Từ 1945 - 1948, Tỉnh uỷ Nghệ An đã lãnh đạo việc thực hiện nhữngcải cách dân chủ:giảm tô,chia lại công điền cho nông dân.Tuy nhiên trongtriển khai bớc đầu gặp không ít khó khăn,lúng túng
Trang 1Mục lục
Trang
Lời cảm ơn 2 A.Mở đầu 3 B.Nội dung
Chơng 1.Khái quát tình hình ruộng đất Nghệ An trớc Cách 10 mạng tháng Tám
1.1.Điều kiện tự nhiên,dân c và lịch sử Nghệ An 101.2.Khái quát tình hình ruộng đất Nghệ An trớc Cách mạng 18tháng Tám
Chơng 2.Từ giảm tô,giảm tức đến cải cách ruộng đất ở Nghệ An 29 (tháng 9/1945-1957)
2.1.Nghệ An bớc đầu thực hiện chính sách ruộng đất(9/1945-1952) 292.2.Nghệ An thực hiện giảm tô,giảm tức(1953-1954) 382.3.Nghệ An thực hiện cải cách ruộng đất(1955-1956) 462.4.Nghệ An thực hiện sửa sai,hoàn thành cải cách ruộng đất 54(1956-1957)
Chơng 3.Kết quả phong trào giảm tô,giảm tức và cải cách ruộng 67
đất ở Nghệ An.Một số bài học kinh nghiệm
3.1.Kết quả của phong trào giảm tô,giảm tức và cải cách ruộng 67
Lời cảm ơn
Thực hiện đề tài này,tôi xin chân thành cảm ơn các tập thể:Th viện ờng Đại học Vinh,th viện tỉnh Nghệ An,phòng Lu trữ UBND tỉnh Nghệ An,lu trữ Tỉnh uỷ Nghệ An và các cá nhân đã giúp đỡ tôi su tầm,xác minh t liệu đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học.
Trang 2Đặc biệt,xin đợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến TS.Trần Văn Thức đã nhiệt tình hớng dẫn,giúp đỡ,động viên bản thân tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này.Tuy nhiên chắc rằng khoá luận sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót,rất mong nhận đợc sự hậu thuẫn từ HĐKH,tập thể CBGD khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh.
Nhân dịp này tôi cũng xin trân trọng cảm ơn BCN,CBGD khoa Lịch sử
Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập,rèn luyện,tu dỡng tại khoa và Nhà trờng.
Vinh,tháng 5 năm 2009
Tác giả
A mở đầu 1.Lý do chọn đề tài:
1.1.Ruộng đất là t liệu sản xuất hết sức quan trọng của nền kinh tế sản xuất
nông nghiệp.Bất kì một nớc nào muốn phát triển nông nghiệp đều phải quantâm đến vấn đề ruộng đất với những mức độ khác nhau
Việt Nam là một nớc nông nghiệp với trên 80% dân số sống bằng nghềnông.Từ buổi đầu sơ khai các c dân nông nghiệp đã quan tâm đến việc bảo
vệ đất đai khỏi sự xâm hại của các làng khác.Trong suốt quá trình pháttriển,kể từ khi nớc ta bớc sang thời kì phong kiến độc lập tự chủ,các vơngtriều phong kiến đã rất chú trọng đến vấn đề ruộng đất,một phần là để pháttriển sản xuất,nuôi bộ máy quan lại nhng quan trọng hơn là nhằm đảm bảo
Trang 3sự ổn định xã hội.Điều này có nghĩa ruộng đất cũng liên quan đến sự sốngcòn của vơng triều.
Khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên nớc ta,chúng đã cấu kết với giai cấpphong kiến chiếm đoạt đất đai phục vụ mục đích khai thác.Ngời nông dânViệt Nam bị cớp đoạt ruộng đất không có điều kiện sinh sống và sản xuất đã
bị đẩy vào bớc đờng bần cùng hoá.Họ trở thành nguồn nhân công rẻ mạttrong các đồn điền,hầm mỏ của thực dân Pháp.Hơn bao giờ hết khát vọng cómảnh đất sinh cơ lập nghiệp gắn liền với khát vọng độc lập trở nên bức thiết
đối với ngời nông dân Việt Nam
1.2.Ngày 3/2/1930 Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời nhằm đem lại những
quyền lợi chính đáng cho giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nôngdân Trong cơng lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã đề ra nhiệm vụ của cáchmạng Việt nam là"T sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cáchmệnh".Nhiệm vụ phản đế đợc giơng cao nhằm giải phóng đất nớc và bảo vệ
độc lập dân tộc, nhiệm vụ phản phong đợc thực hiện ở mức độ nhất định ờng lối đúng đắn đó đã tập hợp đợc đông đảo quần chúng nhân dân lao độnglàm nên sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945
Đ-Cách mạng tháng Tám thành công, nhà nớc Việt Nam dân chủ cộnghoà từng bớc thực hiện khẩu hiệu"Ngời cày có ruộng"nh giảm tô, giảm tức,tạm cấp ruộng đất vắng chủ cho nông dân Những biện pháp đó đã tạo đợcniềm tin,sự phấn khởi cho nông dân, huy động đợc nông dân đóng góp sứcngời, sức của cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Tháng 12/1953, Luật cải cách ruộng đất đợc thông qua và thực hiện ởtoàn miền Bắc nhằm củng cố sức dân tập trung cho cuộc kháng chiến Saukhi hoà bình lập lại, công cuộc cải cách ruộng đất đợc tiếp tục nhằm thựchiện triệt để khẩu hiệu"Ngời cày có ruộng".Đến năm 1957, công cuộc cảicách ruộng đất hoàn thành với những thắng lợi cơ bản Ngời nông dân đã xáclập vai trò làm chủ cả về kinh tế và chính trị, ớc mơ ngàn đời của họ là córuộng đất đã trở thành hiện thực
1.3.Trong lịch sử chống ngoại xâm nói chung cũng nh trong kháng chiến
chống thực dân Pháp, Nghệ An luôn giữ vai trò là hậu phơng lớn Việc thựchiện phong trào giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất đã đem lại một sốthắng lợi nhất định.Nghệ An bắt đầu thực hiện cải cách ruộng đất từ đợt thứIII Mặc dù có vấp phải nhiều sai lầm, hạn chế nhng kết quả của công cuộccải cách ruộng đất đã làm cho ngời nông dân thực hiện đợc ớc mơ ngàn đờicủa họ là có mảnh đất để sinh cơ lập nghiệp Bộ mặt nông thôn ở Nghệ An
Trang 4đã có sự thay đổi một cách căn bản Chính từ kết quả của phong trào mà
ng-ời dân Nghệ An đã tích cực đóng góp tài lực và vật lực cho cuộc khángchiến
Nh vậy, Nghệ An là một trong những tỉnh ở miền Bắc đã thực hiệnchủ trơng của Đảng tiến hành cải cách ruộng đất từ sau cách mạng thángTám năm 1945.Hiệu quả của việc thực thi dù còn ít ỏi nhng nó đã góp phầnquan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, đặc biệt làtrong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954
Nghiên cứu quá trình thực thi cải cách ruộng đất ở Nghệ An sau cáchmạng tháng Tám năm 1945 đến 1957 ta sẽ hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa giảiquyết vấn đề dân tộc và dân chủ ở nớc ta Qua đó ta sẽ rút ra đợc những bàihọc kinh nghiệm quí báu,đóng góp thiết thực vào sự đổi mới nông thôn hiệnnay trong phạm vi tỉnh Nghệ An cũng nh trong cả nớc
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam đã đợcnhiều học giả nghiên cứu Có thể kể đến các tác phẩm nh :"Vấn đề dân cày"của Qua Ninh và Vân Đình; " Nông dân và nông thôn trong lich sử ViệtNam" tập 1 và tập 2 của Viện sử học;"Phác qua tình hình ruộng đất và nôngdân trớc Cách mạng tháng Tám " của Nguyễn Kiên Giang
ở những tác phẩm trên các tác giả đã phản ánh tình trạng thiếu ruộng cày
và gánh nặng su thuế mà ngời nông dân phải gánh chịu
Tác giả Qua Ninh và Vân Đình trong "Vấn đề dân cày" đã phản ánh khá
cụ thể tình hình của ngời nông dân Việt Nam trớc Cách mạng tháng Támtrên cả ba miền với tình trạng thiếu ruộng đất canh tác do nạn kiêm tinhruộng đất của bọn phong kiến và thực dân,tình trạng bóc lột tô cao, thuếnặng, tình trạng cho vay nặng lãi và hối lộ, bên cạnh đó thiên tai gây lũlụt,hạn hán cũng làm cho tình cảnh ngời nông dân thêm khốn đốn
"Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam"của tập thể tác giả ở Viện kinh tế
do Trần Phơng chủ biên là công trình nghiên cứu tơng đối công phu về cuộccách mạng phản phong ở nớc ta Các tác giả cũng đã phác hoạ một cách cơbản tình trạng ruộng đất ở nớc ta trớc năm 1945, trong đó tập trung làm rõtình trạng thiếu ruộng của ngời nông dân, tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu
về quá trình thực hiện chính sách ruộng đất của nhà nớc ở các tỉnh miền Bắc
từ năm 1945 cho đến hết cải cách ruộng đất và sửa sai, cũng nh chính sáchruộng đất ở miền núi và ở miền Nam Các tác giả đã đánh giá một cách
Trang 5khách quan thành quả, hạn chế cũng nh rút ra một số bài học kinh nghiệm từquá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở nớc ta.
Tác phẩm"Đánh giá cho đúng những thắng lợi của nhiệm vụ phảnphong và những sai lầm trong cải cách ruộng đất" của Văn Phong đã đánhgiá một cách khái quát thành quả cũng nh hạn chế của cải cách ruộng đất.Bên cạnh đó còn có bài nghiên cứu đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử củaVăn Tạo"Cải cách ruộng đất- thành quả và sai lầm" và hàng loạt các bài viếtkhác bàn về thắng lợi và sai lầm của cải cách ruộng đất
Nghiên cứu về tình hình ruộng đất và đời sống của ngời nông dân ởNghệ An hiện nay còn rất ít và chỉ có thể thấy đôi nét sơ lợc trong một số tácphẩm nh "Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống của ngời nông dân trớccách mạng tháng Tám" của tác giả Nguyễn Kiên Giang
Quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Nghệ An từ sau 1945 đếnhết sửa sai chỉ mới đợc trình bày sơ lợc trong các tác phẩm "Lịch sử Đảng bộNghệ An" tập 1 (1930-1954); tập 2 (1954-1975) của Đảng bộ Nghệ An;cácvăn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An và lịch sử Đảng bộ các huyện Cáctác phẩm này cũng chỉ mới đề cập đến thời gian, phạm vi và kết quả mộtcách khái quát của việc thi hành các chính sách ruộng đất
Nh vậy, cho đến nay cha có công trình nào nghiên cứu một cách cụthể,có hệ thống về quá trình thực hiện chính sách ruộng đất ở Nghệ An từ
1945 đến 1957 Chúng tôi thực hiện đề tài"Phong trào giảm tô, giảm tức đếncải cách ruộng đất ở Nghệ An từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến1957"trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên và cốgắng đóng góp một số kết quả nghiên cứu mới nhằm làm rõ một nội dung
lịch sử quan trọng trong lịch sử nớc ta cũng nh lịch sử tỉnh Nghệ An
3.Đối tợng,nhiệm vụ,phạm vi nghiên cứu.
+ Mức độ sở hữu cũng nh phơng thức sử dụng ruộng đất của các đối ợng sở hữu ở nông thôn Nghệ An trớc cách mạng tháng Tám
Trang 6t-+ Sự thay đổi mức độ sở hữu ruộng đất của các đối tợng sở hữu ở nôngthôn Nghệ An do chính sách ruộng đất đem lại.
+Sự chuyển biến của đời sống nông dân và sự thay đổi của bộ mặtnông thôn Nghệ An do hiệu quả của việc thực hiện phong trào giảm tô,giảmtức và cải cách ruộng đất
4 Đóng góp của khoá luận.
Khái quát một cách có hệ thống về phong trào giảm tô,giảm tức,đếncải cách ruộng đất ở Nghệ An từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến1957,chú trọng đến hệ quả của việc thực hiện phong trào giảm tô,giảm tức
đến cải cách ruộng đất đối với việc làm thay đổi vị thế của ngời nông dân cả
về kinh tế lẫn chính trị và làm chuyển biến tình hình nông thôn Nghệ An
Đánh giá một cách khách quan những hạn chế cũng nh rút ra nhữngbài học kinh nghiệm từ quá trình thực hiện phong trào giảm tô, giảm tức đếncải cách ruộng đất ở Nghệ An
Chúng tôi hy vọng khoá luận sẽ bổ sung vào nguồn t liệu lịch sử địaphơng,giúp cho việc giảng dạy lịch sử địa phơng ở Nghệ An đợc tốt hơn
5 Các nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.
5.1 Các nguồn t liệu.
-Các tác phẩm nghiên cứu về vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộcdân chủ ở Việt Nam, các công trình có đề cập về quá trình thực hiện chínhsách ruộng đất ở Nghệ An
-Các văn bản lu trữ bao gồm:Báo cáo, chỉ thị, hồ sơ tổng kết của Trung
Ương và Nghệ An về thực hiện phong trào giảm tô,giảm tức đến cải cách
Trang 7ruộng đất ở Nghệ An Đây là một nguồn tài liệu hết sức quan trọng Tuynhiên chúng tôi có một số khó khăn khi tiếp cận nguồn tài liệu này.Đó làviệc t liệu đợc lu giữ không đầy đủ, các số liệu không thống nhất.
