Không chỉ đạt những thành công trong việc miêu tả phong tục như một nét phong cách nghệ thuật riêng, các nhà nghiên cứu còn nhận ra ở Tô Hoài những đặc sắc khác về nghệ thuật được thể hi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP Hồ CHÍ MINH
***************************************
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA VĂN XUÔI TÔ
Trang 5D ẪN NHẬP
1.LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại Tô Hoài là tác giả có nhiều đóng góp quan trọng Trong quá trình hơn sáu mươi năm sáng tác liên tục và bền bỉ, đến nay ông đã có trên 150 đẩu sách được ấn hành thuộc về nhiều đề tài khác nhau (cách mạng và đời thường, hòa bình và chiến tranh, miền núi và miền xuôi, nông thôn và thành thị, đời sống nhân dân và hồi ức cá nhân, truyện cho người lớn và truyện cho thiếu nhi, ) với nhiều thể loại khác nhau (tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, kịch Lý luận - kinh nghiệm sáng tác) Đây quả là một khối lượng sáng tác đồ sộ hiếm có ai trong các nhà văn Việt Nam hiện đại so sánh được Đặc biệt, trong đó có nhiều tác phẩm có giá trị Được bạn đọc đánh giá cao Cho đến hôm nay, nhiều cuốn sách của Tô Hoài vẫn liên tục được tái bản trên khắp ba miền đất nước Ông đã và vẫn đang là nhà văn quen thuộc, đáng mến của nhiều người, nhiều giới
Quá trình sáng tác của Tô Hoài được chia làm hai giai đoạn, trước và sau Cách mạng tháng Tám Có thể nói, ở cả hai giai đoạn ông đều gặt hái được những thành công đáng kể Đặc biệt, ở giai đoạn đầu, dù lúc ấy nhà văn tuổi đời còn rất trẻ, lại vừa mới vào nghề nhưng cũng đã sớm thành công, tạo được chỗ đứng riêng trên văn đàn Nhiều tác phẩm như Dế Mền phiêu lưu ký, tập truyện ngắn o chuột, Nhà nghèo… cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, được bạn đọc quan tâm, yêu mến Chọn đề tài tìm hiểu về những đặc điểm nghệ thuật trong văn xuôi của Tô Hoài giai đoạn này, người viết muốn có điều kiện
đi sâu nghiên cứu nhừng yếu tố đã góp phần làm nên chân dung Tô Hoài - người đã cùng với Nam Cao, Nguyên Hồng, Bùi Hiển tạo nên nét đặc sắc riêng cho văn học nước ta những năm 1940 -1945 Đồng thời qua đó, người viết cũng muốn đóng góp một phần vào công trình nghiên cứu chung về sự nghiệp của nhà văn rất thân quen này
2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài từ lâu đã trở thành
Trang 6đề tài quen thuộc của giới phê bình, nghiên cứu Trong đó, mảng tác phẩm trước Cách mạng tháng Tám của ông đã được đánh giá, phân tích từ nhiều góc
độ, cấp độ khác nhau qua nhiều bài viết, công trình nghiên cứu lớn, nhỏ Đặc biệt, vấn đề những đặc điểm nghệ thuật của mảng tác phẩm này cũng đã được
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, số lượng bài viết, công trình nghiên cứu về Tô Hoài càng ngày càng nhiều hơn Trong đó có không ít bài nói đến giai đoạn sáng tác trước Cách mạng cùng những thành công về nghệ thuật
mà ông đạt được Tiêu biểu có thể kể là các bài viết của Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Hà Minh Đức, Trần Hữu Tá, Vân Thanh, Vũ Quần Phương, Võ Xuân Quế Ngoài ra, còn có khá nhiều các luận văn, luận án của các sinh viên, học viên cao học và các nghiên cứu sinh
Ở mỗi một bài viết, một công trình nghiên cứu, tùy thuộc vào phạm vi và dụng ý riêng của từng tác giả mà vấn đề những đặc điểm nghệ thuật trong văn xuôi của Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám được đề cập đến với những mức độ đậm nhạt, nhiều, ít khác nhau Tuy vậy, nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều nhận thấy Tô Hoài có sở trường về việc miêu tả phong tục, đặc biệt là phong tục của làng quê ngoại thành Hà Nội Trong bài viết của mình, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: "Tô Hoài thường nhìn nông thôn nghiêng về phía phong tục với cặp mắt hóm hỉnh sắc sảo" (46, 51) Trần Hữu
Tá cũng nhận thấy: "Tô Hoài có một nhãn quan phong tục đặc biệt nhạy bén, sắc sảo" (52, 160) Ông nhận thấy trước Cách mạng tháng Tám Tô Hoài đã giúp độc giả hiểu biết nhiều về những tục lệ của một vùng ngoại thành Hà Nội qua nhiều truyện dài, truyện ngắn Qua bài "Tô Hoài - 60 năm viết " nhà nghiên cứu Phong Lê cũng viết: "Dấu ấn phong tục là nét nổi trội trong văn Tô
Trang 7Hoài khiến cho hứng thú đọc truyện của chúng ta luôn được tác giả dẫn dắt đi vào nhiều ngõ ngách bất ngờ" (52, 27)
Không chỉ đạt những thành công trong việc miêu tả phong tục như một nét phong cách nghệ thuật riêng, các nhà nghiên cứu còn nhận ra ở Tô Hoài những đặc sắc khác về nghệ thuật được thể hiện trong các tác phẩm giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám như nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật sử dụng và sáng tạo ngôn từ, Trong bài viết trên, nhà nghiên cứu Nguvễn Đăng Mạnh cũng nhận xét Tô Hoài là "nhà văn
có một khiếu quan sát hết sức phong phú và sắc sảo, tài hoa hiểu theo nghĩa vận dụng toàn bộ các giác quan để ghi nhận các cảnh vật bên ngoài với tất cả hình dáng, sự hoạt động, âm thanh, màu sắc, mùi vị của nó Ông cũng có một trí tưởng tượng mạnh mẽ giúp ông rất nhiều khi miêu tả loài vật và viết truyện cho thiếu nhi, đồng thời có một vốn ngôn từ giàu có mà ông đã cần cù tích lũy
để tạo nên những bức tranh chân thật, sóc cạnh và đầy hương sắc" (46, 54) Trong lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài, Hà Minh Đức cũng nhận thấy truyện của Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám thiên nhiều về cuộc sống ở làng quê với nhiều kiểu nhân vật sinh động và phong tục tập quán lâu đời Truyện của ông thường mang phong vị riêng độc đáo ''Ông giỏi miêu tả nhân vật, miêu tả không khí của là làng quê" (27, 20) Còn Phong Lê thì phải thốt lên: "Ở tuổi hai mươi, ngòi bút Tô Hoài thật đã xiết bao linh hoạt Quan sát kỹ lưỡng và tinh tế Ngôn từ tự nhiên mà giàu có Thiên nhiên thoáng đãng mà thơ mộng Nhân vật có dáng riêng, giọng riêng và đều sắc nét."(52, 21)
Ở các luận văn, luận án viết về Tô Hoài, dù các tác giả không trực tiếp tập trung vào nghiên cứu những đặc điểm nghệ thuật trong mảng văn xuôi giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám của ông, nhưng ở một mức độ phù hợp, đa
số đều bàn đến vấn đề này Trong đó, nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật miêu tả nhân vật, đặc biệt là nhân vật loài vật, được chú ý đánh giá cao.(Ví dụ: Cao Minh Hằng với luận văn thạc sĩ "Nhà văn Tô Hoài với mảng "truyện loài vật", Nguyễn Thị Tâm với luận văn tốt nghiệp Đại học "Góp phần tìm hiểu truyện loài vật của Tô Hoài" ) Như vậy, nhìn chung, các bài viết, các ý kiến của các
Trang 8nhà nghiên cứu tuy cũng có chỗ khác nhau nhưng đều thông nhất đánh giá khá cao tài năng nghệ thuật của nhà văn trẻ Tô Hoài trong những năm đầu sáng tác Trong đó, đặc sắc nhất, thành công nhất, có thể tạo nên dấu ấn phong cách đặc trưng cho Tô Hoài là nghệ thuật miêu tả (miêu tả phong tục, miêu tả thiên nhiên ) và nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật ngôn từ
Tuy vậy, nhìn lại toàn bộ các bài nghiên cứu về Tô Hoài, đặc biệt là về những đặc điểm nghệ thuật trong văn xuôi của ông giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, ta thấy thiếu một công trình mang tính toàn diện, sâu sắc, có hệ thống Các ý kiến đánh giá, những nhận định về vấn đề này thường chỉ được các nhà nghiên cứu đề cập trong bài viết của mình với một dung lượng nhỏ để kết hợp lý giải, phân tích những vấn đề có tính bao quát, tổng hợp khác Tuy nhiên, những ý kiến, nhận định ấy đều xác đáng, và do đó, có thể làm cơ sở để triển khai những đề tài khoa học sâu hơn
Trên tinh thần kế thừa học tập những người đi trước, chúng tôi đã tổng hợp những tài liệu phong phú có liên quan, đi vào tìm hiểu một cách kỹ lưỡng,
có hệ thống những đặc điểm nghệ thuật trong văn xuôi của Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám nhằm phát huy và mở rộng ở cả chiều sâu lẫn chiều rộng của vấn đề thành một luận văn nghiên cứu khoa học
3 PH ẠM VI NGHIÊN CỨU
Tô Hoài là một nhà văn có nhiều cống hiến cho nền văn xuôi nước nhà Ông có những đóng góp quan trọng trong cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau Cách mạng tháng Tám Đặc biệt là giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, tuy chỉ có dăm năm nhưng đa số đều là tác phẩm hay, khá đều tay Tác phẩm của ông thành công ở cả hai phương diện: nội dung và nghệ thuật, cả hai bổ sung cho nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau Do vậy, khi bàn về những thành công tạo nên giá trị cho văn Tô Hoài, không thể xem nhẹ bất cứ phương diện nào Tuy nhiên, do thời gian, tư liệu và tầm hiểu biết có hạn nên khi thực hiện đề tài này, chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu, tìm hiểu những thành công về mặt nghệ thuật trong văn xuôi của ông giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám Hơn nữa, chúng tôi chỉ xin tập trung vào ba phương diện nghệ thuật tiêu biểu bao gồm nghệ
Trang 9thuật miêu tả thiên nhiên và miêu tả phong tục, nghệ thuật xây dựng nhân vật
và nghệ thuật ngôn từ - những phương diện mà qua đó có thể thấy được những đóng góp đặc sắc nhất tạo nên dấu ấn phong cách riêng cho nhà văn này
Hơn nữa, để có thể làm rõ những nét đặc sắc và đóng góp riêng của Tô Hoài về mặt nghệ thuật qua mảng tác phẩm giai đoạn này, chúng tôi sẽ đối chiếu, so sánh với một số tác phẩm thuộc giai đoạn sáng tác sau Cách mạng tháng Tám của ông cũng như một số tác phẩm của các nhà văn khác cùng thời: Thạch Lam, Nguyên Hồng, Nam Cao, Bùi Hiển
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
4.1.PHƯƠNG PHÁP HỆ THỐNG
Luận văn sử dụng phương pháp này để xác lập tính nhất quán trong phong cách nghệ thuật của tác giả Những đặc điểm nghệ thuật được nghiên cứu không chỉ tồn tại trong một tác phẩm mà còn hiện diện trong nhiều tác phẩm đương thời của Tô Hoài, tạo nên đặc trưng phong cách của ông trên văn đàn giai đoạn này
4.2.PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH – SO SÁNH
Phương pháp này được áp dụng để làm rõ những thành công về nghệ thuật của Tô Hoài trong các tác phẩm giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám Trong khi phân tích ,chúng tôi cố gắng so sánh với những tác phẩm ở giai đoạn sáng tác sau Cách mạng của ông để thấy được sự kế thừa, phát huy, đồng thời
so sánh với những tác phẩm của các tác giả khác cùng thời như: Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyên Hồng, Bùi Hiển để thấy được nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Tô Hoài ở mảng tác phẩm giai đoạn này
4.3.PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN LOẠI
Luận văn đặt vấn đề tìm hiểu những biểu hiện cụ thể, chi tiết về nghệ thuật trong các tác phẩm của Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám,
Trang 10do vậy phương pháp thống kê - phân loại được dùng để có thể có được những: chứng cứ cụ thể, chính xác khi nghiên cứu, giúp cho việc trình bày vấn đề trong luận văn thêm tính thuyết phục
