1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò trí thức cách mạng sài gòn gia định trong công cuộc kháng chiến chống pháp (1946 1954)

149 1,6K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò trí thức cách mạng Sài Gòn - Gia Định trong công cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954)
Tác giả Nguyễn Thị Kim Nga
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Thức
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 757,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGUYỄN THỊ KIM NGA VAI TRÒ TRÍ THỨC CÁCH MẠNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH TRONG CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP 1946 - 1954 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ KIM NGA

VAI TRÒ TRÍ THỨC CÁCH MẠNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH TRONG CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN

CHỐNG PHÁP

(1946 - 1954)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

TP HỒ CHÍ MINH, 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ KIM NGA

TS TRẦN VĂN THỨC

Tp Hồ Chí Minh, 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập, nghiêm túc của riêng tôi Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã kế thừa thành quả khoa học của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và đồng nghiệp với sự tôn trọng và biết ơn Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trên bất kỳ công trình nào.

TP Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 9 năm 2012

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ KIM NGA

Trang 4

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo - Người hướng dẫn khoa học - TS Trần Văn Thức đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn

tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Cao học.

Xin chân thành cảm ơn Thành ủy và các cơ quan ban ngành, các nhân sĩ trí thức ở Tp Hồ chí Minh, và các địa phương đã giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình sưu tầm tư liệu để hoàn thành luận văn.

Xin chân thành cảm ơn khoa Lịch sử, phòng Sau Đại học, trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong học tập và hoàn thành luận văn Thạc sỹ.

Cho phép tôi được bày tỏ sự tri ân quý lãnh đạo, đồng nghiệp tại trường học nơi tôi công tác, đã quan tâm và tạo điều kiện cho tôi trong suốt khóa học.

Xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, chia

sẻ để tôi yên tâm học tập và hoàn thành khóa học này

TP Hồ Chí Minh, ngày 17/9/2012

Tác giả

NGUYỄN THỊ KIM NGA

Trang 5

UBKCHC: Ủy ban Kháng chiến Hành chính UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục từ viết tắt

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 8

6 Những đóng góp của luận văn 9

7 Kết cấu của luận văn 10

CHƯƠNG 1: TRÍ THỨC CÁCH MẠNG SÀI GÒN – GIA ĐỊNH VÀ BỐI CẢNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1946-1954 11

1.1 Trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định 11

1.1.1 Khái quát về trí thức và trí thức cách mạng Việt Nam 11

1.1.2 Trí thức cách mạng Sài Gòn - Gia Định 18

1.2 Bối cảnh lịch sử cách mạng Việt Nam giai đoạn 1946-195417 21

1.2.1 Trí thức và phong trào đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc trước 1945 21

1.2.2 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam sau CMT8-1945 25

CHƯƠNG 2: TRÍ THỨC CÁCH MẠNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH TRONG CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1954) 31 2.1 trong xây dựng chính quyền và đấu tranh chính trị 31

2.1.1 Tham gia xây dựng chính quyền cách mạng 31

2.1.2 Tham gia xây dựng tổ chức MTDTTN 36

2.1.3 Tham gia phong trào đấu tranh chính trị 41

Trang 7

2.2 Trong xây dựng nền kinh tế 49

2.2.1 Khắc phục những khó khăn tài chính 49

2.2.2 Xây dựng nền kinh tế kháng chiến 53

2.2.3 Phong trào sản xuất và cải cách ruộng đất 55

2.3 Trong văn hóa – giáo dục và y tế 56

2.3.1 Văn hóa 56

2.3.2 Đấu tranh trên mặt trận báo chí 62

2.3.3 Giáo dục 68

2.3.4 Y tế 76

2.4 Trong đấu tranh quân sự 79

2.5 Trên mặt trận ngoại giao 90

CHƯƠNG 3:TẦM QUAN TRỌNG CỦA TRÍ THỨC CÁCH MẠNG SÀI GÒN – GIA ĐỊNH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG TRÍ THỨC TRONG CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1954) 99

3.1 Tầm quan trọng của trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định trong công cuộc kháng chiến chống Pháp 99

3.2 Những bài học kinh nghiệm về chính sách thu hút và sử dụng trí thức trong công cuộc kháng chiến chống Pháp 104

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 8

1 Lý do chọn đề tài

Theo dòng lịch sử, mỗi bước tiến của đời sống xã hội ngày càng cho thấy trí tuệ - trí thức là tài nguyên quí giá nhất trong mọi tài nguyên của các quốc gia Trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, tầm quan trọng của nhân tài đối với việc hưng thịnh của quốc gia đã được khẳng định

và đề cao qua từng thời kỳ lịch sử Trong bài ký đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất năm 1442, Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung, một vị quan nổi tiếng

dưới triều vua Lê Thánh Tông, đã ghi rằng: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia,

nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp…” [57]

Trong mọi thời đại, trí thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân sĩ, trí thức Việt Nam luôn giữ vai trò quan trọng và có những đóng góp xứng đáng cho đất nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau Nhiều thế hệ trí thức Việt Nam trở thành những nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà quân sự, nhà sáng chế, nhà khoa học lỗi lạc, nhà cải cách, nhà lý luận, nhà văn, nhà thơ, Họ luôn gắn mình với tiến trình đấu tranh giữ gìn độc lập, phát triển văn hoá, hun đúc những truyền thống dân tộc, không chỉ cống hiến mưu lược cùng toàn dân tộc chiến thắng kẻ thù xâm lược mà còn đóng góp tài trí vào công cuộc xây dựng đất nước trong thời bình

Thực tiễn dựng nước và giữa nước của dân tộc Việt Nam đã và đang khẳng định vai trò quan trọng của tầng lớp trí thức qua các giai đoạn lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, luôn coi trọng đội ngũ trí thức là động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của dân

tộc “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc Ở nước khác như thế, ở Việt

Nam càng như thế Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”[31, tr.156]

Trang 9

Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, rất nhiều trí thức đã có những đóng góp công sức và tài trí cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc, làm nên những thành công trên nhiều lĩnh vực như quân sự, y tế, văn hóa, giáo dục “ Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều” Tại Đại hội VII (1991) Đảng nhận định vai trò của trí thức:

"Trong cách mạng dân tộc dân chủ, vai trò của giới trí thức đã quan trọng, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội vai trò của trí thức càng quan trọng hơn Giai cấp công nhân nếu không có đội ngũ trí thức của mình và bản thân công - nông không được nâng cao kiến thức, không dần dần được trí thức hóa thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội"[12]

Ngày nay, cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, giá trị của tri thức, vai trò của đội ngũ trí thức càng được đề cao, như là nguồn lực quan trọng đặc biệt, phản ánh sức mạnh của mỗi quốc gia Hơn thế, đó là một xu thế tất yếu mang tính thời đại, của một đất nước đang bước vào thời

kỳ xây dựng, phát triển kinh tế tri thức và xã hội thông tin Trên tất cả các bình diện, có thể thấy rằng, việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức không chỉ bảo đảm nguồn lực con người cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà nó còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong toàn bộ chiến lược xây dựng và phát triển đất nước

Trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, "Trí thức là đại diện cho trí tuệ của dân tộc"[35, tr.232] Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nó đặt ra yêu cầu phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng đội ngũ trí thức, là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị Nghị quyết Hội nghị BCHTƯ lần thứ 7 (khóa X), về “xây dựng cơ chế, chính sách mới nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng của đội

Trang 10

ngũ trí thức hiện có, vừa xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ trí thức đến năm 2020”, đã nêu lên lưu ý đến vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức đi liền với việc mạnh dạn sử dụng và phát huy tiềm lực trí thức Mục tiêu đến năm 2020,

là xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, từng bước tiến lên ngang với trình độ của trí thức thế giới

Chính vì vậy, nghiên cứu về trí thức là nghiên cứu một đối tượng đặc thù trong cơ cấu xã hội gắn liền với những phương thức lao động, bản chất xã hội

và những đặc điểm hình thành, phát triển của trí thức như một cá thể - chủ thể mang nhân cách sáng tạo, như một tầng lớp, một nhóm xã hội - nghề nghiệp

và như một cộng đồng trong quan hệ với xã hội và nhà nước, với dân tộc và giai cấp, với truyền thống và hiện đại

Trong lịch sử hình thành và đấu tranh của trí thức Việt Nam, trí thức Nam bộ nói chung và trí thức Sài Gòn – Gia Định nói riêng có một vị thế và vai trò quan trọng, đặc biệt được thể hiện qua chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Với những đóng góp quan trọng, cơ bản và mang tính quyết định trên nhiều lĩnh vực như xây dựng chính quyền, xây dựng lực lượng, quân sự, y tế, văn hóa, giáo dục và đối ngoại, lực lượng trí thức Sài Gòn – Gia Định trở thành một bộ phận không thể tách rời khỏi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Những đóng góp của họ là vô cùng lớn lao, để lại nhiều bài học quý báu Chính vì vậy, việc tìm hiểu vai trò của đội ngũ trí thức Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Pháp sẽ làm cơ sở cho sự tiếp bước của đội ngũ trí thức trong giai đoạn mới, đáp ứng những yêu cầu đặt ra của đất nước và thời đại, thực hiện mục tiêu phát triển

