Nghiên cứu có mục đích xác định giá trị của phương pháp video - EEG với thời gian ngắn trong chẩn đoán các loại rối loạn kịch phát. Nghiên cứu tiến hành trên 52 bệnh nhân có cơn co giựt hoặc có loạn động kinh phát được phân tích qua video EEG thời gian ngắn trong thời gian từ tháng 9/2009 đến 10/2010.
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011
GIÁ TRỊ CỦA VIDEO ĐIỆN NÃO THỜI GIAN NGẮN TRONG CHẨN ĐOÁN CÁC RỐI LOẠN KỊCH PHÁT
Nguyễn Thi Hùng *
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nghiên cứu có mục đích xác định giá trị của phương pháp video – EEG với thời gian ngắn trong
chẩn đoán các loại rối loạn kịch phát
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 52 bệnh nhân có cơn co giựt hoặc
có loạn động kinh phát được phân tích qua video EEG thời gian ngắn trong thời gian từ tháng 9/2009 đến
10/2010
Kết quả: Qua kết quả video EEG, các cơn kịch phát được ghi nhận trong 26 trường hợp, có 7 cơn co giựt
được xác định lại chẩn đoán Đối chiếu chẩn đoán lúc nhập viện và kết quả video EEG cho thấy có sự tương hợp trong 25 trường hợp Các cơn kịch phát được phân loại là rối loạn Tic (2), cơn động kinh cục bộ (3), cơn co cứng
co giật toàn thể (3), ngất, giả động kinh (12), rung giật cơ ban đêm (6)
Kết luận: Video EEG với thời gian ngắn là phương pháp chẩn đoán điện hiệu quả để ghi nhận chính xác các
rối loạn kịch phát Ưu điểm của kỹ thuật này là chi phí tương đối thấp, chẩn đoán chính xác mà không phải nhập viện để theo dõi trong thời gian >24 giờ
Từ khóa: video – EEG, các rối loạn kịch phát, co giật do căn nguyên động kinh, ngất)
ABSTRACT
THE VALUE OF SHORT TERM VIDEO – EEG IN DIAGNOSIS OF PAROXYSMAL EVENTS
Nguyen Thi Hung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 224 - 227
Objective: The aim of this study was to evaluate the value of short term Video – EEG in order to verify the
classification paroxysmal events
Patient and Methods: The prospective protocol, realized in Nguyen Tri Phuong Hospital, analyzed 52
consecutive patients from 9/2009 - 10/2010 Video EEG was recording during short time (4-12h) to notify the correlation between clinical and EEG data
Results: Clinical episodes were observed in 21 patients (50%), seizes was reclassified in 7 cases Clinical
diagnosis on admission was suitable with video – EEG data in 21/52 cases The type of paroxysmal events are: tic
disorder, focal seizures, syncope, pseudo seizure, nocturnal myoclonies
Conclusion: Short term Video – EEG is an effective methods for recording the paroxysmal events The
advantage of this technical is low – cost, high accuracy to diagnosis, convenience for patient and family because it does not require hospitalization
Key words: Video – EEG, paroxysmal events, epileptic seizures, syncope
ĐẶT VẤN ĐỀ
Video điện não là phương pháp chẩn đoán
không xâm phạm có đặc điểm ghi nhận trong
một thời gian nhất định các tương quan giữa
tình trạng lâm sàng và điện não đồ của các rối loạn kịch phát Phương pháp ghi điện não liên tục 24 giờ có giá trị chẩn đoán co giựt do căn nguyên động kinh và không do động kinh, lượng giá tần suất cơn, phân loại cơn động kinh
* BV Nguyễn Tri Phương TP.HCM
Tác giả liên lạc: TS.BS Nguyễn Thi Hùng ĐT: Email:
Trang 2Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Nghiên cứu Y học
và đánh giá trước phẫu thuật(1) Tuy nhiên,
phương pháp này cũng có giới hạn là bất tiện
