1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn (NCKH)

380 148 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 380
Dung lượng 10,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn (NCKH)Giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn (NCKH)Giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn (NCKH)Giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn (NCKH)Giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn (NCKH)Giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn (NCKH)Giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn (NCKH)Giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội và Nhân văn (NCKH)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ CỦA CÁC DI SẢN Ở KHU VỰC ĐÔNG BẮC VIỆT NAM CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ THUỘC

LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: B2015-TN 03-06

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS DƯƠNG QUỲNH PHƯƠNG

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ CỦA CÁC DI SẢN Ở KHU VỰC ĐÔNG BẮC VIỆT NAM CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ THUỘC

LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Họ và tên Đơn vị công tác và

PGS TS

Nguyễn Thị Tính

- Viện trưởng, Viện Khoa học

xã hội và nhân văn miền núi

- Phó hiệu trưởng Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên (Giáo dục học)

- Nghiên cứu các vấn đề lí luận

- Đề xuất và xây dựng các chủ đề tự chọn tích hợp giáo dục giá trị của các

di sản cho các trường THPT PGS.TS Hà Thị

Thu Thuỷ

Khoa Lịch sử, Trường ĐHSP

- ĐH Thái Nguyên (Lịch sử Việt Nam)

- Đề xuất và xây dựng các chủ đề tự chọn tích hợp giáo dục giá trị của các

di sản cho các trường THPT

- Thư kí đề tài PGS.TS Nguyễn

di sản cho các trường THPT

- Thực nghiệm ở các trường phổ thong

PGS.TS Ngô Thị

Thanh Quý

Khoa Ngữ Văn, Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên (Văn học dân gian)

- Khảo sát thực tế ở các trường THPT khu vực Đông Bắc

- Đề xuất và xây dựng các chủ đề tự chọn tích hợp giáo dục giá trị của các

di sản cho các trường THPT

TS Đỗ Văn Hảo Khoa Địa lí, Trường ĐHSP -

ĐH Thái Nguyên (Phương pháp giảng dạy Địa lí)

- Xây dựng các mẫu phiếu điều tra, khảo sát

- Thực nghiệm ở các trường THPT

Trang 4

ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH Tên đơn vị

PGS TS Đào Thuỷ Nguyên

Khoa tâm lí - Giáo dục,

Viện Địa lí thuộc Viện

Khoa học Việt Nam

- Cơ sở lí luận; Xây dựng

hệ thống bản đồ

GS.TS KH Phạm Hoàng Hải

Trang 5

MỤC LỤC

NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI i

ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ix

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS xv

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 3

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc của đề tài 5

NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DI SẢN, GIÁO DỤC DI SẢN 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu về di sản và giáo dục di sản 6

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về di sản 6

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giáo dục và giáo dục giá trị của các di sản 9

1.2 Nhận dạng di sản 15

1.2.1 Khái niệm 15

1.2.2 Tiêu chí công nhận di sản 18

1.2.3 Phân loại, phân cấp quản lí di sản ở Việt Nam 20

1.3 Giáo dục di sản 21

1.3.1 Giáo dục di sản với hoạt động dạy học, giáo dục ở trường phổ thông 21

1.3.2 Một số phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục di sản 24

1.3.3 Một số hình thức dạy học, tổ chức hoạt động giáo dục với di sản 25

1.3.4 Dạy học tích hợp các môn khoa học xã hội 29

1.4 Thực tiễn bảo tồn và phát huy các giá trị di sản của việt nam 32

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34

Trang 6

CHƯƠNG 2 DI SẢN TỰ NHIÊN VÀ DI SẢN VĂN HOÁ CỦA KHU VỰC

ĐÔNG BẮC VIỆT NAM 35

2.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ vùng đông bắc 35

2.2 Di sản tự nhiên khu vực đông bắc 37

2.2.1 Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới 37

2.2.2 Cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang - Công viên địa chất toàn cầu 39

2.3 Di sản văn hoá khu vực đông bắc 41

2.3.1 Di sản được UNESCO công nhận 42

2.3.2 Một số di sản cấp quốc gia 44

2.4 Đánh giá chung về di sản khu vực đông bắc Việt Nam 67

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69

CHƯƠNG 3 CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC DI SẢN VÙNG ĐÔNG BẮC THUỘC LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 70

3.1 Cơ sở để xây dựng các chủ đề dạy học tích hợp liên môn 70

3.2 Nội dung thiết kế một chủ đề tích hợp 71

3.3 Quy trình tổ chức dạy học tích hợp theo chủ đề các môn thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn 72

3.4 Thiết kế một số chủ đề dạy học tích hợp giáo dục di sản vùng đông bắc thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn 75

3.5 Thực trạng giáo dục giá trị của các di sản cho học sinh THPT ở khu vực đông bắc qua dạy học các chủ đề xã hội, nhân văn 76

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 80

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT KHU VỰC ĐÔNG BẮC VÀ ĐỀ XUẤT VỀ VIỆC GIÁO DỤC DI SẢN, BẢO TỒN - PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN 81

4.1 Thực nghiệm sư phạm 81

4.1.1 Mục đích, nhiệm vụ và nguyên tắc thực nghiệm sư phạm 81

4.1.2 Phương pháp thực nghiệm 82

4.1.3 Nội dung thực nghiệm 83

4.1.4 Tổ chức thực nghiệm 83

4.1.5 Kết quả thực nghiệm 878

Trang 7

4.1.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 90

4.2 Kết quả điều tra khảo sát 92

4.2.1 Thu thập thông tin 92

4.2.2 Xử lí thông tin 933

4.2.3 Phân tích kết quả điều tra thực tế 933

4.3 Một số giải pháp và đề xuất về việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản 1022

4.3.1 Về giải pháp 1022

4.3.2 Về đề xuất 1055

4.4 Một số kiến nghị và đề xuất về việc giáo dục di sản cho học sinh trung học phổ thông 1088

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 1122

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1133

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1177

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của vùng Trung du và miền núi

phía Bắc 57

Bảng 4.1 Tổng hợp điểm kiểm tra của học sinh các lớp thực nghiệm 87

Bảng 4.2 Tổng hợp điểm kiểm tra của học sinh các lớp đối chứng 87

Bảng 4.3 Đánh giá xếp loại học lực của các lớp thực nghiệm theo từng trường 88

Bảng 4.4 Đánh giá xếp loại học lực của các lớp đối chứng theo từng trường 88

Bảng 4.5 Đánh giá xếp loại học lực của HS cả 2 trường 89

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Biểu đồ xếp loại của các lớp thực nghiệm theo từng trường 89 Hình 4.2 Biểu đồ xếp loại của các lớp đối chứng theo từng trường 89 Hình 4.3 Biểu đồ xếp loại học lực của học sinh ở cả 2 trường theo lớp thực

nghiệm và lớp đối chứng 90 Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu biết của học sinh khối 10 về di sản văn

hóa ở địa phương 94 Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu biết của học sinh khối 11 về di sản văn

hóa ở địa phương 95 Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu biết của học sinh khối 12 về di sản văn

hóa ở địa phương 95 Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ học sinh được học về di sản 97 Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện sự đánh giá của học sinh mức độ quan trọng của

việc giáo dục di sản văn hóa tại địa phương 98

Trang 11

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung

- Tên đề tài: Giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho

học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực khoa học

xã hội và nhân văn

- Mã số: B 2015 - TN 03 - 06

- Tổ chức chủ trì: Đại học Thái Nguyên

- Thời gian thực hiện: Từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 1 năm 2017

2 Mục tiêu

2.1 Mục tiêu chung

Đề xuất và xây dựng được các chủ đề tự chọn tích hợp giáo dục giá trị của các

di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cho học sinh THPT

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xây dựng các chủ đề tích hợp giáo dục giá trị của các di sản cho học sinh THPT

- Dựa trên cơ sở khảo sát, điều tra và phân tích các giá trị của di sản văn hoá

và di sản tự nhiên vùng Đông Bắc; thực trạng giáo dục di sản ở một số trường THPT vùng Đông Bắc, đề tài đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản; đề xuất các biện pháp giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực khoa học

xã hội và nhân văn

- Thiết kế được một số chủ đề tích hợp giáo dục di sản vùng Đông Bắc và một

số giáo án lịch sử và Địa lí tích hợp giáo dục di sản

- Đề xuất được một số giải pháp về việc giáo dục di sản, bảo tồn - phát huy giá trị di sản và kiến nghị về việc giáo dục di sản trong nhà trường phổ thông

Trang 12

4 Kết quả nghiên cứu

Đề tài đã hoàn thành được mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, với 4 kết quả nghiên cứu chính:

Thứ nhất, Khi nghiên cứu về di sản và giáo dục di sản trong trường phổ thông,

trước hết cần nhận dạng được di sản với 3 nhóm: di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và

di sản hỗn hợp Mỗi di sản được phân loại đều có tiêu chí rõ ràng, những di sản được UNESCO công nhận phải có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học, bảo toàn hoặc vẻ đẹp tự nhiên, quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học

Di sản là tài nguyên tri thức phong phú và vô tận để học tập suốt đời Hiện nay, di sản không chỉ được coi là tài sản có giá trị giáo dục truyền thống, giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ, mà còn là một nguồn lực to lớn góp phần phát triển KT - XH của đất nước

Trong tất cả các bậc học, việc giáo dục di sản trong nhà trường đã tác động lớn đến học sinh, trong đó, đặc biệt là về tư tưởng, tình cảm Thông qua đó học sinh sẽ nhận thức giá trị của những di sản văn hóa xung quanh, từ đó có thái độ hành vi đúng đắn có ý thức gìn giữ, bảo tồn và phát huy những di sản của địa phương Tuy nhiên, việc đưa di sản vào trong trường học cần được các trường xây dựng linh hoạt, phù hợp với phù hợp điều kiện vùng miền, văn hóa dân tộc và phải phù hợp với mọi điều kiện của nhà trường ở các khu vực: nông thôn/ thành thị/ miền núi/ ven biển/ hải đảo và mọi đối tượng học sinh

Thứ hai, Vùng Đông Bắc việt Nam có sự đa dạng về thành phần dân tộc, mỗi

dân tộc lại có bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán riêng kết hợp với yếu

tố lịch sử địa phương đã tạo nên sự đa dạng và phong phú về các di sản văn hóa vật thể

và phi vật thể Di sản văn hóa được xem là báu vật thiêng liêng mà mỗi thế hệ phải có trách nhiệm phát huy và bảo tồn cho các thế hệ tiếp theo Việc biên tập và đánh giá các giá trị của di sản vùng Đông Bắc sẽ là tư liệu quan trọng để xây dựng và thiết kế các chủ đề giáo dục di sản cho học sinh

Thứ ba, Trong quá trình dạy học các môn khoa học xã hội, việc lồng ghép nội

dung giáo dục di sản vào trong mỗi bài học, hoặc tổ chức các buổi ngoại khoá sẽ giúp học sinh tiếp cận với di sản nhiều hơn, phát triển kĩ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức và kích thích hứng thú học tập cho học sinh, để từ đó biết giữ gìn và tôn trọng bản sắc văn hoá dân tộc Những bài học mà các em tự thu nhận được từ trải nghiệm thực tế chắc chắn sẽ đọng lâu trong các em Qua việc giáo dục di sản cho học sinh, các em được cung cấp một nền tảng kiến thức vững chắc về di sản, từ đó xây dựng ý thức bảo

vệ di sản và lan tỏa ý thức đó tới cả cộng đồng Có thể nói, di sản làm cho mỗi vùng miền có bản sắc riêng, trong xu thế hội nhập và phát triển, giáo dục di sản sẽ dạy cho học sinh cách thức bảo tồn di sản vì tương lai của chính mình và khắc sâu ý thức về bản sắc văn hóa của dân tộc, của đất nước

Trang 13

Thứ tư, Phân tích kết quả thực nghiệm cho thấy: Đối với lớp thực nghiệm, khi

tiến hành lồng ghép các vấn đề về di sản văn hóa, các em tỏ ra thích thú, tham gia rất tích cực Các em có những hiểu biết cơ bản về các di sản văn hóa của Việt Nam Đối với học sinh lớp đối chứng hầu hết các em rất lúng túng khi trả lời câu hỏi trắc nghiệm, tỏ ra khó khăn khi lựa chọn phương án, những hiểu biết về di sản văn hóa và các vấn đề xung quanh còn chưa sâu, không chắc chắn và nhiều kiến thức còn mơ hồ

Chất lượng bài kiểm tra nhận thức của HS ở các lớp thực nghiệm cao hơn các lớp đối chứng Kết quả thực nghiệm đã bước đầu đã khẳng định được tính hiệu quả của các phương pháp giáo dục được nêu ra trong nghiên cứu Qua thực nghiệm về việc

sử dụng di sản trong dạy học cho thấy những tín hiệu tích cực, cần được triển khai và

mở rộng hơn nữa ở các trường THPT trên cả nước

Trong các chương trình phổ thông ở các tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc nói riêng

và cả nước nói chung, việc giáo viên khai thác được những giá trị ẩn chứa trong các di sản và chuyển giao cho học sinh, giúp các em nhận thức được những giá trị của di sản

là rất cần thiết Thông qua đó học sinh sẽ nhận thức giá trị của những di sản văn hóa xung quanh, từ đó có thái độ hành vi đúng đắn có ý thức gìn giữ, bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa của địa phương

5 Sản phẩm

5.1 Sản phẩm khoa học

* Sách:

Dương Quỳnh Phương, Phí Hùng Cường (2018), Giáo dục giá trị của các di

sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông, Nhà xuất bản Lí

luận chính trị (Đã có giấy phép xuất bản)

(2) Dương Quỳnh Phương, Lê Thanh Huệ (2016), “Di sản thiên nhiên - thế

mạnh phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh”, Tạp chí khoa học và công nghệ, Trường

Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Số 2 (80)/ 2016, Tr 109 - 118

(3) Dương Quỳnh Phương, Lê Thanh Huệ (2016), “Phân tích SWOT trong khai

thác giá trị di sản phục vụ phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh”, Khoa học và công

nghệ Đại học Thái Nguyên, Tập 157, số 12/2, 2016, Tr 57 - 61

(4) Dương Quỳnh Phương (2016), “Di sản văn hóa của vùng Đông Bắc: nhận thức, đánh giá và những đề xuất trong việc giáo dục giá trị di sản cho học sinh

THPT”, Kỉ yếu hội nghị Địa lí toàn quốc lần thứ 9, Nxb Khoa học tự nhiên và Công

nghệ , tập 1, Tr 955 - 962

Trang 14

(5) Dương Quỳnh Phương, Nguyễn Thị Hoa, Dương Thị Thanh Vân (2016), “Tài

nguyên rừng và sinh kế của các dân tộc tỉnh Yên Bái”, Kỉ yếu hội nghị Địa lí toàn

quốc lần thứ 9, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, tập 1, Tr 211 - 219

(6) Dương Quỳnh Phương, Trần Viết Khanh, Đồng Duy Khánh (2017), “Những nhân tố chi phối đến văn hóa tộc người và văn hóa cộng đồng dân tộc dưới góc nhìn địa lí

học”, Khoa học và công nghệ Đại học Thái Nguyên, Tập 167(07), 2017, Tr 169 - 164

(7) Dương Quỳnh Phương (2018), “Trải nghiệm tại nơi có di sản: cách tiếp cận hiệu quả trong giáo dục di sản cho học sinh”, Kỉ yếu hội nghị Địa lí toàn quốc lần thứ 10,

Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Quyển 1, Tr 825 - 830

5.2 Sản phẩm đào tạo

* Đào tạo Thạc sỹ:

(1) Tăng Thanh Bình (2015) Đặc điểm dân số và dân tộc huyện võ Nhai tỉnh Thái

Nguyên Luận văn thạc sĩ Địa lí học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

(2) Dương Thị Thanh Vân (2015), Kiến thức bản địa của dân tộc Dao trong

sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Yên Bái Luận văn thạc sĩ Địa lí học, Trường Đại học Sư

phạm - Đại học Thái Nguyên

(3) Lê Thanh Huệ (2015), Khai thác giá trị di dản phục vụ phát triển du lịch

của tỉnh Quảng Ninh Luận văn thạc sĩ Địa lí học, Trường Đại học Sư phạm - Đại

học Thái Nguyên

(4) Đặng Thị Bích Thủy (2016), Kiến thức bản địa của dân tộc Dao trong sản

xuất nông nghiệp ở huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang Luận văn thạc sĩ Địa lí học,

Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

(5) Nguyễn Thị Huyền (2015), Giáo dục di sản ở các trường THPT tỉnh Thái

Nguyên Luận văn thạc sĩ Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Địa lí, Trường Đại

học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

(6) Trần Viết Tùng (2015), Giáo dục di sản ở các trường THPT tỉnh Hà

Giang Luận văn thạc sĩ Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Địa lí, Trường Đại

học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

(7) Nguyễn Thị Ngọc (2018), Giáo dục giá trị di sản trong dạy học Địa lí lớp

9– Trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh. Luận văn thạc sĩ Lí luận và Phương pháp dạy học

bộ môn Địa lí, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

* Đề tài Nghiên cứu khoa học Sinh viên:

(1) Ngô Thanh Thủy, Phan Thị Hà, Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2015), Nghiên

cứu thực trạng các di sản văn hoá vùng Đông Bắc phục vụ phát triển du lịch, Đề tài