6 Bố cục của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo.Nội dung chínhcủa khoá luận gồm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát tình hình ruộng đất Nghệ An trớc Cách mạng tháng Tám
1.1 Điều kiện tự nhiên,dân c và lịch sử Nghệ An.
1.2 Khái quát tình hình ruộng đất Nghệ An trớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Chơng 2:Từ giảm tô,giảm tức đến cải cách ruộng đất ở Nghệ An(tháng 9/1945 đến 1957).
2.1 Nghệ An bớc đầu thực hiện chính sách ruộng đất 1952).
(9/1945-2.1.1 Chủ trơng của Đảng
2.1.2 Nghệ An bớc đầu thực hiện chính sách ruộng đất
2.2 Nghệ An thực hiện giảm tô,giảm tức (1953 -1954).
2.2.1 Chủ trơng của Đảng
2.2.2 Nghệ An phát động quần chúng triệt để giảm tô,giảm tức
2.3 Nghệ An thực hiện cải cách ruộng đất ( 1955-1956 )
2.3.1 Chủ trơng của Đảng
2.3.2 Nghệ An thực hiện công cuộc cải cách ruộng đất
2.4 Nghệ An thực hiện sửa sai,hoàn thành cải cách ruộng đất (1956-1957).
2.4.1 Chủ trơng của Đảng
2.4.2 Nghệ An thực hiện sửa sai,hoàn thành cải cách ruộng đất
Chơng 3: kết quả phong trào giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất ở Nghệ an một số bài học kinh nghiệm.
Trang 83.1.Kết quả của phong trào giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng
trớc cách mạng tháng tám
1.1 Điều kiện tự nhiên, dân c và lịch sử Nghệ An
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.
đảo: đảo Hòn Ng và đảo Hòn Mắt
Diện tích tự nhiên của tỉnh Nghệ An là 16370km2 Địa hình phong phú
và đa dạng.Núi và đồi trung du là dạng địa hình chiếm hơn 2/3 diện tích đất
đai của tỉnh"không chỉ các huyện miền núi mà các huyện đồng bằng, ven
Trang 9biển đều có đồi núi xen kẽ, tuy có làm cho đồng bằng bị chia cắt, nhng đã
tạo thế nông lâm kết hợp và cảnh quan đẹp mắt"[1,10] Do cấu tạo của địa
hình nh thế nên đất đai trồng trọt cũng hết sức phong phú, nhất là vùng đất
đỏ bagian ở vùng Phủ Quỳ.Thời Pháp thuộc ngời Pháp xem vùng đất này làloại đất tốt nhất ở Đông Dơng,rất thích hợp cho việc trồng các loại cây côngnghiệp nh cà phê, cao su, trẩu,cây ăn quả nhiệt đới Đất phù sa vensông,ven biển trung du,đồng bằng với độ phì nhiêu màu mỡ rất có điều kiệnthâm canh cây lơng thực,nhất là cây lúa.Đặc biệt,các huyện Yên Thành,Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lu, Hng Nguyên, Nam Đàn là những vựa lúa
1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên.
Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa,ở khoảng trung giangiữa hai miền khí hậu miền Bắc và miền Trung của Việt Nam.Với đặc điểm
địa hình dốc,nhiều đồi núi,cấu tạo tự nhiên phức tạp đã tạo nên những đặc
điểm riêng của khí hậu tỉnh Nghệ An
Có thể nói rằng,khí hậu ở Nghệ An vô cùng khắc nghiệt nhng nhờ cónhiệt lợng và lợng ma dồi dào cùng với cấu tạo của địa hình nên nơi đây cóthể phát triển nông nghiệp mà đặc thù của nó là các loại cây công nghiệp.Khác với các tỉnh khác ở Trung bộ, dãy Trờng Sơn ở Nghệ An mọc
xa bờ biển nên sông ngòi có phần dài hơn ở nơi khác và các sông tự nhiên
đều chảy theo hớng Tây-Đông.Sông lớn nhất ở Nghệ An là sông Lam ( tứcsông Cả),dài 523 km với 151 nhánh lớn nhỏ Sông Lam cũng là con sônglớn nhất ở Trung bộ(dài gấp rỡi sông Chu và sông Mã ở Thanh Hoá)
Các phụ lu ở tả ngạn là sông Con (một phần là sông Hiếu), sông ờng.Các phụ lu ở hữu ngạn là sông Giăng,sông Trai,sông Rộ,sông BíchTriều
L-Các sông nhỏ là sông Hoàng Mai, sông Hậu, sông Giát ở Quỳnh Lu,sông Bùng ở Diễn Châu, sông Cấm ở Nghi Lộc
Trang 10Ngoài sông tự nhiên,còn có hệ thống kênh đào nối các sông với nhauchạy theo hớng Bắc-Nam gọi là kênh Nhà Lê Hệ thống sông ngòi trong tỉnh
có giá trị đối với hoạt động dân sinh và quốc phòng
Vùng đồi núi của Nghệ An chia thành các tiểu vùng khác nhau:Vùngthợng lu sông Lam và những huyện miền núi nh Quế Phong,Con Cuông, T-
ơng Dơng,Kỳ Sơn,Quỳ Châu có nhiều rừng nguyên sinh rậm rạp.Trong đó
có hầu hết các loại động thực vật của vùng nhiệt đới và cận ôn đới.Lâm sản
có nhiều và quý hiếm,mỗi loại có tới hàng nghìn héc ta.Trong rừng còn cónhiều loại dợc liệu quý hiếm nh trầm hơng,sa nhân,cánh kiến,nhựathông,mật ong.ở những khu rừng nguyên sinh nh Pù Mát, Pù Hoạt có cácloại thú vô cùng quý hiếm nh voi, hổ, báo, mang lớn, gấu, ngựa, cầy vằn, saola có hàng chục loại đợc ghi vào sách đỏ của quốc tế
Từ vùng cao đồi núi thấp dần xuống là vùng trung du trải rộng ra cácphủ huyện Quỳ Châu,Nghĩa Đàn,Anh Sơn,Thanh Chơng.Nơi đây,đất đaimàu mỡ,có hệ thống sông ngòi phong phú rất thuận lợi cho việc phát triểncây công nghiệp ngắn và dài ngày,cây ăn quả và chăn nuôi gia súc,đại giasúc
Trong lòng đất chứa nhiều khoáng sản kim loại nh vàng, thiếc, chì,kẽm, mănggan;về khoáng sản phi kim loại có các loại đất sét làm gạch ngói,
đá hoa, đá vôi Đặc biệt ở Quỳ Châu có nhiều mỏ đá quý, trong đó chủyếu là hồng ngọc,đá trắng,đá đen
Với những tiềm năng đó, vùng trung du miền núi không chỉ là khu vựctrọng yếu về an ninh quốc phòng mà còn có điều kiện phát triển kinh tế vớiquy mô lớn
Vùng đồng bằng của Nghệ An toàn là phù sa của các sông lớn trongtỉnh bồi mà thành.Với diện tích rộng lớn, chủ yếu là đồi núi, bên cạnh u thếphát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm,vùng
đồng bằng còn có lợi thế để phát triển cây lơng thực nh:lúa và các loại hoamàu, phát triển công nghiệp dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp
Bờ biển Nghệ An dài hơn 90 km có nhiều cửa lạch Gần các cửa biển
có nhiều sinh vật phù du, tạo cho các đàn tôm,cá quần tụ và sinh trởng Biển
có nhiều tài nguyên khoáng sản.Ven các cửa lạch có nhiều bãi đầm phá cóthể khai phá làm các đầm nuôi tôm cua nớc mặn.Trữ lợng các loại hải sảnrất lớn nhng hàng năm mới đánh bắt đợc số lợng không nhiều,do thiếu ph-
ơng tiện ng cụ.Nơi đây có những bãi biển đẹp nổi tiếng nh Cửa Lò, Diễn
Trang 11Thành hấp dẫn khách du lịch trong nớc và nớc ngoài,đủ các điều kiện đểphát triển ngành du lịch biển.
Với sự đa dạng của tự nhiên, Nghệ An nh là hình ảnh thu nhỏ của ViệtNam Đất đai màu mỡ, cây trồng phong phú, nhiều loại lâm, hải sản có trữ l-ợng lớn, lại có nhiều mỏ khoáng sản quý,địa thế tiếp giáp với nhiều tỉnhtrong nớc và quốc tế.Nghệ An có đủ điều kiện để phát triển kinh tế trên mọilĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, ng nghiệp và chăn nuôi gia súc lớn,dulịch,kinh tế đối ngoại
Nghệ An là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống nhng nhiều nhất là ba dântộc:Việt, Thái, Mờng.Ngoài ra trên đất Nghệ An còn có một số dân tộc ngờikhác sinh sống nh ngời Khơ Mú,Hmông,Đan Lai,Thổ
Ngoài các tộc ngời c trú lâu đời trên đất Nghệ An,nơi đây còn tiếpnhận nhiều c dân của các tỉnh phía Bắc di c vào,phía Nam di c ra,phía Lào di
c sang.Bên cạnh đó ở Nghệ An còn có các kiều dân ngời Trung Hoa, NhậtBản,ấn Độ,làm các nghề kinh doanh dịch vụ.Thời thuộc Pháp, ngời Pháp ởtrong tỉnh cũng cần phải kể đến trong dân số của Nghệ An
1.1.3 Truyền thống văn hoá và lịch sử.
1.1.3.1 Truyền thống văn hoá.
Trên mảnh đất xứ Nghệ, cách đây hàng vạn năm đã có ngời vợn c trú.Ngời nguyên thuỷ đã nhờ lao động mà tiến triển từ văn hoá này sang nền vănhoá khác tiến bộ hơn.Từ thời văn hoá Đông Sơn - thời đại các vua Hùngdựng nớc Văn Lang, ngời Việt cổ đã phát triển nghề trồng trọt, chăn nuôi,làm đồ gốm, luyện sắt, đúc đồng Những trống đồng Hêgi loại I đợc pháthiện rất nhiều tại làng Vạc thuộc huyện Nghĩa Đàn, 6 lò luyện sắt đợc pháthiện tại di chỉ Mỏm thuộc xã Diễn Thọ,huyện Diễn Châu chứng tỏ trình độ
điêu luyện của các nghệ nhân thời kì này
Trang 12Bên cạnh đó, bao đời nay nông nghiệp là nghề chính của c dân ở đây.Dân miền núi khai thác rừng,dân miền biển có nghề chài lới và làm muối.Ngoài ra ngời dân ở đây còn có nhiều ngành nghề truyền thống nổi tiếng từlâu nh:rèn sắt ở Nho Lâm, đúc đồng ở Diễn Tháp, nớc mắm Vạn Phần, nuôitằm ơm tơ dệt lụa ở Quỳnh Lu, Nam Đàn, Diễn Châu, Đô Lơng ,đồ gốm ởTrù ú ( Đô Lơng), Chợ Bộng ( Yên Thành), chiếu cói ở Yên Lu ( Vinh) Nơi
đây có nhiều đồi núi đá vôi, ngời dân Nghệ An đã chế tác ra các vật dụngphục vụ cho sản xuất và đời sống hàng ngày
Bằng bàn tay lao động và khéo léo, đức tính cần cù, chịu thơng chịukhó và khối óc thông minh,ngời Nghệ An đã chinh phục tự nhiên làm ranhững sản vật ngon và quý nh cam Xã Đoài, cam Phủ Quỳ, hồng Nam Đàn.Không phải ngẫu nhiên mà nhân dân cả nớc mến yêu gọi Nghệ An làvùng đất"địa linh nhân kiệt".Biết bao danh nhân văn hoá đã sinh ra,lớn lên
và làm rạng rỡ mảnh đất này.Toàn tỉnh có hơn 1100 di tích lịch sử,văn hoá
đã đợc xếp hạng(trong đó có 35 di tích cấp quốc gia,5 di tích đặc biệt quýhiếm)
Tất cả đã hun đúc nên ở xứ Nghệ một nền văn hoá với nét đặc thù,độc
đáo, thể hiện tấm lòng chân chất, mộc mạc thuỷ chung sắt son của ngời dânnơi này.Nghệ An có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú,đa dạng.Nhiều truyền thuyết cổ tích đã đợc lu truyền từ đời này qua đời khác, trong
đó đa phần lên án cái ác,ca ngợi điều thiện và suy tôn các vị anh hùng dântộc Chuyện trạng xứ Nghệ phản ánh tinh thần lạc quan và tính cách hómhỉnh, thâm thuý sâu xa của ngời dân xứ này.Thơ, ca dao, tục ngữ, câu đối,mang tính hàm súc, giàu hình tợng và ngôn ngữ biểu cảm.Các làn điệu dânca,dân vũ sâu lắng, mênh mang, đậm đà chất trữ tình.Kho tàng văn hoá phivật thể của Nghệ An hết sức đặc trng
Nghệ An cũng có nhiều công trình kiến trúc cổ với kỹ thuật chạm khắctinh xảo nh đền Cờn, đền Bạch Mã, đền Chiêu Tơng, đình Hoành Sơn, đìnhTrung Cần, dấu tích của nhiều thành quách còn để lại mang ý nghĩa lịch sử
nh thành Lam( Hng Nguyên), thành Nam ( Con Cuông), thành Trãi( DiễnChâu), thành Vinh,Trà Lân.Các công trình này đều là chứng tích về nhữnganh hùng dân tộc,nhà văn hoá xứ Nghệ
Vùng đất xứ Nghệ từ xa đã chịu ảnh hởng sâu sắc của Nho giáo, vì thếtruyền thống cử nghiệp của Nho giáo đợc phát huy rất mạnh ở nơi đây Quacác kì thi hơng,thi hội, thi đình ngày xa, Nghệ An từng có thứ hạng cao vềthí sinh đậu đạt,thành danh.Nghệ An có nhiều làng học nổi tiếng trong cả n-
Trang 13ớc nh làng Quỳnh Đôi(Quỳnh Lu),làng Hoành Sơn,làng Trung Cần(Nam
Đàn) với nhiều khoa bảng nổi tiếng nh :Trạng nguyên Bạch Liêu, Hồ TôngThốc, thám hoa Nguyễn Văn Giao, Phan Thúc Trực, tiến sĩ Ngô Tú Hoà, nhàcải cách uyên bác và nổi tiếng Nguyễn Trờng Tộ Ngoài ra Nghệ An còn
có hàng trăm ngời đậu tiến sĩ,thám hoa,bảng nhãn,có nhiều bậc tài trí ludanh muôn thở.Nhiều nhà giáo trứ danh và một tầng lớp trí thức đông đảobình dân đi khắp nơi dạy học,đợc vinh danh là những ông"đồ Nghệ" Ngoàithầy đồ còn có các ông thầy thuốc hành nghề với phơng châm " nam dợc trịnam nhân ","lấy y đức,y lý,y thuật trị bệnh cứu ngời","lơng y nh từ mẫu".Bên cạnh khu du lịch thắng cảnh đẹp nh cảng Cửa Lò, hang Bua, đềnCờn, vờn quốc gia Pù Mát, Pù Hoạt, biển Diễn Thành là những di tích lịch
sử với những công trình kiến trúc lôi cuốn, làm xúc động lòng ngời nh đềnThục An Dơng Vơng, khu di tích Kim Liên ( quê hơng Chủ tịch Hồ ChíMinh kính yêu).Cùng với nhiều công trình kiến trúc kiểu phơng Tây, các nhàthờ đạo Thiên chúa giáo( nhiều nhất ở Xã Đoài thuộc huyện Nghi Lộc) là hệthống chùa, am, miếu mang dấu ấn Phật giáo rõ nét có mặt và tồn tại khắpmọi địa bàn của tỉnh