Các phương pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được sử dụng kết hợp trong quá trình thực hiện luận văn
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Thực hiện luận văn với đề tài "Đặc điểm nghệ thuật của văn xuôi Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám", chúng tôi không có tham vọng khảo sát và lý giải đầy đủ mọi đặc điểm nghệ thuật trong tác phẩm của ông giai đoạn này mà chỉ hy vọng tìm hiểu thấu đáo một số đặc điểm chính vê phương diện nghệ thuật để thấy được những nét sở trường độc đáo, giúp khẳng định vị trí và tiếng nói riêng của ông trong làng văn Việt Nam không chỉ trong giai đoạn đương thời mà cho đến tận ngày nay Bao gồm :
- Những sở trường trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, phong tục
- Những thành công đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Những đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật ngôn từ
6.K ẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn bao gồm bốn chương tập trung vào các vấn đề sau:
- Chương 1: Tác phẩm văn xuôi của Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám
- Chương 2: Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và miêu tả phong tục
- Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Chương 4: Nghệ thuật ngôn từ
Trang 11
Chương 1: TÁC PHẨM VĂN XUÔI CỦA TÔ HOÀI GIAI
ĐOẠN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
1.1 VÀI NÉT V Ề TÁC GIẢ
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen Ông sinh ngày 27 tháng 9 năm 1920 (tức ngày 16 tháng 8 năm Canh Thân) Quê nội ông ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây nhưng ông sinh ra và lớn lên ở quê ngoại: làng Nghĩa
Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông cũ, nay là phường Nghĩa Đô, quận cầu Giấy, Hà Nội Bút danh Tô Hoài chính là gắn với hai địa danh quê ông: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức
Tô Hoài xuất thân trong một gia đình nghèo làm nghề thủ công nghề dệt lụa Ông được học hết bậc tiểu học rồi sau đó vừa đi học vừa đi làm để kiếm sống Ông đã từng trải qua nhiều nghề khác nhau trước khi trở thành nhà văn như: thợ thủ công, dạy trẻ, bán giầy, làm kế toán, tính sổ hiệu buôn
Năm 1938, chịu ảnh hưởng tích cực của phong trào Mặt trận Bình dân, ông đã tham gia phong trào ái hữu thợ dệt, đã từng làm thư ký ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông Rồi ông tham gia phong trào Thanh niên phản đế Đến năm 1943, ông gia nhập tổ Văn hóa cứu quốc đầu tiên ở Hà Nội
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài tham gia phong trào Nam tiến rồi lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc Năm 1951, ông về công tác ở Hội văn nghệ Việt Nam
Sau ngày hòa bình lập lại, ông tham gia và giữ nhiều trọng trách trong Hội nhà văn Việt Nam, đồng thời là chủ tịch nhiều năm của Hội văn nghệ Hà Nội Ngoài ra, Tô Hoài còn tham gia nhiều công tác xã hội khác như đại biểu quốc hội khóa 7, phó chủ tịch Ủy ban đoàn kết Á -Phi, phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Ấn
Tô Hoài đến với nghề văn sớm Mười bảy, mười tám tuổi ông đã có một
số sáng tác thơ đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy {Tiếng reo, Đan áo ) Những bài thơ non nớt về nghệ thuật như thế đã giúp ông hiểu mình và sớm chuyển hướng Đến với văn xuôi, ông đã nhanh chóng chọn con đường hiện thực chủ
Trang 12nghĩa Ông không theo con đường của Khái Hưng, Nhất Linh bởi một lẽ giản dị
"viết truyện viển vông giang hồ kỳ hiệp thì ai cũng có thể tưởng tượng như nhau, nhưng viết giống cái thật thì đời và người trong truyện của mấy ông con quan có đồn điền như thế, tôi không biết, nên không bắt chước được" (26, 198)
Vả lại, cảnh sống vất vả, túng thiếu của bản thân, gia đình và những người xung quanh luôn thôi thúc ông khiến cho "ý nghĩ tự nhiên của tôi bấy giờ là viết những sự xảy ra trong nhà, trong làng quanh mình" (26, 198) Tuy vậy, việc gắn bó thật sự với nghề văn của Tô Hoài cũng rất bất ngờ, ngẫu nhiên và
tự nhiên Một trong mấy sáng tác đầu tiên của ông gửi được đăng báo là truyện ngắn Nước lên, được viết sau khi đi hộ đê ở Tứ Tổng về Chữ Tô Hoài ngòng ngoéo khó đọc nhưng nhờ vào sự chú ý của ông bà chủ bút Hà Nội tân văn là
Vũ Ngọc Phan và Hằng Phương mà truyện được đăng và được trả nhuận bút Điều này gây bất ngờ lớn cho Tô Hoài: "Tôi không thể so sánh và tưởng tượng
ra giá một bài báo với cồng xá những công việc tôi đã làm bấy lâu để kiếm sống Hãng giầy Bata mỗi tháng trả lương tôi sáu đồng Bây giờ, một cái truyện ngắn tôi được mười đồng, lại có băng quấn quanh tờ giấy bạc, ngoài đề tên mình
Ôi, lịch sự! Mà một tháng, tôi có thể viết mấy cái truyện ngắn! Điếc không sợ súng, tôi cứ viết tràn lan." (26, 213) Từ đấy, Tô Hoài bắt đầu viết liên tiếp và tính từ khởi nghiệp văn cho đến nay, ông đã viết trên 150 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: ký (bút ký, hồi ký, chân dung), truyện ngắn, tiểu thuyết Trong đó, có không ít những sáng tác có giá trị
Hơn nửa thế kỷ lao động sáng tạo nghệ thuật, Tô Hoài đã có những đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà Ông có mặt ở cả hai giai đoạn trước
và sau Cách mạng tháng Tám Ở giai đoạn nào ông cũng có những đóng góp đặc sắc Đặc biệt là giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, mặc dù nhà văn lúc
đó còn rất trẻ nhưng cũng đã nhanh chóng xác định được cho mình một phong cách riêng Đúng như giáo sư Phong Lê đã từng nhận xét: "Trước Cách mạng truyện của Tô Hoài in rất đậm cảm quan nghệ thuật và giọng điệu riêng của ông - một cây bút sung sức, đứng bên Nam Cao, làm nên dấu ấn đặc trưng cho
Trang 13trào lưu văn học hiện thực Việt Nam những năm tiền Cách mạng" (52, 17) Chính vì thế, việc đặt vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật, một trong những yếu tố quan trọng tạo nên dấu ấn phong cách Tô Hoài giai đoạn này, là một việc làm cần thiết và đúng đắn
1.2 TÁC PHẨM VĂN XUÔI CỦA TÔ HOÀI GIAI ĐOẠN TRƯỚC
1945 hình thành nên hai mảng đề tài tưởng như tách nhau nhưng thật ra và cuối cùng vẫn cứ hội vào nhau và thống nhất trong một thế giới nghệ thuật chung, mang chung cảm quan nghệ thuật đặc sắc của Tô Hoài Nói Tô Hoài là nói sự thống nhất của thế giới nghệ thuật ấy, dẫu là về vật hoặc về người, dẫu là truyện về mình như trong cỏ dại hoặc truyện về người như trong Giăng thề, Quê người và Xóm giếng Đó là đặc điểm riêng trong bức tranh hiện thực của
Tô Hoài và cũng là dấu ấn riêng nơi chủ nghĩa hiện thực kiểu Tô Hoài trong văn xuôi Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám" (52, 29)
1.2.1 TH Ế GIỚI TUỔI THƠ
Khởi đầu sự nghiệp văn chương khi còn rất trẻ, khi mà những ký ức tuổi thơ còn in rất đậm trong trí nhớ, Tô Hoài đã khéo vận dụng vốn sống của mình với những ký ức ấy để xây dựng nên những tác phẩm đặc sắc Đó là những tác phẩm viết về thế giới những sinh vật quen thuộc, bé nhỏ xung quanh, những
người bạn thân thiết một thời của nhà văn Đó là những chú gà, chú chim ri đá, chú chó hay lèm bèm ủng oẳng, anh mèo lừ đừ nghiêm nghị cho đến chú Dế
Trang 14Mèn, Dế Trũi, bác Xiến Tóc, cô Nhà Trò tí hon Tất cả những con vật ấy đã bước vào trong văn của Tô Hoài một cách tự nhiên, sống động Có thể nói, viết
về loài vật chính là sở trường đặc biệt của Tô Hoài Ngoài ra, thế giới tuổi thơ còn hiện lên trong văn Tô Hoài qua một hồi ký hết sức cảm động về những ngày thơ ấu của chính tác giả, cậu bé Sen ngày nào
Loài vật từ xa xưa đã là đối tượng miêu tả quen thuộc của nhiều ngành nghệ thuật, nhất là hội họa và điêu khắc Tuy nhập cuộc muộn hơn nhưng bằng vòn ngôn ngữ phong phú, văn học đã có những sáng tạo riêng khá độc đáo về
đề tài này
Ở Việt Nam, loài vật cũng đã trở nên quen thuộc trong các sáng tác của nhiều nhà văn Nhưng có thể nói, những trang viết về loài vật của Tô Hoài là đóng góp nổi bật nhất Trước và sau ông chưa có nhà văn nào sáng tạo được những nhân vật "loài vật" đáng yêu và thông minh như cách ông đã làm Chính nhờ phần lớn ở thành công của mảng sáng tác này mà tên tuổi Tô Hoài đã nhanh chóng đến với bạn đọc
Đến với đề tài này, nhà văn tỏ ra thích thú đặc biệt Trước và sau Cách mạng tháng Tám, ông có tất cả 33 truyện viết về loài vật Tuy vậy, trong số ấy thì mảng tác phẩm ra đời trước Cách mạng tháng Tám được tác giả viết đều tay
và thành công hơn Sau này, dù vẫn tiếp tục nhưng những thành công mà ông đạt được ở giai đoạn đầu dường như vẫn có giá trị hơn hẳn
Thế giới loài vật trong tác phẩm Tô Hoài, chỉ xét riêng giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, đã rất sinh động, phong phú.(Chỉ riêng trong tác phẩm
Dế Mèn phiêu lưu ký, theo số liệu thống kê của chúng tôi, đã có sự hiện diện của tới 79 con vật khác nhau Xin xem thống kê chi tiết ở phần phụ lục.) Trong
đó, các con vật xuất hiện đa số đều nhỏ bé, là vật nuôi trong nhà hoặc sống quanh quẩn bên con người như: mèo, chó, gà, vịt, ngan, chim, chuột, cá và cả ếch nhái, cóc, kiến, bọ ngựa, dế, cào cào Chúng chỉ là những con vật bình thường nhưng qua ngòi bút sáng tạo của nhà văn đã trở thành những hình tượng sống động, có sức lôi cuốn, hấp dẫn đến không ngờ
Trang 15Trong tác phẩm nổi tiếng Dế Mèn phiêu lưu ký, chúng ta đã được làm quen với cả một thế giới sinh vật nhỏ bé, gần gũi, thân quen với tuổi thơ Nhân vật chính là Dế Mèn, một chàng dế thanh niên cường tráng, qua những bài học sâu sắc tiếp nhận từ cuộc đời, đã nhận ra lý tưởng của cuộc sống Chú đã từ bỏ cảnh sống tù túng quanh quẩn bên bờ đầm nước, cất bước lên đường để mở rộng tầm nhìn và tìm cho mình một lẽ sống tốt đẹp Xuyên suốt tác phẩm, hình tượng Dế Mèn tỏa sáng lung linh, được nhà văn tập trung chú ý miêu tả cụ thể
từ dáng vẻ bên ngoài tràn đầy sinh lực đến những chuyển biến nội tâm phức tạp bên trong Chú đi nhiều, học được nhiều điều hay Qua mỗi chặng đường, tầm mắt chú ngày càng được mở rộng Chú có thêm nhiều người bạn mới, làm được những việc có ý nghĩa Những trang sách miêu tả cuộc hành trình phiêu lưu đầy bất ngờ thú vị của Dế Mèn đã tạo cho thiếu nhi biết bao niềm say mê
Bên cạnh Dế Mèn, trong tác phẩm ta còn gặp gỡ nhiều sinh vật khác như Xiến Tóc, Nhà Trò, Nhện, Bọ Muỗm, Cào Cào, Bọ Ngựa, Kiến Tất cả đều được tác giả quan sát rất kỹ lưỡng và miêu tả dưới nhiều góc độ độc đáo khác nhau
Anh chàng võ sĩ Bọ Muỗm hiện ra trong trang văn với một bộ vó khá oách: người thì "xanh rực và vạm vỡ, bắp chân, bắp càng bóng nhẫy, mập mạp" Lưng thì "gờ lên, rắn chắc" Còn đôi cánh màu lá cây thì "làm thành chiếc áo giáp che kín xuống tận đuôi" Hơn thế, đằng đuôi chàng ta lại mắc thêm một lưỡi gươm cong hoắt Đầu chàng rất lớn "mút nhọn lại" có thể húc rất khỏe Lại thêm hai vành râu trắng phau với đôi mắt to hó như mắt cá và hai tảng răng đen, nhọn khoằm khoặm Có lẽ vì quá tự tin vào bộ dạng và thể lực của mình nên khi đấu vỏ chàng ta "nhơn nhơn ra vẻ", không cần võ và chỉ cậy vào sức mình, cứ lăn xả vào thọc gươm và cắn lia lịa Nhưng cuối cùng, thật bất ngờ, anh chàng to xác ấy lại thất bại dưới tay một kẻ nhỏ con và yếu sức hơn Âu cũng là bài học cho kẻ ỷ sức, chỉ cậy khỏe mà không có mưu trí vậy Nếu như anh võ sĩ Bọ Muỗm là một anh chàng hữu dũng vô mưu như thế thì các chị Cào Cào lại tỏ ra yểu điệu, yếu ớt Các chị từ trong làng ra, "mỹ miều áo đỏ, áo xanh mớ ba mớ bảy, bước từng chân chầm chậm, khoan thai,
