Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 3Lời đầu tiên, tác giả xin trân trọng nói lời cảm ơn chân thành tớiPGS TS Nguyễn Trọng Văn - ngời đã tận tình giúp đỡ, hớng dẫn tôitrong suốt quá trình làm luận văn.
Đồng thời tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới Hội đồng khoa học,các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, khoa Lịch sử - Trờng Đại học Vinh đã
đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Qua đây tác giả cũng xin chân thành cảm ơn tới Ban Tuyên giáohuyện Thanh Chơng, Th viện huyện Thanh Chơng, Phòng Văn hoáhuyện Thanh Chơng; Th viện tỉnh Nghệ An, th viện Trờng Đại học Vinh
đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình su tầm t liệu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến những ngời thân tronggia đình và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất chotôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù rất cố gắng, song chắc rằng luận văn sẽ không thể tránhkhỏi những thiếu sót, rất mong nhận đợc sự góp ý và giúp đỡ của Hội
đồng khoa học, thầy cô và bạn bè để luận văn đợc hoàn thiện hơn
Vinh, tháng 12 năm 2009
Tác giả
Phan Thị Hằng
Trang 4Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ vủa luận văn 4
4 Nguồn tài liệu 5
5 Giới hạn vấn đề và phơng pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Bố cục của luận văn 7
Nội dung 8
Chơng 1 Khái quát Phong trào cách mạng Thanh Chơng trớc khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ 8
1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội và truyền thống yêu nớc, cách mạng ở Thanh Chơng 8
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 8
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 12
1.1.3 Truyền thống yêu nớc và cách mạng 15
1.2 Phong trào cách mạng Thanh Chơng trong những năm 1930 - 1939 18
1.2.1 Thanh Chơng trong phong trào 1930 - 1931 18
1.2.2 Phong trào cách mạng trong những năm 1932 - 1939 26
Chơng 2 Quá trình vận động chuẩn bị lực lợng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền (1939 - 1945) ở Thanh Chơng 31
2.1 Tình hình Thanh Chơng sau Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ 31
Trang 52.2.1 Đấu tranh chống khủng bố, củng cố cơ sở Đảng 382.2.2 Chuẩn bị lực lợng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền 472.2.3 Sự ra đời và hoạt động của Chấp uỷ Việt Minh 51
Chơng 3 Khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Chơng (16/8 - 23/8/1945) 583.1 Chủ trơng giành chính quyền của Việt Minh Nghệ - Tĩnh 583.2 Diễn biến cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Chơng 633.3 Một số nhận xét về khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Chơng
1945 70
Kết luận 83
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục
Trang 6ớc Quá trình diễn biến của Cách mạng Tháng Tám hết sức phong phú và đadạng do tình hình lịch sử cụ thể và đặc điểm riêng của từng địa phơng ThanhChơng là một điển hình tiêu biểu về quá trình vận động và khởi nghĩa giànhchính quyền trong cách mạng Tháng Tám.
1.2 Việc đi sâu nghiên cứu quá trình vận động cách mạng giải phóng
dân tộc ở Thanh Chơng thời kỳ 1939 - 1945 không chỉ đa lại những đóng góp
về mặt lý luận khoa học, mà một lần nữa chứng minh cho sự lãnh đạo tài tình
đờng lối cách mạng sáng tạo của Đảng ta, đồng thời còn có ý nghĩa thực tiễn
to lớn Từ đó giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn về diện mạo củacuộc Cách mạng Tháng Tám trong toàn tỉnh Nghệ An cũng nh trong cả nớc.Những thành tựu và bài học lịch sử quý giá rút ra từ phong trào cách mạng ởThanh Chơng trong giai đoạn lịch sử này không chỉ có ý nghĩa cổ vũ chophong trào cách mạng trong toàn tỉnh Nghệ An và cả nớc lúc bấy giờ, mà đốivới công cuộc bảo vệ quê hơng trong thời kỳ hiện nay vẫn còn nguyên giá trị
và cần đợc tiếp tục phát huy
1.3 Trớc năm 1945, phong trào cách mạng ở đây đã phát triển mạnh và
vững chắc Trong phong trào cách mạng 1930 - 1931, Thanh Chơng đợc xem
là đỉnh cao, là huyện giành đợc chính quyền Xô viết đầu tiên ở Nghệ An Tuynhiên, do những điều kiện khách quan và chủ quan trong những giai đoạn tiếptheo 1932 - 1935 rồi 1936 - 1939 những thành quả cách mạng thời kỳ đầu đãkhông tiếp tục phát huy đợc mà còn bị lắng xuống Vì vậy, từ trớc đến nay,khi nghiên cứu về Thanh Chơng dới góc độ sử học, ngời ta thờng tập trung chú
ý nhiều tới Thanh Chơng trong cao trào Xô viết 1930 - 1931, còn các giai
đoạn lịch sử khác, trong đó có thời kỳ vận động cách mạng giải phóng dân tộc
1939 - 1945 cha đợc quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu một cách đầy đủ, thoả
đáng
1.4 Nghiên cứu cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh
Chơng thời kỳ 1939 - 1945 là điều bổ ích và cần thiết, góp phần làm sống dậy
Trang 7một thời kỳ lịch sử hào hùng của quê hơng, đồng thời làm phong phú thêm nộidung và tầm vóc Cách mạng Tháng Tám của dân tộc Qua đó, chúng tôi hyvọng sẽ góp đợc phần công sức nhỏ bé của mình vào việc biên soạn lịch sử địaphơng, tuyên truyền giáo dục, khơi dậy niềm tự hào và phát huy truyền thống
đấu tranh kiên cờng, bất khuất của nhân dân Thanh Chơng
Xuất phát từ ý nghĩa nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Chơng (Nghệ An) thời kỳ 1939 - 1945” làm đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của mình.
mạng Tháng Tám Việt Nam” của Trờng Chinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1974;
“Cách mạng Tháng Tám 1945 - Những sự kiện lịch sử” của Trần Hữu Đính và
Lê Trung Dũng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000; “Cách mạng Tháng
Tám trong tiến trình lịch sử dân tộc”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2005
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đều cố gắng tập trung làm sáng tỏ
điều kiện lịch sử, quá trình chuẩn bị lực lợng, diễn biến, kết quả, tính chất, đặc
điểm, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của cách mạng Tháng Tám ởViệt Nam Một số công trình cũng đã phần nào đề cập tới phong trào khởinghĩa giành chính quyền ở tỉnh lị và huyện lị của các địa phơng trên toànquốc, trong đó có Nghệ An
2.2 Tại Nghệ An, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan
tới thời kỳ vận động cách mạng giải phóng dân tộc 1939 - 1945 đã đợc công
bố nh: “Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ Tĩnh”, sơ thảo, tập 1 (1925 - 1954), Nxb Nghệ Tĩnh, 1987; “Sơ thảo lịch sử tỉnh Đảng bộ
Nghệ An” của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh uỷ Nghệ An, Nxb Nghệ
An,1967; “Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập 1 (1930 - 1954)”, Nxb Chính trị Quốc gia, 1998; “Những sự kiện lịch sử của Đảng bộ Nghệ Tĩnh”, Nxb Nghệ
Tĩnh, Vinh đã phản ánh sơ lợc quá trình nhân dân Nghệ An nói chung và
Trang 8nhân dân Thanh Chơng nói riêng dới sự lãnh đạo của Đảng, đấu tranh phụchồi tổ chức Đảng, cơ sở cách mạng, chuẩn bị lực lợng và tiến hành khởi nghĩagiành chính quyền thắng lợi.
Đáng chú ý là cuốn “Cách mạng Tháng Tám” của Ban nghiên cứu lịch
sử Đảng tỉnh uỷ Nghệ An, xuất bản năm 1966, và gần đây nhất năm (2003)
trong luận án Tiến sĩ lịch sử với đề tài “Quá trình vận động cách mạng giải
phóng dân tộc ở Nghệ An thời kỳ 1939 - 1945” của tác giả Trần Văn Thức đã
trình bày một cách khái quát quá trình đấu tranh giành chính quyền của nhândân Nghệ An nói chung và đã ít nhiều đề cập đến quá trình đấu tranh giànhchính quyền của nhân dân Thanh Chơng nói riêng
Ngoài ra, cũng phải kể đến một số công trình khác nh: “Lịch sử Nghệ
Tĩnh, tập 1”, Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh, 1984; “Nghệ Tĩnh hôm qua và hôm nay”,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986 đã ít nhiều phác hoạ sơ lợc cuộc khởi nghĩa giànhchính quyền của nhân dân Nghệ An nói chung và của nhân dân Thanh Chơngnói riêng
Đặc biệt hơn cả là cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chơng, sơ thảo,
tập 1 (1930 - 1945)”, Nxb Nghệ Tĩnh, (1985); “Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chơng (1930 - 1975)”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, (2005); “Thanh Chơng
đất và ngời”, Nxb Nghệ An, (2005) và cho đến nay nhiều xã ở huyện Thanh
Chơng đã biên soạn lịch sử địa phơng nh: “Lịch sử Đảng bộ xã Thanh Long”, Nxb Nghệ An, 2004; “Lịch sử Đảng bộ xã Xuân Tờng”, Nxb Quân khu IV, (2005); “Lịch sử Đảng bộ xã Thanh Tờng
Hầu hết các cuốn sách kể trên đều ít nhiều đề cập đến quá trình vận
động khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Thanh Chơng dới sự lãnh
đạo của Đảng và của các cấp Đảng địa phơng
2.3 Thời kỳ vận động Cách mạng Tháng Tám cũng đợc tái hiện trong
một số hồi ký của các nhân vật đã từng trực tiếp chỉ đạo hoặc tham gia hoạt
động cách mạng trong thời kỳ tiền khởi nghĩa ở Thanh Chơng nh: hồi ký “Chỉ
một con đờng”, của Tôn Thị Quế, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1974 ; Hồi ký
“Phong Nậm làng xa” số 68 KH/HT, 1973; Hồi ký “Xô Viết con ngời” của
Nguyễn Trọng Cừ, số 81 KH/HT; Hồi ký tự thuật của Phan Thai Thụ; Hồi kýcủa Phan Tố Đức, số 86 KH/HT, 1975
Trang 9Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đến đề tài của luận văndới những khía cạnh, góc độ khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giảluận văn có thể kế thừa đợc cả về nội dung lẫn phơng pháp Tuy nhiên, trongquá trình tìm hiểu các nguồn t liệu, chúng tôi thấy cha có một công trìnhchuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về cuộccách mạng giải phóng dân tộc thời kỳ 1939 - 1945 ở Thanh Chơng Thực hiện
đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần lấp đợc chỗ trống đó
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Su tầm, tập hợp và xử lý các nguồn t liệu có liên quan, trên cơ sở đóphác hoạ lại toàn cảnh phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dânThanh Chơng thời kỳ 1939 - 1945 Qua đó rút ra một số nhận xét, đánh giá vềquá trình chuẩn bị lực lợng và khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở ThanhChơng
Kết quả nghiên cứu của luận văn không chỉ có làm tài liệu giáo dụctruyền thống yêu nớc và cách mạng cho các tầng lớp nhân dân Thanh Chơng,nhất là thế hệ trẻ, mà còn có ý nghĩa to lớn vào công cuộc bảo vệ và xây dựngquê hơng Thanh Chơng ngày càng giàu mạnh hơn, tơi đẹp hơn
3.2 Nhiệm vụ
Thông qua nguồn t liệu, luận văn đi sâu phân tích những yếu tố thuậnlợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hởng đến quá trình xây dựnglực lợng cách mạng ở Thanh Chơng thời kỳ 1939 - 1945 Từ đó làm nổi bật vịtrí chiến lợc và truyền thống đấu tranh của nhân dân Thanh Chơng Trên cơ sở
đó, luận văn làm rõ và có hệ thống phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ởThanh Chơng thời kỳ này, đồng thời rút ra những đặc điểm, ý nghĩa, nhữngbài học kinh nghiệm về sự chuẩn bị cho cách mạng, về công tác xây dựng lựclợng và việc chớp thời cơ giành chính quyền
4 Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu sau:
4.1 Các tác phẩm của Mác-Lênin bàn về chiến tranh nhân dân, khởi
nghĩa vũ trang và đấu tranh vũ trang cách mạng Đây là cơ sở lý luận màchúng tôi vận dụng vào quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài
Trang 104.2 Các văn kiện Đảng, những bài nói, bài viết của các vị lãnh đạo trực
tiếp hoặc có liên quan đến cách mạng giải phóng dân tộc nói chung, cáchmạng Tháng Tám nói riêng Một số chỉ thị, nghị quyết của Xứ uỷ Trung Kỳ,của Đảng bộ tỉnh và Đảng bộ huyện Thanh Chơng có liên quan đến vấn đềcách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945) Đây là nguồn t liệu giúp chúngtôi có thể tiếp cận với những quan điểm, đờng lối của Đảng trong việc xâydựng và phát triển lực lợng cách mạng
4.3 Các tài liệu lu trữ tại kho lu trữ thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ
An, Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh, Th viện tỉnh Nghệ An, Ban tuyên giáo huyệnThanh Chơng, Th viện huyện Thanh Chơng, Nhà truyền thống huyện ThanhChơng là nguồn t liệu quý báu giúp chúng tôi nghiên cứu những vấn đề liênquan đến đề tài luận văn
4.4 Ngoài ra những công trình nghiên cứu, những bài viết của một số
nhà nghiên cứu viết về Thanh Chơng, hồi ký của một số ngời đã trực tiếp thamgia lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám ở Thanh Chơng; những công trình biênsoạn lịch sử của các xã; những tài liệu toạ đàm, hội thảo khoa học về các nhânvật, sự kiện lịch sử có liên quan đến đề tài của luận văn nh chúng tôi đã nêu ởphần trên
Đây là nguồn tài liệu giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu và làmsáng tỏ hơn nội dung vấn đề cần nghiên cứu
4.5 Các cuộc điều tra, điền dã, gặp gỡ, trao đổi với các nhân chứng lịch
sử - những ngời trực tiếp tham gia hoạt động trong phong trào cách mạng giảiphóng dân tộc ở Thanh Chơng thời kỳ 1939 - 1945 cũng là nguồn tài liệu sống
bổ trợ quan trọng, giúp chúng tôi giám định những sự kiện đã diễn ra, để từ đó
có thể đánh giá một cách chính xác và khách quan hơn
5 Giới hạn vấn đề và phơng pháp nghiên cứu
5.1 Giới hạn
Về thời gian, cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh
Ch-ơng mà chúng tôi đề cập đến trong luận văn đợc tính từ Hội nghị Trung Ch-ơng
Đảng lần 6 (tháng 11 - 1939) đề ra chủ trơng chuyển hớng chiến lợc cáchmạng Việt Nam, đến khi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Chơngthắng lợi 23 - 8 - 1945
Về không gian là toàn bộ huyện Thanh Chơng
Trang 11Tuy nhiên để làm rõ Thanh Chơng trong giai đoạn này, tác giả có kháiquát thêm tình hình Thanh Chơng trớc năm 1939.
