1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi việt nam đương đại

67 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 562,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà văn sáng tạo tác phẩm xét đến cùng là tái tạo lại thế giới hiện thực một cách có nghệ thuật, đặt nó trong mô hình không gian, thời gian nghệ thuật và một hình thức ngôn từ tương ứng.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Tiến sĩ Phùng Gia Thế

Tôi xin gửi đến thầy lời cảm ơn sâu sắc

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, tổ bộ môn Lí luận văn học và các bạn sinh viên rong nhóm khóa luận đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Chu Lan Anh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

- -

CHU LAN ANH

TÍNH BẤT KHẢ TÍN, HÀM HỒ

TRONG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT

VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Tiến sĩ Phùng Gia Thế

Tôi xin gửi đến thầy lời cảm ơn sâu sắc

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, tổ bộ môn Lí luận văn học và các bạn sinh viên rong nhóm khóa luận đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Chu Lan Anh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết luận trong khoa luận này là trung thực Khóa luận này chưa từng được công bố trong bất

cứ công trình nào

Nếu những lời cam đoan trên là sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Chu Lan Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ MỘT SỐ ĐỔI MỚI TRONG CẤU TRÚC THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 7

1.1 Khái quát về thế giới nghệ thuật 7

1.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật 7

1.1.2 Các yếu tố cơ bản của cấu trúc thế giới nghệ thuật 9

1.2 Một số đổi mới trong cấu trúc thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại 17

1.2.1 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người 17

1.2.2 Đổi mới không gian và thời gian nghệ thuật 20

1.2.3 Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu 24

CHƯƠNG 2: ĐẶC TÍNH BẤT KHẢ TÍN, HÀM HỒ TRONG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 28

2.1 Người trần thuật không đáng tin 28

2.2 Hình thức kết mở, đa kết 37

2.3 Không gian và thời gian đậm chất huyền thoại 43

2.4 Ngôn ngữ mơ hồ, bất định 51

2.5 Sự giải thiêng văn học qua hình tượng nhà văn 54

KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể vẹn toàn sinh động được tạo nên bởi

những nguyên tắc tư tưởng và chịu sự tác động, chi phối của quan niệm của nhà văn Là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, thế giới nghệ thuật có cấu trúc và quy luật nội tại riêng mang đậm dấu ấn phong cách và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Nhà văn sáng tạo tác phẩm xét đến cùng là tái tạo lại thế giới hiện thực một cách có nghệ thuật, đặt nó trong mô hình không gian, thời gian nghệ thuật và một hình thức ngôn từ tương ứng Cho nên, có thể nói rằng, thế giới nghệ thuật bộc lộ cái nhìn trong đó chứa đựng toàn bộ nhân sinh quan của nhà văn về cuộc sống, con người Tìm hiểu thế giới nghệ thuật, vì thế, một mặt giúp chúng ta nhận diện được văn học

ở bề sâu, bề sau, bề xa của nó Mặt khác, con đường đi vào khám phá những giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học cũng được mở ra theo hướng tiếp cận này Trên cơ

sở đó, nghiên cứu đề tài: “Tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn

xuôi Việt Nam đương đại” sẽ khẳng định sự sáng tạo, cách tân cũng như phong cách

của nhà văn đối với việc đổi mới văn học dân tộc

1.2 Văn xuôi xét từ góc độ thể loại không cam chịu một hình thức hòa kết Vì

vậy, đổi mới trong văn xuôi luôn là đề tài bàn luận sôi nổi và được quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu phê bình mà cả nhà văn Ở Việt Nam, từ năm 1986 đến nay, sự đổi mới của đời sống, văn hóa, xã hội đã tạo điều kiện cho văn học vận động và phát triển, đặc biệt là văn xuôi Giai đoạn này đã xuất hiện nhiều tác phẩm của các nhà văn đại diện cho hệ hình tư tưởng thẩm mĩ mới làm nên những hiện tượng văn học mới lạ, gây dư luận ồn ào, nhiều tranh cãi như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà,…

1.3 Văn xuôi Việt Nam đương đại có nhiều đổi mới trong cấu trúc thế giới

nghệ thuật so với giai đoạn văn học trước đó Điều này thể hiện sự thay đổi trong hệ hình tư duy, cách tiếp cận đối tượng của người nghệ sĩ Đề tài khóa luận này sẽ nghiên cứu văn xuôi Việt Nam đương đại từ khía cạnh tính bất khả tín, hàm hồ trong

Trang 6

thế giới nghệ thuật để cho thấy sự chuyển dịch trong cái nhìn, ý thức của nhà văn về đối tượng, chủ thể, bạn đọc và bản thân văn học Từ hướng tiếp cận này sẽ giúp chúng ta hiểu văn học đa diện, nhiều chiều hơn

1.4 Văn học Việt Nam đương đại luôn luôn vận động, cách tân, đặc biệt là

trong xây dựng thế giới nghệ thuật Chính vì vậy cách đánh giá chúng chưa có sự thống nhất, điều này thể hiện rõ “tính chất động”, không ổn định của giai đoạn văn học này Việc lựa chọn đề tài thuộc mảng văn học đương đại, cụ thể là văn xuôi cho thấy sự quan tâm của chúng tôi đối với đời sống văn học hôm nay; đồng thời, nó cũng góp phần khắc phục sự chia cắt giữa văn học đương đại và văn học trong nhà trường Thực hiện đề tài khóa luận là bước tập nghiên cứu văn học, qua đó giúp chúng tôi giải thích, đánh giá các hiện tượng văn học tốt hơn và đóng góp thêm một cách nhìn mới về thế giới nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam đương đại

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình trong Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đặc biệt

nhấn mạnh đến những biến đổi, cách tân trong thế giới nghệ thuật văn xuôi đương đại so với giai đoạn văn học trước đó Tác giả khẳng định: “Văn xuôi chuyển từ tính thống nhất, một khuynh hướng cảm hứng sang tính nhiều khuynh hướng cảm hứng

từ chịu các quy luật thời chiến sang chịu tác động của các quy luật thời bình, nhất là các quy luật kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa Tính sử thi vốn bao trùm giai đoạn văn học chiến tranh giờ chuyển mạnh sang nhãn quan thế sự - đời tư - phong hóa

Hệ thống tiêu chí thẩm mĩ bị thay đổi, nhiều giá trị cũ tỏ ra lỗi thời, bên cạnh nhiều giá trị mới được xác lập” [5, tr 7] Để chứng minh sự chuyển mình của văn xuôi, tác giả đi sâu nghiên cứu một số bình diện cơ bản trong mối quan hệ hữu cơ giữa

Trang 7

nội dung và hình thức, cụ thể chỉ ra được sự chi phối của ý thức văn học đối với các yếu tố quan trọng nhất của nghệ thuật tự sự như hệ thống đề tài, nhân vật, thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu,… Những nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình cho thấy hệ hình ý thức của nhà văn đã có những biến chuyển bước ngoặt, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa nhà văn với văn học - hiện thực, nhà văn và công chúng, nhà văn với chính mình Điều này cho thấy văn học đã được nhận thức lại, điều chỉnh lại Chính những biến đổi của hệ hình ý thức của nhà văn đã dẫn đến sự thay đổi trong cách nghĩ, cách viết cũng như cách xây dựng các yếu tố của cấu trúc nghệ thuật Tác giả

đã chỉ rõ nhân vật đã chuyển dần từ kiểu sử thi sang quan niệm con người đời tư thế

sự và được soi rọi từ nhiều từ nhiều chiều; không gian và thời gian không ngừng được mở rộng, nó không chỉ ở không gian và thời gian tuyến tính của hiện thực mà còn là sự phi tuyến tính trong cõi vô thức, bị dồn nén; ngôn ngữ và giọng điệu đa dạng, phong phú với những sự cách tân mới lạ

Trong Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan

Hương, Võ Thị Thanh Hà đã đi sâu nghiên cứu Tạ Duy Anh để làm nổi rõ những đóng góp của nhà văn đối với văn xuôi Việt Nam đương đại Các tác giả đã chỉ ra những cú hích sáng tạo và làm mới trong sự đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn, đồng thời, cũng chỉ rõ Tạ Duy Anh luôn viết với một ý thức tìm tòi và

nỗ lực tìm tòi đổi mới được thể hiện trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu tác phẩm, ngôn ngữ Có thể thấy, nhân vật trong tác phẩm của Tạ Duy Anh phong phú với tính cách đa chiều có cả phần thánh thiện và ác quỷ Điều đó cho thấy cái nhìn trung thực, dũng cảm nói cho con người hiểu rõ về cái ác tiềm ẩn mục đích lay thức con người về cõi thiện và cái nhìn bi quan của ông về sự đổ vỡ, nhàu nát, phi nhân tính,… Nhân vật của Tạ Duy Anh được xây dựng bằng các thủ pháp lắp ghép, phân mảnh, gấp bội điểm nhìn,… Kết cấu trong tác phẩm của Lão Tạ là sự lắp ghép và lạ hóa mô típ Điều này làm cho nội dung tác phẩm có điểm xoáy ám ảnh người đọc, hiện thực được tập trung, xâu chuỗi theo một chủ đề trung tâm Ngôn ngữ và giọng điệu của trong tác phẩm Tạ Duy Anh đa dạng, trộn lẫn nhiều mảng màu đối lập,…