Trang 16khuôn mặt trái xoan như e thẹn, như làm dáng, như ngượng ngùng." (27, 101) Còn các anh Châu Chấu Ma dù mặt mũi xấu xí nhưng lại "chúa hay lơn tơn đón đường co kéo các nàng Cào Cào xinh đẹp vào trò chuyện vẩn vơ trong vườn cỏ non - những hàng quán dọc đường" (27, 101)
Xã hội loài vật hiện diện trong Dế Mèn phiêu lưu ký còn phong phú hơn bởi sự góp mặt của những sinh vật sống nơi đầm lầy nước đọng
Đó là những con vật mà Dế Mèn gặp gỡ trong cuộc hành trình phiêu lưu của mình Xóm của các anh chàng Rắn Mòng, Cóc, Nhái, Ếch Cốm Chẫu Chàng được chú ý trước hết bởi đặc tính ồn ào cố hữu Cư dân ở đây chỉ có vài nhà mà lúc nào cũng huyên náo "vang tiếng cãi cọ", "cứ điều qua tiếng lại, mỗi miệng thêm một lời, không ai nhịn ai, uồm uồm oang oang mãi lên" (27, 89) Chúng sống ở nơi lầy lội, um tùm cỏ nước, quanh năm chỉ thấy bùn đen
Có lẽ chính vì thế mà lúc nào "da dẻ chân tay loài ở bùn cũng tối om"
Ếch Cốm được phong làm Đại vương, thống lĩnh cả cái xóm bùn lầy nước đọng ồn ào ấy Trông Đại vương Ếch có vẻ uy nghi, béo tốt hơn cả Lão "chồm chỗm ngồi vênh mõm trên viên gạch vuông như kiểu ngồi trên sập, ra điều uy nghi lắm" Lão có "đôi mắt lồi nghiêm nghị" cứ luôn giương "trừng trừng", chân trước "khoanh ra", chân sau "xếp tè he lại" Ngực và bụng Đại vương Ếch
"trắng bóng giống lối cổ áo thầy kiện, cứ phập phồng, phập phồng đưa lên đưa xuống lấy hơi sắp nói, nhưng mãi chẳng thấy nói gì" Đặc biệt, trên gáy lão ta còn "điểm mấy miếng xanh ở cổ áo và lưng áo như hạt cốm" Có lẽ, đấy chính
là lý do vì sao người ta gọi lão là Ếch cốm Dưới quyền cai quản của Đại vương Ếch Cốm là tất cả cư dân của cái xóm ở trơ vơ trong cái cù lao giữa nước ấy Từ lão Cóc ưa ''dấm dớ, lý sự" mỗi khi cất giọng thường rất văn vẻ như một thầy đồ thực thụ đến anh Rắn Mòng hiền lành như cái đụn rạ và anh Nhái Bén gầy lêu đêu, lúc nào cũng mặc bộ quần áo thể thao bó sát người, so
le, xộc xệch khiến cho có cảm tưởng cẳng chân như dài thêm ra
Miêu tả thế giới muôn loài trong Dế Men phiêu lưu ký, nhà văn Tô Hoài cũng không quên họ hàng những loài động vật sống dưới nước Đó là họ nhà
Cá với đủ loại: Những đàn cá Săn Sắt với "đuôi cờ múa rợp bóng nước",
Trang 17"những mụ Diếc trắng trẻo, béo tròn con quay", lại thêm những bác cá Ngão
"mắt lồi đỏ, dài nghêu, mồm nhọn ngoác ra" và những anh cá Chuối "răng nhe trắng như lưỡi cưa, lướt đến trước mặt thì dòng nước đương trong vắt bỗng đen sạm như nền trời mưa" Tất cả chúng, nhờ nét bút miêu tả tài hoa tinh tế, đã hiện diện trong trang văn Tô Hoài làm phong phú thêm xã hội muôn loài vốn dĩ
đã khá đông đúc và náo nhiệt
Ngoài truyện Dế Mền phiêu lưu ký, Tô Hoài còn viết về loài vật trong rất nhiều sáng tác khác của mình Tiêu biểu là tập truyện ngắn o chuột Đây là tập truyện ngắn đầu tiên của ông Trong đó nhà văn miêu tả những tâm tình và cuộc sống của những con vật như mèo, chó, ngan, gà, vịt, chim Đó là những con vật sống kề cận với loài người Có điều đặc biệt là chúng đều ở Nghĩa Đô, quê ngoại tác giả Hơn thế, dưới ngòi bút của ông cuộc đời của chúng hiện lên cũng gần như cuộc đời của những người ở làng quê này
Đối với loài vật nói chung, Tô Hoài vốn dĩ đã có tình cảm nên đối riêng với những con vật cùng làng hay sống cùng nhà với ông, ông lại càng nặng lòng thương yêu hơn nữa và nhiều khi tả chúng cũng như loài người vậy Dưới con mắt Tô Hoài, những nhách chó nhỏ nằm vật lên nhau, rên ư ử mà ngủ kia, chính là "những đứa trẻ nằm mớ, những đứa trẻ con khoai củ ở nhà quê" (69, 66); chú mèo thì "lừ đừ và nghiêm nghị tựa một thầy giáo nhà dòng đương khoác bộ áo thâm, có cốt cách quí phái và trưởng giả, lúc nào cũng ra vẻ nghĩ ngợi như sắp mưu toan một việc gì ghê gớm lắm" (27, 327); anh chó là một gã
"hay lèm bèm, ủng oẳng, sinh sự nhỏ nhen Nhưng tính tình hắn lại phổi bò, dễ dãi và thường chóng quên" (27, 326); còn chị gà mái "là một người đàn bà giỏi giang, đa tình thì nhất mực đa tình mà khi phải vướng vào cái bổn phận dạy dỗ, nuôi nấng con trẻ, lại đáng nên một bậc mẹ hiền gương mẫu" (27, 322) về cuộc đời của đôi ri đá, ông cũng thấy "Họ ăn ở dè lén, bình lặng, chịu khó, ít ồn
ã Cuộc đời trôi chẩy âm thầm dưới chòm lá xanh, y như cuộc đời của những người Nghĩa Đô, cần cù và nghèo khó trên cái khung cửi, trong bốn lũy tre." (27 313) Đó là những tính tình riêng của mỗi loài mà tác giả bằng con mắt của một người từ tâm, đã xét nhận rất tinh tế
Trang 18Gần gũi với loài vật, quan tâm và thương yêu chúng, những truyện loài vật của Tô Hoài thường phản chiếu những cảnh sống của dân nghèo ở thôn quê Những người dân ấy chăm chỉ làm ăn, cuộc sống cũng có lúc khấm khá, làng xóm đông vui, nhộn nhịp, nhưng rồi tất cả dần lụi tàn Họ phải chịu đói, khổ rồi phải bỏ làng đi tha phương Loài vật cũng không tránh khỏi cảnh ấy Ở hầu hết các truyện trong tập này, thần Chết và thần Rủi Ro lúc nào cũng rình rập hòng phá tan cuộc sống an lạc của những con vật bé nhỏ Trong truyện Truyện gã chuột bạch, vợ chuột chết hóc vì tham ăn, anh chồng còn lại một mình mãi sống cái đời vô vị, tẻ nhạt trong góc lồng Trong truyện Đôi ri đá, tiếng pháo ngày Tết làm cho gia đình nhà ri phải tan tác, bỏ tổ mà đi "Chẳng ai biết được cái bầu đoàn khốn khổ ấy long đong bạt đi đâu và về sau ra làm sao." Trong truyện Một cuộc bể dâu, sau những ngày hùng cứ một phương anh gà trọi độc nhỡn chết vì bệnh dịch Trong truyện Đực, anh chó trở về già, nằm buồn thiu, nhớ lại cái ký vãng đầy khổ não Trong truyện Con gà trống ri, con
gà trống ri theo tiếng gọi của tình yêu rồi lạc mất Rặt những truyện chết chóc,
ly tán, tha phương cầu thực, y hệt như cuộc đời khốn khó, ly tán của những người dân xứ này
Với Dế Mền phiêu lưu ký và tập O chuột, thế giới loài vật trong văn Tô Hoài quả đã khá phong phú Bổ sung cho khu vườn bách thú náo nhiệt ấy, Tô Hoài còn có một số truyện loài vật khác được đăng rải rác trên các báo đương thời Đó là truyện về cậu Bọ Ngựa con hợm mình, về cuộc kết nghĩa "vườn đào" của Mèo và hai anh em nhà Chó, về cuộc đào tẩu của Dê và Lợn Đặc biệt, nhà văn rất chú ý đến họ nhà Chuột Trong tập o chuột, ta đã gặp gã chuột ích kỷ, vô tư lự, sống an phận trong truyện Truyện gã chuột bạch, gặp những chư chuột nhắt nhanh nhẩu trong O chuột Nay ta lại gặp những chú chuột khác, hay nói đúng hơn là cả một xã hội chuột trong Chuột thành phố, Đám cưới chuột Xã hội ấy được mô tả rất sinh động trong trang văn Tô Hoài Có con thông minh láu lỉnh như Chuột Nhắt, có con hợm hĩnh như cha con cô Chuột Chù, có con sống có tình có nghĩa như Chuột Cộc Hình ảnh của loài vật bé nhỏ này được nhà văn khắc họa khá rõ nét Chuột Nhắt mặt mũi "không đáng diện với ai mấy Thân chú dài không được bằng một ngón tay Bốn cái
Trang 19chân như bốn cái tăm Chiếc mõm nhọn hoắt, hai hàng râu cứng tủa sang hai bên Đôi mắt chú nhỏ, nhưng lồi ra Chớp chớp, nháy nháy nhanh lắm." (21, 74) Tuy vậy, chú ta là một học trò tốt, "chăm học tự nhiên", thi "đỗ hàng thứ ba" trong số "hơn ba trăm học trò của các tỉnh trong xứ về thi" Còn Chuột Cộc thì ra dáng một anh chuột vừa có mẽ, vừa thông minh Hãy nghe anh tự kể về mình "Đầu tôi nhỏ choắt Những anh chuột đầu nhỏ, thường là những anh chuột rất thông minh Mình tôi phủ một lượt lông mướt bóng như nhung nõn Hai hàng ria mép của tôi dài hoắt và gọn gàng Bốn chân tôi nhỏ nhắn Đôi mắt tôi long lanh." Loài vật bé nhỏ này quả đã thu hút sự chú ý của nhà văn Nhờ thế, chúng ta mới có những trang văn miêu tả cuộc sống và tâm tính của chúng thật sinh động sắc nét
Như vậy, hiện diện trong trang văn Tô Hoài là cả một thế giới động vật phong phú Trong đó, mỗi con vật đều được nhà văn quan tâm miêu tả với những nét đặc sắc và dí dỏm
Từ khi mới xuất hiện, những năm đầu của thập kỷ 40, cho đến tận ngày nay, nhừng hình ảnh quen thuộc về các con vật đáng yêu trong các tác phẩm về loài vật của Tô Hoài vẫn luôn là niềm say mê của nhiều bạn đọc nhỏ tuổi, không kể nhiều người lớn tuổi nữa Đối với một nhà văn, sáng tác cho thiếu nhi
mà chiếm được thiện cảm của cả người lớn là một sự thành công Tô Hoài đạt được thành công ấy bởi nhiều lẽ
Trước hết, đối tượng đầu tiên mà ông hướng đến khi sáng tác các tác phẩm về đề tài loài vật chính là những độc giả tí hon Mỗi loài động vật, loài nào cũng có đời sống, tập tính riêng Nghiên cứu về chúng là công việc của các nhà khoa học: động vật học, côn trùng học Tô Hoài là nhà văn nên ông không quan sát, miêu tả loài vật theo cách các nhà khoa học làm Ông không đem đến cho các em những bài học động vật mà đem lại những tác phẩm văn học sinh động Qua những trang viết các em được tiếp xúc với thế giới loài vật chứa biết bao điều mới mẻ, kỳ thú Đến với thế giới ấy, các em được làm quen với những con vật dễ thương, với những câu chuyện thú vị có sức khơi gợi trí tưởng tượng Thế giới ấy với tuổi thơ vừa quen mà vừa lạ, vừa gần gũi, vừa có
Trang 20vẻ ly kỳ, hấp dẫn Những con vật hiện diện trong trang văn Tô Hoài không lạ với các em, đặc biệt là những em nhỏ ở nông thôn Chúng không là con vật lạ lẫm của hàng triệu năm trước hay hàng ngàn năm sau, lại cũng không đến từ thế giới thần linh hay sao Mộc, sao Hỏa Chúng chỉ là chú Dế Mèn, bác Xiến Tóc, cậu Bọ Ngựa, cô Nhà Trò, anh Kiến Lửa, chị Bọ Muỗm , là bác Mèo, chú Chó, anh gà trống mà các em vẫn thấy xung quanh mình Chúng thật quen thuộc Nhưng chúng cũng khác lạ biết bao Vì dưới ngòi bút nhà văn, những con vật ấy, mỗi con xuất hiện với một tâm tính, một cuộc sống riêng, vừa hợp lý, đời thường mà lại dường như rất mới mẻ Cái mới mẻ, hấp dẫn ấy chính là ở chỗ nhà văn, bằng tài năng và tấm lòng của mình đã giúp các em nhận ra những điều quen thuộc mà bấy lâu các em không chú ý Cái mới mẻ, hấp dẫn ấy còn ở cho nhà văn đã xây dựng những con vật như những con người
để khi các em đọc truyện thì thấy dường như mình đang tiếp xúc với chính những người bạn xung quanh mình vậy Có cậu bé nào lần đầu đọc Dế Mèn phiêu lưu ký mà lại không ao ước mình được như chú Dế Mèn kia, được tham gia vào cuộc phiêu lưu đầy kỳ thú của Mèn? Có cô cậu nào lại không thích thú
vì vẻ dễ thương của đôi ri đá trong truyện Đôi ri đá, lại không ngạc nhiên vì những khám phá bất ngờ của tác giả về bác Mèo, chú Chó, anh Chuột mà mình vẫn thấy thường ngày? Tất cả những điều ấy đã tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn cho truyện loài vật của Tô Hoài, khiến nó luôn là niềm say mê của những bạn đọc nhỏ tuổi
Nhưng truyện loài vật của Tô Hoài còn đem lại những hứng thú cho không ít người đọc lớn tuổi nữa Cái gì là sự lôi cuốn những độc giả khó tính này?