5.2 Phơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chủ yếu dựa vào phơng pháp duyvật lịch sử, phân tích và tổng hợp, kết hợp phơng pháp logic và phơng pháplịch sử Ngoài ra, để làm sáng tỏ thêm những vấn đề mà luận văn đặt ra,chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp so sánh, đối chiếu, thống kê và điềndã lịch sử
6 Đóng góp của luận văn
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã cố gắng su tầm vàkhai thác một số t liệu có giá trị, đồng thời hệ thống lại các nguồn tài liệu cóliên quan
Luận văn đã góp phần khôi phục khách quan, toàn diện và có hệthống về phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Thanh Chơng thời kỳ
1939 - 1945
Đồng thời luận văn cũng đã làm rõ đặc điểm cuộc vận động khởi nghĩagiành chính quyền và ý nghĩa thắng lợi ở Thanh Chơng trong cách mạngTháng Tám nói chung
Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy vàhọc tập lịch sử địa phơng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa luận văn đợc trình bày trong 3 chơng
Chơng 1 Khái quát Phong trào cách mạng Thanh Chơng trớc
khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Chơng 2 Quá trình vận động chuẩn bị lực lợng tiến tới khởi
nghĩa giành chính quyền (1939 - 1945) ở Thanh Chơng Chơng 3 Khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Chơng (16/8 -
23/8/1945)
Nội dung Chơng 1 Khái quát Phong trào cách mạng Thanh Chơng trớc
khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ
Trang 121.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội và truyền thống yêu nớc, cách mạng ở Thanh Chơng
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Huyện Thanh Chơng ở phía Tây - Nam tỉnh Nghệ An, nằm trong toạ độ18034’ đến 18055’ vĩ độ Bắc và từ 104055’ đến 105030’ kinh độ Đông PhíaBắc giáp huyện Đô Lơng và huyện Anh Sơn; phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh;phía Đông giáp huyện Nam Đàn; phía Tây và Tây Nam giáp huyện Anh Sơn
và tỉnh BôlyKhămxay (nớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), với đờng biêngiới quốc gia dài 53 km Diện tích tự nhiên của Thanh Chơng là 1.127,63 km2,xếp thứ 5 trong 19 huyện, thành thị trong tỉnh [5, tr.11]
Địa hình Thanh Chơng rất đa dạng, tính đa dạng này là kết quả của mộtquá trình kiến tạo lâu dài và phức tạp Núi đồi trung du là dạng địa hình chiếmphần lớn đất đai của huyện Núi non hùng vĩ nhất là dãy Dăng Màn có đỉnhcao 1.026 m tạo thành ranh giới tự nhiên với tỉnh BôlyKhămxay (Lào), tiếp
đến là các đỉnh Nác La cao 838 m, đỉnh Vũ Trụ cao 987 m, đỉnh Bè Noi cao
509 m, đỉnh Đại Can cao 583 m, đỉnh Thác Muối cao 328 m Núi đồi tầngtầng lớp lớp, tạo thành những cánh rừng trùng điệp Phía hữu ngạn sông Lam
đồi núi xen kẽ, có dãy chạy dọc, có dãy chạy ngang, có dãy chạy ven bờ sông,cắt xẻ địa bàn Thanh Chơng ra nhiều mảng, tạo nên những cánh đồng nhỏhẹp Chỉ có vùng Thanh Xuân, Võ Liệt, Thanh Liên là có những cánh đồng t-
ơng đối rộng Phía tả ngạn sông Lam, suốt một giải từ chân núi Cuồi kéoxuống đến rú Dung, núi đồi liên tiếp nh bát úp, nổi lên có đỉnh Côn Vinh cao
188 m, rú Nguộc (Ngọc Sơn) cao 109 m [5, tr.12]
Cũng nh các vùng miền núi khác trong tỉnh, vùng đất Thanh Chơng dokhai thác lâu đời, bồi trúc kém nên đất đai trở nên cằn cỗi và ong hoá nhanh,trừ vùng đất màu mỡ ven sông Lam và sông Giăng
Về thổ nhỡng: Thanh Chơng có 7 nhóm đất, nhiều nhất là loại đất
pheralit đỏ vùng đồi núi thấp, rồi đến đất pheralit vàng vùng đồi, đất phù sa,
đất pheralit xói mòn trơ sỏi đá, đất pheralit mùn vàng trên núi, đất lúa vùng
đồi núi và đất nâu vàng phát triển trên phù sa cổ và lũ tích
Rừng Thanh Chơng vốn có nhiều gỗ quý nh: Lim xanh, táu, dổi, de,vàng tim cùng các loại lâm sản khác nh: Song, mây, tre, nứa, luồng, mét hệ
Trang 13thực vật rừng phong phú về chủng loại Trong đó rừng lá rộng nhiệt đới là phổbiến nhất.
Động vật rừng từ xa có nhiều voi, hổ, nai, khỉ, lợn rừng Nay, động vậtcòn lại không nhiều; còn hệ thực vật tuy bị chặt phá nhiều nh ng trữ lợng gỗvẫn còn khá lớn Tính đến năm 2000 trữ lợng gỗ có1.834.780 m3 [9, tr.390-392]
Về khoáng sản: Thanh Chơng có trữ lợng đá vôi khá lớn ở Hạnh Lâm,
Thanh Ngọc, Thanh Mỹ, đá Granít ở Thanh Thuỷ, đá cuội, sỏi ở bãi sôngLam, sông Giăng, đất sét ở Thanh Khai, Thanh Lơng, Thanh Dơng, ThanhNgọc Trong lòng đất có thể có các loại khoáng sản khác, nhng ngành địa chấtcha khảo sát thăm dò kỹ lỡng
Về sông ngòi: Sông Lam (tức sông Cả) bắt nguồn từ Thợng Lào, chạy
theo hớng Tây Bắc - Đông Nam qua các huyện Kỳ Sơn, Tơng Dơng, ConCuông, Anh Sơn, Đô Lơng, chảy dọc huyện Thanh Chơng chia huyện ra haivùng: Hữu ngạn và tả ngạn Sông Lam là một đờng giao thông thuỷ quantrọng, nó bồi đắp phù sa màu mỡ ven sông, nhng về mùa ma nó trở nên hungdữ, thờng gây úng lụt ở vùng thấp Sông Lam còn có các phụ lu trong địa bànhuyện Thanh Chơng nh sông Giăng, sông Trai, sông Rộ, sông Nậy, sông Triều
và sông Đa Cơng (rào Gang)
Với hệ thống sông ngòi chằng chịt khắp huyện, ngoài tuyến đò dọc, từlâu đời nhân dân còn mở hàng chục chuyến đò ngang, tạo điều kiện về giaothông vận tải, giao lu giữa các vùng trong huyện
Do địa thế sông núi hiểm trở nên Thanh Chơng là một vị trí chiến lợc
quan trọng về mặt quân sự Ngời xa đã đánh giá địa thế Thanh Chơng là “tứ
tắc” (ngăn lấp cả 4 mặt).
Với cảnh núi non trùng điệp, sông nớc lợn quanh tạo cho Thanh Chơngdáng vẻ thơ mộng “sơn thuỷ hữu tình”, đẹp nh những bức tranh thuỷ mặc,những thắng cảnh nh Thác Muối, vực Cối, ngọn Tháp Bút, dãy Giăng Màn, đãlàm cho quang cảnh trời đất Thanh Chơng thêm bội phần tơi đẹp Ngời xa đã
từng ca ngợi: “hình thế Thanh Chơng đẹp nhất xứ Hữu kỳ” (vùng đất từ Quảng
Trị ra Thanh Hoá)
Về giao thông vận tải: Ngoài đờng thuỷ với hệ thống sông ngòi kể trên,
Thanh Chơng còn có đờng Hồ Chí Minh dài 53 km chạy dọc theo hớng TâyBắc - Đông Nam, từ Thanh Đức tới Thanh Xuân qua 11 xã, đờng quốc lộ 46 từ
Trang 14Thanh Khai đến Ngọc Sơn rồi chạy ngang qua Võ Liệt, cắt đờng Hồ Chí Minhtới cửa khẩu Thanh Thuỷ, đờng số 15 chạy từ Ngọc Sơn lên Thanh Hng theohớng gần nh song song với đờng Hồ Chí Minh, ngoài ra Thanh Chơng còn cónhiều đờng mòn qua Lào và các đờng liên xã, liên thôn thuận lợi cho sản xuất
và giao lu giữa các vùng nội huyện
Khí hậu: Thanh Chơng nằm trong vùng tiểu khí hậu Bắc Trung bộ
(nhiệt đới gió mùa) một năm có đủ 4 mùa: Xuân, hạ thu, đông Mùa hè có gióTây Nam (gió Lào) rất nóng nực Mùa thu thờng ma nhiều kéo theo bão lụt.Mùa đông và mùa xuân có gió mùa Đông Bắc rét buốt Khí hậu khắc nghiệt ởThanh Chơng có ảnh hởng đáng kể đến sinh hoạt của con ngời, cây trồng vàvật nuôi
Mặc dù thời tiết khí hậu khắc nghiệt, gây khó khăn trong sản xuất và
đời sống Nhng với tính cần cù, nhẫn nại, nhân dân Thanh Chơng đã tạo ra đợcnhững sản vật đặc trng của từng vùng [5, tr.14]
Về địa lý hành chính.
Ngợc dòng lịch sử, từ trớc công nguyên cho tới nay, vùng đất ThanhChơng đã trải qua nhiều thay đổi về đơn vị hành chính với nhiều tên gọi khácnhau
Năm 111 trớc công nguyên, vùng đất này nằm trong huyện Hàm Hoan,quận Cửu Chân Từ năm 602, nằm trong huyện Cửu Đức, quận Nhật Nam.Thời Tiền Lê (980 - 1009), nằm trong Châu Hoan Thời Lý (thế kỷ XII), nằmtrong Châu Nghệ An Thời Trần (thế kỷ XIII) nằm trong Trấn Nghệ An NămThiên ứng thứ hai (1233), lập bản đồ, đặt tên vùng đất này là huyện ThanhGiang [35, tr.25]
Đầu thế kỷ XV, nhà Minh đổi nớc ta làm quận Giao Chỉ, dới quận làphủ, châu, huyện Phủ Nghệ An lúc đó có 16 huyện, trong đó có huyệnThanh Giang
Năm 1469, vua Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nớc để thông thuộccác phủ huyện vào các Thừa tuyên Thừa tuyên Nghệ An bao gồm cả đất Nghệ
An và Hà Tĩnh ngày nay Huyện Thanh Giang là một trong sáu huyện của phủ
Đức Quang Năm 1729, Trịnh Giang lên ngôi chúa, huyện Thanh Giang đợc
đổi tên là Thanh Chơng (theo tục kỵ huý thời phong kiến) Tên Thanh Chơngbắt đầu xuất hiện từ thời điểm đó
Trang 15Thời nhà Nguyễn, từ Minh Mệnh thứ 12 (1831), Thanh Chơng là mộttrong 5 huyện thuộc phủ Anh Sơn Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), cắt bốntổng của huyện Nam Đờng và một tổng của huyện Thanh Chơng đặt làmhuyện Lơng Sơn do phủ Anh Sơn kiêm lý.