Nghiên cứu khoa học Sinh viên, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

(2) Hoàng Thị Diệu Nga (2015), Nghiên cứu thực trạng các di sản tự nhiên

vùng Đông Bắc phục vụ phát triển du lịch, Đề tài Nghiên cứu khoa học Sinh viên,

Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

Trang 15

(3) Trần Thị Phương, Nguyễn Thị Hường (2016), Thực trạng, giải pháp bảo

tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vùng Đông Bắc Việt Nam, Đề tài Nghiên

cứu khoa học Sinh viên, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

5.3 Sản phẩm ứng dụng

* Bộ bản đồ:

- 01 bản đồ hành chính khu vực Đông Bắc

- 01 bản đồ phân bố các di sản tự nhiên khu vực Đông Bắc

- 01 bản đồ phân bố các di sản văn hóa khu vực Đông Bắc

- 11 bản đồ phân bố các di sản tự nhiên và di sản văn hóa của 11 tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc

* Giáo án và các chủ đề dạy học giáo dục di sản

6 Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu

6.1 Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tư liệu phong phú cho giáo viên các trường THPT khu vực tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu: Đông Bắc

về Giáo dục di sản

- Kết quả nghiên cứu của đề tài phục vụ công tác nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị các di sản của các tỉnh nói riêng và khu vực Đông Bắc nói chung

- Kết quả nghiên cứu được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và một số trường Đại học khác

- Địa chỉ ứng dụng:

+ Các trường THPT khu vực Đông Bắc

+ Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

+ Viện nghiên cứu Kinh tế - xã hội và nhân văn miền núi

6.2 Tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu

a) Tác động đến xã hội và tác động đối với ngành, lĩnh vực khoa học

Đề tài có những đóng góp thiết thực về mặt lý luận Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú và sâu sắc hơn những vấn đề lý luận như: Nhận diện các

di sản; Giáo dục di sản; Lồng ghép, tích hợp kiến thức theo các chuyên đề

Về thực tiễn, đề tài có những đóng góp quan trọng về lĩnh vực văn hoá, kinh tế -

xã hội của đất nước Đó là nghiên cứu được thực trạng các di sản và đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị di sản

Trang 16

Đề tài có những đóng góp quan trọng về lĩnh vực giáo dục, cụ thể là đối với giáo dục ở bậc THPT theo hướng tiếp cận và đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa sau năm 2015, nhằm phát huy năng lực của học sinh

b) Nâng cao năng lực nghiên cứu của tổ chức, cá nhân thông qua tham gia thực hiện đề tài, đào tạo trên đại học

Góp phần nâng cao trình độ nghiên cứu lý luận, thực tiễn cho đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên của các trường Đại học và các Viện nghiên cứu (Viện nghiên cứu kinh tế - xã hội và nhân văn Miền núi; Viện Địa lí)

Góp phần đào tạo sinh viên tại trường ĐH Sư phạm và các đơn vị cộng tác nghiên cứu, phối hợp thực hiện đề tài, bồi dưỡng năng lực và kỹ năng cho đội ngũ giáo viên các trường THPT ở khu vực Đông Bắc

Hướng dẫn ít nhất 5 sinh viên NCKH; 3 luận văn thạc sĩ

Kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn được sử dụng vào công tác thông tin tư liệu, làm tài liệu tham khảo và giảng dạy cho các trường THPT và các bộ môn Lịch sử, Địa lí, Ngữ Văn, Giáo dục học cho sinh viên các trường Sư phạm

Ngày 30 tháng 06 năm 2018

TỔ CHỨC CHỦ TRÌ CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

PGS.TS DƯƠNG QUỲNH PHƯƠNG

Trang 17

MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING

THAI NGUYEN UNIVERSITY

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1 General information:

NORTHERN REGION OF VIETNAM FOR HIGH SCHOOL STUDENTS THROUGH TEACHING TOPICS IN SOCIAL SCIENCE AND HUMANITIES

- Code number: B 2015 - TN 03 - 06

- Implementing institution: Thai Nguyen University

of social sciences and humanities

3 Creativeness and innovativeness:

General overview of the issues of heritage, heritage education; to systematize knowledge about heritage and heritage education in general schools

- Assessment of the values of the natural and cultural heritage of the Northeast Vietnam; this is important documentation in the design of heritage education topics for students

- Designing a number of subjects integrating Northeastern heritage education and a number of historical and geographical syllabuses integrating heritage education

Trang 18

- Proposing some solutions to heritage education, conservation - promotion

of heritage values and recommendations on heritage education in general schools

4 Research results:

The research has accomplished its proposed objectives and mission, with four main results:

First, when researching heritage and heritage education in general schools,

it is necessary first to identify the heritage with three groups: natural heritage, cultural heritage and mixed heritage Each legacy is classified with clear criteria, the heritage is recognized by UNESCO must have a global outstanding value from

a scientific point of view, conservation or natural beauty, historical perspective, art and science

Heritage is a rich and endless resource for lifelong learning At present, heritage

is not only considered as a valuable asset of traditional education, personality education for the young generation, but also a great resource contributing to the socio-economic development of the country

For all grades, heritage education in the schools has had a great impact on students, especially on their thought and sentiment Through this, students will appreciate the value of the surrounding cultural heritage, from that point, they will have the right attitude and behavior, the sense of preserving, conserving and promoting the heritage of the locality The introduction of inheritance into schools, however, should be flexibly built in each school, it should be appropriate to local and ethnic conditions, and must be suitable for all school’s conditions in the areas of rural/ urban/ mountain/ coastal/ island and all students

Second, Northeastern Vietnam has a diversity of ethnic groups, each ethnic

group has its own culture, traditions, and customs character associated with the local historical factors have created the rich and the diversity of tangible and intangible cultural heritages Cultural heritage is considered a sacred treasure that each generation must have the responsibility for preserving and promoting for the next generations Editing and evaluating the values of the Northeast heritage will be important material for building and designing heritage education topics for students

Third, in the process of teaching social science subjects, the integration of

the heritage education content into each unit, or the organization of extra-curricular activities will help students access more of the heritage, develop learning skills, self-dominate knowledge and stimulate learning excitement for students, so as to preserve and respect the identity of the national culture The lessons students learn from their own experiences will certainly stay long in them Through heritage

Trang 19

education for students, they are provided with a solid foundation of heritage knowledge that builds a sense of protection of heritage for them and spread that awareness to the community It can be said that heritage makes each region has its own identity In the trend of integration and development, heritage education will teach students how to preserve the heritage for their own future and deepen the sense of cultural identity of the nation and the country

Fourth, the empirical analysis shows that: For the experimental class, when

they are involved in the integration of cultural heritage issues, they are very interested in participating They have a basic understanding of the cultural heritage

of Vietnam For the students in the control group, most of them are very confused in answering the multiple choice questions, and feel difficult to choose the plan Their understanding of the cultural heritage and the surrounding issues are still not very deep, still uncertainty and still have a lot of ambiguous knowledge

The quality of students’ cognitive performance test in the experimental classes was higher than that of the control classes Experimental results have initially confirmed the effectiveness of the educational methods outlined in the study Through experiments on the use of heritage issue in teaching, the positive signals shown and need to be developed and further expanded in high schools across the country

In the general education programs in Northeastern provinces in particular and the whole country in general, the teacher exploits the values inherent in the heritage and transfer them to the students, helping them to realize the values of heritage is very necessary Through that students will appreciate the value of the surrounding cultural heritage, and from that point, they will have a proper behavioral attitude to conserve, preserve and promote the cultural heritage of the locality

5.Products:

5.1 Scientific products

* Book:

Quynh Phuong Duong, Hung Cuong Phi (2018), Education of heritage

values in the Northeastern of Vietnam for high-school students, Publisher of

Political Theory

* Articles:

(1) Quynh Phuong Duong, Uyen Dam (2015), “Traditional culture of ethnic groups in the trend of development and integration (acknowledgement and

evaluation from reality in Cao Bang province)”, Journal of Science and Technology,

Thai Nguyen University, Vol 143, No 13/1, 2015, pp 9 - 14

Trang 20

(2) Quynh Phuong Duong, Thanh Hue Le (2016), “Natural heritage - the strength

of tourism development of Quang Ninh province”, Journal of Science and Technology,

Ho Chi Minh City University of Pedagogy, Vol 2 No (80)/ 2016; pp 109 - 118

(3) Quynh Phuong Duong, Thanh Hue Le (2016), “SWOT analysis on the

exploitation of heritage values for tourism development in Quang Ninh province”, Journal

of Science and Technology, Thai Nguyen University, Vol 167 No (07); pp 57 - 61

(4) Quynh Phuong Duong (2016), “Cultural Heritage of the Northeast: Awareness, Assessment and Proposals in the Education of Heritage Value for High School Students”,