Trang 8

Từ sau năm 1975, nhất là sau năm 1986, văn xuôi đã có sự khởi sắc, trong đó tiểu thuyết vẫn là thể loại chủ đạo Chính vì vậy, thể loại này đã thu hút được sự

quan tâm của giới nghiên cứu phê bình Trong bài Ý thức cách tân trong tiểu thuyết

Việt Nam sau 1975, nhà nghiên cứu Nguyễn Bích Thu đã chỉ rõ sự đổi mới ở tư duy

nghệ thuật trong sáng tạo tiểu thuyết sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu là sự thay đổi về cơ cấu của tiểu thuyết như đề tài, cốt truyện, ngôn ngữ, Tất cả những thay đổi ấy thể hiện nhãn quan nghệ thuật của nhà văn về hiện thực và cách xây dựng thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học Nhìn tiểu thuyết từ góc độ thể loại ở mỗi giai đoạn khác

nhau, thấy có sự khác biệt rõ rệt Trong bài Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - nhìn từ góc

độ thể loại, tác giả Bùi Việt Thắng đã làm rõ điều đó Theo tác giả thì sự khác biệt này

thể hiện ở nhiều phương diện như: vấn đề dung lượng, vấn đề giản lược nhân vật và cốt truyện, vấn đề cấu trúc - thể loại tiểu thuyết Tiểu thuyết có sự chuyển dịch chính là do hệ ý thức của người cầm bút thay đổi Ngoài các bài nghiên cứu trên còn

có một số bài như: Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập

kỉ 80 đến nay của Nguyễn Thị Bình, Một vài khuynh hướng vận động của điểm nhìn trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Văn Hiếu,

Nghiên cứu về thế giới nghệ thuật đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu phê bình song về cơ bản, họ chỉ đi sâu tìm hiểu trong khuôn khổ một tác giả hay bao quát cả thế giới nghệ thuật chứ chưa chú ý nhiều đến tính chất bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại Về bình diện trên, tiêu biểu có bài viết:

Tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới văn xuôi Việt Nam đương đại của Phùng Gia

Thế đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 12 - 2012 Trong bài viết này, tác giả đã

xác nhận tính bất khả tín, hàm hồ như là một đặc tính nổi bật trong các thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại Đặc tính này xuất phát từ tâm thức giải thiêng xuất hiện chủ yếu trong các tác phẩm của các nhà văn cách tân theo khuynh hướng hậu hiện đại Trên cơ sở gợi ý của những người đi trước, tác giả khóa luận sẽ tập trung đi sâu khám phá tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại qua một số tác phẩm của các nhà văn tiêu biểu như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu, phân tích những đổi mới trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại so với văn học Việt Nam giai đoạn trước đó, đồng thời thấy được ý nghĩa của sự cách tân đó đối với giá trị tác phẩm, phong cách nhà văn và sự vận động của văn học Việt Nam qua từng giai đoạn phát triển

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát về thế giới nghệ thuật và một số đổi mới trong cấu trúc thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại

- Phân tích đặc tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Với khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp và khả năng làm chủ tư liệu còn hạn chế, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại ở một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu:

- Nguyễn Huy Thiệp: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Hội

nhà văn, 2005

- Nguyễn Bình Phương: Trí nhớ suy tàn, Nxb Văn học, 2000; Thoạt kỳ

thủy, Nxb Văn học, 2005

- Tạ Duy Anh: Thiên thần sám hối, Nxb Hội nhà văn, 2004; Giã biệt bóng

tối, Nxb Hội nhà văn, 2010

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài khóa luận này, tác giả khóa luận kết hợp sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp hệ thống

Trang 10

Chương 1: Khái quát về thế giới nghệ thuật và một số đổi mới trong cấu trúc

thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại

Chương 2: Đặc tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuật văn xuôi

Việt Nam đương đại

Trang 11

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT

VÀ MỘT SỐ ĐỔI MỚI TRONG CẤU TRÚC THẾ GIỚI

NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Khái quát về thế giới nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật

Thế giới nghệ thuật là một vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn quan trọng trong nghiên cứu văn học Một thế giới nghệ thuật nhất định với tư cách là một hệ thống không chỉ là đặc trưng cho tác phẩm ấy mà còn đặc trưng cho nhà văn nói chung

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thế giới nghệ thuật được hiểu là “khái niệm

chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng,… chỉ xuất hiện một cách có ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” [10, tr 302] Chẳng hạn, trong thế giới cổ tích, con người và loài vật, cây cối và thần Phật đều có thể nói chung một tiếng người, đôi hài có thể đi một bước bảy dặm, nồi cơm vô tận ăn mãi không hết,… Trong văn học lãng mạn, quan hệ nhân vật thường xây dựng trên cơ sở cảm hóa; trong văn học cách mạng, nhân vật thường chia thành hai tuyến địch - ta, người chiến sĩ cách mạng và quần chúng Như thế, mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật không cho phép đánh giá và lí giải tác phẩm văn học theo lối giản đơn giữa các yếu tố hình tượng với các sự thực đời sống riêng lẻ, xem có “giống” hay không, “thật” hay không, mà phải đánh giá trong chỉnh thể tác phẩm, xem xét tính chân thật của tư tưởng chỉnh

Trang 12

thể của tác phẩm so với chỉnh thể hiện thực Các yếu tố của hình tượng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó

Giáo trình Lý luận văn học (Trần Đình Sử chủ biên) viết: “Thế giới nghệ

thuật là một thế giới kép: thế giới được miêu tả và thế giới miêu tả Thế giới được miêu tả bao gồm nhân vật, sự kiện, cảnh vật,… Thế giới miêu tả là thế giới của người kể chuyện, người trữ tình,… Hai thế giới này gắn kết không tách rời như mặt của một tờ giấy Không có thế giới miêu tả thì không có thế giới được miêu tả và ngược lại Tuy nhiên, chúng không thể liên thông Người kể chuyện không trực tiếp tham gia vào các sự kiện trong thế giới được miêu tả như một nhân vật” [27, tr 82] Thế giới được miêu tả trong tác phẩm có các bình diện của nó Đó là con người riêng (nhân vật), không gian, thời gian, đồ vật, âm thanh, màu sắc có ý nghĩa tượng trưng riêng không đồng nhất với thực tại Các bình diện trên đều là các yếu tố của thế giới nghệ thuật, mỗi yếu tố có một vị trí nhất định và không thể thiếu đối với hệ thống Thế giới nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ là hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những giới hạn nhất định Bởi hệ thống đó sống theo các quy luật, nguyên tắc vốn

có của nó, có không gian, thời gian, tâm lý, đạo đức xã hội và hoàn cảnh vật chất riêng, tất cả đều là phạm trù có ý nghĩa khi phân tích tác phẩm Không nên đánh giá tác phẩm chỉ trong một bình diện, cũng như không nên xem xét các bình diện trên một cách tách rời, bỏ qua mối quan hệ và liện hệ qua lại của chúng Chỉ có nghiên cứu đồng bộ các bình diện mới đem lại bức tranh đầy đặn về thế giới mà nhà văn sáng tạo ra

Cũng với cách hiểu trên, tác giả cuốn Tác phẩm văn chương, một sinh thể

nghệ thuật, PGS TS Phùng Minh Hiến không dùng thuật ngữ “thế giới nghệ thuật”

mà thay vào đó là cụm từ “cái được miêu tả” “Cái được miêu tả được sáng tạo nên bằng tổ chức nghệ thuật của tác phẩm Đó là hệ thống những hình tượng của tác phẩm trong sự tự mở ra của nó, từ đầu đến cuối, bộc lộ một cách tập trung tính siêu logic của tư duy nghệ thuật: Sự xem xét các mặt đối lập của hiện thực trong sự thống nhất và đấu tranh của chúng, cái tĩnh tại trong cái năng động, bản chất trong cái hiện tượng, cái tất yếu trong cái ngẫu nhiên” [11, tr 37] Nó được coi là thứ “tư

Trang 13

duy nội dung” bởi vì sinh ra những nghĩa mới phức tạp Nhiệm vụ của người tiếp nhận văn học là phải tìm ra “mã khóa” để bước vào thế giới nghệ thuật đó

