Nếu xếp tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam từ thế kỷ X – XIV theo trình tự thời gian thì ta sẽ có: Báo cực truyện thế kỷ XI chưa rõ tác giả, Ngoại sử ký của Đỗ Thiện thế kỷ XII, Ngoại kỷ c
Trang 1Lời cảm ơn
Tác giả khóa luận này xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cácthầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn – Trường Đại học Vinh, đặc biệt là thầygiáo T.S Phạm Tuấn Vũ – người trực tiếp hướng dẫn Nhưng do khả năng nghiêncứu còn hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhậnđược sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn Xin chân thành cảm ơn
Vinh, 5 / 2010 Tác giảLương Thị Sim
Trang 2MỤC LỤC
TrangLời cảm ơn
33 3 Mục đích yêu cầu của việc giải quyết đề tài 4
Chương I Tinh thần tự hào dân tộc của Việt điện u linh tập 61.1.Tự hào về các nhân vật lịch sử, nhân vật văn hóa của dân tộc 61.1.1 Tự hào về các nhân vật lịch sử của dân tộc 61.1.2 Tự hào về các nhân vật văn hóa của dân tộc 81.2 Tự hào về truyền thống chống ngoại xâm và truyền thống văn
hiến Việt Nam
9
1.2.1 Tự hào về truyền thống chống ngoại xâm 9
Chương II Sự tương đồng và khác biệt của Việt điện u linh tập
với truyện dân gian
18
2.1 Sự tương đồng về nội dung và hình thức 18
2.2 Sự khác biệt về nội dung và hình thức 33
Chương III Sự tương đồng và khác biệt của Việt điện u linh 46
Trang 33.2.2 Vai trò của hư cấu trong Việt điện u linh tập 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
Trang 41 Lý do chọn đề tài
1.1 Nếu xếp tác phẩm văn xuôi tự sự Việt Nam từ thế kỷ X – XIV theo trình tự
thời gian thì ta sẽ có: Báo cực truyện thế kỷ XI (chưa rõ tác giả), Ngoại sử ký của
Đỗ Thiện thế kỷ XII, Ngoại kỷ của Lê Văn Hưu thế kỷ XIII, Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên nửa đầu thế kỷ XIV, Thiền uyển tập anh ngữ lục giữa thế kỷ XIV (chưa rõ tác giả),Tam tổ thực lục nửa sau thế kỷ XIV (chưa rõ tác giả), Lĩnh
Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp cuối thế kỷ XIV… Như vậy, ta thấy Việt điện u linh tập ra đời khá sớm trong văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại.
Thêm vào đó, Việt điện u linh tập là tác phẩm văn xuôi cuốn hút mạnh mẽ nhiều
thế hệ qua nhiều thời đại từ khi nó ra đời năm 1329 thời Trần (thế kỷ XIV) chotới cuối thời cận đại, đầu hiện đại năm 1919 (thế kỷ XX)
1.2 Việt điện u linh tập thuộc văn xuôi thế kỷ X – XIV Nó có vị trí quan trọng
bởi nó đặt nền móng cho toàn bộ văn xuôi tự sự trung đại cũng như truyện văn
xuôi cận – hiện đại về nội dung và phương thức tư duy nghệ thuật Vì vậy, Việt
điện u linh tập rất đáng được nghiên cứu.
Những tác phẩm văn xuôi Việt Nam thời trung đại ngoài việc chịu ảnhhưởng của Văn học Trung Quốc thì còn có mối quan hệ gắn bó với Truyện dângian của dân tộc Văn học dân gian có trước và văn học trung đại ra đời sau nên
nó không thể không có sự kế thừa, phát huy, bên cạnh đó có những điểm khác
biệt Việt điện u linh tập là tác phẩm văn xuôi ra đời sớm (thế kỷ XIV) có đặc
điểm phổ biến là có mối liên hệ mật thiết với truyện dân gian Do đó cần phảinghiên cứu để nhận thức được sự tương đồng và khác biệt của tác phẩm văn họcviết với truyện dân gian
1.3 Việt điện u linh tập không chỉ có mối quan hệ gắn bó mật thiết với truyện
dân gian mà nó còn rất gần gũi với sử ký Việt Nam thời trung đại Ở thời trungđại, hiện tượng “văn - sử - triết bất phân”trong một tác phẩm là hiện tượng phổ
Trang 5biến Các tác giả sáng tác thường nhằm đạt đến cả ba giá trị, chưa có sự tách
bạch rõ ràng Ở Việt điện u linh tập, hiện tượng này vẫn còn tồn tại cho nên cần
phải nghiên cứu để nhận thức giá trị văn chương của tác phẩm trong sự phân biệtvới sử ký
1.4 Mặc dù Việt điện u linh tập có ý nghĩa mở đầu cho văn xuôi tự sự Việt nam
thời trung đại nhưng tác phẩm của Lý Tế Xuyên mới chỉ được đ°a vào giảngdạy, học tập ở các trường Cao đẳng, Đại học còn ở các cấp học dưới thì chưa có.Ngay đối với các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp vẫn gặp rất nhiều khó khăn,trong đó thiếu hụt tư liệu là khó khăn đầu tiên Từ thực tế, đi vào tìm hiểu giá trịtác phẩm, lĩnh vực mà ở nước ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu, chúng tôi
hi vọng có thể tháo gỡ được phần nào những khó khăn trên
2 Lịch sử vấn đề
Việt điện u linh tập do Lý Tế Xuyên soạn và viết bài Tựa vào năm Khai Hựu
thứ nhất đời Trần Hiến Tông (1329) Về tiểu sử của Lý Tế Xuyên, đến naychúng ta chưa biết được gì ngoài những lời ghi kèm theo bài Tựa kể trên Ở dướibài Tựa có ghi chức tước của soạn giả là Thủ đại tang thư, hỏa chính chưởng,Trung phẩm phụng ngự An Tiêm lộ chuyển vận sứ Qua chức vụ đó, chúng tathấy Lý Tế Xuyên xuất hiện như một nhà tu hành, âm thầm sống ở một nơi bảotồn kinh phật mà nhiệm vụ là giữ sách như một người quản thủ thư viện ngàynay Trong thời gian ấy, xa sự náo nhiệt của đô thành, trong một nơi có cây giàbóng cả, giữa một không khí yên lặng trang nghiêm, Lý Tế Xuyên có đầy đủ thìgiờ để đọc sách, viết văn, sưu tầm tài liệu, nhất là suy nghĩ về ngày xưa Ôngluôn luôn đi về cái thế giới cổ sơ ấy, sống với những nhân vật của ông, thấmnhuần cái không khí bao quanh họ, thấu triệt tinh thần họ Nghiệp khoa cử đãkhông cám dỗ được nhà văn Tên tuổi của ông không được ghi trên bằng cấpnhưng những ngày âm thầm tự học và sáng tác đã làm cho tên tuổi của ông lừnglẫy
Trang 6Ngoài ra, xét theo nội dung tư tưởng của Việt điện u linh tập, Lý Tế Xuyên
còn tỏ ra là một nhà văn chẳng những thấu hiểu sâu xa Phật giáo mà còn là mộtnhà nho say mê trước tác Ngay trong bài Tựa, ông đã trình bày phương pháp củaông khi viết sách, cái phương châm mà mình theo đuổi Thận trong, khiêm tốn,biết phân biệt kỹ càng, có óc thẩm mỹ, vừa thích cái tinh thần tích cực của nhàNho, vừa ưa cái vẻ huyền bí thiêng liêng của quá khứ, Lý Tế Xuyên đã biểu lộđược sự chừng mực, sự giản dị, sự sáng sủa và cân đối
Những điều nói trên đã khẳng định tài năng, nhân cách của Lý Tế Xuyên.Tuy nhiên, do ông sống vào thời kì chữ Nôm mới xuất hiện và một số lý do kháccho nên tên tuổi, lai lịch và sự nghiệp của ông còn chưa được ghi chép rõ ràng,chưa được nghiên cứu xứng tầm với ông
Việt điện u linh tập được xem là tác phẩm “ mở đầu, đặt nền móng cho văn
xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại” Tác phẩm có ý nghĩa đặc biệt với văn xuôitrung đại Việt Nam Tuy nhiên đến nay, tác phẩm vẫn chưa được nghiên cứunhiều Trong phạm vi quan tâm của đề tài, chúng tôi xin điểm lại tình hìnhnghiên cứu tác phẩm trong nhiều thế kỷ qua
Là tác phẩm văn học cổ, Việt điện u linh tập chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt là giá trị của nó Trong cuốn Tổng tập văn học Việt Nam của Nhà xuất
bản Khoa học xã hội, các tác giả cũng chỉ mới nói qua chứ chưa đi sâu vàonghiên cứu giá trị của tác phẩm
Trong giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, các
tác giả Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương đã nói đến giá trị củatác phẩm là ở chỗ thể hiện tinh thần tự hào dân tộc “ hầu hết các vị “nhân quân”,
“nhân thần” đều là người nước ta, những công tích siêu việt của các vị đó háchẳng đủ cho nhân dân ta tự hào vì nhân vật nước ta hay sao? Các vị thần thuộcloại “hạo khí anh linh” há chẳng đủ biểu dương “khí thiêng sông núi” của đấtnước ta hay sao?” [5;134]
Trang 7Nhìn chung, các bài viết thường tập trung vào sự ra đời của tác phẩm, nộidung tác phẩm…chứ chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu giá trị của tác
phẩm Việt điện u linh tập.