1.1.3.2 Truyền thống lịch sử.
Với những đặc điểm về địa lý,văn hoá mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng dải
đất hẹp miền Trung Nghệ An đều là chiến trờng chia cắt,nơi đụng sức quyếtliệt giữa ta và địch và là nơi cung cấp sức ngời,sức của cho các chiến tr-ờng.Từ trong những cuộc chiến đấu trờng kì,dai dẳng chống giặc ngoạixâm,mảnh đất này đã xây dựng nên một truyền thống cách mạng,truyềnthống văn hoá rất đáng tự hào
Trong hơn nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân Nghệ An đã tích cực thamgia nhiều cuộc đấu tranh chống thống trị ngoại bang, giành nền độc lập.Năm 40,cuộc khởi nghĩa hai Bà Trng nổ ra ở quận Giao Chỉ,dân ở Cửu Chân
và Nhật Nam đã hởng ứng rầm rộ Trong các cuộc khởi nghĩa của Chu Đạt ởquận Cửu Chân(156-160), khởi nghĩa Lơng Long ở Giao Chỉ vào năm 178,cuộc khởi nghĩa Bà Triệu vào năm 248,đồng bào các dân tộc ở huyện HàmHoan( đất Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) đều tích cực hởng ứng.Vào năm
542, nhân dân Nghệ An đã góp một phần công lao to lớn và xứng đángtrong cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế ( Lý Bí) Cuộc khởi nghĩa đã giúp dântộc ta giành tự chủ, lập nên vơng quốc Vạn Xuân (542-602) Sang thế kỷVIII Mai Thúc Loan lãnh đạo nhân dân Châu Hoan và Châu Diễn nổi dậychống nhà Đờng xâm lợc.Từ thành Vạn An và căn cứ Sa Nam ( Nam Đàn)
Trang 14Mai Thúc Loan cùng nghĩa quân kéo ra ái Thân(Thanh Hoá), rồi tiến quân raBắc đánh chiếm phủ Tống Bình (Hà Nội) giải phóng đất nớc,đợc nhân dântôn xng là Mai Hắc Đế vào năm 722.Các thế kỷ thứ X,XI,XII đất nớc takhông lúc nào vắng bóng ngoại xâm, cùng với nhân dân cả nớc, nhân dânNghệ An luôn là chỗ dựa tinh thần lớn lao chống giặc,góp sức vào sự nghiệpbảo vệ giang sơn của dân tộc.Đến thế kỷ XIII(1285) nhân dân Nghệ An gópphần chặn đánh một hớng tiến công của quân Nguyên- Mông khi chúnghành quân từ Nam ra Bắc,khiến cho tớng giặc Toa Đô phải bỏ vùng đất nàyrút quân ra Thanh Hoá Danh tớng Nghệ An trong cuộc kháng chiến chốngquân xâm lợc Nguyên - Mông là Hoàng Tá Thốn đã có công chặn giặc vùngven biển và có biệt tài lặn sâu đục thuyền chiến của quân giặc.Vào thế kỷXV,đất Nghệ An lại một lần nữa chứng kiến những trận đánh giữa quân ta vàquân Minh xâm lợc.Nghệ An đã trở thành căn cứ địa quan trọng của nhàHậu Lê.
Cơng quốc công Nguyễn Xí( quê ở Nghi Lộc)là dũng tớng của Lê Lợilập đợc nhiều chiến công oanh liệt và đã có vai trò quyết định trong việctrừng trị bọn phản tặc đa Lê T Thành(Lê Thánh Tông) lên làm vua, mở đầumột thời kỳ hng thịnh nhất trong lịch sử của chế độ phong kiến Việt Nam.Cuối năm 1788 của thế kỷ XVIII, khi ngời anh hùng áo vải QuangTrung Nguyễn Huệ trên đờng tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh xâm lợc đãcùng binh sĩ dừng chân tại Nghệ An để bổ sung thêm lơng thảo và quânlính.Hàng vạn ngời con của xứ Nghệ đã tham gia vào cuộc tiến quân ấy, gópphần to lớn vào các chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa (1789)
Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta, nhân dân Nghệ An ngay từ
đầu đã có thái độ kiên quyết chống Pháp, nhất là khi nhà Nguyễn tỏ ra bạcnhợc, lần lợt lấy đất đai của Tổ Quốc dâng cho giặc thì tinh thần ấy càng thểhiện rõ " quyết tâm đánh cả Nam triều lẫn Tây".Đó là vào năm 1874, cuộckhởi nghĩa vang dội chống Pháp đã nổ ra tại vùng Thanh Chơng, Nam Đàn
do hai vị chủ soái Trần Tấn và Đặng Nh Mai lãnh đạo.Tiếp đó khi phongtrào Cần Vơng dấy lên,tại phía bắc của tỉnh các cuộc khởi nghĩa do NguyễnXuân Ôn, Lê Doãn Nhã đã nổ ra vào thời gian (1885 - 1889).Suốt hơn mờinăm phong trào Cần Vơng nổ ra, nhân dân Nghệ An đã hởng ứng sôi nổi,cống hiến cả ngời và vật chất đi theo các vị chủ tớng của phong trào nh Phan
Đình Phùng, Cao Thắng từ miền Hơng Khê ( Hà Tĩnh) phát triển rộng raNghệ An.Đầu thế kỷ XX, phong trào chống Pháp vẫn sục sôi.Phong trào
Đông Du do Phan Bội Châu (quê ở Nam Đàn) khởi xớng và tổ chức đã góp
Trang 15phần dấy lên một phong trào yêu nớc trong nhân dân xứ Nghệ.Trong thời
điểm Phan Bội Châu chuẩn bị thành lập Việt Nam Quang Phục Hội thì ởNghệ An xuất hiện một ngời con u tú - Nguyễn Tất Thành - Ngời ra đi tìm
đờng cứu nớc vào năm 1911 Quá trình tìm đờng cứu nớc của Ngời đã mở ramột chân trời mới cho cách mạng Việt Nam.Từ đó, biết bao thế hệ thanhniên Việt Nam nói chung cũng nh thanh niên xứ Nghệ nói riêng, dới sự dìudắt của Ngời đã làm nên những kì tích to lớn Một trong những kì tích vĩ đại
là sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam vào năm 1930, đã lãnh đạo toàndân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại nền độc lập vào năm
1945 và thống nhất hoàn toàn Tổ Quốc vào năm 1975
Có thể thấy, trải qua bao biến động thăng trầm của lịch sử dân tộc,những lúc thịnh, suy, vinh , nhục ngời dân xứ Nghệ đã tự ý thức sâu sắc về
lẽ sống, về trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp của mình đối với Tổ Quốc,
đồng thời cũng hun đúc đợc cho mình một bản sắc riêng ngày càng rõnét.Con ngời xứ Nghệ mang đầy đủ tính cách chung của dân tộc Việt Namnhng lại có những nét đặc thù riêng Bản sắc con ngời xứ Nghệ trong tiếntrình lịch sử là:Cần, kiệm, trung dũng, khảng khái giàu tình thơng,trọng lẽphải,yêu nớc
1.2 Khái quát tình hình ruộng đất Nghệ An trớc Cách mạng tháng Tám (1945)
Khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên nớc ta, chúng chia nớc ta thành ba
xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ Nghệ An thuộc Trung Kỳ nằm dới chế độbảo hộ của thực dân Pháp
Tính đến thời điểm 1936, tỉnh Nghệ An có diện tích là 16000km2 dân
số là 746000 ngời.Ngoài thành phố Vinh là tỉnh lỵ còn có 5 phủ và 6 huyệngồm 70 tổng và 923 xã cụ thể là:Thành phố Vinh có 10 phờng, phủ HngNguyên có 6 tổng 109 xã; phủ Diễn Châu có 5 tổng 141 xã; phủ Anh Sơn có
6 tổng 113 xã; phủ Quỳ Châu có 11 tổng 39 xã; phủ Tơng Dơng có 13 tổng
24 xã; huyện Nam Đàn có 4 tổng 77 xã, huyện Thanh Chơng có 5 tổng 78xã, huyện Nghi Lộc có 79 xã, huyện Yên Thành có 5 tổng 122 xã, huyệnQuỳnh Lu có 4 tổng 82 xã, huyện Nghĩa Đàn có 6 tổng 57 xã
Chính quyền thực dân cấu kết với phong kiến bóc lột nhân dân, dùngmọi thủ đoạn chiếm đoạt đất đai của nông dân đẩy nông dân vào tình trạngbần cùng
Do điều kiện kinh tế chính trị có nhiều biến đổi nên ruộng đất Nghệ
An cũng có những biến chuyển qua từng giai đoạn khác nhau.Nguồn tài liệu
Trang 16tiếp cận đợc vào thời gian này quá ít và khá mờ nhạt nên chúng tôi không
có số liệu chính xác về số ruộng đất ở Nghệ An trớc cách mạng Chỉ biếtrằng trong tổng số ruộng đất ở Nghệ An thì ruộng t chiếm trên 80%,công
điền công thổ chiếm 20%.Nhng trong 80% t điền có hơn 90% nằm trong taybọn địa chủ,quan lại,sai nha,cờng hào
Từ những con số trên chúng ta có thể thấy đợc rằng trớc Cách mạngtháng Tám ruộng đất ở Nghệ An vẫn nằm trong tình trạng chung của ruộng
đất Trung Kỳ là hết sức manh mún, nhỏ lẻ và đi kèm với tình trạng đó là sựphân bố không đồng đều, ngời nông dân là lực lợng lao động chủ yếu củanền kinh tế nông nghiệp nhng lại không có đất đai để tiến hành sản xuất, họtrở thành đối tợng bị bóc lột nặng nề của chính quyền thực dân, phong kiến Căn cứ vào các hồ sơ tổng kết cải cách ruộng đất và các nguồn tài liệukhác chúng tôi đa ra cơ cấu ruộng đất Nghệ An trớc Cách mạng tháng Tám
nh sau:
1.2.1 Ruộng đất công làng xã.
Trớc Cách mạng tháng Tám ruộng đất công ở Nghệ An chiếm 20% tổngruộng đất toàn tỉnh Ruộng đất công đợc sử dụng một cách khá linh hoạt tuỳtheo tình hình từng địa phơng
Những nơi ít thì đem bán đầu cơ hoặc tổ chức làm lấy tiền cúng tế.Những nơi nhiều thì sử dụng làm tế điền,học điền,phật điền,lão điền,binh
điền còn lại chia theo suất đinh nam giới từ 18 tuổi trở lên Tuy vậy nhữngchức sắc trong làng thờng tìm cách chiếm lấy phần ruộng tốt gần nhà và tìmmọi cách chiếm dụng ruộng công.ở Thanh Chơng có trên 100 địa chủ chiếm
từ 5 hecta đến 25 héc ta ruộng đất.Bên cạnh đó có một số đại địa chủ nhChúa Khuổn ở Liễu Nha chiếm 50 héc ta, Nguyễn Lân Tín ở Bích Hoàchiếm 150 héc ta.Cho nên chỉ tính một thôn Niệu Ninh,tổng Võ Liệt 100tráng đinh trong làng mà đã có 93 mẫu ruộng công
Trớc sự thiếu hụt đất đai để sinh sống,hào lý địa phơng tổ chức chiếm
đoạt ruộng công từ tay nông dân bằng cách đặt ra lệ những suất đinh đợcchia ruộng công thì phải nộp cho lý trởng một khoản tiền, hàng năm phảichịa su cao thuế nặng Bần cố nông có đợc chia ruộng công thì ruộng vừa ở
xa làng vừa xấu, thêm vào đó không có trâu, bò cày, bừa, không có tiền muathóc giống, đóng su thuế, họ lại phải bán cho địa chủ, phú nông với giá rẻmạt,thế là ruộng công vẫn nằm trong tay những kẻ có thế lực và giàu có cònnông dân những ngời đợc chia ruộng thì trở về tình trạng trắng tay không có
Trang 17mảnh đất cắm dùi và buộc phải bán sức lao động một cách rẻ mạt dới thânphận tá điền.