Summary record of the 9th National Geographic Conference, pp 955 - 962

(5) Quynh Phuong Duong, Thi Hoa Nguyen, Thanh Van Duong (2016),

“Forest resources and livelihood of ethnic groups in Yen Bai Province”, Summary

record of the 9th National Geographic Conference, pp 211 - 219

(6) Quynh Phuong Duong, Viet Khanh Tran, Duy Khanh Dong (2017), “Factors Influencing Ethnic Culture and culture of ethnic communities from the perspective of

geography”, Journal of Science and Technology, Thai Nguyen University, Vol 167

(1) Binh Tang (2015), Characteristics of population and ethnic minority in

Vo Nhai, Thai Nguyen province, Master thesis on Geography, Thai Nguyen

University of Education

(2) Thanh Van Duong (2015) Indigenous knowledge of the Dao ethnic

group in agricultural production in Yen Bai province, Master thesis on Geography,

Thai Nguyen University of Education

(3) Thanh Hue Le (2015), Exploitation of heritage value for tourism

development of Quang Ninh province, Master thesis on Geography, Thai Nguyen

University of Education

(4) Bich Thuy Dang (2016), Indigenous knowledge of the Dao ethnic group

in agricultural production in Meo Vac district, Ha Giang province, Master thesis on

Geography, Thai Nguyen University of Education

(5) Huyen Nguyen (2015), Heritage education in high schools in Thai

Nguyen province, Master thesis on theory and methodology of teaching Geography,

Thai Nguyen University of Education

Trang 21

(6) Viet Tung Tran (2015), Heritage education in high schools in Ha Giang

province, Master thesis on theory and methodology of teaching Geography, Thai

Nguyen University of Education

(7) Ngoc Nguyen (2018), Heritage education in secondary school –

Geography class 9 in Bac Ninh province, Master thesis on theory and methodology

of teaching Geography, Thai Nguyen University of Education

* Student’s scientific research topics:

(1) Thanh Thuy, Ngo Ha Phan, Quynh Anh Nguyen (2015), Research on the

status of cultural heritage in the Northeast for tourism development, Student

research project,Thai Nguyen University of Education

(2) Dieu Nga Hoang (2015), Research on the status of natural heritage in

the Northeast for tourism development Student research project,Thai Nguyen

University of Education

(3) Phuong Tran, Huong Nguyen (2016), Current status and solutions to

preserve and promote cultural heritage values of North East of Vietnam, Student

research project,Thai Nguyen University of Education

5.3 Application products

* Map:

- 01 administrative map of the Northeast

- 01 distribution map of natural heritage in the Northeast

- 01 distribution map of cultural heritage in the Northeast

- 11 maps of the distribution of natural and cultural heritage of 11 provinces

in the Northeast

* Lesson plans and topics for teaching heritage education

6 Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of research results

6.1 Transfer alternatives, application institutions

The research results of the project are a rich source of documentation for teachers of high schools; the region of influence and the benefits of research results: Northeast on heritage education

- The research results of the project are to serve researches and to propose solutions to preserve and promote the heritage values of the provinces in particular and the Northeast region in general

- The research results are used as reference materials for teaching and scientific research in Thai Nguyen University of Education and some other universities

- Application institutions:

Trang 22

+ Northeast high schools

+ College of Education - Thai Nguyen University

+ Mountainous Research Institute for Socio-Economic and Humanities

6.2 Impacts and benefits of the research results:

a) Impact on society and its impact on the scientific sector

The project have practical contributions in theory The research results of the project have contributed to enriching and deepening the theoretical issues such as identification of heritage; Heritage education; Integrate knowledge into special topics

Practically, the project has important contributions to the field of culture, socio-economic of the country That is a study of the real state of the heritages and

it suggests some solutions to preserve and promote heritage values

The topic has important contributions to the field of education, namely to school level education in the direction of approaching and renewing the content and textbook program after 2015 in order to develop the capacity of the school students

high-b) Enhancing the research capacity of organizations and individuals through participation in the implementation of the project, post-graduate training

Contributing to the improvement of theoretical and practical research qualification for lecturers and researchers from universities and research institutes (Institute of Economic, Social and Humanitarian Studies in Mountainous Areas, Institute of Geography)

Contributing to the training of students at the Pedagogical College and the collaborating units in researching and coordinating the implementation of the project, fostering the capacity and skills for teachers of high schools in the Northeast

Guide at least 5 research students; 3 master theses

The results of theoretical and practical research are used in the information and documentation work as reference and teaching materials for high schools and departments of History, Geography, Linguistics and Education for students in Teachers’ Colleges

Trang 23

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

(1) Thực hiện đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải chuyển từ quá trình chủ yếu truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực, tăng cường tích hợp nhiều nội dung trong một môn học và phân hóa mạnh

ở bậc cuối phổ thông Do vậy nội dung của sách giáo khoa sẽ được trình bày theo các chủ đề liên môn, thay vì giảng dạy các tiết học của từng môn như trước đây

(2) Tích hợp là một trong những quan điểm đã trở thành xu thế phát triển chương trình giáo dục phổ thông ở nhiều nước trên thế giới Thực tiễn đã chứng tỏ, việc thực hiện quan điểm tích hợp sẽ làm tăng tính hiệu quả của hoạt động giáo dục Thực hiện chủ trương đổi mới đồng bộ hình thức dạy học, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục; để tăng cường việc gắn liền dạy học trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống và góp phần hình thành năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trung học, các sở giáo dục và các trường THPT ở nhiều địa phương đã

tổ chức cuộc thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học và cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trung học, trong đó có tích hợp giáo dục di sản

(3) Việc sử dụng di sản trong dạy học và các hoạt động giáo dục gắn liền mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh về đức, trí, thể, mỹ; Đồng thời gắn liền với việc đổi mới phương pháp dạy học, đa dạng hóa các hình thức dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc sưu tầm, tìm hiểu, sử dụng

di sản trong giờ học và các hoạt động giáo dục Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, có khá nhiều học sinh phổ thông còn mù mờ không am hiểu về lịch sử và văn hóa dân tộc, không hiểu biết về các di sản của đất nước, điều này trở thành nỗi trăn trở của những người làm công tác giáo dục

(4) Mục đích của nền giáo dục của chúng ta luôn hướng tới việc phát triển toàn diện cho học sinh, vì vậy những hiểu biết về di sản của đất nước sẽ làm dày thêm vồn kiến thức của các em và đặc biệt giúp học sinh phát triển về trí tuệ Qua thời gian triển khai việc giáo dục giá trị của các di sản ở một số trường THPT cho

Trang 24

thấy, việc sử dụng di sản trong dạy học tác động lớn đến tư tưởng tình cảm của học sinh Khi được tìm hiểu, tiếp cận và trải nghiệm thực tế, các em sẽ được nâng cao hiểu biết với những di tích đồng thời có thái độ và hành vi đúng đắn có ý thức gìn giữ, bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa của quê hương Việc sử dụng di sản trong dạy học góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức, kích thích hứng thú, giúp học sinh phát triển kỹ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức

(5) Đông Bắc là vùng địa đầu của Tổ quốc, đặc điểm địa hình nổi bật của vùng là sự chia cắt mạnh mẽ bởi sự đan xen giữa những dãy núi chạy theo hướng tây bắc - đông nam và hướng vòng cung với các thung lũng, sông suối Khu vực Đông Bắc - là nơi căn cứ địa vững chắc của nhiều thời kỳ cách mạng với những chiến công hào hùng Mỗi tên đất, tên bản làng đã đi vào lịch sử và mãi mãi là niềm

tự hào của dân tộc Việt Nam Đông Bắc còn là nơi hội tụ và kết tinh nhiều giá trị văn hóa lịch sử bất diệt từ quá khứ đến hiện đại Đây là vùng có số lượng các dân tộc nhiều nhất nước ta Sự đa dạng về dân tộc đồng nghĩa với sự đa dạng về các di sản văn hóa dân tộc Sự đa dạng về địa hình, các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đồng nghĩa với sự đa dạng về các di sản tự nhiên

(6) Di sản văn hóa và di sản tự nhiên chính là một trong những phương tiện dạy học đa dạng sống động nhất Việc giáo dục giá trị của các di sản của vùng Đông Bắc thông qua việc dạy và học theo chủ đề môn khoa học xã hội và nhân văn ở

trường THPT là rất cần thiết Thứ nhất, đạt được mục tiêu đổi mới sách giáo khoa của Bộ Giáo dục; thứ hai, thông qua việc tiếp cận với di sản, học sinh còn được rèn

một số kỹ năng học tập như kỹ năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin; kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để giải thích những hiện tượng, sự vật có trong các di sản văn hóa và di sản thiên nhiên Hình thành thái độ đúng đắn cho học sinh và học sinh sẽ sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, với đất nước