Như vậy, thế giới nghệ thuật là một phạm trù rất rộng Thuật ngữ này chỉ dùng trong văn học, trong sáng tác nghệ thuật Có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về thế giới nghệ thuật Qua các định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra cách hiểu: thế giới nghệ thuật là thế giới mà nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm của mình Thế giới ấy là hình bóng của thế giới vật chất nhưng không hoàn toàn là thế giới vật chất Bước vào thế giới nghệ thuật, người đọc đã tự nguyện cùng nhà văn bắt đầu hành trình khám phá bản chất của cuộc sống và bản thể của con người Thế giới nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu tố trong tác phẩm văn học Có bao nhiêu yếu

tố cấu thành nên tác phẩm văn học sẽ có bấy nhiêu yếu tố thuộc thế giới nghệ thuật

1.1.2 Các yếu tố cơ bản của cấu trúc thế giới nghệ thuật

1.1.2.1 Nhân vật

- Khái niệm nhân vật:

Nhìn một cách tổng quát nhất, nhân vật là khái niệm không chỉ được dùng

trong văn chương mà còn nhiều lĩnh vực khác Theo bộ Từ điển tiếng Việt của Trung

tâm Từ điển học do Hoàng Phê chủ biên thì nhân vật là khái niệm mang hai nghĩa: Thứ nhất, đó là “đối tượng (thường là con người) được miêu tả thể hiện trong tác phẩm văn học” [22, tr 881] Thứ hai, đó là “người có vai trò nhất định trong xã hội” [22, tr 881] Tức là thuật ngữ nhân vật được dùng phổ biến ở nhiều mặt cả đời sống nghệ thuật lẫn đời sống xã hội - chính trị và đời sống sinh hoạt hàng ngày Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, chúng tôi chỉ đề cập đến khái niệm

nhân vật theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ điển tiếng Việt định nghĩa, đó là nhân vật

trong tác phẩm văn chương

Cuốn Lý luận văn học do tác giả Phương Lựu chủ biên định nghĩa về nhân

vật văn học như sau: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả thể hiện trong tác phẩm, bằng phương tiện văn học” [17, tr 277] Đó có thể là những nhân vật có tên riêng (Tấm, Cám, anh Pha, ), cũng có thể không có tên

riêng (thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều, ) Đó là những con vật trong

Trang 14

truyện cổ tích, thần thoại, đồng thoại, bao gồm cả quái vật lẫm thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa như con người,… Khái niệm nhân vật đôi khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể mà chỉ là một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm nhưng chủ yếu là hình tượng con người Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu riêng để nhận ra

Trong cuốn giáo trình Lí luận văn học do GS Hà Minh Đức chủ biên, các tác

giả cho rằng: “Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện của con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách,… (…) Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ

là một hình tượng con người về con người hoặc có liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [8, tr 126]

Như vậy, các nhà nghiên cứu lí luận văn học, bằng cách này hay cách khác, khi định nghĩa về nhân vật vẫn cơ bản gặp nhau ở những nội hàm không thể thiếu được của khái niệm này: Thứ nhất, đó phải là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng những phương tiện văn học Thứ hai, đó là những con người, hoặc những con vật, đồ vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh ẩn dụ của con người Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn

- Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học:

Là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành nên mỗi tác phẩm văn học, nhân vật có một vai trò và vị trí hết sức quan trọng:

Trước tiên, nhân vật văn học là đơn vị cơ bản, là phương tiện tất yếu và quan trọng giúp nhà văn phản ánh một cách chân thực đời sống Bằng sự suy nghĩ, chiêm nghiệm, bằng những tìm tòi khám phá, nhà văn xây dựng nên nhân vật và hệ thống nhân vật trong tác phẩm để từ đó khái quát tính cách xã hội và mảng đời sống gắn liền với nó

Tính cách là sự thể hiện các phẩm chất xã hội, lịch sử của con người qua các

Trang 15

cầu lịch sử, con người lại xuất hiện với những tính cách tiêu biểu, điển hình khác nhau Mỗi tính cách thường gắn liền với những khía cạnh, vấn đề mà nhà văn muốn

đề cập đến trong tác phẩm văn học Sự thấu hiểu thực sự chức năng phản ánh khái quát nhân vật không chỉ dừng ở việc phát hiện ra các đặc điểm, các nét tính cách của nhân vật mà còn thấy được những vấn đề xã hội đằng sau những tính cách đó Bên cạnh việc phản ánh, khái quát hiện thực cuộc sống với những mảng đời sống xã hội gắn liền với nó, nhân vật còn có chức năng thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người, về cuộc đời Văn học phản ánh thế giới bằng hình tượng Song, điều đó không có nghĩa là nhà văn sao chép nguyên

xi hiện thực cuộc sống vào trong tác phẩm Nhà văn phải là người sáng tạo trên cơ

sở trải nghiệm, suy ngẫm theo sự cảm thụ của bản thân mình

- Các cách phân loại nhân vật văn học

Nhân vật văn học là một hiện tượng đa dạng về mặt kiểu loại Có rất nhiều cách phân chia nhân vật văn học:

Dựa vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm, nhân vật văn học được chia thành: nhân vật chính và nhân vật phụ

Dựa vào đặc điểm tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn, nhân vật văn học được chia thành: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện

Dựa vào thể loại văn học, ta có: nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình và nhân vật kịch Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành: nhân vật chức năng (hay mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng

Trên đây là những loại nhân vật thường gặp Sự phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối Nó chỉ nhằm nhấn mạnh nét trội, nét đặc trưng cơ bản của một loại nhân vật nào đó

1.1.2.2 Không gian và thời gian nghệ thuật

- Không gian nghệ thuật:

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, không gian nghệ thuật được hiểu là “hình

thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong

Trang 16

một trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn

bộ quảng tính của nó: cái này bên cái kia, liên tục Cách quãng, nối tiếp, cao, thấp,

xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật Không gian nghệ thuật gắn liền với cảm thụ về không gian mang tính chủ quan Ngoài không gian vật thể, có không gian tư tưởng” [10, tr 160] Không gian trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối quan hệ của bức tranh thế giới như tôn giáo, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự,… Ngôn ngữ của không gian nghệ thuật rất đa dạng và phong phú Cặp phạm trù cao - thấp, xa - gần, rộng - hẹp, cong - thẳng, bên này - bên kia,… đều được dùng để biểu thị các phạm vi giá trị phẩm chất của đời sống xã hội Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc bên trong của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình các hình tượng nghệ thuật

Trong cuốn Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, nhà nghiên cứu Trần Đình

Sử cho rằng: “Không gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và phát triển của thế giới nghệ thuật, là thế giới của cái nhìn và mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn” [26, tr 31] Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian vật chất bên ngoài Nó thể hiện tính chất của một thế giới tinh thần, trong đó sự vật có cách biểu hiện và tính chất theo một ý nghĩa riêng

Do gắn liền với điểm nhìn, trường nhìn, môi trường hoạt động, không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống Đồng thời, do gắn với giá trị, không gian nghệ thuật trở thành biểu tượng nghệ thuật, một hình tượng ước lệ mang

ý nghĩa cảm xúc Không gian nghệ thuật trong văn chương có những đặc trưng cơ bản: nó xuất hiện lần lượt tuần tự theo sự trình bày của tác giả, không gian mang tính quan niệm và không bị một hạn chế nào

- Thời gian nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học

chính là “hình thức nội tại hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó

Trang 17

Cũng giống như không gian nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian và biết qua thời gian nghệ thuật Sự phối hợp giữa hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng

hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát thành vô tận” [10, tr 322]

Nhà lí luận Nga Đ.X Likhachôp cho rằng: “Thời gian vừa là khách quan vừa

là chủ thể và đồng thời là công cụ phản ánh văn học Văn học ngày càng thấm nhuần ý thức và cảm giác về sự vận động của thế giới trong hình thức hết sức đa dạng của thời gian” Trong tác phẩm văn chương, thời gian chỉ trở thành nghệ thuật khi nó trực tiếp tác động vào nhân vật, vào môi trường mà ở đó đang diễn ra số phận của nhân vật và những biến động tâm tư, tình cảm của con người Thời gian nghệ thuật là hình thức của hình tượng nghệ thuật thể hiện tài năng và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ,… Nghệ sĩ có thể chọn điểm bắt đầu và kết thúc, có thể kể nhanh hay chậm, có thể kể xuôi hay đảo ngược Có thể chọn điểm nhìn từ quá khứ, thực tại, tương lai, có thể chọn độ dài một khoảnh khắc hay nhiều thế hệ, nhiều cuộc đời Thời gian thể hiện ý thức sáng tạo nghệ thuật Thời gian nghệ thuật được nhận biết nhờ các mối quan hệ giữa các biến cố, có thể là quan hệ nhân quả, quan hệ tâm

lý hay liên tưởng Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là cách biểu thị thời gian

mà là quan niệm, cách hiểu thời gian của tác giả

Trong Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, GS Trần Đình Sử nhận xét:

“Thời gian nghệ thuật là cái được cảm nhận bằng tâm lý qua chuỗi liên tục các biến đổi (biến cố) có ý nghĩa thẩm mĩ xảy ra trong thế giới nghệ thuật” Thời gian nghệ thuật được xây dựng theo cách cảm nhận thời gian của con người