Thực hiện đề tài, một mặt góp phần tìm hiểu và đánh giá những đóng góp của trí thức cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp trên tất cả các mặt chính trị - xã hội, đưa tới thắng lợi cuối cùng của quân và dân ta; đồng thời, hình thành luận cứ để Đảng và Nhà nước nhìn nhận, đánh giá đúng vai

Trang 11

trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước hiện nay Nghiên cứu sẽ góp thêm một cái nhìn về vai trò của trí thức trong lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc giai đoạn 1946-1954, làm cơ sở cho việc đánh giá, đề xuất những hướng phát triển chiến lược về tri thức trong

giai đoạn mới Hơn nữa, “ôn cố tri tân”, đề tài mong muốn góp phần giáo dục

truyền thống, tinh thần đấu tranh cách mạng của cha ông cho thế hệ trẻ, về lòng tự hào đối với truyền thống đấu tranh của đồng bào và nhân sĩ trí thức

Đó là những lý do để chúng tôi chọn vấn đề “Vai trò trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định trong công cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954)”

làm luận văn Thạc sĩ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Kể từ khi đất nước giành được độc lập năm 1945 đến nay, ở nước ta đã

có nhiều công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam nói chung và trí thức cách mạng nói riêng

Từ khi Hồ Chủ tịch viết “Thư gửi anh em văn hóa và trí thức Nam bộ” ngày 25-5-1947, với những căn dặn: Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến

để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc Vấn đề trí thức đã được dẫn đề cập ngày một nhiều hơn trong các văn kiện, công trình nghiên cứu

Năm 1958, Đảng Lao động Việt Nam xuất bản cuốn “Chính sách của

Đảng Lao động Việt Nam đối với trí thức”, bàn đến những chính sách đối với

trí thức cách mạng Trong tác phẩm này Hồ Chí Minh - lãnh tụ của Đảng Lao Động Việt Nam đã có nhiều bài viết, bài nói nêu cao vai trò của trí thức trong

sự nghiệp cách mạng Gần hai mươi năm sau (năm 1976), nhà xuất bản Sự

Thật đã tập hợp, bổ sung và xuất bản với nhan đề “Về vấn đề trí thức và cách

mạng”

Trang 12

Năm 1960, Đảng Xã hội Việt Nam xuất bản tác phẩm “Ký ức và cảm

nghĩ”, mặc dù chỉ là một tập hợp các bài nhật ký, ký ức, hồi ký, nhưng đã

phản ánh được những suy nghĩ và tư tưởng của trí thức Việt Nam trong những chặng đường tham gia hoạt động kháng chiến chống Pháp

Bên cạnh những công trình nghiên cứu, các tác phẩm viết về trí thức mang tính chất khảo tả, về vai trò, cuộc đời sự nghiệp của trí thức Việt Nam cũng được xuất bản dưới hình thức hồi ký Một trong số những hồi ký, hồi ức

lịch sử tiêu biểu có thể kể đến như: Quê hương và Cách mạng của Hoàng Anh xuất bản năm 1990; Đường vào khoa học của tôi của Giáo sư Tôn Thất Tùng, xuất bản năm 2000; Người lính già Đặng Văn Việt chiến sĩ đường số 4 anh

dũng, xuất bản năm 2001; Nhớ lại một thời, xuất bản năm 2002; Nhớ nghĩ chiều hôm, Đào Duy Anh xuất bản năm 2003; Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, của Phạm Khắc Hòe, xuất bản năm 2007 Các hồi ký trên đã đề

cập đến những hoạt động của trí thức cách mạng nói chung và Nam bộ nói riêng (Sài Gòn – Gia Định) tham gia cuộc kháng chiến, kiến quốc 1945 - 1954

Những năm gần đây có rất nhiều tác giả đã dày công nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu về trí thức cách mạng Việt Nam trong lịch sử kháng chiến chống

Pháp và chống Mỹ Tiêu biểu có các giả Hàm Châu với tác phẩm Người trí

thức quê hương, xuất bản năm 2000 và 2005; Nguyễn Văn Khánh với tác

phẩm Một số vấn đề về trí thức Việt nam, xuất bản năm 2001 và Trí thức với

Đảng, Đảng với trí thức trong sự nghiệp giải phóng đất nước xuất bản năm

2004; Trọn đời đi theo Bác của Nguyễn Thanh Sơn (NXB Trẻ, 2005), Hầu hết các tác phẩm đều đề cập những vấn đề liên quan điến trí thức cách mạng trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp phần nào góp phần vào việc tìm hiểu vai trò trí thức cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp

Bên cạnh đó là những công trình nghiên cứu về những cá nhân cụ thể

như: Tôn Thất Tùng - cuộc đời và sự nghiệp, xuất bản năm 1997; Hồ Đắc Di -

Trang 13

cuộc đời và sự nghiệp, xuất bản năm 1999; Đặng Văn Ngữ - cuộc đời và sự nghiệp, xuất bản năm 2000; Tố Hữu người cộng sản kiên trung nhà văn hóa tài năng, xuất bản năm 2004; Nguyễn Khánh Toàn - năm tháng cuộc đời, xuất

bản năm 2005 Trong đó, đáng lưu ý nhất là hai tác phẩm Bác Hồ với nhân sĩ

trí thức, của tác giả Trần Đương xuất bản năm 2005 và cuốn Những người trong Hoàng tộc nhà Nguyễn đi theo cụ Hồ của Nguyễn Văn Khoan chủ biên

xuất bản năm 2010, đã tập hợp những bài viết về các nhà trí thức Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1954 Ngoài việc tập hợp khá đầy đủ các trí thức giai đoạn này, tác phẩm đã khắc họa một cách đầy đủ và nổi bật chân dung các nhà trí thức từ những đóng góp của họ trên nhiều lĩnh vực khác nhau, qua đó đánh giá vai trò của tầng lớp này đối với những thắng lợi của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và xây dựng đất nước

Bàn về trí thức Nam Bộ nói chung và Sài Gòn – Gia Định nói riêng, tiêu biểu có các công trình của các tác giả: Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình cb, Địa chí Văn hóa Tp Hồ Chí Minh Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998; Nhiều tác giả, Nam bộ thành đồng tổ quốc đi trước về sau Nxb CTQG, 1999; Hồ Hữu Nhựt với tác phẩm Trí thức Sài Gòn – Giai Định 1945 – 1975, xuất bản năm 2001; Hồ Sơn Điệp, Trí thức Nam bộ trong kháng chiến chống Pháp1945-1954 của tác giả xuất bản năm 2003; Lịch sử Mặt trận DTTN Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp 2006,…

Vấn đề định hướng phát triển đội ngũ trí thức cũng được nhiều công trình đề cập một cách khoa học Tiêu biểu là các công trình như: Đỗ Mười,

Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1995; Nguyễn Huy Thống, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Trọng

Chuẩn: Chủ nghĩa xã hội và trí thức, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1994; Phạm Tất Dong (chủ biên): Trí thức Việt Nam – thực tiễn và triển vọng, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 1995; Phạm Tất Dong (chủ biên): Định hướng phát triển

đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị

Trang 14

quốc gia, Hà Nội 2001; Nguyễn Thanh Tuấn, Một số vấn đề về trí thức Việt

Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998,… Bàn về vấn đề này, một số lượng lớn các luận văn, luận án của các học viên, nghiên cứu sinh cho thấy mức độ quan tâm đối với vấn đề này Tiểu biểu là các luận án: Phan Việt

Dũng với đề tài Vị trí vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội, 1988; Phan Thanh Khôi với đề tài Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay, 1992; Nguyễn Thị Hòa Bình với đề tài Đội ngũ trí thức ngành y tế trong quá trình cách mạng Việt Nam, 1996,…

Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành như tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Xưa và Nay, đã đăng tải rất nhiều bài viết, bàn về các trí thức cụ thể, vai trò của trí thức trong kháng chiến Tiêu biểu là các bài viết của Nguyễn Đình Tứ,

Phạm Tất Dong về Trí thức và công tác trí thức của Đảng, Tạp chí Cộng sản,

số 6, 1996; Hà Học Trạc: Vai trò của giới trí thức trong sự nghiệp đổi mới,

Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, 1/1994; Phan Thanh Khôi: Trí thức trong sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Cộng sản, số

9/1995… Các bài viết thể hiện những quan điểm nhìn nhận và tiếp cận khác

nhau, tuy nhiên ít nhiều đều thống nhất trong việc đánh giá vai trò, những đóng góp của các trí thức trong một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc.Trên cơ sở kế thừa những bài nghiên cứu, công trình đó, chúng tôi mạnh

dạn đề xuất và thực hiện đề tài Vai trò của trí thức cách mạng trong cuộc

kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), như một hướng tiếp cận nghiên cứu

chuyên sâu, tập trung về vấn đề trí thức Nam bộ (Sài Gòn – Gia Định) trong lịch sử cách mạng của dân tộc

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách có hệ thống về những hoạt động của trí thức Sài Gòn – Gia Định trong kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954); đánh giá vai trò của trí thức đối với những thành quả đạt được

Trang 15

đóng góp vào thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam; trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc sử dụng trí thức trong giai đoạn hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những hoạt động của trí thức Sài Gòn – Gia Định trong bối cảnh cách mạng dân tộc giai đoạn 1946-1954

- Làm rõ vai trò, sự đóng góp của trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), trên các lĩnh vực quân sự, xây dựng lực lượng, kinh tế kháng chiến, giáo dục y tế và mặt trận ngoại giao,

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng luận văn nghiên cứu là đội ngũ trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: luận văn tập trung nghiên cứu các hoạt động của trí thức

cách mạng Sài Gòn – Gia Định gắn liền với cuộc kháng chiến, kiến quốc

- Về thời gian: từ năm 1946 đến năm 1954

5 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu

* Nguồn tư liệu: Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau bao gồm:

- Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, các Bảo tàng

- Hồi ký của các đồng chí lãnh đạo, các nhà trí thức đã từng tham gia hoạt động

trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc 1945 - 1954.