1.2.2 Ruộng đất nhà Chung.
Trớc Cách mạng tháng Tám,ruộng đất nhà Chung chiếm tỷ lệ khôngnhiều.Qua thống kê các xã tiến hành cải cách ruộng đất thì ruộng địa chủnhà Chung chiếm 574 hecta.Ruộng đất nhà Chung có nhiều nguồn gốc khácnhau, hoặc là nhà Chung dùng uy thế bao chiếm đất, hoặc huy động tài lựccủa giáo dân để khai thác hoặc gây kiện tụng giữa lơng và giáo bên thuaphải cắt đất bồi thờng cho nhà Chung quản lý và sử dụng các xã có nhiềuruộng đất nhà Chung phải kể đến xã Thần Lĩnh(Nghi Lộc)có 439 mẫu,ở xãHng Yên( Hng Nguyên ) có 640 mẫu
Hình thức bóc lột của nhà Chung cũng tơng tự nh hình thức bóc lột của
địa chủ nhng về mức độ nặng nề và thủ đoạn bóc lột cũng tinh vi hơn bởi
đ-ợc nguỵ trang dới áo khoác tôn giáo Có nơi dùng hình thức tô rẽ, có nơidùng hình thức tô đong
Ngoài ra nhà Chung còn sử dụng hình thức bóc lột nhân công khá phổbiến.Xứ nào cũng để lại một số ruộng gọi là ruộng thánh, hàng năm các conchiên phải thực hiện những vụ làm ruộng thánh không công Nhà Chung còn
có một hình thức bóc lột bằng lễ mà mọi giáo dân đều phải thực hiện nghĩa
vụ đóng góp
Tất cả những thứ tô thuế đó đè nặng lên cuộc sống của giáo dân khiến
họ hết sức cơ cực bần hàn Điều đáng nói là bị ràng buộc bởi giáo lý tôngiáo
và bổn phận con chiên nên họ không nhận ra nguồn gốc của sự khốn cùng
mà họ phải gánh chịu từ đâu
1.2.3 Ruộng đồn điền.
Khi thực dân Pháp đô hộ nớc ta chúng đã cấu kết chặt chẽ với chínhquyền phong kiến tìm mọi thủ đoạn cớp ruộng đất của nông dân.Nghệ Anvốn là vùng giàu có về đất đai nên chính quyền thực dân chú trọng đến việcbóc lột lao động bản xứ chiếm đất lập đồn điền trồng các loại cây nguyênliệu quý để đa về chính quốc
Nhìn chung giai đoạn 1897-1910 ở Nghệ An đồn điền cha để lại dấuvết gì nhiều.Do các điền chủ không phải là những nhà canh nông lớn,họ lànhững ngời khai mỏ hoặc cố đạo vì thế mục đích lớn nhất là tìm tài nguyênkhoáng sản và những nguồn lợi lớn
Trang 18Năm 1910 Ba-canh đã mở đồn điền đầu tiên trồng cây công nghiệp ởNghệ An.Tuy nhiên khai thác có quy mô hơn cả vẫn phải kể đến điền chủWalther.Năm 1913, Walther bắt đầu khai phá đồn điền Tiên Sinh và NaiSinh Cũng trong khoảng thời gian 1910-1930 Walther tiếp tục khai thácvùng đất Cao Trai.Tổng diện tích của các đồn điền mà ông Walther có tính
đến 1930 là 5300 hecta Với mức độ chiếm đoạt ruộng đất mạnh mẽ của
thực dân Pháp và điền chủ ngời Việt dẫn đến "năm 1924 đất trồng cà phê đã trở nên hiếm ở Phủ Quỳ" [1,60]
Đồn điền ở Nghệ An thời Pháp thuộc so với các tỉnh khác ở phía Bắc
và Nam không nhiều nhng so với các tỉnh vùng Bắc Trung Kỳ thì chỉ xếphàng thứ 2 sau tỉnh Thanh Hoá.Theo các tài liệu lịch sử của Nghệ An thì đếnnăm 1928 ở Nghệ An có 32 đồn điền đợc thành lập trong đó huyện có nhiều
đồn điền nhất là huyện Nghĩa Đàn thuộc phủ Quỳ Châu.Ngoài ra ở Quỳnh
Lu, Yên Thành,Anh Sơn cũng thành lập một số đồn điền có quy mô lớn vàquy mô vừa
ở Nghệ An hầu hết các đồn điền lớn tập trung ở vùng trung du, miềnnúi Những đồn điền đó chủ yếu trồng các loại cây công nghiệp mang giá trịkinh tế cao.Rất ít đồn điền của ngời Pháp ở Nghệ An trồng lúa và hoamàu.Phần lớn, những trại ấp của ngời Việt đều sản xuất lơng thực Điều đóphần nào thể hiện sự quan tâm của chính quyền thực dân trong việc pháttriển kinh doanh lúa gạo của tỉnh này nhng cũng nói lên sự yếu kém và lệthuộc của tầng lớp t sản dân tộc trong việc làm kinh tế nông nghiệp.Theo sốliệu thống kê, số đồn điền có quy mô từ 101 đến 500 hécta chiếm nhiềunhất, những đồn điền này tập trung ở hầu hết các huyện trung du, đồng bằng
và miền núi Bao gồm những đồn điền cà phê, những trại ấp sản xuất lúa gạocủa ngời Pháp hay ngời Việt Đồn điền từ 2000 đến 5000 ha có hai cái đềuthuộc về điền chủ Walther Những đồn điền có diện tích từ 1000 đến 2000
ha hay trên 5000 ha cũng chỉ đợc ớc tính hoặc tổng hợp từ các đồn điền nhỏ
Nh vậy quy mô đồn điền ở Nghệ An có mức độ tập trung khá cao Đồn
điền tập trung nhiều nhất ở những huyện có đất đai màu mỡ nh Nghĩa Đàn,Quỳnh Lu, Yên Thành, Diễn Châu Riêng huyện Nghĩa Đàn mức độ tậptrung các đồn điền của ngời Pháp rất cao vì đây là huyện có diện tích đất đỏlớn nhất của tỉnh, nơi đây có điều kiện để phát triển chăn nuôi và kinh doanhcây công nghiệp
Trong những đồn điền thì những ngời công nhân xuất phát là nông dân
đến làm thuê đợc trả lơng hết sức rẻ mạt.ở trong các trại ấp của ngời Việt,
Trang 19nếu công nhân làm việc theo năm cho chủ tiền công xê dịch từ 7 đến 50
đồng(tiền Đông Dơng thời đó) có nuôi cơm ăn, có khi trả bằng hiện vật Đốivới nhân công làm công công nhật thì trả 0,2 đồng cho đàn ông và 0,13 đồngcho đàn bà
Theo"Kinh tế đồn điền ở Nghệ An thời thuộc Pháp", trong đồn điền
của ngời Pháp chủ đồn điền trả 300 - 400đ/ tháng; cai đồn điền từ 9 - 10 đhoặc 20 - 30đ/ tháng
Đàn bà: 0,2 đến 0,25đ/ ngày, không nuôi cơm
Đàn ông: 0,35 đến 0,4 đ/ ngày, không nuôi cơm
Qua những con số trên, ta có thể thấy đợc giá trị lao động của côngnhân đồn điền hết sức rẻ mạt, về thực chất họ cũng là thân phận tá điền làmthuê mà thôi.Vậy nên:
Cao su đi dễ khó về
Khi đi trai tráng,khi về bụng beo
1.2.4 Ruộng đất của địa chủ.
Trong phạm vi toàn tỉnh thì địa chủ chiếm số lợng ít khoảng trên 3% về
hộ nhng chiếm gần 40% ruộng đất
Tỷ lệ địa chủ cao thấp ở các địa phơng không giống nhau Những nơi
địa chủ chiếm tỷ lệ cao, thờng là ở những xã có nhiều ruộng,ruộng đất bìnhquân nhiều nhng lại không tập trung vào một số địa chủ lớn mà phân tán ranhiều địa chủ nhỏ
Xét về nguồn gốc địa chủ, có các loại cơ bản sau:
Thứ nhất là con cháu của địa chủ sau khi tách hộ đợc kế thừa ruộng
đất và tài sản của cha mẹ nên tiếp tục bóc lột theo lối truyền thống
Thứ hai là các nhà công thơng, t sản có nhiều tiền đầu cơ buôn bán
ruộng đất và kinh doanh theo lối phong kiến là phát canh thu tô, họ là địachủ kiêm t sản
Thứ ba là Cha cố dùng uy quyền để chiếm đoạt ruộng đất trở thành
địa chủ
Địa chủ ở Nghệ An phần lớn là các địa chủ nhỏ, những đại địa chủchiếm số lợng không nhiều.Có thể kể đến một số đại địa chủ nh NguyễnLâm Tín ở Bích Hào,tên chủ đồn điền Nguyễn Trờng Viễn (tức Ký Viễn) đã
sở hữu hàng trăm mẫu ruộng ở huyện Thanh Chơng
Các địa chủ sử dụng nhiều thủ đoạn hình thức bóc lột hết sức tinh vitrong đó hình thức bóc lột chủ yếu là bóc lột tô,bóc lột nhân công và bóc lộtlợi tức
Trang 20+ Bóc lột tô: Địa chủ có nhiều cách bóc lột tô nh tô rẽ, tô đong, tôtiền nhng phổ biến nhất vẫn là tô rẽ và tô đong Mức tô chừng thu từ 60%
đến 90% số thu hoạch.Ví dụ nh anh Nông ở xã Tam Thái cấy 1 mẫu 2 sàocủa nhà Chung hai mùa thu đợc 65 gánh thóc, nạp tô cho nhà Chung 32 gánh
1 bó tức 650 kg, phần tá điền 32 gánh 1 bó thì đợc 614 kg, trừ công gặt,công trực, công chuyển lúa và lúa giống hết 199kg tá điền chỉ còn 418 kgtức là 40% số thu hoạch
Những địa chủ vừa phát canh vừa thuê ngời làm thì hình thức bóc lột
có khác.Chúng phát canh để lợi dụng nhân công của tá điền nên mỗi tá điềnchỉ nhận đợc 1 hoặc 2 sào nhiều nhất cũng chỉ 6 sào chứ không thể nhiềuhơn.Tá điền nhận ruộng của địa chủ thì ngày mùa phải làm công cho địachủ, trên danh nghĩa là rẽ đôi tại ruộng nhng thực tế tá điền thu chẳng đợc làbao, có nơi địa chủ thu 2/3 thu hoạch
+Bóc lột nhân công
Bóc lột nhân công là hình thức bóc lột chủ yếu của giai cấp địachủ,bóc lột nhân công đợc tiến hành bằng nhiều hình thức và thủ đoạn
Thứ nhất,địa chủ cho làm rẽ ruộng để bóc lột nhân công.Hầu hết các
địa chủ vừa có ruộng phát canh vừa có ruộng cho thuê đều dùng số ruộngcho làm rẽ để bóc lột sức lao động của nông dân vào làm phần ruộng màchúng để lại tự canh
Thứ hai,nuôi con nuôi để bóc lột nhân công.Tất cả các địa chủ đềunuôi con nuôi và ngời ở ít nhất là một ngời,trung bình là 4-5 ngời.Chúngdùng thủ đoạn nuôi con gái để bóc lột sức lao động không chỉ của ngời congái mà của cả ngời chồng.Dù con ở hay con nuôi đều phải làm việc rất vất vả
từ sáng đến tối khuya với tiền công hết sức rẻ mạt,bị đối xử tàn nhẫn
Ngoài ra còn có các hình thức nh thuê công non,nuôi bò rẽ Nh vậy
địa chủ có nhiều hình thức và thủ đoạn để bóc lột nhân công.Hình thức nàychủ yếu tập trung ở trung và tiểu địa chủ,chúng đợc lợi rất lớn
+ Bóc lột tức
Bên cạnh hình thức bóc lột địa tô thì bóc lột tức cũng là hình thức bóclột nặng nề Bóc lột tức thực chất là hình thức cho vay nặng lãi thông qua đất
đai và sức lao động,đó chính là cái dây chằng buộc chặt thân phận ngời nôngdân vào địa chủ.Hình thức này phổ biến ở mọi nơi trong cả nớc Việt Nam d-
ới thời phong kiến,thực dân.Mức nợ lãi thấp nhất của địa chủ cũng từ 50 đến100% trong một năm.Những hình thức mua lúa non, nuôi trâu bò rẽ, chovay tiền lấy lúa(bán lúa non) tiến đến cầm cố tài sản ruộng đất địa chủ thì
Trang 21đợc lời,nông dân không trả đợc thì lãi chuyển thành gốc, cứ thế vụ nọ qua
vụ kia, năm nay qua năm khác, lãi mẹ đẻ lãi con, ngời nông dân ngập đầutrong cảnh nợ nần Không ít ngời rơi vào cảnh bán vợ, đợ con, gạt ruộng cho
địa chủ làm cho dân cày bị kiệt quệ, suốt đời lệ thuộc vào địa chủ.Lịch sửcòn ghi Cô Chom ở Nghi Thuận nợ nhà địa chủ 120 quan tiền nợ đã 3 đời đãtrả đến 1300 phơng lúa tức khoảng 220 tạ lúa mà đến chết vẫn còn nợ
