Mặt khác Xuân Diệu ngoài sáng tác thơ còn có những bài phê bình trựctiếp bàn về tính chất dân tộc.Thuật ngữ chúng tôi dùng trong đề tài này khôngphải là cách dùng để mạt sát dân tộc mà đ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Phong trào Thơ mới (1932-1945) đã trở thành “một thời đại trong thi ca” của văn học Việt Nam Xuân Diệu là một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Xuân Diệu
Chọn đề tài: “Tính cách An nam trong quan niệm và trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8”, chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc khẳng định những đóng góp của Xuân Diệu cho nền văn học Việt Nam Đến với đề tài này, vì điều kiện thời gian và thực hiện trong khuôn khổ một luận văn, nên chắc chắn chúng tôi còn nhiều thiếu sót
Luận văn này hoàn thành nhờ sự hướng dẫn tận tình chu đáo của thầy giáo Lê Văn Tùng và sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô tổ Văn học hiện đại Việt Nam, khoa Văn, trường đại học Vinh
Chúng tôi xin gửi đến các thầy cô lòng biết ơn sâu sắc
Vinh, ngày 14 tháng 5 năm 2005 SV: Nguyễn Thị Thanh Huyền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
I Lí do chọn đề tài ……… 4
II Lịch sử vấn đề ……… 5
III Phương pháp nghiên cứu ……… 7
IV Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ……… 8
1 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 8
2 Phạm vi nghiên cứu ……… 8
V Cấu trúc luận văn ……… 8
CHƯƠNG I: Tính dân tộc và tính dân tộc Việt Nam trong văn học ……… 9
I.Tính dân tộc ……… 9
1 Khái niệm ………9
2 Nội dung ……… 10
Trang 2II Tính dân tộc Việt Nam trong văn học ……… 13
1.Tính dân tộc Việt Nam trong văn học thời kì trước Xuân Diệu ……… 13
2 Nhìn chung về tính dân tộc trong Thơ mới ……….17
III Về thuật ngữ “ Tính cách An nam “ ……… 21
CHƯƠNG II: “Tính cách An nam” trong văn chương qua
quan niệm của Xuân Diệu ……… 22 I Văn chương An nam phải có “ tính cách An nam” ……… 22
II.Tính dân tộc trong văn học không phải là một hiện tượng
đứng yên, bất biến mà là một hiện tượng lịch sử có phát triển, biến đổi ……… 33
III Nguồn gốc quan niệm về “ tính cách An nam” trong văn chương của Xuân Diệu ……… 37
CHƯƠNG III: “Tính cách An nam” trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám ……….39
I Đề tài, chất liệu ……… 39
1 Đề tài thiên nhiên……… 39
2 Đề tài sự sống, tình yêu, tuổi trẻ……… 40
3 Chất liệu thơ ca ……… 42
II Cảm hứng, tư tưởng……… 43
1 Cái đẹp của thiên nhiên đất nước Việt Nam ……… 43
2 Vẻ đẹp tâm hồn, tâm lý, cá tính, tình cảm của con người Việt Nam ……… 46
III Hình thức thể hiện ……… 48
1 Ngôn ngữ……… 48
2 Thể thơ ……… 51
3 Giọng điệu ……… 54
IV Truyền thống và hiện đại trong “tính cách An nam” của thơ Xuân Diệu ……….55
KẾT LUẬN ……… 57
THƯ MỤC THAM KHẢO ……….59
MỞ ĐẦU
Trang 3
I Lí do chọn đề tài
Xuân Diệu ( 1916-1985) là một nhà thơ lớn của nền Văn học Việt Namhiện đại Ông là một trong những cây bút xuất sắc có tác động sâu rộng, lâudài trong tiến trình phát triển của văn học nước nhà Con đường sáng tạo nghệthuật của Xuân Diệu trải dài suốt nửa thế kỉ Ông đã gặt hái thành công trênnhiều thể loại văn xuôi, nghiên cứu phê bình, dịch thuật và đặc biệt là thơ ca.Xuân Diệu đã đến với đời như một sứ giả của thơ ca mang theo tình yêu, niềmvui, khát khao hạnh phúc và giao cảm với mọi người
Xưa nay, người ta vẫn cho rằng Xuân Diệu là nhà thơ chịu ảnh hưởng nhiềunhất của thơ ca phương Tây, Xuân Diệu Tây nhất,“mới nhất trong các nhà Thơmới ” Người ta chia Thơ mới thành ba dòng : ảnh hưởng của cổ thi và thơĐường ( tiêu biểu Huy Thông, Huy Cận ) tính dân tộc thuần tuý ( Nguyễn Bính,Nguyễn Nhược Pháp ) và ảnh hưởng của thơ Pháp ( Xuân Diệu, Hàn MặcTử )
Vấn đề đặt ra ở đây là phải chăng thơ Xuân Diệu không có tính dân tộc ?Thơ Xuân Diệu hiện đại có đối lập với tính dân tộc không? Trong qúa trìnhhiện đại hoá văn học, có phải Xuân Diệu đã Tây hoá thi ca Việt Nam không ?Với đề tài: “Tính cách An nam” trong quan niệm và trong thơ Xuân Diệutrước cánh mạng tháng 8 ”, chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này
Chúng ta sẽ thấy rằng thơ Xuân Diệu mặc dù rất Tây, rất hiện đại nhưngvẫn không xa rời tính dân tộc - chất dân tộc mà ông vẫn thường gọi là ” tínhcách An nam ” Từ đó ta hiểu một cách biện chứng hơn tính chất dân tộc trongvăn học, tức là không nên hiểu tính dân tộc một cách máy móc, cố định Đâychính là cái hay, cái đóng góp to lớn của Xuân Diệu
Mặt khác Xuân Diệu ngoài sáng tác thơ còn có những bài phê bình trựctiếp bàn về tính chất dân tộc.Thuật ngữ chúng tôi dùng trong đề tài này khôngphải là cách dùng để mạt sát dân tộc mà đây chỉ là một cách dùng đương thời,một cách nói thân mật của ” người An nam ta “ Xuân Diệu đã viết những bàiphê bình, đánh giá tính dân tộc của các nhà thơ khác như : Tản Đà, Huy Cận
Từ vấn đề tính dân tộc trong quan niệm của Xuân Diệu có thể cung cấpmột cái nhìn biện chứng, khoa học, không máy móc đối với cac sự kiện vănhọc cho những ai học tập và nghiên cứu văn chương Nghĩa là phải có cái nhìntoàn diện, trên nhiều góc độ đối với sự kiện văn học để thấy nó trọn vẹn hơn
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong số những tên tuổi đã làm rạng danh một thời “ Thơ mới ” như :Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử, NguyễnBính Xuân Diệu nổi lên như một gương mặt sáng giá nhất của phong tràoThơ mới Xuân Diệu đã được sự chào đón nhiệt liệt không chỉ của đông đảođộc giả mà còn của các nhà phê bình danh tiếng như : Vũ Ngọc Phan, HoàiThanh
Trang 4Với sự xuất hiện của Xuân Diệu, lần đầu tiên trên thi đàn “ cái tôi ” tiểu
tư sản đã bày tỏ những tâm tư thầm kín, những cảm xúc yêu đương tuôn trào,những khát vọng được hưởng thụ hoa thơm, trái ngọt của cuộc đời trần thế.Lần đầu tiên những tình cảm nồng cháy, tha thiết đến rạo rực của một thế hệtuổi trẻ khát khao một cuộc sống mới, muốn vượt ra khỏi sự tù đọng, lụi tàncủa xã hội cũ để sống, để yêu để khẳng định bản ngã Xuân Diệu yêu thươngđến đắm say sự sống và khát khao giao cảm với đời nhưng luôn bắt gặp sự “hờhững”, “vô tình” của người đời Chính vì vậy, mà tấm lòng thiết tha của XuânDiệu, thơ Xuân Diệu luôn tạo được sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Các nhànghiên cứu, phê bình từ trước đến nay đều tập trung đi sâu nghiên cứu, khẳngđịnh sức sống mãnh liệt trong thơ Xuân Diệu cũng như những đóng góp củaông Nhà thơ Thế Lữu trong tựa tập “Thơ thơ” đã cho rằng: “Xuân Diệu làmột người của đời, một người ở giữa loài người”; một hồn thơ “say đắm tìnhyêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộcđời ngắn ngủi của mình, khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn thathiết” (Hoài Thanh ) “Một thi sĩ rất giàu lòng yêu dấu”, “đằm thắm và nồngnàn nhất trong các nhà thơ mới ” ( Vũ Ngọc Phan ) ; một nhà thơ của ” niềmkhát khao giao cảm với đời ” ( Nguyễn Đăng Mạnh ) ; một nhà thơ được xem