Năm Duy Tân thứ 1 (1907), tổng Nam Kim ở phía Đông Nam huyệnThanh Chơng đợc cắt sang huyện Nam Đàn Đồng thời một giải đất từ ThanhKhai lên Thanh Hng (ngày nay) đợc cắt từ Nam Đàn nhập sang Thanh Chơng
Trớc cách mạng Tháng Tám 1945, Thanh Chơng có 5 tổng là: CátNgạn, Võ Liệt, Bích Hào, Xuân Lâm, Đại Đồng
Sau cách mạng Tháng Tám, cấp tổng bị bãi bỏ, cấp trên xã dới tỉnh đềunhất loạt gọi là huyện Đến nay qua nhiều lần tách ra, nhập vào, Thanh Chơng
đờng Thanh Chơng
Trung Kỳ là xứ “bảo hộ”, ở cấp tỉnh bên cạnh bộ máy quan lại phong
kiến có toà sứ với tên Công sứ đứng đầu rồi đến phó sứ, ở cấp huyện, tổng,xã chúng vẫn duy trì bộ máy cũ gồm có tri huyện, nha lại, chánh phó tổng,chánh, phó lý trởng Tiếng là có hai tổ chức cai trị, song thực chất cơ quanphong kiến Nam triều từ trên xuống dới chỉ là con rối, là tay sai của thực dânpháp Chúng thi hành chính sách độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chínhtrị
Trớc năm 1930 kinh tế của huyện chủ yếu là nông - lâm Diện tích canhtác có 11.529 ha, trong đó chỉ có một ít đất phù sa ở ven các sông, đa số làruộng bậc thang, bạc màu Đời sồng của c dân sống bằng hoa lợi cày cuốc trên
đồng ruộng là chính Nông dân lao động không mấy có ruộng, phải cày ruộng
địa chủ trả thuế Ngoài ra, nông dân phải vào khai phá đất đồi ở các chân núicao, mà ruộng khai phá đợc là ruộng bậc thang, sình lầy, chua phèn
Trang 16Tuy nhiên, ngời dân Thanh Chơng đã biết trồng các loại cây phù hợpnh: Cây ăn quả, lúa nớc, ngô, khoai Ngoài ra, còn biết chăn nuôi gia súc lấythịt, sức kéo, phân bón, tận dụng tài nguyên thiên nhiên sẵn có, khai thác lâmthổ sản, săn bắt thú rừng Nghề nông là chính, ngoài ra họ còn biết làm nghềphụ nh là làm thủ công, đan nong, đan cót ở Thanh La (nay là Thanh Lĩnh),
đan thúng, mủng, rổ, rá ở Chợ Cồn; làm quang gánh, làm chổi ở Mỹ - Ngọc,mỗi xã có một nghề đặc trng riêng phù hợp với tài nguyên sẵn có của địa ph-
ơng mình Các ngành nghề truyền thống đó vẫn đợc duy trì và phát triển cho
đến nay
Trớc 1930, cả huyện có 30 cái Chợ phục vụ cho nhu cầu đời sống củanhân dân Theo thời gian và nhu cầu trao đổi của c dân vùng cao nên chợ xuấthiện ngày càng nhiều, có chỗ mỗi xã một chợ, hoặc 3 - 4 xã một chợ
Thực dân Pháp nắm độc quyền khai thác lâm thổ sản Chúng lập ra cáctrạm kiểm soát để đánh thuế, tịch thu hoặc trng mua với giá rẻ mạt với nhữngsản vật do dân khai thác Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế, đặc biệt có loạithuế thân, đánh vào đàn ông tuổi từ 18 đến 60 tuổi Bọn tổng lý còn tìm mọicách phụ thu lạm bổ, bòn rút tiền bạc của dân để tham nhũng chè chén Thậmchí, có trờng hợp, ngời đã chết cũng phải nộp thuế Trong những kỳ su thuế, aikhông có tiền nộp thuế thì bị bắt bớ, hành hạ, tịch thu tài sản Chúng còn độcquyền về rợu, muối và thuốc phiện
Ngoài su thuế, ngời nông dân còn phải đi lính, đi phu chốn rừng thiêngnớc độc, nhiều ngời thiệt mạng Vì thế, nông thôn Thanh Chơng luôn diễn racảnh sống lầm than, dồn nén, bức xúc:
“Đêm năm canh, trống dục, mõ dồn, nỗi su thuế, chồng thở than,
Trang 17Khuổn ở Liễu Nha chiếm 50 ha, Nguyễn Lâm Tín ở Bích Hào chiếm 150 ha[3, tr26].
Tại Hạnh Lâm, Nguyễn Trờng Viễn (Ký Viễn), chủ một đồn điền nhỏ,nhng y đã dựa vào uy thế của bọn quan lại hào lý để lấn chiếm hàng trămhécta, chiếm cả đờng đi lối lại, gây bất bình, phẫn nộ trong nhân dân cả vùnglân cận
Vấn đề đấu tranh gay gắt giữa Phe hộ và Phe hào với nội dung chính làgiành lại ruộng đất công đã trở thành điểm nóng, bức xúc và là một khâu yếutrong guồng máy xã hội thực dân phong kiến ở Thanh Chơng trong nhữngnăm 20 của thế kỷ XX
Song song với việc phát triển tôn giáo, chúng duy trì và phát triểnnhững hủ tục nh cúng tế, ma chay, cới hỏi, rớc xách, rợu chè, cờ bạc để đầu
độc và mê hoặc nhân dân Chúng mở cơ sở đại lý ở Rộ, Phuống, Vinh để bánrợu cồn do hãng Phông- ten ở Pháp sản xuất Chúng căn cứ số dân từng làng
để phân bố chỉ tiêu bắt buộc phải tiêu thụ rợu Phông - ten Qua đó, chúng vừathu đợc lợi nhuận vừa gây nạn nghiện ngập và không khí bất hòa trong nôngthôn Một số nhà đã bị điêu đứng vì rợu, cờ bạc v thuốc phiệnà thuốc phiện
Chúng kìm hãm và đi đến xóa bỏ ảnh hởng của nền Hán học, chủ trơngdạy chữ Tây và chữ Quốc ngữ trong các trờng Các lớp học chữ Hán mai mộtdần, tầng lớp nhà Nho bị thất nghiệp, cả huyện chỉ có một trờng tiểu học Pháp
- Việt ở Võ Liệt và một số trờng sơ đẳng tiểu học ở Bích Thị, Đại Định, ĐạoNgạn với 250 học sinh, hầu hết là con em quan lại và nhà giàu có, 99% nôngdân bị mù chữ [4, tr46]
Hạn chế mở trờng, phát triển việc buôn thần, bán thánh, tế lễ làng xã,hội họ, Phe giáp Bọn thực dân phong kiến nhằm biến ngời nông dân thànhnạn nhân của các tệ nạn xã hội Chúng còn bày đặt ra việc mua bán phẩmhàm, chức tớc để bòn rút tiền bạc của nhân dân và tạo nên những nấc thang
Trang 18đẳng cấp trong xã hội Bọn giàu sang có chức tớc thì đợc ăn trên ngồi trớc, đợcmiễn mọi thứ tạp dịch Còn thân phận của ngời nghèo khổ chẳng khác gì kiếpngựa trâu.
Về y tế, đến năm 1939 cả huyện chỉ có một nhà thơng nhỏ ở Rộ, domột y tá phụ trách Hằng năm dịch bệnh phát triển tràn lan, nhất là dịch tả,
đậu mùa, sốt rét, đã cớp đi nhiều sinh mạng Trẻ em “hữu sinh, vô dỡng” là
tình trạng thờng xảy ra
Cuộc sống nô lệ lầm than càng thúc đẩy nhân dân Thanh Chơng hănghái tham gia các phong trào Văn thân, Cần Vơng, Đông Du Nhng lúc bấy giờ,hầu hết phong trào chống Pháp đều bị thất bại và bị đàn áp đẫm máu
1.1.3 Truyền thống yêu nớc và cách mạng
Thanh Chơng có bề dày truyền thống yêu nớc với tinh thần đấu tranhkiên cờng bất khuất rất đáng tự hào
Theo các nhà sử học, từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng mùa xuân năm 40
bùng nổ ở quận Giao Chỉ, “Dân ở Cửu Chân và Nhật Nam đều hởng ứng cả”
[43] Đến năm 542, nhân dân vùng này đã góp phần xứng đáng trong cuộckhởi nghĩa của Lý Bí Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã làm cho dân tộc ta đ-
ợc hồi sinh với cái tên mới, nớc Vạn Xuân (542 - 602)
Nhân dân Thanh Chơng đã từng hởng ứng, tham gia cuộc khởi nghĩachống ách cai trị hà khắc tàn bạo của nhà Đờng do Mai Thúc Loan lãnh đạovào thế kỷ VIII
Năm 1285, nhân dân Thanh Chơng đã cùng nhân dân cả tỉnh góp phầnchặn đánh một hớng tiến công từ Nam ra Bắc của giặc Mông - Nguyên, gâycho chúng nhiều thiệt hại
Thế kỷ XV, Thanh Chơng là một trong những nơi “đứng chân” của
nghĩa quân Lê Lợi Nghĩa quân đã đóng đại bản doanh tại thành Bình Ngô(Bích Triều) Đợc sự hởng ứng, ủng hộ của nhân dân Thanh Chơng và cácvùng lân cận, nghĩa quân đã đánh tan giặc Minh tại thành Lục Niên và thừathắng tiến về Vinh, rồi truy kích giặc ra tận Đông Quan Nhiều ngời con u túcủa Thanh Chơng đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến 10 năm chốnggiặc Minh Đền Bạch Mã là nơi lu niệm chiến tích oanh liệt của Phan Đà, ngờianh hùng quê thôn Chi Linh, xã Võ Liệt đã dũng cảm chiến đấu với giặc Minh
và hy sinh ở tuổi 18
Trang 19Thế kỷ XVIII, Thanh Chơng là một trong những nơi đóng quân củanghĩa quân Lê Duy Mật với đồn Hoà Quân (xã Thanh Hơng).
Sang thế kỷ XIX, ở Nghệ Tĩnh có một cuộc khởi nghĩa làm chấn động
d luận trong toàn quốc và cả ở “nớc mẹ Đại Pháp” Đó là khởi nghĩa Giáp
Tuất -1874, do Trần Tấn và Đặng Nh Mai lãnh đạo
Thời điểm đó (1864 - 1874), thực dân Pháp đang đẩy mạnh công cuộcbình định cả nớc ta Chúng dùng bọn đội lốt thầy tu hoạt động gián điệp khắpnơi Nhiều sĩ phu yêu nớc cùng nhân dân toàn quốc rất căm gét giặc Tây vàsẵn sàng đứng dậy chống giặc, cứu nớc Nhng triều đình nhà Nguyễn bạc nhợc
đã đầu hàng giặc và cố tình ngăn chặn những cuộc nổi dậy chống Pháp củanhân dân Vì vậy, ở Nghệ Tĩnh, các tầng lớp nhân dân càng căm thù thực dânPháp, đặc biệt là bọn gián điệp đội lốt tôn giáo, đồng thời có phản ứng mạnh
mẽ đối với thái độ đầu hàng của triều Nguyễn Trong bối cảnh đó Trần Tấn,một tú tài ở làng Chi Nê (Thanh Chi, Thanh Chơng) đã quyết chí chiêu tập
nghĩa quân để “chống cả Triều lẫn Tây”, tức vừa chống đế quốc vừa chống
bọn phong kiến phản động
Trần Tấn đã thảo bài hịch “Bình Tây sát tả”, kêu gọi binh sĩ và nhân
dân đứng lên khởi nghĩa Nhân dân khắp tỉnh, đông nhất là Thanh Chơng đếnNam Đàn và các huyện khác nô nức hởng ứng Chỉ trong mấy ngày quân sốnghĩa quân đã lên tới mấy ngàn ngời
Thế “chẻ tre” của nghĩa quân Trần Tấn đã làm cho thực dân Pháp phải kêu lên: “Kẻ thù của nớc Pháp đã nổi dậy ở Nghệ An”, các nhà viết sử của triều đình đã phải công nhận là cuộc “nổi loạn” của Trần Tấn “thế rất hung
hăng, hiện tình so với trớc lại càng khẩn cấp” [43, tr.37].