- Các văn kiện của Trung ương Đảng, Chính phủ, Hồ Chí Minh toàn tập và Lịch

sử Đảng bộ địa phương để tìm hiểu về chính sách của Đảng đối với trí thức.

- Công trình, bài nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đã xuất bản, công bố trên các sách, báo, tạp chí nghiên cứu chuyên ngành.

* Phương pháp nghiên cứu

Trang 16

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận Mác xít, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu: phương pháp lịch sử, kết hợp với phương pháp logic.

Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, kết hợp với khảo sát thực tiễn, trực tiếp tiếp cận nhân chứng

để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu

6 Những đóng góp của luận văn

Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện về hoạt động của trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954), sẽ đóng góp:

- Về mặt khoa học, cung cấp tư liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu

quan tâm đến vấn đề trí thức nói chung, đặc biệt là trí thức Sài Gòn – Gia Định Đồng thời bổ sung nguồn tư liệu quan trọng về quá trình tham gia hoạt động cách mạng của các nhà trí thức trong lịch sử Việt Nam giai đoạn 1946 - 1954

- Về mặt thực tiễn, kết quả của luận văn làm cơ sở cho việc giáo dục

truyền thống đấu tranh cách mạng cho thế hệ trẻ về những tấm gương trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định Đồng thời, rút ra bài học kinh nghiệm góp phần cho Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng, sử dụng trí thức vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo NQTW 7, khóa X

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Trí thức cách mạng Sài Gòn - Gia Định và bối cảnh lịch sử

cách mạng Việt Nam giai đoạn 1946-1954

Chương 2: Trí thức cách mạng Sài Gòn - Gia Định trong công cuộc

kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Trang 17

Chương 3: Đánh giá những đóng góp của trí thức cách mạng Sài Gòn –

Gia Định và bài học kinh nghiệm về chính sách thu hút và sử dụng trí thức trong công cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Trang 18

CHƯƠNG 1 TRÍ THỨC CÁCH MẠNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH VÀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1946-1954

Trong từ điển Bách Khoa Xô Viết: trí thức là tầng lớp xã hội của những người làm nghề nghiệp lao động trí óc, chủ yếu là lao động phức tạp, sáng tạo, là sự phát triển phổ biến văn hóa Liên đoàn lao động trí thức quốc tế quy định: lao động trí thức là người mà hoạt động đòi hỏi sự nỗ lực về tinh thần với sáng kiến và nhân cách, thường quan trọng hơn mặt thể chất,…

Trên sách báo và các diễn đàn ở Việt Nam, trí thức cũng được định nghĩa

và hiểu khá khác nhau Theo từ điển Tiếng Việt của GS Nguyễn Lân và Đại

từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Như Ý, “trí thức” là người chuyên làm việc, lao động trí óc (trí là hiểu biết, thức là biết)[59,tr.1705] Nhiều ý kiến luận giải khái niệm này, gắn vai trò xã hội bên cạnh vấn đề chuyên môn, thậm chí có ý kiến cho rằng là yếu tố tiên quyết: “Không có khí tiết, không là trí thức Không dám nói lên sự thật, không phải là trí thức Không trung thực, không phải là trí thức Không dám bảo vệ chân lý, không phải là trí thức” (GS Phạm Song) Cụ thể hơn, trí thức phải có đủ ba đặc điểm: “Một là có học vấn cao (không phải bằng cấp); hai là nhân cách phải tiêu biểu, nêu gương tốt

Trang 19

cho xã hội; ba là khí tiết bảo vệ chân lý, lẽ phải Nếu thiếu một trong ba đặc điểm đó thì dù thế nào chăng nữa cũng không thể gọi là trí thức” (Nhà báo Hữu Thọ).

Trong Nghị Quyết số 27-NQTW (6/8/2008) của Đảng Cộng sản Việt Nam về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, đã đưa ra 3 cách hiểu về trí thức với những đặc trưng cơ bản:

- Trí thức là người lao động trí óc, có hiểu biết sâu và rộng, thông thường, có trình độ đại học và tương đương trở lên, có năng lực sáng tạo, có trình độ phát triển về trí tuệ, nhạy bén với cái mới và quan tâm đến đổi mới để phát triển

- Trí thức có trình độ chuyên môn sâu, rộng trong một lĩnh vực nhất định, được hình thành qua đào tạo, bồi dưỡng và phát triển không ngừng bằng con đường tự đào tạo, lao động và hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân

- Trí thức có nhu cầu cao về đời sống tinh thần và hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ; có lòng tự trọng, khát vọng tự do, dân chủ, công bằng

Từ cách hiểu trên, NQTƯ đưa ra khái niệm: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”[2] Khái niệm này đã khái quát những đặc trưng và tiêu chí cơ bản nhất của trí thức hiện nay trong nhìn nhận, đánh giá trí thức Đồng thời, khái niệm đã xác định một số đặc điểm cơ bản, phổ quát nhất làm cơ sở cho việc đề xuất mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức

* Trí thức cách mạng Việt Nam

Trí thức cách mạng Việt Nam là một khái niệm được đưa ra để phản ánh một tầng lớp trí thức của xã hội gắn với thời kỳ đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc Từ lý luận và thực tiễn, Hồ Chủ Tịch khẳng định trí thức là phải người hiểu biết cả về lý thuyết lẫn thực hành, lý luận phải đem ra thực

Trang 20

hành, thực hành phải nhằm theo lý luận “Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn), thực hành cũng như cái đích để bắn Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành” [5] Trên cơ sở đó, Người đã đưa ra khái niệm cụ thể và đầy đủ về trí thức cách mạng: là người “vừa hồng vừa chuyên”, là người “vừa

có tài vừa có đức”, trong đó đức là cái gốc/nền tảng, tài là cái quan trọng

* Đặc điểm trí thức cách mạng Việt Nam

Trí thức Việt Nam qua mọi thời kỳ lịch sử đều mang đặc điểm chung: xuất thân từ xã hội dựa trên nền tảng nông nghiệp, của một đất nước hình thành và phát triển gắn với các cuộc đấu tranh chống xâm lăng; có tính cách cần cù, ham học hỏi, ý thức tự hào dân tộc và lòng yêu nước; rất gắn

bó với quần chúng nhân dân Tùy từng giai đoạn lịch sử, tầng lớp này có những biểu hiện khác nhau về vai trò nhiệm vụ lịch sử, về cách thức tư duy

và hành động Nhưng nét tương đồng dễ nhận thấy giữa các thế hệ trí thức

là phẩm chất đặc trưng, sự gắn bó máu thịt với nhân dân, dân tộc, thể hiện

rõ nhất ở tầng lớp trí thức cách mạng trong thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc

Trí thức Việt Nam xuất hiện trong lịch sử như những đại biểu chân chính

về tư tưởng văn hóa, tài năng trí tuệ và nhân cách của cả dân tộc, gắn với các cuộc cách mạng đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước Trong lịch sử

tư tưởng và truyền thống dân tộc Việt Nam, trí thức thường được gọi là kẻ sĩ Ngoài tài trí, nhân cách kẻ sĩ đáng nể trọng bởi họ nặng lòng thương dân, yêu nước, ngay thẳng, cương trực, thanh tao, trọng chân lý, đạo nghĩa, trọng dân, thân dân và chính tâm

Dưới chế độ phong kiến và thuộc địa, đội ngũ trí thức thể hiện một sắc thái, bản lĩnh yêu nước, tạo thành chủ nghĩa yêu nước Dưới ách áp bức của thực dân đế quốc, trí thức Việt Nam luôn mang trong mình tinh thần dân tộc

và cách mạng Họ đã vượt qua ý thức hệ để thực hiện những cuộc cải cách lớn

Trang 21

về hành chính, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, luật pháp Trí thức cách mạng giai đoạn này được hình thành trên hai nguồn cơ sở của nền giáo dục Nho học và nền giáo dục Pháp

Trí thức cách mạng ra đời sau CMT8-1945, là một đội ngũ trí thức có lòng yêu nước và tự hào dân tộc, có trình độ chuyên môn cao và nhân cách tốt, đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệp đấu tranh và xây dựng đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trí thức cách mạng giai đoạn này xuất thân từ các giai cấp, tầng lớp xã hội như dân nghèo thành thị, tiểu tư sản, tư sản được giác ngộ chân lý cách mạng, nhưng chủ yếu là công nhân và nông dân,… từ 3 nguồn đào tạo trong nước, nước ngoài, và chính quyền Pháp Quá trình hình thành phản ánh xu hướng “Công – Nông hóa trí thức”, hình thành tầng lớp trí thức XHCN Từ nhiều giai tầng trong xã hội, khi đứng vào hàng ngũ của Đảng, họ trở thành trí thức cộng sản, rèn luyện, tu dưỡng theo bản chất giai cấp công nhân Trí thức cách mạng giai đoạn này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao về chất chủ nghĩa yêu nước thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng XHCN Trí thức cách mạng Việt Nam thể hiện tinh thần cách mạng cao, sự gắn bó với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đồng hành với nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, kháng chiến và kiến quốc Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, trí thức có vai trò quyết định đến công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Hệ giá trị và lý tưởng sống của người trí thức cách mạng hiện nay là:

Tổ quốc - Nhân dân - Dân tộc - Thời đại và CNXH

* Quan điểm nhìn nhận về trí thức cách mạng Việt Nam

"Hiền tài là nguyên khí của quốc gia", việc trọng dụng nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ là truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được tiếp thu và phát huy trong suốt chiều dài lịch sử, được vận dụng sáng tạo và phát triển trong sự nghiệp

Trang 22

xây dựng và bảo vệ tổ quốc, từ công cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc cho đến quá trình thống nhất và xây dựng đất nước.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đấu tranh chống ngoại xâm, kiến thiết đất nước, Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm việc thu hút, sử dụng và đối đãi với tầng lớp trí thức, xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao vai trò của trí thức Điều này được thể hiện rõ trong hệ thống quan điểm và chính sách của Chính phủ Việt Nam trong năm đầu cách mạng và những năm chống Pháp, đánh Mỹ: tôn trọng và

đề cao trí thức, tạo mọi điều kiện để thu hút và phát huy năng lực của họ Trong Sách Lược Vắn Tắt, Chương Trình Vắn Tắt của Đảng (1930), Người đã nhấn mạnh việc phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức… để kéo họ vào phe vô sản giai cấp (16, tr.2) Trong quá trình chuẩn bị mọi mặt tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8/1945, công tác kêu gọi trí thức đoàn kết cùng giai cấp công nhân và nông dân được coi trọng; xác định nhiệm vụ quan trọng là phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, đưa trí thức lên mặt trận đấu tranh chống đế quốc phát xít; kêu gọi tìm người tài đức

và trọng dụng nhân tài

Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp (1945-1954), nhận thấy

sự thiếu hụt lực lượng trí thức đáp ứng nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc, Đảng đã chân thành dìu dắt và trọng dụng đội ngũ trí thức cũ lẫn trí thức mới, đồng thời chăm lo đào tạo trí thức từ công nhân, nông dân- thành phần chiếm đại đa số Sau "Tuyên ngôn Độc lập" ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ ra lời kêu gọi "Nhân tài và kiến quốc" và ban hành Chỉ thị

"Tìm người tài đức", phản ánh một chủ trương cần kíp và quan trọng: "Nước nhà cần phải kiến thiết Kiến thiết cần phải có nhân tài", thể hiện quyết tâm thu phục và trọng dụng nhân tài, trí thức Trong bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết của Chính phủ ngày

Trang 23

10/1/1946, và đặc biệt là trong thư gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ ngày 25/5/1947, Hồ Chí Minh khẳng định rõ việc đoàn kết với trí thức cách mạng là một vấn đề có tính chiến lược, lâu dài và đã trở thành đường lối nhất quán của Đảng về đoàn kết, giáo dục, sử dụng tốt trí thức Quan điểm, chủ trương về trí thức của Đảng và Nhà nước ta trong các thời kỳ cách mạng thể hiện sự đúng đắn trong vấn đề nhận thức đối với trí thức [58]

Trong từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể, Hồ Chủ tịch có những chủ trương, chính sách chỉ thị sát thực: Đối với trí thức ngành y tế, yêu cầu thực hiện 5 điều: “Hăng hái, hy sinh, bác ái, đoàn kết, kỷ luật”; Đối với trí thức ngành giáo dục, phải thi đua “Dạy tốt”; Đối với trí thức ngành văn hóa, “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”… [31, tr 34, 101] Trong “Thư gửi anh

em văn hóa và trí thức Nam bộ”, Hồ Chủ tịch căn dặn “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”[5], [30]

* Vai trò của trí thức cách mạng Việt Nam

Trong suốt chiều dài lịch sử, tầng lớp trí thức đã có những đóng góp hết sức quý báu, là nhân tố quan trọng đưa các cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất toàn dân tộc đến thắng lợi Trước những yêu cầu của thời cuộc, của lịch

sử, trí thức cách mạng đã đứng lên giành lấy ngọn cờ dân tộc từ tay bọn đế quốc và thực dân, trở thành người tổ chức lãnh đạo phong trào đấu tranh Họ chính là lực lượng xung kích trong việc tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, là bộ phận đi đầu trong truyền bá chủ nghĩa Mác- Lê nin chuẩn bị cho sự hình thành chính Đảng cộng sản, là bộ phận chung tay vào xây dựng chính quyền nhà nước non trẻ, là bộ phận cống hiến trí tuệ và tuổi trẻ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, thống nhất đất nước

Trí thức là vốn quý của dân tộc: “Không có trí thức hợp tác với công nông thì cách mạng không thể thành công và sự nghiệp xây dựng một nước

Trang 24

Việt Nam mới sẽ không hoàn thành được" [25, tr.12] Trí thức công nông hoá, trí thức phục vụ nhân dân bao giờ cũng cần, tiến lên CNXH cũng cần, tiến lên chủ nghĩa cộng sản lại càng cần [33.tr.39] Vì lẽ đó, trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng XHCN, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; và công nông trí cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối,… là một

bộ phận trong lực lượng cách mạng, trí thức có nhiệm vụ thi đua phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân” (32, tr 214, 216)

Vai trò của trí thức giai đoạn 1946-1954 được Đảng nhận định: “Trí thức

là vốn quý báu của dân tộc Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế, cách mạng rất cần trí thức và chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức" [33, tr.33] Đây là giai đoạn vai trò của trí thức được thể hiện với tư cách là lực lượng đảm nhận 4 nhiệm vụ lớn: Kiến thiết ngoại giao; Kiến thiết kinh tế; Kiến thiết quân sự; và Kiến thiết văn hóa - giáo dục Điều này còn thể hiện một luận điểm mang tính quy luật về mối liên hệ giữa trí thức và cách mạng, trí thức với cái mới, cái tiến bộ trong nhận định của Đảng ta Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, ngoài nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng trên mặt trận quân sự và ngoại giao, họ còn tham gia vào xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục… Chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Geneve là một minh chứng khẳng định công sức trí tuệ của tầng lớp trí thức cách mạng giai đoạn này

1.1.2 Trí thức cách mạng Sài Gòn - Gia Định

* Nguồn gốc và thành phần

Trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định được xác định là những tầng lớp trí thức tham gia cách mạng ở Sài Gòn- Gia Định Ở đây cần làm rõ không gian và nội hàm để xác định ai là “Trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định”

- Về không gian Sài Gòn – Gia Định

Trang 25

Địa danh Gia Định đã xuất hiện hơn 300 năm, trải qua nhiều lần thay đổi

về tên gọi, quy mô và chức năng hành chính là Phủ - Trấn – Thành - Tỉnh; có lúc là tỉnh nhỏ, có khi bao quát toàn xứ Nam bộ Gia Định với vai trò là Tỉnh

từ 1889 đến 1975; tỉnh Gia Định là 1 trong 20 tỉnh của Nam Kỳ Từ đầu thế

kỷ XX cho đến trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Gia Định tồn tại với tư cách là tên gọi một tỉnh của Nam Kỳ, có địa giới không gian gắn với vùng Sài Gòn – Chợ Lớn Một phần không nhỏ của địa phận tỉnh Gia Định đã

là căn cứ cách mạng kháng chiến Sau 1975 đến nay, địa danh Gia Định không còn dùng để chỉ bất cứ một đơn vị hành chính nào, mà thuộc vào Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh Như vậy, nội hàm địa danh “Sài Gòn – Gia Định” được xác định gắn với giai đoạn kháng chiến chống Pháp, có quy mô đơn vị hành chính là tỉnh, không phải toàn Nam Bộ như trước đó

- Thành phần trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định

Thành phần đội ngũ trí thức Sài Gòn – Gia Định xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau: Nông dân Nam Kỳ nói chung và Sài Gòn – Gia Định nói riêng; Tầng lớp địa chủ; Tầng lớp thị dân; Tầng lớp công nhân; Tầng lớp

tư sản dân tộc; Tầng lớp trí thức tân học Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi xác định những người được xem là “Trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định” trên cơ sở ba nguồn gốc như sau:

[1] Những trí thức người Việt có nguồn gốc xuất thân từ Sài Gòn – Gia Định Ví dụ như: kỹ sư Kha Vạn Cân, Nguyễn Văn Kỉnh, Trần Văn Lắm, Trương Cao Phước, luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Tiếp, Phạm Thị Yên, Hòa thượng Thích Thiện Hào,…

[2] Những trí thức người Việt có nguồn gốc xuất thân không phải ở Sài Gòn – Gia Định, nhưng có hoạt động và đóng góp cho Sài Gòn – Gia Định, vốn là một trong những địa bàn trọng điểm của cách mạng miền Nam Ví dụ như: luật sư Diệp Ba, luật sư Phạm Văn Bạch, nghệ sĩ Nguyễn Ngọc Bạch, linh mục Hồ Thành Biên, nhà thơ Nguyễn Bính, Nguyễn Thị Bình, nhà báo