Các hình thức bóc lột trên chứng tỏ rằng giai cấp địa chủ phong kiến
đã dùng mọi thủ đoạn, phơng thức tàn bạo,vô tâm nhất để bóc lột nông dân
Đó chính là nguồn gốc của mọi sự cơ cực, bần hàn mà ngời nông dân phảigánh chịu
1.2.5 Ruộng đất của phú nông.
Trong xã hội nông thôn trớc cách mạng, phú nông là tầng lớp có vai
vế thứ hai sau địa chủ Phú nông có nhiều ruộng đất, có đầy đủ công cụ sảnxuất Họ tự lao động hoặc cũng tiến hành thuê nhân công và phát canh thutô Đây là bộ phận giàu có và đợc xem là biết làm ăn trong nông thôn Hình thức bóc lột của phú nông cũng tơng tự cho vay nợ lãi, nghĩa làbóc lột theo phong kiến nhng chủ yếu là bóc lột nhân công,phát canh thu tôrất ít chỉ khoảng vài sào Xét về mức độ bóc lột thì phú nông bóc lột bớtnặng nề hơn,cách đối xử cũng khác so với địa chủ Xét về mặt chính trị thìtrên 50% tổng số phú nông tham gia bộ máy chính quyền thống trị,tuy nhiênphú nông vẫn là bộ phận có tinh thần dân tộc gần gũi với nông dân và đi theocách mạng khi ta biết tranh thủ, vận động họ
1.2.6 Ruộng đất và đời sống nông dân.
Nguyên nhân quan trọng nhất là ngời nông dân ở đây bị đè nén, bóclột nặng nề.Tuy có nhiều ruộng đất công nhng phần lớn bị bọn quan lại,tổng lý cờng hào, địa chủ cớp đoạt, phần còn lại bị chiếm làm ruộng tế,ruộng quan Số ruộng đất chia cho dân chẳng còn đợc bao nhiêu Đã thếviệc phân chia lại đầy bất công, thực dân phong kiến quy định chỉ có đàn
Trang 22ông từ 18 tuổi trở lên mới đợc cấp ruộng Một gia đình dù có 10 ngời, nhngnếu là phụ nữ cả thì cũng không đợc cấp 1 tấc đất nào Hơn thế dù là đàn
ông đến 18 tuổi rồi nhng nếu không chịu mất lễ lạt cũng không phải dễ dàng
đợc cấp ruộng Nói chung ngời nông dân cày ruộng công làng xã phải chịukhông biết bao nhiêu nỗi ức hiếp,tủi nhục và rất dễ dàng bị cắt ruộng nếukhông thoả mãn những hạch sách của bọn tổng lý, quan trên.ở nhiều làng xã,ngời nông dân cày ruộng đất công nhng chẳng khác gì lính canh ruộng của
địa chủ.ở Hng Nguyên vốn lu truyền trong dân gian chuyện kể về ngời tá
điền bị chết rét ngay khi đang cầm cày giữa ruộng và ngày 23/11 âm lịchhàng năm là"ngày giỗ ông chết rét"
Dân cày thờng thiếu ăn và không có vốn.Mà vay vốn của Phố ngânhàng Vinh thì hàng tháng phải nộp lãi 10%, nếu đến hạn mà không trả kịpthì ngời vay phải thế ruộng Bọn địa chủ, nhà giàu ở nông thôn cũng theo đó
mà tăng lãi suất vì không phải bất cứ ai cũng vay đợc ở Phố ngân hàng.Nông dân Nghệ An lúc bấy giờ còn ngột ngạt, bị đè nén bởi những thủtục, lễ nghi phiền hà.Năm 1929 ở làng Ngọc Sơn(Thanh Chơng) có 2 ngờiphải thắt cổ tự tử vì bị hào lý thúc ép làm nhục khi họ cha nạp kịp su thuế.Làng Phù Xá(Hng Nguyên) cứ đầu xuân hàng năm mỗi gia đình phải làmmột cỗ bánh tế, tốn ít nhất là 30 đồng.ở làng Phơng Cần(Quỳnh Lu) tính ramỗi năm có đến 26 lễ tế làng,lễ lớn thì tốn 230 đồng còn lễ nhỏ nhất cũngtốn đến 50 đồng
Tình trạng nói trên đã làm cho ngời nông dân bị bần cùng và phá sảnnhanh chóng Họ phải rời làng xóm đi kiếm sống khắp nơi Một số đi lênvùng đất đỏ Phủ Quỳ, có 60 gia đình vào làm thuê cho đồn điền Cu Đúc, 50gia đình làm cho đồn điền Boocđê
Hoàn cảnh đó tất nhiên đã làm cho mâu thuẫn giữa ngời nông dân và
địa chủ ngày càng sâu sắc Một hiện tợng rất độc đáo trong nông thôn Nghệ
An hồi đầu thế kỷ là cuộc đấu tranh đòi quyền dân chủ, đòi cải cách hơngthôn Từ khi Đảng ra đời (1930) phong trào đấu tranh của nông dân diễn ramạnh mẽ hơn Vì thế vào những năm 1930-1931 ở đây đã dấy lên một caotrào cách mạng với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ-Tĩnh.Từ thực tế của cácphong trào cách mạng diễn ra dới sự lãnh đạo của Đảng bộ Đảng cộng sảnNghệ An đã nói lên sự tha thiết với độc lập dân tộc và cởi bỏ xiềng xíchphong kiến của nông dân Nghệ An nói riêng và nông dân Việt Nam nóichung.Ngay từ những ngày đầu cách mạng Việt Nam dới sự lãnh đạo của
Đảng đã đa ra vấn đề ruộng đất cho dân cày,chống su cao thuế nặng.Và cũng
Trang 23chính từ những vấn đề bức xúc đó mà giai cấp nông dân Nghệ An đã sớmthấy rõ bản chất cách mạng,tiên tiến của cuộc cách mạng này và sớm hănghái tham gia,sát cánh cùng giai cấp công nhân để làm cách mạng.
Tháng 8 năm 1945 nông dân Nghệ An đã góp phần làm nên thắng lợiCách mạng tháng Tám trong phạm vi toàn tỉnh cũng nh trong cả nớc Thắnglợi này là bớc khởi đầu cho quá trình thực hiện ớc mơ "ngời cày có ruộng"
Có thể kết luận rằng, ngời nông dân Nghệ An tha thiết với ớc nguyệnthoát ra khỏi cảnh bần cùng, khỏi thân phận đầy tớ làm thuê và hơn bao giờhết họ ớc mơ thoát khỏi ách áp bức của thực dân và phong kiến, họ thiết tha
có đợc mảnh đất để sinh cơ lập nghiệp trong vai trò làm chủ Nguyện vọngchính đáng đó, ngời nông dân phải đấu tranh qua một quá trình lâu dài.Cáchmạng tháng Tám là mốc khởi đầu cho quá trình thực hiện"đa ruộng về vớidân cày"mà ngời dân Nghệ An đã tích cực tham gia dới sự lãnh đạo của
Đảng
Chơng 2
Từ giảm tô, giảm tức đến cải cách ruộng đất ở Nghệ An
( Tháng 9/1945 đến 1957) 2.1 Nghệ An bớc đầu thực hiện chính sách ruộng đất ( 9/1945 - 1952) 2.1.1 Chủ trơng của Đảng.
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1952 là giai đoạn cách mạngViệt Nam thực hiện bớc thứ nhất trong cuộc cách mạng phản phong đaruộng đất về với ngời cày.Đây chính là bớc vận động quần chúng đánh đổ
Trang 24hào lý, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và bọn Việt gian phản động.Thựchiện giảm tô, giảm tức, áp dụng quy chế lĩnh canh đối với giai cấp địa chủ,chia lại công điền,tạm cấp,tạm giao ruộng đất vắng chủ nhằm giảm bớt vàhạn chế một phần chế độ bóc lột của địa chủ, đem một phần quyền lợi chonông dân Trong bớc này xét về mặt giai cấp cha phát động quần chúng đấutranh đả kích giai cấp địa chủ,về mặt chính trị và xã hội vẫn phải lôi kéo một
số địa chủ kháng chiến,trung lập địa chủ thờng,đả kích địa chủ Việt gian,thuyết phục giai cấp địa chủ thực hiện chính sách của Đảng và Chính phủ đãqui định Điều đó có nghĩa là ta vẫn công nhận địa chủ có nhân quyền, dânquyền, tài quyền và địa quyền
Chính sách thực hiện ở mức độ trên đợc qui định bởi những điều kiệnlịch sử lúc bấy giờ.Sau Cách mạng tháng Tám,Việt Nam phải đối mặt vớinhiều kẻ thù cùng một lúc,vấn đề"độc lập dân tộc"vẫn là trên hết,nhiệm vụdân chủ đợc đề ra và thực hiện ở một chừng mực nhất định.Đây là một bớc
đi có tính sách lợc hoàn toàn đúng đắn của Đảng ta,tạo điều kiện cho toàndân tập trung nhân tài,vật lực phụng sự cho kháng chiến trờng kì
Trớc yêu cầu của thực tiễn đời sống nông dân ngày 20/11/1945, Bộ nội
vụ đã ra thông t qui định giảm tô 25% so với trớc Cách mạng Đây là Pháplệnh đầu tiên của Nhà nớc Việt Nam tấn công vào giai cấp địa chủ.Nhngkhông lâu sau cả nớc tiếp tục bớc vào cuộc kháng chiến chống Pháp.Tất cảcho kháng chiến thắng lợi,nhiệm vụ phản đế lúc này hết sức bức xúc.Vì thếnhiệm vụ phản phong đợc thực hiện một cách mềm dẻo,dừng lại ở mức độvận động địa chủ chứ không phải vận động quần chúng đấu tranh với giaicấp địa chủ
Đến tháng 01/1948 Hội nghị Trung ơng Đảng mở rộng(lần thứ hai)đề
ra một cách có hệ thống về chính sách ruộng đất trong kháng chiến chốngPháp với những điểm cơ bản sau:
Thực hiện để giảm tô 25%
Bài trừ địa tô phụ, bác bỏ chế độ quá điền
Chia lại công điền hợp lý và công bằng
Tạm cấp ruộng đất và tài sản của bọn phản quốc cho dân cày
Việc giảm tô 25% trở thành nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình thựchiện việc giải quyết mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ còn vấn đề ruộng
đất đợc giải quyết nh sau: các đồn điền của thực dân Pháp và của bọn Việtgian thì đem chia cho nông dân, ruộng đất của địa chủ chạy vào vùng tạmchiếm thì giao cho chính quyền địa phơng tạm thời quản lý sau khi họ trở về
Trang 25thì hoàn lại.Chính sách trên hoàn toàn phù hợp với yêu cầu phân hoá giai cấp
địa chủ trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến,tạo nên sự đoàn kết nhất trígiữa các giai cấp,giai tầng trong xã hội để thực hiện mục tiêu độc lập dântộc
sử dụng thì phải giao lại cho chính quyền
3 Chính phủ tạm thời quản lý các đồn điền của ngời Pháp
4 Những đồn điền do cớp của dân mà có bằng cớ rõ ràng thì trả lại chodân
Tháng 8/1948, Hội nghị cán bộ lần thứ 5 Trung ơng Đảng đã xác địnhphơng thức tiến hành cuộc cách mạng ruộng đất, phơng pháp, cách thức tiếnhành là dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ, giảm tô đồng thời sửa đổichế độ ruộng đất trong phạm vi không có hại cho Mặt Trận dân tộc thốngnhất chống thực dân Pháp xâm lợc Hội nghị đã đề ra nghị quyết về vấn đềruộng đất và cải thiện đời sống cho dân cày Đó chính là biện pháp bồi dỡngsức dân, phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Pháp Hội nghị còn chỉ ra ph-
ơng hớng lớn về cách mạng ruộng đất ở Việt Nam bằng đờng lối riêng biệt.1.Chính sách ruộng đất phải phục vụ cho việc đẩy mạnh kháng chiến,phải tiến hành nh thế nào để không có hại cho Mặt Trận dân tộc thống nhấtchống Thực dân Pháp xâm lợc, mặc dù bản thân việc chống phong kiến gắn
bó chặt chẽ và thúc đẩy công cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lợc
2.Trong hoàn cảnh cụ thể nớc ta, để đạt đợc vấn đề trên đây khôngphải một bớc thủ tiêu ngay tức khắc quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp
địa chủ mà dần dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến thôngqua giảm tô, giảm tức, chia lại công điền [33,65]
Do yêu cầu của cuộc kháng chiến, từ năm 1949 Đảng ta đã chú ý hơnvấn đề nông dân và ruộng đất, ngày 14/7/1949 Chính phủ kháng chiến banhành Sắc lệnh Giảm tô thay cho Thông t Giảm tô đầu năm 1949 của Bộ nộivụ
Trang 26Sắc lệnh quy định giảm tô 25% so với địa chủ trớc tiến tới xoá bỏ cácloại địa tô phụ, thủ tiêu chế độ quá điền và thành lập Hội đồng giảm tô ở tỉnh
để xét biện giảm tô
Tháng 5/1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh về thể lệ lính canh và thể
lệ giảm tức.Sắc lệnh lính canh bảo đảm quyền lính canh của tá điền, cấm chủ
đòi ruộng vô cớ.Sắc lệnh giảm tức quy định xoá những món nợ trớc năm
1945, giảm lại các món nợ trớc ngày ra sắc lệnh xuống mức tối đa 18% đốivới vay tiền, 20% đối với vay thóc
Năm 1951, Chính phủ ban hành Sắc lệnh thuế nông nghiệp cũng nhằmhạn chế sự bóc lột của địa chủ,phú nông.Sắc lệnh quy định địa chủ,phú nôngphải đóng 40 - 50% hoa lợi từ ruộng đất còn nông dân chỉ phải đóng 20%.Tháng 3 năm 1952,điều lệ tạm thời về sở hữu công điền, công thổ cũng