Với khóa luận này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu giá trị của tác phẩm Việt
điện u linh tập trên cơ sở tiếp thu những ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu
và góp một phần nhỏ vào việc khẳng định tài năng của Lý Tế Xuyên, đồng thờiđưa ra kiến giải của mình
3 Mục đích yêu cầu của việc giải quyết đề tài
3.1 Đi vào tìm hiểu giá trị của tác phẩm là đi vào tìm hiểu những đóng góp ,ýnghĩa,vai trò của nó đối với một giai đoạn văn học và cả tiến trình văn học Việt
Nam Tác phẩm Việt điện u linh tập tồn tại cả hai mặt tích cực và tiêu cực trong
nội dung của nó Tuy nhiên, bên ạnh mặt hạn chế chỉ là phần nhỏ thì mặt tíchcực vẫn là chủ yếu Đề tài này sẽ đi vào tìm hiểu nội dung của tác phẩm Từ đóthấy được giá trị của tác phẩm
3.2 Giá trị của Việt điện u linh tập được thể hiện ở tinh thần tự hào dân tộc
chống ngoại xâm của nhân dân ta Mục đích của đề tài là làm sáng rõ những biểuhiện ấy
3.3 Do ra đời vào thời kỳ “văn - sử - triết bất phân”còn phổ biến nên Việt điện
u linh tập cũng không nằm ngoài quy luật ấy Tuy nhiên phẩm chất văn học của
tác phẩm vẫn đậm nét hơn cả Vì vậy cần phải chỉ ra những phẩm chất của Việt
điện u linh tập với tư cách một tác phẩm văn học.
Việt điện u linh tập còn chịu ảnh hưởng nhiều của truyện dân gian và gần gũi
với sử ký Việt Nam trung đại Ở đây, đề tài bước đầu sẽ so sánh tác phẩm với
truyện dân gian và với sử ký để thấy được chỗ tương đồng và khác biệt Qua đó
thấy được giá trị của tác phẩm cũng như tài năng của Lý Tế Xuyên
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu văn học phổ biến: thống kê, tổng hợp, phân tích,… Ngoài ra còn sửdụng phương pháp so sánh – đối chiếu để làm nổi bật giá trị của tác phẩm Trong
đề tài, chúng tôi đã so sánh Việt điện u linh tập với Lĩnh Nam chích quái, so sánh
với truyện dân gian và với sử ký
CHƯƠNG I TINH THẦN TỰ HÀO DÂN TỘC CỦA VIỆT ĐIỆN
U LINH TẬP
Trang 91.1 Tự hào về các nhân vật lịch sử, nhân vật văn hóa của dân tộc
1.1.1 Tự hào về các nhân vật lịch sử của dân tộc
Việt điện u linh tập (Việt điện: cõi nước Việt, u linh: thiêng liêng) là tác phẩm
của Lý Tế Xuyên được biên soạn xong vào năm Khai Hựu nguyên niên (1329)đời Trần Hiến Tông Về tác giả, người đời sau chỉ biết được thông tin ít ỏi dodòng lạc khoản bài Tựa sách cung cấp: ông giữ các chức Thủ đại tang, thư hỏachánh chưởng, Trung phẩm phụng ngự, An Tiêm lộ chuyển vận sứ dưới triềunhà Trần
Sau hơn một nghìn năm bắc thuộc, việc xây dựng vương quyền của các triềuĐinh, Tiền Lê, Lí, Trần gắn với việc xây dựng nền độc lập của đất nước Chonên, việc ghi chép thần tích của Lý Tế Xuyên đã bao hàm một ý thức tự hào dân
tộc đáng quý Trong lời Tựa sách Việt điện u linh tập, ông viết: “Thánh nhân xưa
nói: thông minh chính trực mới đáng gọi là thần, không phải hạng dâm thần tà
ma mà lạm gọi là thần được đâu Trong nước Hoàng Việt ta, các thần thờ ở miếuđền xưa nay rất nhiều nhưng mà công tích rõ rệt, cứu giúp sinh linh thì có đượcmấy đâu Tuy nhiên, các thần vốn có phẩm loại không ngang nhau, có vị là linhtúy núi sông, có vị là nhân vật kiệt linh, khí thế rừng rực lúc đương thời, anh linhtỏa rộng đến đời sau Nếu không ghi chép sự việc lại thì phẩm loại trên dưới khóphân biệt Hầu hết, các vị “nhân quân”, “phụ thần” đều là người nước ta, nhữngcông tích siêu việt của các vị đó há chẳng đủ cho nhân dân ta tự hào vì nhân vậtnước ta hay sao?” Lý Tế Xuyên chủ trương ghi chép các vị thần có công “cứugiúp sinh linh” Lời tựa của tác phẩm đã cho ta thấy sự sáng suốt, thông minhcủa Lý Tế Xuyên đồng thời thể hiện lòng tự hào về các nhân vật lịch sử của dântộc Đất nước ta đã phải trải qua hàng nghìn năm sống dưới ách thống trị củaphong kiến phương bắc Trong cuộc đấu tranh lâu dài để bảo vệ và xây dựng đấtnước của nhân dân ta, đã xuất hiện những nhân vật kiệt xuất, những người anh
Trang 10hùng dân tộc Đó là những người anh hùng như Hai Bà Trưng trong Nhị Trưng
phu nhân, mặc dù là phụ nữ nhưng hai bà quyết đánh đuổi Tô Định để cứu Thi
Sách bảo vệ đất nước hay Lý Thường Kiệt trong Thái úy trung phụ dũng vũ uy
thắng công, đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ được vua giao khi “nước Chiêm
Thành trễ nải việc triều cống, nhà vua thân chinh đi dẹp Ông vâng mệnh lĩnhchức đại tướng, sung làm tiên phong, bắt được chúa Chiêm Thành là Chế Củ”[16;27], rồi khi nghe tin người Tống có ý dòm ngó, xâm lược nước ta thì ông bènlập tức tâu vua: “Ngồi đợi kẻ địch đến, sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọncủa nó” [16;27] Như vậy, Lý Thường Kiệt không chỉ dũng cảm đánh lại giặcngoại xâm mà ông còn thông minh, sáng suốt khi đưa ra cho vua kế sách đánhgiặc trước để “bẻ gãy mũi nhọn của nó”
Đó là những nhân vật lịch sử, những người anh hùng, những con người ViệtNam yêu nước nguyện xả thân vì độc lập tự do của dân tộc Nhưng điều có ýnghĩa hơn là khi họ đã trở thành người ở cõi âm (“u”) thì hương hồn của họ vẫnlinh thiêng (“linh”) và mỗi khi có giặc ngoại xâm, họ lại hiển linh giữa nơi trậnmạc để mang các phép mầu ra giúp vua đương thời cứu nước
Đó là Hai Bà Trưng, khi còn sống, hai bà bị thua nơi trận mạc nhưng tinhthần đoàn kết dân tộc khiến Hai Bà phất cờ ra trận thì nhân dân nhất tề đitheo.Và khi Hai Bà qua đời thì lại xuống trần làm mưa cứu nhân dân chứng tỏHai Bà vẫn luôn một lòng yêu nước, vẫn luôn thực hiện sứ mệnh thiêng liêng củamình đối với dân tộc
Như vậy, các nhân vật lịch sử của dân tộc bao gồm cả người còn sống hay đãqua đời Cái đáng ca ngợi ở họ là luôn luôn tự nguyện xả thân cho đất nước, chodân tộc Lý Tế Xuyên khi viết về họ đã không quên thể hiện tinh thần, lòng tựhào hết sức sâu sắc
1.1.2 Tự hào về các nhân vật văn hóa của dân tộc
Trang 11Việt điện u linh tập không chỉ thể hiện lòng tự hào sâu sắc về các nhân vật
lịch sử của dân tộc ta mà còn thể hiện niềm tự hào về các nhân vật văn hóa Ởthời kỳ này, danh từ dân Việt được hiểu theo nghĩa rộng bao hàm tất cả nhưngdân tộc phía nam Ngũ Lĩnh Sĩ Nhiếp cũng là một người Việt theo nghĩa này vàchính vì thế mà Lý Tế Xuyên đã kể chuyện về Sĩ Nhiếp như một ông vua tinhthần của người Việt Nam Sĩ Nhiếp tượng trưng cho lực lượng văn hóa phươngNam Hằng năm, Sĩ Nhiếp đều “dâng các thứ hương liệu, vải mịn kể đến hàngnghìn, các thứ châu ngọc đồi mồi pha lẫn lông chả, ngà voi, sừng tê, hoa kỳ, cỏ
lạ, chuối tiêu, dừa, nhãn” Người nước Việt ta gọi Sĩ Nhiếp là Vương Vươnghọc rộng tài cao, tính tình khoan hậu, quí trọng kẻ nho sĩ “lại thông đạt trongviệc trị dân Giữa thời đại loạn, bảo toàn được cả một phương trong hơn haimươi năm không có chiến tranh, dân không bỏ mùa màng, quân được nhờ phúclớn” [15;43] Khi soạn tác phẩm, Lý Tế Xuyên đã đưa truyện Sĩ Nhiếp lên đầu,trên cả truyện Bố Cái Đại Vương, trên cả truyện về Triệu Việt Vương và LýNam Đế
Bên cạnh Sĩ Nhiếp, Phùng Hưng cũng là một bậc đế vương có giá trị cao.Nếu Sĩ Nhiếp tượng trưng cho lực lượng văn hóa phương nam, thì Phùng Hưngcũng đã từng là một bậc cha mẹ dân tượng trưng cho tinh thần bất khuất củangười Việt Khi nước ta loạn lac, hai anh em Phùng Hưng và Phùng Hãi đã “rủnhau đi khắp các ấp láng giềng, họ đều xin đi theo cả, đến đâu cũng không cóđiều gì là không trôi chảy” Sau đó, Vương được tôn là “Bố Cái Đại Vương” vìnước ta thường gọi cha là “bố”, mẹ là “cái” cho nên đặt tên ấy [15;15] Rồi khiHưng đã chết thì hễ nhân dân có việc cần, đều hiển linh giúp đỡ, luôn xứng làbậc cha mẹ nhân dân “cầu tạnh, cầu mưa không có điều gì là không linh ứng”[15;16]
Ngoài ra, Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế cũng xứng đáng là nhân vật vănhóa của dân tộc Mặc dầu chính trị đối lập nhau nhưng vẫn tỏ ra xứng đáng là
Trang 12những vị lãnh đạo thời ly loạn Hai người vẫn bắt tay nhau cho hai con nên vợnên chồng Đó là biểu hiện cao của cách ứng xử văn hóa của người Việt.