là ” hoàng tử của thi ca hiện đại ” ( Đoàn Thị Đặng Hương ).v.v Những đánhgiá đó đã cho ta thấy vị trí là “ cây đại thụ” của Xuân Diệu trong nền văn họcViệt Nam hiện đại
Qua việc khảo sát những công trình nghiên cứu về thơ Xuân Diệu,chúng tôi thấy rằng chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về đềtài “ Tính cách An Nam ” trong quan niệm và trong thơ Xuân Diệu trước cáchmạng tháng 8 “ Nhưng trong khi nghiên cứu các phương diện khác của thơXuân Diệu cũng đã có một số ý kiến bàn về vấn đề này
Ở bài viết về Xuân Diệu, trong cuốn “ Thi nhân Việt Nam”, HoàiThanh đã nhận xét : “ Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý tới nhữnglối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đãmượn trong thơ Pháp Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệuthơ, một cái gì rất Việt Nam đã quyến rũ ta [ 7-105 ]
Vương Trí Nhàn trong bài viết “ Xuân Diệu và một quan niệm cởi mở
về tính dân tộc” đã cho rằng : “ Chúng ta sẽ gặp ở đây một cách hiểu khá rộngrãi của Xuân Diệu : Ông không nghĩ tính cách dân tộc là một cái gì nhất thànhbất biến Ngược lại, từ kinh nghiệm riêng của một người làm việc ông bảochúng ta phải mở cửa phải biết tiếp nhận Có những cách nói ban đầu khónghe rồi dần dần sẽ quen Chừng nào còn là người Việt, những cái chúng taviết sẽ là văn chương Việt Nam Không phải chỉ có một lối “ giản dị “, “ chânquê” mới là dân tộc như người ta đã nghĩ” [ 8-257 ]
Như vậy, ta thấy chưa có một công trình nào thật sự đi sâu vào tìm hiểu
về “ tính cách An nam” trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8 Tất cả chỉ
là những nhận xét có tính chất lẻ tẻ, rải rác, tản mạn Tuy nhiên đó là những gợi ý
Trang 5xác đáng để chúng tôi đi sâu nghiên cứu vấn đề “Tính cách An nam ” trong quanniệm và trong thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8 ” một cách tập trung hơn,
hệ thống hơn
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để xây dựng hoàn chỉnh nội dung luận văn, trong quá trình nghiêncứu chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Dựa vào những căn cứ lý luận để khảo sát phạm trù tính dân tộc trongvăn học
- Một mặt chúng tôi quan tâm đến những ý kiến phát biểu trực tiếp củaXuân Diệu về “ tính cách An nam” Đó là những quan điểm có tính chất lýluận giúp cho việc đối chiếu với sáng tác của ông để tìm “ tính cách An nam”trong thơ ông
- Lý giải được khái niệm “tính cách An nam” trong văn học nói chung
và trong quan niệm của Xuân Diệu nói riêng
- Chứng minh thơ Xuân Diệu không chỉ là hiện đại, chịu ảnh hưởngnhiều của thơ Pháp mà thơ Xuân Diệu còn mang đậm tính chất dân tộc
2 Phạm vi nghiên cứu :
- Khi nghiên cứu quan niệm của Xuân Diệu về “tính cách An nam” taquan tâm đến những bài viết có tính chất lý luận, phê bình các hiện tượng vănhọc có tính dân tộc trong thơ
- Phải nghiên chứu hai tập thơ : “ Thơ thơ ” và “ Gửi hương cho gió “
để chứng minh thơ Xuân Diệu trước cách mạng thể hiện “ tính cách An nam”
V CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và mục tài liệu tham khảo, nộidung luận văn gồm có 3 chương :
Chương I : Vấn đề tính dân tộc và tính dân tộc Việt Nam trong vănhọc
Chương II : “ Tính cách An nam ” trong văn chương qua quan niệmcủa Xuân Diệu
Chương III : “ Tính cách An nam ” trong thơ Xuân Diệu trước cáchmạng tháng 8
Trang 6CHƯƠNG I : VẤN ĐỀ TÍNH DÂN TỘC VÀ TÍNH DÂN TỘC
VIỆT NAM TRONG VĂN HỌC
I TÍNH DÂN TỘC
1 Khái niệm
Xung quanh vấn đề tính dân tộc đã có nhiều định nghĩa khác
nhau
Tác giả Lê Đình Kỵ trong cuốn “ Các phương pháp nghệ thuật”đã cho
rằng : ” Tính dân tộc thể hiện trước tiên là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ vốn là đặctrưng chủ yếu của một dân tộc”
Lại có quan điểm cho rằng phong tục tập quán của mỗi dân tộc là có tínhdân tộc hơn cả hoặc dân tộc “ là kết quả của sự gom góp tất cả cái nết hay màdân tộc ấy sẵn có ” ( Lan Khai)
Trong cuốn” Về tính dân tộc trong văn học ” Thành Duy đã đưa ra định
nghĩa về tính dân tộc : ”Tính dân tộc là một phạm trù mỹ học, nó gắn liền vớiquan niệm về cái đẹp của mỗi dân tộc nhất định Do đó những yếu tố tâm lý,đạo đức, tình cảm, nếp nghĩ, phong tục tập quán Và nói chung là những hìnhthái biểu hiện của tính dân tộc bao giờ cũng gắn liền với những điều kiện lịch
sử xã hội cụ thể Tính dân tộc đồng thời là một phạm trù lịch sử, nó không chỉgắn liền với điều kiện lịch sử xã hội cụ thể mà nó còn biến đổi và phát triểnkhông ngừng ” [1-78]
Giáo trình lí luận văn học ( tập 1) của nhóm tác giả Trần Đình sử,
Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam lại đưa ra một cách hiểu khác về tínhdân tộc : “ Tính dân tộc của văn nghệ là tổng hoà mọi đặc điểm độc đáochung cho các sáng tác của dân tộc “[3-149]
Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,Nguyễn Khắc Phi trong
“Từ điển thuật ngữ văn học ” đã định nghĩa :”Tính dân tộc là một
phạm trù tư tưởng thẩm mỹ chỉ mối quan hệ khăng khít giữa văn học
và dân tộc, thể hiện qua tổng thể những đặc điểm đọc đáo tương đốibền vững chung cho các sáng tác của một dân tộc, được hình thànhtrong quá trình phát triển lịch sử và phân biệt với sáng tác của cácdân tộc khác”[4-233]
Chúng tôi liệt kê ở đây một số định nghĩa về tính dân tộc và thấyrằng một định nghĩa nào cũng chưa thâu tóm được mọi đặc điểm của mộthiện tượng, mọi khía cạnh của một vấn đề Để hiểu rõ hơn sự phong phú
đa dạng của vấn đề tính dân tộc, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu những đặcđiểm của nó
2 Nội dung
Tính dân tộc thể hiện ở mọi yếu tố từ nội dung tới hình thức Nhà vănNga Gôgôn đã nói rất chí lí :” Tính dân tộc chân chính không ở chỗ miêu tảcái áo xarapan mà ở ngay trong tinh thần dân tộc Nhà thơ vẫn có thể là nhà
Trang 7thơ dân tộc ngay cả khi ông ta miêu tả một thế giới hoàn toàn khác lạ, nhưngnhìn nó bằng con mắt của dân tộc mình, nhân dân mình, cảm thấy và phát biểutheo lối mà đồng bào ông đang cảm thấy và phát biểu “.