Trong mỗi người lớn đều luôn có một cô bé, chú bé con vì họ đều từng là những cô bé, cậu bé một thời Vì thế hình ảnh những con vật dễ thương, những câu chuyện thú vị về chúng phần nào cũng làm tái hiện ở họ những cảm xúc thơ trẻ, khiến họ thích thú Nhưng nếu chỉ có thế thì không thể khiến họ quan tâm lâu được Để thu hút được lớp độc giả này trong một thời gian dài với nhiều thế hệ nối tiếp, như nhiều truyện của Tô Hoài đã đạt được, hẳn phải có
Trang 21một lý do khác Người lớn là những người đã trưởng thành, có suy nghĩ chín chắn Họ không thích những gì hời hợt bề ngoài Để họ lưu tâm suy nghĩ , phải
là những cái có tầm sâu, có ý nghĩa đúng đắn Truyện loài vật của Tô Hoài không chỉ dành riêng cho con trẻ vì hầu hết các truyện đều có ý nghĩa nhân sinh, đều mang dáng dấp cuộc sống con người Truyện Dế Mèn phiêu lưu ký không chỉ kể về cuộc phiêu lưu kỳ thú của anh chàng Dế Mèn cùng các bạn Đặt trong hoàn cảnh xã hội đang ở thời kỳ đen tối của những năm tháng mà mỗi cuộc đời như bị thu hẹp và ngăn chặn lại trong tù túng, bế tắc, thì cảm hứng giải thoát qua một cuộc hành trình phóng khoáng, một chuyến phiêu lưu cũng có giá trị tích cực Chú dế nhỏ bé mang nhiều tâm trạng có ý nghĩa xã hội rộng rãi Đó là ước mong đổi thay hoàn cảnh, ước mong về một thế giới đại đồng mà ở đó con người được sống trong hòa bình và bình đẳng Sáng tác tác phẩm này, hẳn Tô Hoài không khỏi chịu ảnh hưởng của nhiều tác phẩm như Cuộc phiêu lưu của Têlêmác, Guylive du ký, Con chim xanh Nhưng nhà văn
đã theo một hướng riêng độc đáo ông đã thể hiện thành công chủ đề xã hội thông qua câu chuyện về thế giới cỏ cây, loài vật Những mẩu truyện hồn nhiên đúng với tâm lý tuổi thơ trong tác phẩm lại luôn mở ra những liên tưởng phong phú cho người lớn Có được điều đó trước hết là do lương tri của người nghệ sĩ trong Tô Hoài Sau nữa còn vì lúc này ông đã chịu ảnh hưởng tiến bộ của Cách mạng Ông đã từng tâm sự trong hồi ký Một quãng đường: "Lúc đó, đương thời
kỳ Bình dân Lý tưởng cộng sản như giấc mơ đẹp đến với những người thanh niên cùng lứa, cùng cảnh như tôi Cái ao ước thế giới đại đồng" của Dế Mèn, của Dế Trũi, của Châu Chấu Voi, của Xiến Tóc là cách hiểu chủ nghĩa cộng sản của tôi với vẻ đẹp và cả những trống rỗng, thiếu sót trong suy nghĩ tôi" (26, 232)
Không chỉ có Dế Mèn phiêu lưu ký, ở nhiều truyện loài vật khác, Tô Hoài cũng khéo léo lồng vào suy nghĩ của mình về cuộc đời và con người Điều ấy tạo nên chiều sâu cho tác phẩm Đọc truyện Đôi ri đá, những độc giả có suy nghĩ không mấy ai không nhận thây đấy không chỉ đơn thuần là chuyện đôi chim ri mà còn là chuyện của con người, những người dân Nghĩa Đô quanh năm cần cù nhưng nghèo khó Đọc truyện Võ sĩ Bọ Ngựa, ta thấy đó chính là
Trang 22bài học cho những con người hợm mình, khinh thường kẻ khác Đọc truyện Truyện gã chuột bạch, ta có cảm giác tác giả đang miêu tả một bộ phận nhân dân, những con người tự chọn cho mình cuộc sống cam chịu, tẻ nhạt Cuộc sống đủ đầy điều kiện khiến cho vợ chồng chuột không còn quan tâm đến cuộc sống bên ngoài, cũng chẳng cần tự do vì họ vốn "yếu đuối", ở ngoài làm chi có gạo để ăn Chịu ảnh hưởng sự phát triển của phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương, khi nhìn thấy lối sống ích kỷ, buông xuôi của một số người, Tô Hoài lấy làm tiếc Viết truyện Truyện gã chuột bạch, ông muốn phê phán, và cảnh tỉnh mọi người trước lối sống đó Chính những tư tưởng, những quan niệm nhân sinh tích cực như thế đã góp phần tạo nên dấu ấn, tạo nên chiều sâu và sức hấp dẫn cho tác phẩm của ông
Thế giới loài vật trong truyện của Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám thật phong phú Mỗi con vật trong đó đều có nét sinh động, dí dỏm riêng Nhận xét tinh tế của nhà văn về chúng cùng những suy nghĩ mà ông khéo léo lồng vào tác phẩm đã tạo nên những trang viết hấp dẫn cả trẻ em cùng người lớn Đó cũng chính là giá trị đặc sắc của mảng sáng tác này, mảng sáng tác đã góp phần đưa tên tuổi Tô Hoài nhanh chóng đến với người đọc
1.2.1.2 Ký ức thời thơ ấu
Một tác phẩm quan trọng góp phần làm phong phú thêm thế giới tuổi thơ trong văn xuôi của Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám là hồi ký Cỏ dại Nội dung hồi kí kể lại toàn bộ quãng đời thơ ấu của tác giả - cậu bé Nguyễn Sen thủa nào Đây là một tác phẩm khá hấp dẫn, một tập ký ức cảm động của nhà văn về "những ngày ấu thơ nó leo hoang trong đám cỏ bên lề đường đi Cái giống cỏ dại, cỏ không có tên, rườm rà ken khít nhau bò ngẩn ngơ trong mấy khoảng đất rác rưởi"
Thông qua những kỷ niệm đầy chất thơ Tô Hoài đã dựng lên rất sinh động thế giới tuổi nhỏ của chính mình Đó là những ngày tháng sống giữa thiên nhiên với đủ thứ cây cỏ, chim muông hấp dẫn, lôi cuốn trí tưởng tượng non nớt của trẻ thơ Từ mảnh sân dài, hẹp với hùm tùm những na, hông bì, lựu, ổi, đào quây vào giữa một cây ngọc lan, góc sân còn có một cây cau mốc trắng
Trang 23trổ vút lên, đeo trên lưng những tàu lá như chiếc áo tơi xanh, đến cái ao con con phía sau nhà với biết bao chuyện ma quỷ rùng rợn, Từ ngôi nhà sạch cổ mà mỗi góc cột, căn buồng lại gắn với một câu chuyện đầy vẻ bí mật, đáng sợ đến con đường làng, cánh đồng, bãi sông quen thuộc trong những ngày tha thẩn cùng chúng bạn của chú bé Sen Đó còn là những thế giới lạ lùng bí ẩn qua những câu chuyện cổ tích của bà, những câu chuyện về một thời trai trẻ đầy
"oanh liệt" của ông Đó là chuyện cu Bưởi những ngày đầu đi học, khóc mếu
và sợ hãi Đó cũng là những kỷ niệm không phai mờ về một chuyến cu Bưởi phải rời xa quê, xa ông bà, mẹ và các dì để ra thành phố trọ học, mà cuối cùng, sau những ngày đánh đi đánh lại mãi mấy đôi giày, cọ mãi mấy cái chai và vần
ra vần vào mấy cái lốp ô tô, cuối cùng cu Bưởi trở về nhà với cái đầu mốc trắng mà không học thêm được một chữ nào Đó cũng chính là cuộc sống vùng ngoại thành Hà Nội với những phong tục và những con người của nó Qua những hồi ức ấy, cả một thế giới con người và xã hội quen thuộc với tuổi thơ của nhà văn, những gì gắn liền với sự hình thành tâm hồn, tài năng của ông đã hiện lên, phong phú và sinh động đến lạ lùng Ta có thể thấy sự liên hệ rất rõ nét giữa những tác phẩm của tác giả, đặc biệt là ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám với những ký ức thời thơ ấu này Những câu chuvện về đôi ri
đá, về anh mèo đi o chuột, về anh chó Đực, về những con vật trong sân nuôi gà vịt sau nhà chắc chắn có liên quan đến những ký ức của tác giả về mảnh sân, ngôi nhà mà ông đã gắn bó suốt tuổi thơ Và sự trở đi, trở về với hình ảnh những con người và cuộc sống ở làng quê Nghĩa Đô phải chăng cũng có gốc rễ
từ những kỷ niệm sâu sắc ấy? Có lẽ chính vì thế mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nhận xét: "Nghiên cứu Tô Hoài không thể không đọc Cỏ dại như một tài liệu cơ bản, vì tác phẩm cho ta biết một cách cụ thể những gì đã tạo nên tâm hồn ấy, cây bút ấy " (46, 53)
Người ta thường hay viết hồi ký lúc về già, nhưng Tô Hoài là một trong
số ít những nhà văn viết hồi ký ngay khi còn rất trẻ Cỏ dại được in năm 1944, lúc tác giả mới hơn hai mươi tuổi Chừng tuổi ấy, Nguyên Hồng cũng có một tập hồi ký lấy tựa là Những ngày thơ ấu Ở cả hai tập hồi ký, các nhà văn đều
Trang 24viết về những kỷ niệm thời thơ ấu của mình với sự chân thành hết mực Các ông không hề "xấu che, tốt khoe" Tô Hoài kể rất thẳng thắn về mình và gia đình Ông không ngại ngùng khi để người đọc biết lúc nhỏ ông là cậu bé "kheo khư như cái nứa tép", sau gáy lại còn có cái nhọt mà mấy năm trời chữa chạy nhưng nước vàng hôi thối vẫn phòi ra không dứt Đặc biệt là tính nhát thấy
"chỗ nào cũng có cái để sợ", kể cả sợ học và học dốt của ông Rồi những mỗi bất hòa, những cuộc cãi vã, những mẩu chuyện không hay lắm về gia đình tất
cả đều hiện lên trên trang sách không hề che giấu Nguyên Hồng cũng vậy Những ngày thơ ấu là một tập hồi ký ghi lại những kỷ niệm tuổi thơ của ông Trong đó phẫn nhiều là những kỷ niệm đau buồn, tủi nhục của một đứa trẻ sinh
ra trong một gia đình bất hòa, phá sản với ông bố nghiện ngập nên sớm phải sống bơ vơ, lêu lổng Xung quanh nhân vật đứa trẻ ấy, có nhiều trang viết cảm động, thực đến phũ phàng Đó là cảnh một ngày đói thuốc, ông bố phải dùng đến uy quyền của người làm cha để có thể lần cạp quần con, lấy tiền đánh đáo của nó mua thuốc hút, để rồi sau đó ngồi khóc vì sự nhục nhã ê chề của cả bố
lẫn con Đó là cảnh cãi vã, xung đột trong gia đình, giữa những người cùng máu mủ khiến cho một đứa bé phải thốt lên những lời căm giận "Ngày 12-11-1931! Phải nhớ cái tát và câu rủa sả này cho đến chết: "Hồng ơi! Bố mày nó chết đi, nhưng còn có mẹ mày nó dạy mày cầm bằng mẹ mày đánh đĩ theo giai
bỏ mày lêu lổng thì đã có chúng tao" Như vậy, trong những tập hồi ký được viết rất sớm trong cuộc đời, Nguyên Hồng và Tô Hoài đều giống nhau ở sự chân thành hết mực với lòng mình và với độc giả Chỗ khác có chăng là ở giọng điệu kể Đọc Những ngày thơ ấu, ta thấy "trong xúc cảm có cái gì quằn quại nặng nề" Nguyên Hồng viết văn bằng máu và nước mắt, bằng trái tim nhiều hơn bằng trí tuệ tỉnh táo Mà tuổi thơ của ông, dù không phải không có những kỷ niệm tươi sáng, êm đềm, nhưng chủ yếu vẫn là những cảnh tủi cực, đau buồn của một đứa trẻ mà bố nghiện ngập, mất sớm, phải sống xa mẹ và chịu sự hắt hủi, ghẻ lạnh của họ hàng Đây là tập ký ức ghi lại những "rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại" (Thạch Lam) trước những cảnh đó Vì thế, giọng điệu của ông nặng về sắc thái trữ tình thống thiết Đọc tập hồi ký này, người đọc thấy xúc động đến rơi nước mắt cũng là lẽ đương nhiên