Trang 26

Nam Quốc Cang, luật sư Lê Đình Chi, giáo chức Lê Văn Chí, Phan Văn Chương, Trần Bạch Đằng, Lê Duẩn, Hà Huy Giáp, Trần Văn Giàu, bác sĩ Hồ Văn Huê, kỹ sư Lưu Văn Lang, Nguyễn Văn Linh, Hoàng Xuân Nhị, Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Văn Nguyễn, kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, luật sư Trịnh Đình Thảo, Phạm Thiều, Ca Văn Thỉnh,…

[3] Những trí thức người nước ngoài, nhưng có nguồn gốc xuất thân từ Sài Gòn – Gia Định hoặc đã hoạt động và có những đóng góp cho Sài Gòn – Gia Định Ví dụ như: Thái Văn Lung, Nguyễn Văn Vĩ (Michel Vĩ), Ngô Liên,

kỹ sư Albert Phạm Ngọc Thảo,…

* Đặc điểm của trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định

Khác với trí thức cả nước nói chung hay Nam bộ nói riêng, hầu hết trí thức Sài Gòn – Gia Định đều trưởng thành trong một môi trường vật chất lý tưởng: gia đình giàu có, cuộc sống đầy đủ, điều kiện học hành, có chức tước như Huỳnh Thiên Lộc, Lê Văn Chí, Cao Triều Phát, Nguyễn Văn Thủ, Hoàng Xuân Nhị, Lê Đình Chi, Nguyễn Ngọc Nhựt, đốc phủ Phan Văn Chương, bác

sĩ Nguyễn Văn Hưởng, giáo sư Trần Văn Viễn, Nguyễn Văn Chì,… Dưới chế

độ cai trị của thực dân Pháp, trong các tầng lớp dân cư, chỉ duy nhất tầng lớp thượng lưu ở Sài Gòn – Gia Định, Nam bộ gồm các điền chủ, chủ hiệu buôn, doanh thương, công chức, quan lại,… mới có điều kiện cho con em ăn học Ở Sài Gòn – Gia Định, ngoài những trí thức hình thành từ các trường học thuộc địa trong nước, có một bộ phận được đào tạo ở nước ngoài theo chương trình

du học ở Pháp và một số nước Phương tây Hai nguồn đào tạo này đã tạo nên đội ngũ trí thức Tây học ngày một đông đảo cho Sài Gòn – Gia Định, dần chiếm vị thế trong xã hội

Tuy nhiên, do sinh ra và lớn lên trên vùng đất chứa đựng nhiều đau thương mất mát bởi chiến tranh, ảnh hưởng tinh thần yêu nước, yêu quê hương, sớm nhận thức nỗi đau nô lệ và mất nước, nên tinh thần cách mạng có

Trang 27

điều kiện phát huy Họ từ bỏ cuộc sống giàu sang đi kháng chiến, đóng góp tài sản, ruộng đất, nhà cửa, tiền bạc cho cách mạng và hơn hết là sự cống hiến nhiệt tình tài năng, trí tuệ trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc giai đoạn 1946-1954

* Vai trò của trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định

Sinh ra và lớn lên trên vùng đất Nam kỳ trù phú, người trí thức được thừa hưởng truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Kế thừa những truyền thống tốt đẹp, được trang bị thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, lập trường cách mạng vô sản, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đông đảo trí thức Sài Gòn – Gia Định ngày một trưởng thành, và có vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc

Sau tiếng súng xâm lược Nam bộ của thực dân Pháp, cũng là lúc mở ra một thời kỳ đấu tranh mạnh mẽ và rộng khắp của giới trí thức Sài Gòn – Gia Định: đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, xuất bản báo chí, biểu tình phản đối chính quyền thực dân; vận động truyền bá chữ quốc ngữ; phong trào thơ mới; phong trào học sinh sinh viên,… Trên các mặt trận kháng chiến, “Dù ở

đô thị hay ngoài bưng biền, người trí thức yêu nước ở Nam Bộ vẫn không quản gian lao, hy sinh, dấn thân vào cuộc trường kỳ kháng chiến, lập nhiều thành tích xuất sắc trên các mặt trận chính trị, tư tưởng, quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế,…”[21, tr.2]

Sự tham gia và trưởng thành, xác lập vai trò của trí thức cách mạng Sài Gòn – Gia Định trong cuộc kháng chiến có thể phân thành 3 thời kỳ: 1945-

1946, 1946-1950 và 1950-1954 Trong đó 1945-1946 là giai đoạn quan trọng

và có ý nghĩa to lớn đối với trí thức Sài Gòn – Gia Định, là giai đoạn chuyển tiếp trong tư tưởng đấu tranh, lựa chọn con đường đi cho mình Đây chính là giai đoạn trí thức Sài Gòn – Gia Định có sự phân hóa sâu sắc: hoặc theo địch làm tay sai, hoặc theo chính quyền cách mạng tham gia kháng chiến Từ những trí thức quen sống sung sướng, nơi đô thị phồn hoa, chuyển ra xếp bút

Trang 28

nghiên lên chiến khu, chấp nhận thử thách cam go, đấu tranh chống ngoại lăng Trong phong trào kháng chiến ở Sài Gòn – Gia Định, vai trò của trí thức cách mạng được ghi nhận cả trên mặt trận đấu tranh ở nội thị cũng như xây dựng chiến khu, củng cố và phát triển lực lượng

1.2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1946-1954

1.2.1 Trí thức và phong trào đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc trước 1945

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng, đất nước bước vào một giai đoạn lịch sử mới: giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc Trước bối cảnh giai cấp thống trị tỏ ra bất lực và bế tắc, đầu hàng địch, một số trí thức đã đứng lên giành lấy ngọn cờ dân tộc, lãnh đạo phong trào chống ngoại xâm Mặc dù tất cả các phong trào cứu nước đều không thành, nhưng đã chứng tỏ chí khí truyền thống đấu tranh, lòng yêu nước của các tầng lớp nhân dân nói chung và trí thức nói riêng Đặc biệt nó tạo tiền đề cho cuộc đấu tranh mới, với những hướng đi gắn với sự hình thành tầng lớp trí thức tân học

Từ những năm đầu thế kỷ XX, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục đã đánh đấu sự hình thành khuynh hướng đấu tranh mới ảnh hưởng từ hệ

tư tưởng Tư sản Đặc biệt, những chuyển biến trong nhận thức đã đưa đến quá trình tiếp thu và truyền bá tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê nin vào Việt Nam, sự

ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu quá trình trưởng thành của trí thức cách mạng, với những trọng trách và nhiệm vụ lịch sử giao phó Cùng với cả dân tộc, tầng lớp trí thức bước vào cuộc đấu tranh mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Trí thức đã tập hợp lại trong những đoàn thể thống nhất, cùng với nhân dân tham gia đấu tranh mạnh mẽ và quyết liệt trên mặt trận chính trị và quân sự, công khai và bí mật, báo chí phản chiến, văn hóa tư tưởng, làm nên phong trào 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 Chủ trương thành lập MTDTTN Phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết rộng

Trang 29

rãi các tầng lớp nhân dân, các giai cấp và dân tộc, với nền tảng là giai cấp công nhân và nông dân, trong đó, tiểu tư sản và trí thức trở thành một lực lượng quan trọng.

Tháng 7-1940, Xứ ủy Nam Kỳ họp Hội nghị mở rộng ở Mỹ Tho để bàn

về khởi nghĩa Ngày 23/11/1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, mặc dù

đã có lệnh hoãn của TƯ nhưng không truyền đạt kịp Khắp các tỉnh miền Nam nhất là Sài Gòn – Chợ Lớn, Gia Định, quần chúng nổi dậy chiến đấu rất dũng cảm Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ sau đó bị thực dân Pháp đã đàn áp hết sức dã man, dẫn đến thất bại, nhưng đây là một trong những trang sử chói lọi, thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng Nam Bộ "Đội quân khởi nghĩa Nam

Bộ năm 1940" được Hồ Chủ tịch tặng Huân chương Quân công hạng nhất Những tổn thất nặng nề trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ không làm nhụt ý chí cách mạng của nhân dân Đặc biệt, phong trào của trí thức, học sinh sinh viên

ở vùng nội đô phát triển mạnh, với nhiều hoạt động đấu tranh cổ động, lôi kéo tầng lớp trung gian ngã về nghĩa cách mạng, nhất là tầng lớp trí thức, thanh niên

Tại Sài Gòn, các hình thức tập hợp lực lượng sau khi phong trào dân chủ

bị địch đàn áp: Câu lạc bộ Học sinh ở trường trung học Trương Vĩnh Ký do Huỳnh Văn Tiểng đứng đầu; tổ chức tham quan và du lịch do Trịnh Kim Ảnh, Nguyễn Văn Ảnh, Võ Thế Quang phụ trách; sinh viên tổ chức dạ hội ở nhà hát Sài Gòn kêu gọi mọi người noi gương Hai Bà Trưng đứng lên khởi nghĩa,