Về mặt nội dung, dễ dàng nhận thấy trước hết tính dân tộc biểu hiệntrong sự phản ánh “màu sắc “ dân tộc của thiên, của đời sống vật chất và tinhthần của xã hội Đọc sáng tác của một dân tộc ta như sống cuộc sống của dântộc đó với những đặc điểm của một thế giới riêng Tuy nhiên, tính dân tộc củavăn học không chỉ biểu hiện ở những vật thể, đường nét màu sắc có thể nắmbắt được Nội dung căn bản của tính dân tộc là ở tinh thần dân tộc, thể hiện ởtính cách dân tộc và cái nhìn của dân tộc đó đối với cuộc đời Đó là nhữngyếu tố tương đối bền vững được hình thành và phát triển trong những hoàncảnh địa lý và con đường phát triển lịch sử riêng của dân tộc, là một sản phẩmchỉnh thể biểu hiện một phức hợp liên kết các phẩm chất nhất định Chẳng hạnlòng thương người của người Việt Nam gắn với đức hi sinh, lòng kiên nhẫn
Nhà thơ Bungari Đimitrôva trong “Ngày phán xử cuối cùng” có nhận xét :
“Đất nước Việt Nam đã cho tôi gặp gỡ với lòng kiên nhẫn Có lẽ đó là gươngmặt thực nhất của con người Lòng kiên nhẫn mạnh hơn sức mạnh vì chính nólàm cho sức mạnh trở thành bất lực”
Về mặt hình thức của tính dân tộc,trước hết phải nói đến ngôn ngữ vànhững phương tiện diễn đạt khác như thể loại, luật vần điệu, màu sắc, âmthanh, chất liệu kiến trúc.v.v Ngôn ngữ dân tộc phải thể hiện được tư duy,thị hiếu và tâm hồn dân tộc mình A Tônxtôi nói : “ Nghệ thuật dân tộc lànghệ thuật mang mùi hương đất đai, trong tiếng mẹ đẻ mỗi từ dường như cóhai lần ý nghĩa nghệ thuật, một ý nghĩa hôm nay và một ý nghĩa mang từ thờithơ ấu đầy xúc cảm, trong những từ thân thuộc nghe vừa ngon lành vừa hữutình, ý vị Về hình thức cũng có thể nói đến hoàn cảnh thiên nhiên, phongtục tập quán và mặt nào đó của tâm lý dân tộc ”
Chính những hình thức này là những phương tiện diễn đạt đời sống tinhthần phong phú của dân tộc, làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác Thựcvậy, sự phong phú uyển chuyển giầu nhạc điệu của tiếng Việt đã góp phần rấtquan trọng tạo nên kho tàng dân ca kì diệu của dân tộc, cũng như nhiều kiệttác của Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,Nguyễn Du Điệu cò lả và nhiều điệu hát dân ca khác là chất liệu không thểthiếu được đối với nhiều nhà thơ, nhà văn Cây tre Việt Nam, bến nước sânđình, cây đa, con đò, dòng sông là những khung cảnh thiên nhiên góp phầntạo nên nhiều áng văn, nhiều câu thơ hay, đặc sắc
Tính dân tộc còn thể hiện ở quá trình phát triển độc đáo của văn họccùng các đặc sắc do quá trình lịch sử ấy mang lại Chẳng hạn, có thể nhận thấy
sự khác biệt giữa chủ nghĩa hiện thực Nga với chủ nghĩa hiện thực Pháp XIX.Quan tâm đến vận mệnh nhân dân và dân tộc, quan điểm lịch sử là đặc sắc dântộc của chủ nghĩa hiện thực Nga Còn miêu tả đời sống tinh thần khách quan
Trang 8của phương pháp khoa học tự nhiên lại là một đặc sắc của chủ nghĩa hiện thựcPháp
Tính dân tộc của văn học mang nội dung lịch sử và phải được xem xéttheo quan điểm lịch sử Nó được hình thành trong cả một quá trình lâu dài mànhững cái mốc quan trọng là sự hình thành dân tộc và sự vận dụng ngôn ngữdân tộc làm ngôn ngữ văn học Ở Việt nam, bắt đầu từ Nguyễn Trãi trở đitiếng Việt mới dần trở thành ngôn ngữ văn học, đánh dấu bước phát triển quantrọng của tính dân tộc trong văn học Việt nam Trong suốt qúa trình phát triển,tính dân tộc không ngừng được phong phú thêm bởi sự tiếp thu tinh hoa vănhoá nước ngoài Thơ ca Việt nam vốn ưa vần lưng và hình thức tự sự trườngthiên, được phong phú thêm bởi thơ Nôm và phú Nôm từ văn học Hán Tiếpthu thơ phương Tây, thơ ta giầu thêm với thể tự do và thể tám chữ chia khổ
Vì vậy có thể nói rằng, một sáng tác văn học có tính dân tộc cao phải vừa kếthừa được truyền thống văn học dân tộc vừa đổi mới và có đóng góp vào sựphát triển của truyền thống ấy
Xét về mặt sáng tác thì tính dân tộc thuộc phạm vi phương diện sáng táccủa toàn bộ trào lưu văn học Nhưng ở mỗi cá nhân nhà thơ, nhà văn thì tínhdân tộc biểu hiện trong tác phẩm của họ có mức độ khác nhau