cho bệnh nhân và người thân, đòi hỏi kỹ thuật
viên theo dõi liên tục trong thơi gian dài và chi
phí rất cao
Phương pháp ghi video điện não thời gian
ngắn thường thực hiện trong vài giờ (4-8 giờ),
thuận tiện cho bệnh nhân và thân nhân, kỹ
thuật viên không tốn thời gian theo dõi và có
thể thực hiện khi các cơn xảy ra vào bất cứ lúc
nào theo gợi ý thời gian xuất hiện cơn của
thân nhân, thầy thuốc hay người bệnh(2,4) Từ
đầu những năm 90, các tác giả Valente,
Comolly ở Âu Châu hoặc Gonigal, Runell ở
Hoa Kỳ đã có nhiều nghiên cứu từ kỹ thuật
ghi video điện não thời gian ngắn
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong thời gian 9/2009 đến 10/2010, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm lâm sàng
và điện não trên 52 trường hợp có rối loạn
kịch phát được ghi nhận qua kỹ thuật video
điện não Máy điện não Neurofax 9200K…
Của Nihonkoden được thực hiện trong thời
gian từ 4 giờ - 8 giờ Có 3 trường hợp được
thực hiện trong 12 giờ vào giấc ngủ theo yêu
cầu của bác sĩ điều trị Các đặc điểm tiền căn,
yếu tố nguy cơ, đặc điểm dân số , chẩn đoán
của bác sĩ gửi đến được ghi nhận trên một
biểu mẫu soạn sẵn Đây là nghiên cứu mô tả
cắt ngang trên 52 trường hợp có cơn co giật
hoặc lâm sàng nghi ngờ có cơn co giật Các
trường hợp này đều được ghi trong tư thế
nằm, trong phòng có máy điều hòa không khí,
kết quả được đồng thuận bởi 3 bác sĩ thần
kinh Hình ảnh điện não xuất hiện cùng lúc
trên màn hình có tách một phần ghi lại hình
ảnh cơn co giật để thuận tiện đối chiếu và
phân tích kết quả Các nhóm được phân loại:
là cử động kịch phát của mắt, nghi ngờ co
giật, rung giật cơ, nghi ngờ các động tác định
hình hay Tic, giả động kinh, các loạn động
kịch phát trong giấc ngủ… Các bệnh nhân
cũng được kích thích bằng nghiệm pháp ánh
sáng và tăng thông khí để phát hiện các rối loạn kịch phát trong quá trình ghi
KẾT QUẢ
Bảng 1
0-20 21-50 >50 Nam Nữ Tp Hcm Nơi khác
Bảng 2
Đái tháo đường Động kinh Chấn thương sọ não
Dị dạng mạch máu não Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Nhiễm ký sinh trùng TK TW
Viêm não TBMMN Bại não Tăng huyết áp Bệnh tim mạch khác Bệnh lý khác
03
21
01
01
01
02
00
01
02
03
01
21 (có 2 trường hợp u não chưa phẫu thuật)
Bảng 3
Thời gian từ lúc có cơn giật đầu tiên đến lúc ghi EEG
Bảng 4
Động kinh Ngất Nổi loạn tic Giả động kinh (pseudoseizure) Chẩn đoán khác (cơn hoảng loạn)
42/52 02/52 02/52 05/52 01/52
Bảng 5
1 giờ - 3 giờ
4 giờ - 8 giờ
>12 giờ
22/52 27/52 3/52
Ghi chú: Những trường hợp theo dõi ngắn
(1 giờ) do đã ghi được cơn hoặc bệnh nhân không hợp tác ghi tiếp
Những ca ghi trên 12 giờ thường do bác sĩ yêu cầu ghi ban đêm
Bảng 6
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011
bất thường
Chẩn đoán ĐK/video không có cơn và
EEG có bất thường
Không phù hợp LS
Chẩn đoán LS: Động kinh (Video co cơn
EEG BT)
Chẩn đoán LS: động kinh (video không
cơn, EEG BT)
02/02
Bảng 7
Cơn toàn thể
Rung giật cơ lúc ngủ
Rung giật cơ
Động kinh cục bộ phức tạp
Tics
Giả động kinh
03
03
03
03
02
12
BÀN LUẬN
Trong 52 trường hợp tỷ lệ nam và nữ gần
tương đương nhau (25/27), 32% trường hợp cư
ngụ ở TP Hồ Chí Minh Các trường hợp đến ghi
video EEG đều có thời gian trung bình bị động
kinh dưới 1 năm Phần lớn các bác sĩ gửi đến để
xác định có phải cơn động kinh, sau đó là đề
nghị phân biệt một số rối loạn vận động với cơn
co giật do căn nguyên động kinh Có 3 trường