Việt điện u linh tập ra đời vào thời điểm nhân dân ta đang phải gánh nặng
trên vai mối thù quân xâm lược phương bắc Chiến thắng Ngô Quyền trên sôngBạch Đằng và những chiến thắng sau đó đã thể hiện tinh thần yêu nước quậtcường của nhân dân ta Tất cả làm nên một niềm tự hào sâu sắc của dân tộc Việt
Và niềm tự hào này đã được Lý Tế Xuyên nói đến trong Việt điện u linh tập Có
thể nói, trong tác phẩm này, tất cả mọi truyền thống của dân tộc Việt Nam đãđược thể hiện, được nâng lên và phát triển mạnh mẽ
1.2 Tinh thần tự hào về truyền thống chống ngoại xâm và truyền thống văn hiến Việt Nam
1.2.1 Tinh thần tự hào về truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc
Trong lịch sử, đất nước ta đã phải trải qua biết bao nhiêu gian khổ, bao lần
phải đương đầu với kẻ thù cướp nước Việt điện u linh tập ra đời vào thời nhà
Trần khi dân tộc Việt Nam phải gồng mình lên để chống lại quân xâm lược, đặcbiệt là đội quân Nguyên Mông thiện chiến đã đè bẹp không biết bao nhiêu dântộc Những con người Việt Nam yêu nước, nguyện xả thân vì độc lập dân tộc, từthiếu niên Hoài Văn Trần Quốc Toản đến những vị tướng như Trần Quốc Tuấn,Trần Quang Khải, Trần Bình Trọng…, từ các phụ lão trong hội nghị Diên Hồng,râu tóc bạc phơ mà tinh thần diệt giặc cứu nước vẫn sôi sục như thời trai trẻ đếncác chiến sĩ đồng tâm nhất trí một lòng, khắc lên tay hai chữ Sát Thát… đã gópsức với nhau, tạo nên hào khí Đông A của thời Trần Đó chính là yếu tố “nhânkiệt” làm nên chiến thắng của dân tộc ta qua các cuộc chiến tranh giữ nước Vàqua đó cũng thấy được truyền thống, tinh thần đoàn kết một lòng chống giặc củanhân dân ta
Đứng trước nguy cơ mất nước, nhân dân đều tập trung vào công cuộc bảo vệđất nước bởi vì ai ai cũng hiểu “nước mất” thì “nhà tan” Đây là thời đại anh
Trang 13hùng, mọi giới, mọi thế hệ đều có anh hùng Từ cậu thiếu niên Trần Quốc Toảncũng bóp nát quả cam đòi ra trận cho đến các cụ già đã râu tóc bạc phơ cũng mộtlòng quyết tâm đánh giặc Tất cả mọi người không kể nam nữ đều xung phong.Thời Trần đã để lại niềm tự hào to lớn của nhân dân ta:
Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong
Đồng thời để lại sự khiếp sợ cho kẻ thù phương bắc: những người lính (NguyênMông) già từng theo chiến trận khi nghe đến việc đánh giặc phương Nam aicũng buồn lo
Đây là thời kì những người anh hùng ra trận không chỉ thuộc tầng lớp trêncủa xã hội và còn có những con người thuộc tầng lớp bình dân: Yết Kiêu (ngườithợ đan sọt làng Phù Ủng), Dã Tượng (xuất thân từ gia nô)
Trong Việt điện u linh tập, truyện Khước địch thiện hựu, Trợ thuận Đại
vương uy địch dũng cảm, Hiển thắng Đại vương viết về hai anh em Trương
Hống và Trương Hát có đoạn như sau: “Đến đời vua Lý Nhân Tông (1072 –1127) quân Tống sang lấn, tiến vào trong cõi Vua sai thái úy Lý Thường Kiệtlập trại ở ven sông để chống giữ Một đêm quân sĩ nghe trong đền có tiếng thầnngâm thơ:
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Sông núi nước nam vua nam ở Tại sổ trời đã ghi địa phận rõ ràng Sao bọn giặc kia dám xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị thua to)
Trang 14Theo sách Trương tôn thần sự tích thì bài thơ này đã được thần sông Như
Nguyệt đọc lên hai lần để giúp đánh đuổi giặc ngoại xâm, một lần giúp Lê Hoàn
và một lần giúp Lý Thường Kiệt Thần sông Như Nguyệt, hai Vương mà ta nhắcđến ở đây là hai anh em Trương Hống và Trương Hát Đó là hai viên tướng đãtừng chiến đấu dưới ngọn cờ yêu nước của Triệu Quang Phục, một vị anh hùngchống ngoại xâm thế kỷ VI Ở đây đã có sự hư cấu, không thể có chuyện thầnlinh đọc thơ như vậy mà mục đích chính là để khẳng định truyền thống chốngngoại xâm của dân tộc Hai anh em Trương Hống, Trương Hát đã chết nhưng họvẫn hiện về giúp Lý Thường Kiệt đánh giặc cứu nước Nhiều người cho rằng đây
là bài thơ của Lý Thường Kiệt Và sử sách đều kể rằng ông đã cho người vàotrong đền giả làm thần ngâm thơ để khích lệ tướng sĩ
Hai câu đầu: Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
khẳng định nước ta là một nước độc lập Thế nhưng vua tôi nhà Tống vẫn tìmcách xâm chiếm Vì thế nhân dân ta quyết tâm bảo nền độc lập của dân tộc Lẽ ra
Nam quốc sơn hà nam đế cư, nhưng nhà Tống kế thừa các triều đại phong kiến
phong kiến trước đó, từ Hán đến Đường, quan điểm kỳ thị Hoa Di rất phản động.Đất nước ta đã chiến thắng nhà nước phong kiến phương bắc trên sông BạchĐằng, “núi sông bờ cõi đã chia” mà bọn phương bắc vẫn muốn xâm phạm LýThường Kiệt khẳng định quyền độc lập của dân tộc ta Phong kiến phương bắcthường cho ta là nước “phên dậu”, “thuộc quốc” thì Lý Thường Kiệt đã nêu lênhai chữ “Nam đế” để gọi vua nhà Lý Như vậy, đã có sự khẳng định sự bìnhđẳng giữa vua nước Việt với vua nhà Tống, đồng thời nêu lên tinh thần quyếttâm chống giặc Tống của nhân dân ta Ngoài ra, lời thơ cũng nhằm phản ánh sựtrưởng thành của giai cấp phong kiến Đại Việt đã có niềm tự hào dân tộc và nhậnthức về nền độc lập của tổ quốc
Trang 15Với tinh thần tự hào mạnh mẽ như vậy, khi giặc Tống xâm lấn, nhân dân ta
đã phát huy truyền thống ấy thể hiện niềm tin tưởng tuyệt đối vào chiến thắngcủa dân tộc:
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Niềm tin mạnh mẽ ấy đã được chuyển thành hành động thực tiễn lật đổ âmmưu của giặc các thế hệ trước đó, bảo vệ Đại Việt từ đời Đinh đến đời Lý và đếnkhi giặc lại xâm phạm, Lý Tế Xuyên khẳng định niềm tin chiến thắng của nhândân ta và thất bại nặng nề của giặc Đó chính là truyền thống chống giặc ngoạixâm của nhân dân, đất nước ta Truyền thống ấy đã đập tan mọi âm mưu xâmlược của kẻ thù
Việt điện u linh tập ra đời khi cả dân tộc đang một lòng vì đất nước quyết
tâm tiêu diệt giặc, nó phản ánh không khí thời đại đang sục sôi, đồng thời thểhiện về truyền thống ngoại xâm ấy Và không chỉ có vậy tác phẩm còn cho tathấy lòng yêu nước của nhân dân ta trở thành truyền thống qua các thế hệ thểhiện sức sống mãnh liệt của nhân dân
Trong Việt điện u linh tập, những người anh hùng yêu nước chống ngoại xâm
hầu hết là các vị thần Các vị thần là sự thể hiện nhân dân với tinh thần bất diệt
Họ được thần linh hóa “là lực lượng hỗ trợ cho vua chúa quan quân để chỉ rõđiềm lành, dữ hoặc có khi tham gia vào những công việc của thế gian, giúp triềuđình dẹp giặc trừ họa”
Truyện Bố Cái, phu hựu, chương tín, sùng nghĩa Đại vương tức Bố Cái Đại
Vương (thuộc loại lịch đại nhân quân) có đoạn kể như sau: “Khi Ngô Tiên chúa
lập quốc, quân phương bắc vào ăn cướp Tiên chúa lo lắng, đêm nằm mộng thấymột ông già đầu bạc, mũ áo nghiêm trang đẹp đẽ, quạt lông gậy trúc tự xưng họtên và nói rằng:
Trang 16- Tôi đã đem vạn đội thần binh mai phục ở chỗ hiểm yếu, chúa công mau tiếnquân chống giặc đi, tức khắc có sức âm trợ, không nên lo ngại”.