II TÍNH DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG VĂN HỌC
1 Tính dân tộc Việt Nam trong văn học thời kỳ trước Xuân Diệu.
Có thể nói rằng, truyền thống cao quý và lâu đời nhất của nhân dân ta,sức mạnh kỳ diệu của sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong bốn ngàn năm
là chủ nghĩa yêu nước Chính truyền thống ấy đã thể hiện sức mạnh Việt Nam,bản lĩnh Việt Nam, là hạt nhân quyết định tính dân tộc độc đáo Việt Nam.Điều đó đã được thể hiện rõ trên con đường phát triển của văn học Việt Nam
Khi văn học viết chưa ra đời, văn học dân gian ở nước ta đã phát triễnmạnh mẽ, thực sự là nguồn sống tinh thần không thể thiếu được của nhân dânlao động Chính kho tàng văn học dân gian phong phú đó đã nuôi dưỡng ýthức dân tộc, phát huy những tình cảm tốt đẹp, lâu đời của nhân dân ta “ Nó
có mặt ở mọi ngõ ngách trong tận hang cùng, ngõ hẻm, đi vào từng nhà, từngngười Nó đi vào lòng người một cách tự nhiên, trở thành máu thịt, thành nếpsống, thành lời ăn tiếng nói, thành tư tưởng tình cảm của mỗi người Việt Nam
Nó vừa là ngọn nguồn làm nảy sinh cuộc sống tinh thần của nhân dân ta, vừa
là món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi người Việt Nam” [ 1-189]
Trong mỗi câu ca dao đều có phần máu thịt của con người Việt Nam, thểhiện rõ nhất sự rung động trong trái tim và trong tâm hồn con người Việt Nam;chỉ ở đó chúng ta mới thấy rõ tâm hồn chất phác, hồn nhiên được nảy nở màkhông bị ràng buộc bởi những tục lệ cũng như những hình thức phô diễn quá cầu
kỳ Chính những câu ca dao thật mộc mạc, giản dị, những câu tục ngữ thật súctích mà dễ hiểu, những câu hò, điệu hát thật phóng khoáng, tự nhiên đã thể hiện
Trang 9rõ nhất, sâu sắc nhất cõi lòng sâu kín, tế nhị, thuần tuý dân tộc của con ngườiViệt Nam.
Trong những câu ca dao ta có thể tìm thấy được vẻ đẹp bên ngoài củadân tộc từ non sông gấm vóc, rừng vàng biển bạc, đồng ruộng phì nhiêu, cây
cỏ xanh tươi Nếu như là một người dân xứ Nghệ thì có lẽ không ai khôngnhớ câu ca dao:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non sông nước biếc như tranh hoạ đồ.
Đặc biệt, ca dao đã ghi lại tất cả các chặng đường của tình yêu, cáctrạng thái tình cảm của nam nữ thanh niên với những trắc trở, khó khăn trongtình yêu do đời sống và chế độ phong kiến gây nên Tình yêu của nam nữthanh niên ở nông thôn là thứ tình yêu thường liên quan đến đồng ruộng, đếnxóm làng như khi nhớ người yêu thì nhớ cả quê hương, nhớ cả những món ănbình dị, nhớ cả những công việc vất vả hàng ngày:
Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
Trong cảnh lầm than tình yêu của nhân dân lao động vẫn thắm thiết, cókhi còn thêm gắn bó keo sơn, cho nên trong sinh hoạt khó khăn và gian khổ họvẫn hăng hái và bền bỉ giữ vững tình cảm của mình Những câu biểu hiện ýchí sắt đá của những người bạn tình có rất nhiều trong ca dao Việt Nam:
Rủ nhau lên núi đốt than, Anh đi Tam Điệp em mang nón trình
Củi than nhem nhuốc với tình Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên
Trong ca dao Việt Nam, những bài về tình yêu nam nữ là nhiều hơn cả :những nỗi nhớ nhung khi xa cách, những lúc phải tâm sự với thiên nhiên,những nỗi lo lắng khi muốn bảo vệ tình yêu chung thuỷ, những trớ trêu, éo lexảy ra Tất cả những tình cảm vui buồn ấy, nhân dân Việt Nam đã thổ lộtrong ca dao, làm cho ca dao có tính chất trữ tình sâu sắc và mang đậm tínhdân tộc Từ đó chúng ta chẳng những tìm thấy vẻ đẹp của thiên nhiên, phongcách con người mà còn tìm thấy tất cả sự tế nhị, tinh vi của tâm hồn dân tộcViệt Nam Nền văn học dân gian mà đặc biệt là tục ngữ, ca dao vừa là vũ khísắc bén, vừa là tiếng nói tâm tình của nhân dân lao động đồng thời cũng là cơ
sở, là nền tảng của nền văn học Trung đại Việt Nam
Dòng văn học viết của nước ta chỉ thật sự hình thành và trở thành một dòngvăn học riêng bắt đầu từ thế kỷ X, gắn liền với sự ra đời thời đại phong kiến xâydựng quốc gia độc lập Đó là thời kì thử thách bản lĩnh dân tộc Việt Nam trước âmmưu xâm lược của các thế lực ngoại bang, thời kì phát triển ý thức dân tộc của dântộc ta Đó cũng là thời kì phát triển rực rỡ nền văn hoá Đại Việt, biểu thị sức mạnhcủa dân tộc ta không chỉ trên lĩnh vực chính trị, quân sự mà cả trên lĩnh vực văn
Trang 10học Thơ văn trung đại Việt Nam đã bộc lộ rõ tính dân tộc qua chất liệu, đề tài, thểloại, thể hiện rõ tính cách con người Việt Nam như chí khí anh hùng bất khuất,lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần lạc quan, lòng nhân ái “ thương người nhưthể thương thân “ v.v Những sáng tác của các tác giả như Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu, Bà HuyệnThanh Quan đã phản ánh rất rõ điều đó
Trong tập thơ “ Quốc âm thi tập”, Nguyễn Trãi đã tìm về với chất liệugần gũi, thân thuộc của Việt Nam để nói về cỏ cây, hoa lá, nói về tình yêu quêhương đất nước của mình Nhà thơ đã chọn cây hoè, thạch lựu, sen hồng, câychuối, mồng tơi, tương cà, rau muống để đưa vào thơ :
Tỏ lòng thanh vị núc nác Vun đất ải lảnh mồng tơi
Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
Hay:
Dưới sân quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông
Truyện Kiều đã cho ta thấy được những tính cách của con người
Việt Nam thông qua nhân vật Thuý Kiều Đó là tấm lòng hiếu thảo với cha
mẹ, thủy chung, son sắt, trọng tình nghĩa, đó là khát khao quyền sống, quyềnđược hưởng hạnh phúc trong tình yêu, hôn nhân Nguyễn Du không chỉ nóitiếng nói của một người mà nói tiếng nói của muôn người:
Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Về thể loại, Nguyễn Du đã sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc làthể thơ lục bát Đó là một thể thơ dân gian quen thuộc gắn liền với cách phô
Trang 11diễn tư tưởng, tình cảm tế nhị của dân tộc và đã có sức sống mạnh mẽ, lâu dài,bắt rễ sâu trong tiếng nói của nhân dân Với Truyện Kiều Nguyễn Du đã đưathể thơ lục bát phát triển lên một trình độ mới, hoàn thiện hơn, điêu luyện hơn,trong sáng hơn, thực sự gắn với đặc điểm tiếng Việt từ cách vận dụng từ vựngđến việc diễn đạt âm thanh nhịp điệu rất dân tộc.