Với khởi nghĩa Giáp Tuất, có thể nói trong phong trào Văn thân ở NghệTĩnh, địa danh nổi bật nhất là ở Thanh Chơng và nhân vật tiêu biểu nhất làTrần Tấn
Với phong trào Cần Vơng, nhân dân Thanh Chơng ủng hộ rất mạnh.Lúc các phong trào khởi nghĩa bị khủng bố gắt gao nhiều thủ lĩnh Cần Vơng ởcác phủ huyện dọc ven biển Nghệ An đã kéo nghĩa quân lên Thanh Chơng,dựa vào sự che chở của núi non hiểm trở và sự cu mang, giúp đỡ của nhân dân
địa phơng để duy trì lực lợng, tiếp tục chiến đấu
Mãi đến 1897, khi phong trào Cần Vơng trong cả nớc đã lắng hẳn thì ở
Đồn Nu (xã Thanh Xuân) vẫn diễn ra những trận đánh Tây cuối cùng của tàn
Trang 20quân Phan Đình Phùng còn lu lại Ngời dân làng Lơng Điền (nơi có Đồn Nu,thuộc xã Thanh Xuân ngày nay) rất tự hào với lời đánh giá của Văn thân NghệTĩnh: Cả nớc mất, Nghệ Tĩnh vẫn còn chiến đấu; Nghệ Tĩnh mất, làng Lơng
Điền vẫn cha chịu đầu hàng
Trong phong trào Đông Du đầu thế kỷ XX, Thanh Chơng có nhiều tríthức tham gia, tiêu biểu nh Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa,Trần ĐôngPhong
Vùng Thanh Chơng là nơi hoạt động mạnh nhất của phái “bạo động”
trong Hội Duy Tân Phái đó chủ trơng quyên góp tiền của để hoạt động, trong
đó có cả việc yêu cầu các nhà giàu phải bỏ tiền ra giúp Hội
Ngoài ra, Thanh Chơng còn là một trong những cứ điểm đóng quân củanghĩa quân Hoàng Hoa Thám Cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám lúc này
đang bị thực dân Pháp khủng bố gắt gao Để ủng hộ Hoàng Hoa Thám, phái
Đông Du của Nghệ An vận động mua súng, tổ chức nghĩa binh phối hợp hành
động Dựa trên cơ sở đó, Tứ Ngôn, một tớng lính đã từng tham gia cuộc khởinghĩa Hoàng Hoa Thám đã dời một phần căn cứ của Hoàng Hoa Thám ở đồnPhồn Xơng về vùng Nghệ An làm nơi tập luyện cho nghĩa binh và duy trì lựclợng Đồn Bồ L của Đội Quyên, Đội Phấn ở Thanh Chơng trở thành một trongnhững cứ điểm của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám
Nh vậy, qua những bớc thăng trầm của lịch sử với những sự kiện vừa kểtrên, có thể thấy, nhân dân Thanh Chơng vốn có lòng “trung quân ái quốc”.Nhng đối với những triều đại thối nát và những ông vua bất tài, thất đức thì họkhông “trung quân” một cách mù quáng mà đã có thái độ phản ứng rõ rệt.Bằng chứng là thời vua Lê - chúa Trịnh, nhân dân Thanh Chơng đã tích cựcủng hộ Quận He, Lê Duy Mật chống lại triều đình Thời Tự Đức nhân dân đã
theo Trần Tấn “chống cả Triều lẫn Tây [5, tr.38-39]
1.2 Phong trào cách mạng Thanh Chơng trong những năm 1930 - 1939
1.2.1 Thanh Chơng trong phong trào 1930 - 1931
Nhân sự kiện hai cán bộ Tổng nông hội Nghệ An bị chính quyền thựcdân phong kiến Nghệ An đem ra xử chém, Xứ uỷ Trung Kỳ ra tuyên cáo vạchtội ác của thực dân Pháp và Nam triều, kêu gọi nông dân đoàn kết đấu tranh đòi
địa chủ và hào lý ở các làng xã: “không đợc bắt dân cày nghèo đóng góp tiền
cúng tế, bỏ lễ tết các quan lại và nhà giàu, bỏ chế độ bắt dân cày nghèo đi làm
Trang 21công không cho địa chủ; chủ ruộng không đợc phát canh thu tô quá 1/3, chủ nợ không đợc thu lãi quá 1/5 mỗi tháng, mọi tạp dịch trong làng phải phân bổ từ trên xuống dới, tiền công của làng phải cho dân biết” [13, tr.75].
Những khẩu hiệu trên phản ánh đúng nguyện vọng và yêu cầu bức thiếtcủa nhân dân hồi bấy giờ Dới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng, nhân dân ởmột số làng xã trong huyện đã đấu tranh buộc bọn cầm quyền ở địa phơngphải thực hiện những yêu sách của dân chúng
Ngày 3/4/1930, nhân dân Phong Nậm, Xuân Dơng kéo ra đình làng đòibọn hào lý phải trả lại hàng trăm mẫu ruộng đất công và hàng ngàn đồng tiềnquỹ công
Ngày 9 và 10/4/1930, thanh niên các làng Đại Đồng, Quảng Xá gọi lýhơng ra đình làng đòi chúng từ nay không có quyền buộc dân phải làm cỗ xôithịt tế thần thánh để rồi chúng chia phần mà hởng nh trớc
Đã 3 năm liền nhân dân Võ Liệt liên tiếp kiện lên quan trên đòi xử phạthào lý về tội chấp chiếm ruộng đất và phụ thu lạm bổ Nhân dịp ngày13/4/1930 là ngày lễ tế thánh ở đền Bạch Mã, bà con ở đây đã họp lại, đấutranh đòi bọn hào lý, chức sắc phải đem 41 mẫu đất công chia đều cho dân
Noi theo các làng đó, những cuộc đấu tranh tơng tự của phái dân hộdiễn ra khắp nơi Khác với trớc kia, vào thời gian này, ở đâu phe hào cũngphải nhợng bộ nhiều hơn Đó là cơ sở để Thanh Chơng bớc vào một cao trào
đấu tranh mới
Thực hiện nghị quyết của Hội nghị tỉnh uỷ Nghệ An ngày 24/4/1930 vềviệc kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1/5, huyện uỷ Thanh Chơng đã họp tạinhà đồng chí Trần Trách tại Võ Liệt bàn chuyện treo cờ búa liềm và rải truyền
đơn trong toàn huyện và tổ chức mít tinh ở những nơi có điều kiện để diễnthuyết đa yêu sách đòi quyền lợi cho công nông Từ đó các bộ phận ấn loátcủa huyện đặt tại các tổng Xuân Lâm và Võ Liệt khẩn trơng in hàng nghìn tờtruyền đơn và rất nhiều nơi bí mật may sẵn cờ búa liềm
Ngày 27/4/1930 nhân dân ở tổng Cát Ngạn, từng làng cử đại biểu đếnhọp tại Hạnh Lâm quyết định huy động quần chúng biểu tình để biểu dơng lựclợng và đòi Nguyễn Tờng Viễn phải trả lại ruộng đất và để cho dân mở lại con
đờng của dân đi vào rừng làm ăn mà nó đã chiếm cứ Các hội viên nông hội vàthanh niên trong tổng sắm giáo mác, gậy tày, có ngời mợn cả những thanhkiếm trong đền, chùa buộc chéo trên từng ngọn cờ treo trên cao, trên các ngọn
Trang 22cây rồi đề hàng chữ “Từ hào mục cho chí thứ dân, không ai đợc hạ cây cờnày” Khách đi đờng qua cây bàng chợ Tán, cây đa chợ Hội, cây nhãn chợ
Đồn đều đợc nhìn thấy cờ kiếm và hàng chữ nh vậy
Từ 2 giờ sáng ngày 1/5/1930, có lệnh từ làng Hạ, khắp các làng đều
nghe tiếng gọi: “Những ai là con Lạc cháu Hồng hãy mau ra tập trung ở đình
làng để đi biểu tình cho sớm”
Rạng ngày, tại đình làng Hạ đã có 3000 nông dân của các làng HạnhLâm, La Mạc, Nhuận Trạch, Yên Lạc, Đức Thuận, trong tay có giáo mác, gậygộc và cả cào cuốc Sau khi nghe diễn thuyết nói về ý nghĩa ngày 1/5 và tội áccủa thực dân phong kiến, quần chúng chia làm hai ngả kéo đến đồn Ký Viễn
để đa yêu sách Tên địa chủ kiêm t sản này hoảng sợ bỏ trốn Bởi căm thù chấtchứa lâu ngày, quần chúng đã xông vào phá một số nhà cửa, chuồng trâu bò
và cả kho mìn của nó Thế là nông dân đã mở đợc đờng đi vào rừng và tạmthời giải phóng đợc đất đai lâu nay bị Ký Viễn chiếm giữ
Cũng trong ngày 1/5/1930 dới sự lãnh đạo của Huyện uỷ và Sinh hội ờng Pháp - Việt Thanh Chơng, trên 100 học sinh đã tập trung tại quán Ngũphúc (xã Võ Liệt) làm lễ mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động và nêu khẩuhiệu đòi các thầy giáo phải bỏ việc đánh đập, đối xử công bằng với mọi họcsinh Sau đó, những ngời dự mít tinh đã diễu hành qua huyện đờng để biểu thịquyết tâm đoàn kết tranh đấu Cuộc mít tinh của học sinh trờng Pháp - Việtchợ Rộ ngày 1/5/1930 là một sự kiện đặc sắc của thanh niên, học sinh cả tỉnhcũng nh trong cả nớc Đối phó lại, quan huyện và lính đồn đã bắt giam 5 họcsinh đi đầu trong đấu tranh và đuổi học một số ngời khác
tr-Tại Cát Ngạn, biết trớc kẻ thù thế nào cũng kéo đến đàn áp nên từ chiều1/5, chi bộ Đảng và tổ chức Nông hội các làng đã họp bàn cách đề phòng, đốiphó Cùng vào buổi chiều hôm đó khi 550 ngời của làng Hạnh Lâm đang họpbàn thì một chiếc máy bay từ Vinh bay lên lợn quanh một vòng rồi bay thẳng.Biết kẻ địch sẽ trả thù bằng vũ lực nên các chi bộ Đảng cho tổ chức lực lợng tự
vệ ở các làng Thêm một tổ chức cách mạng đợc hình thành: đó là Tự vệ Đỏ
Ngay sáng ngày 3/5/1930, Công sứ Vinh và Tổng đốc Nghệ An cửHồng Quang Địch vừa mới đợc giữ chức Thợng Tá lên Thanh Chơng phối hợpvới tri huyện Phan Thanh Kỷ đàn áp phong trào Bọn chúng huy động 100 línhkhố xanh từ Vinh lên, điều thêm lính từ Đô Lơng và Con Cuông xuống Một
số khá đông đóng đồn ở đình làng Hạ Chúng cho lý hơng bắt dân đến nghe
Trang 23hiểu thị Nhng dân chúng không hề khiếp sợ Khoảng 1500 ngời từ các làngtrong tổng đã kéo đến bao vây bọn lính Đồng chí Nguyễn Uy xông thẳng ratrớc mặt Hồng Quang Địch và Phan Thanh Kỷ mở phanh ngực áo sẵn sàng đốichọi với chúng Bọn địch thấy không thể đơng đầu nh thế đợc đối với mộtvùng c dân ngoan cờng đến nh vậy, nên từ sáng ngày 4/5/1930 chúng liềumạng bắn xả vào quần chúng biểu tình để mở đờng rút lui làm 18 đồng bào ta
hy sinh và 17 ngời khác bị thơng [5,tr.59]
Ký Viễn vẫn không giám trở lại Nhân dân chia nhau ruộng đất và trâu
bò lấy từ đồn điền để sản xuất, làm ăn Nhng năm đó đại hạn nặng, mất mùa,
8 mẫu đất công Ngày 1/6/1930 trên 3000 ngời gồm nông dân học sinh biểutình, diễu qua cổng huyện rồi tập trung tại chợ Rộ hô to các khẩu hiệu:
“Hoãn thuế đến tháng mời”
“Bồi thờng cho những ngời bị bắn tại Hạnh Lâm, Bến Thuỷ, ở tỉnh Thái Bình và số học sinh bị bắt ở trờng Pháp - Việt chợ Rộ”
“Không đợc đa lính An Nam đi ngoại quốc và đa lính ngoại quốc đến
đa Phan Sỹ Bàng là con một tri phủ ngời Võ Liệt về thay Phan Thanh Kỷ làm
tri huyện Thanh Chơng, nhằm mục đích “dùng quan nhà trị dân nhà”.