Đến trận đánh ở sông Bạch Đằng, đúng là thấy trên không trung có tiếngngựa xe Trận ấy quả nhiên thắng lớn”
Nhân vật trong truyện này là Phùng Hưng, người đã qua đời nhưng vẫn ra taygiúp vua đánh thắng giặc xâm lược
Truyện Bảo quốc trấn linh định bang, quốc đô thành hoàng Đại vương tức truyện Thần Long Đỗ (thuộc loại hạo khí anh linh) có kể sự việc như sau: “ Khi
xưa, Cao Biền đắp thành Đại La Một bổi trưa đi chơi vơ vẩn ra cửa đông ngoạithành, bỗng thấy mây mù nổi to, rồi có khí lành năm sắc rực rỡ lấp lánh lóe nhưsao sáng rực, lạnh rợn người Trong năm sắc ấy, thấy một người cưỡi rồng vàng,đầu đội mũ hoa đỏ, mình nặc áo màu ráng tía, xiêm thêu, giày đỏ, đồng thời thấymùi hương thơm ngào ngạt, tiếng nhạc vang lừng một hồi lâu mới tan Cao Biềnkinh hãi, cho là yêu ma tác quái,đòi hỏi xằng bậy được người đời cúng bái cũngchẳng có gì là kì lạ cả Đêm hôm ấy, Biền mộng thấy một ông cụ hình dạng ănmặc như lúc ban ngày, đến bảo Biền rằng:
- Ta là Long Đỗ vượng đế quân, thấy ông mở dựng đô thành, nên tôi lại chơi,ông đừng ngờ!
Biền tỉnh dậy, nói chuyện với mọi người rồi than rằng:
- Ta không biết làm chính trị, để quỉ thần trêu ta, điềm tốt hay điềm dở đây?
Có người bảo Biền dựng đền, đắp tượng thờ, rồi lấy đồng sắt chôn xuống đểtrấn áp Biền theo lời làm như thế Bỗng một cơn mưa bão rất to, đổ cây, tungđất, bao nhiêu đồng sắt đã yểm đều tan ra thành tro bụi Biền thấy vậy than rằng:
- Ta sẽ phải về bắc mất
Rồi quả nhiên, Biền phải về thật
Đến đời nhà Lí, dựng đô ở đây, vua Thái Tông cho mở phố chợ về cửa đông,hàng quán chen chúc, sát tới bên đền, rất là huyên náo Muốn chuyển đền ra một
Trang 17chỗ khác yên tĩnh hơn, song vua lại nghĩ: một ngôi đền cổ, không nên rời đi!Vua bèn cho sửa sang lại đền, liền với các nhà ngoài phố, dành riêng cho mộtngôi nhà nơi thờ thần Đế đêm, thần liền hiển linh, nổi trận gió bắc rất to, các nhàbên đền đều đổ, duy đền thờ thần vẫn nguyên vẹn Vua Thái Tông lấy làm lạ hỏi.
Có người biết tâu rõ việc hiển linh của thần từ trước, vua mừng nói:
- Đó thật là vị thần coi việc nhân gian
Liền xuống chiếu cho sủa tế lễ và đặt lệ mỗi năm cứ đầu mùa xuân lại đếnđền làm lễ cầu phúc Lại sắc phong thần làm Quảng Lợi Vương Trước đây, ởphố chợ cầu đông, ba lần phát hỏa, các nhà trong phố bị cháy hầu như hết, duychỗ đền thờ thần, lửa không lan tới”
Thần Long Đỗ đã cùng với nhân dân ta chống lại viên quan đô hộ Cao Biền
Ở đây, tín ngưỡng chỉ là cái vỏ, mà nội dung chính là ý thức phản kháng, sứcmạnh quật cường của nhân dân ta chống lại những âm mưu muốn phá hoại vănhóa dân tộc của viên quan đô hộ Cao Biền Đằng sau câu chuyện truyền thuyết
về Cao Biền mang mầu sắc thần bí, chứa đựng một sự thực lịch sử lớn Đó làtinh thần dân tộc của nhân dân ta không bao giờ tê liệt, ý chí đấu tranh của nhândân ta không bao giờ mệt mỏi suốt thời bắc thuộc
Truyện Khước địch thiện hựu, trợ thuận đại vương uy địch dũng cảm, hiển
thắng đại vương tức truyện Trương Hống, Trương Hát (thuộc lịch đại phụ thần)
có kể sự việc như sau: “Theo Sử ký của Đỗ Thiện: Hai Vương là hai anh em một
nhà Xưa vua Ngô Nam Tấn (951-965) đi đánh giặc Lý Huy ở Long Châu, đóngquân tại cửa sông Phù Can, đêm mộng thấy hai người tướng mạo khôi ngô, ănmặc lịch sự, đến trước tâu rằng: “Bọn giặc cậy sức làm càn đã lâu, chúng tôi xingiúp sức nhà vua đi đánh” Vua nói: “Các người là ai? Đã có lòng giúp nên cho
ta biết họ tên” Hai tướng tâu rằng: “Chúng tôi là hai anh em, người ở Phù Lan,
họ Trương, anh tên là Hống, em tên là Hát cùng làm tướng cho vua Triệu ViệtVương bị Lý Nam Đế (Phật Từ) đánh úp cướp ngôi Nam Đế cho người đem lễ
Trang 18mời chúng tôi ra làm quan, chúng tôi có nói: “Kẻ trung thần không thờ hai vuacũng như liệt nữ không lấy hai chồng”, huống chi người đã bội nghĩa lại muốnkhuất phục những người không đổi tiết tháo, sao được! Chúng tôi nói rồi cùngvào ẩn ở trong núi Phù Long Nam Đế triệu mãi không được, tức giận thuê ngườilùng bắt, biết rằng khó thoát, chúng tôi cùng uống thuốc độc chết Đức Thượng
đế thương chúng tôi vô tội mà thiệt đời, mới bổ cho làm quan long quân phó sứ,tuần hành trên hai chi sông Vũ Giang và Lạng Giang Trước đây, Tiên đế đánhtrận Bạch Đằng, chúng tôi cũng theo giúp” Vua Nam Tấn thức dậy, liền sai làm
lễ tế khấn rằng “Nếu quả anh linh, giúp ta thắng trận, sẽ lập đền thờ” Hôm sau,vua tiến binh vây núi Côn Lôn, giặc nhờ thế núi hiểm trở, giữ được vững vàng,đánh mãi không được, quân nhà vua đều sinh nản chí Một đêm, vua lại mộngthấy hai Vương đốc xuất một đội thần binh: hình dạng kỳ dị, bộ ngũ chỉnh tề,họp ở cửa sông Phù Lan, rồi quân người anh từ sông Vũ Giang qua sông NhưNguyệt tiến lên đầu sông Phú Lương, quân người em từ sông Lạng Giang vàosông Nam Bình Vua tỉnh dậy nói chuyện với các tướng, rồi thúc quân đánhmạnh, quả nhiên trận ấy toàn thắng Long Châu đã dẹp yên, vua Nam Tấn sai sứchia nơi lập đền thờ hai Vương Phong người anh làm “Đại dương giang đô hộQuốc thần vương”, đền thờ ở cửa sông Như Nguyệt Phong người em làm “Tiểudương giang đô hộ Quốc thần vương”, đền thờ ở cửa sông Nam Bình
Qua ba sự tích ở trên thì thấy dù là thuộc loại nào “hạo khí anh linh” (Thần
Long Đỗ), “lịch đại nhân quân” (Bố Cái Đại Vương), hay “lịch đại phụ thần”
(Trương Hống, Trương Hát), thì các vị thần linh đều “hiển linh” để giúp đỡ vua
chúa chống quân xâm lược
Nét cốt lõi có thể rút ra ở đây là mối quan hệ gắn bó, bền chặt giữa các thế
hệ, có sự kế thừa và nâng cao giữa quá khứ và hiện tại là sự đồng tâm hiệp lựcgiữa các thế hệ nước Việt ta trong việc xây dựng đất nước, bảo vệ đất nước và
Trang 19qua đó, tác giả phản ánh sức sống mãnh liệt, mạnh mẽ, không bao giờ lụi tàn củanhững thuyền thống lớn của dân tộc ta.