Thơ của Hồ Xuân Hương - nhà thơ được Xuân Diệu đánh giá là “bà chúathơ Nôm” cũng rất giàu tính dân tộc Nhà thơ đi sâu khai thác những đề tài quenthuộc như : tình yêu, cuộc sống vợ chồng chất liệu mà Hồ Xuân Hương cũng rấtđỗi bình dị, gần gũi trong cuộc sống thường ngày Đó là quả mít, con ốc nhồi,khung cửi, miếng trầu quả cau, bánh trôi nước v.v ,về ngôn ngữ có thể nóitrong văn học cổ không ai giản dị dễ hiểu và mộc mạc như Xuân Hương Ngônngữ của bà không khác gì ca dao tục ngữ Đó là một thứ ngôn ngữ thuần tuý ViệtNam :
Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi Này cuả Xuân Hương mới quệt rồi
( Mời trầu )
Ngôn ngữ thơ của Xuân Hương là ngôn ngữ của đời sống được sử dụngmột cách có nghệ thuật Con đường của Xuân Hương cũng là con đường củaNguyễn Du và của nhiều nhà thơ dân tộc khác đã đi Và có thể nói rằng tinhthần dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt những sáng tác của các nhà thơ này Tiếpthu truyền thống đó phong trào thơ mới ( 1932-1945) cũng mang đậm màu sắcdân tộc
2 Nhìn chung về tính dân tộc trong Thơ mới
Thơ mới ra đời trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam có nhiều biến độngmạnh mẽ dưới sự ảnh hưởng của văn hoá phương Tây Thơ mới là nỗi niềmcủa một thế hệ chứ không chỉ là nỗi niềm của các nhà thơ mới ; Thế hệ ấy đã
tự đi tìm mình, tìm về với dân tộc “ Đi tìm và đã gặp, đã thấy, đã có Và rõràng là chuyện tâm tình, chuyện tâm tưởng, chuyện vận mệnh của tâm hồn,chuyện tiến triển của sắc thái, chuyện khẳng định của bản lĩnh, bản lĩnh củamỗi nhà thơ nằm trong bản lĩnh chung của dân tộc” [ 6-8 ]
Cuối năm 1941 Hoài Thanh đã nhận xét : “ Tôi quyết rằng trong lịch
sử thơ ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này.Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở nhưThế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sángnhư Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì
dị như Chế Lan Viên ,và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu“ [8-29].Thơ mới rất giàu tính dân tộc nhưng nó được biểu hiện một cách tế nhị, kínđáo Mặc dù thơ mới chịu ảnh hưởng trực tiếp của thơ Pháp và thơ ca phươngTây nhưng Thơ mới vẫn không rời xa tính dân tộc và truyền thống Phan Cự
Đệ đã nói : “Thơ mới cũng như văn học lãng mạn nói chung khá đậm đà bảnsắc dân tộc”
Trang 12Một biểu hiện rõ rệt của tinh thần dân tộc trong Thơ mới là lòng yêuthương tiếng Việt Trong hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến, ngôn ngữchính thống ở Việt Nam là tiếng Pháp ,tiếng Việt lúc bấy giờ bị khinh rẻ, miệtthị Nhưng các nhà thơ mới đã bảo vệ tiếng Việt, làm giàu cho tiếng Việt “
Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế hệ đã chia sẻ vui buồn với cha
ông Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt “ ( Hoài Thanh -Tạp Chí văn học số 1-1965) Ngày 4- 2- 1945, trong buổi nói chuyện với sinh viên
đại học, Xuân Diệu đã hô hào : ”Sinh viên phải có lòng yêu thương quốc văn”.Thi sĩ kể câu chuyện về một người bạn có hai bà mẹ Người mẹ lớn, vợ cả của
mẹ anh ta, có rất nhiều oai quyền, nhưng anh ta đã dành cái phần thương yêunhất, âu yếm nhất cho người mẹ nhỏ là người đã sinh ra anh ta Cái phần ấylắm khi phải che dấu đi không giám cho mẹ lớn anh trông thấy nhưng càngche dấu lại càng thắm thiết, càng lấp vùi lại càng nóng hổi, càng chặt chẽ lạicàng nảy nở đâm chồi
Với Thơ mới, thơ Việt Nam đã hoà nhập vào luồng thơ hiện đại củathế giới, luồng thời đại chung của loài người nhưng vẫn giữ được cốt cáchViệt Nam Cốt cách ấy, bản sắc ấy không chỉ biểu hiện trong ngôn từ, trongthể loại thơ mà trước hết là biểu hiện trong lối cảm xúc mới, trong điệu tâmhồn mang rõ dấu ấn Việt Nam “Đi sâu vào tâm hồn ta với cả những làn sóngngầm, chúng ta sẽ gặp lại hồn thơ dân tộc, ta sẽ gặp lại hồn nhân loại [6-41]
Tinh thần dân tộc trong Thơ mới còn biểu hiện ở lòng khao khát tự
do, đó chính là tiếng vọng lại xa xôi của những phong trào yêu nước và cách
mạng từ 1925-1930 Thông qua hình tượng con hổ trong bài thơ “ Nhớ rừng ”,
Thế Lữ đã bộc lộ sự hoài niệm về quá khứ vẻ vang của dân tộc :
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ Thửa tung hoành hống hách những ngày xưa Nhớ cõi sơn lâm bóng cả cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
Và khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên dõng dạc, đường hoàng.
Trong thơ Huy Thông ta bắt gặp những giấc mộng anh hùng trong lịch
sử Nhà thơ ca ngợi Kinh Kha ,Hạng Vũ trong hoàn cảnh thời kì thoái tràocách mạng đã làm nhen nhóm lên ít nhiều ngọn lửa trong những tâm hồn đãnguội lạnh vì sợ hãi, nhu nhược của một bộ phận dân chúng
Chế Lan Viên lại muốn mượn chuyện dân tộc Chiêm Thành để thổ lộnỗi đau xót thầm kín của một con người dân Việt Nam mất nước Thi sĩ hìnhdung lại một thời xưa rực rỡ, huy hoàng lúc dân tộc Chiêm Thành còn độc lập:
Đây những cảnh thái bình trong Chiêm quốc
Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi
(Trên đường về)
Các nhà thơ mới đều giàu lòng yêu nước, yêu quê hương, đất nướcViệt Nam Đất nước và con người được phản ánh, tái hiện trong thơ mới