Tóm lại, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật là hai khái niệm luôn luôn đi đôi song hành với nhau, tạo ra tính cấu trúc và tính quá trình của tác phẩm,

là yếu tố mở ra thế giới nghệ thuật của nhà văn

Trang 18

1.1.2.3 Ngôn ngữ và giọng điệu

- Ngôn ngữ:

Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt trong đời sống của con người Theo quan niệm của ngôn ngữ học, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu trong đời sống của con người Ngôn ngữ là ý thức thực tại thực tiễn, ngôn ngữ cũng tồn tại cho người khác nữa, như vậy cũng tồn tại lần đầu tiên cho bản thân tôi nữa, và cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác

Đi vào đời sống như là một công cụ giao tiếp quan trọng, ngôn ngữ trong nghệ thuật

có những điểm khác biệt cơ bản

Trong văn học, ngôn ngữ mang những giá trị đặc biệt, vừa truyền tải dung lượng thông tin nhất định, vừa mang tính thẩm mĩ cao Ngôn ngữ ở vị trí trung tâm của văn học thể hiện phông văn hóa, cá tính sáng tạo của nhà văn và xu hướng ngôn ngữ chung của thời đại Phân biệt ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ có tính chất nghệ

thuật cao của tác phẩm văn học, Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Ngôn ngữ văn học

là ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật cao của tác phẩm văn học Trong ngôn ngữ học thuật ngữ này có ý nghĩa rộng lớn, nhằm bao quát các hiện tượng ngôn ngữ dùng một cách chuẩn mực trong các biên bản ngôn ngữ trên báo chí, trên đài phát thanh, trong văn học và trong khoa học” [10, tr 215]

Giải thích về cội nguồn của ngôn ngữ văn học, Từ điển thuật ngữ văn học

nhận xét: “Ngôn ngữ văn học chính là dạng ngôn ngữ đời sống được lựa chọn đưa vào trong tác phẩm văn học Cội nguồn của nó bắt nguồn từ kho tàng ngôn ngữ của nhân dân Ngôn ngữ của nhân dân càng phong phú thì ngôn ngữ văn học càng tiếp thu và sáng tạo nhiều hơn” [10, tr 215] Ngôn ngữ văn học không vì thế mà từ bỏ cội nguồn tự nhiên của nó Từ cội nguồn này nhà văn đã lựa chọn, chắt lọc để tạo nên vốn ngôn ngữ riêng của mình

Trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ là yếu tố quan trọng đặc biệt, gắn liền với các phẩm chất như: tính hình tượng, tính chính xác, tính hàm súc,… Ngôn ngữ văn học là hình thái ý nghĩa mang tính thẩm mĩ Nằm trong tổ chức nội tại của văn học, ngôn ngữ văn học được phân hóa qua các loại thể của văn học Mỗi loại thể có đặc

Trang 19

trưng ngôn ngữ riêng biệt, độc đáo: trữ tình là ngôn ngữ cách điệu, gợi cảm, giàu nhịp điệu; ngôn ngữ kịch gắn với đối thoại, gần gũi với ngôn ngữ đời thường; ngôn ngữ tự sự lại gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ trần thuật Bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi thông tin mà ngôn ngữ ra đời, bắt đầu từ nhu cầu thưởng thức cái hay, cái đẹp mà văn học ra đời Ngôn ngữ văn học đã đem lại bản chất nghệ thuật cho tác phẩm văn học, tạo nên nét khu biệt giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ nói chung

M Gorki cho rằng: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Nếu tác phẩm văn học là tổng hòa của nhiều yếu tố thì ngôn ngữ chính là yếu tố căn cốt, yếu

tố đầu tiên kiến tạo nên tác phẩm văn học Vai trò của ngôn ngữ đối với văn học được thể hiện ở một số điểm sau:

Ngôn ngữ là chất liệu của văn học Khác với các loại hình nghệ thuật khác

như: hội họa, kiên trúc, điêu khắc, hình tượng nghệ thuật trong văn học được xây dựng bằng ngôn từ Vì thế, nó không trực tiếp tác động vào các giác quan của công chúng, mà tác động sâu xa đến trí tưởng tượng, cảm xúc của người đọc, lay động tâm hồn người đọc Đó chính là tính phi vật thể của hình tượng nghệ thuật ngôn từ

Ngôn ngữ văn học có vai trò quan trọng trong việc khai thác và khám phá đời sống của văn học Ngôn ngữ giúp cho văn học mở rộng phạm vi, đối tượng

phản ánh theo không gian, thời gian, giúp người đọc sống nhiều cuộc đời, nhiều cảm xúc, sống với chiều trôi chảy của thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai Như thế, chính ngôn ngữ văn học đã giúp người đọc mở rộng tầm hiểu biết của mình

Ngôn ngữ đóng vai trò trong việc thể hiện cá tính của nhà văn Nó là sự biểu

hiện phong cách, tâm lý, quan điểm, lập trường, ý thức sáng tạo, tâm huyết của nhà văn gửi gắm trong đó Trong đây, có ngôn ngữ mực thước, trang nghiêm của người uyên thâm, tao nhã; có thứ ngôn ngữ chua xót, đau đớn, hoài nghi của người luôn trăn trở về nhân tình thế thái, Nhưng dù nói thế nào đi nữa một khi đã gắn với người nghệ sĩ thì ngôn ngữ cũng là thứ đã được ý thức sáng tạo một cách sâu sắc

Ngôn ngữ có vai trò quan trọng, dẫn dắt người đọc tìm hiểu tác phẩm Theo

góc nhìn của thi pháp học hiện đại, ý nghĩa tác phẩm là một thuộc tính hàm ẩn, nó phải được khám phá qua nhiều lần cảm thụ Tiếp cận văn học từ góc độ ngôn ngữ

Trang 20

giúp cho bạn đọc tránh được lối đọc thụ động, tránh lối suy diễn tài tử được đâu trúng đó Điều kiện để đến với tác phẩm bằng con đường chân chính là nắm vững ngôn ngữ tác phẩm Có như vậy mới là đối xử công bằng với tác phẩm văn học Ngôn ngữ là cầu nối tác phẩm với bạn đọc, giữa nhà văn với độc giả Đọc có nghĩa

là đồng sáng tạo cùng nhà văn

- Giọng điệu:

Giọng điệu là một phương diện cơ bản cấu thành hình thức nghệ thuật của văn học Giọng điệu không những thể hiện bản lĩnh mà còn quyết định bản sắc tác giả Một tác phẩm thành công là một tác phẩm đa giọng điệu nhưng luôn có một giọng chủ âm Giọng điệu là mối giao lưu cảm nhận giữa người đọc và người kể, thiếu một giọng đặc trưng tác phẩm sẽ trở nên mờ nhạt

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa giọng điệu như là một phạm trù thẩm

mỹ, có vai trò rất lớn trong việc xác lập phong cách nhà văn Giọng điệu làm thành bản sắc riêng của một trào lưu, một trường phái hay một thời đại văn học Giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng đạo đức của nhà văn đối với hình tượng được miêu tả thể hiện lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm,…” [10, tr 134]

Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Những vấn đề thi pháp của truyện đã

khẳng định: “Giọng điệu chính là mối quan hệ giữa chủ thể và hiện thực khách quan thể hiện bằng hành vi ngôn ngữ trong đó bao hàm cả việc định hướng, đánh giá và thói quen cá nhân sử dụng ngôn từ trong những tình huống cụ thể” [12, tr 154]

Trong Dẫn luận thi pháp học, GS Trần Đình Sử đã nhận định: “Giọng điệu

giúp ta nhận ra tác giả Có điều giọng điệu ở đây không đơn giản là tín hiệu âm thanh

có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói, mà là một âm điệu mang nội dung, tình cảm, thái độ, ứng xử trước các hiện tượng đời sống” [25, tr 142]

Đặc biệt, M.B Khrapchencô trong cuốn Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự

phát triển của văn học cũng dành một số lượng trang không ít để nói về giọng điệu

Theo ông, giọng điệu là yếu tố cơ bản của phong cách nghệ thuật Một nhà văn tài

Trang 21

năng bao giờ cũng tạo ra một giọng điệu độc đáo M.B Khrapchencô khẳng định:

“Đề tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một môi trường và một giọng điệu nhất định đối với đối tượng sáng tác, đối với những mặt khác nhau của nó Hiệu suất cảm xúc của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu vốn là đặc trưng của tác phẩm văn học với tư cách

là một thể thống nhất hoàn chỉnh” [14, tr 167 - 168]

Với cách hiểu trên về giọng điệu, có thể nhận thấy, dù diễn đạt khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu gặp nhau ở một số điểm, đó là kiểu cách dùng để kể, là lập trường quan điểm và nổi bật nhất là thái độ đối với hình tượng được miêu tả Như vậy, giọng điệu là một phạm trù của tác phẩm văn học, cùng với các phạm trù khác nó góp phần tạo nên sự thành công và bản sắc riêng cho tác giả