1.2.2 Tinh thần tự hào về truyền thống văn hiến Việt nam
Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết:
Ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang
(Như nước Đại Việt ta thuở trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu)
Nguyễn Trãi đã nhắc đến hai chữ “văn hiến”, “Văn” là văn tự, văn chương,văn hóa; “hiến” là người hiền tài Từ xưa, các triều đại phong kiến Trung Hoađều coi nước ta là “phiên bang” (nước làm phên dậu cho Trung Quốc), “thuộcquốc” (nước lệ thuộc) nên Nguyễn Trãi đã đưa hai chữ “văn hiến” lên đầu bàiCáo nhằm khẳng định độc lập tự do và niềm tự hào của dân tộc
Từ hai câu mở đầu của Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi cho ta thấy “văn
hiến” thuộc về truyền thống của nước Việt Nam ta Điều này cũng xuất phát từviệc nước ta bị nhiều lần xâm lược, mà mỗi lần như vậy, để chiến thắng buộcphải có người hiền tài Trong điều kiện nước nhà như vậy, ai ai cũng quyết đem
tinh thần và sức lực của mình dâng cho dân tộc, cho đất nước Trong Việt điện u
linh tập, đâu đâu cũng xuất hiện anh hùng Mỗi truyện xuất hiện một nhân vật tài
năng và có nhân cách: Trương Hống, Trương Hát, Hai Bà Trưng, Phùng Hưng,
Lý Thường Kiệt…Bên cạnh đó, trong các truyện còn xuất hiện các thần là “khíthiêng sông núi” của nước Việt ta như: thần Long Đỗ, thần núi Tản Viên, thầnđất Bạch Hạc, thần núi Đồng Cổ
Có thể nói rằng, văn hiến là truyền thống lâu đời của đất nước ta Trong baonhiêu gian khổ, nhân dân ta đứng dậy sáng ngời Trước kẻ thù nào chúng ta cũngđều chiến thắng Nền văn hiến từ lâu của nước ta đến vua Hán cũng phải côngnhận “Giao Châu là đất văn hiến, sơn xuyên có nhiều của báu lạ, văn vật khảquan, nhân tài kiệt xuất”
Trang 20Để chiến thắng kẻ thù, không chỉ có “nhân kiệt” mà yếu tố “địa linh” cũng
vô cùng quan trọng Cả con người và núi sông đất Việt đã làm nên sức mạnh vôbiên khiến kẻ thù nào cũng phải sợ Đó chính là truyền thống văn hiến của dântộc Việt Nam ta
Chương II SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA VIỆT ĐIỆN
U LINH TẬP VỚI TRUYỆN DÂN GIAN
Trang 212.1 Sự tương đồng về nội dung và hình thức
Văn xuôi tự sự Việt Nam từ thế kỷ X – XIV có đặc điểm là chưa tách khỏivăn học dân gian và văn học chức năng Tác phẩm gồm hai loại chính: một là,
truyện dân gian (gồm sưu tầm, ghi chép, chỉnh lý); hai là, truyện lịch sử và truyện tôn giáo Tiêu biểu cho loại thứ nhất có Lĩnh Nam chích quái lục Loại
thứ hai được chia thành hai nhóm Nhóm một là tác phẩm phản ánh trực tiếp lịch
sử gồm: Ngoại sử ký của Đỗ Thiện, phần Ngoại kỷ sách Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu… Nhóm hai là những tác phẩm gắn với lịch sử tôn giáo gồm Báo cực
truyện, Việt điện u linh tập, Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam tổ thực lục… Như
vậy, Lĩnh Nam chích quái lục là tiêu biểu cho truyện dân gian còn Việt điện u
linh tập thuộc về truyện tôn giáo Tuy thuộc về hai nhóm khác nhau nhưng Việt điện u linh tập với Lĩnh Nam chích quái lục nói riêng và Việt điện u linh tập với
truyện dân gian nói chung vẫn có nhưng điểm tương đồng về nội dung và hìnhthức
2.1.1 Sự tương đồng về nội dung
Có thể nói rằng, Việt điện u linh tập và truyện dân gian (tiêu biểu là Lĩnh
Nam chích quái) có sự kết hợp chặt chẽ giữa sự thực lịch sử với hư cấu Hư cấu
(tiếng Anh: fiction) với nghĩa là một hoạt động, hư cấu là vận dụng trí tưởngtượng để sáng tạo nên những nhân vật, câu chuyện, những tác phẩm nhằm phảnánh cuộc sống và thực hiện những mục đích nhất định Qua hoạt động hư cấu,nghệ sĩ nhào nặn, tổ chức chất liệu được rút ra từ cuộc sống để tạo ra những tínhcách, những số phận, những hiện tượng mới, những “sinh mệnh” có ý nghĩa điểnhình, vừa biểu hiện tập trung chân lý cuộc sống vừa biểu hiện cá tính sáng tạo,phong cách độc đáo và lí tưởng thẩm mĩ của mình Hư cấu là hoạt động cơ bản
của tư duy nghệ thuật Việt điện u linh tập và truyện dân gian chủ yếu bao gồm
các truyền thuyết trong dân gian.Trong bài viết “Truyền thuyết về những người
Trang 22anh hùng trong thời kì phong kiến”, tác giả Kiều Thu Hoạch đã đưa ra một địnhnghĩa tương đối hoàn chỉnh về truyền thuyết như sau:
“Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sựdân gian, nội dung cốt lõi của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặcgiải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân;biện pháp nghệ thuật của nó là khoa trương, phóng đại đồng thời nó cũng sửdụng yếu tố hư ảo thần kỳ như truyện cổ tích và thần thoại; nó khác cổ tích ở chỗkhông nhằm phản ánh xung đột gia đình sinh hoạt xã hội và số phận cá nhân màthường phản ánh những vấn đề thuộc phạm vi quốc gia dân tộc rộng lớn; nó khácthần thoại ở chỗ nhào nặn tự nhiên và xã hội trên cơ sở sự thật lịch sử cụ thể chứkhông phải hoàn toàn trong trí tưởng tượng và bằng trí tưởng tượng” Nói nhưông Phạm Văn Đồng “Những truyền thuyết dân gian thường có một cốt lõi là sựthật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa và gửi gắm tâm tìnhthiết tha của mình cùng với thơ và mộng chắp đôi cánh của sức tưởng tượng củanghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa đời đời con người ưathích”
Cho rằng truyền thuyết là thể loại văn học thì cũng có nghĩa là thừa nhận bảnchất nghệ thuật của nó Đã là nghệ thuật thì phải có sự hư cấu tưởng tượng Đặctrưng cơ bản của văn học nghệ thuật là hư cấu tưởng tượng Tất nhiên đó phải là
sự hư cấu tưởng tượng trên cơ sở hiện thực vì văn học là sự phản ánh nhận thứcsáng tạo để cấu tạo thế giới, là thế giới thứ hai được tái tạo từ thế giới thứ nhất.Văn học bắt nguồn từ cuộc sống hiện thực, phản ánh hiện thực Song là một loạihình nghệ thuật, văn học phải phản ánh hiện thực theo một cách riêng và cái cáchriêng này phụ thuộc vào thế giới chủ quang của nghệ sĩ Nghĩa là phản ánh thếgiới khách quan đi liền với biểu hiện thế giới chủ quan Muốn vậy, tác phẩm vănhọc phải phản ánh hiện thực một cách sáng tạo Sáng tạo đi liền với tưởng tượng