Trang 13một cách đậm đà, đằm thắm Quê hương rõ ràng là máu thịt của hồn thơ
trong các bài thơ từ ” Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu “của Xuân Diệu đến “ Quê hương ” của Tế Hanh, đến “ Chùa hương ”của Nguyễn Nhược Pháp, “ Bức tranh quê ” của Anh Thơ.v.v Đặc biệt là thơ Nguyễn Bính-
một dòng thơ dân tộc thuần tuý đã cho ta thấy được tâm hồn mộc mạc, bình
dị của người Việt Nam :
Em ơi em ở lại nhà Vườn rau em đốn, mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương Chị đi một bước trăm đường xót xa
( Lỡ bước sang ngang )
Ngay cả Xuân Diệu, một nhà thơ được đánh giá là hiện đại nhất, Tâynhất thì thơ Xuân Diệu cũng thể hiện tính dân tộc “ Xuân Diệu, Huy Cận,Nguyễn Nhược Pháp, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên càng viết càng đằm chínvới lối nghĩ dân tộc Và những bài thơ chịu đựng với thử thách thời gian, hoànhảo cả về ý tưởng lẫn hình thức, chính là cái hồn Việt ” [6-39]
3 Về thuật ngữ “ tính cách An nam ”
Thuật ngữ “ tính cách An nam’’ mà chúng tôi sử dụng trong khóa luậnnày là thuật ngữ mà Xuân Diệu dùng Chữ “ An nam ” không phải là cáchdùng để mạt sát khinh thị dân tộc mà chỉ là một cách dùng đương thời “ Tínhcách “ dùng ở đây không hạn hẹp trong ý nghĩa tâm lý học mà được mở rộngbiên giới theo cách hiểu của Xuân Diệu Nó chỉ tính chất bản sắc của dân tộcViệt Nam Giống như nhà thơ Tản Đà đã từng nói :” Tên của một nước chỉ làchữ, vấn đề là nước đó mạnh hay yếu Nếu nước ta cường thịnh như xưa thìcái tên Đại Cồ Việt, Đại Việt hay An nam thì cũng vậy Nhưng khi nước tayếu hèn thì cái tên An nam chỉ là một cái tên lạc hậu ‘’ Chúa Giêsu cũng đãbảo rằng :”Có gì đâu một cái tên Nếu ta gọi hoa hồng bằng một cái tên khácthì hoa hồng vẫn ngát hương “
Như vậy ta có thể hiểu “ tính cách An nam “ là một cách nói của XuânDiệu về tính dân tộc trong văn học Quan niệm “ tính cách An nam” của XuânDiệu mới chỉ bao hàm một số phương diện trong sự phong phú, nhiều mặt củatính dân tộc Tuy nhiên nó đã thể hiện một cái nhìn mới mẻ, sâu sắc, tiến bộcủa Xuân Diệu về tính dân tộc trong văn chương Tìm hiểu những bài phêbình đánh giá của ông về tính dân tộc chúng ta sẽ thấy rõ điều đó
Trang 14CHƯƠNG II: “TÍNH CÁCH AN NAM” TRONG VĂN CHƯƠNG
QUA QUAN NIỆM CỦA XUÂN DIỆU
I.VĂN CHƯƠNG AN NAM PHẢI CÓ “TÍNH CÁCH AN NAM”
Như chúng ta đã biết, Xuân Diệu không chỉ là một nhà thơ tài hoa màcòn là một nhà phê bình đầy tâm huyết đối với sự phát triển của văn học nướcnhà Vấn đề tính dân tộc trong văn chương là một vấn đề rất được Xuân Diệu
quan tâm Ngày 28- 1- 1939 tờ “ Ngày nay ” ( số 46) đã giới thiệu một tiểu
luận của Xuân Diệu bàn về tính dân tộc trong văn chương một cách trực tiếp
Tiêu đề của tiểu luận này là :” Tính cách An nam” trong văn chương “.
Bàn về “ tính cách An nam “ là một vấn đề đặt ra cho văn học ViệtNam khi nó bắt đầu tiếp xúc với văn hoá ngoại nhập từ phương Tây
“Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong tâm hồm ta Ta không thểvui với cái vui ngày trước, buồn với cái buồn ngày trước, yêu, ghét,giận hờn,nhất nhất như ngày trước” [ 8-17 ] Luồng gió văn hoá phương Tây đã thổivào Việt Nam mang theo một giá trị văn hoá tinh thần khác văn hóa phươngĐông, có thể có những điều trái ngược với văn hoá truyền thống : “ Các cụ ưanhững màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vìmột tiếng trùng đêm khuya, ta nao nức vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một côgái xinh xắn, ngây thơ các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho làmát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là
sự hôn nhân nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cáitình thoảng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi cái tình trong giây phút, cáitình ngàn thu” [8-17]
Có thể nói rằng, không học phương Tây thì nền văn học nước ta sẽkhông hiện đại hoá được nhưng đi theo phương Tây thì vẫn có có khả năngTây hoá văn học Việt Nam.Và nếu nhiễm hoàn toàn văn hoá phương Tây thìvăn hoá Việt Nam sẽ đi về đâu ? Mất văn hoá thì coi như dân tộc đó mất hếtbởi vì văn hoá là sào huyệt cuối cùng của dân tộc mà dân tộc khác không thểlấy được
Trong thực tiễn sáng tác, nhiều nhà văn cố tình chống lại các giá trị vănhoá phương Tây ngoại nhập thì họ trở thành nhà văn lạc hậu về nghệ thuật( thơ văn Phan Bội Châu, thơ văn Huỳnh Thúc Kháng ở giai đoạn cuối đời ).Nhưng có trường hợp vì quá lệ thuộc vào phương Tây nên đã biến văn hoáViệt Nam thành văn học phương Tây chẳng hạn như làm thơ Đường mà viếtbằng tiếng Pháp Tuy vậy hầu hết các nhà văn Việt Nam đã ý thức được việclựa chọn văn học phương Tây nhằm đổi mới, hiện đại hoá văn học dân tộc.Mặt khác, trong khi làm việc đó họ luôn ý thức rằng nếu thoát li bản sắc vănhoá dân tộc thì sẽ không có một nền văn học Việt Nam nữa Do đó trong quátrình sáng tác có nhiều nhà thơ đã trở về với chất liệu và văn hoá Việt Nam
Trang 15Chẳng hạn như hồn thơ Nguyễn Bính và hồn thơ Nguyễn Nhược Pháp đềumang âm hưởng thơ dân gian.
