, thậm chí tàn phá một cách nghiệt ngã nhng khôngbao giờ là nạn nhân của hoàn cảnh Trong vùng lầy của xã hội cũ ngời trí thức
Trang 40của Nam Cao chỉ có vũ khí tinh thần - tự ý thức để chống lại sự tha hóa, bảo
vệ lấy phẩm chất tốt đẹp của con ngời Cuộc đấu tranh vơn tới lẽ sống nhân
đạo ở các nhân vật trí thức của Nam Cao không có đổ máu, hy sinh nhngkhông phải không có nhiều mất mát, bi kịch Mất đi những thói quen tầm th-ờng, mất đi những sở thích, mộng ớc cá nhân , nhiều nhân vật trí thức củaNam Cao đã đổ không ít nớc mắt trong những cuộc đấu tranh dai dẳng, quyếtliệt ấy
Nam Cao không có ý đồ dựng lên những bức tranh xã hội rộng lớn vớimột thế giới nhân vật đông đảo, trong đó nhân vật chính thờng có những dụcvọng mãnh liệt, đồng thời là trung tâm của những mối quan hệ phức tạp.Trong những tác phẩm viết về đề tài nông dân của Nam Cao không vang lênnhững tiếng trống thúc su, dồn thuế, cũng không miêu tả trực tiếp những cảnhtranh ruộng cớp đất nhng vẫn phản ánh chân thật, sâu sắc tình trạng khốncùng của ngời nông dân Việt Nam trên con đờng phá sản, bần cùng hóa,không lối thoát Nam Cao đã phản ánh trong những tác phẩm của mình sốphận đáng thơng, cùng cực của ngời nông dân nghèo khổ Đó là những conngời sống quẩn quanh, bế tắc trong những “kiếp lầm than” Khác với NguyễnCông Hoan, Ngô Tất Tố, trong sáng tác của mình Nam Cao đã dựng lên mộtnông thôn nghèo đói, xơ xác, hoang vắng, heo hút, trong đó, ngời nông dânqua cuộc sống hàng ngày của họ có một số phận hết sức bi thảm Những gia
đình nông dân, không nhà nào yên ấm; nhà nào cũng tan tác, chia lìa Bấthạnh gõ cửa từng nhà Sự nghèo đói đã lam tan tác những gia đình Ngời phảingợc lên rừng kiếm ăn, kẻ phải bỏ quê hơng xứ sở vào làm phu ở Nam Kỳ,chạy đến cùng trời cũng không sao thoát khỏi cái nghèo, cái đói, cái chết vànớc mắt
Thời gian và không gian trong sáng tác của Nam Cao cũng nh mọi hiệntợng của thế giới khách quan, khi đi vào nghệ thuật đợc soi rọi bằng nhữngtình cảm, đợc nhào nặn và tái tạo trở thành một hiện tợng nghệ thuật độc đáothấm đẫm cá tính sáng tạo của nhà văn Cảm quan về thời gian và không giangắn liền với cảm quan về con ngời và cuộc đời, gắn bó với mơ ớc và lý tởngcủa nhà văn
Một trong những nét đặc sắc của thời gian nghệ thuật trong sáng tác củaNam Cao là đã tạo ra một kiểu thời gian hiện thực hàng ngày, trong đó cácnhân vật của ông dờng nh bị giam hãm tù túng, luẩn quẩn trong những lo âu