Trang 24Phan Sỹ Bàng hăng máu, bắt lý hơng các làng phải thu đủ các thứ suthuế trong 10 ngày, bức cho dân phải góp tre gỗ, bắt phu rào kín phủ đờng,làm thêm nhà tù, đóng thêm gông cùm, ra lệnh tầm nã nhằm bắt giam hếtnhững ngời đi theo cộng sản.
Quần chúng Thanh Chơng trả lời bằng cách thực hiện chỉ thị của cấptrên, tổ chức một cuộc biểu tình toàn huyện với những khẩu hiệu mới:
“Không đợc huy động lính đàn áp, bắt giết vào các cuộc biểu tình, bãi công
Cấp cơm gạo cho ngời bị đói
Bồi thờng cho những ngời bị nạn
Chia ruộng đất của đại địa chủ cho dân cày nghèo” [52, tr14].
Tự vệ tổng Đại Đồng phá cầu chợ Lạt để chặn địch từ Đô Lơng xuống
Tự vệ tổng Võ Liệt cũng bắt giữ 11 tên lý trởng
Chị em phụ nữ Võ Liệt nấu nớc cho Tự vệ đỏ
Truyền đơn đợc rải khắp các ngả đờng
Những hoạt động đó đều chuẩn bị cho cuộc biểu tình lớn toàn huyện nổ
ra vào sáng ngày 1/9/1930
Từ rạng sáng, đoàn ngời từ tổng Cát Ngạn đã vợt sông Giăng, sông Traikéo xuống nhập với đoàn Võ Liệt để kéo thẳng xuống huyện đờng Bên kiasông đoàn của hai tổng Đại Đồng và Xuân Lâm gặp nhau tại bến đò NguyệtBổng Phan Sỹ Bàng cho lính chặn từ xa bên phía bờ hữu Còn bên tả thì ycùng tên Tây đồn Côngđominát thân dẫn một toán lính chèo thuyền sang chĩasúng hăm doạ Thuyền ra giữa sông thì gặp các đội cảm tử của hai tổng lội rabao vây Chúng hốt hoảng vội quay thuyền trở lui và cho lính nã súng vào
đoàn biểu tình làm cho đồng chí Nguyễn Công Thờng chết và hai ngời khác bịthơng Tin đau xót ấy tức tốc đợc cấp báo cho các đoàn Võ Liệt, Bích Hào,Cát Ngạn Lòng căm thù ngùn ngụt, quần chúng khắp ngả liền kéo đến huyện
đờng
Trang 25“Sáng 1 - 9 - 1930 gà vừa gáy sáng, tiếng trống, tiếng mõ, tiếng reo hò, tiếng hô khẩu hiệu đã vang rộn khắp nơi Tổng nào tập trung theo tổng ấy, các thôn xóm trớc kia âm thầm lặng lẽ, hôm nay từng đoàn ngời mặc quần áo nâu mang theo cờ đỏ, búa liềm, kéo ra các ngả đờng ùn ùn nh thác lũ Tự vệ cầm khí giới đi kèm hai bên Dứt tiếng hô khẩu hiệu họ lại hát vang những bài
ca cách mạng Cờ đỏ búa liềm san sát trên các đờng làng, dọc bên sông Tiếng trống, tiếng mõ hoà với tiếng hô khẩu hiệu râm ran nh sấm dậy Đã sang đầu tháng 7 ta, trời thu cao lồng lộng, nắng dát sơn trên những con đờng
đất đỏ hai ven bờ sông Lam” [48, tr.210].
Phan Sỹ Bàng đã bỏ trốn Quan quân và cả lính tráng từ tổng đến làngcũng đều bỏ chạy Quần chúng mang hồ sơ, tài liệu ra thiêu huỷ, phá nhàgiam giải thoát cho những tù chính trị Sau đó một bộ phận kéo đến nhà riêngcủa tên Bàng, cách huyện lỵ 2 km Bàng không giám trốn trong nhà T cơ của
nó làm bằng mồ hôi nớc mắt của nhân dân nên đã bị quần chúng đập nát.Bàng đã trốn vào đồn Thanh Quả Đoàn biểu tình liền kéo đến bao vây Đồn ởtrên một quả đồi, lợi dụng địa thế đó, bọn lính bắn xả vào quần chúng để bảo
vệ mạng sống cho tên tri huyện Để tránh những tổn thất, các đồng chí chỉ huy
ra lệnh cho đoàn biểu tình tạm rút lui
Bấy giờ trời cũng đã về chiều Một tốp lính từ dới Vinh vội vã kéo lên,liền bị quần chúng biểu tình từ các ngả bao vây Bọn lính phải đứng im và xin
đợc yên ổn để rút lui
Cuộc biểu tình toàn huyện Thanh Chơng ngày 1/9/1930 đã kết thúc
thắng lợi là sự kiện “cha từng thấy ở An Nam đã đa anh em công nông đến
một thời kỳ mới, thời kỳ quyết liệt đấu tranh chống lại bọn t bản đế quốc và
địa chủ phong kiến, thời kỳ công nông phải hy sinh cho cách mạng để đòi quyền sống và quyền tự do” [50, tr 96].
Biểu tình đã làm hoảng lọan tan nát chính quyền thực dân phong kiến ởmột huyện lớn và làm tê liệt bộ máy thống trị của chúng từ huyện đến cáclàng Thanh Chơng có 76 lý trởng thì một tên tự tử, một số bỏ trốn, 11 tên bịtrừng trị theo nhiều hình thức, 35 tên phải mang triện ra nộp cho Xã bộ nông
và xin đợc cùng tham gia tranh đấu Toàn huyện lúc này có 46 chi bộ Đảng,gồm 410 đảng viên, 6 063 hội viên Nông hội đỏ, 1 555 đội viên Tự vệ đỏ.Chính quyền Xô viết đợc thành lập trong 65 làng xã, [2, tr.56] Xô viết ra đời
Trang 26là sự xoá bỏ hoàn toàn về tổ chức và luật lệ của chính quyền thực dân - phongkiến ở làng xã So với phong trào toàn tỉnh, các Xô viết ở Thanh Chơng đã đi
đầu về cả ba mặt: Nội dung hoạt động, hình thức đấu tranh và thời gian tồntại Đây là một bộ phận của “Cuộc chiến đấu giai cấp rung trời chuyển đấtnhững năm 1930 - 1931, trong đó công nông đã vung ra nghị lực phi thờngcủa mình” [25, tr.39]
Báo Ngời lao khổ của Xứ uỷ Trung Kỳ, số đặc biệt ra ngày 6/9/1930 đã
ghi: “ở Thanh Chơng và Nam Đàn, không ai đóng thuế chợ và cũng không ai
dám thu Không ai đi tuần, lính không về canh gác Đế quốc chủ nghĩa bắt triệt hạ, không ai thi hành Anh em tự tha cho quốc sự phạm, tự chia cho dân cày nghèo đồn điền Ký Viễn và đất ruộng của giai cấp địa chủ Anh em cứ tự
do lập hội, tự do biểu tình Thế là luật lệ của đế quốc bị tan tành”
Toàn huyện tịch thu đợc 1469 mẫu đất ruộng và 111.550 quan tiền vàruộng công để chia cho dân cày nghèo và trợ cấp cho tự vệ Nhiều nơi dới sựlãnh đạo của chi bộ Đảng, xã bộ nông thay mặt chính quyền mới công khailàm việc giữa đình làng Quần chúng ban ngày lo sản xuất, ban đêm về thamgia hội họp, học hành Toàn huyện có 124 lớp dạy chữ Quốc ngữ, gồm 2 519học viên, thành lập đợc128 đội Tự vệ với 1667 ngời, 100 Ban chấp hành Nônghội với 10.077 hội viên, hội phụ nữ gồm 322 hội viên, Đoàn viên 78 ngời [54,
tr 67] Lần đầu tiên trong lịch sử quê hơng, nhân dân Thanh Chơng đợc thực
sự sống trong những ngày tự do, dân chủ Đó là thành quả lớn lao nhất củaphong trào Xô viết Thanh Chơng
Cuộc biểu tình lịch sử ngày 1/9/1930 ở Thanh Chơng đợc coi là mốc mở
đầu đánh dấu sự ra đời của chính quyền Xô viết ở Nghệ Tĩnh - đỉnh cao củacao trào cách mạng 1930 - 1931 trong toàn quốc
Tỉnh uỷ Nghệ An đã đánh giá sự kiện này nh sau: “Cuộc biểu tình dữ
dội này, cha từng thấy ở An Nam bao giờ đã đa anh em công nông đến một thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh kịch liệt chống lại t bản đế quốc và địa chủ phong kiến, thời kỳ công nông phải hy sinh cho cách mạng để đòi quyền sống
và quyền tự do” [63, tr 138 - 139].
1.2.2 Phong trào cách mạng trong những năm 1932 - 1939
Để dập tắt phong trào cách mạng và xoá bỏ những thành quả mà Đảng
bộ và nhân dân Thanh Chơng đã giành đợc trong cao trào cách mạng 1930
-1931, đế quốc Pháp và Nam triều đã tiến hành khủng bố trắng hết sức tàn
Trang 27khốc Chúng đã gây cho Đảng bộ và nhân dân Thanh Chơng những tổn thấtnặng nề Tính đến cuối 1932, toàn huyện Thanh Chơng có 2 054 ngời bị bắt,
579 ngời bị tù từ một năm đến chung thân, 565 ngời hy sinh, 1 011 ngôi nhà
bị đốt phá, 146 gia đình bị tịch thu tài sản Có một số hộ, cả gia đình đều bị tù
đày hoặc bị chém giết, có gia đình cả 3, 4 anh em đều bị đày biệt xứ [5,
tr.103-104] Bọn chúng đã công khai thừa nhận: “Chúng tôi cha giết đợc
nhiều cộng sản, chỉ giết đợc nhiều dân vô tội” [5, tr.104].
Chính sách khủng bố tàn sát điên cuồng của bọn đế quốc và tay sai đãdìm Thanh Chơng trong biển máu Chính vì vậy mà ngọn lửa căm thù đế quốc,phong kiến càng nung nấu sục sôi trong mọi tầng lớp nhân dân
Những hành động tàn bạo của địch tuy có làm cho một số ngời bi quanthất vọng, song không thể xoá mờ đợc hình ảnh của các Xô viết đã in sâutrong tâm trí của nhân dân Trong tổn thất đau thơng, nhân dân Thanh Chơngcàng nung nấu chí căm thù, nguyện không đội trời chung với giặc và vẫn tin t-ởng là Đảng và phong trào cách mạng sẽ đợc phục hồi
Trừ một số ít đầu hàng, phản bội, thoái hoá biến chất, hoặc bi quan, dao
động nằm im, phần đông cán bộ, đảng viên vẫn giữ vững lòng trung thành với
Đảng, với cách mạng Hễ cha bị bắt, bị tù, bị giết hại là vẫn còn chiến đấu,còn hoạt động không quản gian khổ, hy sinh
Khi bị sa vào tay giặc, các chiến sĩ cách mạng lại “biến cái rủi thành
cái may, biến nhà tù thành trờng học” không ngừng rèn luyện mình, chờ dịp
ra hoạt động Nhiều đồng chí từng bị đày ải từ nơi này đến nơi khác vẫn giữphẩm chất của ngời cộng sản, tiên phong gơng mẫu trong học tập, rèn luyện
đấu tranh Khi cần xả thân vì sự nghiệp cách mạng, vì lý t ởng của Đảng,nhiều cán bộ, đảng viên chẳng chút ngại ngần, nề hà Đồng chí Phan ThịBảy, giao thông của Tổng uỷ Xuân Lâm, lúc sa vào tay giặc đã kiên quyếtkhông để cho bọn chúng làm nhục, kiên quyết bảo vệ bí mật của Đảng đếnhơi thở cuối cùng
Đầu năm 1933, một số cán bộ, đảng viên Thanh Chơng đợc trả lại tự do.Trớc cảnh quê hơng, làng xóm, gia đình bị tàn phá bởi cuộc khủng bố trắngcủa địch, với nghị lực của ngời đảng viên cộng sản, nhiều đồng chí đã nénchịu những đau thơng, mất mát để tiếp tục hoạt động
Đầu năm 1934, các đồng chí Nguyễn Nh Cầu (tổng Đại Đồng) và một
số đồng chí khác bắt đợc liên lạc với Tỉnh uỷ lâm thời Nghệ An do Đông
Trang 28D-ơng viện trợ bộ ở Xiêm chỉ đạo Theo sự hớng dẫn của Tỉnh uỷ, họ đã tìmcách bắt liên lạc với các bạn tù để xây dựng lại cơ sở Đảng trong huyện Mộtnăm sau (tháng 3 - 1935), đồng chí Tôn Thị Quế (Võ Liệt) từ nhà tù ra đã liênlạc với các bạn tù đang hoạt động trong Huyện uỷ “Đông Dơng cộng sản cũ”
ở Nghi Lộc để xây dựng lại cơ sở Đảng huyện Thanh Chơng Nhng do nội bộ
Đảng có một số phần tử nhụt chí, cầu an, đầu hàng và đã khai báo, chỉ điểmlàm lộ bí mật tổ chức, nên bọn mật thám đã lùng bắt nhiều đảng viên, cán bộ.Cơ sở của nhóm “Đông Dơng cộng sản” cũ ở Thanh Chơng đã bị địch phá vỡhoàn toàn từ tháng 8 - 1935
Đầu năm 1936, đợc sự giúp đỡ của Tỉnh uỷ Nghệ An, huyện uỷ lâmthời Thanh Chơng đợc thành lập gồm ba uỷ viên do đồng chí Nguyễn Nh Cầulàm Bí th Ngày 13/9/1936, hai nhóm cộng sản trong tỉnh Nghệ An họp Hộinghị hợp nhất thành lập Tỉnh uỷ lâm thời Nghệ An, đặt dới sự lãnh đạo thốngnhất của Trung ơng Đảng Tháng 7/1937, đồng chí Trịnh Thuyết, nguyên uỷviên tỉnh uỷ Nghệ An năm 1931 ở tù về bắt liên lạc với huyện uỷ Anh Sơnthành lập chi bộ xã Phong Sơn (tổng Đại Đồng) gồm năm đảng viên Từ năm
1939 trở đi, huyện Thanh Chơng có hai cơ sở trực thuộc hai Huyện uỷ: chi bộ
đồng chí Nguyễn Nh Cầu làm chức năng nh một Ban chấp hành lâm thời của
Đảng bộ huyện Thanh Chơng Chi bộ Phong Sơn trực thuộc Huyện uỷ AnhSơn Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An tháng 4 - 1936, Đảng bộ huyện Thanh
Chơng đợc đặt tên bí mật là “Đảng bộ Muôn”.