hư cấu nghệ thuật Như vậy, vấn đề hiện thực và hư cấu ở đây chính là vấn đề
Trang 23của phản ánh và sáng tạo, mối quan hệ giữa phản ánh và sáng tạo Trong Bút ký
triết học, Lênin tỏ ý tán thành ý kiến của Phơbach “nghệ thuật không đòi hỏi
phải thừa nhận các tác phẩm của nó như là hiện thực
Nếu Việt điện u linh tập và truyện dân gian đều chỉ phản ánh sự thật lịch sử
thì sẽ không có giá trị văn học đến như vậy mà nó trở thành tài liệu lịch sử thuần
túy Mặt khác, truyện dân gian và Việt điện u linh tập ra đời trong điều kiện hiện
tượng “văn - sử - triết bất phân” đang là phổ biến Chính sự kết hợp giữa sự thực
lịch sử với hư cấu đã làm nên giá trị của Việt điện u linh tập và truyện dân gian (tiêu biểu là Lĩnh Nam chích quái)
Sự kết hợp giữa sự thật lịch sử với hư cấu được thể hiện phổ biến trong cả
Việt điện u linh tập và truyện dân gian Việt điện u linh tập thuộc về truyện lịch
sử nhưng được dân gian hóa, làm cho trở nên ly kỳ, hấp dẫn
Với Việt điện u linh tập, Lý Tế Xuyên đã dựa vào những bản thần tích trong các đợt phong thần của vua nhà Trần, tham khảo Báo cực truyện, Ngoại sử ký và
ít nhiều dựa vào lời truyền tụng của nhân dân Trong đó có sự tích những nhân
vật thần thoại như truyện Thần núi Tản Viên, truyện Thần núi Đồng Cổ, sự tích
những nhân vật lịch sử như Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Lý Thường Kiệt…Như vậy, ta đã thấy sự kết hợp giữa những truyện có thật trong lịch sử và lời
truyền tụng của nhân dân Các vị thần trong Việt điện u linh tập phần lớn có
nguồn gốc từ truyền thuyết dân gian Họ vốn tượng trưng cho cuộc đấu tranhnhằm khai thác thiên nhiên chiến thắng kẻ thù ngoại xâm Cho nên Lý Tế Xuyênchép sự tích các vị thần đã nêu cao tính chất thiêng liêng của mỗi vị đối với nhân
dân đến cầu đảo tế tự Đi liền với các nhân vật là các sự kiện Sự kiện trong Việt
điện u linh tập vừa có thật, bên cạnh đó, với mục đích làm cho tác phẩm li kỳ
hấp dẫn, lôi cuốn người đọc trong không khí tư tưởng của xã hội phong kiến nóichung, đặc biệt là trong đời Trần khi mà những truyện mê tín hoang đường cònđược nhiều người tin theo thì Lý Tế Xuyên đã thêm rất nhiều những chi tiết
Trang 24mang tính chất hư cấu, sáng tạo của riêng ông Tính chất hư cấu này có ở hầu hết
các truyện trong tác phẩm Trong truyện Hai Bà Trưng, tác giả viết: “Sử ghi tên
chị là Trắc, em là Nhị, vốn họ Hùng, là con gái quan Lạc tướng ở Giao Châu ta,người huyện Mê Linh, thuộc Phong Châu Chị lấy Thi Sách, người huyện ChuDiên Thi Sách là người có dũng lực, chuộng hào khí Thấy trừng cơ sự quanThứ sử là Tô Định bèn đặt vào phép, buộc tội Thi Sách mà hãm hại Chị giậnlắm, cùng em đánh đuổi Tô Định, công hãm Giao Châu Do đó, các quận NhậtNam, Hợp Phố, Cửu Chân nghe tin bèn hưởng ứng, lược định được hơn sáumươi lăm thành ở cõi Lĩnh Ngoại, tự lập làm vua đất Việt, đóng ở Chu Diên, rồixưng là họ Trưng
Khi ấy Tô Định chạy về quận Nam Hải Vua Hán Quang Vũ nghe tin, nổigiận, biếm đuổi ịnh ra Đam Nhĩ, sai bọn Mã Viện, Lưu Long đem đại quân sangđánh hai bà Quân Hán kéo đến Lãng Bạc, bà đánh lại, quân ít không địch nổi,rút về giữ Cầm Khê Quân ngay càng ly tán Bà ở vào thế cô, bị chết trận
Dân địa phương thương xót, lập đền thờ, nhiều lần hiển linh Nay đền ởhuyện An Hát”
Tất cả những chi tiết trên đều là sự thật lịch sử Đó là truyện có thật về hainhân vật anh hùng trong lịch sử nước Việt ta Nếu như truyện chỉ dừng lại ở đâythì nó sẽ thuần túy là một tài liệu lịch sử Lý Tế Xuyên lại thêm đoạn sau: “Vua
Lý Anh Tông, gặp thời hạn hán, sai Tĩnh Giới thiền sư làm lễ cầu mưa thi đượcmưa,trời mát mẻ Vua mừng lắm, nằm ngủ bỗng mộng thấy hai người đàn bà,mặt phù dung, mày dương liễu, áo xanh váy đỏ, mũ đỏ, thắt đai, cưỡi ngựa sắt,theo mưa mà đến yết kiến Vua lấy làm lạ bèn hỏi Đáp rằng:
- Chúng tôi là hai chị em họ Vương, vâng lệnh thượng đế làm ra mưa Vua tỉnhdậy cảm xúc bèn sắc cho sửa lại đền, sắm lễ vật để tế Lại sai sứ rước về phía bắctrong thành, xây đền Vũ sư để thờ Sau hai bà lại báo mộng cho nhà vua xin lậpđền thờ ở Cổ Lai Nhà vua nghe theo sắc phong là Trinh linh phu nhân”
Trang 25Ở đoạn trên, chi tiết hai chị em họ Trưng đã chết mà hồn vẫn làm được ra
mưa theo yêu cầu của nhà vua, là hư cấu Hay trong truyện Trương Hống
Trương Hát, tác giả kể: “Theo Sử ký của Đỗ Thiện: Hai Vương là hai anh em
một nhà Xưa vua Ngô Nam Tấn (951-956) đi đánh giặc Lý Huy ở Long Châu,đóng quân tại cửa sông Phù Can” là sự thực lịch sử nhưng còn việc vua Nam Tấnmộng thấy hai anh em Trương Hống, Trương Hát và hai nhân vật này hiển linhgiúp đỡ vua là hư cấu
Hầu hết các truyện trong Việt điện u linh tập đều có hư cấu là việc báo mộng
của những người đã chết cho vua quan triều đình để chỉ rõ điềm lành, điềm dữhoặc là hiển linh âm phù để giúp triều đình đánh giặc Tất cả các vị thần dầu là
“hạo khí anh linh”, dầu là “nhân quân”, “phụ thần”, đều gắn với nhà nước phongkiến và được phong tước ban ân Và đằng sau sự hư cấu ở trên là sự thực lịch sửcủa nhân dân ta, sự thực chiến đấu, bảo vệ đất nước thể hiện niềm tin tưởng vàotương lai tốt đẹp
Sự kết hợp giữa sự thực lịch sử và hư cấu cũng được thể hiện ở truyện dân
gian Truyện dân gian là những truyện được sưu tầm trong dân gian, được ghi chép lại và có những chỗ chỉnh lý Tiêu biểu cho truyện dân gian là Lĩnh Nam
chích quái lục (Trần Thế Pháp – Vũ Quỳnh – Kiều Phú) Lĩnh Nam chích quái lục gồm 22 truyện, phần lớn là truyện có tính chất truyền thuyết Đây là những
tia hồi quang của dân tộc ta thời xa xưa, từ truyện về nguồn gốc tộc Việt (truyện
Họ Hồng Bàng), về quá trình chinh phục tự nhiên, mở mang đất đai trên cả ba
địa bàn cư trú: sông nước, núi non, đồng bằng (các truyện Thần núi Tản Viên,
Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh…), đến truyện về đánh giặc giữ nước (truyện Đổng Thiên Vương), xây dựng nền văn minh vật chất như đắp thành Cổ Loa