đợc ban hành nhằm bảo đảm chia ruộng công một cách công bằng
Những quy định trên đã chỉ đạo quá trình thực hiện chính sách ruộng
đất trên toàn Miền Bắc trong đó có tỉnh Nghệ An
2.1.2 Nghệ An bớc đầu thực hiện chính sách ruộng đất.
Dới sự lãnh đạo của Đảng,Tỉnh uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chínhNghệ An đã lãnh đạo nhân dân từng bớc thực hiện những chính sách ruộng
đất nhằm giải quyết một phần yêu cầu ruộng đất của nông dân, phục vụ yêucầu của cuộc kháng chiến và kiến quốc
Từ 1945 - 1948, Tỉnh uỷ Nghệ An đã lãnh đạo việc thực hiện nhữngcải cách dân chủ:giảm tô,chia lại công điền cho nông dân.Tuy nhiên trongtriển khai bớc đầu gặp không ít khó khăn,lúng túng,lộ trình cha đồng bộ.Cáchuyện đã chia ruộng công nhng không thống nhất, có huyện chia đều ruộngcông cho nam nữ cử tri ba năm một lần, có huyện đem bán đấu thầu để gâyquỹ, có huyện lại giao cho các tập đoàn sản xuất, đại bộ phận chia đều chonam nữ cử tri, các loại ruộng đất công hoặc ruộng đất của thực dân Pháp vàViệt gian phản động đều đem chia cho dân.Để nhân dân có ruộng,Tỉnh uỷcòn phát động sâu rộng phong trào khai hoang,phục hoá,làm thuỷ lợinhỏ(dẫn thuỷ nhập điền).Phong trào khai hoang mở rộng diện tích phát triểnmạnh.Tháng 6/1946 các huyện Yên Thành, Quỳnh Lu, Nghĩa Đàn, Anh Sơn,Nghi Lộc đã vỡ hoang đợc hơn 700 mẫu (Trung bộ).Tính đến tháng 11/1948,toàn tỉnh đã khai hoang đợc hơn 2000 ha ruộng đất, lập 20 trại sản xuất vànuôi trâu, bò ở Anh Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Thanh Chơng, so với năm
1947, tổng sản lợng lúa, ngô tăng gấp đôi, diện tích bông tăng từ 17511 lên
24056 mẫu
Trang 27Cũng trong những năm 1947,1948 Nghệ An tiến hành vận động xoá
nợ, giúp nông dân chuẩn bị ruộng đất để tập trung sản xuất
Khi Sắc lệnh giảm tô của Chính phủ ban hành (1949) ấn định mức địatô và lập Hội đồng giảm tô cấp tỉnh.Đến 1950 Chính phủ lại ban hành Sắclệnh tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ chạy vào vùng địch tạm chiếm vàtruy thu tất cả ruộng đất bỏ hoang,tạm cấp cho nông dân nghèo càycấy.Cuộc vận động giảm tô, giảm tức, quy chế lĩnh canh, tạm cấp ruộng đấtcho nông dân đã đợc Đảng bộ và chính quyền các cấp thực hiện theo đúngtinh thần Sắc lệnh của Chính phủ
Trong năm 1950, Nghệ An đã vận động các chủ ruộng giảm tô 25%cho hơn 95% diện tích ruộng đất phát canh, tạm cấp 17 đến 282 mẫu ruộng
đất công, ruộng đất của t bản Pháp,Việt gian và đất vắng chủ cho 4892 hộnông dân nghèo
Trong những năm 1950,1951 thực hiện chủ trơng về quân cấp công
điền,các địa phơng Nghệ An đã tiến hành quân cấp lại nhng nhìn chung diễn
ra còn khá chậm
ở Nam Đàn, trớc đây do không có sự hớng dẫn thống nhất của huyện,nên việc sử dụng ruộng đất công ở mỗi xã thực hiện một cách, nơi thì đấuthầu lấy tiền và hoa lợi bỏ vào quỹ xã, nơi thì giao cho dân quân sản xuất tựtúc, có nơi lại lấy ruộng công của làng này chia cho làng khác, hoặc chia chodân chính quán mà không chia cho cho dân ngụ c.Tình trạng đó gây nên các
vụ kiện cáo, tranh chấp, mất đoàn kết trong nông thôn, nhất là ở xã Vạn Thu(Nam Lộc).Sau khi có chỉ thị, hớng dẫn cụ thể của Trung ơng Đảng,Tỉnhuỷ,Huyện uỷ đã tập trung chỉ đạo các xã chia lại ruộng đất công theo nguyêntắc ruộng đất làng nào chia cho dân làng ấy.Trờng hợp ở những nơi nhiềuruộng đất công mới vận động nhờng cho dân làng khác Mỗi ngời từ 16 tuổitrở lên đều đợc hởng nh nhau, không phân biệt nam, nữ, dân ngụ c hay dânchính quán.Vận động các gia đình địa chủ, phú nông nhờng phần ruộng đất
đợc hởng của mình cho nông dân.Theo nguyên tắc này đến ngày kết thúccuộc vận động (18/01/1958) toàn huyện đã cấp 3686 mẫu 68 sào ruộng đấtcho 33999 ngời từ 16 tuổi trở lên Trong đó 30701 ngời đợc cấp 2880mẫu,889 ngời đợc tạm cấp 76 mẫu 68 sào (ở xã Vạn Thọ vì số ruộng đấtcông và ruộng nhà Chung còn có nhiều ý kiến khác nhau nên còn tạm cấpcho dân cày và nạp cho chính phủ 10% địa tô),1904 ngời đợc định tô 679mẫu 85 sào.Đây là một thắng lợi lớn, làm cho mọi ngời tin tởng, phấn khởi,
Trang 28đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất trên phần ruộng đợc chia, nhằm nângcao đời sống và góp phần phát triển kinh tế, phục vụ kháng chiến,kiến quốc.
ở Diễn Châu, năm 1951 có 442 chủ điền giảm tô,giảm lợi.Từ sự giảmtô,giảm tức của các chủ điền có 1061 tá điền đợc hởng
Cũng trong năm 1950-1951, Nghệ An đã tiến hành tạm cấp một số đồn
điền cho nông dân Đó là đồn điền Sezacd đã cấp đợc 15 mẫu cho 15 ngời,Revcllo khoảng 200 ha đã cấp 88 mẫu 14 thớc cho 272 ngời.Đồn điềnSavanieur khoảng 50 ha đã cấp 42 mẫu cho 52 ngời Đồng thời tỉnh cũng đãtịch thu ruộng đất của Việt gian, ruộng vắng chủ và ruộng bỏ hoang chia chonông dân sản xuất
Về ruộng đất của Việt gian đã tịch thu 9 mẫu 11 sào của địa chủ Trần
Vy tạm cấp cho 10 ngời và 9 mẫu của Nguyễn Văn Nghĩa và Nguyễn NgọcChi cũng tạm cấp cho dân cày nghèo
Còn ruộng đất vắng chủ và ruộng đất bỏ hoang đã tạm cấp đợc 56 mẫu
7 sào 4 thớc cho 158 ngời.Tạm cấp thực trng và tạm trng bỏ hoang tất cả 909mẫu cho 3727 ngời.Nhìn chung việc tạm cấp ở Nghệ An còn chậm và chalàm cho nhân dân thấy đợc chủ trơng của Đảng đa lại ruộng đất cho dâncày.Tuy vậy,việc tạm cấp đã giải quyết một phần yêu cầu ruộng đất chonông dân trong tỉnh
Trong năm 1949-1950, Nghệ An thực hiện chủ trơng vận động hiến
điền.Việc vận động hiến điền đợc phát động từ năm 1949,trong năm này đãvận động đợc 1 vạn mẫu.Tỉnh uỷ chỉ đạo các địa phơng mở cuộc vận độnghiến điền,phụng sự kháng chiến.Uỷ ban kháng chiến tỉnh còn thu gần 600mẫu ruộng từ các chủ điền để cấp cho bộ đội địa phơng,lập các trại sản xuấtphục vụ cho thơng binh,bệnh binh.Số ruộng chủ điền tự giác hiến đợc sửdụng mỗi nơi mỗi khác,nơi thì chia cho tá điền làm, nơi thì giao cho dânquân hoặc các đoàn thể sử dụng chung.Tuy nhiên trong cuộc vận động hiến
điền ở Nghệ An còn mắc phải một số hạn chế đó là: Quan niệm hiến điền làmột bộ phận trong chính sách ruộng đất nhằm giảm bớt sự bóc lột của phúnông và địa chủ nên có nơi vận động cả những hộ thiếu ruộng tham gia hiếnruộng, việc sử dụng ruộng hiến không có hiệu quả do không chú trọng việcthâm canh,gối vụ,tăng năng suất
Bớc sang năm 1952, Uỷ Ban Kháng Chiến Hành Chính Liên khu IVchỉ đạo các tỉnh chú trọng thực hiện chính sách ruộng đất Hội nghị hànhchính liên khu IV họp ngày 21/6/1952, đã đề ra mục tiêu của việc thi hànhchính sách ruộng đất nh sau:
Trang 29"- Cơng quyết hoàn thành giảm tô, giảm tức
Dới tác động của việc thực hiện chính sách ruộng đất từ năm 1946 đếnnăm 1952 việc trng thu và tổ chức hiến điền trong các thành phần phú nông,
địa chủ có chuyển biến mạnh.Số ruộng đất về tay ngời lao động ngày càngtăng.Tuy nhiên những năm 1950,1951,1952 ruộng đất phú nông,địa chủ bịphân tán mạnh bằng nhiều hình thức: Bán rẻ, cho con cái dới hình thức phânchia tài sản,tiến hành giao canh cho nông dân.Địa chủ phân tán ruộng đấtnhằm trốn tránh giảm tô, trốn tránh sự quy kết thành phần địa chủ
Từ năm 1952 có phong trào đấu tranh chống dây da thuế.Chính sáchvận động đóng thuế nông nghiệp đã đi vào cuộc sống,địa chủ buộc phải giaocanh cho nông dân cày cấy và nộp thuế cho nhà nớc Ngời nông dân có cơhội chuộc lại ruộng, địa chủ phải trả ruộng cho nông dân
Hình thức bóc lột của địa chủ cũng giảm, nông dân ít nhiều đợc cấpruộng đất nên ít phụ thuộc địa chủ hơn Hình thức nợ lãi đến năm 1951 hầu
nh không còn,nuôi bò rẽ cũng chấm dứt.Hình thức bóc lột nhân công giảmmạnh Địa chủ cũng tăng ruộng phát canh bởi thuê nhân công ngày một khó
do trình độ giác ngộ của nông dân cũng tăng lên
Tuy nhiên trong thời kỳ này vẫn còn một số địa chủ có nợ máu thâmthù với cách mạng ngoan cố không chấp hành đúng chính sách giảmtô.Chính sách thuế nông nghiệp chỉ có một số địa chủ còn có tinh thần yêunớc,sớm nhận thức đợc tình thế chấp hành nghiêm túc
Chính sách ruộng đất đợc thực hiện ở mức độ nói trên đã bớc đầu đalại quyền lợi thiết thực cho nông dân,đời sống ngời dân bớc đầu đợc chuyểnbiến.Chính vì thế mà có sự tăng,giảm,thuyên chuyển số hộ bần cố nông lênbần nông, bần nông lên trung nông Điều đó có nghĩa là số hộ bần cố nônggiảm đi
Dới tác động của chính sách ruộng đất, ruộng đất của phú nông cũnggiảm rõ, đặc biệt sau khi có chính sách thuế nông nghiệp Ruộng đất của phúnông giảm,nguyên do là trớc cách mạng tháng Tám phú nông có tiền mua đ-
ợc nhiều ruộng đất công,đến những năm 1947-1948 ta rút công điền chia
Trang 30cho nông dân,tức là phú nông bị rút ruộng.Mặt khác, phú nông cũng tiếnhành phân tán ruộng đất và tài sản cho con cái, lý do chính là từ khi ta thànhlập các tập đoàn sản xuất đời sống nông dân đợc cải thiện nên việc thuê m-
ớn nhân công trở nên khó khăn, đồng thời nông dân có khả năng chuộc lạiruộng đã bán cho phú nông
Các hình thức bóc lột của phú nông đến những năm 1951-1952 hầu
nh không còn là mấy,số nhân công mà phú nông thuê mỗi năm cũng giảm rõrệt, có phú nông chỉ thuê 20-25 công một năm và đã trả công sòng phẳng.Hiệu quả của việc thực hiện chính sách ruộng đất cũng nh củng cốchính quyền đã làm cho quần chúng nhân dân phấn khởi hăng hái sản xuất,
đẩy mạnh kháng chiến và kiến quốc,giữ vững vai trò hậu phơng lớn tích cựcchi viện cho tiền tuyến kháng chiến.Từ cuối năm 1949, Nghệ An chẳngnhững cơ bản tự túc đợc ăn, mặc, phát triển đợc nhiều cơ sở tiểu công nghệ
và thủ công nghiệp với kỹ thuật mới mà còn tiếp tế đợc khá nhiều thựcphẩm, hàng hoá cho tiền tuyến và các vùng khác
Nh vậy, để thiết thực bồi dỡng sức dân, nhất là nông dân,Tỉnh uỷ thựchiện từng bớc chính sách ruộng đất của Đảng và Chính phủ,Uỷ Ban KhángChiến Hành Chính đã mở 17 lớp tập huấn huyện cho 600 cán bộ huyện, xã
về chính sách giảm tô 27%, qui chế lĩnh canh,chính sách quân cấp công
điền, công thổ, xử lý ruộng đất vắng chủ hoang hoá.Toàn tỉnh đã có 586 chủ
điền đã thực hiện giảm tô đúng 25% và các qui chế lĩnh canh, lĩnh điền đốivới 5622 tá điền.Ruộng đất ở đồn điền Tịnh Môn đợc cấp cho nông dânnghèo,477 ha ruộng vắng chủ đợc chia cho 1580 bần cố nông.Một số sailệch trong quá trình quân cấp điền thổ đợc phát hiện điều chỉnh, sửa chữa kịpthời
Việc thực hiện chính sách ruộng đất từ 1946-1952 là cơ sở để quân vàdân Nghệ An vợt qua địch hoạ,thiên tai, tạo điều kiện cho hàng vạn nôngdân nhập ngũ,trở thành chiến sỹ trên mặt trận sản xuất ở hậu phơng và hănghái tham gia phục vụ tiền tuyến Trong 6 tháng của năm 1951, nông dân toàntỉnh làm hơn 1 vạn tấn phân bón cho 5233 ha đất hoang hoá,thui nhập gần
9000 tấn thóc, 1946 hộ đợc công nhận là " Gia đình nông dân gơng mẫu sảnxuất"
Song song với việc thực thi các chính sách về ruộng đất,công tác chấnchỉnh bộ máy chính quyền cũng hết sức đợc chú trọng.Trong chơng trình nộichính năm 1951,Uỷ Ban Kháng Chiến Hành Chính Liên khu IV đã đề ranhiệm vụ trọng tâm trong công tác nội chính là củng cố bộ máy chính quyền
Trang 31cấp xã.Tháng 7-1950 đã diễn ra cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh vàxã khoá II.Chức năng của Hội đồng nhân dân cơ quan quyền lực cao nhất ởtừng địa phơng đã đợc đề cao hơn.Một số Uỷ viên Hội đồng nhân dân cáccấp kém năng lực và uy tín đợc thay thế bằng những đại biểu thực sự đạidiện chân chính cho các tầng lớp nhân dân.Đặc biệt đã mạnh dạn đa thànhphần bần cố nông vào bộ máy chính quyền.