Từ những lí do trên, việc lựa chọn hướng nghiên cứu: “Giáo dục giá trị của

các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn” sẽ rất

thiết thực và quan trọng đối với mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục của Việt Nam

Trang 25

2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

* Mục tiêu chung

Đề xuất và xây dựng được các chủ đề tự chọn tích hợp giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn cho học sinh THPT

* Mục tiêu cụ thể

- Xây dựng các chủ đề tích hợp giáo dục giá trị của các di sản cho học sinh THPT

- Dựa trên cơ sở khảo sát, điều tra và phân tích các giá trị của di sản văn hoá

và di sản tự nhiên vùng Đông Bắc; thực trạng giáo dục di sản ở một số trường THPT vùng Đông Bắc, đề tài đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản; đề xuất các biện pháp giáo dục giá trị của các di sản ở khu vực Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Về nội dung tập trung nghiên cứu giá trị cuả các di sản văn hóa ở khu vực

Đông Bắc Việt Nam cho học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học các chủ

đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

- Không gian nghiên cứu của đề tài là các tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc (Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ) Trong đó chọn nghiên cứu trường hợp (chọn điểm nghiên cứu) tại một số tỉnh (Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Giang, Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Kạn)

- Các trường thực nghiệm: một số trường THPT thuộc tỉnh Thái Nguyên,

Hà Giang

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp thu thập tổng hợp và phân tích tư liệu:

Việc nghiên cứu các đối tượng được thực hiện dựa trên rất nhiều nguồn tài liệu, số liệu, do vậy phương pháp thu thập tổng hợp phân tích tư liệu là rất quan trọng

và cần thiết Phương pháp này sử dụng kết quả của việc thu thập tài liệu, quan sát thực tế, xử lý thông tin qua hệ thống phân tích - tổng hợp, kết hợp giữa nội suy và

Trang 26

ngoại suy Đề tài chủ yếu sử dụng tài liệu thứ cấp là các báo cáo khoa học và tài liệu hội thảo, các báo cáo về các di sản của khu vực Đông Bắc; các tài liệu về vấn đề văn hoá dân tộc, số liệu thống kê của các ban ngành và cơ quan; sách, báo, tạp chí, các tác phẩm đã xuất bản có liên quan đến nội dung của đề tài

Trong việc xử lý tài liệu, cần phải thực hiện nhất quán 2 nguyên tắc cơ bản là: Thống nhất về nguồn tài liệu; Các số liệu thu thập được quy nạp về cùng thời gian nhất định Số liệu sau khi thu thập được sẽ tiến hành lập bảng số liệu phục vụ

yêu cầu của đề tài

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, phải tiến hành xử lí, phân tích, so sánh, đối chiếu để có được những tài liệu đáng tin cậy nhất, đảm bảo tính thống nhất đồng bộ và cập nhật Từ đó có thể rút ra những kết luận khoa học cho đề tài

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

Việc tiến hành điều tra khảo sát thực địa là yêu cầu cần thiết Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm góp phần làm cho kết quả mang tính xác thực, khắc phục hiệu quả những hạn chế của phương pháp thu thập, xử lí số liệu trong phòng Các hoạt động chính khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, điều tra, ghi chép, chụp ảnh, phỏng vấn,… tại các điểm nghiên cứu; gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan quản lí các di sản, các sở giáo dục, các trường của từng địa phương…

Ngoài ra, Phương pháp này giúp các tác giả điều tra về việc sử dụng các di sản trong dạy và học, các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện và triển khai dạy học theo chủ đề ở các trường THPT, các điều kiện tâm, sinh lí của học sinh cũng như khả năng lồng ghép, tích hợp kiến thức của giáo viên trong giảng dạy

- Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập, xử lí những đánh giá, dự báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến các chuyên gia giỏi thuộc lĩnh vực giáo dục và lĩnh vực nghiên cứu các di sản, lĩnh vực văn hoá, thông qua tiếp xúc, trao đổi… để tìm ra các giải pháp tối ưu cho vấn đề còn đang vướng mắc

Sử dụng phương pháp này giúp ta đưa ra được các kết luận, các kiến nghị, các quyết định và định hướng được các chuyên đề giáo dụ di sản phù hợp với đối tượng học sinh các trường THPT khu vực Đông Bắc

Trang 27

- Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin Địa lý (GIS)

Sử dụng phần mềm MAPINFO để khai thác các cơ sở dữ liệu không gian hiện có và thành lập các bản đồ và cở sở dữ liệu không gian về phân bố các di sản

tự nhiên và di sản văn hoá của từng tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc

- Phương pháp thực nghiệm Sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là phương pháp đặc biệt trong nghiên cứu khoa học giáo dục Kết quả thực nghiệm sẽ phản ánh được tính khả thi của vấn đề nghiên cứu

áp dụng vào thực tiễn, làm nảy sinh những vấn đề mới cần quan tâm Bằng thực nghiệm và thông quan kết quả thực nghiệm để có thể tổ chức dạy học hoặc tổ chức các hoạt động liên quan đến việc giáo dục di sản cho học sinh; đó cũng là cơ sở để

đề xuất một số giải pháp và kiến nghị

5 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu, kết luận đề tài có nội dung chính được chia làm 4 chương:

- CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DI SẢN, GIÁO DỤC DI SẢN

- CHƯƠNG 2: DI SẢN TỰ NHIÊN VÀ DI SẢN VĂN HOÁ CỦA KHU VỰC ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

- CHƯƠNG 3: CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC DI SẢN VÙNG ĐÔNG BẮC THUỘC LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT KHU VỰC ĐÔNG BẮC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ VIỆC GIÁO DỤC DI SẢN, BẢO TỒN - PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN

Trang 28

NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DI SẢN, GIÁO DỤC DI SẢN

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DI SẢN VÀ GIÁO DỤC DI SẢN

Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông nhằm hình thành và nâng cao ý thức tôn trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị của di sản; rèn luyện tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong đổi mới phương pháp học tập và rèn luyện; góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, tài năng của học sinh Vì thế, các khía cạnh liên quan đến di sản và vấn đề giáo dục di sản đã

và đang được nhiều tổ chức cũng như các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về di sản

Di sản và các vấn đề liên quan đến giáo dục di sản từ lâu đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là trong lĩnh vực di sản với

nhiều công trình nghiên khác nhau như: Cuốn “Heritage of Thai culture (1993): Di

sản văn hóa Thái” của Ed Songsri Prapatthong đã giới thiệu một số hiện vật thuộc

di sản văn hoá Thái Lan được trưng bày tại bảo tàng quốc gia nhân dịp kỷ niệm ngày sinh hoàng đế Rama VII; Các hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo, vũ khí cổ, các

đồng tiền cổ, đồ dệt may, nhạc cụ, Công trình nghiên cứu “The cultural heritage

in Sweden: Preserving the past for posterity (1998): Di sản văn hóa ở Thụy Điển: Bảo tồn quá khứ cho con cháu” của Ed.: Ulla von Schultz; transl.: Hugh Rodwell,

Jennifer Sundberg, Michael Kinight đã giới thiệu những di sản văn hoá và quá trình gìn giữ những di sản văn hoá trong lịch sử Thụy Điển Bên cạnh đó, tài liệu cũng đề cập tới việc tìm hiểu quản lí di sản văn hoá Thụy Điển trong quá khứ và tương lai

Công trình “World cultural and natural heritage sites: Di sản văn hóa và thiên

nhiên thế giới” (2002) của Luo Zhewen đã giới thiệu các danh thắng ở Trung Quốc

đã được công nhận là những di sản văn hoá Thế giới và di sản thiên nhiên Thế giới như: Vạn lý trường thành, cung điện hoàng gia Bắc Kinh-di sản văn hoá 1987,

Với nền văn hóa phong phú và độc đáo của Hàn Quốc cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học với một số công trình nghiên cứu nổi tiếng như:

“Exploring Korean history through world heritage (2006): Khám phá lịch sử Hàn

Trang 29

Quốc thông qua di sản thế giới” của The centre for information on Korean culture

(Trung tâm thông tin về văn hóa Hàn Quốc) đã giới thiệu lịch sử và văn hoá truyền thống Hàn Quốc qua các di sản thế giới tại Hàn Quốc đã được UNESCO công nhận như: Đền Bulguksa, hang Seokgugram, đền Haeinsa, miếu thờ Jongmgo, cung Changdeokgang, … cùng với các di sản phi vật thể và những di sản tài liệu thế giới

khác Yun-Deak Jang, Byeong-Jun Park, Sang-II Hwang,… với cuốn “Natural

heritage of Korea, Dokdo (2009): Di sản thiên nhiên của Hàn Quốc, Dokdo” đã

đưa đến cho độc giả những thông tin hữu ích giới thiệu về di sản thiên nhiên Dokdo (đảo Liancourt) của Hàn Quốc với những đặc điểm nổi bật về địa chất học, địa hình, thời tiết và khí hậu của Dokdo; môi trường đất, thực vật, các loài chim, côn trùng và