Trang 25Giọng điệu kể trong cỏ dại của Tô Hoài thì có khác Tuổi thơ của ông,
dù không sống trong cảnh nhung lụa nhưng cũng không đến nỗi quá bần hàn Ít
ra gia đình ông vẫn có cái ăn và tuy ít được gần cha nhưng ông vẫn được sống trong vòng tay yêu thương của người thân Điều ấy khiến cho giọng văn của ông không mang âm điệu thống thiết như của Nguyên Hồng mà khách quan hơn, thoảng pha nét dí dỏm duyên dáng dù vẫn tha thiết, giàu cảm xúc
Với một vẻ riêng, một giọng điệu riêng, cỏ dại là một tác phẩm có giá trị
Nó hé mở cho người đọc thấy một khoảng tâm hồn của nhà văn, cái cốt lõi tạo nên con người, tài năng của ông sau này
1.2.2 CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG Ở MỘT VÙNG QUÊ
Ngoài mảng tác phẩm theo đuổi một thế giới riêng của con trẻ với những ước mơ, khát khao, tưởng tượng, những kỷ niệm không phai mờ của tuổi thơ, văn xuôi của Tô Hoài giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám còn đề cập đến một đề tài khác, đó là cuộc sống, cảnh và người một vùng quê ven đô, một miền quê đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của thành thị Có thể nói, đây cũng là điều khá đặc sắc của Tô Hoài Bởi vì cho đến tận bây giờ, tuy viết lâu năm, viết nhiều nhưng đề tài chủ yếu của ông vẫn là vùng ngoại thành Hà Nội Và dấu ấn của vùng quê ấy đã in rõ trong tác phẩm của ông ngay từ những năm đầu cầm bút
Phần lớn những tác phẩm được sáng tác trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám của Tô Hoài đều tập trung miêu tả vùng quê Bưởi, kể về những con người sống ở làng quê Nghĩa Đô của tác giả Đây là vùng quê ven đô, liền với
Kẻ Chợ nên ít nhiều đã chịu sự thâm nhập của cuộc sống thành thị, không còn nguyên vẹn nếp xưa Trai gái yêu nhau gọi nhau bằng cậu, mợ Các anh trai làng thường bị thất thế trước những bác quyền, những gã khách buôn ở tỉnh
về Sự trang trí trong nhà đã có thêm bức "truyền thần", khơi gợi tính hiếu kỳ của mọi người Nhưng làng quê ấy cũng rất nguyên sơ trong các thói tục, các nếp sinh hoạt cổ xưa Điều này hiện nên rất rõ nét qua các trang viết trong tiểu thuyết Quê người, truyện ngắn Ông Cúm bà Co, Vợ chồng trẻ con, Khách nợ
Có thể nói, cảnh và người một vùng quê ven đô sống bằng nghề canh cửi
Trang 26đã được Tô Hoài thể hiện sinh động trong các trang viết của mình Làng quê trong tác phẩm của ông mang phong vị riêng độc đáo
Làng quê ấy hiện lên trên trang sách với những nét vẽ chân thực Ông không quá chú trọng, quá thiên về một khía cạnh nào Ông chú ý cả những đau khổ, bất hạnh lẫn những niềm vui thi vị của cuộc sống Truyện của ông, do vậy, không đề cập đến những vấn đề to tát, những xung đột xã hội sâu sắc như một
số nhà văn thời kỳ trước (Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tô", Nguyễn Công Hoan ) Truyện của ông đi vào lòng người đọc một cách rất đỗi tự nhiên, nhẹ nhàng Chẳng vậy mà nhà nghiên cứu Phong Lê đã từng nhận xét: "Truyện của
Tô Hoài cứ tự nhiên mà thủ thỉ cái tiếng nói hồn nhiên của bản thân sự sống" (52, 24)
Truyện của Tô Hoài không hiếm những trang vui và ấm áp Ông miêu tả giỏi không khí của làng quê trong những dịp hội hè {Mùa ăn chơi, Quê người ) Ông cũng miêu tả rất đẹp những mối tình nhẹ nhàng, chất phác nhưng không thiếu chất lãng mạn, trữ tình của những cô gái, chàng trai quê nghèo Cùng với những chuyện tình trai gái là cảnh sống dưới những mái nhà, trong từng gia đình với những vui buồn dệt nên cuộc sống hàng ngày Trong đó cái vui rất hồn nhiên, giản dị và cái buồn thường cũng không đến nỗi quá bị lụy đau thương (Nhà nghèo, Buổi chiều ở trong nhà )
Những sinh hoạt và quan hệ họ mạc, xóm giềng, gia đình trong; sự sống hàng ngày làm nên thế giới truyện Tô Hoài Ấy chính là bối cảnh, là sự sống đích thực của con người Mà sự sống ấy bao giờ chẳng đan xen những vui buồn Truyện của Tô Hoài, do đó, cũng mô tả rất chân thực những hy vọng đang tàn lụi dần trước cuộc đời bế tắc của người nông dân trong bối cảnh xã hội cũ với những quy luật khắc nghiệt và phũ phàng đã phá vỡ bao cảnh yên vui và tạo ra những tan tác chia lìa Có lần, Tô Hoài đã tự nhận xét: "Tôi viết
anh thợ cửi, chị thợ tơ yêu nhau, lấy nhau, ước mong một khung cửi nhưng họ càng ngày càng nghèo không bao giờ có được, rồi phải mang nhau đi đất khách quê người (Quê người) Một cái xóm nghèo ở cuối làng chết dịch, rồi cháy, rồi
Trang 27mất tích cái xóm (Xóm Ao Sen) Hàng ế, khung cửi xếp lại, đàn bà ra tỉnh ở vú hoặc sa vào nhà hát, nhà chứa (Đêm mưa) Một anh hương sư nghèo không lấy được một chị trong làng (Giăng thề)" (Nhận xét về tư tưởng nghệ thuật của tôi) Trong nhiều truyện khác, ông kể về những chuyện tình ngây thơ đẹp như tranh của các cô gái chàng trai trong làng Nhưng rồi cuối cùng, vì một cớ nào đấy, họ đều phải chia tay nhau
Viết về vùng quê có nghề thủ công dệt lĩnh, nhân vật của Tô Hoài vốn là những kiểu người bình dị gần gũi quen thuộc của cuộc sống quê nghèo ấy Họ
là những anh thợ cửi, chị thợ tơ Hàng ngày, họ quay tơ, dệt cửi, chạy chợ để kiếm sống Họ cũng có những niềm vui nho nhỏ trong tình yêu, trong những cảnh sống êm đềm của làng quê buổi thuận thời Và họ cũng chịu nhiều cảnh chật vật, phiêu bạt khi cuộc đời cũ không cho họ tiếp tục cuộc sống bình yên
ấy Quê người là tiểu thuyết đầu tay của Tô Hoài Tác phẩm tập hợp những hiểu biết của tác giả về phong tục tập quán vùng Kẻ Bưởi Trong đó, ông dựng lên khá sinh động cuộc sống của một làng quê Việt Nam, một làng quê với vẻ đẹp truyền thống đang sa sút và lụi tàn dần Phần đầu tác phẩm là những trang viết đầy thi vị về những đêm hội chèo và cảnh trai gái náo nức trong những cuộc vui hò hẹn Nhưng rồi tình thế xoay chuyển nhanh chóng Khung cảnh làng quê xơ xác, người lao động bị vắt kiệt sức để rồi lang thang biến chất hoặc tan tác chia lìa ở phần cuối tác phẩm sợi lên trong lòng người đọc một nỗi xót
xa, thương cảm Là một tiểu thuyết, nhưng câu chuyện trong Quê người cũng chỉ xoay quanh cảnh sống của vài ba gia đình Trong đó, bức tranh chung dồn
tụ lại ở những nhân vật như Hời và Ngây, Thoại và Bướm Khởi đầu câu chuyện họ là những thanh niên giàu sức sống Họ có những mơ ước, những dự định tốt đẹp mà họ đang cố gắng vươn tới Mọi thứ tưởng như đều thuận buồm xuôi gió Trước mắt họ là niềm vui Những đêm ngồi dệt lụa khi thoáng ngửi thấy mùi thơm của những bông hoa ngọc lan thì Ngây dừng tay cửi để đi gặp người yêu Những bông hoa ngọc lan mà Hời ném vào khung cửa sổ mỗi đêm
đã trở thành tín hiệu quen thuộc của sự hẹn hò Thoại và Bướm cũng có một mối tình đẹp vượt lên những ràng buộc chật hẹp của tập tục lâu đời Tuy không giàu có nhưng họ có một tình yêu chung thủy và ý chí kiên định bảo vệ tình
Trang 28yêu ấy Họ dám ngồi chung xe về quê rồi rủ nhau lên tỉnh chụp chung một kiểu ảnh để ghi lại những thời khắc tươi đẹp của tuổi xuân Nhưng rồi cuộc đời đưa đẩy những mối tình đẹp ấy đến kết cục thật đáng buồn Họ không phải là người giăng gió Họ yêu chân thành và có quyết tâm vượt qua trở ngại để bảo vệ tình yêu Không mơ ước cao xa, khi gắn bó làm vợ chồng, họ chỉ cố gắng để mong
có được hạnh phúc giản dị như mọi người Ngây và Hời nghĩ rằng họ sẽ có một cái khung cửi riêng, không làm thuê làm mướn nữa Ngày ngày, chồng dệt cửi,
vợ quay tơ Hạnh phúc đối với họ thật đơn sơ Nhưng tất cả chỉ là ảo mộng Kinh tế khó khăn, làng quê sa sút tàn lụi Kết thúc câu chuyện, Thoại phải đem
vợ con trốn đi giữa ngày tết sau lần đánh chó trộm hụt ở làng bên Hời và Ngây phải dỡ nhà để trả đất cho Lý Chi, bắt đầu cuộc đời phiêu bạt Các nhân vật đều khôns thể chốns đỡ nổi số phận dường như đã áp đặt cho mỗi người Quê người, đúng như tên gọi của nó, đã gợi lên hình ảnh một nơi xa xôi - đất khách quê người - mà những con người bế tắc tuyệt vọng kia phải phiêu bạt tới Sự tan rã của những gia đình, sự tiêu điều, tàn tạ nhanh chóng của cả một vùng quê ấy là hệ quả tự nhiên của xã hội thuộc địa trong Quê người
Cảm hứng ở Quê người còn được Tô Hoài tiếp tục trong Giăng thề - một tác phẩm mà ở đó tác giả tập trung miêu tả cảnh sống bế tắc, túng quẫn của những nhà giáo nghèo - cả nghèo tiền và nghèo chữ Rồi Xóm Giếng - bị kiểm duyệt bỏ vì tác giả đã để cho cả cái xóm bị bốc cháy -chỉ còn lại phần mở đầu mang tên Xóm Giếng ngày xưa Mở đầu - nên chẳng còn là truyện mà chỉ là những ý tưởng đựơc tác giả trang trải dưới hình thức một bức thư dài gửi Phượng - một bạn gái (?) ở phương xa Qua đó nhà văn cũng đã khéo léo lồng vào những suy nghĩ của mình Xóm Giếng ngày xưa được xuất bản năm 1942
Có lẽ lúc này Tô Hoài cũng đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của ánh sáng cách mạng, nên ông đã bày tỏ trong tác phẩm của mình, dù chưa rõ nét lắm, những
hy vọng băn khoăn về tiền đồ của đất nước Đó là một khát vọng xa xôi: 'Phượng nhỉ, người ta ao ước lắm một trận mưa rào Mưa rào xuống cho lòng người hả hê và cho trời quang đãng Trong khoảng mênh mông xanh nhởn kia, nhả một không khí tốt lành và tự do hơn Trái đất chín nẫu này, quẫy cựa dưới một cái mặt trời thui người đương chờ một trận mưa sung sướng."