Thanh Chơng bớc vào quá trình khôi phục Đảng bộ giữa lúc tình hìnhthế giới đang có nhiều chuyển biến tích cực Phong trào chống phát xít vàchiến tranh, đòi tự do, cơm áo, hoà bình dâng lên ở nhiều nớc trên thế giới.Mặt trận nhân dân Pháp chống phát xít đợc thành lập
Tuy nhiên, do tổ chức còn hẹp, lực lợng cán bộ đảng viên ở tù về cha
đ-ợc tập hợp lại, nhng khi nhận đđ-ợc chủ trơng của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ lâm thờiThanh Chơng đã kịp thời tổ chức, lãnh đạo quần chúng chuyển hớng đấu tranhtheo hình thức đấu tranh công khai hợp pháp Các hội quần chúng bí mật vàbất hợp pháp nh trớc không còn phù hợp với tình hình mới Theo chủ trơngcủa Đảng, các cấp uỷ đã dùng các hình thức công khai hợp pháp để tập hợplực lợng quần chúng Nhiều phờng hội truyền thống sẵn có nh: phờng hiếunghĩa, phờng tranh, phờng cày, phờng lợp nhà, hội hát trò, hội đọc sách báo đ-
ợc củng cố và phát triển
Trang 29Ngày 22/7/1938, nhân dân xã Cát Ngạn gửi đơn lên tri huyện ThanhChơng và Công sứ Nghệ An kiện bọn hào lý bắt nhân dân phải nộp thuế ngoàidiện tích thực có là 823 mẫu ruộng đất để lấy tiền bỏ túi [3, tr35].
Nhân dân xã Võ Liệt, Quảng Xá đấu tranh đánh đổ một tên phó lý ởng về tội tham nhũng của công Tri huyện Thanh Chơng buộc phải cho xãbầu ngời khác thay thế Nhân cơ hội đó, các đảng viên đã vận động nhân dân
tr-đa ngời ra tranh cử chức phó lý trởng Phe dân và phe hào lý tranh chấp nhau
về việc đa ngời ra tranh cử Sau gần nửa năm, bầu đến mấy lần vẫn khôngphân thắng bại Tri huyện Thanh Chơng hai lần đứng ra chứng thực và phảichấp nhận ngời trúng cử thuộc về phe dân
Tuy vậy, cơ sở Đảng và phong trào cách mạng Thanh Chơng trong thời
kỳ này không mạnh, không đều so với một số nơi trong tỉnh Sở dĩ có tìnhtrạng ấy là do:
Trong các giai đoạn trớc, Đảng bộ cha làm tốt việc bảo vệ và xây dựnglực lợng bí mật của cách mạng, bị tổn thất quá nhiều nên khi có điều kiện pháttriển thì phong trào thiếu lực lợng lãnh đạo và nòng cốt Mặt khác trong giai
đoạn 1936 - 1939, năng lực tổ chức và lãnh đạo của Huyện uỷ cha cao, cònlúng túng khi chuyển phơng thức hoạt động từ bí mật ra công khai, cha đề ra
đợc những hình thức và biện pháp đấu tranh thích hợp để thúc đẩy phong trào.Việc liên lạc với Tỉnh uỷ Nghệ An có lúc bị đứt quãng
Hai là, hậu quả cuộc khủng bố trắng tàn khốc của thực dân Pháp và taysai làm tổn thất nặng nề lực lợng cách mạng và gây ảnh hởng đến tâm lý, t t-ởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng Bộ máy kiểm soát, kìm kẹp chặtchẽ của thực dân Pháp và tay sai, nhất là cơ sở làm cho hoạt động cách mạngcủa cán bộ, đảng viên gặp nhiều khó khăn trở ngại
Ba là vụ bắt bớ hàng loạt năm 1935 ở tổng Võ Liệt đã làm cho số cán
bộ đảng viên còn lại và số mới ra tù do dự, thiếu quyết tâm trong việc pháttriển cơ sở Đảng vẫn đóng khung trong một số cựu tù chính trị, không mởrộng đợc tổ chức ra các vùng khác và không kết nạp thêm đợc đảng viên mới.Vì vậy, suốt mấy năm 1936 - 1938, Đảng bộ Thanh Chơng chỉ có hai chi bộvới không đầy 20 đảng viên
Đầu tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Tại Đông
D-ơng, thực dân pháp điên cuồng tấn công vào Đảng Cộng sản và các đoàn thể
Trang 30quần chúng của Đảng Tại Thanh Chơng huyện uỷ cùng hầu hết cán bộ, đảngviên hoạt động ở cơ sở lại bị thực dân pháp và tay sai bắt giam.
Các phờng hội, tổ chức dới hình thức công khai và nửa công khai, hợppháp bị bọn chúng ra lệnh giải tán và nghiêm cấm hoạt động Cán bộ lãnh
đạo cốt cán trong các phờng hội cũng bị cầm tù Một số cựu tù chính trị vừa
đợc thả chúng lại bắt đa đi “an trí” ở các trại tập trung Cuộc vận động dânchủ đến đây kết thúc Thanh Chơng chuyển sang thời kỳ chuẩn bị lực lợngcho công cuộc khởi nghĩa giành chính quyền (1939 - 1945) đầy khó khăn thửthách
Tiểu kết chơng 1
Thanh Chơng là một vùng đất có vị thế chiến lợc quan trọng và là mộttrong những vùng có bề dày lịch sử truyền thống yêu nớc và truyền thống cáchmạng
Trong những năm 1930 - 1931, dới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là
Xứ uỷ Trung Kỳ, Đảng bộ địa phơng, phong trào đấu tranh của nhân dânThanh Chơng diễn ra mạnh mẽ Cùng với các huyện trong tỉnh, Thanh Chơng
đợc xem là huyện giành chính quyền Xô viết đầu tiên, là đỉnh cao nhất củacao trào Xô viết Nghệ Tĩnh Chính vì thế mà trong những năm tiếp theo 1932 -
1939, nhân dân Thanh Chơng phải chịu sự khủng bố vô cùng dã man của đếquốc Pháp và tay sai Nhng nhờ có truyền thống yêu nớc, truyền thống cáchmạng và tinh thần chiến đầu bền bỉ, ngoan cờng, phong trào cách mạng củanhân dân Thanh Chơng trong những năm 1930 - 1939 vẫn không ngừng đợcphát huy và phát triển
Trang 31Chơng 2 Quá trình vận động chuẩn bị lực lợng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền (1939 - 1945) ở Thanh Chơng
2.1 Tình hình Thanh Chơng sau chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ
Ngày 1/9/1939, phát xít Đức tấn công xâm lợc Ba Lan, Chiến tranh thếgiới thứ hai bùng nổ Ngày 3/9/1939, sau khi không đạt đợc việc đòi quân Đứcrút khỏi Ba Lan - một đồng minh quan trọng của mình, đế quốc Pháp - kẻ thù
số một của dân tộc ta tuyên chiến với phát xít Đức
Khi đẩy nớc Pháp vào cuộc chiến tranh nhằm giành quyền lợi thực dântrên thế giới với bọn phát xít, giai cấp thống trị đồng thời đẩy nhân dân Pháp
và nhân dân thuộc địa đến chỗ chết chóc, đến cuộc sống cùng cực hơn
Bớc vào cuộc chiến tranh đế quốc, ở Đông Dơng thực dân Pháptiến hành những cuộc khủng bố, bắt bớ, khám xét, tớc bỏ những quyền lợi mànhân dân ta đã giành đợc trong thời kỳ đấu tranh công khai hợp pháp, trớc hết
và chủ yếu nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản Toàn quyền Đông Dơng Catơru(Catroux) đã không che dấu ý đồ đó trong tuyên bố ngày 4/1/1940 tại Hội
đồng chính phủ Đông Dơng: “Chúng ta đánh toàn diện và mau chóng vào các
tổ chức cộng sản; trong cuộc đấu tranh này, phải tiêu diệt cộng sản thì Đông Dơng mới đợc yên ổn và trung thành với nớc Pháp Chúng ta không có quyền không thắng Tình thế chiến tranh bắt buộc chúng ta phải hành động không thơng tiếc” [13, tr12].
Chiến tranh thế giới thứ hai cũng nh chính sách phản động của đế quốcPháp thi hành ở Đông Dơng đã tác động nhanh chóng đến tình hình cả nớc nóichung trong đó có Thanh Chơng cả về kinh tế lẫn chính trị
Về chính trị:
Ngày 28/9/1939, toàn quyền Đông Dơng catơru (Catroux) ra nghị địnhgiải tán các tổ chức nghiệp đoàn, tơng tế, ái hữu ở Đông Dơng Ngay sau đó,ngày 5/10/1939 chính phủ Nam triều ra Đạo dụ cấm hội họp, cấm tuyêntruyền cộng sản và thu các sách báo tiến bộ ở Trung Kỳ
Nghị định của toàn quyền Đông Dơng và Đạo dụ của chính phủ Namtriều vừa mới đợc ban hành, ngay lập tức phong trào cách mạng của nhân dânThanh Chơng bị bọn cầm quyền Pháp khủng bố dữ dội Các phờng hội đợc tổchức dới hình thức công khai, hợp pháp bị bọn chúng ra lệnh giải tán vànghiêm cấm hoạt động
Trang 32Trong các nhà lao, những tù chính trị sắp mãn hạn bị chúng giữ lại.Những tù chính trị đợc chúng liệt vào hàng “quan trọng” hoặc có thái độchống đối thì chúng bí mật thủ tiêu, hay đa đi giam giữ tại các trại tập trung
đặc biệt Những ngời tình nghi mà cha bị bắt thì chúng ra lệnh quản thúc rấtchặt chẽ Ban đêm họ không đợc ngủ ở nhà, phải ra nằm tại Điếm canh củalàng, hàng tháng phải đến trình diện hào lý Những ngời này đi đâu, phải xinphép chính quyền địa phơng và lý trởng đóng triện lệch vào thẻ thuế thân đểlàm mật hiệu cho các hào lý ở những địa phơng khác chú ý kiểm soát và theodõi
ở Thanh Chơng cũng nh các huyện trên toàn tỉnh, Pháp tăng cờng bộmáy đàn áp để kìm chế phong trào đấu tranh của nhân dân Hầu hết những tổchức đã đợc chúng dùng để đàn áp cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, nh hệ thống
đồn binh, hệ thống bang tá, tổ chức đoàn phu, hội đồng tộc biểu, hội đồng lýhơng đến lúc này đều đợc phục hồi lại
Hội đồng lý hơng: Là tổ chức quản lý dân bằng pháp chế Đây
là bộ phận đại diện cho nhà nớc phong kiến ở làng chấp hành các mệnh lệnhcủa nhà nớc trong phạm vi xã thôn Đứng đầu là Lý trởng(tên gọi Lý trởngxuất hiện cuối thời lê đầu thời Nguyễn Lý trởng là ngời đợc ủy quyền cho cáchạng ngời trong bộ máy chức dịch để giao thiệp với chính quyền nhà nớc trêncác vấn đề về thuế má, su dịch, binh dịch và các công việc liên quan về mặthành chính Đồng thời cũng là ngời đợc ủy nhiệm thực hiện mọi quyết địnhcủa hội đồng các viên thứ chỉ Giúp việc cho Lý trởng là phó lý, là ngời cùngvới Lý trởng chịu trách nhiệm trớc nhà nớc và thay mặt Lý trởng đi đôn đốcnhững công việc cụ thể nh bắt lính, bắt phu, kiểm tra việc canh phòng, phònghỏa hoạn
Giúp việc Lý trởng và phó lý là tổ chức Ngũ Hơng, đó là năm viên chứcphụ trách năm công việc khác nhau gồm:
Hơng bạ: Quản lý sổ sách, coi việc sinh tử, giá thú của làng
Hơng kiểm: Coi việc trị an, tuần phòng, giữ gìn an ninh trật tự, t pháp.Hơng bản: Giữ công quỹ của làng
Hơng mục: Coi việc đê điều đờng sá, các công sở của nhà nớc
có trên địa bàn của làng
Hơng dịch: coi việc tế lễ, đình đám, hội hè, cắt đặt và theo dõi các phầnviệc trong các dịp lễ, tết
Trang 33Hội đồng lý hơng điều hành các công việc đợc nhà nớc cắt đặt nh thuthuế, bắt phu, bắt lính, bảo vệ xóm làng, xử các vụ tranh chấp trong phạm vilàng xã.