Tóm lại, thế giới nghệ thuật là một phạm trù rộng và được tạo nên từ nhiều yếu tố Các yếu tố này có vị trí, vai trò nhất định trong hệ thống và có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành tính chỉnh thể của hệ thống đó Thế giới nghệ thuật của tác phẩm ngôn từ là hệ thống hoàn chỉnh vận hành theo các quy luật và nguyên tắc vốn có của nó Không nên đánh giá tác phẩm chỉ thông qua một bình diện hoặc xem xét các bình diện trong sự tách rời mà phải đặt chúng trong chỉnh thể Như vậy, thế giới nghệ thuật trong tác phẩm mới hiện ra sinh động và toàn vẹn trong sự cảm nhận, chiếm lĩnh của bạn đọc

1.2 Một số đổi mới trong cấu trúc thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại

1.2.1 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người

Quan niệm nghệ thuật về con người là một khái niệm trung tâm của thi pháp học Nó phản ánh một các sâu sắc và toàn diện bản chất nhân học của văn học Ở một phương diện nào đó, thuật ngữ quan niệm nghệ thuật về con người có giá trị tương đương với khái niệm “tính tư tưởng” trong tác phẩm văn học Nếu tư tưởng là linh hồn của tác phẩm (Kôrôlenco) thì quan niệm nghệ thuật về con người là tư tưởng cốt lõi, chiều sâu nhân bản của tác phẩm đó, đồng thời là thước đo sự tiến bộ của nhà văn Quan niệm nghệ thuật về con người gắn liền với vốn sống, vốn văn

Trang 22

hóa, tài năng, cá tính sáng tạo của nhà văn và ý thức hệ của cộng đồng xã hội Nói ngắn gọn, quan niệm nghệ thuật về con người chính là cách cắt nghĩa cả văn học thông qua các phương tiện nghệ thuật đặc thù Mỗi nhà văn đều có một quan niệm nghệ thuật riêng và chịu sự chi phối của quan niệm đó Có tác phẩm văn học tức là

đã tồn tại quan niệm nghệ thuật về con người và cuộc đời

Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người được xem như là cách tân quan trọng nhất của văn học nói chung ở mọi thời kỳ Giai đoạn 1945 - 1975, với nguyên

lí “văn học phản ánh hiện thực” và yêu cầu quán triệt lí luận về hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học trở nên gắn bó với đời sống xã hội hơn, theo sát từng biến cố lịch sử Chính vì vậy, văn học nhìn con người với tư cách là người công dân, con người dân tộc, con người giai cấp Bởi vậy, lí luận văn học luôn xem xét nhân vật ở các kiểu

cố định và xem xét nhân vật ở các phương diện khái quát nhất Các nhà văn thiên về xây dựng những nhân vật sử thi, những con người đại diện cho cộng đồng, dân tộc, phơi phới lạc quan dù gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ nhưng cuối cùng nhất định chiến thắng Song, có thể nhận thấy, văn học thời kì này còn mang tính khắc khổ, chưa chú ý đến những vấn đề của cuộc sống cá nhân, thế sự, đời thường,… Điều đó

có nghĩa là mỗi cá nhân trong đời sống cũng như trong văn học phải “khép mình”,

“thu mình” lại trước cái ta tập thể cộng đồng, dân tộc khiến con người riêng tư nhiều khi trở nên thiếu chân thực, sinh động,…

Từ sau năm 1975, đất nước hòa bình, hiện thực xã hội và cuộc sống của con người có sự thay đổi Để bắt kịp hiện thực, văn học đã có những đổi mới về tư duy nghệ thuật cũng như phương thức thể hiện Văn học nới rộng phạm vi hiện thực, hiện thực lúc này là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp, cần khám phá, tìm tòi Văn học, đặc biệt là văn xuôi đã tìm đến hiện thực con người, quy chiếu về số phận con người với mối quan hệ xung quanh sự tồn tại của nó, phát hiện những “vấn đề tự nó”

Lịch sử văn học, nhìn theo một góc độ nào đó là lịch sử của những quan niệm nghệ thuật khác nhau về con người Trong văn xuôi Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay, con người cá nhân phức tạp và bí ẩn đã thay thế cho kiểu con người sử thi - con

Trang 23

người cộng đồng trước đó Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người đang dần hướng về con người cá nhân, con người của những số phận riêng tư trong mối quan

hệ nhiều chiều của đời sống xã hội Nhờ đó, các nhân vật tồn tại như một nhân cách, chứ không còn là một ý niệm Nó đã trở thành đối tượng thẩm mỹ quan trọng của văn xuôi Việt Nam đương đại Trên khuynh hướng chú ý đến con người cá nhân, trong văn xuôi thời kì đổi mới, nhiều nhà văn đã làm rõ nét, sinh động hơn quan niệm này Trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu là con người sám hối, con người thức tỉnh, con người nhận đường và đầy suy tư dằn vặt Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là con người cô đơn đầy cay đắng Trong truyện ngắn Nguyễn Quang Lập là con người vừa anh hùng vừa hèn hạ Trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng là con người vừa đáng ghét vừa đáng thương,…

Nếu trong văn xuôi sử thi quan niệm về con người tốt xấu rạch ròi, thì ở giai đoạn này con người được nhìn nhận trong cái đa diện của nó Một kẻ từng được xem như là anh hùng có thể trong một phút nào đó là một tên hiếp dâm để rồi suốt

đời ân hận, day dứt khôn nguôi về lỗi lầm ấy (Đò ơi - Nguyễn Quang Lập) Trương

Chi khát khao bài hát của tình yêu nhưng rồi cũng phải hát bài hát đông người, bài hát ca ngợi danh vọng, tiền tài để rồi lúc kết thúc tiếng hát cũng là lúc văng tục

(Trương Chi - Nguyễn Huy Thiệp) Một người chạy theo lối sống xô bồ tưởng như chỉ bỏ đi như Lý trong Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng vẫn khiến

chúng ta xót xa, cảm thương và cả phần nào quý trọng Các diện mạo đa dạng ấy đã tạo cho văn xuôi từ sau năm 1975 những hình tượng nhân vật đa diện, sinh động chứ không “khô cứng”, “công thức” sơ lược như phần lớn nhân vật văn học trước đây Điều đó đã tạo cho văn xuôi đương đại sự hấp dẫn đặc biệt Gần đây, nhiều cuộc hội thảo về truyện ngắn đã thu hút sự quan tâm của giới văn nghệ sĩ, giới nghiên cứu phê bình cùng đông đảo bạn đọc như hội thảo về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Qua đó, các nhà phê bình văn học đã đưa ra nhiều “cách đọc”, “cách giải mã” đối với tác phẩm văn xuôi đương đại Quả là, văn xuôi sau năm 1975 đã mở rộng cái nhìn đối với quan niệm nghệ thuật về con người Đó là cái nhìn đa diện, nhiều chiều, phức tạp, “con người không

Trang 24

trùng khít với chính mình” Vì thế, đem lại cảm giác con người là một tiểu vũ trụ đầy bí

ẩn, không thể biết trước và không thể biết hết Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người đã đưa đến việc thay đổi hệ thống miêu tả, phương thức thể hiện, phương thức tư duy, đề tài, cấu trúc,… tạo nên những bước phát triển mạnh và nhiều đổi mới của văn xuôi từ sau năm 1975 đến nay

1.2.2 Đổi mới không gian và thời gian nghệ thuật

1.2.2.1 Không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật trong văn học luôn có sự đổi mới và vận động Nó gắn liền với sự đổi thay của cuộc sống hiện thực muôn màu muôn vẻ Hiện thực văn xuôi giai đoạn này không còn là hiện thực cách mạng, hiện thực của những biến cố lịch sử và cộng đồng mà đó còn là hiện thực của đời sống hằng ngày với các quan

hệ thế sự vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp, chằng chịt, đan dệt nên những mạch nối mạch ngầm của đời sống Hiện thực đó cũng là hiện thực của mỗi đời sống cá nhân con người với những vấn đề riêng tư, số phận, tính cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch Hiện thực cuộc sống trong tính toàn vẹn của nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn học thỏa sức chiếm lĩnh và khám phá

Không gian nghệ thuật trong văn xuôi đương đại được sử dụng làm nổi bật cảm giác của con người trong một thế giới ảo - thế giới đã được xử lý, nhằm thể nghiệm nhưng với tư cách là con người tự ý thức về tồn tại và hiện sinh Nghệ thuật

xử lý không gian trong các tác phẩm văn xuôi đương đại có khi là mở rộng hoặc thu hẹp, có khi dồn nén, chồng xếp,… Và trong mỗi kiểu không gian, con người hiện đại lại bộc lộ những trạng thái tâm lý khác nhau

Kiểu không gian thường được sử dụng để con người có cơ hội đối diện với bản thân mình, với cái tôi bé giữa rộng lớn không gian, đó là không gian xa lạ Ở