động vật biển không xương sống trên đảo Dokdo, …

“The 3rd regional training workshop on the preservation of and access to documentary heritage in Asia and the Pacific: Memory of the world (2006): Hội thảo tập huấn khu vực thứ 3 về bảo quản và tiếp cận với di sản tư liệu ở châu Á và Thái Bình Dương: Bộ nhớ của thế giới” đã đưa ra các báo cáo của hội thảo đào tạo

khu vực lần thứ ba về bảo tồn và tiếp cận tài liệu di sản ở châu Á và Thái Bình Dương Từ đó, nêu nên sự cần thiết của xử lý bảo quản đối với tài liệu di sản nhằm cung cấp sự hiểu biết về các biện pháp chuẩn bị rủi ro, cách xử lý và các kỹ năng về bảo quản tài liệu di sản

Về lĩnh vực di sản đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó

phải kể đến một số công trình nổi tiếng như: “Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn

hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội” (2010) của Võ Quang Trọng (chủ biên) đã làm

rõ cơ sở lý luận, thực tiễn kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội, giá trị của các di sản văn hóa vật thể này từ góc tiếp cận di sản văn hoá Những nguy cơ, thách thức của công cuộc bảo tồn di sản văn hoá trong bối cảnh đô thị hoá ở thủ đô; vai trò của chủ thể văn hoá trong công cuộc bảo tồn di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội Qua đó, đề xuất các giải pháp bảo tồn phát huy giá trị của các di sản văn hóa vật thể tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội

Cuốn “Quản lý di sản văn hoá: Giáo trình dùng cho sinh viên cao đẳng và đại học

ngành quản lý văn hoá” (2012) của Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên) đã trình bày

Trang 30

một số vấn đề liên quan đến lý luận di sản văn hoá; vai trò của di sản văn hoá trong phát triển xã hội Mặt khác, công trình đã giới thiệu một cách hệ thống về quản lý nhà nước về di sản văn hoá, các kỹ năng nghiệp vụ quản lý di sản văn hoá, kỹ năng khai thác các giá trị của di sản văn hoá dân tộc, Nguyễn Hữu Toàn với công trình

“Những điều cần biết về di sản văn hoá Việt Nam” (2012) cũng đã giới thiệu một

số khái niệm chung về di sản văn hoá và kho tàng di sản văn hoá Việt Nam Từ đó, trình bày một số vấn đề liên quan đến hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản

văn hoá “Quản lí di sản văn hóa với phát triển du lịch” của Lê Hồng Lý và nnk

(2010) cung cấp những kiến thức cơ bản về một số vấn đề liên quan đến văn hoá, di sản văn hoá, du lịch, du lịch văn hoá và những sản phẩm du lịch văn hoá Nội dung, nguyên tắc, quy trình tổ chức quản lý các di sản văn hoá nhằm phát triển du lịch Tác giả Lê Kim Anh, Phạm Văn Cường, Trần Quốc Vượng và nnk với công trình

“Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hoá, văn nghệ dân gian Nam Trung Bộ” (2005) đã

đưa đến cho độc giả những bài viết, bài phát biểu, các công trình nghiên cứu của các giả khác nhau về những di sản văn hoá văn nghệ dân gian Nam Trung Bộ

Ngoài ra còn nhiều bài báo khoa học cũng như các ấn phẩm khác về di sản:

Trần Văn Tuý (2006), Phát huy di sản văn hóa góp phần xây dựng tỉnh Bắc Ninh

giàu mạnh, văn minh, Tạp chí Di sản văn hóa số 3, Tr.9-12; Nguyễn Thị Chiến

(2004), Khai thác di sản văn hóa như là một tài nguyên du lịch, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 2, Tr.38-43; Nguyễn Hồng Hà (2004), Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa

trong bối cảnh toàn cầu hoá, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 6, Tr.14-18; Đặng Văn

Bài (2009), Phát huy giá trị di sản văn hóa trong quá trình hội nhập và phát triển, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 1 (32), Tr 85-92; Hoàng Lương (2004), Luật

tục với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá truyền thống một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc; Nguyễn Văn Bình (2004), Bảo tồn và quản lý di sản thế giới trong quy hoạch phát triển du lịch bền vững, Tạp chí Du lịch Việt Nam

số 6, Tr.5,35; Nguyễn Quốc Hùng (2013), Một số kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ và

phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên, Tạp chí Di sản văn hóa số 3, Tr 10 -

17; Nguyễn Văn Quynh (2004), Định hướng khai thác, phát huy giá trị di sản thiên

nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, Tạp chí Di sản văn hoá số 8, Tr 38-41;

Trang 31

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giáo dục và giáo dục giá trị của các di sản

Ngày nay, khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia, thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển

xã hội Các nước chậm tiến muốn phát triển nhanh phải hết sức quan tâm đến giáo dục

và đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển Trên thế giới có nhiều xu hướng nghiên cứu giáo dục, trong đó có các xu hướng nghiên cứu chính sau:

Nghiên cứu giáo dục so sánh: Giáo dục so sánh đã hình thành như một lĩnh vực nghiên cứu khoa học từ một thế kỷ qua với những tác phẩm rất có giá trị của nhà thơ nổi tiếng thời Nữ hoàng Victoria, đồng thời là một học giả Anh, Matthew Arnold (1861, 1882, 1888, 1892) Ông đã công bố các kết quả nghiên cứu về giáo dục ở Pháp, Thụy Sĩ, Hà Lan và Đức Vào khoảng năm 1854, Carl johan Fogh đã có một công trình nghiên cứu về các trường ở Đan Mạch dưới cách nhìn của người Mỹ và William Denison (1862) đã công bố một công trình nghiên cứu có tên là Về các Hệ thống Giáo dục Trong thế kỷ qua, đã có ba giai đoạn chính trong quá trình phát triển của lĩnh vực khoa học mới mẻ này Giai đoạn đầu: So sánh miêu tả các hệ thống giáo dục Giai đoạn hai: Sự hình thành phát triển giáo dục quốc tế Giai đoạn ba và là giai đoạn hiện nay: Toàn cầu hóa và vượt lên trên những vấn đề của nhà nước quốc gia

Nghiên cứu về chính sách giáo dục: một trong những chủ đề giáo dục được tập trung nghiên cứu trong những năm gần đây ở nhiều quốc gia, đó là lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách giáo dục Nghiên cứu về chính sách giáo dục được chú trọng các vấn đề sau đây: 1/ lý luận về chính sách; 2/ xây dựng chính sách; 3/ các thành tố trong phân tích chính sách giáo dục

Các nghiên cứu về phát triển chương trình giáo dục hiện đại: Các nghiên cứu

về phát triển chương trình giáo dục thể hiện xu thế đổi mới giáo dục ở tất cả các quốc gia trên thế giới Những nghiên cứu này mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay để đối phó với sự bùng nổ tri thức, khoa học và công nghệ, sự phát triển của kinh tế - xã hội và nhu cầu hoàn thiện tri thức của cá nhân người học ở mọi cấp, bậc học khác nhau Các hướng nghiên cứu về phát triển chương trình giáo dục trên thế giới thể hiện chủ yếu ở các lĩnh vực sau: 1/ Cơ sở lý luận về chương trình giáo dục; 2/ Các nghiên cứu về cải cách chương trình giáo dục; 3/ Thời lượng thực hiện chương trình giáo dục; 4/ Nghiên cứu về chuẩn chương trình giáo dục

Trang 32

Trong cách hình thức dạy học ở các trường phổ thông trên thế giới, tích hợp kiến tích theo chủ đề là một trong những hình thức dạy học được rất nhiều quốc gia quan tâm Tích hợp là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lí luận dạy học Tích hợp (Tiếng Anh, tiếng Đức: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh: Integration với nghĩa: xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ

Hiện nay, trên toàn thế giới mỗi ngày có hàng trăm cuốn sách được xuất bản, điều ấy đủ thấy không thể học tập như cũ và giảng dạy như cũ theo chương trình và sách giáo khoa gồm quá nhiều môn học riêng rẽ, biệt lập với nhau Mặt khác, sự phát triển của khoa học trên thế giới ngày càng nhanh, nhiều vấn đề mới dạy học cần phải đưa vào nhà trường như: Bảo vệ môi trường, giáo dục dân số, giáo dục pháp luật, phòng chống ma túy, giáo dục sức khỏe, an toàn giao thông, giáo dục di sản… nhưng quỹ thời gian có hạn, không thể tăng số môn học lên được Việc tích hợp nội dung một số môn học là giải pháp có thể thực hiện được nhiệm vụ giáo dục nhiều mặt cho học sinh mà không quá tải