hợp được thực hiện video EEG qua đêm, số còn
lại có thời gian thực hiện ngắn nhất là 1 giờ và
trung bình các lần thực hiện ghi là 4 - 8 giờ
Kết quả cho thấy Video EEG xác định được
các loại rối loạn kịch phát: động kinh (6 trường
hợp), giả động kinh (12 trường hợp), rung giật
cơ khi ngủ (3 trường hợp), rung giật cơ (5
trường hợp), rối loạn Tic (2 trường hợp) Kiểu
cơn của 6 trường hợp động kinh là cơn toàn thể
(3 trường hợp), cơn cục bộ phức tạp (3 trường
hợp)
Có 21 trường hợp trong chẩn đoán lâm sàng
nghi động kinh, ngất nhưng điện não đồ và
video không ghi nhận các bất thường Các
trường hợp này cần thực hiện ghi theo qui trình
của Video EEG thời gian dài (trên 72 giờ) để có thể bắt được cơn, đặc biệt ỡ những bệnh nhân có mật độ cơn thưa(3,4) Có 5 trường hợp ghi nhận được loại cơn khác với chẩn đoán của thầy thuốc, điều này giúp cho bác sĩ xác định lại chẩn đoán, điều chỉnh lại thuốc sử dụng hay ngưng dung thuốc (vì không phải là cơn động kinh)
Có 6 trường hợp chỉ ghi nhận có đợt kịch phát trên EEG đơn thuần, các trường hợp này cần theo dõi thêm về lâm sàng và điện não 24 giờ Video EEG cũng phát hiện được 12 trường hợp giả động kinh, do đó đây là một phương pháp ghi nhận khách quan giúp thầy thuốc và người thân có dữ liệu chứng minh các bản chất rối loạn tâm thần kinh chứ không phải là cơn động kinh(2,6)
Phương pháp video điện não thời gian ngắn giúp chẩn đoán xác định cơn co giật, chẩn đoán phân loại động kinh và hội chứng động kinh, các vận động bất thường trong khi ngủ và các rối loạn kịch phát khác(1,3) Những trường hợp có chẩn đoán giả động kinh có phù hợp hoàn toàn giữa chẩn đoán lâm sàng và video điện não Video EEG cũng giúp chẩn đoán loại trừ được động kinh ở 9 trường hợp, hướng dẫn cho thầy thuốc không cần sử dụng thuốc chống động kinh và loại trừ được các rối loạn kịch phát khác
KẾT LUẬN
Từ tháng 6/2009, lần đầu tiên tại Việt Nam chúng tôi sử dụng kỹ thuật kỹ thuật Video EEG để chẩn đoán theo dõi các hoạt động kịch phát Kỹ thuật này đã giúp chẩn đoán phân biệt các cơn co giật do động kinh với các cơn co giật do căn nguyên khác, chẩn đoán loại động kinh và hội chứng động kinh, các loạn động kịch phát trong giấc ngủ(4) Trong tương lai, kỹ thuật video EEG với thời gian dài trên 72 giờ sẽ góp phần vào công tác thăm
dò chức năng điện sinh lý ở các bệnh nhân chuẩn bị cho phẫu thuật động kinh
Trang 4Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Nghiên cứu Y học
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Binnie CD, Rowan AJ, Overweg J, Meinardi H, Wisman T,
Kamp A, et al (1981): Telemetric EEG and video monitoring in
epilepsy Neurology 1981; 31 (3): 298-303
2 Connolly MB, Wong PK, Karim Y, Smith S, Farrell K (1994):
Outpatient video – EEG monitoring in children , Epilepsia
1994;35 (3): 477-81
3 Freitas A, Fiore L.A, Gronich G, Valerite K.D (2003): The
Diagnostic Value of short term video – EEG monitoring in
childhood, Journal de Pediatria, 0021-7557
4 Mizrahi EM (1984): Electroencephalographic/ polygraphic/video monitoring in childhood epilepsy J Pediatr; 105:1-9
5 Rowan AJ, Seigel M, Rosenbaum DH (1987): Daytime intensive and ambulatory monitoring Neurology; 37 (3): 481-4
6 Watembery N., Tzipermann B and Coll, (2005): Adding video Recording increased the diagnostic yald of Routine Electro encephalograms in Children with frequent paroxysmal events, Epilepsias 46 (5) 716-719