đó, con người không còn cảm thấy an nhiên tự tại, hòa mình vào vũ trụ theo kiểu thiên - nhân hợp nhất nữa mà là sự nhỏ bé trước sự hùng vĩ, vô biên của tạo hóa Con người trong không gian xa lạ ấy mới cảm thấy hết sự hữu hạn của cuộc sống,

sự cô đơn của kiếp người Trong Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp, không

gian núi rừng hiểm trở trong cuộc đi săn đã làm cho ông Diểu nhận ra sự ngưng lại

Trang 25

của cuộc sống và sự mỏng manh của kiếp người Một mình trong rừng sâu núi thẳm, cũng là cơ hội để ông đối diện với chính mình, nó cũng hiểm ác chẳng khác

gì vực sâu trước mặt ông Rồi trong khoảnh khắc, ông chợt nhận ra rằng, mọi ham muốn dục vọng, những nhỏ nhen ích kỉ đều vô nghĩa trước cuộc sống chông chênh, hữu hạn này Ông tự băng bó cho con khỉ và thả nó về rừng đó cũng là hành động giải thoát tâm hồn đang trĩu nặng bởi những toan tính tội lỗi Thiên nhiên chợt trở nên hài hoà “mưa xuân dịu đang trên cánh đồng” và “ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế mà đi” Như vậy, không gian có tác động sâu sắc tới tâm trạng con

người và con người tạo sự thay đổi cảm nhận về không gian.Trong truyện Những

người thợ xẻ, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng đặt nhân vật trong không gian thiên

nhiên rộng lớn, hiểm trở để mở ra sự suy ngẫm về thân phận con người: “Những dãy núi đá vôi trập trùng, cao ngất Chúng tôi đi men ở dưới chân núi, vừa bé nhỏ, vừa cô đơn, lại liều lĩnh, mà bất lực, thậm chí vô nghĩa”

Bên cạnh đó, không gian xa lạ, mới mẻ cũng gợi nhiều suy ngẫm Trong không gian có khi không gian bị dồn nén, xâm lấn bởi thế giới đồ vật, tạo thành một

thế giới phi lí Trong Man nương của Phạm Thị Hoài, mọi cảm giác, mọi nhận thức

của con người bị đóng khung trong một căn phòng bức bí, chật hẹp Và cũng có khi con người bị xô đẩy trên những con đường bụi bặm, đông đúc, hoặc quẩn quanh, ngơ

ngác, cô đơn ngay trong ngôi nhà của chính mình (Nhà trọ - Nguyễn Thị Châu Giang),…

Không gian luân chuyển là không gian kiểu người xê dịch Trên hành trình kiếm tìm chân lý, con người phải trải qua nhiều không gian khác nhau, nhiều hoàn cảnh khác nhau buộc họ phải lựa chọn và hành động Không gian luân chuyển chính

là môi trường thích hợp để con người thể nghiệm bản thân, tìm kiếm chính mình

Trong Con gái thuỷ thần, Nguyễn Huy Thiệp đã đẩy nhân vật vào cuộc thử thách,

lựa chọn và hành động “Tôi đi, tôi cứ đi, đi mãi” Những cuộc ra đi nối tiếp nhau thể hiện sự bất an trong tâm hồn và sự khó khăn tìm một điều gì như kiếm tìm chính bản thân mình

Không gian giấc mơ là không gian ảo, chủ yếu là để cho nhân vật tự thể hiện mình, bộc lộ những ẩn ức, dự cảm, khát vọng Với không gian giấc mơ, thế giới tiềm

Trang 26

thức của con người, là nơi con người bộc lộ mình rõ nhất Không gian trong giấc mơ thể hiện những khát vọng, ám ảnh, những mặc cảm của con người Như vậy không gian giấc mơ làm rõ những ám ảnh về quá khứ, về tội lỗi và số phận bi đát không thể lý

giải của nhân vật Trong Thoạt kỳ thuỷ của Nguyễn Bình Phương, qua giấc mơ

hỗn độn của Tính, ta hiểu thêm về những ám ảnh sợ hãi và cả những khát vọng đầy huỷ diệt của nhân vật: “Máu rỉ ra từ ngực Sông hút máu như chậu hút máu

lợn, bát hút máu gà, con dao ông Điện hút máu ai nhỉ?” Trong Người đi tìm giấc

mơ của Nguyễn Thị Thu Huệ, nhân vật mơ thấy mình gặp lại những người trong gia

đình đã chết từ lâu: “Mỗi người gánh một gánh phân bốc mùi thối hoăng, sóng sánh

đi tới chỗ tôi, rồi từng người, từng người một lấy cái gầu, múc một gầu dội thẳng vào mặt tôi…”

Như vậy, có thể nhận thấy, trong văn xuôi đương đại Việt Nam, các nhà văn

đã tạo ra nhiều kiểu không gian nghệ thuật khác nhau Mỗi kiểu không gian có tác dụng tạo nên những cảm nhận khác nhau để nhân vật có thể bộc lộ tất cả những phức tạp trong suy nghĩ và tâm hồn một cách đầy đủ và chân thật nhất Đổi mới về không gian nghệ thuật là một trong những cách tân của văn xuôi đương đại Việt Nam

1.2.2.2 Thời gian nghệ thuật

Cùng với không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật chính là nơi phản ánh

sự cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kì lịch sử, từng gian đoạn phát triển Đồng thời, nó cũng thể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới

Văn xuôi Việt Nam trong thời kì đổi mới đã có những bước phát triển trong

sự cách tân đổi mới cả về nội dung và nghệ thuật Cũng giống như không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật cũng có những vận động trong cách tái tạo của nhà văn

Có thể nhận thấy, văn xuôi giai đoạn trước năm 1975 do hoàn cảnh lịch sử gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ lợi ích dân tộc được đặt lên hàng đầu Văn học nói chung và văn xuôi giai đoạn này nói riêng đã trở thành vũ khí chiến đấu tiên phong nhằm động viên khích lệ quần chúng nhân dân hăng say vào

sự nghiệp đấu tranh giành độc lập cho dân tộc Vậy nên, nó cũng ảnh hưởng trực

Trang 27

tiếp tới việc xây dựng thời gian nghệ thuật trong văn xuôi giai đoạn này Có thể nhận thấy, thời gian nghệ thuật trong văn xuôi giai đoạn này chủ yếu là thời gian mang tính sử thi, thời gian lịch sử, thời gian gắn liền với các sự kiện lịch sử, gắn với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, phản ánh những bước đi của đất nước Tuy nhiên, văn xuôi sau năm 1975 cùng với sự đổi thay của lịch sử, đất nước

từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, thị hiếu thẩm mĩ của bạn đọc ngày một cao, cuộc sống không còn nhìn nhận một cách đơn giản một chiều nữa mà bộc lộ rất nhiều những phức tạp bên trong Con người cá nhân được đề cao Các nhà văn bắt đầu đào sâu nghiên cứu vào thế giới riêng tư đó của con người Cùng với đó, trong văn xuôi đương đại thấy có sự xuất hiện của rất nhiều kiểu thời gian khác nhau nhằm làm nổi bật nội dung tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm Đó là thời gian của sinh hoạt hàng ngày, thời gian đời tư với những lo toan cuộc sống trong các truyện

Không có vua, Sống dễ lắm, Thương nhớ đồng quê,… của Nguyễn Huy Thiệp; thời

gian gắn với những suy tư, những dòng trải nghiệm của cá nhân và bị chi phối bởi tâm

lí tình cảm của cá nhân trong Trí nhớ suy tàn của Nguyễn Bình Phương; hay đó là dòng thời gian đan xen giữa hư - thực, giữa quá khứ - hiện tại - tương lai trong Giã biệt bóng

tối của Tạ Duy Anh Hơn nữa là thời gian của cõi vô thức, tâm linh trong Thoạt kỳ thủy

của Nguyễn Bình Phương Thoạt kỳ thủy có dòng thời gian về cuộc đời của con cú,

biểu tượng sức mạnh tăm tối của cõi âm Dòng đời của nó diễn ra trong 45 phút với từng thời điểm xuất hiện song lại không biết xảy ra vào ngày, tháng năm nào Thời gian tưởng như cụ thể mà lại không xác định Hay cuộc sống ở xóm Soi lại được đo bằng thời gian sống của Tính,…

Không chỉ có vậy, thời gian trong văn xuôi đương đại lại đậm chất huyền thoại bởi yếu tố thời gian mơ hồ, bất định Điều này được thể hiện rõ nét trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp Các khoảng thời gian có dáng dấp truyện cổ

tích trong Những ngọn gió Hua Tát thiếu minh xác về thời gian để khẳng định câu chuyện mang hơi thở hiện đại Trong Tướng về hưu, khi nói về cái chết của ông

Thuấn, nhà văn đã bỏ trống thời gian Điều này gợi đến sự hi sinh của những người lính trong chiến tranh