Hội đồng tộc biểu: Đây thực chất là một tổ chức do chính quyền thựcdân - phong kiến lập ra với mong muốn có thêm chân rết ở các dòng họ để dễ
bề quản lý và điều hành Để tăng thế lực cho hội đồng này và cũng phù hợpvới tục lệ sẵn có mà làng quy định, họ nào cha có đại biểu trong hội đồng phải
cử ngời có uy tín và thế lực đại diện cho dòng họ mình tham gia hội đồng tộcbiểu có trách nhiệm chăm lo giáo dục con em dòng họ, giữ gìn gia phong phépnớc cùng với hội đồng kỳ mục và lý hơng thực hiện các tập tục của làng.Ngoài các tổ chức nắm dân bằng pháp chế [1, tr.47]
Các chòi canh, điếm gác đợc dựng lên ở khắp mọi nơi, nhất là ở nhữngngã đờng nhân dân thờng đi lại Từ huyện lỵ đến các làng xã, chúng bố trí mộtmạng luới mật thám dày đặc Đồng thời chúng cho sửa lại “hơng ớc”, đặtthêm chức chánh, phó hơng hội, thăng chức tớc và tăng quyền lực cho bọntổng lý, hơng chức nhằm quản lý việc trị an xã thôn
Đi đôi với chính sách khủng bố về chính trị, bọn thực dân phản độngPháp ở Đông Dơng nói chung, Thanh Chơng nói riêng, còn cho thực hiện cáigọi là “chính sách kinh tế chỉ huy”, bắt ngời, vét của để phục vụ cho nhu cầuchiến tranh Chúng ráo riết bắt phu, bắt lính Công nhân viên chức bị điều điphục vụ chiến tranh Chúng trng thu, trng mua lơng thực của nông dân với giá
rẻ mạt Su thuế tăng vọt, các thứ thuế cũ ngày một tăng Nhiều thứ thuế mới
đ-ợc ban hành nh thuế quốc phòng, thuế c trú, thuế súc vật, thuế bán hàng rong,thuế cây ăn quả
Chúng bắt các làng xã phải lập quỹ “Nghĩa thơng trợ chiến”, phải bánruộng đất công để lấy tiền gây quỹ chiến tranh
Chúng độc đoán đặt ra giá cả và kiểm soát gắt gao việc sản xuất, phânphối và lu thông hàng hóa trong nhân dân Chúng còn phát hành bạc kền thaythế cho bạc thật, làm cho đồng bạc Đông Dơng bị phá giá Trong khi đó tầnglớp địa chủ, quan lại kể cả bọn tổng lý ở các vùng nông thôn cũng dùng đủmọi mu mẹo gian lận để bóc lột trắng trợn dân chúng Mọi thứ đóng góp đều
đổ lên đầu các tầng lớp nhân dân lao động nhất là nông dân
Hậu quả của chiến tranh và chính sách của đế quốc Pháp đã làm cho đờisống của các tầng lớp nhân dân Thanh Chơng sa sút nghiêm trọng
Trang 34Nh giai cấp địa chủ Thanh Chơng có sự phân hóa rõ rệt Tầng lớp địachủ có thế lực, chủ yếu là quan lại và hào lý, dựa vào bộ máy chính quyền bùnhìn để tìm mọi cách giảm nhẹ sự thiệt hại của mình trong chiến tranh, đồngthời tăng cờng bóc lột nông dân để bù đắp cho những thiệt hại đó Còn lại, bộphận địa chủ vừa và nhỏ chiếm phần lớn, họ không có thế lực, phần thì bị cáchào lý nhũng nhiễu và bức bách, phần thì bị thiệt hại vì chính sách ăn cớp của
đế quốc Pháp, nên quyền lợi thờng xuyên bị uy hiếp Điều đó khiến cho họ cóthái độ bất bình đối với Pháp và trong một chừng mực nhất định họ đồng tìnhủng hộ cuộc đấu tranh chống đế quốc, tay sai
Công nhân và nông dân Thanh Chơng là hai giai cấp chịu hậu quả trớchết và nặng nề nhất bởi chính sách của Pháp trong chiến tranh Nông dânThanh Chơng vốn đã nghèo đói, khốn khó, nay bớc vào thời kỳ chiến tranh đờisống lại càng bị bần cùng Họ bị bóc lột nặng nề bởi tô tức, chính sách thuếkhóa và chính sách thu mua nông phẩm với giá ăn cớp của thực dân Pháp
Nông dân là bộ phận đông đảo nhất Họ là những ngời đi đầu trongphong trào đấu tranh những năm 1930 - 1939, nay mâu thuẫn với thực dânPháp càng thêm sâu sắc Không có con đờng nào khác, họ phải vùng dậy đấutranh, trớc hết là giành quyền sống, sau nữa là muốn lật đổ ách thống trị tànbạo để thiết lập nên một chế độ xã hội mới Đúng nh báo cáo của Công sứ
Vinh phản ánh về tâm trạng của nhân dân Nghệ An lúc bấy giờ là họ đều “ tỏ
thái độ chán ghét chế độ hiện hành và muốn lật đổ hoàn toàn chế độ đó ”
Trang 35văn, hội võ, phe giáp Chúng coi quyền chấp chiếm ruộng đất công là quyềnbất khả xâm phạm Chúng “giữ lấy bo bo”, chúng “ăn mãi chẳng cho dâncày”.
ở xã Võ Liệt, ruộng đất công chiếm 41% tổng số ruộng đất của xã (250ha/600 ha), ở xã Đức Nhuận ruộng đất công chiếm 50% (273 ha/544 ha), ở xãThanh La chiếm 75% (278 ha/367 ha) [4, tr.15]
Ruộng đất ngày càng tập trung vào tay bọn địa chủ Trên một trăm tên
địa chủ ở Thanh Chơng thì mỗi tên chiếm từ 5 héc-ta đến 25 héc-ta Riêng tênChúc Khuổn (Liễu Nha) chiếm 50 hec-ta, Nguyễn Lâm Tín (Bích Hào) chiếm
150 hec-ta, Bang Hng (Phúc Yên) chiếm hàng trăm hec-ta
Ngoài việc cớp đoạt ruộng đất, bọn thực dân, phong kiến đã thực hiệnmột chế độ thuế khóa hết sức hà khắc Chúng bày đặt ra nhiều thứ thuế: thuếruộng đất, thuế lâm thổ sản, thuế chợ, thuế đò ngay cả con ngời cũng bị
đánh thuế nh mọi thứ hàng hóa khác Su thuế ngày một tăng, tô tức ngày mộtnặng Nh thuế thân, mỗi suất chúng tăng từ 0,14 đồng lên tới 2,3 đồng (năm1898) lên 3 đồng năm 1939; Thuế điền là 1,5 đồng/1 mẫu năm (1897) lên1,95 đồng/1 mẫu (1939) (mỗi đồng bạc lúc đó bằng 7 quan tiền) [3, tr.16]
Thời gian này Nhật không đóng quân tại Thanh Chơng nhng cái vòi củacon bạch tuộc vơ vét sức ngời sức của phục vụ cho nền kinh tế đang kiệt quệvì chiến tranh của chúng Đi tiền trạm cho đội quân phát xít Nhật là các công
ty khai thác của chúng vào hoạt động kinh doanh ở Nghệ Tĩnh Nhìn thấyThanh Chơng là một nơi có nhiều gỗ quý lại nằm trên tuyến sông Lam, bọnNhật đã cấp vốn cho nhiều chủ thầu khai thác và vận chuyển gỗ về cung cấpcho xởng đóng tàu chiến Cửa Hội Sau ngày hất cẳng Pháp độc chiếm ĐôngDơng, phát xít Nhật đã sử dụng và khuyến khích bọn quan lại hào lý (trong hệthống cai trị cũ của Pháp trớc đây), vơ vét bóc lột nhân dân Thanh Chơng hếtsức tàn khốc Chúng tăng thêm tiền thuế và đặt thêm nhiều thứ thuế mới.Chúng bắt hàng trăm ngời dân Thanh Chơng đi phu sửa chữa con đờng chiếnlợc Vinh - Xiêng Khoảng, bắt dân vạn chài ven sông phải bỏ nốc nghề đi chèothuyền chở vũ khí sang Lào Chúng khoanh đai vùng đất phù sa ven sông, bắtnhân dân nhổ hoa màu trồng đay, lạc, thầu dầu, chúng ban hành chính sáchthu mua thóc tạ theo đầu mẫu, bắt nhân dân phải bán thóc, ngô, lạc cho chúngvới giá rẻ mạt (riêng thóc tạ, mỗi mẫu phải nạp 1 yên 4 quan, với giá 4 tiền,
Trang 36trong khi đó giá ngoài là 1 yên 3 quan), hễ ai chống lại những chính sách trên
đều bị chúng khép tội “vi phạm quân lệnh”, bị chúng đốt nhà, chặt đầu, bỏ rọtrôi sông ngay tại chỗ Một số quan lại cũ có thế lực và địa chủ lớn ở tronghuyện đứng ra hô hào nhân dân đào sông, mở xởng dệt đay, lò ép dầu phục
vụ cho bọn chủ mới Với ý đồ mong dựa vào giặc Nhật để giành lại những địa
vị của mình Đợc bọn Nhật nâng đỡ, tên Lê Nguyên Thụ (Đại Đồng) tập hợpmột số con cái địa chủ lớn trong vùng kéo về chợ Rạng rải truyền đơn cổ độngcho chính sách Đại Đông á “Đồng văn, Đồng chủng” của Nhật Thâm độchơn phát xít Nhật còn cho bọn này bày trò tố cáo thực dân Pháp, tố cáo mộtvài tên quan lại tham nhũng để làm cho một số ngời mơ hồ về chính trị và ngảtheo chúng [3, tr.45]
Mặc dầu có nhiều cố gắng chạy theo phát xít Nhật tuyên truyền chonhững chính sách kinh tế và những thủ đoạn chính trị bịp bợm của tên xâm lợcmới, nhng hoạt động của một nhóm tay sai mất gốc vẫn không che đậy đợc bộmặt xấu xa, tàn bạo của phát xít Nhật
Toàn bộ chính sách bóc lột, vơ vét của Nhật, Pháp và dẫn đến hậu quảnặng nề là trận đói khủng khiếp cuối năm 1944 đầu năm 1945 Chỉ trong vòng
6 tháng, ở Thanh Chơng 8.222 ngời bị chết đói (bằng 1/5 số ngời chết đói củatoàn tỉnh Nghệ An), trong số 3.229 gia đình có ngời bị chết đói thì có đến 490gia đình bị chết sạch [13, tr120] Nhiều làng vạn chài trên sông Lam, sôngGiăng bị chết hết không còn một ai Chợ Rộ, chợ Cồn, chợ Dùng, chợ Rạng ngày nào cũng có ngời chết đói Hàng trăm ngời đi ăn xin đói lả nằm dọc các
vệ đờng Ngời già, trẻ em kéo nhau vào rừng đào củ mài, củ nâu sống quangày Xóm thôn tiêu điều, xơ xác Là những ngời trực tiếp chịu mọi hậu quảnặng nề của chính sách bóc lột, vơ vét của giặc Nhật, mang sẵn trong huyếtquản dòng máu bất khuất chống ngoại xâm, nhân dân Thanh Chơng càngthấm thía nỗi nhục của ngời dân mất nớc Hình ảnh của Xô viết Nghệ Tĩnhnăm xa dục giã họ hớng tới ngày mai, ngày vùng lên giải thoát cuộc sống tốităm ngột ngạt dới ách thống trị của thực dân, phong kiến
2.2 Đấu tranh chống khủng bố, tích cực chuẩn bị lực lợng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền
2.2.1 Đấu tranh chống khủng bố, củng cố cơ sở Đảng
Trang 37Trớc những chuyển biến mau chóng của tình hình thế giới và trong nớc,
Đảng Cộng sản Đông Dơng đã rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâmcông tác về nông thôn và kịp thời đề ra chủ trơng “chuyển hớng chiến lợc củacách mạng Việt Nam, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết và trớchết” [47, tr.12-13] Chủ trơng chuyển hớng chiến lợc cách mạng Việt Nam đ-