Có thể nói, việc thực hiện chính sách ruộng đất ở Nghệ An mặc dù cònnhiều hạn chế nhng bớc đầu đã đem lại lợi ích thiết thực cho ngời nông dân,
bộ mặt nông thôn bớc đầu có sự chuyển biến.Yêu cầu về ruộng đất của ngờidân mới giải quyết đợc một phần ít ỏi song đó là cơ sở ban đầu để tiếp tụcthực hiện khẩu hiệu" Ngời cày có ruộng "trong những điều kiện mới
2.2 Nghệ An thực hiện giảm tô, giảm tức ( 1953-1954 )
2.2.1 Chủ trơng của Đảng.
Từ năm 1945-1952, những chính sách ruộng đất bớc đầu đợc thực hiện
có hiệu quả Điều đó đã làm cho đời sống nhân dân cải thiện một bớc, uy thếchính trị và kinh tế của giai cấp địa chủ bớc đầu bị thu hẹp nhng căn bản vẫncòn mạnh
Trong tình hình đó, Đảng chủ trơng phát động quần chúng triệt đểgiảm tô, chuẩn bị cho việc thực hiện cải cách ruộng đất
Tháng 1-1953,Trung ơng Đảng họp Hội nghị lần thứ 4 nhằm kiểm
điểm chính sách ruộng đất của Đảng trong những năm kháng chiến Hộinghị đã nhận định:Ta cha kết hợp thật chặt chẽ nhiệm vụ phản phong và
phản đế, cha tích cực bồi dỡng sức dân Hội nghị đi đến quyết định :" Tiêu diệt chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân và của bọn đế quốc xâm lợc khác
ở Việt Nam Xoá bỏ chế độ phong kiến sở hữu ruộng đất của địa chủ Việt Nam và ngoại kiều thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân ".
[33,96]
Để tiến tới thực hiện tốt chính sách ruộng đất của Đảng, trong năm
1953 chúng ta đã phát động quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức, chia lạicông điền,công thổ,chia hẳn ruộng đất của thực dân và Việt gian cho nôngdân.Chủ yếu là triệt để giảm tô nhằm thoả mãn bớc đầu yêu cầu chính đáng
về kinh tế của nông dân,kết hợp chặt chẽ chính sách lớn này với các nhiệm
vụ chính trị,chỉnh đốn Đảng,chỉnh đốn nông hội,chỉnh đốn chính quyền vàmặt trận xây dựng hệ thống chính trị mạnh từ thôn,bản đến Trung ơng.Vềmặt t tởng và tổ chức,đập tan uy thế chính trị của địa chủ, phong kiến, giành
Trang 32u thế chính trị cho nông dân,củng cố nông thôn,xây dựng tiềm lực quốcphòng,phục vụ kháng chiến,kiến quốc.
Công tác phát động quần chúng là một bớc rất cần thiết để chuẩn bịthực hiện cải cách ruộng đất
Trong hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhận định :
" Nền tảng vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại
đa số trong dân tộc
Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là vấn đề nông dân, vì nông dân là lực lợng cách mạng đông nhất chống phong kiến, chống đế quốc Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng cho nông dân ".
ơng pháp tiến hành cuộc vận động phát động quần chúng giảm tô, giảm tức
Chỉ thị nêu rõ:" Muốn kháng chiến thắng lợi, kết quả thành công phải dựa vào quần chúng nông dân, muốn dựa vào quần chúng nông dân phải bồi dỡng lực lợng nông dân.Muốn nông dân có lực lợng dồi dào phải cho họ có ruộng cày, có cơm ăn, nhà ở ".[22,2]
Chỉ thị cũng chỉ ra rằng: Đảng và Chính phủ đề ra chính sách ruộng
đất đã lâu, chính sách đó bao gồm:giảm tô,giảm tức,tạm cấp ruộng đất,chialại công điền,công thổ nhng những chính sách đó còn nhiều thiếu sót.Chínhsách ruộng đất cha thi hành triệt để vì:
-ít quan tâm đến nông dân, nhân nhợng với địa chủ
-Phơng pháp thi hành không đúng đờng lối quần chúng, thiên về thuyếtphục địa chủ, mệnh lệnh làm thay, ban ơn cho nông dân, không dám phóngtay phát động quần chúng nhân dân đấu tranh
Chính vì thế trong nông thôn,địa chủ phong kiến vẫn nắm quyền kinh
tế và chính trị, nông dân vẫn bị áp bức bóc lột nặng nề Do đó công táckháng chiến kiến quốc nh thuế nông nghiệp, tăng gia sản xuất đều làmkhông đợc nh đã định
Chỉ thị xác định mục đích phát động quần chúng là:đánh đổ các thếlực kinh tế của phong kiến, đập tan thế lực chính trị của thực dân phongkiến, thoả mãn một phần yêu cầu kinh tế của nông dân và giành u thế chính
Trang 33trị cho nông dân lao động ở nông thôn,củng cố và mở rộng mặt trận dântộc,phát triển sản xuất,đẩy mạnh kháng chiến,chuẩn bị điều kiện để cải cáchruộng đất.
Trớc đó ngày 12/4/1953, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 149-SL qui địnhchính sách ruộng đất và sắc lệnh 151-SL về trừng trị địa chủ chống pháp luậttrong thi hành chính sách ruộng đất.Đó là những văn kiện cơ bản để phát
động quần chúng
Đờng lối giai cấp của Đảng trong phát động quần chúng giảm tô là dựahẳn vào bần cố nông,phân hoá trung nông, phân biệt đối xử với các hạng địachủ và kiên quyết trừng trị bọn Việt gian phản động, cờng hào ác bá
Ngoài ra để chuẩn bị cho việc thực hiện giảm tô, giảm tức Đảng ta cònchú ý đến việc vạch thành phần của Đảng viên.Tiêu chuẩn vạch thành phần
là ở chỗ đảng viên có ruộng đất hay không có ruộng đất, trâu bò, nông cụ,nhà cửa có những gì và có bao nhiêu, phơng thức sử dụng nh thế nào
Theo qui định của Đảng thì địa chủ là những ngời chiếm hữu nhiềuruộng đất, không lao động hoặc chỉ làm lao động phụ, nguồn sống chính dựavào bóc lột nông dân theo lối phát canh thu tô hoặc thuê ngời làm
Phú nông nói chung có ruộng đất và có đủ nông cụ tự lao động nhngnguồn sống chính dựa một phần hoặc phần lớn vào thuê ngời làm Phú nông
có ngời cho vay nợ lãi hoặc cho phát canh thu tô một phần ruộng đất nhngcách bóc lột chính vẫn là bóc lột nhân công
Trung nông là những ngời có ruộng đất, trâu bò,nông cụ,tự lao động,không bán sức lao động, không bóc lột hoặc bóc lột chút ít
Bần nông là những ngời thiếu ruộng đất và nông cụ,phải lĩnh canhruộng đất và thờng bị bóc lột địa tô,nợ lãi và nhân công
Cố nông nhìn chung không có ruộng đất, nông cụ hoặc chỉ có rất ít.Họsống hoàn toàn bằng việc bán sức lao động
Chính tiêu chuẩn phân định nói trên là cơ sở đấu tranh với giai cấp bóclột trong việc phát động quần chúng giảm tô, giảm tức
Trong bớc phát động quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức xét về thựcchất chúng ta đã bắt đầu tuyên chiến với địa chủ phong kiến.Đối tợng đấutranh là cả giai cấp địa chủ nhng diện đả kích là bọn địa chủ Việt gian phản
động,cờng hào gian ác.Đồng thời chúng ta cũng tiến hành gạt địa chủ rakhỏi các tổ chức cơ sở của ta
Dới sự chỉ đạo của Uỷ Ban Kháng Chiến Hành Chính Liên khu IV và
Uỷ Ban Kháng Chiến Hành Chính Nghệ An,phong trào phát động quần
Trang 34chúng giảm tô,giảm tức ở tỉnh Nghệ An đã đạt đợc những kết quả đángkể.Xây dựng đợc tiềm lực chính trị,kinh tế,quốc phòng ở nông thôn,vừa làtiền tuyến vừa là hậu phơng để phục vụ đắc lực,cung cấp nhân tài,vật lực chokháng chiến và chuẩn bị cho công cuộc cải cách ruộng đất.