Trang 29(27,409-410) Đó là một thái độ đúng đắn trước những kiểu xê dịch vô mục đích, một căn bệnh vốn phổ biến trong thời kỳ lịch sử này, thể hiện sự chán chường với một cảnh sống cụ thể, muốn tìm thú vui lạ : "Tôi cho rằng lúc này
mà cứ ca ngợi xê dịch, tán tụng vẩn vơ cái thú đi lông bông là thất sách lắm." (27,411) Đó là niềm tin, niềm hy vọng vào một tương lai sáng sủa của dân tộc, vào con đường phía trước của tuổi trẻ : "Xưa nay cái bài hát đáng hát nhất vốn phải là một bài hát giục lên đường Nhưng lên đường đi đâu? Hỡi Phượng, tuổi trẻ chúng ta bây giờ đi đâu? Đi đâu? Cất bước trong một buổi mai, nhằm cái phía chân trời đỏ thắm màu hy vọng, những thanh niên bốn phương của đất nước ! Chớ không phải là giang hồ mắm miệng, lôi cái vali cà khổ lếch thếch trèo lên tranh chỗ trong những toa tàu hạng ba, tư chi đó." (27,411)
Như vậy, với Quê người, Giăng thề, Xóm Giếng ngày xưa, Tô Hoài đà nói được khá nhiều điều về con người và cuộc sống ở một vùng quê nơi tác giả sinh ra và lớn lên, gắn bó nhiều với nó Mảng đề tài ấy còn được ông tiếp tục trong nhiều truyện ngắn khác nữa
Nói về truyện ngắn viết về nông thôn của Tô Hoài, tiêu biểu có thể kể đến
là tập Nhà nghèo Tô Hoài thường nhìn nông thôn nghiêng về phía phong tục với cặp mắt hóm hỉnh, sắc sảo Điều này ta đã thấy ở Quê người qua những trang viết về những cảnh hội hè đình đám, những cuộc hẹn hò, những mối tình thơ mộng của các chàng trai cô gái xứ quê và ngay cả những cách sinh hoạt đời thường rất đặc trưng của vùng thôn quê Kẻ Bưởi Ở tập Nhà nghèo, ta thấy rõ hơn qua những trang viết về tục tảo hôn (Vợ chồng trẻ con), tục đòi nợ (Khách nợ), tục cúng bái mê tín (Ông Cúm bà Co) và cả đến tục cãi nhau (Nhà nghèo, Buổi chiều ở trong nhà)
Trong tập Nhà nghèo cũng như trong nhiều truyện ngắn khác, Tô Hoài còn tỏ ra là người miêu tả rất giỏi không khí, khung cảnh của làng quê Làng quê vào mùa hội võ, mọi người đều ngưng tay dệt nô nức đi xem các tay võ đấu côn, đấu kiếm tranh tài (Mùa ăn chơi) Làng quê vốn âm thầm tẻ nhạt với nếp sống quẩn quanh bao đời bỗng rộn lên trước chuyện một người đi làm ăn
xa về (Một người đi xa về), trước một mối tình vỡ lở (Lụa) và ngay cả trước
Trang 30một bức ảnh truyền thần (Bức vẽ truyền thần) Làng quê hiện lên sinh động, trữ tình trong những đêm trăng hò hẹn của trai gái nhưng cũng đậm nét u buồn trong những cảnh chia lìa, tan rã
Qua các truyện ngắn, truyện dài của Tô Hoài trong thời kỳ này, chúng ta
có thể thấy rõ ông đã gắn bó như thế nào với vùng quê Bưởi của mình, với những con người, những phong tục tập quán nơi đó Có lẽ chính bởi thế mà nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã từng nhận xét Tô Hoài là "nhà văn có biệt tài viết
về những cảnh nghèo nàn của dân quê" mà những người dân quê đó "cũng chỉ
là những người ở một miền, một vùng, vùng Nghĩa Đô, quê hương tác giả" (61, 1028-1014) Dấu ấn một vùng quê đã in rất đậm trong những trang viết của ông Không chỉ ở buổi đầu cầm bút mà ngay cả mãi đến sau này, đề tài về vùng quê ấy vẫn trở đi trở lại, góp phần tạo nên cho nhà văn Tô Hoài một nét phong cách độc đáo trong làng văn xuôi Việt Nam
Trang 31
Chương 2 : NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN VÀ
MIÊU T Ả PHONG TỤC
Đều dùng ngôn ngữ làm công cụ biểu đạt nhưng khác với thơ, văn xuôi thiên về khai thác khả năng miêu tả tạo hình của ngôn từ Ưu thế của nó nghiêng về nhận thức hơn là cảm xúc Mỗi từ trong một ngôn ngữ bao giờ cũng
là khái quát và bao quát một loạt sự vật và hiện tượng cùng loại Mỗi từ là một
sự trừu tượng Nhưng vào tác phẩm văn xuôi, nhất là văn xuôi kể chuyện, mỗi
từ sẽ khắc phục tính chất trừu tượng và khái quát ấy để vẽ ra những sự vật và hiện tượng thật cụ thể, thật cá thể, cho người đọc cảm giác như trông thấy, sờ thấy chúng Chúng được tách riêng không lẫn với vô số những cái khác cùng loại Đây là chỗ bắt đầu của khả năng nhận thức vốn có ở văn xuôi
Từ bỏ vườn thơ, đến với cánh đồng văn xuôi Tô Hoài đã nhanh chóng thấy được thế mạnh riêng của ngôn từ trong lĩnh vực này Nhà văn đã khéo khai thác chúng, bắt chúng phục vụ những ý đồ của mình Hiện thực cuộc sống xung quanh lúc bấy giờ khiến ông hiểu biết và quan tâm đặc biệt đến cuộc sống
và phong cảnh vùng thôn quê Những chất liệu tươi nguyên, sống động ấy đã nhanh chóng đi vào trong văn của ông bằng nghệ thuật miêu tả thật sắc sảo độc đáo Trong đó, nổi bật hơn cả là những trang miêu tả phong tục, tập quán và xen vào đó là những nét khắc họa cảnh sắc thiên nhiên đặc trưng của một vùng quê -vùng Kẻ Bưởi - ngoại thành Hà Nội
2.1 NGH Ệ THUẬT MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN
Tô Hoài là nhà văn có khả năng quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả linh động Điều ấy chúng ta có thể thấy được qua những trang miêu tả thiên nhiên của ông Đọc văn Tô Hoài, người đọc thấy hiện lên đây đó những bức tranh thiên nhiên sinh động, nhiều màu sắc Nó làm cho những tác phẩm của ông thường bàng bạc một chất thơ Đó là chất thơ được gợi lên từ những phong cảnh, những hươns vị rất đặc trưng của một vùng thôn quê xứ Bắc mà cụ thể hơn là một làng thủ công ngoại thành Hà Nội Có thể nói, Tô Hoài là một người có năng khiếu về tả cảnh Điều này cũng được chính nhà văn xác nhận
Trang 32qua câu chuyện giữa ông và Nam Cao kể trong hồi ký Một quãng đường:
"Một tháng, chúng tôi túi bụi bận viết vào mấy ngày cuối tháng Cứ sắp đến ngày hẹn đem truyện đi bán, tôi ráo riết, cắm cúi thâu đêm Có khi, chúng tôi phải viết đổi tay cho nhau thì mới làm kịp Nam Cao thạo tả nhân vật, tôi nhờ anh viết cho tôi những đoạn như thế Lúc nào Nam Cao buồn ngủ hay chán viết, anh bảo tôi: " Cậu làm hộ mình thế này nhé Sắp mưa Bờ ao Có bụi tre Buổi chiều Mấy trang cũng được." Tôi vốn thích tả cảnh Tôi lia hộ bạn vài trang như anh đã phác" (26, 243)
Thích tả cảnh, thạo tả cảnh và tả cảnh hay, đó là một trong những nét tạo nên chất riêng cho văn phong Tô Hoài Dĩ nhiên, vốn sống của nhà văn lúc này chủ yếu có được từ làng quê, nơi ông sinh ra và lớn lên, vì thế chất liệu tạo cảnh trong văn ông cũng có những nét rất đặc trưng
Vùng quê của Tô Hoài là một vùng thủ công ngoại thành nơi xứ Bắc nên thiến nhiên cảnh vật ở đây chịu ảnh hưởng của sự phân chia bốn mùa rõ rệt Điều ấy cũng được nhà văn phản ảnh trong tác phẩm bằng những trang miêu tả sinh động, giàu màu sắc
Đây là cảnh mùa xuân đến: " Đã có mưa bụi Về buổi sáng, từng cơn mưa nhỏ rây bụi nước bay vân vân, phủ mịt mù trong cánh đồng Cỏ xanh rời rợi Cây lên ngút ngàn Mùa xuân mới đã sang rồi" (27, 223) Mùa xuân đến mang theo những cơn mưa bụi đặc trưng cho xứ Bắc Mùa xuân đến mang lại sự sống, sức hồi sinh cho thiên nhiên vạn vật Hãy xem cây xoan mùa xuân dưới ngọn bút đặc tả của nhà văn: ''Ngày lại, ngày qua Mùa đông xế nghiêng đi cho mùa xuân về Ngoài vườn, trên các lối xóm, những cây xoan gầy, thân mốc trắng, dơ lên những cẳng tay đen đủi, trơ trụi, đã trổ từng túm lá tơ Trong những đám lá nhỏ xanh rờn vân vân ấy, nhoi ra từng chùm nụ be bé Gặp mưa bụi li ti, những chùm nụ nở hoa Hoa xoan nhỏ cánh chấu, tim tím, trăng trắng, vừa nở lại vừa rụng phơi phới trong mưa xuân."(27, 268-269) Những cây xoan gầy, khẳng khiu của mùa đông gặp tiết trời xuân với những cơn mưa rây nhỏ đã khởi sắc hẳn Nó không còn mang vẻ chết chóc, ảm đạm mà bỗng bừng lên sức sống mới Từ những cẳng cây khô gầy, trơ trụi đã trổ ra những túm lá non tơ,
Trang 33những chùm nụ be bé và những cánh hoa tím trắng xinh xinh Đó chính là tín hiệu đặc biệt của mùa xuân, Là thông điệp của chúa xuân gởi đến thiên nhiên vùng quê xứ Bắc Tín hiệu, thông điệp ấy đã được nhà văn cảm nhận và miêu
tả thật sống động trong tác phẩm
Xuân qua thì hạ về Nhưng cuộc giao mùa ấy thường diễn ra vật vã, để lại những khó chịu cho con người Tô Hoài đã nhận rõ quy luật ấy của thiên nhiên, đặc biệt là ở vùng ngoại thành quê ông Trong tác phẩm Quê người, ông đã có những trang miêu tả và nhận xét rất tinh tế về cuộc chuyển giao ấy của thiên nhiên: "Lúc bấy giờ là lúc giao mùa Thời tiết đang độ đổi thay Những ngày xuân có nắng ấm vừa tàn Gió hiu mềm mềm của năm mới đã lụi đi Nồm về quạt mạnh, một thứ gió mới từ phương nam trở lại, đem tin của mùa hạ đến Gió thổi hung lộng lên, trời cao hơn thường ngày, nhiều mây xanh và cũng nhiều mây trắng, chuyển đến vùn vụt Do đấy có nắng dài Nắng cả buổi sớm, nắng cả buổi chiều Khí nóng hơi gay Đi ngoài quãng không một lúc thì choáng váng đầu óc Nắng ấy dọn đường cho những ngày oi ả dữ dội sắp đến Gió mới và nắng mới về thay đổi mùa xuân Trong mình những người già, trẻ con cũng thay đổi như lúc mùa hạ đang vào thu Ấy là khi người ta uể oải, hay nhức đầu, sổ mũi, sốt nóng, đau lưng." (28, 172) Rồi mùa hạ đến Mùa hạ đến mang theo cái nóng gay gắt kinh người Mùa hạ ở miền Bắc oi nực khó chịu hơn nhiều so với miền Nam Tô Hoài cũng có nhưng trang miêu tả đặc sắc không khí oi nực ấy Đây là một buổi trưa hè, một buổi trưa hè ở một làng quê