… Phong trào phát triển sang nhiều trường khác ở Sài Gòn và các địa phương khác như Gia Định, Biên Hoà, Mỹ Tho, Cần Thơ Tổng Hội chủ trương xuất bản một tờ báo lấy tên là Khối Đoàn kết để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần yêu nước, tình đoàn kết chặt chẽ giữa sinh viên và các miền của đất nước, nhất là những trí thức trẻ, thúc đẩy sự tu dưỡng phẩm chất, tình đoàn kết Hình thành các nhóm chuyên ngành trong Tổng Hội như nhóm Văn học đứng đầu là Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Xuân Sanh; nhóm Tân nhạc là Lưu Hữu

Trang 30

Phước, Trần Văn Khê… Những sinh viên yêu nước học ở Pháp về lập nhóm Văn học Văn Lang của Phạm Ngọc Thạch, nhóm Văn học Phan Thanh Giản của Ca Văn Thỉnh… Sau đó những cuộc vận động yêu nước được nâng lên thành phong trào đấu tranh đòi giải phóng dân tộc theo lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh

Nhằm đấu tranh chống tư tưởng tư sản phản động, văn hoá đồi truỵ do

kẻ thù gieo rắc và kịp thời giải thích đường lối, chính sách của Đảng, của Mặt

trận Việt Minh, Đảng cho xuất bản hàng loạt tờ báo như: Cờ Giải phóng, Cứu

quốc, Bẻ xiềng sắt, Tiền phong, Giải phóng… Báo chí cách mạng và bản Đề cương văn hoá Việt Nam được tuyên truyền rộng rãi trong thanh niên góp

phần quan trọng thu hút nhiều thanh niên trí thức tham gia cách mạng

Đảng quyết định thành lập Tổ Văn hóa cứu quốc với hạt nhân là các văn

sĩ trí thức cách mạng, để tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê nin, lôi kéo học sinh sinh viên, chống lại âm mưu văn hóa ngu dân và nô dịch của phát xít

thực dân và khuynh hướng văn hóa sai lầm Đề cương văn hoá Việt Nam được

khởi thảo bởi Tổng Bí thư Trường Chinh là một văn kiện rất quan trọng của Đảng, soi sáng nhiều vấn đề trên mặt trận văn hoá cách mạng theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin Đề cương văn hóa là một văn kiện hết sức quan trọng trong đời sống chính trị xã hội nói chung và giới trí thức văn nghệ sĩ nói riêng

Từ cuối năm 1943 nổ ra cuộc vận động “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” Phong trào “Xếp bút nghiên” được khởi phát từ các nhóm sinh viên Nam Kỳ ra Hà Nội học như Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng Đây là phong trào rất đặc trưng của sinh viên trí thức Sài Gòn – Gia Định nói riêng và Nam Bộ nói chung trước thời kỳ tiền khởi nghĩa

Song song với nhiệm vụ đấu tranh chính trị và văn hoá, các đơn vị vũ trang và bán vũ trang cũng được thành lập ở nhiều địa phương, ra sức luyện tập quân sự, tham gia các đội tự vệ, chiến đấu chống địch đàn áp, khủng bố,

Trang 31

càn quét, bảo vệ căn cứ địa và cơ sở cách mạng Từ cuối năm 1944 trở đi, cách mạng Việt Nam đã chuyển lên thành cao trào và những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều địa phương Ở Sài Gòn, các đội tự vệ, thanh niên xung phong cũng được hình thành; tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân chương trình và điều lệ của Mặt trận Việt Minh.

Bước vào năm 1945, hoàn cảnh khách quan có nhiều thuận lợi: trong nước, thực dân Pháp bị Nhật đảo chính; trên thế giới, Đức quốc xã đầu hàng Ngày 1/6/1945, tổ chức Thanh niên Tiền phong ra đời; các đồng chí Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Thủ, Thái Văn Lung, cùng các sinh viên Lưu Hữu Phước, Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ,

… trở thành các thủ lĩnh Đây là một phong trào thanh niên rộng rãi hoạt động theo định hướng của Đảng, đóng vai trò rất tích cực trong quá trình vận động, tập hợp lực lượng chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Ngoài Thanh niên Tiền phong còn có Phụ nữ Tiền phong, Phụ lão Tiền phong… Các hoạt động tiền khởi nghĩa mạnh mẽ, góp phần chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Nam bộ và trong cả nước, đưa đến thắng lợi của CMT8, với sự

ra đời nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa

1.2.2 Tình hình và nhiệm vụ cách mạng Việt Nam sau CMT8-1945

Sau thành công của CMT8-1945, bên cạnh những điều kiện thuận lợi cơ bản, tình hình KT-XH Việt Nam đứng trước vô vàn khó khăn, với những nhiệm vụ cách mạng mới, đầy thử thách

* Tình hình kinh tế - xã hội

Kinh tế đất nước vốn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị kiệt quệ hơn do chính sách vơ vét, tham tàn của đế quốc, phát xít trong mấy mươi năm thống trị Sau cách mạng, công nghiệp lạc hậu và đình đốn; nông nghiệp tiêu điều, ruộng đất bị bỏ hoang do hạn hán và lụt lội; thương nghiệp ngưng trệ, bế tắc, hàng hóa khan hiếm; tài chính cạn kiệt, kho bạc trống rỗng Nạn đói đầu năm

1945 chưa qua khỏi thì nguy cơ của một nạn đói mới đã xuất hiện Về văn

Trang 32

hóa, chính sách ngu dân, lạc hậu, phản động của chủ nghĩa thực dân đã để lại một di sản thảm hại với hơn 90% dân số không biết chữ Các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, mê tín, dị đoan trầm trọng và nặng nề.

* Tình hình đấu tranh cách mạng

Sau ngày độc lập, lực lượng chống phá, phản kích phong trào giải phóng dân tộc; các thế lực phản động quốc tế tập trung tìm mọi cách tiêu diệt cách mạng Việt Nam Ở miền Bắc, 20 vạn quân Tưởng vượt biên giới vào Việt Nam Quân Tàu Tưởng lộng hành, âm mưu vô hiệu hóa, gây sức ép, đòi hỏi chính quyền cách mạng thỏa mãn yêu cầu cung cấp lương thực, thực phẩm Không những thế, chúng còn lôi kéo lũ phản động người Việt lưu vong về mưu đồ cướp chính quyền cách mạng, lập chính quyền phản động Tổ chức

"Quốc dân quân", lực lượng vũ trang khủng bố mang tên "Thiết huyết đoàn",

"Thần lôi đoàn", "Bàn tay máu " được thiết lập dựa vào sự dung túng của quân Tưởng, chúng tiến hành cướp của, giết người vô tội, ám sát cán bộ Tại miền Nam, tình hình nghiêm trọng hơn rất nhiều Hơn 2 vạn quân Anh kéo vào miền Nam, ngang nhiên vi phạm quy định của Hội nghị Pốtxđam, thay vì tước khí giới, chúng cho quân Nhật làm nhiệm vụ cảnh sát trong thành phố và đòi lực lượng vũ trang cách mạng giao nộp vũ khí Cấm báo chí không được xuất bản và thiết quân luật, ai trái lệnh sẽ bị xử tử,… Quân Nhật chiếm các trại giam, thả quan Pháp bị bắt giữ hồi Tổng khởi nghĩa, thả lính Pháp bị giam trong đêm Nhật đảo chính, trang bị lại vũ khí cho chúng Lũ phản quốc thi nhau ngóc đầu dậy hoạt động, tiếp tay, kích động dân chúng và vu khống đả kích UBND Nam Bộ Một số phần tử phản động trong các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo lợi dụng thần quyền và lòng sùng đạo để hoạt động chia rẽ nội bộ các tín đồ và giữa các tôn giáo

Pháp thể hiện quyết tâm "giải phóng" Đông Dương bằng tuyên bố của Đờ Gôn về "Những điều kiện tổng quát của quy chế Đông Dương sẽ được hưởng", khẳng định đặt lại ách thống trị với sự giúp đỡ của Anh và Mỹ Vào 0 giờ

Trang 33

ngày 23/9/1945, được sự hỗ trợ của quân Anh, Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai Từ Sài Gòn, quân Pháp đánh lan rộng ra các tỉnh ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ Nhân dân Sài Gòn – Gia Định và toàn Nam bộ bước vào một thời kỳ đấu tranh cách mạng mới với nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc.

* Nhiệm vụ cách mạng giai đoạn 1946-1954

Sau ngày thực dân Pháp nổ súng xâm lược, Thường vụ Trung ương Đảng đã họp khẩn cấp, nhất trí với quyết tâm kháng chiến của Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ Ủy ban đã ban hành lệnh: chợ búa không họp, cửa tiệm không mở, công nhân các nhà máy đồng loạt nghỉ việc; phá nhà máy đèn; bày ngổn ngang bàn ghế, tủ giường, cây xanh, trụ đèn để cản bước tiến của quân địch; lập ra các ổ chiến đấu tiến công địch; các lực lượng vũ trang hình thành một vòng vây xung quanh thành phố, chặn đánh địch hành quân ra ngoại thành và cách tỉnh lân cận

Tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 26/9/1945, Hồ Chủ tịch đã viết lời hiệu triệu gửi đồng bào Nam Bộ: "Thà chết tự do, không sống nô lệ" Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà Các địa phương tổ chức quyên góp tiền bạc, áo quần, thuốc men, lương thực thực phẩm, quân số giúp Nam Bộ kháng chiến

Trong lúc miền Nam đang anh dũng chiến đấu, ngày 25/11/1945, thường

vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị: "Kháng chiến kiến quốc" Chỉ thị là xác định những nội dung cơ bản về chiến lược cách mạng:

- Kẻ thù chính, nguy hiểm nhất lúc này là thực dân Pháp xâm lược, cả dân tộc phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng

- Nhiệm vụ chiến lược: Cuộc cách mạng Đông Dương vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn

Trang 34

thành, vì nước ta chưa hoàn thành độc lập Từ nhiệm vụ chiến lược đó, khẩu hiệu vẫn là “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”.