Nhiều nước trên thế giới đã thành lập các trang Web liên quan đến giáo dục

và đặc biệt là cung cấp các nguồn tư liệu về di sản, môi trường liên kết các trang học tập nhằm giáo dục kiến thức toàn diện cho học sinh Tiêu biểu phải kể đến các trang Web: www.swmlac.org.uk/MLI/muslin.htm: là một trang web hữu ích giới thiệu các chủ đề như học tập trong bảo tàng và soạn chính sách giáo dục Web: www.mla.gov.uk: trang web này có đủ các tài liệu hỗ trợ sự phát triển của dự án giáo dục Năm 2004, MLA (Bảo tàng, thư viện và lưu trữ hội đồng) đã phát động chương trình “Học tập truyền cảm hướng cho tất cả: tầm nhìn cho việc tiếp cận học tập dễ dàng” trong các bảo tàng, kho lưu trữ, thư viện để giúp chomọi người lập kế hoạch và đánh giá hiệu quả giáo dục cho các dự án Ngoài ra, còn rất nhiều trang Web giới thiện về di sản thiên nhiên và di sản văn hoá lịch sử của từng nước gắn

với hoạt động giáo dục như: www snh.org.uk (Di sản thiên nhiên scotland), đây là

cơ quan chịu trách nhiệm bảo tồn các di sản thiên nhiên của Scotland, phần Giáo dục và Đào tạo của trang web tìm hiểu các thông tin di sản thiên nhiên, sắp xếp các nguồn tài nguyên theo các nhóm ở tất cả các lứa tuổi Trang web: www.english -

heritage.org.uk - “Di sản Anh”, nhằm mục đích khuyến khích người tham gia giáo

Trang 33

dục ở tất cả các cấp để sử dụng môi trường lịch sử như là một tài nguyên trong suốt chương trình Trang Web: www.cadw.wales.gov.uk, Cadw là cơ quan hoạt động trong lĩnh vực lịch sử thuộc khuôn khổ hội đồng xứ Wales có trách nhiệm bảo vệ, bảo tồn và thúc đẩy giá trị lịch sử Một danh sách chọn lọc các nguồn giáo dục được lấy từ các bài viết của trang web này

Quan điểm dạy học tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Ở Việt Nam, từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn tự nhiên - xã hội theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và đã được thiết kế đưa vào dạy học từ lớp 1 đến lớp 5 Chương trình ở cấp trung học chủ yếu thực hiện tích hợp ở mức thấp, chưa đặt nặng vấn đề dạy học tích hợp ở trung học Một trong những nguyên nhân chủ yếu là việc dạy học tích hợp liên quan đến nhiều yếu tố đòi hỏi phải có quá trình chuẩn bị như: chương trình, sách giáo khoa, tổ chức dạy học, phương pháp dạy và học, đánh giá, kiểm tra, thi Tuy vậy, ngày càng có nhiều nội dung GD được tích hợp vào nội dung một số môn học ở trung học (dân số, môi trường, phòng chống HIV/AIDS, chống các tệ nạn xã hội, giáo dục pháp luật, an toàn giao thông, giáo dục di sản )

Nghị quyết về “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng

Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được thông qua tại hội nghị TƯ8 Khóa XI,

đề ra mục tiêu Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất của người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Trong đó, nội dung giáo dục nghề nghiệp được xây dựng theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việc chuyên nghiệp để hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học Theo tiến trình

đề ra, việc xây dựng chương trình và SGK sau năm 2015 sẽ hướng đến việc hình thành năng lực cho người học thay vì tập trung vào nội dung kiến thức như hiện nay với quan điểm chủ đạo là dạy học theo nguyên lý tích hợp

Nhằm góp phần giáo dục toàn diện học sinh, gìn giữ và phát huy giá trị của

di sản, đặc biệt là những di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội và truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa,

Trang 34

Thể thao và Du lịch đã đưa ra văn bản cụ thể về hướng dẫn sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông vào năm 2013 Trong đó nêu rõ mục đích, yêu cầu của việc

sử dụng di sản văn hóa trong nhà trường Đồng thời đưa ra các phương thức tổ chức dạy học các nội dung di sản văn hóa trong trường phổ thông như: Lồng ghép nội dung dạy học di sản văn hóa vào các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông (nội khóa hoặc ngoại khóa); Xây dựng kế hoạch và tổ chức dạy học, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao có chủ đề liên quan đến di sản

có tính chất điển hình và hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, khai thác các nội dung khác của di sản văn hóa thông qua tư liệu, hiện vật Tổ chức chăm sóc di tích, các hoạt động giáo dục tại di tích; Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp (Dạy học trên lớp hoặc tổ chức các hoạt động ngoại khóa tại nhà trường; Dạy học tại nơi có di sản văn hóa; Tổ chức tham quan - trải nghiệm di sản văn hóa; Dạy học thông qua các phương tiện truyền thông, đa phương tiện; …); Lựa chọn những phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá phù hợp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc tìm hiểu, khai thác các giá trị của di sản văn hóa; Phổ biến, hướng dẫn sử dụng bộ tài liệu sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn Văn bản hướng dẫn trên đã góp phần cung cấp những định hướng quan trọng để các đơn vị giáo dục, các nhà khao học nghiên cứu hướng đi đúng đắn trong công tác giáo dục di sản và dạy học tích hợp thông qua các chuyên đề ở trong nhà trường phổ thông cũng như các trung tâm GDTX

Trên cơ sở hướng dẫn của Bộ GD - ĐT và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch, nhiều tổ chức và cá nhân các nhà khoa học đã có những hướng nghiên cứu mới nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục di sản ở nhà trường Trước hết phải

kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Tài liệu thiết kế dạy và học,

hoạt động tập thể trong chương trình giáo dục về di sản văn hoá thế giới Mỹ Sơn”

và “Giáo dục về Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn trong nhà trường phổ thông”

(2003) của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Duy Xuyên (Quảng Nam), Ban Quản

lí Di tích và Du lịch Mỹ Sơn nhằm trang bị kiến thức về di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn cho tất cả các giáo viên để làm nòng cốt tổ chức các hoạt động giảng dạy có hiệu quả về nội dung này Toàn bộ chương trình của hai tập tài liệu này đã được đưa vào giảng dạy trong các nhà trường phổ thông trên địa bàn trong năm học 2004-

Trang 35

2005 nhằm nâng cao nhận thức cho học sinh về bảo quản, phát huy những giá trị

của di sản văn hoá thế giới tại Quảng Nam Ngoài ra còn có cuốn “Di sản thế giới

trong tay thế hệ trẻ để biết tôn vinh và hành động” (2004, Nxb Đà Nẵng) của

Nguyễn Thị Lân và Nguyễn Viết Trí cung cấp nhiều thông tin về di sản Mỹ Sơn và

đề cao vai trò, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ, phát huy giá trị di sản

Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang cũng đã tích cực nghiên cứu, tiếp cận, đưa giáo dục di sản Công viên địa chất toàn cầu (CVĐCTC) Cao nguyên đá Đồng Văn vào trường học Tháng 7 năm 2012, theo Quyết định số 421/ QĐ - SKHCN, trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang được Hội đồng Khoa học Tỉnh phê duyệt triển

khai thực hiện đề tài: “Nâng cao nhận thức về giá trị di sản Công viên địa chất

toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn cho học sinh các trường THCS tỉnh Hà Giang”

Đây là đề tài nghiên cứu mang tính ứng dụng cao với mục tiêu giáo dục, nâng cao nhận thức cho học sinh trong các trường THCS tỉnh Hà Giang về giá trị di sản CVĐCTC thông qua các sản phẩm nghiên cứu khoa học cụ thể: tài liệu giáo dục di sản với các modul ngoại khóa, các sản phẩm ứng dụng thực tiễn thông qua thực nghiệm sư phạm; các chuyên đề chuyên sâu về di sản và giá trị di sản CVĐCTC Cao nguyên đá Đồng Văn, giáo dục trải nghiệm di sản CVĐC trong nhà trường phổ thông tỉnh Hà Giang