(truyện Kim Quy), phong tục trầu cau, bánh trưng ngày Tết, dưa hấu mùa hè, bang giao với nước ngoài…Trong bài Tựa Lĩnh Nam chích quái, Vũ Quỳnh nói:
“Nước Việt ta mở đầu từ Hùng Vương dần dần tiến lên văn minh, các đời Triệu,
Trang 26Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần còn ở bước đầu, đến nay thì đã thành tựu cho nên biênchép việc cũ có phần rõ ràng hơn Truyện này làm ra phải chăng là sử trongtruyện ký? Nhưng không biết làm ra đời nào, do người nào, họ tên không thấychép có lẽ khởi thảo là một bậc đại nho nào đó và đã được các nhà học rộng đờinay nhuận sắc chăng? Tôi xin trình bày truyện Họ Hồng Bàng, nói rõ việc nướcViệt ta bắt đầu dựng nước; truyện vua Dạ Xoa thì nói qua triều trước của nướcChiêm Thành; truyện Bạch trĩ là chép về nước Việt thường; truyện Kim Quy làchép truyện An Dương Vương Tục nước ta, lễ cưới vợ không gì quý trọng bằngquả cau, nên ra truyện quả cau để tỏ rõ nghĩa vợ chồng, tình anh em; sản vật mùa
hè của nước ta, không gì quý bằng dưa đỏ, nên truyện Quả dưa đỏ để tỏ rõ cái ýdựa vào của mình làm ra không nhờ ơn người; truyện bánh trưng để khen người
có lòng hiếu dưỡng; truyện Ô Lôi để khen kẻ có nết dâm ô; truyện Đổng ThiênVương phá giặc Ân; truyện Lý Ông Trọng diệt Hung nô để biết nước Nam cónhiều người tài…”[14;1145] Qua lời Tựa của Vũ Quỳnh, ta có thể thấy rằng
truyện chép trong Lĩnh Nam chích quái lục đều có nguồn gốc từ cuộc sống người
Việt, từ những phong tục, tập quán, truyền thống đánh giặc giữ nước Những sự
kiện và nhân vật trong Lĩnh Nam chích quái lục gắn liền với sự thật lịch sử Truyện Bánh trưng kể về phong tục của nhân dân ta, nhằm ngụ ý nhớ ơn cha mẹ nuôi nấng; truyện Họ Hồng Bàng kể về nguồn gốc của nhân ta,… Nhưng bên
cạnh những sự thực lịch sử ấy, một điều cũng vô cùng quan trọng không thểthiếu làm nên giá trị của tác phẩm, lưu truyền đến muôn đời đó là những sự thựclịch sử trên có sự kết hợp chặt chẽ với hư cấu Điều này cũng rất hợp lý bởi vì ởnhững thế kỷ này, người Việt ta vẫn còn tin vào những điều hoang đường, ảotưởng Và điều quan trọng là từ sự tin tưởng ngây thơ ấy, người Việt ta đã xây
dựng được niềm tin vào cuộc sống và sức mạnh dân tộc Trong truyện Bánh
chưng, việc vua truyền ngôi cho con là thực còn việc Lang Liêu, người con thứ
18 của nhà vua nằm mộng thấy một thần nhân cho biết: “vật trong trời đất, riêng
Trang 27gạo là quý, bởi gạo nuôi con người thì người khỏe mạnh Người ta ăn gạo mãi
mà không chán Không có vật nào hơn được gạo Nên lấy gạo nếp làm bánh giãnhỏ làm thành hình tròn để tượng trưng cho trời, hoặc lấy lá gói thành hìnhvuông để tượng trưng cho đất Trong bánh đựng những vị ngon để bắt chước đấttrời chứa đựng muôn vật ngụ ý nhớ ơn cha mẹ nuôi nấng Như vậy thì lòng mẹcha sẽ vui, ngôi cao chắc được” Đó là sự hư cấu
Truyện Họ Hồng Bàng cũng tương tự như vậy Sự thực lịch sử là quá trình
hình thành nguồn gốc người Việt còn hư cấu là việc Lạc Long Quân và Âu Cơ
“sinh được một bọc trăm trứng, mỗi trứng nở ra một người con trai Họ đem vềnuôi không phải mất công bú mớm ai nấy tự lơn lên, trưởng thành, trí dũng songtoàn Người người đều sợ phục và bảo nhau rằng đó là những người anh em phithường” Tác giả dân gian đã mượn hư cấu để nói về nguồn gốc hình thành củadân tộc Chính sự hư cấu đó đã làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, lôi cuốn
Trong truyện An Dương Vương, sự thực lịch sử là việc An Dương Vương
xây thành Cổ Loa, nhân vật trong truyện cũng có thật đó là An Dương Vương,Triệu Đà, Mị Châu, Trọng Thủy Và dựa trên sự thật ấy, người ta thêu dệt, đưavào những chi tiết bịa đặt ly kì: chi tiết thành Kim Quy, chi tiết lấy nước giếngnơi Trọng Thủy chết rửa ngọc trai thì ngọc sáng hơn
Truyện Sơn tinh Thủy tinh có cái “cốt lõi lịch sử” là công cuộc dựng nước
của vua Hùng và nhân dân ta gặp phải bao khó khăn từ thiên nhiên, phải tìmcách chống đỡ, khắc phục để mang lại cuộc sống lao động sản xuất và sinh hoạt
ổn định cho nhân dân Trên nền tảng sự thật đó, nhân dân ta tưởng tượng ra cuộcchiến, sự xung đột giữa Sơn tinh – đại diện cho nhân dân và Thủy tinh – đại diệncho lực lượng tự nhiên để thể hiện ước mơ, khát vọng chiếm lĩnh tự nhiên củanhân dân
Trang 28Như vậy, hư cấu kết hợp với sự thực lịch sử là đặc điểm có ở cả Việt điện u
linh tập và truyện dân gian Sự tương đồng này được thể hiện rất rõ và làm nên
giá trị của cả hai
Sự tương đồng giữa Việt điện u linh tập với truyện dân gian còn được thể
hiện ở sự kết hợp giữa quan điểm đạo đức với quan điểm thẩm mĩ
Mỗi giai đoạn lịch sử có quan điểm thẩm mĩ riêng Văn học trung đại ViệtNam với kiểu thức tư duy nghệ thuật có những nét độc đáo khác biệt so với vănhọc thời kì hiện đại vì văn học trung đại Việt Nam nằm trong phong cách nghệthật Đông Á, văn hóa phương đông rất khác biệt với văn hóa phương tây Nếunền văn hóa phương đông là văn hóa trọng tĩnh thì văn hóa phương tây là vănhóa trọng động Nếu nền văn hóa phương đông là hướng nội thì văn hóa phươngtây lại là nền văn hóa hướng ngoại Nghệ thuật phương đông suy cho cùng đó làcái nhìn triết học về tư duy siêu hình Mỹ học cổ phương đông luôn gắn liền vớitriết học cổ và cảm quan thẩm mĩ không tách rời với cách nhìn nhận thế giới.Chúng ta có thể khái quát một cách chung nhất về tư tưởng thẩm mĩ của phươngđông đó là nó ít nhiều có cái lâng lâng huyền ảo của Thiền, có cái phóng khoángbay bổng của Đạo và đặc biệt nhất là có cái ngay ngắn chặt chẽ của Nho
Tiêu chuẩn để đánh giá giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học cổ xưa là phải
có đạo đức Và đạo đức ở đây là đạo đức phong kiến một chiều và còn nhiều hạn
chế Tác giả Việt điện u linh tập và truyện dân gian đã kết hợp giá trị đạo đức với
giá trị thẩm mĩ trong tác phẩm của mình Đây cũng chính là điểm tương đồng
giữa Việt điện u linh tập với truyện dân gian.