Trang 28

Như vậy, đổi mới về thời gian nghệ thuật là một cách tân độc đáo của văn xuôi đương đại Việt Nam Nghiên cứu phạm trù thời gian nghệ thuật sẽ cung cấp một cơ sở để phân tích cấu trúc bên trong của hình tượng văn học, cũng như nghiên cứu loại hình các hiện tượng nghệ thuật trong lịch sử

1.2.3 Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu

1.2.3.1 Ngôn ngữ

Văn xuôi là ngôn ngữ, một thứ ngôn ngữ vô cùng phức tạp Cùng với kết cấu

và nhân vật, ngôn ngữ giữ một vai trò trong quá trình đổi mới tư duy văn học, sức sống cho văn xuôi Việt Nam Ngôn ngữ văn xuôi đương đại đã có những cách tân mới lạ Về vấn đề này, có nhiều ý kiến khác nhau Chẳng hạn, nhiều người đánh giá cao bước phát triển của ngôn ngữ văn xuôi hiện nay Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong lần nói chuyện với cán bộ, sinh viên khoa Ngữ văn - Đại học Sư phạm Hà Nội ngày 16 - 4 - 1994 cho rằng: “Lớp trẻ đã có ngôn ngữ mới Nguyễn Huy Thiệp là người thực sự cách tân ngôn ngữ truyện ngắn Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh cũng thế” Nhưng cũng nhiều người phản ứng, hoảng sợ, họ thấy văn Nguyễn Huy Thiệp

“dung tục”, “kinh tởm”, văn Phạm Thị Hoài là văn của người “nhìn đời Việt Nam bằng con mắt Do Thái và văn viết bằng tiếng của F Kapka” (ý kiến của tác giả

Triệu Minh về Phạm Thị Hoài trên Văn nghệ số 2 - 1996) Tiếng Việt trong sáng

nhờ được mỹ lệ hoá hay chính xác hoá, nhờ sự khu biệt hay khả năng hội nhập? Văn chương giai đoạn 1945 – 1975 mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, bởi vậy, ngôn ngữ được sử dụng cũng đậm chất trữ tình, thi vị hoặc trùng điệp đanh thép Đó là một thứ ngôn ngữ nhất quán, tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc ngữ pháp, chọn lựa kĩ lưỡng ngôn từ để đạt mục đích biểu cảm và truyền tải thông điệp cuộc sống Văn chương không dung nạp, không chấp nhận thứ ngôn ngữ thô tục, nó

là tấm thảm nhiều màu được nhà văn dệt nên từ ý tưởng sáng tạo đẹp đẽ Văn chương sau năm 1975 đã nổi rõ ý thức chối từ thứ ngôn ngữ đó Đến thế hệ các nhà văn trong thời kì đổi mới, ngôn ngữ đã thực sự trở thành đối tượng miêu tả của văn chương Khi văn xuôi tiếp cận đời sống ở cự ly gần chứ không phải qua một “khoảng cách sử thi tuyệt đối” (M Bakhtin) với thái độ thân mật suồng sã chứ không phải tôn kính thì

Trang 29

hệ lời cũng phải thay đổi, từ thứ ngôn ngữ trang trọng, chuẩn mực chuyển sang thứ ngôn ngữ đời thường, đậm tính khẩu ngữ, thông tục, triết luận

Nói về sự đổi mới trong ngôn ngữ văn xuôi đương đại, tác giả Phùng Gia

Thế trong bài viết Tính chất cac-na-van trong ngôn ngữ văn xuôi đương đại đã chỉ

ra những biểu hiện cách tân của ngôn ngữ trên ba bình diện cơ bản: Sự thông tục hoá phi thẩm mĩ ngôn từ; sự bành trướng của cái biểu đạt; sự hỗn loạn của diễn ngôn Sự cách tân của ngôn ngữ trên các bình diện này được thể hiện rõ nét trong

các tác phẩm của Chảy đi sông ơi, Trương Chi, Tướng về hưu, của Nguyễn Huy Thiệp; Thoạt kì thủy, Ngồi, Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương; Giã biệt bóng

tối, Lão khổ, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh; Đò ơi của Nguyễn Quang Lập, Một chút chắn tàu của Nguyễn Thị Mai, Bảy ngày trong đời, Minu xinh đẹp của Nguyễn

Thị Thu Huệ; Các công trình nghiên cứu về văn xuôi sau năm 1975 của các tác giả Nguyễn Thị Bình, Mai Hải Oanh, Phạm Quốc Ca cũng đã chỉ ra hướng đổi mới của văn chương đương đại nước ta như ngôn ngữ đậm chất hiện thực đời thường, ngôn ngữ tăng cường thông tin và tính triết luận với sự đa dạng về giọng điệu triết

lí, hài hước, châm biếm, giễu nhại Ngôn ngữ văn xuôi còn có đặc điểm thẩm thấu hòa trộn các thể loại khác nhau Ngoài ra, ngôn ngữ đương đại còn mang tính mơ hồ bất định trong tính sinh hoạt và tính đa thanh

Cùng với hình thức đã có nhiều thay đổi, ngôn ngữ của văn học ngày nay linh hoạt, sinh động và giàu chất đời thường Ba chục năm qua, nhìn lại ngôn ngữ của văn học nói chung, văn xuôi nói riêng đã hiện diện qua “các cuộc thí nghiệm”

Đã là thí nghiệm không tránh khỏi phiêu lưu Tuy nhiên, cùng với thời gian và độ chín của các tài năng, ngôn ngữ của truyện ngắn đã và đang đạt đến độ ngưng kết mới

1.2.3.2 Giọng điệu

Văn chương trước năm 1975, do đặc điểm hoàn cảnh lịch sử đất nước đang phải gồng mình chống hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ nên văn học thời kì này là một nền văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu Văn học phải phản ánh một cách trung thực các sự kiện, chính trị của đất nước Vậy nên, phần lớn các sáng tác văn xuôi thời kì này đều hướng tới góp phần khích lệ, cổ vũ, động viên

Trang 30

quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh giành độc lập cho dân tộc Do đó, giọng điệu bao trùm các sáng tác văn xuôi thời kì này là một giọng nhất quán: giọng khẳng định, ngợi ca, giọng điệu mang tính sử thi, hào hùng mang âm hưởng anh hùng ca Nó thể hiện một cái nhìn tin tưởng, lạc quan trước niềm tin tất thắng của dân tộc

Hòa bình lập lại, đất nước bước sang một trang sử mới, tất yếu văn học cũng

có những bước chuyển mình Đời sống xã hội đổi mới, bức tranh hiện thực đã đổi thay hết sức phong phú muôn màu muôn vẻ đan xen cả tích cực và hạn chế, nền văn học bắt đầu có sự dịch chuyển Văn học Viêt Nam có sự thay đổi căn bản về giọng điệu Văn học không còn giữ riêng giọng đơn âm mà trở thành giọng đa âm, phức hợp Sau năm 1975, ý thức cá nhân vươn cao nhu cầu bộc lộ cá tính của mình qua văn chương ngày càng mạnh mẽ Giọng điệu là yếu tố cơ bản làm nên cái tôi rõ rệt của người nghệ sĩ, Nó được biểu hiện bằng những cảm thụ đời sống khác nhau phát triển phong phú trên tinh thần dân chủ hóa Bên cạnh giọng tự tin, tự hào xuất hiện giọng hoài nghi theo kiểu “luôn luôn có sự nhận thức lại, đánh giá lại mọi thứ” (M Bakhtin)

Ở giai đoạn này, ý thức cá nhân lên ngôi, cái công thức, nhàm tẻ, đơn điệu bị chế giễu, bị coi là thiếu thẩm mỹ Chính vì thế rất dễ nhận ra giọng chế giễu dành cho những gì phi cá tính như: “Chúng mình không biết hôn một cách chuyên nghiệp Chúng ta chẳng có gì giống thế, nếu cần nói về em, tôi luôn chỉ biết em

không như thế nào (Phạm Thị Hoài - Man Nương) Bên cạnh đó, còn có giọng hoài nghi chứa đựng nỗi đau nhân bản và niềm khao khát cái đẹp như trong Heo may gió

lộng của Ma Văn Kháng, Con gái thủy thần của Nguyễn Huy Thiệp,…

Như thể bổ sung cho giọng điệu hoài nghi là giọng chất vấn đay đả Giọng này thường đi với lối hành văn nửa nghiêm túc nửa đùa cợt mỉa mai, nhấn mạnh vào phần định ngữ mở rộng hay mệnh đề phụ của câu, hoặc đi với những so sánh liên tưởng tạt ngang có tính cường điệu hay cực tả Có thể thấy điều đó trong các

tác phẩm Đất xóm chùa của Đoàn Lê, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn

Kháng, Mặt khác, hứng thú nghiên cứu đời sống và trải nghiệm cá nhân cùng thái

độ tự tin về mình là giọng điệu từng trải, lọc lõi Điều này được thể hiện trong nhiều

Trang 31

truyện như Con chó và vụ li hôn của Dạ Ngân, Cát bụi chân ai của Tô Hoài, Phở của Nguyễn Tuân,