Ở Quảng Ninh đang triển khai thực hiện xây dựng bộ tài liệu về Giáo dục môi

trường: “Giáo dục bảo tồn di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long” dành cho giáo

viên Ở Nghệ An, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ đã và đang từng bước đưa bộ môn dân ca xứ Nghệ vào trường học bằng nhiều hình thức, trong đó

có đề án “Thực hiện đưa dân ca vào trường học” giai đoạn 2008 - 2015

Tác giả Đỗ Thị Bích Loan với bài báo “Giáo dục văn hóa truyền thống trong

các trường phổ thông dân tộc nội trú ở Việt Nam” trên Tạp chí Khoa học Giáo dục,

số 97, Tháng 10/2013 đã đề cập và phân tích một số vấn đề về giáo dục văn hóa

truyền thông trong trường phổ thông dân tộc nội trú ở Việt Nam Tác giả đã đi vào phân tích một số khái niệm về văn hóa, văn hóa truyền thống và giá trị văn hóa truyền thống Đồng thời, giới thiệu vài nét về trường phổ thông dân tộc nội trú ở Việt Nam cũng như tầm quan trọng của việc giáo dục văn hóa truyền thống trong trường phổ thông dân tộc nội trú Từ những cơ sở về lý luận đó cùng với thực trạng

Trang 36

về vấn đề giáo dục văn hóa truyền thống trong trường phổ thông dân tộc nội trú hiện nay, bài viết đã đề xuất một số hoạt động giáo dục văn hóa truyền thông trong trường phổ thông dân tộc nội trú nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục này

“Văn hóa giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới” (2012) của Nguyễn Duy Bắc đã giới

thiệu những vấn đề chung về văn hóa giáo dục Việt Nam, những đổi mới, định hướng chiến lược và giải pháp chủ yếu phát triển giáo dục, đào tạo hiện nay, quản

lý nhà nước về giáo dục, xã hội hoá giáo dục, giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nền giáo dục

Việt Nam, … Đề tài cấp Bộ của PGS.TS Nguyễn Dục Quang (chủ nhiệm đề tài),

Mã số: B2006 - 37 - 25: “Ðịnh hướng mục tiêu, nội dung giáo dục giá trị văn hoá

truyền thống cho học sinh phổ thông” đã rà soát nội dung chương trình của một số

môn học và hoạt động giáo dục có chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống

Từ đó hệ thống hóa và sắp xếp thành hệ thống các giá trị văn hóa truyền thống đang được giảng dạy và giáo dục cho học sinh Đồng thời đánh giá việc thực hiện giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống ở nhà trường hiện nay thông qua khảo sát các đối tượng là cán bộ xây dựng chương trình, cán bộ quản lý và giáo viên phổ thông thuộc 2 tỉnh Hà Nội, Quảng Ninh

Bên cạnh đó có một số công trình khác như: “Về mục tiêu, nội dung, phương

pháp giáo dục di sản thế giới cho học sinh phổ thông Việt Nam” (2004) của Nguyễn

Dục Quang; Trần Văn Ánh (2011), Giá trị di sản văn hóa dân tộc trong đời sống

kinh tế - xã hội, Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 326 Các chương trình hội thảo, các

cuộc thi cũng được quan tâm tổ chức để nâng cao vai trò của việc giáo duc di sản

trong trường học như: Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Vai trò của di sản văn

hóa trong giáo dục và phát triển hòa bình” tại TP Biên Hòa (Đồng Nai) do Viện

Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam phối hợp cùng UBND tỉnh Đồng Nai và Quỹ Nguồn lực châu Á tổ chức (11/2013) nhằm khẳng định giá trị, vai trò của di sản văn hóa trong đời sống, giáo dục, qua đó làm thay đổi nhận thức cho các ngành, các giới trong việc hoạch định và điều hành kế hoạch phát triển trong môi trường hòa bình,

vì hòa bình; cuộc thi vẽ tranh thiếu nhi mang chủ đề “Bé vẽ màu dân tộc” do Hiệp

hội CLB Unesco Hà Nội kết hợp cùng Hội quán Di sản tổ chức là một hoạt động bổ

ích, giúp các em nhỏ trên toàn quốc được tiếp cận với dòng tranh dân gian Đông Hồ theo một cách thức hoàn toàn mới, thú vị và đơn giản hơn nhưng vẫn bảo đảm được

Trang 37

những thông tin chính thống Hoạt động này cũng nhằm mục đích kêu gọi xã hội quan tâm tới việc quảng bá, gìn giữ dòng tranh dân gian Đông Hồ, hướng tới việc bảo tồn, phát triển di sản văn hóa hòa nhập với cuộc sống đương đại; Hội thi

“Chúng em là hướng dẫn viên du lịch về Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn”, …

Gần đây nhất (tháng 10 năm 2013), Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành tài liệu

tập huấn cho cán bộ quản lí, giáo viên: “Sử dụng di sản trong dạy học ở trường Phổ

thông” bao gồm 2 bộ tài liệu: (1) Những vấn đề chung, trong đó đề cập đến các nội

dung như: Di sản với giáo dục phổ thông; Pháp luận về di sản; tổ chức sử dụng di sản

trong dạy học ở trường phổ thông; quản lí sử dụng di sản trong dạy học (2) Tài liệu

tập huận: Sử dụng di sản trong dạy học các môn Địa lí, Lịch sử, âm nhạc Tài liệu

này, đưa ra một số ví dụ minh họa về việc đưa di sản vào một số bài tập trên lớp; học tại địa điểm có di sản…ở cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông

1.2 NHẬN DẠNG DI SẢN

1.2.1 Khái niệm

Theo Từ điển tiếng Việt, Di sản là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc

gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc, văn hoá dân tộc… có những giá trị về tự nhiên, những giá trị văn hoá vật thể hoặc phi vật thể được để lại từ

xa xưa và tồn tại cho tới ngày nay, đó chính là tài sản của mỗi quốc gia

Theo nghiên cứu của UNESCO, toàn bộ di sản thế giới được chia làm ba loại: di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và di sản hỗn hợp

* Di sản thiên nhiên

Trong Công ước về di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới tại đại hội Tổ chức

Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO) họp ở Paris từ 17 tháng

10 đến 21 tháng 11 năm 1992, kỳ họp lần thứ 17, những loại hình thuộc về di sản thiên nhiên bao gồm:

Các cấu tạo tự nhiên (natural features): bao gồm các thành tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm có thành tạo thuộc loại đó mà, xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;

Các thành tạo địa chất và địa văn (geological and physiographical formations)

và các khu vực được khoanh vùng chính xác làm nơi cư trú cho các loài động vật và thảo mộc bị đe doạ mà, xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;

Trang 38

Các di chỉ tự nhiên (natural sites) hoặc các khu vực tự nhiên đã dược khoanh vùng cụ thể mà, xét theo quan điểm khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên là có giá trị nổi tiếng toàn cầu

Như vậy, những di sản thiên nhiên là những tuyệt tác do thiên nhiên tạo ra cùng với quá trình thành tạo của Trái Đất Các đặc trưng tự nhiên bao gồm thành tạo hoặc các nhóm thành tạo vật lý hoặc sinh học có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học; các thành tạo địa chất hoặc địa văn và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi sinh của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo toàn; các di chỉ tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên có ranh giới được xác định chính xác có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học, bảo toàn hoặc vẻ đẹp tự nhiên [1]

* Di sản văn hóa

Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể,

là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền

từ đời này sang đời khác [19]

Theo Công ước di sản thế giới thì di sản văn hóa là:

- Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu

tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học

- Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học

- Ở Việt Nam, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được coi là hai bộ phận hữu

cơ cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối [10][18]:

- Di sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất, chứa đựng những hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại

Trang 39

- Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, chỉ được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác

Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian

Di sản văn hóa vật thể bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (di tích); Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Theo luật di sản văn hóa của Việt Nam [21] [19]:

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa,

khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,

bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,

bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa

cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học

Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa,

khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên

Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm

tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học

Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm giống như bản

gốc về hình dáng, kích thước, chất liệu, mầu sắc, trang trí và những đặc điểm khác

Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn

hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội

Trang 40

Thăm dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, thu thập,

nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ

Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng

mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu

sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm

phục hưng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ

sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó

Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích:

Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội;

Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế

* Di sản hỗn hợp

Năm 1992, Ủy ban di sản thế giới mới đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp hay còn gọi là cảnh quan văn hóa để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản Hay nói cách khác, di sản hỗn hợp là một loại di sản kép, nó đáp ứng đủ cả hai yếu tố nổi bật về văn hóa và thiên nhiên Một địa danh được công nhận là di sản hỗn hợp phải thỏa mãn ít nhất là một tiêu chí về

di sản văn hóa (tiêu chuẩn i, ii, iii, vi, v, vi) và một tiêu chí về di sản thiên nhiên (tiêu chuẩn vii, viii, ix, x) [1]

1.2.2 Tiêu chí công nhận di sản

* Tiêu chí công nhận di sản của UNESCO

- Tiêu chí để đưa các di sản văn hóa vào danh sách Di sản thế giới [1]:

Các di tích: Các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa hoành tráng, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, bi ký, hang cư trú và các đặc trưng kết hợp, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật

và khoa học

Ngày đăng: 26/08/2018, 08:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w