Trong bài Tựa Việt điện u linh tập, Lý Tế Xuyên viết “Thánh nhân xưa nói:
Thông minh chính trực mới đáng gọi là thần, không phải hạng dâm thần, tà maquỉ quái mà lạm gọi là thần được đâu Trong nước Hoàng Việt ta, các thần thờ ởmiếu đền xưa nay rất nhiều nhưng mà công tích rõ rệt, cứu giúp sinh linh thìkhông có mấy đâu Tuy nhiên, các thần vốn có phẩm loại không ngang nhau, có
Trang 29vị là linh túy của núi sông, có vị là nhân vật kiệt linh, khí thế rừng rực lúc đươngthời, anh linh tỏa rộng đến đời sau Nếu không ghi chép sự việc lại thì phẩm loạitrên dưới khó phân biệt” Như vậy, những vị thần được Lý Tế Xuyên chép lại sựtích phải là những vị thần có công “cứu giúp sinh linh”, phải “thông minh, chínhtrực” chứ “không phải hạng dâm thần, tà ma quỉ quái” Trước khi ghi chép sựtích các thần, Lý Tế Xuyên đã xác định tiêu chí để ghi chép Đó chính là quanđiểm đạo đức của tác giả Theo Lý Tế Xuyên, đạo đức có mối quan hệ chặt chẽvới thẩm mĩ Như trên đã nói thì vị thần nào phải thông minh chính trực mớiđáng ca ngợi, mới đáng được nhân dân thờ cúng có nghĩa là tốt đẹp Và sự thựcnhư vậy, các nhân vật trong các truyện của ông đều có đức sáng ngời, có công
“cứu giúp sinh linh”, sống hết lòng vì triều đình, vì nhân dân, chết vẫn hiển linhgiúp đỡ Đó là những nhân vật có tấm lòng, có đạo đức cả khi còn sống hay đãchết Không chỉ có vậy, họ còn là những con người dũng cảm thà hi sinh chứnhất định theo kẻ thù Hai anh em Trương Hống, Trương Hát là một ví dụ Khicòn sống, họ làm tướng cho Triệu Việt Vương bị Lý Nam Đế (Phật tử) đánh úpcướp ngôi Nam Đế cho người mời ra làm quan, họ nói: “kẻ trung thần khôngthờ hai vua cũng như người liệt nữ không lấy hai chồng, huống chi người đã bộinghĩa lại muốn khuất phục những người không đổi tiết tháo, sao được” Sau đó,
họ vào ẩn ở núi Phù Long Nam Đế không sao triệu được, tức giận thuê ngườilùng bắt và họ đã uống thuốc độc tự tử Đó là tấm gương đạo đức đáng ca ngợi,hai anh em Trương Hống, Trương Hát dù phải vào đường cùng thì họ tìm đếncon đường chết chứ nhất định không phản bội chủ Chính sự kiên cường đó của
họ khiến cho Lý Nam Đế không sao khuất phục nổi Và dù khi đã chết đi rồi thìcông đức của họ vẫn mãi còn với nhân dân, họ vẫn xuất hiện để giúp đỡ thế gian.Vua Nam Tấn nhờ giấc mộng gặp được hai người anh hùng đã làm theo lời họ
mà chiến thắng “Vua tỉnh dậy nói chuyện với các tướng rồi thúc quân đánhmạnh, quả nhiên trận ấy toàn thắng”
Trang 30Theo Lý Tế Xuyên, đi liền với đạo đức là thẩm mĩ Người được ông ca ngợi,ghi chép nhất định phải là người có đạo đức Cái thẩm mĩ, cái đẹp, cái được cangợi phải là cái đạo đức Cái đạo đức ở đây rất được đề cao Dù các nhân vật làthần có không may bị chết đi thì công đức của họ vẫn được ghi chép lại Trong
truyện Lý Hoảng, ngay từ đầu tác giả đã ca ngợi: “Vương có tính trung hiếu,
kính cẩn, rất quả cảm và có tài Năm Càn phụ hữu đạo thứ 1 (1039) được tuyểnvào làm thuế ở châu Nghệ An, làm việc trong mấy năm có tiếng rất liêm vàthẳng, vua khen và yêu” Ngay từ mở đầu câu chuyện, ta đã thấy quan điểm đạođức của tác giả Người được ông đề cao phải là người có tính trung hiếu, kínhcẩn, quả cảm Và xuyên suốt câu chuyện, quan điểm của ông luôn nhất quán.Với tính các trung hiếu, cương trực như vậy, chắc chắn Vương sẽ hết lòng vì vuakhi được vua trọng dụng Quả nhiên “bấy giờ Thái Tông sắp sang đánh ChiêmThành, sai Vương sửa dựng một chỗ ở gọi là trại Bà Hòa, cần phải được hiểmkín, bốn mặt đào ngòi đắp lũy, trong trại đất rộng chứa được ba, bốn vạn quân,kho tàng tiền lương phải chứa sẵn để dùng đủ trong ba năm Khi vua dẫn quânvào quả được vừa ý Vua tiến đánh Chiêm Thành được đại thắng, chém chết vuaChiêm là Sạ Đẩu tại trận, bắt được phi tần nước Chiêm và vàng bạc châu báu rấtnhiều” Sau đó, Vương còn có công mở thêm được 5 châu, 22 trại, 56 sách (trạinhỏ) Vì vậy được nhân dân tin yêu, được vua xuống chiếu cho đo các mặtcương giới của bản châu, dựng bia đá khắc để ghi công
Sự kết hợp giữa tư tưởng đạo đức và tư tưởng thẩm mĩ trong Việt điện u linh
tập không chỉ được thể hiện ở các nhân vật là nam giới mà còn được thể hiện ở
nhân vật phụ nữ, tiêu biểu là nhân vật Mỵ Ê – vợ vua Chiêm Thành Qua nhânvật này, ta thấy trong quan điểm của Lý Tế Xuyên thì cái đẹp ở người phụ nữluôn phải đi liền với “trinh liệt”, thà chết chứ không phản bội chồng mà hầu hạchăn gối cho kẻ khác dù đó là vua của một nước Truyện kể rằng: “phu nhân
Trang 31không rõ họ là gì, người Chiêm Thành, tê là Mỵ Ê, vợ vua Chiêm Thành xưa là
Sạ Đẩu
Dưới triều Lý Thái Tông, Sạ Đẩu không giữ phận triều cống, bỏ lễ phiênthành Nhà vua thân sang đánh phương Nam Đẩu chống lại ở sông Bố Chình,liền bị quân nhà vua đánh tan, Đẩu chết tại trận Vương phi và tỳ thiếp bị bắt làm
tù binh đưa về Về đến sông Lý Nhân, nhà vua nghe nói Mỵ Ê đẹp, bèn mật saiquan trung sứ triệu sang hầu ở thuyền ngự Phu nhân hết sức phẫn uất, từ chốirằng:
“- Vợ người mọi rợ quê kệch, ăn mặc xấu xí, nói năng thô lậu, không bằng cácphi tần ở trung thổ; nay đau khổ vì nỗi nước mất, chồng chết, tự xét chỉ có mộtchết mà thôi, nếu cưỡng ép phải hợp hoan với nhà vua, sợ rằng nhơ đến mìnhrồng Bèn ngầm lấy chăn vải trắng quấn quanh mình, rồi nhảy xuống dòng sông.Chỉ thấy đánh ùm một cái đã không thấy bóng dáng người đẹp đâu nữa Khi cònsống, Mỵ Ê đã chung thủy như vậy, chết đi nàng vẫn không hề đổi thay, vẫn giữmãi tấm gương tiết liệt khiến cho ai cũng phải nể trọng kể cả nhà vua Hànhđộng của nàng làm cho vua phải hối hận Nàng chết đi và trở về trong giấc mộngcủa nhà vua“ đêm ấy, vào canh ba khuya khoắt bỗng thấy một trận gió thơm, hơilạnh tỏa khắp, nhà vua thấy một người đàn bà vừa lạy, vừa khóc mà rằng:
- Tôi nghe nói cái đạo người vợ là chỉ một mà thôi Quốc vương nước tôi trướckia tuy không dám tranh đua với bệ hạ, nhưng cũng là một trang nam tử có kỳ tài
ở một phương Tôi đã lạm được hầu khăn lược, ái ân dồi dào Chẳng may mànước tan, vua chết Tôi ngày đêm đau xót nghĩ đến việc báo thù Nhưng là phậnđàn bà yếu ớt, không biết tính vào đâu Nhờ có ơn lớn của bệ hạ sai sứ đưa tôi vềđược nơi suối vàng gặp chồng, ý nguyện đã thỏa; còn như có gì là anh linh màđâu dám đến đường đột
Nói xong bỗng không thấy đâu nữa Nhà vua tỉnh dậy mới biết là giấcmộng”
Trang 32Mặc dù tác giả có vẻ khách quan khi kể về các nhân vật, nhưng đằng sau đólại là quan điểm rất rõ ràng Lời của Mỵ Ê cũng chính là lời của tác giả “cái đạocủa người vợ là chỉ một chồng mà thôi” Theo quan điểm của người xưa thì đạođức luôn là cái đẹp và được đặt lên hàng đầu Quan điểm của Lý Tế Xuyên vềđạo đức như vậy là rất hợp với ý thức hệ Nho giáo đương thời, hợp với quanđiểm của nhân dân, nhưng bên cạnh đó quan điểm này còn tồn tại hạn chế vì đã
ca ngợi giai cấp phong kiến còn nhân dân thì chưa được coi trọng Quan điểmnày còn thể hiện mối quan hệ phục tùng một chiều của kẻ dưới đối với ngườitrên
Sự kết hợp giữa quan điểm đạo đức với quan điểm thẩm mĩ còn được thể
hiện rõ trong truyện dân gian Cả Việt điện u linh tập và truyện dân gian đều có
sự kết hợp này làm nên điểm tương đồng rõ rệt
Ở Lĩnh Nam chích quái lục, tác giả đã thể hiện quan điểm về đạo đức và quan điểm thẩm mĩ của mình Cũng như Lý Tế Xuyên, tác giả Lĩnh Nam chích
quái lục cũng quan niệm đạo đức là cái hàng đầu Cái đẹp, cái thẩm mĩ, cái đáng
được ca ngợi luôn phải là cái đạo đức Quan điểm này được thể hiện rõ trong các
câu chuyện, truyện Trầu cau là một ví dụ điển hình Truyện kể như sau: “Thời
thượng cổ có một viên quan lang, hình dáng cao lớn, nhân đó lấy chữ Cao làm
họ Ông sinh được hai người con trai Con cả tên là Tân, con út tên là Lang Haichàng giống nhau đến không phân biệt nổi Khi hai anh em tuổi vừa 17,18, cha
mẹ đều mất cả Hai chàng cùng nhau đi tìm thầy học đạo Thầy học của họ là đạo
sĩ họ Lưu Đạo sĩ có một người con gái tuổi cũng vừa 17,18 Nàng muốn thànhđôi với họ nhưng không biết ai là anh ai là em Nàng thấy người em nhường đũacho anh mới biết được Tân là anh Nàng đem tình nói với cha mẹ và lấy ngườianh
Tình ái vợ chồng ngày càng khăng khít, về sau, Tân đối xử với em khôngđược như trước Người em tự lấy làm xấu hổ, buồn phiền cho rằng anh yêu vợ