Còn đối với Xuân Diệu, một nhà thơ được xem là Tây nhất trong cácnhà thơ mới thì Xuân Diệu vẫn luôn luôn bảo vệ “ tính cách An nam” trong
văn chương Bởi vậy mà có sự ra đời của bài tiểu luận “ Tính cách An nam trong văn chương“ bên cạnh nhiều bài phê bình đề cao bản sắc văn hoá dân
tộc của Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Hoài Thanh, Thạch Lam, Lan Khai
Trong bài báo này, Xuân Diệu đã viết theo tinh thần tranh luận chốnglại xu hướng Tây hoá văn học Việt Nam Ngay khi mở đầu Xuân Diệu đãkhẳng định : “ Văng vẳng đâu đây, tôi được nghe người ta bảo : Văn chương
An nam phải có tính cách An nam Thật là chí lý; thật là một điều dĩ nhiênquá Chẳng lẽ viết văn An nam lại hoá ra viết văn Tây ! “ [5-149]
Xuân Diệu đã đặt ra yêu cầu bảo vệ và phát huy truyền thống dân tộctrong văn học Ông đã khẳng định : ” Dù có Âu hoá đi nữa, cái đặc biệt củanòi giống vẫn còn ở trong máu, trong từng thớ thịt, từng miếng da Vănchương Việt Nam cũng vậy “ Khi khẳng định như thế, Xuân Diệu đã đồngthời bộc lộ tình cảm yêu mến và trân trọng cội nguồn, bản sắc dân tộc Đó lànhững điều đã ăn sâu vào mỗi người dân Việt Nam nên dù năm tháng có qua
đi, trải qua bao thăng trầm của lịch sử thì cái bản chất của con người Việt Namvẫn không thay đổi và không thể hoà lẫn vào các dân tộc khác Trong lịch sửcác thế lực phong kiến phương Bắc, đã quyết tâm đồng hoá dân tộc Việt Namnhưng không thành công Thành trì văn hoá Việt Nam vẫn vững vàng quanhững thử thách của mọi thời đại như non sông đất nước ta
Ở bài viết này, Xuân Diệu đã cho rằng :” Phải, văn mỗi nước có mộttinh thần, khó có thể diễn tả cho rõ được ; ta phải có một thứ xúc cảm riêng đểcảm nghe cho được tinh thần ấy ” [5-148] Cái tinh thần mà Xuân Diệu nhắcđến ở đây chính là bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam “ Đọc sáng tác củamột dân tộc ta như sống cuộc sống của dân tộc đó với những đặc điểm củamột thế giới riêng” [3-149] Đến với mỗi tác phẩm văn học Việt Nam ta nhưngập tràn trong phong cảnh làng quê, cây cỏ, hoa trái, đồng ruộng, phong tụcViệt Nam với những hội hè, hát phường vải, tục mời trầu, nước lụt đồngchiêm, cánh cò bay lả, ánh nắng chói chang Đó là những hình ảnh của quêhương mà mỗi người dân Việt Nam đều ghi nhớ trong kí ức của mình
Trong thơ Việt Nam, có thể nói rằng, chưa có một nhà thơ nào yêu mếnthắm thiết và có những vần thơ đẹp đẽ, tinh vi, sâu sắc về đất nước thiên nhiêncho bằng Nguyễn Trãi Chúng ta thấy có rau muống, dọc mùng, đậu, kê,khoai, mồng tơi, núc nác, củ ấu, cây sen từ năm sáu trăm năm về trước gửiđến cho chúng ta ngày nay:
- Ngày tháng kê khoai những sản hằng Tường đào ngõ mận ngại thung thăng
- Ao quan thả gửi hai bè muống
Trang 16Đất bụt ươm nhờ một luống mùng Nhà văn Lan Khai khi viết về “ Tính cách Việt Nam trong văn chương” ( Tạp chí Tao đàn số 4-1939 ) cũng có quan điểm giống với Xuân Diệu :” Mỗi
dân tộc có một tinh thần riêng Sự thực này là một cái gì rất đáng tôn trọng
Nó làm cho nhân loại có một vẻ của bức thảm trăm màu Không ai nhẫn tâmphá bức thảm quý giá ấy hoặc làm cho nó trở nên lèm nhèm, đen không hẳnđen, vàng không thảm vàng, mà đỏ cũng không thành đỏ Trong địa hạt vănchương mỗi người chúng ta cần phải giữ gìn và làm cho mỗi ngày một rạng rỡcái tính riêng của mình Làm như thế tức là làm giàu cho cái tính chung của cảgiống người vậy ” Với quan niệm “ nhiều khi xét mình không sáng suốt bằngngười ngoài họ xét mình ” nghĩa là để có cái nhìn khách quan hơn, Lan Khai
đã dẫn lời của một văn sĩ Pháp nói về người Việt Nam :” Phần đông hay tất cảmọi người đều nhận thấy ở người Việt Nam, đàn ông cũng như đàn bà, một vẻmặt bộc lộ, khôn ngoan và đáng yêu, họ lại còn chất phác và hiếu khách,không thù hiềm lâu ( ) yêu người Việt Nam hơn nữa vì sự dịu dàng và dễdãi của phong tục, vì cảm tình mau bộc bạch, vì sự lịch thiệp ” [5-181]
Khi khẳng định “ Văn chương An nam phải có tính cách An nam” thìđồng thời bằng những lời văn dứt khoát, mạnh mẽ Xuân Diệu đã chỉ ra rằngvăn chương Việt Nam hoàn toàn chối bỏ những cách viết lai căng, mất gốc :
“Đời nào văn Việt Nam lại dung túng những lối văn sống sượng, một lối văn
nô lệ cho văn Tàu hay văn Tây! Trong văn chương cũng có một luật đào thải
tự nhiên; những cái phản với tinh thần quốc văn tất phải tiêu diệt “ [ 5-149 ].Điều mà Xuân Diệu nói đã được chứng minh trong thực tế văn học Việt Nam.Chẳng hạn như dòng văn học chống cộng, văn học đồi trụy ở Miền Namkhông phù hợp với truyền thống văn hoá của người Việt Nam nên chỉ tồn tạitrong một thời gian ngắn (1954-1975) rồi lụi tàn dần Xuân Diệu hoàn toàn có
cơ sở để lạc quan tin tưởng rằng : “ Chúng ta không cần phải áy náy, lo rằngvăn chương Việt Nam mắc cái bệnh “ làm Tây “, ” những cỏ dại không hợpvới thuỷ tổ sẽ chết ngay từ khi gieo giống “ [ 5-149 ]
Bên cạnh bài viết trực tiếp về “ tính cách An nam “ trong văn chương,Xuân Diệu còn có những bài phê bình thơ của các nhà thơ như Tản Đà, HuyCận Trong các bài phê bình đó Xuân Diệu đã làm nổi bật tính dân tộc trongsáng của các nhà thơ này
Khi lấy dẫn chứng chứng minh cho luận điểm “Văn chương An namphải có ‘’ tính cách An nam “, ta không thể không nhắc tới bài phê bình
“Công của thi sĩ Tàn Đà” (Ngày nay, số166, ngày17-6-1939).
Thơ văn Tản Đà đã được Xuân Diệu nghiền ngẫm trong một thời giankhá dài : 25 năm Sở dĩ như vậy vì tìm hiểu thơ Tản Đà khó Xuân Diệu đã nóimột cách tổng hợp đầy đủ về tính dân tộc trong thơ Tản Đà:” Là người thi sĩđầu tiên trong thơ Việt Nam hiện đại, là cái mầm thứ nhất của thơ chân thành,Tản Đà còn là một thi sĩ rất An nam, có thể nói là hoàn toàn An nam” [ 5-
165 ]
Trang 17Sau này, trong lời giới thiệu cuốn “Tuyển tập Tản Đà ”, Xuân Diệu
cũng đã có những nhận xét thống nhất về tính dân tộc trong thơ Tản Đà : “Cáihiện tượng bản lĩnh của Tản Đà là một hiện tượng hoàn chỉnh, nếu biết nhìnbiết nhận chân thì rất hay, góp phần giúp chúng ta hiểu lịch sử tâm hồn củamột thời đại của dân tộc “ [2-23] Thơ Tản Đà “ là những hoa quả đầu mùacủa chủ nghĩa lãng mạn, có thể nói hồn thì nhẹ mà tim thì nặng ” [2-24 ] Nóinhư thế là Xuân Diệu đã khẳng định vai trò tiên phong của Tản Đà đối với vănlãng mạn ở nước ta
Tính dân tộc trong thơ Tản Đà thể hiện ở “ những vần thơ nhẹnhàng ,phất qua như gió, những câu ca có duyên, những đoạn phong dao mộcmạc, thi sĩ Tản Đà làm rất thuần thục, rất trong trẻo như hơi thở tư nhiên củaphong cảnh Việt Nam Ông có một giọng thơ trôi chảy dễ dàng lẫn với nhữngmặn mà ý nhị Cách hài hước của ông vừa bóng bẩy vừa ngộ nghĩnh, điểmmột thứ hóm hỉnh nhè nhẹ, đặc biệt là rất An nam” [5-165] Nhà thơ Tản Đàrất thích chơi chữ :
Xuống thuyền chân dẫm nhịp ba Trách cô hàng trứng ở ra hai lòng
Tản Đà cũng rất thích trào lộng Ông đã ghẹo chị hàng cau :
Ai đang độ ấy lăm răm mắt
Tớ đã ngày nay lún phún râu.