2.2.2 Nghệ An phát động quần chúng triệt để giảm tô, giảm tức.
Thực hiện chủ trơng của Trung ơng Đảng,của Liên khu IV,Đảng bộNghệ An đã phối hợp với Uỷ Ban Kháng Chiến Hành Chính Liên khu IVphát động quần chúng giảm tô, giảm tức
Tuy vậy,trớc khi bớc vào công cuộc triệt để giảm tô ở Nghệ An đã diễn
ra phong trào quần chúng nông dân tiến hành đấu tranh với giai cấp địa chủnhằm không cho địa chủ dây da thuế nông nghiệp Phong trào này đợc phát
động trong toàn tỉnh, bắt đầu từ ngày 20-12-1952.Đến năm 1953 Đảng bộNghệ An đã phát động phong trào đấu tranh chính trị nhằm hạ uy thế cờnghào,đi đôi với đấu tranh chính trị là đòi giảm tô, giảm tức, thoái tô, xoá nợ
Từ tháng 6-1953,Nghệ An đã cho thực hiện thí điểm phát động giảm tô
ở các xã Tam Thái(Nghi Lộc),Tân Diễn(Diễn Châu),Quang Thành(YênThành)để mở đầu cho cuộc phát động quần chúng, đánh đổ thế lực về chínhtrị của giai cấp địa chủ,phong kiến ở nông thôn;bớc đầu thực hiện ngời cày
có ruộng, tạo thêm niềm tin tởng cho ngời chiến sỹ đang chiến đấu ngoàimặt trận
Qua một thời gian thực hiện, phong trào đã thu đợc những kết quả
đáng kể:
Trớc hết phong trào đã hạ đợc uy thế của bọn cờng hào, địa chủ, phúnông, mang lại quyền lợi thiết thực cho nông dân
Tại Nam Đàn, song song với việc đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh
tế, văn hoá.Từ cuối 1953, tỉnh cử cán bộ công tác về huyện Nam Đàn tiếnhành cuộc vận động phát động quần chúng đấu tranh triệt để giảm tô, thựchiện giảm tức.Sau khi tổng kết rút kinh nghiệm làm thí điểm đợt I ở hai xãXuân Yên và Vạn Thọ từ tháng 1 năm 1954, cuộc phát động quần chúng đấutranh triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức đợt II đợc mở rộng ra khắp các xãtrong huyện Đợc các đội công tác phát động, giai cấp nông dân trong huyện
đã vùng dậy vạch tội ác của giai cấp địa chủ phong kiến, đấu tranh buộcchúng phải triệt để giảm tô và giảm tức.Những tên trớc đây ngoan cố khôngchịu thực hiện hoặc thực hiện cha đúng mức nay buộc phải thoái tô cho tá
điền Ruộng công đợc chia hẳn cho nông dân, các thứ nợ đợc giảm lãi và cóthứ bỏ hẳn.Qua công cuộc bình tô ở Nam Đàn thì thấp nhất là giảm 37%,
Trang 35trung bình và đại bộ phận là 60%, cao nhất là 90%.ở Diễn Châu mức tô thấpnhất là 85%,trung bình và đại bộ phận là 40-45%,cao nhất là 90%.Còn ởQuỳnh Lu thấp nhất là 25%,trung bình 45-50%,cao nhất là 95%
Nếu nh ở Nghi Lộc trong năm 1950 đợc mặt trận Việt Minh- Liên Việttỉnh và huyện tuyên truyền,vận động 1080 trong số 1151 gia đình có ruộng
đất phát canh đã thực hiện giảm tô 25% theo Sắc lệnh ngày 15/2/1950 củaChính phủ với diện tích là 1846 mẫu trong số 1951 mẫu Trung bộ.Cả huyệnchỉ còn 70 địa chủ với 105 mẫu cha giảm đúng.Đến 6/1953,Uỷ ban cải cách
ruộng đất Trung ơng cử một đoàn cán bộ về chỉ đạo thí điểm cuộc"Phóng tay phát động quần chúng triệt để giảm tô" ở Nghệ An đã chọn Tam Thái
(Nghi Lộc) là một trong số 3 xã làm thí điểm Đến tháng 9/1953 cuộc vận
động giảm tô đã đợc mở rộng ra toàn tỉnh.ở Nghi Lộc cũng đợc tiến hànhrộng trong các xã Đợt II bắt đầu từ tháng 9 gồm 5 xã: Phúc Hoà, Thần Lĩnh,Thuận Hoà, Xuân Hải, Ng Hải Đợt III bắt đầu từ tháng 4/1954 gồm các xã:Thịnh Trờng, Xuân Lộc, Hợp Châu, Xá Lĩnh, Đông Hải, Yên Sơn Các đợt
"Phóng tay phát động quần chúng triệt để giảm tô "đã phát động đợc đại bộ
phận nông dân vùng dậy đấu tranh hạ uy thế chính trị của bọn địa chủ cờnghào,ác bá,bắt chúng phải thoái tô, thoái tiền công quỵt cho tá điền Qua đợtphát động này các đơn vị hành chính xã và các tổ chức Đảng, chính quyền,mặt trận,đoàn thể ở các cấp đều đợc chấn chỉnh, sắp xếp lại theo yêu cầumới Đơn vị hành chính cơ sở từ 13 xã lớn đợc chia thành 38 xã mới vàthống nhất lấy chữ đầu tiên huyện làm chữ đầu tiên xã
Nhìn chung trong việc giảm tô vụ chiêm năm 1953 ở Nghệ An thìnông dân , nhất là bần cố nông đã hăng hái thực hiện chủ trơng giảm tô của
Đảng, gây thành một phong trào sôi nổi rộng khắp Kết quả đã mang laị mộtphần về kinh tế và nâng cao một phần ý thức giác ngộ chính trị cho nông dân
và tổ chức nông hội đợc đề cao hơn, khí thế đấu tranh của nông dân bắt đầulên, uy thế của địa chủ đang bị sụt xuống nhanh chóng
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện giảm tô vụ chiêm năm 1953,Đảng
bộ Nghệ An cũng đã mắc một số sai lầm, đó là chính sách không đợc phổcập rộng rãi trong Đảng và trong nhân dân, nông dân học tập còn sơ sài,không nghiên cứu kỹ nội dung của chính sách, do đó khi thực hiện nhiều nơi
đẩy mức tô lên 80-90%, thậm chí có nơi còn đẩy lên tới 100%, 120%, có nơi
định mức tô cho từng thành phần nh địa chủ hơn phú nông 5%, phú nônghơn trung nông 5%, có nơi định mức tô theo sản lợng thuế nông nghiệp Ngoài ra còn có những sai lầm về nguyên tắc tổ chức,về sách lợc.Trong đó
Trang 36sai lầm lớn nhất là không tăng cờng đợc sự lãnh đạo của Đảng trong thựchiện mà lập các đội công tác độc lập.Tuy nhiên, những sai lầm này đã dần đ-
ợc khắc phục trong những đợt sau
Tính chung qua các đợt giảm tô đợc thực hiện ở các địa phơng trongtoàn tỉnh Nghệ An đã có hàng vạn mẫu ruộng, hàng vạn tạ thóc thu đợc từ
đấu tranh đã đợc nông dân đa vào sử dụng sản xuất, mua sắm trâu bò, nông
cụ Sau các đợt đấu tranh này đã dấy lên một phong trào thi đua sản xuấtphục vụ kháng chiến, đóng thuế và đi dân công
Với hai đợt phát động quần chúng giảm tô, ruộng đất của địa chủ vànông dân đã có những chuyển biến rõ rệt
Theo báo cáo công tác năm 1953 của Tỉnh uỷ Nghệ An, thì cuối năm
1953 trên toàn tỉnh tăng diện tích đợc 1000 mẫu(5 huyện miền nam tăng
7000 mẫu,3 huyện miền bắc sụt 3000 mẫu),năng suất trung bình tăng 12%,các thứ hoa màu khác nh ngô, khoai thì đều bị sụt giảm cả diện tích và sản l-ợng
Nh vậy, từ năm 1945 - 1953 dới tác động của các chính sách ruộng
đất,số ruộng đất trong tay địa chủ ngày càng giảm.Không chỉ có địa chủ màphú nông tầng lớp có nhiều ruộng đất sau địa chủ dới tác động của nhữngchính sách ruộng đất từ sau cách mạng tháng Tám đến 1953 cũng có sựchuyển biến cả về số hộ và số ruộng đất theo hớng có lợi cho nông dân.Nông dân, đối tợng chính của quá trình thực hiện chính sách ruộng đất
đã có sự chuyển biến tích cực rõ rệt cả về hộ và ruộng đất Số ruộng đất củanông dân ngày càng tăng lên, đó là do nông dân đã có thêm ruộng địa chủphân tán, ruộng công và ruộng bán công, so với trớc Cách mạng tháng Tám
và năm 1949 thì chiếm hữu ruộng đất cũng nh bình quân ruộng đất của nôngdân có sự chuyển biến lớn Nhìn chung đối tợng chủ yếu có đợc ruộng vẫn làtrung bần nông,cố nông đợc rất ít.Nguyên nhân của tình trạng trên một phần
là trong khi chia ruộng cho nông dân chúng ta không thực hiện đúng nguyêntắc"thiếu ít chia ít, thiếu nhiều chia nhiều", mặt khác trung bần nông có điềukiện chuộc lại ruộng, còn cố nông thì không Tuy nhiên, bộ mặt nông thônNghệ An về cơ bản đã có sự chuyển biến tích cực, chính quyền cấp xã đợcsơ bộ chấn chỉnh, trong tạm thu, trong đấu tranh chính trị và trong phongtrào giảm tô nhằm gạt bỏ khỏi bộ máy chính quyền những phần tử phản
động, đề bạt một số bần cố nông tham gia vào bộ máy chính quyền
Trang 37Bớc sang năm 1954, Nghệ An cùng các tỉnh ở miền Bắc thực hiện hainhiệm vụ trung tâm mà TW Đảng và Hồ Chủ Tịch xác định là "Ra sức đánhgiặc và thực hiện cải cách ruộng đất".
Hội nghị hành chính toàn Liên khu họp từ ngày 13 đến 18/3/1954, đã
ra nghị quyết "Nhiệm vụ cụ thể của Thanh Nghệ Tĩnh là ra sức phục vụ tiền tuyến, tích cực xây dựng lực lợng bảo vệ hậu phơng đồng thời phải tiến hành phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất, có kế hoạch từng bớc lãnh đạo chặt chẽ và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp để đảm bảo cung cấp
và cải thiện dân sinh " [31,136].
Trong chơng trình công tác năm 1954, Liên khu uỷ Liên khu IV đã đề
ra nhiệm vụ "Tiếp tục sơ bộ chỉnh đốn làm cho chính quyền thực sự trong tay nông dân chuẩn bị cải cách ruộng đất, cụ thể là đề cao cảnh giác của nông dân với phản ứng của giai cấp địa chủ, tăng cờng đoàn kết nông thôn chủ yếu là giữa bần cố nông "[ 32,148]
Dới sự chỉ đạo của TW Đảng và Liên khu uỷ, Đảng bộ Nghệ An đãlãnh đạo quần chúng tiếp tục thực hiện các đợt giảm tô trong điều kiện cả n-
ớc dồn sức cho chiến cuộc Đông Xuân và chiến dịch Điện Biên Phủ Nhiệm
vụ phát động quần chúng giảm tô nhằm đẩy mạnh hơn nữa bồi dỡng sức dântập trung cho nhiệm vụ đánh giặc.Đặc biệt là các cán bộ chiến sĩ quân
đội,thanh niên xung phong,dân công hoả tuyến trên các chiến trờng đợc tinvui gia đình mình đã có ruộng,đời sống ngày một tốt hơn nên càng phấnkhởi,yên tâm,hăng hái thi đua giết giặc lập công
Nh vậy, từ tháng 9/1953 đến tháng 7/1954 Nghệ An đã tiến hành 5 đợtphát động quần chúng đấu tranh triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức tại 120xã trong số 155 xã thuộc các huyện đồng bằng, trung du Qua các đợt phát
động quần chúng, các địa phơng đã đa ra khỏi tổ chức Đảng, chính quyềncấp huyện và cơ sở những địa chủ, quan lại cờng hào trớc Cách mạng thángTám 1945 làm tay sai cho đế quốc phong kiến Những cán bộ, đảng viênthuộc thành phần công nhân, bần cố nông đợc tăng cờng vào các cấp uỷ
Đảng và chính quyền cấp huyện, xã; quyền làm chủ của nông dân lao động
đợc đề cao
Cuộc phát động quần chúng đấu tranh triệt để giảm tô, thực hiện giảmtức đợc tiến hành trong thời điểm của chiến cuộc Đông Xuân đang thắng lợidồn dập đã tạo nên sức bật mới cho cả hậu phơng và tiền tuyến Những thắnglợi to lớn ở tiền tuyến và hậu phơng cổ vũ lẫn nhau,động viên tinh thần hănghái chiến đấu của bộ đội, thanh niên xung phong và dân công trên các chiến
Trang 38trờng.Từ thành quả của giảm tô,giảm tức đa ruộng đất về cho dân cày,Nghệ
An đã tích cực đóng góp sức ngời và sức của cho kháng chiến chống Pháp.Trong chiến dịch Điện Biên Phủ,Nghệ An đã đóng góp 32000 dân công,trong đó có 200 dân công xe đạp thồ cùng hàng ngàn tân binh, thanh niênxung phong, dân công hoả tuyến đã nô nức lên đờng ra tiền tuyến với tinhthần "Tất cả cho cuộc tấn công chiến lợc Đông Xuân 1953- 1954", "Tất cảcho Điện Biên Phủ",toàn dân đã ra sức tăng gia sản xuất, tiết kiệm,đáp ứngnhu cầu tiền tuyến.Chỉ trong một thời gian rất ngắn, nông dân cả tỉnh đãnhập kho 1496 tấn thóc thuế đã phơi khô,quạt sạch(bằng 50% chỉ tiêu giaonộp năm 1953 và bằng 82% mức thuế mà Liên khu IV giao cho Nghệ Antrong một vụ)
Kết quả đó, chứng tỏ đây là một chủ trơng đúng đắn,sáng suốt kịp thờigiải quyết những vấn đề bức xúc,mâu thuẫn trong xã hội làm cho quầnchúng nhân dân rất phấn khởi tin tởng ,hởng ứng đờng lối chính sách của
Đảng
Nh vậy, phát động quần chúng giảm tô trong năm 1953- 1954 ở Nghệ
An đã đánh ngả địch về mặt chính trị, đem lại một phần quyền lợi kinh tếcho nông dân, thiết thực bồi dỡng sức dân, góp phần vào thắng lợi trên mặttrận quân sự Kết quả to lớn của các đợt phát động quần chúng triệt để giảmtô là bớc chuẩn bị trực tiếp cho công cuộc cải cách ruộng đất
2.3 Nghệ An thực hiện cải cách ruộng đất ( 1955 - 1956)
2.3.1 Chủ trơng của Đảng.
Cải cách ruộng đất là cuộc cách mạng nhằm đánh đổ ách áp bức,bóc lộtcùng với sự chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ,đem lại ruộng đất vàquyền làm chủ cho nhân dân lao động.ở Việt Nam,cải cách ruộng đất là mộtnhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm xoá bỏ chế
độ ruộng đất phong kiến,thực hiện khẩu hiệu"ngời cày có ruộng"
Thật vậy,cải cách ruộng đất là khâu cuối cùng của cách mạng phảnphong, cải cách ruộng đất nhằm xoá bỏ triệt để chế độ phong kiến chiếmhữu ruộng đất, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất là của nhà nớc giao chonông dân lao động, vĩnh viễn giải phóng nông dân, giải phóng sức sản xuấtnông nghiệp khỏi quan hệ bóc lột phong kiến Đứng về mặt giai cấp, cảicách ruộng đất là đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ bóc lột trong nôngthôn,nông nghiệp và nông dân