Chủ trương giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc được Đảng và Chủ tịch

Hồ Chí Minh quán triệt ngay từ kháng chiến cục bộ ở miền Nam, trong điều kiện đã có chính quyền cách mạng Cuộc kháng chiến này tiếp tục sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong đó đồng thời với nhiệm vụ cấp thiết giải phóng dân tộc, phải tiến hành nhiệm vụ kiến quốc [21, tr.27-34] Chỉ thị

"Kháng chiến kiến quốc" thể hiện sự sáng tạo của Đảng trong việc hoạch định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, là ngọn cờ hướng đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong giai đoạn lịch sử có tính bản lề, cho cả những năm kháng chiến chống Pháp đánh Mỹ tiếp theo

Tại hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ nhất (19/10/1946) Đảng nhận định "không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp", và đề ra những chủ trương, biện pháp cụ thể cả về tư tưởng và tổ chức để quân dân cả nước sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới Trong chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ” (5/11/1946), Hồ Chủ tịch đã nêu lên những việc có tầm chiến lược, toàn cục khi bước vào cuộc kháng chiến và khẳng định lòng tin vào thắng lợi cuối cùng

Ngày 12/12/1946, trước những hành động ngang ngược của thực dân Pháp, vi phạm điều khoản trong Hiệp định Sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9, đẩy tình hình có những diễn biến phức tạp, TƯ Đảng đã ra Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”, có ý nghĩa như một “Cương lĩnh kháng chiến” của Đảng, xác định rõ những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam:

- Mục đích: Đánh thực dân Pháp xâm lược, giành thống nhất và độc lập

- Tính chất: Trường kỳ kháng chiến, toàn diện kháng chiến

- Chính sách: Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp; Đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình; Đoàn kết chặt chẽ toàn dân; Thực hiện toàn dân kháng chiến; Bảo vệ dân,

Trang 35

được lòng dân; Nêu tên "Hội Liên hiệp quốc dân" mà cổ động kháng chiến; Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt [17].

Trên cơ sở những vấn đề có tính chiến lược của hai văn kiện lớn là “Chỉ thị Toàn dân kháng chiến” của Thường vụ TƯ và “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 9-1947, Tổng Bí thư Trường

Chinh đã viết cuốn "Kháng chiến nhất định thắng lợi" Đường lối kháng chiến

kiến quốc của cách mạng Việt Nam được thể hiện cụ thể:

+ Mục đích kháng chiến: tiếp tục sự nghiệp CMT8, đánh thực dân Pháp xâm lược, hoàn thành giải phóng dân tộc, giành độc lập và thống nhất đất nước

+ Tính chất kháng chiến: là chiến tranh nhân dân, chiến tranh chính nghĩa Vì vậy, cuộc kháng chiến của ta có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới

+ Chính sách kháng chiến: Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp Đoàn kết với Miên - Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hoà bình Đoàn kết chặt chẽ toàn dân, thực hiện toàn dân kháng chiến; phải tự cấp,

tự túc về mọi mặt

+ Nhiệm vụ kháng chiến: Đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc Trong quá trình kháng chiến, tiến hành từng bước chính sách ruộng đất của Đảng nhằm bồi dưỡng sức dân, củng cố khối liên minh công nông, phân hoá cô lập kẻ thù

+ Phương châm kháng chiến: tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mạnh là chính Kháng chiến toàn dân là toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang, có ba thứ quân làm nòng cốt, thực hiện mỗi người dân là một chiến sỹ, mỗi làng xóm là một pháo đài Kháng chiến lâu dài là để chống âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, để có thời gian để củng cố, xây dựng lực lượng, nhằm chuyển hoá tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn đến mạnh hơn và đánh

Trang 36

thắng địch Kháng chiến dựa sức mình, trước hết phải độc lập về đường lối chính trị, chủ động xây dựng và phát triển thực lực của cuộc kháng chiến, đồng thời coi trọng viện trợ quốc tế Kháng chiến toàn diện là đánh địch về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại giao:

- Kháng chiến về chính trị: tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân;

- Kháng chiến về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến, đánh chính quy, du kích Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài, vừa đánh vừa võ trang, vừa đánh vừa đào tạo cán bộ

- Kháng chiến về kinh tế: Phá hoại kinh tế địch như đường giao thông, cầu, cống; xây dựng kinh tế tự cung tự cấp, tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng theo nguyên tắc

“Vừa kháng chiến vừa xây dựng đất nước”

- Kháng chiến về văn hoá: Xoá bỏ văn hoá thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hoá dân chủ mới theo nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng

- Kháng chiến về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực; liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp, sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập

Đường lối kháng chiến của Đảng với những nội dung cơ bản như trên là đúng đắn và sáng tạo, vừa kế thừa được kinh nghiệm của tổ tiên, đúng với các nguyên lý về chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa phù hợp với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ Đường lối kháng chiến của Đảng được công bố sớm đã có tác dụng đưa cuộc kháng chiến kiến quốc từng bước đi tới thắng lợi vẻ vang ở Sài Gòn – Gia Định, Nam bộ và trong cả nước

Trang 37

CHƯƠNG 2 TRÍ THỨC CÁCH MẠNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH TRONG CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1954)

2.1 TRONG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN VÀ ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ

2.1.1 Tham gia xây dựng chính quyền cách mạng

Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng, là công cụ sắc bén để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ quyền độc lập tự do, vì vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải củng cố và tăng cường sức mạnh của

bộ máy chính quyền từ TƯ đến địa phương Quan điểm chính của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tổ chức xây dựng Chính phủ giai đoạn 1946 – 1954 là "chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài", đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng để thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc

Cùng với trí thức cả nước, đông đảo trí thức Sài Gòn – Gia Định đã đi theo cách mạng, tham gia trong Chính phủ Hồ Chí Minh, xây dựng chính quyền vững mạnh để lãnh đạo cuộc kháng chiến kiến quốc Điển hình, trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến (3/1946), ông Huỳnh Thiện Lộc một trí thức Sài Gòn – Gia Định thuộc Đảng Dân chủ, được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Canh nông Trong thành phần Chính Phủ Mới (11/1946) và mở rộng, trí thức Sài Gòn – Gia Định tham gia gồm có: Ngô Tấn Nhơn giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Canh nông; Nguyễn Văn Tạo giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động; Đặng Văn Hướng (Bộ trưởng Không bộ), Huỳnh Thiện Lộc (Bộ trưởng Bộ Canh nông), [47]

Tại Nam bộ, trước tình thế Pháp trở lại đánh chiếm Sài Gòn, “Đảng đã tin tưởng và quyết định cho người trí thức Nam Bộ nhiều chức vụ quan trọng trong UBKCHC Nam Bộ, UBKCHC Sài Gòn – Chợ Lớn, Thành ủy, Tỉnh ủy,

Trang 38

UBND các tỉnh, thành và các tổ chức kháng chiến trực thuộc, trách nhiệm người trí thức lại nặng nề hơn bao giờ hết”[21, tr.81]

Trong UBKCHC Nam bộ, trí thức Sài Gòn – Gia Định tham gia vào các chức vụ như: chủ tịch Trần Văn Giàu, Phó chủ tịch Huỳnh Văn Tiểng, Ủy viên Vương Văn Lễ,… Trong UBND Nam Bộ, Phạm Văn Bạch giữ chủ tịch, Trần Văn Giàu phó chủ tịch, Nguyễn Văn Tạo phụ trách nội vụ, Phạm Ngọc Thạch phụ trách đối ngoại, Ngô Tấn Nhơn phụ trách kinh tế, các ủy viên Huỳnh Văn Nghiêm, Huỳnh văn Tiểng, phụ trách Ban cố vấn là bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng… Trong UBND Tp Sài Gòn – Chợ Lớn, Nguyễn Văn Kỉnh giữ chức Bí thư, Kha Vạn Cân giữ chức chủ tịch Ở Gia Định, Phạm Văn Khung là Bí thư tỉnh ủy Tiền phong, Huỳnh Văn Thơm là Bí thư tỉnh ủy Giải phóng, đồng chí Nguyễn Văn Lượng phụ trách công an tỉnh

Song song với việc xây dựng chính quyền các cấp, việc tổ chức cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội được tiến hành, nhằm tạo thế hợp hiến, hợp pháp cho chính quyền cách mạng, đồng thời, lựa chọn những người có đức, có tài