Nhìn chung, với sự đổi mới trong giọng điệu, các nhà văn đương đại đã tạo ra bước vận động, chuyển mình cho văn xuôi phát triển Đồng thời, với những sáng tạo trên, nó đã góp phần khẳng định cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn

Tóm lại, những đổi mới trong cấu trúc thế giới nghệ thuật văn xuôi đương đại là một bước chuyển mạnh mẽ của văn học Việt Nam Văn xuôi đương đại đã vượt qua những quan niệm nghệ thuật truyền thống để bước đến những cách tân mới lạ, độc đáo, táo bạo về tư duy cũng như phương thức nghệ thuật thể hiện Qua

sự tìm hiểu trên, có thể khẳng định, văn xuôi đương đại là một cuộc cách tân nghệ thuật đưa văn học lên một tầm cao mới Hơn thế nữa, sự cách tân trong cấu trúc thế giới nghệ thuật văn xuôi đương đại còn thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật, tài năng cũng như cá tính của các nhà văn theo các khuynh hướng văn học khác nhau

Trang 32

CHƯƠNG 2

ĐẶC TÍNH BẤT KHẢ TÍN, HÀM HỒ TRONG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

Tính bất khả tín, hàm hồ, hiểu theo nghĩa rộng, là thuộc tính đặc trưng của văn học, bắt nguồn từ bản chất của ngôn từ, đặc điểm của tư duy hình tượng và khả năng nhận thức, biểu đạt của nhà văn Trong thế giới nghệ thuật văn xuôi Việt Nam đương đại, tính bất khả tín, hàm hồ còn là hiện diện như một sản phẩm của ý thức chủ động, tự giác, một thủ pháp tạo nghĩa, là một hình thức thế giới quan chủ yếu trong hoạt động mô hình hóa thế giới Bất khả tín, hàm hồ, do đó, trở thành một hiện dạng tiêu biểu của thế giới giải thiêng, một mô hình thế giới đặc thù trong văn xuôi đương đại Tính bất khả tín, hàm hồ phản ánh những chuyển dịch trong cái nhìn, ý thức của nhà văn về đối tượng, chủ thể, bạn đọc và bản thân văn học Qua sự khảo sát bước đầu, chúng tôi nhận thấy, tính bất khả tín, hàm hồ trong thế giới nghệ thuât văn xuôi đương đại biểu hiện qua các bình diện sau đây:

1.1 Người trần thuật không đáng tin

Người trần thuật là một dạng hình tượng do tác giả hư cấu, sáng tạo nên, là người đại diện phát ngôn cho tác giả trong tác phẩm tự sự Trong tác phẩm tự sự, người trần thuật là yếu tố giữ vai trò trung tâm trong số các yếu tố trong cấu trúc văn bản Người kể chuyện chính là cây cầu nối dẫn dắt người đọc đến với tác phẩm,

vì vậy giữa người kể chuyện với người đọc bao giờ cũng có những mối quan hệ nhất định Nếu trong văn học trước đây, chúng ta thường thấy giữa người kể chuyện

và người đọc có mối quan hệ một chiều thì trong văn xuôi đương đại, người kể chuyện có vị trí ngang bằng với độc giả, cả hai bình đẳng với nhau cả về sự hiểu biết, độ từng trải Quan hệ giữa người kể chuyện và người đọc là quan hệ hai chiều, tương tác Người kể chuyện không coi nhiệm vụ chính là dạy dỗ, bảo ban người đọc, anh ta chỉ thay người đọc chọn lấy một trong nhiều cách có thể đưa ra để giải quyết câu chuyện Trong kiểu quan hệ này, việc người đọc có ý kiến khác, thậm chí

Trang 33

trái ngược với người kể chuyện là điều đã được tác giả tiên liệu từ trước Người kể chuyện chỉ là người gợi mở để người đọc tham gia vào cuộc đối thoại, vì vậy, người đọc có thể nói lên tiếng nói của mình, dù đó là tiếng nói đồng tình hay phản đối Nếu trong quan hệ một chiều giữa người kể chuyện và độc giả của truyện ngắn truyền thống, người kể chuyện luôn phải tạo ra được một thứ lực hấp dẫn lôi cuốn người đọc theo sự khám phá, và cách đánh giá của mình để cuối cùng họ bị thuyết phục, đi tới một sự nhất trí hoàn toàn với mình thì ở kiểu quan hệ hai chiều của văn xuôi đương đại, người kể chuyện luôn gợi mở ra những vấn đề trong cuộc sống, đòi hỏi người đọc, bằng tất cả hiểu biết, kinh nghiệm, sự từng trải của mình đưa ra một cách đánh giá riêng, một cách giải quyết riêng đối với những vấn đề đó Chính kiểu quan hệ này dẫn đến những thay đổi quan trọng trong điểm nhìn trần thuật, trong giọng điệu của người kể chuyện và cả trong sự xác tín của lời người kể chuyện, Tất cả những điểm khác biệt đó tạo ra một hình tượng người kể chuyện độc đáo, mới mẻ, khác lạ trong văn xuôi đương đại

Thông thường, với tư cách giữ vai trò “môi giới” giữa câu chuyện với độc

giả, người kể chuyện phải là người nắm rõ câu chuyện hơn ai hết Truyện ngắn Một

bữa no của Nam Cao kể về một bà lão bị đói khát hành hạ lâu ngày Suy nghĩ, tính

toán mãi, cùng đường bà quyết định tìm đến nhà bà phó Thụ - nơi đứa cháu đang ở

đợ Sau khi được ăn một bữa no, trở về nhà, bà đã bội thực mà chết trong vật vã,

đau đớn Bà lão loà trong truyện ngắn Bà lão loà của Vũ Trọng Phụng, sau khi bị

vợ chồng đứa cháu họ cố tình bỏ quên ngoài đường đê trong cơn mưa giông đã bị gió thổi bay xuống ruộng, thân xác bà cuối cùng trở thành mồi cho lũ quạ Sở dĩ, có kết cục bi thảm này là vì đã từ lâu bà lão lòa trở thành món nợ đè nặng thêm đôi vai mòn yếu của hai vợ chồng bác đánh giậm Trong những câu chuyện như thế, người đọc có thể biết rất rõ về diễn biến cũng như kết thúc của câu chuyện Song, trong nhiều tác phẩm văn xuôi đương đại, điều này lại không xảy ra Người đọc không biết được kết thúc câu chuyện, thậm chí có khi chính người kể chuyện cũng không biết câu chuyện cuối cùng được kết thúc như thế nào Vì vậy, những gì anh ta kể có khi không chiếm được sự tin cậy hoàn toàn từ phía người đọc Người trần thuật

Ngày đăng: 30/11/2015, 21:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (2004), Thiên thần sám hối, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên thần sám hối
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2004
2. Tạ Duy Anh (2010), Giã biệt bóng tối, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giã biệt bóng tối
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2010
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 1999
4. M. Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phan Vĩnh Cư dịch), Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2003
5. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2012
6. Nam Cao (2004), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2004
7. Nguyễn Minh Châu (1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” (2 kỳ), Báo Văn Nghệ (số 59, 60) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” (2 kỳ), Báo "Văn Nghệ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
8. Hà Minh Đức (chủ biên) (1987), Lí luận văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1987
9. Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà (đồng chủ biên) (2007), Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Hội Nhà văn
Năm: 2007
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2004
11. Phùng Minh Hiến (2007), Tác phẩm văn chương, một sinh thể nghệ thuật, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn chương, một sinh thể nghệ thuật
Tác giả: Phùng Minh Hiến
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2007
12. Nguyễn Thái Hòa (2006), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2006
13. Phạm Thị Hoài (1988), “Thiên sứ”, Tạp chí Tác phẩm mới số 7, tr. 88 - 164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên sứ
Tác giả: Phạm Thị Hoài
Nhà XB: Tạp chí Tác phẩm mới
Năm: 1988
14. M.B. Khrapchenkô (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn văn và sự phát triển của văn học, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cá tính sáng tạo của nhà văn văn và sự phát triển của văn học
Tác giả: M.B. Khrapchenkô
Nhà XB: Nxb. Tác phẩm mới
Năm: 1978
15. Cao Kim Lan (2006), “Lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại”, http://www.vienvanhoc.org.vn/reader/?id=55&menu=106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại
Tác giả: Cao Kim Lan
Năm: 2006
16. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (đồng chủ biên) (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2006
17. Phương Lựu (chủ biên) (2004), Lí luận văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2004
18. Phương Lựu (chủ biên) (2007), Lí luận văn học (tập 1, tập 3), Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học (tập 1, tập 3)
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2007
20. Bảo Ninh (2005), Nỗi buồn chiến tranh, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi buồn chiến tranh
Tác giả: Bảo Ninh
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2005
21. Phạm Xuân Nguyên (sưu tầm và biên soạn) (2001), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Phạm Xuân Nguyên
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 2001

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w