xứ Bắc, làng Nghĩa Đô: "Có những buổi trưa Những buổi trưa hè nắng to Ngoài vườn, cây cối rũ rượi đứng chịu tội trong nắng lửa Những mảnh lá mướp to bản đều cụp uốn xuống, để lộ ra những cánh hoa màu vàng gắt Có tiếng vỗ cánh sè sè của vài con ong bò đen bóng, bay rập rờn trong bụi cây chanh Nắng dữ quá Gã Đực nằm ngoài hiên, thè dài lưỡi ra thở hực hực Lũ ngan, lũ ngỗng thì rủ nhau chúi xuống bờ ao, bên những tàu lá khoai sơn hà xanh rời rợi Ở dưới gầm cụm lá sói, hai ba chị mái tơ thi nhau rũi đất, thỉnh thoảng lại rũ cánh phanh phạch." (27, 319) Cảm giác về sự oi bức được thể hiện ra qua tất cả các câu văn khiến cho người đọc như cũng tưởng tượng ra được khung cảnh buổi trưa hè ấy và cảm nhận được sự oi nồng của nó Đó là
Trang 34cảm giác bức bối ngột ngạt như trong một cái lò Không khí được hun nóng và như ngừng chuyển động Tất cả đã được Tô Hoài quan sát, cảm nhận và tái hiện trong trang văn của mình một cách hình ảnh, thực tế và sống động
Đấy là cảnh đặc trưng cho mùa hạ xứ Bắc Còn mùa thu, mùa thu trên trang văn Tô Hoài cũng mang những âm sắc riêng Đây là một buổi chiều thu
êm ả với những âm thanh quen thuộc của một làng thủ công ngoại thành Hà Nội "Trời đã xế chiều rồi Một chiều thu êm ả Vài gợn nắng vàng nhạt đọng trên những tàu cau rách rưới màu xanh om Bên nhà ngang, tiếng guồng tơ quay đều đều Trên đường cái, lũ trẻ con đi học về vừa chạy thi nhau vừa la, nghe vang động xa vời vợi Ngoài giếng khơi, người ta kéo nước rào rào Cái gáo mo lạt sạt đụng vào thành giếng đá" (20, 20-21) Những dòng miêu tả của
Tô Hoài gợi ta nhớ đến khung cảnh buổi chiều trong một tác phẩm của một nhà văn khác: "Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào" (Hai đứa trẻ -Thạch Lam) Hai nhà văn đều quan tâm và chú ý thể hiện những nét đặc sắc riêng của buổi chiều thu trong tác phẩm của mình Cái chung toát lên từ hai đoạn văn miêu tả là chất thơ của một buổi chiều thu êm ả Tuy vậy, chiều thu trong văn Tô Hoài vẫn có nét riêng Những âm thanh sinh hoạt vọng lại khiến cho trang văn của ông không thấm thía buồn như văn Thạch Lam
Nếu như mùa hạ ở vùng Kẻ Bưởi khiến người ta không thể quên được vì cái nóng như hun như đốt thì mùa đông cũng đáng nhớ không kém Truyện của
Tô Hoài cũng có những trang miêu tả đặc sắc về mùa đông Trong Dế Mèn phiêu lưu ký, tác phẩm được coi là xuất sắc nhất của nhà văn, ông đã miêu tả rất tinh tế cảnh mùa đông tới và cảnh các loài phải đi tránh rét:
"Cỏ may trên bờ đường đi đã tàn Thế là mùa rét đã tới Cánh đồng vắng ngắt, màu xám trên trời và màu xám dưới đất đã liền vào nhau và ở giữa có gió suốt đêm ngày Trẻ con ra ngoài đồng thì lạnh tai và đỏ hất mũi Rét quá, rúm
cả chân Chẳng ai có thể ở rốn trên đồng không được Phải đi tìm nơi tránh rét
Nếu cứ phong phanh giữa trời suốt mùa đông thì đến chết cả
Trang 35Bởi thế, đã thành thói quen từ xưa, cứ mùa rét đến thì các loài sống trong vùng này lại bỏ cánh đồng lạnh ngắt lạnh ngơ mà lũ lượt đi kiếm nơi tránh rét." (27, 108-109)
Trời rét, rét quá Con người thì còn có nhà cửa, chăn bông, ổ rạ và lửa sưởi nhưng con vật thì khổng có Tuy vậy, để sinh tồn, mỗi loài cũng có những cách tránh rét riêng của mình Điều này đã được Tô Hoài nói đến trong tác phẩm:
"Anh em nhà Niềng Niễng thì lặn xuống bùn nằm với các anh Gọng Vó, bên cạnh những Cua, những Ếch lo rét đương vội vã đắp những cái mà đất lô nhô bát úp quanh các bờ đầm ao
Châu Chấu, Cào Cào, Bọ Ngựa, Bọ Muỗm thì đi tìm những khe dứa dại Trong mùa đông, chỉ có những bụi dứa dại xanh nguyên, mỗi chiếc lá dứa vẫn dỏng cái tai cứng lên nền trời xám Kẽ lá dứa sâu hoắm, ta có thể chui được vào đấy, nằm chỏng đuôi ra, bất chấp mưa gió bên ngoài." (27, 109-110)
Khung cảnh từng đàn chim xao xác bay đi tránh rét ta đã gặp nhiều trong các sáng tác văn học, nhưng hành trình tránh cái giá lạnh mùa đông của những loài cánh mỏng như Châu Chấu, Cào Cào thì có lẽ đây là lần đầu tiên Tô Hoài quả đã có con mắt quan sát và xét nhận thiên nhiên rất tinh tế Những khung cảnh, những sự việc ,sự vật, những kỷ niệm một thời thơ ấu của ông đã hóa thành túi dự trữ lớn giúp ông mỗi khi cần đến, có thể tái tạo và chuyển hóa nhanh chóng thành năng lượng của văn chương
Trong truyện Truyện gã chuột bạch, nhà văn cũng có những đoạn văn miêu tả rất đặc sắc cái rét của mùa đông xứ Bắc "Trời đã trở về mùa lạnh Những cụm lá bánh khúc thấp lè tè, nở hoa vàng khắp cánh đồng làng Nghĩa
Đô Đã không có nắng lớn Những đứa trẻ nghèo cũng hồng đôi má còm cõi Môi chúng khô còng lên, ăn cơm có nước mắm thấy xon xót Chúng gãi vào
da, da nổi lên những lần bụi trắng Buổi chiều, cậu nào rửa chân cũng ngần ngại, không yêu nước Và đêm đã phải ngủ chung với chăn bông và ổ rạ rồi Giàn thiên lý đã rụng hết lá xanh Chỉ còn trơ lại những dây già đen đủi, còng queo trên ngách cửa Từng nắm lá khô, rúm vào nhau, nằm co ro trong giàn, để
Trang 36mỗi buổi chiều đỏ hoe, hễ chớm hơi một gợn mây nhỏ, cũng tới tấp rơi lạt xạt xuống mặt đất." (20, 52-53) Ở xứ mà bốn mùa luân chuyển, thay đổi nhau rất
rõ rệt ấy, mùa đông với cái hơi lạnh ghê người của nó không lạ với các nhà văn Nhiều người đã viết về nó Trang văn của Tô Hoài làm ta nhớ đến một Thạch Lam tài hoa, đằm thắm trong Gió lạnh đầu mùa
Khi những cơn gió đầu mùa thổi tới, "nhìn ra ngoài sân, Sơn thấy đất khô trắng, luôn luôn cơn gió vi vu làm bốc lên những làn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo Trời không u ám, toàn một màu trắng đục Những cây lan trong chậu, lá rung động và hình như sắt lại vì rét." (42,101) Cái rét đã từng xuất hiện nhiều trong văn chương nhưng khí lạnh được miêu tả trong văn Tô Hoài vẫn mang nét gì rất đặc trưng Ông tuy giống Thạch Lam ở chỗ cùng chân thực và đằm thắm nhưng trang văn của ông vẫn có nét dí dỏm riêng Cái hóm hỉnh, tinh tế trong cách quan sát và miêu tả, cách lựa chọn và sử dụng ngôn từ
đã tạo nên điều đó Mùa đông ở Nghĩa Đô dường như đã được ông cất giữ trong ký ức từ rất lâu nên khi cần dùng đến, ông chỉ đặt bút là thành câu chữ
Do vậy câu văn của ông có cái hồn nhiên như bản thân cuộc sống
Không chỉ giỏi khắc họa cảnh thiên nhiên bốn mùa nơi làng quê mình, Tô Hoài còn để lại trong các sáng tác nhiều trang tả cảnh đặc sắc nữa Cú pháp linh hoạt, đa dạng, kho từ vựng phong phú và có giá trị tạo hình cao đã giúp cho nhà văn dựng lên được những bức tranh đầy chất thơ trong các tác phẩm Này đây chỉ là những ghi nhận riêng về âm thanh và mùi vị trong một trận mưa rào đầu mùa hạ ''Mưa buông sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nước tỏa trắng xóa Trong nhà bỗng tối xâm Một mùi nồng âm ấm, hình như hơi ngọt, lại hình như hơi ngai ngái Cái mùi xa lạ, man mác của những trận nước mưa mới đầu mùa Mưa réo réo trên sân sạch, gõ độp độp trên phên nứa, đập lùng tùng vào lòng lá chuối, rào rào liên miên Tiếng giọt gianh đổ ồ ồ, nước ào ạt ọc nguồn, xói lên trong những rãnh nước sâu Nước réo, vang vang, kỳ quái như tiếng đổ trời sụp đất ở đâu Đôi khi, đương kéo dài một loạt à à, bỗng một cơn gió phào đến, vật vã cây cối, lại nổi lên một hồi rạt rào xa gần thăm thẳm " (23, 81-82) Rõ ràng, nhà văn đã có sự quan sát và cảm nhận rất tinh tế về thiên
Trang 37nhiên Để tả cái hương vị của nước mưa mới đầu mùa, ông đã đưa ra một loạt tính từ: âm ấm, ngọt, ngai ngái, xa lạ, man mác Tất cả chúng hòa trộn lại đã cho người đọc có được cảm nhận thật rõ rệt về một thứ mùi không rõ rệt, khó định nghĩa Đấy là cái tài của Tô Hoài Miêu tả âm thanh của cơn mưa rào cũng vậy, nhà văn đã dành cả trang viết để khắc họa Cùng là tiếng mưa nhưng tùy vào vị trí rơi xuống mà có một âm thanh riêng Nào là rèo rèo, độp độp, lùng tùng, rào rào, ồ ồ, ào ạt, Bằng ấy âm thanh khác nhau kết hợp lại để cùng tấu lên một bản hòa nhạc có một không hai của đất trời, của thiên nhiên Bản hòa nhạc ấy có thể chúng ta đã nghe, nhiều lần nghe nhưng phải đọc đến trang văn của Tô Hoài, chúng ta mới như được một vị nhạc sĩ chỉ cho rỏ đâu là nhừng cung bậc bổng trầm của nó
Đây là một cảm nhận tinh tế khác của Tô Hoài Một thứ mùi vị đặc trưng của miền quê, rất quen thuộc nhưng lại rất khó cắt nghĩa rõ ràng "Sắp vào tới xóm Tôi đã ngửi sẵn được các mùi hương hoa quen thuộc Quen thuộc lắm, hễ ngửi thoáng là tôi biết sắp về tới quê Ờ mà lạ Không bao giờ tôi biết phân biệt
rõ ràng cái hương vị phảng phất dị kỳ ấy Nó thoang thoảng trong cánh đồng bao la hoặc vẩn vơ nơi rặng ô rô kín mít Tưởng như đấy là mùi cỏ khô, mùi đất mới, mùi khói rơm bếp Không chắc đã phải Thôi đích nó là mùi lá muỗm nấu lẫn với lá vối, mùi rau nhảy, mùi lá trang, mùi lá cải, mùi cỏ bồ nùng, mùi mái rạ chuồng bò Cơ chừng nó chẳng rõ ràng mùi gì Nó là tất cả mùi vị, từ mùi tóc hôi trên đầu đứa trẻ cho tới mùi cái nõn cỏ gấu đắng mới nở, trộn lại, hòa với nhau, bốc tỏa lên khắp một miền quê Mùi của hương đồng cỏ nội Cái mùi quê đặc biệt, cứ mỗi khi về gần đến làng, là tôi thoảng biết.” (23 60-61) Quả là một đoạn văn giàu chất thơ Một cảm nhận tinh tế toát lên từ một tâm hồn giàu cảm xúc và một lòng yêu quê hết mực Nếu không có sự gắn bó với quê hương bằng một tâm hồn đa cảm của người nghệ sĩ, mấy ai có được những cảm nhận độc đáo như thế? Hơn nữa, giá trị của đoạn văn còn nằm ở khả năng diễn đạt, ở công phu dùng chữ, tạo câu của Tô Hoài Đọc đoạn văn, người đọc
có một cảm giác êm ái dễ chịu Nhưng đó không là sự êm ái của lối văn biền ngẫu từng ngự trị trong văn chương một thời Câu văn với cú pháp linh hoạt, từ ngữ gợi cảm, phong phú, hợp logic vừa thể hiện được ý tình của tác giả và
Trang 38cũng rất phù hợp với lối nói, cách nghĩ của con người hiện đại Có thể nói, những đoạn văn như thế chính là những đóng góp thiết thực, giá trị của Tô Hoài vào quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc
Dĩ nhiên những thành công mà nhà văn hiện thực Tô Hoài đạt được trong nghệ thuật tả cảnh không nằm ngoài sự phát triển chung của văn mạch dân tộc Trước đó vài năm, vào năm 1939, một nhà phê bình đã từng ca ngợi tác giả Tắt đèn: "Nghệ thuật tả cảnh của ông cũng đã đến một trình độ khá cao có thể cho phép ta đặt ông ngang hàng với các nhà văn sĩ trong Tự lực văn đoàn" (Báo Đông Phương, số 10, nsày 1-9-1939) Nhưng giờ đây, nếu lấy những đoạn văn
tả cảnh của Tô Hoài trong Cỏ dại hay của Bùi Hiển trong Chiều sương, của Nguyên Hồng trong Cuộc sống hay Hơi thở tàn .để so sánh với những bức tranh thiên nhiên của Hồn bướm mơ tiên, của Nửa chừng xuân, từng nổi tiếng một thời, ta thấy không hề kém cạnh nếu không nói là có phần hơn hẳn
Như vậy, ngay từ những tác phẩm ở giai đoạn đầu sáng tác này, nhà văn
Tô Hoài đã đạt được những thành công trong việc miêu tả thiên nhiên, vạn vật Theo dõi tiếp hành trình sáng tác của tác giả, ta thấy ông đã giữ gìn và phát huy được sở trường ấy Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, Tô Hoài đã tiếp tục
để lại trong nhiều tác phẩm của mình những trang miêu tả thiên nhiên thật độc đáo, sinh động Này là khung cảnh thiên nhiên đầy hương sắc, mùi vị của xứ Lạng: "Những cơn gió sớm đẫm mùi hồi từ các đồi trọc Lộc Bình bên lao xuống, tràn vào cánh đồng Thất Khê, lùa lên những hang đá Văn Uyên, Thoát Lãng trên biên giới xuống Cao Lộc, Chi Lăng, qua những vùng hồi mà một mảnh lá gẫy cũng dậy mùi thơm, gió càng thơm mát Sông Kỳ Cùng đã nhạt hết màu đục đỏ bối rối suốt mùa lũ, bây giờ con sông bỗng ủ mùi thơm trong vắt lượn quanh co khắp đất Lạng Sơn vào mùa hồi chín." (Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ) Này là những con chim đủ loại của miền Tây "con chim kỳ xanh biếc chân đỏ, tiếng nó thánh thót cao thấp như tiếng kèn đi săn", từng đoàn "chào mào rừng đỏ chóe, đội mũ nhung cao, mỗi con như một đám đuốc lỗ đỗ bay ra trải dài cả đàn trên vòm trời sương tan" Và đây là sự quan sát tinh tế của tác giả về những bước chuyển màu của hoa thuốc phiện mùa xuân "vừa nở trắng
Trang 39lại đổi ra màu đỏ hau, đỏ thầm rồi sang màu tím man mát" (Vợ chồng A Phủ)
Có thể nói, thiên nhiên đóng vai trò khá quan trọng trong văn Tô Hoài và được nhà văn miêu tả theo một cách nhìn rất tự nhiên Trong tác phẩm của ông, thiên nhiên luôn có mặt và dường như cũng là một nhân vật có sự sống, có tâm hồn Khi miêu tả thiên nhiên, văn của Tô Hoài trở nên đậm màu sắc trữ tình và giàu chất thơ Thông qua đó, ông lồng vào những cảm xúc đằm thắm phù hợp với cảnh, với sự việc, với con người trong tác phẩm Chính vì thế, dù việc miêu
tả thiên nhiên cảnh vật không là chủ đề chính trong các sáng tác nhưng nó lại đóng một vai trò không nhỏ trong việc tạo nên giá trị cho tác phẩm
2.2 NGH Ệ THUẬT MIÊU TẢ PHONG TỤC
Có người đã từng nhận xét rằng: "Trong con người lịch lãm của Tô Hoài, người ta đọc thấy nhiều nét xưa "Xưa" ở đây có nghĩa là những phong tục tập quán trong truyền thống văn hóa dân tộc Điều ấy được thể hiện một cách rất tự nhiên và đặc biệt trong văn Tô Hoài" (Đoàn Minh Tuấn- Tô Hoài với chuyện bếp núc vãn chương) (52, 564)
Nhận xét ấy rất đúng và đúng ngay với những sáng tác ở giai đoạn đầu
tiên của Tô Hoài Ở giai đoạn này, nhà văn có nhiều tác phẩm viết về vùng quê nơi ông sinh ra, lớn lên và gắn bó Đặc biệt, ông thường nhìn nông thôn nghiêng về phía phong tục với cặp mắt hóm hỉnh, sắc sảo Có lẽ đây chính là điểm tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt cho ngòi bút, là nét sở trường trong phong cách nghệ thuật của ông
Trong tập truyện ngắn Nhà nghèo, một tập truyện viết về nông thôn, Tô Hoài đã miêu tả và thể hiện rất sinh động những phong tục tập quán, lối sống của vùng Kẻ Bưởi quê ông
Tác phẩm Vợ chồng trẻ con dựng lên một câu chuyện về tục tảo hôn Trong đó, hai vai diễn chính là hai đứa trẻ cập kênh nhau về tuổi Chú rể Phúc lên mười còn cô dâu Ngói lớn hơn một ít, mười hai Hai đứa trẻ còn đang ở tuổi
ăn chơi Thế nhưng "không bao giờ ai lại có lúc nghĩ rằng chúng nó còn non nớt quá Người ta chỉ biết so đôi tuổi hợp thế là có những người khăn đóng áo
Trang 40dài bưng đến nhà cái Ngói một mâm chè mạn" Chẳng thế mà lại có những cảnh nực cười Đám cưới đến, chú rể "hả hê sung sướng như mở cờ trong bụng" nhưng nào phải vì chú nghĩ đến việc mình sắp có vợ Chú vui chẳng qua
vì đám cưới đến thì nhà đông đảo, lại có đốt pháo, mổ bò mà thôi Vì vậy, "với
ai, chú cũng cười Trong túi chú xủng xoảng tiếng tiền Chú đi nhặt pháo sì, đánh hú, ngồi xem bò thui Và chú nhảy tâng tâng" Cái chất trẻ con, cái sự ngây thơ của chú rể - mà người ta vẫn hay gọi là cu Phúc - còn được tác giả thể hiện rất đặc sắc qua cảnh rước dâu: "Lúc nãy, nó đương ngủ ngon lành giữa đống rơm thui bò thì có thằng lại tìm kéo tai nó dậy, lôi nó đi đón dâu Mắt nó vẫn còn cay xè và đóng cứng những nhử, cậy chưa hết Nghe thấy nói sang bên
ấy cũng ăn cỗ, cu cậu cười nhắm tít mắt lại, hấp tấp đi liền Quên cả mang giầy Lúc đã đến gần nhà gái, mới sực nhớ ra, nó toan chạy lại lấy Nhưng các ông, các cụ bảo không được, phải kiêng trở về như thế Một anh phù rể đành đi chân đất, tụt giầy ra nhường cho chú rể vậy"
Hơn hai tuổi, nhưng cô dâu Ngói chưa phải đã là người lớn hẳn Nó nào
đã biết gì về chuvện vợ chồng Ngày cưới đến, nó cứ khóc um lên và mấy cô bạn phải kèm riết hai bên nách kéo đi Bởi nếu không nó sẽ chạy mất Sang đến nhà chồng, nó cũng nhất định theo các bạn Và trong đêm tân hôn, cô dâu Ngói ngủ chung với các bạn phù dâu trong khi chú rể Phúc "rúc đầu vào đống rơm,
cù nhau với mấy ranh con khác" Không phải cái Ngói e thẹn, lại càng không phải nó không ưng thằng chồng nhỏ tuổi Đơn giản chỉ là vì nó sợ Chẳng thế
mà khi đã quen và nhận ra rằng "không phải người ta bắt cóc nó, cũng chẳng phải người ta hùa nhau đem nó đi chọc tiết, giết thịt" thì nó nguôi ngoai dần và bắt đầu làm quen, đánh bạn với thằng chồng, người bạn mới của nó
Câu chuyện được đẩy thêm một bước qua việc miêu tả anh cả Phúc - giờ
vợ con đứng đắn rồi, làng xóm phải gọi thế cho tề chỉnh -cùng với vợ về bên nhạc gia ăn cỗ Anh cả Phúc vui lắm bước tung tăng "cười tủm nhe mấy cái răng sún, hổng, đen xỉn" Nhưng "Phúc thích chí vì được diện bộ bốp và được tiền mẹ cho Thực chẳng phải thích vì được đi cạnh vợ" Vì vậy khi nhìn thấy đám thò lò thì Phúc ta mê tít, quên cả việc phải về nhà bố mẹ vợ