để gánh vác trọng trách Thắng lợi của Tổng tuyển cử đã củng cố sức mạnh chính trị cho Đảng, Chính phủ, MTDTTN Việt Nam Thành phần đại biểu Quốc hội khóa I phản ánh sự thống nhất dân tộc và đại đoàn kết toàn dân, quyết định đến thắng lợi trong công cuộc xây dựng chính quyền cách mạng.Ngày 6/1/1946, nhân dân Nam bộ tiến hành bầu cử quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ở những vùng đang xẩy ra chiến sự, số cử tri đi bầu đạt tới 60 đến 85%, so với toàn quốc là 90% Số đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị, dân tộc, tôn giáo, giai cấp trong cả nước là 333 người, trong đó Bắc Bộ 152 đại biểu, Trung Bộ có 108, và Nam Bộ có 73 đại biểu Rất nhiều trí thức Sài Gòn – Gia Định đã trúng cử và trở thành đại biểu quốc hội, tiêu biểu như: Huỳnh Văn Tiểng, Lý Chính Thắng, Nguyễn Văn Trấn,… ở địa bàn Sài Gòn; Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Văn Hoàng,… ở địa bàn Chợ Lớn; Thái Văn Lung, Trần Văn Nguyên,… ở địa bàn Gia Định

Trang 39

Sau Tổng tuyển cử, trước sự phát triển mạnh mẽ của đội ngũ trí thức tham gia Mặt trận Việt Minh, tháng 5/1946, Ủy ban Việt Minh (Chợ Lớn) và Thành bộ Việt Minh (Sài Gòn) đã họp và thống nhất thành lập Thành ủy lâm thời Sài Gòn – Chợ Lớn, gồm các đồng chí bí thư Trịnh Đình Trọng, ủy viên Nguyễn Văn Chí Sự ra đời Thành ủy lâm thời Sài Gòn – Chợ Lớn góp phần phát triển hơn nữa phong trào đấu tranh cách mạng ở Sài Gòn – Gia Định.Thực dân Pháp hiểu rõ về sức mạnh đoàn kết của Chính phủ liên hiệp, chúng dùng nhiều thủ đoạn, vừa chia rẽ về chính trị, vừa tấn công về quân sự

Để thực hiện kế hoạch đó, thực dân Pháp xúc tiến thành lập Chính phủ lâm thời đối lập là “Nam kỳ quốc” vào tháng 10/1947, và lôi kéo Bảo Đại lập Chính phủ quốc gia Điều này đặt ra những thử thách mới cho khối đại đoàn kết dân tộc, cho sự vững mạnh trong chính phủ Hồ Chí Minh Chủ trương mở rộng thành phần Chính phủ được tiến hành nhằm đáp trả đối với âm mưu chia

rẽ của Pháp: rút bớt người của Việt Minh, mời thêm thân sĩ không đảng phái tham gia Trong số 27 thành viên của “Chính phủ mở rộng”, có đến 15 người không đảng phái, thể hiện thành công của chiến lược thu hút nhân sĩ, trí thức tham gia chính quyền cách mạng

Nhận thức được vai trò và uy tín ngày càng tăng của giới trí thức Sài Gòn – Gia Định, giữa năm 1947 Xứ ủy Nam bộ chỉ đạo củng cố UBKCHC, nhằm thu hút hơn nữa sự tham gia đóng góp của tầng lớp này Rất nhiều trí thức Sài Gòn – Gia Định được giao giữ các vị trí quan trọng: luật sư Phạm Văn Bạch giữ chức chủ tịch, luật sư Nguyễn Ngọc Thuấn giữ chức phó chủ tịch, trí thức Trần Bửu Kiếm làm tổng thư ký, và các ủy viên là bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, kỹ sư Kha Vạn Cân, giáo sư Ung Văn Khiêm, Ca Văn Thỉnh,…; giữ các chức vụ chủ chốt như: bác sĩ Hồ Văn Huê làm giám đốc Sở y tế Nam

bộ, giáo sư Nguyễn Văn Chì làm giám đốc sở Giáo dục, kỹ sư Kha Vạn Cân làm giám đốc Sở Tài chính, kỹ sư Huỳnh Thiện Lộc làm phó chủ tịch Hội Liên việt Nam bộ,…

Trang 40

Một sự kiện đáng chú ý là việc thành lập chi bộ Đảng “Trí vận” (ngày 25/12/1947), do đồng chí Hoàng Quốc Tân làm bí thư Rất nhiều trí thức có tên tuổi và uy tín đã gia nhập như bác sĩ Trần Bửu Kiếm, giáo sư Lê Văn Huấn, tiến sĩ Nguyễn Xuân Bái, kỹ sư Michel Văn kỹ, kỹ sư Lưu Văn Lang, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Sự ra đời chi bộ Trí vận nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Thành ủy đối với công tác vận động trí thức, công chức ở Sài Gòn – Chợ Lớn - Gia Định tham gia trong vào phong trào đấu tranh Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Trí Vận, phong trào đấu tranh của trí thức, học sinh, sinh viên, công chức ngày càng phát triển một cách có tổ chức, khoa học

Giữa năm 1948, đáp ứng sự lớn mạnh và trưởng thành của các tổ chức chính trị yêu nước, UBKCHC Nam bộ tổ chức Hội nghị xây dựng chính quyền kháng chiến toàn Nam bộ, do tiến sĩ Phạm Văn Bạch chủ trì Hội nghị bầu Phạm Văn Bạch chủ tịch, Phạm Ngọc Thuần Phó chủ tịch, Trần Bửu Kiếm tổng thư ký; và các ủy viên Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Nguyễn, Kha Vạn Cân, Nguyễn Thành Vĩnh, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Ngọc Nhựt, Hoàng Xuân Nhị,… Sau Hội nghị, chính quyền kháng chiến được kiện toàn về mặt tổ chức và mở rộng cơ cấu Một số nhân sĩ trí thức được bổ nhiệm hoặc điều động sang công tác mới như họa sĩ Lưu Quý Kỳ giữ chức ủy viên tuyên huấn Xứ ủy, nhà báo Nguyễn Văn Bá giữ chức trưởng ban B, nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ giữ chức Khu bộ phó Khu 7, nhà báo Đào Anh Kha điều về làm thư ký toàn soạn, xây dựng tờ Mác Xít…

Tổ chức chính trị ngày càng được củng cố, tập hợp đông đảo lực lượng các nhà trí thức, công tác phát triển Đảng ngày càng được đẩy mạnh, nhất là chi bộ hoạt động trong giới trí thức Sài Gòn – Gia Định Trong vòng hai năm 1948-1949, Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn do dược sĩ Phạm Thị Yên làm bí thư đã kết nạp được 20 đảng viên là trí thức như dược sĩ Hồ Thu, giáo sư Lê Văn Huấn, Cổ Tấn Lang, nhà văn Tam Ích, luật sư Hồ Tri Châu, Nguyễn Hữu Thọ, nhà giáo Bùi Thị Nga, Huỳnh Ngọc Anh,

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang Ân (1998), Những gương mặt trí thức, tập 1-2, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những gương mặt trí thức
Tác giả: Nguyễn Quang Ân
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1998
3. Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh Bộ Quốc phòng (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học kinh nghiệm, Nxb.CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học kinh nghiệm
Tác giả: Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 1996
4. Ban Dân vận TƯ (1995), Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Dân vận TƯ
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 1995
5. Ban Tư tưởng – Văn hóa TƯ (2007), Một số lời dạy và mẫu chuyện về Tấm gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lời dạy và mẫu chuyện về Tấm gương đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa TƯ
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2007
6. Nguyễn Thị Hòa Bình (1996), “Đội ngũ trí thức ngành y tế trong quá trình cách mạng Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ trí thức ngành y tế trong quá trình cách mạng Việt Nam”, "Luận án tiến sĩ
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa Bình
Năm: 1996
7. Trường Chinh (1975), Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nxb. Sự Thật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng chiến nhất định thắng lợi
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1975
8. Phạm Tất Dong Cb. (2001), Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Tất Dong Cb
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2001
9. Phạm Tất Dong (2006), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề trọng dụng trí thức và nhân dân”, Báo Nhân dân, ngày 19/5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề trọng dụng trí thức và nhân dân”, "Báo Nhân dân
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 2006
10. Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1970
11. Đỗ Đức Dục (1995), "Thanh niên trí thức Việt Nam đi vào cuộc kháng chiến như thế nào?", Tạp chí Xưa và Nay, (9), tr.13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên trí thức Việt Nam đi vào cuộc kháng chiến như thế nào
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Năm: 1995
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự Thật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự Thật
Năm: 1991
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1978), Văn kiện Đảng 1945-1954, tập 1, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng TƯ, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng 1945-1954, tập 1
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng TƯ
Năm: 1978
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1980), Văn kiện Đảng 1945-1954, tập 2, 4, quyển I, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng TƯ, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng 1945-1954
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1980
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb. CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 1998
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Ðảng toàn tập, tập 7, 51, Nxb. CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Ðảng toàn tập, tập 7
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2000
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2006
19. Đảng Lao động Việt Nam (1957), Chính sách của Đảng Lao động Việt Nam đối với trí thức, Nxb. Sự thật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của Đảng Lao động Việt Nam đối với trí thức
Tác giả: Đảng Lao động Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1957
20. Trần Bạch Đằng Cb. (2010), Lịch sử Nam bộ kháng chiến, Nxb. CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nam bộ kháng chiến
Tác giả: Trần Bạch Đằng Cb
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2010
21. Hồ Sơn Điệp (2003), Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954, Nxb. Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954
Tác giả: Hồ Sơn Điệp
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2003

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w