ợc bắt đầu từ Hội nghị Trung ơng 6 (11/1939) và hoàn chỉnh ở Hội nghị Trung
ơng 8 (5/1941)
Từ khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, thực dân Pháp ở Đông Dơngcũng bớc vào con đờng phản động và từng bớc phát xít hóa bộ máy chínhquyền cai trị của chúng ở Thanh Chơng, thực dân Pháp đã tăng cờng chínhsách khủng bố, nhng vì Đảng bộ Nghệ Tĩnh thiếu kịp thời chuyển hớng về tổchức, t tởng và phơng pháp công tác cho cán bộ, đảng viên và đặc biệt là mấtcảnh giác trớc sự phản bội chỉ điểm của những phần tử tay sai, nên khi chiếntranh thế giới thứ hai vừa xảy ra thì hầu hết các cán bộ lãnh đạo của Đảng từhuyện đến xã đều bị đế quốc Pháp bắt giam
Cùng với việc hàng loạt các cán bộ đảng viên của Thanh Chơng bị savào tay địch, thì các cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng cũng bị phá vỡ nghiêmtrọng
Trong báo cáo văn tắt tình hình Đảng bộ Trung Kỳ năm 1940, Đảng ta
cũng phải thừa nhận: “ở Nghệ An vì một số đông cán bộ chỉ huy có năng lực
bị lộ trong phong trào Mặt trận dân chủ đều bị bắt giam cả nên những học cấp và các chi bộ đều bị rã rời, trải qua một thời gian hơn ba tháng sau khi cuộc chiến tranh xảy ra vẫn không có chút liên lạc gì với nhau cả" [10, tr 60]
Trong hoàn cảnh gian khó đó, những cán bộ đảng viên cha bị lộ hoặccha bị bắt còn giữ vững đợc tinh thần cách mạng thì ẩn mình trong quầnchúng để hoạt động Các chi bộ Đảng, các Hội quần chúng còn sót lại cha bịphá vỡ thì vẫn đợc duy trì và bí mật hoạt động dới hình thức các phờng hộithông thờng theo tập quán của từng địa phơng
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ơng Đảng, tháng giêng năm
1940, xứ ủy Trung Kỳ liên tiếp cử cán bộ xây dựng lại các Đảng bộ ở NghệTĩnh Nhờ đó, tháng 3 - 1940 Tỉnh ủy lâm thời Nghệ An đợc thành lập Đợc sựphân công của Tỉnh ủy, đồng chí Trần Đình Trân (tức San) về chỉ đạo việc xâydựng lại Đảng bộ Thanh Chơng Ngày 4/12/1940, đồng chí Trần Văn Quangvợt ngục từ nhà lao Vinh ra cũng đợc Tỉnh ủy bố trí lên Thanh Chơng cùng với
Trang 38đồng chí Trần Đình Trân xây dựng tổ chức cách mạng ở hai huyện Thanh
Ch-ơng và Anh Sơn
Đợc sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy lâm thời Thanh Chơng đợc thànhlập gồm các đồng chí: Nguyễn Đình Minh, Nguyễn Đình Khiếng, Phan HữuMiễn, Phan Văn Thái, do đồng chí Nguyễn Đình Minh làm Bí th Các Tổng ủyXuân Lâm, Võ Liệt, Đại Đồng cũng đợc hình thành Đảng bộ huyện lúc này
có 10 chi bộ: Xuân Dơng, Xuân Tờng, Nguyệt Bổng, Thanh La, Thọ Lâm, VõLiệt, Lạng Khê, Yên Phú, Dụ Phúc, Cẩm Bình với 54 đảng viên Ngoài chi bộ
Đảng, một số làng xã thuộc hai tổng Đại Đồng và Xuân Lâm đã thành lập Hộiphản đế cứu quốc và Việt Nam Thanh niên phản đế cứu quốc đoàn, thu húthàng trăm quần chúng tham gia Tỉnh ủy Nghệ An chuyển cơ quan ấn loát lênlàng Xuân Tờng (Tổng Xuân Lâm) Thông qua hoạt động của cơ quan ấn loát,
báo “Cởi ách” của Tỉnh ủy, báo “Bẻ xiềng sắt” của Xứ ủy Trung Kỳ, các
truyền đơn và tài liệu huấn luyện của Đảng đợc phổ biến rộng rãi trong huyệnThanh Chơng
Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai diễn biến hết sức mau lẹ Phát xít Đứctràn vào đất Pháp, chính phủ Pháp đầu hàng Đức Tại Việt Nam, ngày22/9/1940, quân đội Nhật tràn vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng Trớc sựhoảng sợ bỏ chạy của quân đội Pháp và sự tan rã của chính quyền địa phơngkhi quân Nhật kéo vào Từ đấy, nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích của Pháp
và Nhật Mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt hơn bao giờ hết Các cuộc khởinghĩa Bắc Sơn (27/9/1940), khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940) bùng nổ làmcho không khí cách mạng diễn ra sôi sục trong các tầng lớp nhân dân cả nớc.Dới sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy Trung Kỳ, Tỉnh ủy Nghệ An chỉ thị chocác cấp bộ Đảng trong tỉnh tổ chức rải truyền đơn, mít tinh, kêu gọi quầnchúng hởng ứng và ủng hộ hai cuộc khởi nghĩa vừa nổ ra
Thực hiện chủ trơng của Đảng, ngoài việc mít tinh, rải truyền đơn, một
số chi bộ ở Thanh Chơng đã có nhiều sáng kiến cổ động phong trào Tổng ủy
Đại Đồng tổ chức mít tinh quần chúng, vạch tội ác của Pháp, Nhật và kêu gọinhân dân hởng ứng khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ Theo chủ trơng của Tỉnh ủy,các chi bộ cơ sở thuộc tổng Đại Đồng đã làm công tác binh vận để giác ngộ
họ ủng hộ và đi theo cách mạng Kết quả cai á, bếp Tính ở đồn Rạng đã giácngộ, có cảm tình với cách mạng
Trớc sự thôi thúc của phong trào chung và nhận thấy tình hình thuậnlợi Tổng ủy Đại Đồng cử đại biểu lên gặp Huyện ủy và Tỉnh ủy đề nghị cho
Trang 39phát động quần chúng phối hợp với sự nổi dậy của binh lính đánh chiếm đồnRạng và tiến hành khởi nghĩa ở địa phơng Đề nghị đó không đợc Tỉnh ủychấp nhận vì: điều kiện khởi nghĩa cha chín muồi, nhiệm vụ của toàn Đảnglúc này là khẩn trơng tổ chức, tập hợp lực lợng thành một khối thống nhất đểchờ đón thời cơ Nếu khởi nghĩa riêng lẻ sẽ bị thất bại và gây tổn thất cho cáchmạng.
Chỉ thị của Tỉnh ủy cha kịp phổ biến xuống cơ sở thì tại đồn Rạng, ôngNguyễn Tri Cung, quyền trởng đồn cùng với cai á, bếp Tính là những ngời cócảm tình với cách mạng đã làm cuộc binh biến vào đêm 13 tháng giêng năm1941
Cuộc binh biến đã nổ ra một cách đột ngột, không tranh thủ sự lãnh đạocủa Đảng bộ địa phơng và cha giác ngộ chính trị cho binh lính
Khi bàn về những nguyên nhân dẫn đến cuộc nổi dậy, các tài liệu hiệnhành chỉ nêu lên hai nguyên nhân: Một là sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam
Kỳ, phong trào cách mạng quần chúng dâng cao đã ảnh hởng đến tinh thầncủa binh lính ngời Việt trong quân đội Pháp Hai là, tại Nghệ An nói chung vàThanh Chơng nói riêng binh lính rất bất bình vì bị bắt sang Lào làm bia đỡ
đạn cho Pháp chống Thái Lan
Theo Tiến sĩ Trần Văn Thức trong “Cách mạng Tháng Tám ở Nghệ An”
thì ngoài những nguyên nhân trên còn có một số nguyên nhân nh sau:
Thứ nhất, Đội Cung đợc sinh ra trong một gia đình có bố đẻ từng thamgia phong trào Cần Vơng chống Pháp, hoàn cảnh đó đã nuôi dỡng, nhen nhómtinh thần yêu nớc trong con ngời Đội Cung từ rất sớm
Thứ hai, về phía ta và cả phía Pháp đều cho rằng cuộc nổi dậy của binhlính Chợ Rạng - Đô Lơng nổ ra là tự phát, ngoài sự chỉ dẫn của Đảng Cộngsản Đông Dơng và các Đảng quốc gia khác
Cuối cùng, không thể không đề cập đến việc Đội Cung đợc đề bạt làmquyền trởng đồn lính khố xanh Chợ Rạng Đây là một cơ hội hết sức thuận lợi
để ông thực hiện đợc dự định của mình Nếu ông chỉ là một ngời lính bình ờng, cuộc nổi dậy rất khó có thể xẩy ra Về điểm này chính Pháp cũng phải
th-thừa nhận sự mất cảnh giác của chúng: “Thật vậy, nếu đồn Chợ Rạng có đợc
đúng tiêu chuẩn một chỉ huy ngời Âu thì rất có thể phong trào ấy sẽ không xẩy
ra đợc” [18].
Trang 40Để kích thích tinh thần binh sỹ các ông đã nói dối với họ là “Theo thcủa Cờng Để” khi tiến hành cuộc binh biến, họ đã giết tên trởng đồn kiểm lâmcủa Pháp.
Sau khi làm chủ tình hình đồn Rạng, họ kéo quân lên bao vây chiếm
đồn lính khố xanh Đô Lơng (phủ Anh Sơn) cách đồn Rạng 9 km Quân lính đãgiết tên đồn trởng ngời Pháp, bao vây huyện đờng chiếm nhà giây thép Họ tr-
ng dụng xe ô tô của một tên t sản chở lính đi hai đồn xuống đánh chiếm thànhphố Vinh ngay trong đêm đó Do chuẩn bị vội vã, tổ chức thiếu chặt chẽ, hành
động không thống nhất, nên kế hoạch bị bại lộ Công sứ Pháp ra lệnh độngbinh, giới nghiêm và vây bắt toàn bộ lực lợng tham gia cuộc binh biến ĐộiCung trốn thoát nhng một tháng sau cũng bị bắt Cuộc binh biến đã nhanhchóng bị thất bại
Cuộc nổi dậy của binh lính Chợ Rạng - Đô Lơng thất bại, trớc hết đây
là một cuộc nổi dậy tự phát, thiếu tổ chức, không đợc chuẩn bị đầy đủ ĐộiCung - ngời chỉ huy cuộc nổi dậy hành động phiêu lu và cô độc Trớc khi khởi
sự, ông không hề bàn bạc với ai về chơng trình hành động Vì vậy, anh em,binh lính tham gia nổi dậy hoàn toàn bị động, không nắm đợc tình hình nêncuộc nổi dậy nhanh chóng bị thất bại
Ngay sau cuộc nổi dậy Chợ Rạng - Đô Lơng nổ ra và thất bại ĐảngCộng sản Đông Dơng đã hoan nghênh tinh thần yêu nớc của Đội Cung và binhlính của ông Xứ ủy Trung Kỳ và Tỉnh ủy Nghệ An đã phát truyền đơn kêugọi, hớng dẫn quần chúng đấu tranh bảo vệ tính mạng cho những binh lính bị
địch bắt Hởng ứng lời kêu gọi của Tỉnh ủy Nghệ An, các huyện ủy Thanh
Ch-ơng, Anh Sơn cho căng cờ và biểu ngữ lên bè chuối thả trôi dọc sông Lam để
đánh đuổi đế quốc ra khỏi xứ, cần phải có sự thống nhất hàng ngũ các giới, một mình thợ thuyền, dân cày cũng không thể giết đợc giặc, một mình anh em binh lính dù có súng ống trong tay cũng phải thất bại”.