Sự ghẹo gái này là một truyền thống lâu đời của các thế hệ thanh niênViệt Nam Ở đây Tản Đà đã nói lối bình dân, rất nôm na và cụ thể nhưng cũngkhông kém phần sinh động
Khi tìm hiểu thơ Tản Đà, Xuân Diệu rất chú ý đến tính “ngông”của Tản
Đà “Say, ngông, mộng, ba điểm ấy làm cho thơ ông nhẹ nhàng phóngkhoáng” [5-165 ] Tản Đà đã tự nhận mình có tính ngông:
Thiên Tào tra sổ xét vừa xong
Đệ sổ lên trình thượng đế trông:
“ Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông”
Là một người dân mất nước, lo cho vận mệnh của quốc gia dân tộc Tản
Đà đã có những vần thơ cảm khái Trong “Giấc mộng con “, nhà thơ đã đặt
bài hát cho Chiêu Quân đánh tỳ bà, Dương Quý Phi say rượu đứng dậy múa
và Tây Thi hát : “Cả ba mỹ nhân với mình đều là dân vong quốc cả “:
Lạnh lẽo hơi sương toà tạp chí
Lệ ai giàn giụa với giang san Dân hai trăm triệu ai người lớn?
Trang 18Đã bốn nghìn năm vẫn trẻ con
Trong bài thơ “Thề non nước” qua hai hình ảnh “non”, “ nước “, Tản
Đà cũng đã bộc lộ tình yêu quê hương đất nước của mình :
Nước kia dù hãy còn đi Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi, Non non nước nước không nguôi lời thề.
Tìm hiểu thơ Tản Đà, Xuân Diệu cũng rất chú ý tới hình thức câuthơ Đây cũng là một đặc điểm chứng tỏ rằng thơ Tản Đà rất giàu tính dân tộcnhư nhận xét của Xuân Diệu “ Thơ Tản Đà thực là thơ An nam, cả đến nhữngbài thất ngôn Đường của ông, ông cũng không chút gì gò gẫm khó khăn nhưthơ của các cụ nhà nho thửa trước Thi sĩ Tản Đà biết tiếng An nam cũng đãtường tận, mới viết được những khúc thơ thuần thục như những lời ca của dângian ” [ 5-166] Ngòi bút Tản Đà có thể viết được nhiều thể loại văn học dântộc như : từ khúc, ca dao, ca Huế, hát xẩm, hát chèo tuồng, văn tứ lục, văn tế Xuân Diệu đánh giá :”Bài trường thiên toàn bích từ đầu đến cuối là “ Thăm
mả cũ bên đường “ ,nhạc điệu thơ cổ thể được nhà thơ khai thác cái phóngtúng của nó để cho câu thơ theo từng hạng người, từng số phận mà thay đổi ”[13-46 ]
Suối vàng sâu thẳm biết là ai ?
Mả cũ không ai kẻ đoái hoài Trải bao ngày tháng trơ trơ đó Mưa dầu nắng giãi trăng mờ soi !
Xuân Diệu một lần nữa đã khẳng định tài năng cũng như công lao của thi sĩ Tản Đà: “ Thơ Tản Đà thực là thơ An nam , cả đến những bài thất ngôn luật Đường của ông cũng không chút gì gò gẫm khó khăn như thơ của các cụ nhà nho thửa trước Thi sĩ Tản Đà biết tiếng An nam cũng đã tường tận mới viết được những khúc thơ thuần thục như những lời ca của dân gian.” [5-166]
Một nhà thơ mới rất được Xuân Diệu quan tâm trân trọng nữa là Huy
Cận Xuân Diệu đã có bài viết “ Thơ Huy Cận ”đăng trên báo Ngày nay
( số 151, ngày 4-3-1939 ) Ngoài tình thiết thân đặc biệt với Huy Cận, XuânDiệu viết bài này còn để giới thiệu một tác giả xuất sắc của phong trào Thơmới Bởi lẽ ông hiểu nhiệm vụ của nhà phê bình đối với các hiện tượng vănhọc đương thời nên ông mới viết : “ Bổn phận của chúng ta đối với vănchương Việt Nam, chẳng phải là ráng thấu hiểu để yêu mến những văn tàimới lên hay sao? ”[ 5-155]
Trong bài phê bình này, Xuân Diêu đã tập trung phát hiện nhữngbiểy hiện mới mẻ và góp phần khẳng định nét độc đáo của nhà thơ trongvườn thơ mới đa thanh sắc và giong điệu Nhưng bên cạnh đó Xuân Diệucũng làm nổi bật được tính dân tộc trong thơ Huy Cận Xuân Diệu đã nhậnthấy một đặc tính của thơ Huy Cận, “Ông chỉ nói lòng người của ông, hồnngười của ông và thơ ông càng đẹp càng xinh khi chứa đầy hương vị của
Trang 19đời của sự sống [5-155] Thơ Huy Cận đã chứng minh cho chúng ta thấyrằng văn chương An nam phải có “tính cách An nam” như lời của XuânDiệu đã khẳng định
Chúng ta biết đến Hàn Mặc Tử với hồn thơ rộng “ không bờ bến, càng
đi xa càng ớn lạnh ” đến Chế Lan Viên với “ nỗi đau thương vô lý mà da diết
”, đến Nguyễn Bính với “ bản chất nhà quê ” trong những vần thơ đẹp, mộcmạc, kín đáo Giờ đây chúng ta biết thêm một phát hiện mới về thơ HuyCận :” Thơ ông phô bày một cái gì thầm kín, rạo rực ; thơ ông không phải làrượu đã rót vào chén, thơ ông là men đương lên, thơ ông không phải là hoasẵn trên cành, thơ ông là dòng nhựa đương chuyển [5-156] Ý Xuân Diệumuốn nói những vần thơ Huy Cận cứ lặng lẽ bên ngoài mà rất xao động ở bêntrong
Thế giới trong thơ Huy Cận là một thế giới với nỗi buồn thương manmác, những tinh ý, thầm kín mà nồng nàn: ” Huy Cận đa tình;tâm hồn ông làmột cô gái rón rén ung dung, trông nết na, dè dặt, kỳ thực hay liếc trộm và rất
ưa viết thơ tình”[5-159]
Xuân Diệu đã nhận thấy nỗi niềm hoài cổ trong thơ Huy Cận :” vớinhững câu thơ cổ kính ,phảng phất một kinh hồn Đường thi, Huy Cận thànhthực nhớ và ngớ ngẩn yêu những cái vu vơ mù mịt, ông gọi cảnh cũ, khôngbiết cảnh Tàu hay An nam, chỉ thấy xưa rất xa, thấy vắng lặng ; đó là cái buồnmênh mông của thời gian ” [5-159]
Buồn gieo theo gió bên hồ Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa Đồn xa quằn quại bóng cờ
Phất phơ buồn tự, thời xưa thổi về
( Nhớ hờ ) Bài thơ “ Tràng giang ” cả cảnh và tình trong đó đều thể hiện tính dân tộc Việt Nam rất rõ “ Tràng giang ” đưa chúng ta vào một không gian mênh
mông, vắng lặng không một bóng người hiện diện Dòng sông không gầm réo
dữ dội mà lặng lẽ chảy từ bao đời nay:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp