1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phương thức thể hiện nhân vật kì ảo trong truyện chí quái việt nam (qua việt điện u linh tập và lĩnh nam chích quái lục )

98 675 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 577,5 KB
File đính kèm Phương thức.rar (98 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lí do chọn đề tài Việt điện u linh tập (việc u linh ở cõi nước Việt) là một công trình do Lý Tế Xuyên biên soạn, viết lại những truyện vốn lưu hành về các vị phúc thần được thờ trong miếu đền nước ta. Lĩnh Nam chích quái lục sách do Trần Thế Pháp sưu tầm, biên soạn lại những câu chuyện về cõi Lĩnh Nam được lưu hành trong dân gian. Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục là hai tác phẩm mở đầu cho văn xuôi trung đại Việt Nam nói chung và cho văn xuôi kì ảo Việt Nam nói riêng. Không chỉ có giá trị to lớn về văn học mà hai tác phẩm này còn có giá trị lớn về lịch sử. Chúng là nguồn tư liệu quí giá cho các nhà sử học tìm hiểu về lịch sử của dân tộc ta (sự hình thành quốc gia dân tộc, những địa linh nhân kiệt trên đất nước Việt cổ xưa,…). Trong suốt thời trung đại Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục được quốc sử sử dụng làm tài liệu. Bằng chứng rõ rệt cho việc đó là sử quan Ngô Sĩ Liên (thời Lê Thánh Tông) đã sử dụng hệ thống các truyện về Lạc Long Quân, Hùng Vương trong Lĩnh Nam chích quái lục để viết Kỷ Hồng Bàng thị trong phần Ngoại kỉ của sách Đại Việt sử kí toàn thư. Ngoài những ý nghĩa về lịch sử, văn học, Việt điện u tập và Lĩnh Nam chích quái lục còn chứa đựng trong đó những trầm tích về đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc Việt cổ xưa (phong tục, tập quán, lễ nghi,…) và gửi gắm trong từng trang sách là niềm tự hào về quốc gia dân tộc Việt với nguồn gốc cao quí, lãnh thổ rộng lớn, danh lam thắng cảnh, những giá trị văn hóa vật chất tinh thần, những người anh hùng kiên trinh,… Trải qua hàng nghìn năm, hai cuốn sách này vẫn luôn thu hút sự quan tâm của các học giả. Chúng được ghi chép, trùng bổ, khảo đính trong suốt thời trung đại và được biên dịch, khảo cứu, nghiên cứu đến tận ngày nay. Điều đó cho thấy giá trị to lớn và sức sống mãnh liệt của Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục.

Trang 1

3 Mục đích nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

4.1 Đối tượng 134.2 Phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14

7 Đóng góp của luận văn 15

8 Cấu trúc luận văn 15

1.3 Sơ lược về tác giả, văn bản Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục 29

1.3.1 Sơ lược về tác giả, văn bản Việt điện u linh tập 29 1.3.2 Sơ lược về tác giả, văn bản Lĩnh Nam chích quái lục 32

Trang 2

2.3 Các kiểu nhân vật kì ảo trong Lĩnh Nam chích quái lục 53

2.3.1 Các nhân vật kì ảo là thần linh 532.3.2 Các nhân vật kì ảo khác 59

2.4 Hệ thống nhân vật kì ảo từ Việt điện u linh tập đến Lĩnh Nam chích

quái lục 62 Tiểu kết Chương 2: 63 CHƯƠNG 3: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG

NHÂN VẬT KÌ ẢO TỪ VIỆT ĐIỆN U LINH TẬP ĐẾN LĨNH NAM CHÍCH QUÁI LỤC 65

3.1 Phương thức mô phỏng theo các hình mẫu từ văn học dân gian

65 3.2 Phương thức xây dựng nhân vật từ văn xuôi lịch sử 66 3.3 Phương thức sáng tạo từ hư cấu, tưởng tượng 72

3.4 Phương thức xây dựng nhân vật kì ảo từ việc thể hiện không gian và

thời gian nghệ thuật 78 3.5 Phương thức xây dựng nhân vật từ việc tăng cấp chất văn và kết cấu

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Thống kê và phân loại các nhân vật kì ảo trong Việt điện u

linh tập 39 Bảng 2: Thống kê và phân loại các nhân vật kì ảo trong Lĩnh Nam

chích quái lục 40

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Việt điện u linh tập (việc u linh ở cõi nước Việt) là một công trình do Lý

Tế Xuyên biên soạn, viết lại những truyện vốn lưu hành về các vị phúc thần

được thờ trong miếu đền nước ta Lĩnh Nam chích quái lục sách do Trần Thế

Pháp sưu tầm, biên soạn lại những câu chuyện về cõi Lĩnh Nam được lưuhành trong dân gian

Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục là hai tác phẩm mở đầu

cho văn xuôi trung đại Việt Nam nói chung và cho văn xuôi kì ảo Việt Namnói riêng Không chỉ có giá trị to lớn về văn học mà hai tác phẩm này còn cógiá trị lớn về lịch sử Chúng là nguồn tư liệu quí giá cho các nhà sử học tìmhiểu về lịch sử của dân tộc ta (sự hình thành quốc gia dân tộc, những địa linh

nhân kiệt trên đất nước Việt cổ xưa,…) Trong suốt thời trung đại Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục được quốc sử sử dụng làm tài liệu Bằng

chứng rõ rệt cho việc đó là sử quan Ngô Sĩ Liên (thời Lê Thánh Tông) đã sử

dụng hệ thống các truyện về Lạc Long Quân, Hùng Vương trong Lĩnh Nam chích quái lục để viết Kỷ Hồng Bàng thị trong phần Ngoại kỉ của sách Đại Việt sử kí toàn thư Ngoài những ý nghĩa về lịch sử, văn học, Việt điện u tập

và Lĩnh Nam chích quái lục còn chứa đựng trong đó những trầm tích về đời

sống vật chất, tinh thần của dân tộc Việt cổ xưa (phong tục, tập quán, lễ nghi,

…) và gửi gắm trong từng trang sách là niềm tự hào về quốc gia dân tộc Việtvới nguồn gốc cao quí, lãnh thổ rộng lớn, danh lam thắng cảnh, những giá trịvăn hóa vật chất tinh thần, những người anh hùng kiên trinh,…

Trải qua hàng nghìn năm, hai cuốn sách này vẫn luôn thu hút sự quantâm của các học giả Chúng được ghi chép, trùng bổ, khảo đính trong suốtthời trung đại và được biên dịch, khảo cứu, nghiên cứu đến tận ngày nay

Trang 5

Điều đó cho thấy giá trị to lớn và sức sống mãnh liệt của Việt điện u linh tập

độ nội dung - tư tưởng, từ góc độ nghệ thuật,…

Nghiên cứu nghệ thuật của Việt điện u linh tập và Lĩnh nam chích quái lục là việc làm cần thiết vì như đã nói ở trên hai tập truyện này là những tác

phẩm văn xuôi đầu tiên nên nó phản ánh các kĩ thuật viết văn thời kì đầu củavăn xuôi Việt Nam và đặc biệt hai tác phẩm này đặt nền móng cho văn xuôi kì

ảo sau này Những tác phẩm văn xuôi kì ảo giai đoạn sau tuy có những bướcphát triển vượt bậc nhưng ít nhiều cũng tham khảo và chịu ảnh hưởng của lối

viết văn kì ảo trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục.

Tìm hiểu nghệ thuật của hai tác phẩm trên, nhà nghiên cứu sẽ thấy được

những giá trị nghệ thuật mà Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục

đạt được, thấy được những đóng góp của hai tuyển tập này đối với sự pháttriển của văn xuôi kì ảo Việt Nam

Nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu nghệ thuật trong haitác phẩm trên, trong đề tài này chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu phương thức thểhiện nhân vật kì ảo Đối với tác phẩm tự sự, nhân vật đóng vai trò cốt lõi và làphương tiện để nhà văn thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình Chính vì vậy,các nhà văn đều rất dày công trong việc xây dựng nhân vật của mình Nhân

vật trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục phần lớn là nhân vật

Trang 6

kì ảo nên việc xây dựng các nhân vật này đòi hỏi ở người sáng tạo một nănglực tưởng tượng hết sức phong phú Và những phương thức xây dựng nhânvật kì ảo sẽ giúp cho trí tưởng tượng của nhà văn được cụ thể hóa, sẽ là nhữngcông cụ đắc lực để nhà văn phác họa nên nhân vật kì ảo của mình Hai tác giả

Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp đều sử dụng những nhân vật sẵn có trong vănhọc dân gian và văn xuôi lịch sử nhưng họ đã dụng công xây dựng lại cácnhân vật kì ảo theo ý đồ sáng tác của mình Vì thế các nhân vật này có ítnhiều điểm khác so với các tác phẩm khởi nguyên Sự sáng tạo của hai tác giả

là điều không thể phủ nhận Nhân vật kì ảo trong hai tác phẩm mở đầu vănxuôi trung đại Việt Nam này tuy vẫn còn những nét thô phác nhưng cũng rấtsinh động, hấp dẫn Vậy Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp đã xây dựng nên nhânvật kì ảo của mình bằng những phương thức nào mà nhân vật trong tác phẩmcủa họ hiện lên hấp dẫn và đầy dụng ý đến vậy? Đó là câu hỏi chính mà chúngtôi đặt ra trong đề tài này? Bên cạnh đó, từ việc nghiên cứu so sánh giữa hai tácphẩm có thể tìm ra sự vận động giữa chúng và góp phần hình dung thêm về conđường đi của văn xuôi kì ảo Việt Nam Trên đây là những lí do thôi thúc chúng

tôi thực hiện đề tài: Phương thức thể hiện nhân vật kì ảo trong truyện chí quái Việt Nam (qua Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục ).

Có lẽ, Vũ Quỳnh (tiến sĩ dưới triều Lê Thánh Tông) là người đầu tiên mà

chúng ta nhắc tới trong việc tìm hiểu về nghệ thuật của Lĩnh Nam chích quái

Trang 7

lục Tuy không đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật của Lĩnh Nam chích quái lục nhưng trong bài tựa cho sách Lĩnh Nam chích quái do ông sưu tập và

chỉnh lí, ông đã đưa ra một nhận xét rất sắc sảo thâu tóm được cái thần trong

nghệ thuật viết truyện kì ảo của tác giả Lĩnh Nam chích quái lục trước đây, đó là: “việc tuy kỳ dị mà không quái đản, văn tuy thần bí mà không nhảm nhí, tuy nói những chuyện hoang đường mà tung tích vẫn có bằng cứ, há chẳng phải là khuyên điều thiện, trừng điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục đó ru!” [49, tr.31].

Đinh Gia Khánh - người có công dịch Lĩnh Nam chích quái lục đã

nghiên cứu rất kĩ tác phẩm này và trong một tập văn học sử ông viết: “Văn

Lĩnh Nam chích quái không ghi chép sự tích như Việt điện u linh, Thiền tuyển tập anh, Nam ông mộng lục Các soạn giả nhiều khi đã dùng ngòi bút sáng tác

để tăng chất lượng văn học của các sự tích… Cảm xúc văn học và tài năng

nghệ thuật nhiều khi đã đưa các soạn giả ra khỏi phạm vi ghi chép Lĩnh Nam chích quái là một bước quá độ từ chỗ ghi chép thần tích, sự tích như Việt điện

u linh sang chỗ phóng tác như Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục Trên bước tiến ấy, Lĩnh Nam chích quái đã có đóng góp cho văn học những hình

tượng nhân vật đẹp, những hình thức diễn đạt hay ” [34, tr.42]

Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, ở mục “Truyện thần linh, quái dị, anh tú” đã nghiên cứu về Việt điện u linh tập

và Lĩnh Nam chích quái lục Tác giả đã chỉ ra kết cấu của Việt điện u linh tập

gồm hai phần: phần kể chuyện người và phần kể chuyện thần Phần một giốngsử: mở đầu tác giả dẫn sách, sau đó giới thiệu tên họ, quê quán, thân thích,hành trạng Phần chính của truyện kể về các sự hiển linh của thần Phần kếtghi các đợt gia phong danh hiệu Mỗi nhân vật sống hai cuộc đời trước và saukhi chết Cuộc đời khi sống được ghi sơ lược, ít sự kiện trong khi sự hiển linhsau khi chết lại được ghi khá cụ thể [54, tr.340] Trần Đình Sử còn so sánh

Trang 8

Việt điện u linh tập và Thiền uyển tập anh với Lĩnh Nam chích quái lục Nhà nghiên cứu khẳng định rằng Lĩnh Nam chích quái lục đa dạng về nội dung và thể loại hơn hai tác phẩm trên Trong Lĩnh Nam chích quái lục có truyện thần,

có truyện quái (như ngư tinh, mộc tinh, hồ tinh), có truyền thuyết lịch sử, cótruyện cổ tích truyện tình yêu, truyện tiên, truyện Phật, truyện trong nước,ngoài nước [54, tr.344,] Tình tiết các truyện đã phức tạp hơn rất nhiều Cácmotip truyện như hiểu lầm, báo trước, nằm mộng ứng nghiệm, đánh lừa, hóaphép,… đã được sử dụng nhiều làm cho truyện có sức hấp dẫn Cách trần

thuật của Lĩnh Nam chích quái lục vẫn giữ lối thực lục, lập hồ sơ nhân vật,

dẫn sách, trùng bổ Tác giả chưa có ý thức miêu tả chân dung phong cảnh,cảm giác Nhưng do thực lục mà nhiều chỗ giữ được lối kể cổ kính, mộc mạc,

truyền được cách tư duy độc đáo của người xưa [54, tr.345] Lĩnh Nam chích quái lục đã ghi được nhiều truyện dân gian, truyện đời thường, tính chất quan

phương và tôn giáo giảm đi nhưng tính chất “tiểu thuyết” – một thể loại dã sửtheo quan niệm cổ xưa lại tăng lên [54, tr.348]

Nguyễn Đăng Na trong chuyên luận: “Văn xuôi tự sự Việt Nam thờitrung đại – những chặng đường lịch sử và xu hướng phát triển” in trong

Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp - chân dung đã nghiên cứu về: những

bước đi lịch sử của văn xuôi tự sự thời trung đại Nhà nghiên cứu chia vănxuôi tự sự Việt Nam thời trung đại thành bốn giai đoạn: giai đoạn thứ nhất:thế kỉ X – XIV, thế kỉ lấy văn học dân gian và văn học chức năng làm cơ sở;giai đoạn thứ hai: thế kỉ XV – XVII, bước đột khởi của văn xuôi tự sự; giaiđoạn thứ ba: từ thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX, thế kỉ của kí và tiểu thuyếtchương hồi; giai đoạn thứ tư: nửa cuối thế kỉ XIX – giai đoạn chuyển giao

giữa văn xuôi trung đại với văn xuôi cận – hiện đại Tác giả xếp Lĩnh Nam chích quái lục và Việt điện u linh tập và giai đoạn thứ nhất Nguyễn Đăng Na

còn chỉ ra những motip trong hai tập truyện Tiếp theo, tác giả chỉ ra ba xu

Trang 9

hướng của văn xuôi tự sự thời trung đại: dân gian, lịch sử, thế tục Nhà nghiên

cứu xếp Lĩnh Nam chích quái lục vào xu hướng dân gian và Việt điện u linh tập vào xu hướng lịch sử [19, tr.26 – 77].

Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn trong chuyên luận “Thi pháp truyện

ngắn trung đại Việt Nam” in trong Truyện ngắn Việt Nam lịch sử thi pháp chân dung đã chỉ ra việc nhìn các nhân vật kiệt xuất như là những “con người

-vũ trụ” là cách nhìn xuyên suốt thời trung đại Việt điện u linh tập tiêu biểu

cho cách nhìn đó [19, tr.86] Tác giả chuyên luận còn đi sâu phân tích khônggian và thời gian nghệ thuật của truyện danh nhân: “Những danh nhân, nhânvật lịch sử là những con người của trời đất, của thiên hạ Do đó các dạng thứckhông gian của loại truyện này thường là loại hình không gian vĩ mô, mangtầm vóc vũ trụ Nhân vật hoạt động trên phạm vi vùng (đánh dẹp các cuộc nổiloạn ở các vùng), phạm vi không gian quốc gia (trấn thủ trị nhậm một vùngnào đó, đảm nhận công việc triều chính liên quan đến quốc kế dân sinh),không gian liên quốc gia (đi sứ Trung Quốc) Rất hiếm bắt gặp loại khônggian vi mô như kiểu mảnh vườn, con đường, bến đò, mái nhà vốn gắn liền vớicuộc sống riêng tư nhiều hơn là hoạt động chính trị xã hội Nói chung cái nhìnkhông gian trong truyện này mang đậm nét quan niệm của nho gia về “thiênhạ”, về “tam tài”: “thiên - địa- nhân”” [19, tr.98]

Nguyễn Thị Oanh trong Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu văn bản Lĩnh Nam

chí quái lục (năm 2005) đã dành chương 3 nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ

Hán văn trong Lĩnh Nam chích quái lục Tác giả đã chỉ ra: hiện tượng tá âm;

hiện tượng đảo trật tự và cú pháp Hán; hiện tượng tỉnh lược; hiện tượng lặp;hiện tượng xen Nôm, xen khẩu ngữ Hán và dùng chữ Hán để ghi tiếng Việt

trong bản Lĩnh Nam chích quái A.2914 Đề tài đã làm sáng tỏ một số nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng ngôn ngữ bất thường trong bản Lĩnh Nam chích quái A.2914 Ngoài hiện tượng lưu giữ nhiều từ cổ khiến câu văn trở nên khó

Trang 10

hiểu, các hiện tượng khác như tá âm; hiện tượng đảo trật tự từ và cú phápHán; hiện tượng tỉnh lược… có những điểm ít nhiều tương đồng với một sốtác phẩm Hán văn thời Lý – Trần, cho thấy ngoài nguyên nhân chỉ quan vàkhách quan, có ý thức hoặc vô thức trong khi sử dụng chữ Hán làm công cụghi chép, các sáng tác của nước ta thời Lý – Trần chịu ảnh hưởng của sáchkinh điển Trung Quốc thời cổ không chỉ trên phương diện tư tưởng mà cả trênphương diện từ ngữ [47, tr 98].

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ trong bài viết Lĩnh Nam chích quái từ điểm nhìn văn hóa, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8 năm 2006 đã chỉ ra kiểu tự sự trong Lĩnh Nam chích quái lục là tự sự trầm tích Ông còn đi

sâu phân tích kết cấu của các truyện: theo mạch thẳng của trình tự thời gian,thường mở đầu bằng việc giới thiệu thời điểm sự kiện từng bắt đầu xảy ra Lailịch của nhân vật được trình bày rõ ràng, sáng sủa, ngắn gọn Tiếp đó là diễntiến của cốt truyện theo hành trạng và các mối quan hệ, các sự kiện, chi tiếtcủa nhân vật chính Kết thúc truyện nhằm giải thích một hiện tượng, một hoạtđộng thờ cúng, một tập tục hay một dấu tích để lại, một sự ghi nhận phongtặng của triều đình, một hành vi âm phù Phần kết thường bắt đầu từ hai chữ

“Từ đấy…” như kết thúc của truyện cổ dân gian Nói chung cốt truyện, cấu tạo truyện đã tự do hơn nhiều so với Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên.

Nguyễn Hùng Vĩ cũng cùng quan điểm với Vũ Quỳnh cho rằng điều đáng lạ

là dù truyện mang tên Lĩnh Nam chích quái (Sưu tập, lượm lặt những sự lạ

trong cõi Lĩnh Nam) song hành trình truyện dường như không lấy cái kỳ ảo,cái quái dị hay kinh dị làm mục tiêu mà rõ ràng có một ý đồ trái lại: mọi yếu

tố được coi là quái lạ được trình bày minh bạch và duy lí Tất cả đều sáng sủa

rõ ràng Nhà nghiên cứu khẳng định:“Nếu ai muốn chờ đợi ở đây một thế giới như Liêu trai chí dị, như truyền kỳ đời Đường sẽ thất vọng Truyện đọc dễ hiểu.Mọi chi tiết đều sắp xếp có lô gíc giữa nguyên nhân và kết quả, thật đơn

Trang 11

giản và mạch lạc Rõ ràng Lĩnh Nam chích quái không hướng đến cái kỳ như một mục đích tự thân Nó là sử trong truyện, là sử hóa các thần thoại và truyền thuyết dân gian” [70, tr.105] Đặc biệt ông còn ghi nhận công lao của Trần Thế Pháp: “Lĩnh Nam chích quái sưu tầm văn học dân gian nhưng không là bản ghi lại câu chuyện vốn có của dân gian Nó chưng cất, nhào luyện một khối lượng lớn tư liệu điền dã (rất nhiều chi tiết dân tộc học quý giá được lưu giữ trong tác phẩm thể hiện điều đó) để sáng tạo ra các biểu tượng của mình” [70, tr105].

Đào Phương Chi trong Luận án Tiến sĩ: Nghiên cứu văn bản Việt điện u linh tập và quá trình chuyển dịch văn bản (2006) đã chỉ ra sự chuyển dịch giữa Việt điện u linh tập sang Lĩnh Nam chích quái lục: “Các thiên kể về những nhân vật được cả Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp cùng khai thác Đó là các thiên: Lý Ông Trọng, Trương Hống Trương Hát, Tản Viên thần, Tô Lịch Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục có thời điểm ra đời tương đối gần nhau (Việt điện u linh tập đầu thế kỉ XIV và Lĩnh Nam chích quái lục cuối thế

kỉ XIV) Hiện vẫn chưa thể xác định được Trần Thế Pháp hay Lý Tế Xuyên ngẫu nhiên khai khai thác một số nhân vật giống nhau hay các nhân vật đó đươc Trần Thế Pháp chuyển từ Việt điện u linh tập sang Lĩnh Nam chích quái lục” [13, tr.161] Đào Phương Chi khằng định rằng giữa Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục có khác nhau, đó là một bên tác phẩm chủ yếu mang

tính chất lễ nghi và một bên là tác phẩm dân gian Ý thức viết truyện của TrầnThế Pháp đã tạo nên nhiều khác biệt của những thiên truyện này so với cácbản thần tích của Lý Tế Xuyên Sau đó bà chỉ ra những điểm khác nhau giữa

Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục trong các truyện về Lý Ông

Trọng, Trương Hống, Trương Hát, Sơn Tinh, Tô Lịch Rồi tác giả luận án đưa

ra kết luận: “Có thể thấy rằng, tuy tên nhân vật trùng nhau nhưng do chức năng tác phẩm khác nhau, Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp đã đi theo hai con

Trang 12

đường: một bên là văn học chức năng viết một cách tóm lược, một bên là văn học nghệ thuật thiên về kể, khai thác tình tiết theo hướng văn học hóa truyện dân gian” [13, tr.162].

Vũ Thị Hương trong Luận án Nghiên cứu so sánh Sưu thần ký (Trung Quốc) với một số truyện chí quái Việt Nam từ góc độ đặc trưng thể loại và ngôn ngữ Hán văn năm 2016 chỉ ra cấu trúc cốt truyện của Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục và nhận thấy được bước phát triển về cốt truyện giữa hai tác phẩm này: cốt truyện của Lĩnh Nam chích quái phức tạp

và tự do hơn nhiều so với Việt điện u linh Đồng thời Vũ Thị Hương còn chú

ý đến phân tích thời gian trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục: “Trong Việt điện u linh tập, tác giả đã chọn mốc thời gian là Lý – Trần; Lĩnh Nam chích quái thì thời gian là tử thủa hồng hoang dựng nước tới thời

Lý – Trần Thời gian trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái là thời gian với cảm hứng tôn vinh lịch sử Thời gian tồn tại như một yếu tố gợi cảm hứng sáng tạo, như cơ sở niềm tin về truyền thống hào hùng bất diệt của dân tộc Việt Nam” [33, tr.85].

Điểm lại tình hình nghiên cứu như trên, chúng ta thấy rằng phương diện

nghệ thuật của Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục đã nhận được

sự quan tâm của giới nghiên cứu văn học Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra

sự sáng tạo, đặc sắc nghệ thuật của hai tác giả Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháptrong tác phẩm, nhìn thấy được bước phát triển giữa hai tác phẩm này

2.2 Nghiên cứu phương thức thể hiện nhân vật kì ảo trong hai tập truyện Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục

Năm 1999, trong công trình Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam,Trần Đình Sử có nhắc đến các nhân vật kì ảo trong Việt điện u linh tập:

“Các thần được phong cũng có nhiều loại Có anh hùng dân tộc, có thầnthiêng sông núi, có quan lại tốt cùng người Trung Hoa, có thần Đạo giáo như

Trang 13

Hậu Thổ phu nhân, có thần nhà sư như Chí Thành, Từ Đạo Hạnh Điều này

chứng tỏ có một quan niệm cởi mở về thần linh Thần trong Việt điện u linh

không phải là thần trong thần thoại mà là người hóa thần, được thần hóa tronglòng suy tôn ngưỡng mộ của dân chúng” [54, tr341]

Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn trong chuyên luận “Thi pháp truyệnngắn trung đại Việt Nam” đã chỉ ra được biện pháp nghệ thuật để tô đậm nhân

vật lí tưởng Ông viết: “Hầu hết các truyện nếu kể về các nhân vật lí tưởng đều dùng các biện pháp nghệ thuật tô đậm màu sắc thần kì, phi thường, khác thường của loại nhân vật này Một đoạn giới thiệu ngắn mở đầu truyện, có dáng dấp của một đoạn “trích ngang” hiện đại, hướng ngay sự chú ý của người đọc đến tính chất phi thường này Có nhiều hình thức đặc tả sự phi thường Đơn giản nhất, phổ biến nhất là liệt kê một đặc điểm phi thường về ngoại hình và các phẩm chất đạo đức, tinh thần, những năng lực khác Việt điện u linh (thế kỉ XIV?) kể công tích 27 vị thần được thờ trong các đền miếu

mà tác giả chú ý đến Các vị thần lúc sinh thời, trước khi hiển linh, thường được giới thiệu là có những nét kì vĩ, phi thường Phùng Hưng sức có thể bắt cọp, vật trâu Em trai là Phùng Hải cũng có thể vác đá nặng ngàn cân hoặc chiếc thuyền ngàn hộc mà đi hơn mười dặm Lý Ông Trọng “thân dài hai trượng ba tấc, khí chất thẳng thắn dũng mãnh, khác với người thường.” Lý Thường Kiệt con nhà gia thế “đời đời trâm đốt”, “là người nhiều mưu lược,

có tài tướng súy, từ lúc ít tuổi đã lừng danh và phong tư tuấn nhã.” Lê Phụng Hiểu “người cao lớn, ăn hết nồi cơm ba mươi Vì thế cái phi thường nói trên khác xa với cái kì quái thường gắn với những nhân vật thuộc loại bình phàm,

tự nhiên mà ta sẽ phân tích trong phần sau Đã là những bậc phi thường thì không thể có chân dung thực, giống phàn phu tục tử được Có lẽ vì thế mà vắng bóng việc tả chân dung chi tiết, cụ thể theo bút pháp tả chân được Kết quả là ta chỉ được tiếp xúc với cách nêu nét khái quát về chân dung, tính

Trang 14

cách” [19, tr.87].

Năm 2007, nhà nghiên cứu Vũ Thanh, trong bài viết Thể loại truyện kì

ảo Việt Nam trung đại – quá trình nảy sinh và phát triển đến đỉnh điểm đã chú ý đến phân tích nhân vật trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục Tác giả bài viết đi vào phân tích cách xây dựng nhân vật từ cốt

truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh của Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp Qua so

sánh Tản Viên hựu thánh khuông quốc hiển ứng vương của Lí Tế Xuyên và Tản Viên sơn thánh của Trần Thế Pháp, ông chỉ ra: “Truyện Tản Viên sơn thánh trong Lĩnh Nam chích quái cũng dựa trên cốt truyện dân gian về cuộc tranh tài giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh vì một người con gái Nhưng so với truyện của Lí Tế Xuyên thì truyện của Trần Thế Pháp (sau đó được Vũ Quỳnh hiệu đính, bổ sung) là một bước tiến mới trong việc mở rộng dung lượng của tác phẩm, trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, trong miêu tả thiên nhiên”

[73, tr.778] Tác giả còn nhận thấy rằng Trần Thế Pháp không chỉ dừng lại ởmục đích “thông tin” hoặc lưu giữ lại cho đời sau biết đến gốc tích văn hóacủa dân tộc, mà ông đã có ý thức về việc xây dựng hình tượng nhân vật,thuyết phục người đọc bằng những hình tượng nghệ thuật sinh động mang hơi

hướng của sự sáng tạo Nhà nghiên cứu nhấn mạnh: Tản Viên sơn thánh của

Trần Thế Pháp là một bước tiến trong việc mô tả hành động nhân vật Bên

cạnh đó, nhà nghiên cứu cũng nhận thấy:“Tuy đã là một bước tiến lớn về nhiều mặt so với Lí Tế Xuyên nhưng có thể nói rằng tập truyện của Trần Thế Pháp vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng mạnh mẽ về nhiều mặt của văn học dân gian và văn xuôi lịch sử…) Mặc dù có sự sáng tạo nhưng về cơ bản ông vẫn

là người ghi chép, hiệu đính những truyền thuyết dân gian có sẵn” [73, tr.777

- 778]

Đến năm 2014, nhà nghiên cứu Vũ Thanh lại có bài viết Chức năng nghi

lễ tâm linh và giá trị văn học trong Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên.

Trang 15

Trong bài viết này, Vũ Thanh đã khẳng định: “Việt điện u linh tập vẫn nặng

về phía sử liệu hơn là văn chương.” Nhà nghiên cứu tiếp tục chỉ ra: “Các truyện của Lý Tế Xuyên đã sử dụng những nguyên tắc của sử ký để xây dựng kết cấu truyện, cũng như để miêu tả nhân vật và sự kiện, mở đầu bằng việc trích dẫn sử liệu, sau đó là trình bày tiểu sử, hành trạng của nhân vật suốt từ khi sinh ra cho đến lúc chết Các truyện thường ghi rõ ngày, tháng, địa điểm xảy ra sự kiện Chức hiệu cao nhất của nhân vật được triều đình ban tặng sau khi chết thường được lấy đặt tên cho truyện Để tăng cường tính chân thực cho tác phẩm của mình, Lý Tế Xuyên thường đưa vào truyện các nhân vật lịch sử có thật, bổ sung cho các truyện viết về cái kì ảo của mình các giá trị lịch sử như sau các lần hiển linh phù trợ các thần đều được các triều đình phong tặng danh hiệu cao quí” [58, tr.18].

Như vậy, đã có những nghiên cứu chú ý đến nhân vật và việc xây dựng

các nhân vật kì ảo trong hai tác phẩm Lĩnh Nam chích quái lục và Việt điện u linh tập Nhưng những công trình này chưa đi sâu vào các phương thức xây

dựng nhân vật kì ảo Chính vì vậy, trên tinh thần tiếp thu những công trìnhnghiên cứu đã có trước đây, trong luận văn này chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiêncứu phương thức xây dựng nhân vật kì ảo trong hai tác phẩm trên với nỗ lựcđưa lại những phát hiện góp phần mở rộng, đào sâu thêm giá trị của hai tácphẩm văn xuôi Việt Nam đầu tiên này

3 Mục đích nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu phương thức thể hiện nhân vật kì ảo trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục, chúng tôi nhằm:

- Chỉ ra những phương thức mà Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp đã dùng

để thể hiện nhân vật kì ảo trong tác phẩm của mình

- Chỉ ra những thành tựu trong xây dựng nhân vật kì ảo của Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam trích quái lục.

Trang 16

- Nhận thức được đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyện chí quái ViệtNam giai đoạn đầu Từ đó, chúng ta sẽ có những hình dung thêm về conđường đi của văn xuôi kì ảo Việt Nam.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Luận văn của chúng tôi nghiên cứu phương thức thể hiện nhân vật kì ảo

của truyện chí quái (qua Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục).

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Phạm vi nội dung

Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu phương thức thể hiện nhân vật kì ảo của

truyện chí quái (qua Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục) chứ

không đi sâu nghiên cứu vào các phương diện nghệ thuật khác của hai tácphẩm này

4.2.1 Phạm vi tư liệu

Chúng tôi đi vào khảo sát các văn bản Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên

do Trịnh Đình Rư dịch theo bản A 751 của Thư viện Khoa học xã hội ĐinhGia Khánh hiệu đính và bổ sung trong lần tái bản, Nhà xuất bản văn học, năm

1972 Kết hợp với ba thiên: 1.“Bố cái, phu hựu, Chương tín, Sùng nghĩa đạivương”; 2.“Bảo quốc, Trấn linh, Định bang, Quốc đô thành hoàng đại vương”;

3 “Xung thiên, Dũng liệt, Chiêu ứng, Uy tín đại vương” do nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na dịch từ bản A 1919 của Viện Hán Nôm in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm bản dịch truyện “Bố Cái đại vương” in trong Tinh tuyển thơ văn Hán Nôm của

Bùi Duy Tân – Nguyễn Kim Sơn – Phạm Vân Dung – Bùi Thiên Thai

Về văn bản Lĩnh Nam chích quái lục, chúng tôi khảo sát 7 truyện do ông

Nguyễn Đăng Na dịch từ bản HV 486 hiện lưu trữ tại viện Sử học (theo ôngđây là bản chưa bị Kiều Phú sửa đổi để giới thiệu) Ngoài ra chúng tôi còn

Trang 17

nghiên cứu bản dịch Lĩnh Nam chích quái do Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc

San dịch từ bản kí hiệu A.33 của Thư viện khoa học Đồng thời, chúng tôi còntham khảo thêm các truyện “Hồng Bàng Thị”; “Bánh chưng”; “Hai vị thần ở

Long Nhãn, Như Nguyệt”; “Hà Ô Lôi” theo bản dịch của Lĩnh Nam chích quái của nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990.

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sẽ sử dụng:

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: sử dụng phương pháp này nghiêncứu sâu về nghệ thuật xây dựng nhân vật của hai tác phẩm

- Phương pháp văn học sử: đặt Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục trong bối cảnh ra đời thế kỉ thứ XIV thời Trần người nghiên cứu sẽ

thấy được âm hưởng thời đại trong tác phẩm, sẽ hiểu thêm về giá trị của tác phẩm

Và đặc biệt việc sử dụng phương pháp này sẽ giúp người nghiên cứu hình dung rađược phần nào tư duy và tâm lí của người sáng tạo ra chúng

- Phương pháp tiếp cận văn hóa: để thấy được những trầm tích văn hóachứa đựng trong hai tác phẩm

Ngoài ra, chúng tôi còn kết hợp với các thao tác:

+ Phân tích: đi sâu phân tích chất văn, sự thay đổi của yếu tố kì và thực

trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục.

+ Thống kê các nhân vật trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục để hình dung cụ thể về hệ thống nhân vật kì ảo trong tác phẩm.

+ So sánh: để thấy được sự phát triển của phương thức xây dựng nhân

vật kì ảo giữa hai tác phẩm

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nếu thực hiện tốt luận văn chúng tôi sẽ chỉ ra được các phương thức thể

hiện nhân vật kì ảo của Việt điện u linhtập và Lĩnh Nam chích quái lục Điều

này sẽ hoàn thiện thêm cho việc tiếp cận hai tác phẩm này dưới góc độ nghệ

Trang 18

thuật Ngoài ra, việc chỉ ra được cụ thể, rõ ràng sự phát triển giữa Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục sẽ góp phần vào việc nghiên cứu hành

trình của văn học kì ảo Việt Nam

Nghiên cứu các phương thức thể hiện nhân vật kì ảo trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục còn cung cấp những tư liệu phục vụ cho

việc nghiên cứu và giảng dạy hai tác phẩm này

7 Đóng góp của luận văn

Luận văn Phương thức thể hiện nhân vật kì ảo trong truyện chí quái Việt Nam (qua Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục) sẽ đóng góp vào

việc nghiên cứu văn xuôi kì ảo trung đại Việt Nam nói chung và nghiên cứu

hai tác phẩm Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục nói riêng.

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung chính của luận vănbao gồm ba chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục.

Chương 2: Nhân vật kì ảo trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục.

Chương 3: Sự vận động của phương thức xây dựng nhân vật kì ảo từ

Việt điện u linh tập đến Lĩnh Nam chích quái lục.

Trang 19

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆT ĐIỆN U LINH TẬP

VÀ LĨNH NAM CHÍCH QUÁI LỤC

1.1 Các khái niệm

- Phương thức: là cách thức và phương pháp (nói một cách tổng quát)

(Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên)).

- Phương thức thể hiện nhân vật: là những kĩ thuật, những thủ pháp nghệthuật mà người sáng tác sử dụng để xây dựng nên nhân vật Hay nói cách khácmuốn khắc họa nên một nhân vật với những đặc tính thế nào thì nhà văn phải sửdụng những hình thức nghệ thuật phù hợp để xây dựng nên nhân vật đó

- Nhân vật kì ảo: là nhân vật chứa yếu tố li kì và siêu nhiên Quanniệm về cái “kì ảo” không thể không đi liền với quan niệm của chúng ta vềhiện thực Tuy nhiên, quan niệm về hiện thực của chúng ta không cố định màthay đổi không ngừng theo trình độ phát triển nhận thức của con người vàthay đổi theo quan niệm của từng không gian văn hóa khác nhau Ở Đông Áthời cổ - trung đại, do cuộc sống gần gũi với thiên nhiên và do chưa giải thíchđược nhiều hiện tượng tự nhiên và xã hội nên đối với con người, bên cạnhcuộc sống hiện thực, họ còn có một đời sống tâm linh phong phú với các vịthần, với những điều kì lạ, siêu nhiên và một quan niệm về thế giới bên kia…Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn nhị nguyên luận trước vũ trụ của conngười thời đó Thế giới trần gian và thế giới siêu nhiên song song tồn tại, tácđộng lẫn nhau một cách nhân quả Sang đến thời hiện đại khi nhận thức củacon người về hiện thực khoa học hơn thì “cái kì ảo” cũng được nhìn một cáchduy lí hơn Nó có thể là một hiện tượng mà người ta không thể giải thích đượcbằng các quy luật của thế giới thân thuộc Vì thế nó tạo cảm giác do dự,hoang mang đối với con người

Trang 20

- Truyện chí quái: là thể loại truyện ghi chép việc quái dị, kì lạ Nhân vậtchủ yếu là thần linh, ma quái Ngôn ngữ kể chuyện của thể loại này đơn giản,chủ yếu là ghi chép, chưa điêu luyện như truyền kì, chưa nhiều yếu tố tâm lí.Các nhà nghiên cứu thường coi chí quái là một trong những nguồn gốc quantrọng của truyền kì.

1.2 Tiền đề cho sự ra đời Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục 1.2.1 Văn hóa và văn học dân gian Việt Nam

1.2.1.1 Tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục dân gian

Bên cạnh văn học dân gian Việt Nam, văn học kì ảo Trung Quốc, vănxuôi lịch sử thì tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục dân gian cũng là tiền đề

quan trọng cho sự ra đời Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục Ở

Việt Nam, các tôn giáo được truyền vào từ rất sớm Ông Nguyễn Duy Hinhcho rằng các nhà truyền giáo Ấn Độ đã xuất hiện ở Luy Lâu (Dâu) vào thời SĩNhiếp thông qua tư liệu là bức thư Viên Huy gửi Tuân Húc nói về Sĩ Nhiếp:

“giữ vẹn được một quận hơn 20 năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân ( ky lữ chi đồ) đều được nhờ ơn… Anh em ông làm quan coi quận, hùng trưởng một châu, ở lánh ngoài muôn dặm, uy tín không ai hơn Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, ngựa xe đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe

để đốt hương thường có đến mấy mươi người (xuất nhập minh chung khánh

bị cụ uy nghi già cổ tiêu suy xa kỵ mãn đạo Hồ nhân hiệp cốc phần hương giả thường hữu số thập…” [31, tr.10] Người Hồ được giải thích là người Ấn Độ,

người Hồ đốt hương là nhà sư Ấn Độ Người Hồ có thể đến Dâu trước thờiđiểm được đề cập trong bức thư (Sĩ Nhiếp làm thái thú được 20 năm tức là từnăm 187 đến năm 207) nhưng qua bức thư ta có thể thấy rằng thời Sĩ Nhiếpcác tôn giáo Ấn Độ đã xuất hiện ở nước ta Đạo giáo (một tôn giáo của TrungQuốc) cũng được truyền nhập vào nước ta từ rất sớm qua sự giao lưu văn hóa

Trang 21

dân gian giữa Giao Chỉ và phương Bắc Trong Đại Việt Sử kí toàn thư viết về

Sĩ Nhiếp: “Trước Vương (Sĩ Vương) ốm, đã chết đi ba ngày, người tiên là Đổng Phụng cho một viên thuốc hòa vào nước ngậm, rồi đỡ lấy đầu mà lay động, một chốc lát mở mắt động tay, sắc mặt bình phục dần dần, ngày hôm sau ngồi dậy được, bốn ngày lại nói được, rồi trở lại bình thường [38, tr.67] Trong Việt điện u linh tập lại viết về Sĩ Nhiếp như sau: “Theo Báo cực truyện thì Sĩ Vương giỏi phép nhiếp dưỡng Đem chôn dưới đất đến cuối đời Tấn thì

kể được hơn một trăm sáu chục năm Thế mà khi người Lâm Ấp vào ăn cướp, đào mộ lên, thấy thân thể vẫn không nát, mặt mũi vẫn như lúc còn sống Chúng sợ quá bèn vội chôn lấp lại Dân địa phương lưu truyền việc ấy, coi là thần linh, lập miếu để thờ, gọi là Sĩ Vương tiên” [76, tr111] Theo những ghi

chép trên thì vào thời Sĩ Nhiếp, Đạo giáo đã xuất hiện ở Giao Chỉ Nho giáođược truyền bá vào Việt Nam gắn liền với hoạt động chính trị của nhà TâyHán: đồng hóa những dân tộc bị chinh phục Song song với việc Hán hóangôn ngữ của người Việt, Nho giáo đã được truyền dạy ở Giao Chỉ Các tôngiáo khi vào nước ta đã có sự kết hợp, dung hòa với nhau và với tín ngưỡngbản địa Sự du nhập của các tôn giáo, sự kết hợp của các tôn giáo và sự kếthợp, dung hòa của tôn giáo với tín ngưỡng bản địa đã được phản ánh trong

Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục Đặc biệt là qua: “Truyện

Man Nương”, “Truyện Nhất Dạ Trạch”, “Truyện Núi Tản Viên”, “Truyện TừĐạo Hạnh và Nguyễn Minh Không”, “Truyện Dương Không Lộ và NguyễnGiác Hải”, Đầu tiên, đi sâu vào phân tích “Truyện Man Nương” Về tên của

sư Già la dồ lê, Ông Nguyễn Duy Hinh cho rằng phiên âm chữ “đồ” là sailầm Chữ Hán này có hai âm đọc là Đồ và Xà Cũng như chữ Hán đầu tiêncũng có hai âm đọc là “Già” và “Cà” Ngày nay đọc đúng là Cà (Già) la xà lê

Xà lê gọi tắt là A xà lê (Acarya) chỉ một trong tam sư hướng dẫn tín đồ mớinhập đạo Thầy A xà lê chuyên dạy giáo lý tức kinh Phật Như vậy, tên Cà la

Trang 22

xà lê chỉ là một danh hiệu Tiếp theo, Nguyễn Duy Hinh phân tích “TruyệnMan Nương” dung hợp bốn loại hình tôn giáo khác nhau: Thứ nhất: Phép tuđứng một chân là một trong những phép tu của tín đồ Kỳ Na giáo Thứ hai:Thạch Quang Phật là sự kết hợp giữa tôn giáo Siva (dạng linga (sinh thực khí)với tục thờ Đá trong thần điện Cây Đa – Hòn Đá cổ truyền của người Việtmang tính phồn thực đã diễn đạt qua hình tượng giao cấu thiêng của một tu sĩ

Ấn Độ với một bà mẹ người Việt Thứ ba, đó là tính ngưỡng Tính Lực pháitrong Siva giáo thuộc Ấn Độ Giáo (Tân Bà La môn giáo) Thứ tư, danh hiệu

Xà lê thì quả nhiên là của Phật Giáo [31,14-16] Trần Quốc Vượng trong cuốn

Cơ sở văn hóa Việt Nam cũng cho rằng: “Phật Thạch Quang theo truyền thuyết là con Man nương và nhà sư Khâu đà la gửi vào cây dâu, cũng là một linga bằng đá” [74, tr 93] Và ông cũng chỉ ra sự dung hòa, kết hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng bản địa trong Truyện Man Nương: “Chế độ mẫu hệ còn để lại ảnh hưởng khá đâm trong đời sống xã hội của cư dân Việt Nam Vì thế, người Việt có truyền thống thờ nữ thần, một đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng cơ dân nông nghiệp Tín ngưỡng thờ nữ thần của người Việt có sức mạnh đến nỗi khi Phật giáo vào Giao Châu đã phải chấp nhận đan xen với

nó Huyền thoại về Man Nương và nhà sư Khâu đà la là chứng tích cho việc đan xen này Bốn ngôi chùa quanh vùng Dâu (nay thuộc huyên Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) thờ các nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện Nói cách khác, đó là bốn hiện tượng tự nhiên được nhân cách hóa thành thần linh và có sự tích hợp với Phật giáo để phát triển và tồn tại” [74, tr.95] Về

thần Sơn Tinh trong “Tản Viên hựu thánh khuông quốc hiển linh ứng vương”

(Việt điện u linh tập) và trong “ Truyện núi Tản Viên” (Lĩnh Nam chích quái lục), ông Nguyễn Duy Hinh cho rằng hình tượng nhân vật Sơn Tinh có sự hội nhập giữa thần núi và vị ẩn sĩ của đạo gia Ông viết: “Đó là lớp hội nhập văn hóa thứ hai: Thần Núi hội nhập với một ẩn sĩ thần thông hiển linh có công

Trang 23

với nước được nhà nước phong kiến thừa nhận phong thần với tước hiệu Đại Vương” [30, tr.385], “So với Việt điện u linh thì Lĩnh Nam chích quái đã đưa

ra họ Nguyễn và đề ra cội nguồn con Lạc Long Quân, đồng thời nói Sơn Tinh biết bí quyết trường sinh của thần tiên Đó là ba điểm mới, hội nhập người ẩn

sĩ với họ Hồng Bàng và Phương Tiên đạo” [30, tr.386] Những truyện về các

nhà sư như: “Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không”, “Truyện DươngKhông Lộ và Nguyễn Giác Hải” đều có dấu vết của Mật tông hoặc Mật giáo,

là một dòng đạo vốn phát sinh từ Ấn Độ trên cơ sở kết hợp giáo lý của Phậtgiáo với những thuật phù chú, mê tín của các đạo sĩ Ấn Độ Sang đến TâyTạng, nó kết hợp với Lạt Ma Giáo Sang Trung Quốc, nó lại kết hợp với Đạogiáo Trong truyện, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Dương Không Lộ,Nguyễn Giác Hải có những những bài kệ thấm nhuần giáo lý của Phật giáonhưng cũng lại có những hành động chẳng khác gì đạo sĩ

Ở phía trên, chúng tôi đã trình bày về các tôn giáo du nhập vào Việt Nam

và sự dung hợp giữa các tôn giáo với một số tín ngưỡng của người Việt: thờmẫu, thờ đá, thờ các vị thần tự nhiên: mây, mưa, sấm chớp Tiếp theo, chúngtôi sẽ trình bày sâu hơn về các tín ngưỡng của người Việt Nhân dân ta tin vàtôn sùng những đấng siêu nhiên, có sức mạnh phi thường mà hiện thân lànhững vị thần đá, cây, sông, núi, sấm, sét,… Vì vậy mà đã lập đền thờ cho các

vị nhiên thần này và dùng nghi lễ để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái các thần.Các nghi lễ ngoài thông điệp bày tỏ sự tôn kính, sùng bái, giao lưu giữa thần

và người, còn để cầu xin các thần phù hộ cho cuộc sống ấm no, thuận hòa,tránh mọi tai ương,… Ngoài ra, dân ta còn tin vào sự tồn tại của linh hồn vàthế giới bên kia Họ tin rằng tổ tiên vẫn sống ở một thế giới khác, vẫn theodõi, chứng giám hành vi hiếu thảo của con cháu và khi cần thì phù hộ cho concháu vượt qua khó khăn, gặp nhiều may mắn Cũng theo một phương hướngsuy nghĩ như vậy, dân ta thờ cúng các anh hùng dân tộc quá cố trong các đền

Trang 24

miếu và tôn họ lên địa vị thần linh Đã là thần linh thì có thể hiển ứng và trợgiúp con người trần thế nếu họ thành tâm cầu cúng Chính vì xuất phát từ

niềm tin vào những điều thiêng liêng nên Lý Tế Xuyên đã soạn sách Việt điện

u linh tập chủ yếu ghi chép về các thần: lai lịch, nguồn gốc, hành trạng, tước

hiệu được triều đình sắc phong với mục đích đề cao các vị thượng đẳng thần

“thông minh, chính trực” để nhân dân và triều đình thờ phụng kính cẩn, tôn nghiêm Nếu như sách Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên chủ yếu ghi chép

về các thần thì sách Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Tế Pháp không chỉ ghi

chép chuyện các thần mà còn nói đến các phong tục của người Việt Có thể

thấy đời sống tinh thần của người Việt hiện lên trong Lĩnh Nam chích quái lục phong phú và đa dạng hơn vì nó đi sâu vào những sinh hoạt của cộng đồng Việt cổ xưa Các phong tục được nhắc đến trong Lĩnh Nam chích quái lục gắn liền với tôn giáo, tín ngưỡng sùng bái, tôn kính các thần và gắn liền

với sinh hoạt cộng đồng (ăn trầu, xăm mình, ma chay,…) “Truyện Họ HồngBàng” có nhắc đến tục xăm mình của người Việt cổ bắt nguồn từ cuộc sốnggắn bó với sông nước Họ xăm mình mô phỏng thủy tộc nhằm tạo sự gần gũi,thân thuộc giữa con người với thủy tộc để cầu mong sự bình an, bội thu khi

đánh bắt hải sản Ngoài ra truyện còn nhắc đến các tập tục cổ xưa khác: “Hồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ gianh làm chiếu, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm (có chỗ viết là uống), lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm, lấy rễ gừng làm muối, cầy bằng dao, trồng bằng lửa Đất sản xuất được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói Cắt tóc ngắn để dễ đi lại trong rừng rú Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết thì giã cối làm lệnh, người lân cận nghe tiếng đến cứu Chưa có trầu cau, việc hôn thú giữa nam nữ lấy gói đất làm đầu, sau đó mới giết trâu dê làm đồ tế lễ, lấy cơm nếp

để nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân” [49, Tr 40- 41] Tục ăn trầu,

Trang 25

cưới xin bằng trầu cau sau này mới xuất hiện và được dân gian nhắc tới trong

câu truyện cổ tích Sự tích trầu, cau và vôi Bắt nguồn từ tình vợ chồng chung

thủy, tình anh em cao cả tục ăn trầu, cưới xin đã đề cao lối sống thủy chung,

có nghĩa, có tình của dân tộc Việt Trong Lĩnh Nam chích quái lục còn nhắc

đến tục thờ cúng tổ tiên bằng bánh chưng, bánh dầy Lễ vật bánh chưng, bánhdầy của Lang Liêu trong truyện “Bánh chưng” còn chuyên chở cả tín ngưỡngtôn sùng vũ trụ Nó thể hiện quan niệm về vũ trụ: trời tròn, đất vuông và tráchnhiệm của con người phải tôn kính thế giới thiêng liêng mà mình được sinh

ra Truyện “Bố Cái đại vương” trong Việt điện u linh tập và “Truyện Họ Hồng Bàng” trong Lĩnh Nam chích quái lục đều nhắc đến tục gọi người đàn ông sinh ra mình là “bố”.

Tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục dân gian là những yếu tố thuộc về đờisống tâm linh và sinh hoạt cộng đồng của người Việt Là những nhà Nho yêunước và có trách nhiệm với cộng đồng, Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp nhậnthấy việc cần phải ghi chép lại những câu chuyện về thần, người và văn hóa đấtViệt để con cháu đời sau hiểu về cội nguồn, văn hóa của dân tộc mình Chínhmục đích cao cả đó đã thôi thúc các ông sưu tập và biên soạn nên hai cuốn sách

có ý nghĩa lịch sử, văn hóa lớn lao như Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục.

1.2.1.2 Văn học dân gian Việt Nam

Văn học dân gian Việt Nam có vai trò rất quan trọng đối với việc ra đời

Việt điện linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục Sau khi đất nước giành độc

lập, ý thức về dân tộc độc lập, khác biệt với Trung Quốc đã thôi thúc các nhàNho tìm về văn học dân gian Văn học dân gian gắn với đời sống tinh thầncủa dân tộc ta hàng bao nhiêu đời chính là nguồn tư liệu quí giá để họ hiểuthêm về lịch sử, xã hội, văn hóa dân tộc Việt Những thần thoại cổ nhất củangười Lạc Việt như thần thoại về Lạc Long Quân đã phản ánh nguồn gốc, các

Trang 26

cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên của dân tộc ta Những thần thoại về các

vị thần núi, thần sông, thần đất, thần nước ở các địa phương phản ánh sựthiêng liêng của đất nước Thần thoại, truyền thuyết về các anh hùng chốnggiặc ngoại xâm như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, TriệuQuang Phục, Phùng Hưng, đã thể hiện ý chí quật cường của dân tộc và chothấy trên đất Việt không chỉ có “địa linh” mà còn có “nhân kiệt” Thấm đượmtrong các thần thoại, truyền thuyết đó là tín ngưỡng chất phác kết hợp vớinhững phong tục, tập quán của dân tộc ta

Với mục đích tạo nên những tác phẩm mang tính dân tộc, khác biệt vớiTrung Quốc, các tác giả Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp đã khai thác đề tài(nguồn gốc dân tộc, các vị anh hùng dân tộc, phong tục, tập quán, sự giao lưugiữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng bản địa…), hình tượng (thần linh (nhiênthần, nhân thần, bán thần), người anh hùng khai sáng cộng đồng, người anhhùng (kể cả nữ anh hùng) có công lao với cộng đồng,…), các môtip từ vănhọc dân gian,… rồi chưng cất, nhào nặn nên những tác phẩm của mình Lý TếXuyên sử dụng những bản thần tích, ngọc phả mà người xưa gọi bằng cái tênchung: Tự điển (sự tích các vị thần linh và phép tắc thể lệ thờ cúng ở miếuđền của Nhà nước phong kiến Ngoài ra ông còn sử dụng thần thoại, truyềnthuyết dân gian lúc đương thời Còn Trần Thế Pháp dựa trên những thầnthoại, truyền thuyết và truyện cổ tích được lưu truyền trong dân gian Nhữngtruyện mà Trần Thế Pháp sử dụng có truyện xuất hiện rất sớm, đó là các

truyện thần thoại từ thời thái cổ như “Truyện Họ Hồng Bàng”, “Truyện Tản Viên”, “Truyện Đổng Thiên Vương”,… lại có những truyện cổ thời Bắc

thuộc như “Truyện Giếng Việt”, “Truyện Nam Chiếu,… thời Lý Trần như

“Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không”, “Truyện Hà Ô Lôi”,… Cáctruyện đó gắn với nguồn gốc dân tộc như “Truyện Họ Hồng Bàng”, “TruyệnNgư Tinh”, “Truyện Hồ Tinh”, “Truyện Mộc Tinh” hoặc là có liên quan với

Trang 27

những phong tục tập quán lâu đời của dân tộc như “Truyện Bánh Chưng”,

“Truyện Cây Cau”, liên quan với những di tích văn hóa cổ đại của dân tộcnhư truyện “Rùa vàng” thì gắn với thành Cổ Loa, “Truyện Hai vị thần LongNhãn, Như Nguyệt” thì gắn với 290 ngôi đền ở ven bờ sông Cầu và sôngThương, hoặc liên quan với những nhân vật lịch sử như “Truyện Hai bàTrưng”, “Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không”,… Những truyện

trong Lĩnh Nam chích quái lục được chưng cất từ văn học dân gian nên đã

được truyền tụng rất rộng rãi và gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần của

đông đảo tầng lớp nhân dân Đọc Lĩnh Nam chích quái lục, Vũ Quỳnh đã phải thốt lên: “Than ôi! Lĩnh Nam liệt truyện sao không khắc vào đá, viết vào tre

mà chỉ truyền tụng ở ngoài bia miệng Từ đứa trẻ đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều truyền tụng và yêu dấu, lấy đó làm răn tất là có quan hệ đến cương thường, phong hóa,”

[49, tr.31-32]

Như vậy, Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục được xây dựng

dựa trên chất liệu dân gian nên đã mang trong mình những dấu ấn nội dung,

tư tưởng, nghệ thuật, văn hóa dân gian

1.2.2 Văn học kì ảo Trung Quốc

Ở giai đoạn đầu của văn xuôi trung đại Việt Nam, văn học Trung Quốc

có ảnh hưởng rất lớn Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục không

nằm ngoài sự ảnh hưởng đó Cả hai tác phẩm về cơ bản đều viết theo thể loạichí quái - thể loại văn học vốn đã xuất hiện ở Trung Quốc từ rất sớm Một sốnhà nghiên cứu cho rằng tiểu thuyết chí quái ở Trung Quốc có thể đã xuấthiện từ thời chiến quốc Vào cuối thời Hán, các thuyết thần tiên phương thuậtthịnh hành, hai tôn giáo Phật và Đạo được truyền bá rộng rãi, tạo nên thóiquen kể chuyện quỷ thần ma quái, do đó xuất hiện nhiều tiểu thuyết chí quái.Đến Lục triều truyện chí quái phát triển rất mạnh mẽ Tiểu thuyết chí quái

Trang 28

thời kì này có mối liên hệ mật thiết với thần thoại và truyền thuyết dân gian.

Trần Lê Bảo nhận định: “Với tư cách là cội nguồn của văn học dân tộc, thần thoại ảnh hưởng hết sức sâu rộng đối với tiểu thuyết Trung Quốc Những câu chuyện về các vị thần có tình tiết đơn giản, những hình tượng đầy thơ mộng

về các vị thần đã chuẩn bị hoài thai cho tiểu thuyết sau này Cho dù thời đại thần thoại đã lùi vào dĩ vãng thì những mô tip của nó, những quan niệm của

nó vẫn sống mãi Rất nhiều quan niệm như: quan niệm biến hình (thần thoại biến hình), quan niệm thần quái (thần kỳ hình người và thú), quan niệm linh hồn, quan niệm phục sinh, rồi thủ pháp tượng trưng, không khí thần thoại được các nhà tiểu thuyết vận dụng sáng tạo, nhuần nhuyễn trong tác phẩm của mình Có thể nói, tiểu thuyết cổ đại Trung Quốc là con đẻ của thần thoại Tiểu thuyết chí quái thời Ngụy – Tấn đầy những thần tiên, ma quái, Phật pháp linh dị…” [3, tr.125] Nội dung tiểu thuyết chí quái Trung Quốc rất rộng

và phức tạp: Bác vật chí (Trương Hoa) ghi nhiều vật lạ các nơi, chim thú kì

quái, quí hiếm và cây cỏ, côn trùng, cũng có một số chuyện thần tiên tướng

số, Sưu thần kí (Can Bảo) tập hợp những sự việc li kì từ đời Tấn trở lại, bảo tồn được một số các truyền thuyết, thần thoại đẹp của Trung Hoa như Đổng Vĩnh, Vợ Hàn Bằng,…, Oan hồn chí (Nhan Chi Thôi) chuyên ghi chép về các oan hồn, Minh tường kí (Vương Viêm), U minh lục (Lưu Nghĩa Khánh)

chuyên tuyên truyền cho uy linh của kinh kệ tượng Phật và cái hay của việc

ăn chay niệm Phật Ngoài ra còn có: Chí quái của Tổ Đài Chi, Chí quái kí của Thực Thị, Khổng thị chí quái của Khổng Ước, Liệt dị truyện của Tào Phi, Sưu thần hậu kí của Đào Tiềm,… Bằng rất nhiều những con đường và qua những

kênh giao lưu khác nhau (các chuyến đi sứ; mua sách, tặng biếu sách, nhânbản sách, những luồng người nhập cư,….) những tác phẩm văn học kì ảoTrung Quốc đã được truyền vào Việt Nam và được đông đảo người Việt đónnhận Việc tiếp xúc với các tác phẩm chí quái của Trung Quốc cùng với ảnh

Trang 29

hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng bản địa, văn học dân gian đã hình thành nên

xu hướng viết về những chuyện lạ, li kì của các tác giả Việt Nam

Tuy viết theo thể loại chí quái của Trung Quốc nhưng chí quái Việt Namcũng có nhiều điểm khác biệt so với chí quái ở nơi khởi sinh Các truyện chí

quái trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục được kể rất chi tiết, tỉ

mỉ không ngắn gọn, thô ráp như chí quái Lục triều Cái quái trong Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục không phải là cái ma quái, rùng rợn, ám ảnh

như trong tiểu thuyết chí quái Trung Quốc mà nó là những điều quái lạ gắn liền

với những câu chuyện về nguồn gốc dân tộc, những câu chuyện“có quan hệ đến cương thường và phong hóa” với mục đích đề cao những giá trị thiêng liêng của dân tộc:“khuyến thiện, trừng ác, bỏ ngụy theo chân.”

Một điều đáng chú ý là Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục

ra đời vào thời Trần, khi mà ở Trung Quốc truyện truyền kì đã đạt đến đỉnh

cao từ thời Đường Nhưng viết Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục Lí Tế Xuyên và Trần Thế Pháp lại lựa chọn viết theo lối chí quái Nhà nghiên cứu Vũ Thanh giải thích: “Tại sao trong giai đoạn đầu phát triển của mình, truyện kì ảo Việt Nam lại không lập tức tiếp thu truyền kì Đường Tống – giai đoạn đỉnh cao của truyện truyền kì Trung Quốc, mà lại phải đi con đường mòn mà văn học Trung Quốc đã trải qua, bắt đầu từ u linh, chí quái?

Rõ ràng ở đây có vấn đề tiếp nhận, nhu cầu tiếp nhận Cái mới, cái lạ cần phải có một cơ sở nhất định, một môi trường văn hóa thuận lợi để nảy nở và phát triển Văn xuôi tự sự Việt Nam mới bắt đầu phát triển, văn học dân gian bản địa và nền móng văn hóa bản địa vẫn còn đậm nét, tính tự sự của nền văn xuôi non trẻ này còn chưa phát triển, trong khi lối tư duy ảnh hưởng của văn hóa dân gian, đặc biệt của thần thoại, cổ tích thần kì còn rất mạnh, vì vậy việc tiếp thu cũng mới chỉ dừng lại ở mức chí quái vừa mới thoát thai từ thần thoại, truyền thuyết, dã sử,…mà chưa vươn tới cấp độ truyền kì, chí dị.”

Trang 30

[73, tr.771] Ở giai đoạn đầu của văn xuôi Việt Nam, các tác giả phần nhiềudựa vào chất liệu văn học dân gian để trưởng thành nên lối viết chí quái làphù hợp hơn so với việc sáng tạo truyện truyền kì Vì ra đời sau khi truyệntruyền kì Đường – Tống của Trung Quốc đã rất phát triển nên các tác giả chíquái Việt Nam ít nhiều chịu ảnh hưởng của lối viết truyền kì trong sáng tác

của mình Hơi hướng truyền kì được thể hiện rõ nét trong Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp hơn là Việt điện u linh tập của Lí Tế Xuyên Truyện Hà Ô Lôi là truyện tiêu biểu nhất mà ở đó người ta thấy dường như

sáng tác của Trần Thế Pháp không chỉ dừng lại ở chí quái nữa mà nó đã bướcsang ranh giới của truyện truyền kì Ở Trung Quốc, đời Thanh có tác phẩm

Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh là sự kết hợp uyển chuyển, linh hoạt,

nhuần nhị đầy tính nghệ thuật giữa thể loại chí quái Lục triều và truyền kì đời

Đường Có lẽ vì “sinh sau đẻ muộn” nên những tác giả chí quái Việt Nam có

cơ hội được tiếp thu một cách có chọn lọc những thể loại văn học kì ảo đãphát triển cực thịnh ở Trung Quốc trước đó

Ngoài sử dụng thể loại chí quái của văn học Trung Quốc, Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục còn ảnh hưởng của văn học kì ảo Trung

Quốc các motip: con người lên sống ở thế giới thần tiên, rùa giúp người xâythành, đầu thai kiếp khác, Ngay cả xu hướng thẩm mĩ kì và thực đan quyệnvào nhau, lấy cái kì để nói cái thực, dùng cái thực để nâng cái kì cũng là ảnhhưởng từ truyện truyền kì Trung Quốc

1.2.3 Văn xuôi lịch sử Việt Nam và Trung Quốc

“ Cũng như văn học dân gian, văn xuôi lịch sử (bao gồm sử ký, biên niên sử, truyện lịch sử, sử liệu, dã sử,…) cũng là một trong những nguồn gốc quan trọng hình thành nên truyện kì ảo trung đại trong giai đoạn đầu phát triển (…) Chính những tác phẩm sử học, trong đó có chứa đựng những câu chuyện, hình ảnh, mô típ giàu tính nghệ thuật đã đóng vai trò như một trong

Trang 31

những hình mẫu dễ bắt chước của các nhà viết truyện (…) Các nhà văn ở thời kì đầu, trong nhiều trường hợp, xuất hiện như một nhà viết sử, cố gắng tạo cho tác phẩm của mình tính chân thực và nghiêm túc của sử học bằng cách trích dẫn hoặc lấy tư liệu cho tác phẩm của mình từ các nguồn sử liệu

có sẵn, coi tác phẩm của mình như một sự bổ sung thiết yếu cho tác phẩm sử học” [73, tr 790 – 791] Lý Tế Xuyên là một trường hợp tiêu biểu cho điều

đó Ông giữ chức Thủ đại tạng thư, Hỏa chính trưởng (chức quan đứng đầuNội mật viện, phụ trách kho tài liệu sách vở lưu trữ của Nhà nước, coi giữviệc tế lễ, tham gia quản lí bách thần) Chức vụ này đã giúp ông có cơ hộiđược tiếp xúc với nhiều tài liệu sử học để lấy tư liệu viết tác phẩm của mình

Trong Việt điện u linh tập ở đầu mỗi truyện tác giả thường nêu rõ tên nguồn

tài liệu mà mình sử dụng Đó là những sách do người Trung Hoa viết như

Giao chỉ ký của Triệu Công được viết vào thế kỷ IX, Giao Châu ký của Tăng Cổn, thế kỉ IX – X Hay những tài liệu do người Việt biên soạn như: Báo cực truyện, Bản truyện, Đại Việt ngoại sử hay cuốn Sử ký (Đỗ Thiện) Ngoài ra ở một số truyện tác giả ghi là “theo Sử ký” nhưng hiện giờ chưa xác định được

Sử ký mà tác giả nói tới ở đây là cuốn sách nào? Của ai? Một điều đáng tiếc là

những tài liệu lịch sử mà Lý Tế Xuyên sử dụng ngày nay đã hầu hết bị thất

lạc nên chúng ta không thể so sánh, đối chiếu với Việt điện u linh tập Chỉ

thấy rõ ràng là khi viết thần tích về các thần Lý Tế Xuyên đã ý thức được việcphải đưa ra các tư liệu xác thực về nguồn gốc, hành trạng của các thần và tướchiệu được gia phong của các thần sau khi qua đời Những dẫn chứng từ lịch

sử sẽ củng cố thêm niềm tin của con người với các thần và đồng thời làm tăngthêm tính chất cao quí, tôn nghiêm của các vị chính thần để phân biệt với dâmthần, tà thần đồng thời bổ sung những tư liệu về các nhân vật lịch sử cho

những tác phẩm sử học Đến Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp thì

lượng trích dẫn sử liệu đã bớt đi khá nhiều so với tác phẩm của Lý Tế Xuyên

Trang 32

nhưng ảnh hưởng của sử kí vẫn còn khá đậm nét Lĩnh Nam chích quái lục chỉ nhắc đến tên các tài liệu lịch sử (Sử ký (chưa rõ của ai), Giao Châu ký của Lỗ

Công ) ở hai truyện “Truyện Hai bà trinh linh phu nhân họ Trưng”, “Truyệnnúi Tản Viên” nhưng phảng phất trong những truyện của tác phẩm này vẫn cóyếu tố lịch sử đó là tên các nhân vật, thời gian, địa điểm và sự kiện lịch sử,…Như vậy, văn xuôi lịch sử là nguồn tài liệu phong phú, đa dạng cho các

tác giả Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp khai thác để tạo nên hai tập truyện Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái lục.

1.3 Sơ lược về tác giả, văn bản Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái lục 1.3.1 Sơ lược về tác giả, văn bản Việt điện u linh tập

Việt điện u linh tập do Lý Tế Xuyên biên soạn hồi đầu thế kỉ thứ XIV,

bài tựa cuốn sách viết vào năm 1329 (niên hiệu Khai Hựu thứ nhất, đời TrầnHiến Tông)

Về tiểu sử Lý Tế Xuyên, chúng ta không biết gì nhiều hơn lời ghi ở cuối

bài tựa: “Thủ Đại tạng thư, Hỏa chính trưởng, Trung phẩm phụng sứ, An Tiêm lộ chuyển vận sứ” [76, tr.31] Theo như lời ghi có lẽ Lý Tế Xuyên giữ

chức Thủ Đại tạng thư Hỏa chính trưởng (chức quan đứng đầu Nội mật viện,phụ trách kho tài liệu sách vở lưu trữ của Nhà nước, coi giữ việc tế lễ, thamgia quản lý bách thần), chức An Tiêm Chuyển vận sứ (chức quan nắm việcvận tải thủy bộ, lương gạo, tiền tệ, hóa vật một vùng) Có lẽ nhân làm nhiệm

vụ coi giữ việc tế lễ, tham qua quản lí các thần mà Lý Tế Xuyên đã viết rasách này

Ngoài Lý Tế Xuyên ra còn một số tên tuổi gắn với Việt điện u linh tập

nữa như Nguyễn Văn Chất, Ngô Giáp Đậu,… Khoảng những năm 1450 đến

1466 Nguyễn Văn Chất viết phần Tục biên Năm 1513, Phủ Doãn Tiến CốcHiên Tiên là Lê Tư Chi viết phụ lục, Lê Thuần Phủ viết bài Bạt năm 1712.Đầu thế kỉ XIX thủ khoa Hương Cống năm 1807 là Cao Huy Diệu viết Bổ

Trang 33

chú và Tiếm bình Năm 1919, Ngô Giáp Đậu viết Trùng Bổ và Bạt Trùng bổ.

Vấn đề văn bản Việt điện u Linh tập rất phức tạp Hiện nay, còn khoảng chục bản Việt điện u linh tập được lưu giữ ở Thư viện Nghiên cứu Hán Nôm,

Thư viên Khoa học Các văn bản này lại không đồng nhất nên việc xác địnhvăn bản gốc do Lý Tế Xuyên soạn là một công việc rất khó với chúng ta Tuynhiên, việc tìm được những văn bản đáng tin cậy và gần với sáng tác củaLýTế Xuyên nhất là một việc làm cần thiết Trong những bản được lưu giữhiện nay, bản A 751 lưu giữ tại Thư viện Khoa học xã hội đã được nhiều dịchgiả chọn dịch, mà trong đó có dịch giả Trịnh Đình Rư (sau này Đinh GiaKhánh đã chỉnh sửa và bổ sung thêm cho bản dịch của Trịnh Đình Rư) BảnA.1919 lưu giữ tại Viện Hán Nôm được nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Nadịch, bản A.47 lưu trữ lại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, D-X-3-9 ởNhật Bản và SA.HM.2919 tại Pháp là những bản được giới nghiên cứu đánhgiá là gần với nguyên tác của Lý Tế Xuyên nhất Đinh Gia Khánh khi so sánhtám bản chép tay hiện thấy ở Thư viện Khoa học: A 751; A.1919; A 2879;A.47; A.335; VHv.1285 (bản của Hội Khai Trí Tiến Đức), VHv.1285 (bảnthứ hai cùng ký hiệu thư viện với bản của Hội Khai Trí Tiến Đức); VHv

1503 thì thấy số truyện nhiều, ít không giống nhau, trình tự trên dưới cũngkhác nhau Tuy nhiên, xét năm trong số tám bản ấy là các bản A 751;A.1919;A 2879; A.47 và VHv 1285 (bản của Hội Khai Trí Tiến Đức) thìthấy bên cạnh một số nét khác biệt thì số truyện và trình tự các truyện tươngđối giống nhau Theo năm bản ấy thì phần gọi là do Lý Tế Xuyên viết gồm 27truyện, sắp xếp như sau: 6 truyện về Lịch đại nhân quân (Sĩ Nhiếp, PhùngHưng, Triệu Quang Phục và Lý Phật tử, Xã tắc đế quân, Hai Bà Trưng, MỵÊ); 11 truyện về Lịch đại phụ thần (Lý Hoảng, Lý Ông Trọng, Lý ThườngKiệt, Tô Lịch, Phạm Cự Lưỡng, Lê Phụng Hiểu, Mục Thận, Trương HốngTrương Hát, Lý Phục Man, Lý Đô úy, Cao Lỗ) và 10 truyện về Hạo khí anh

Trang 34

linh (thần địa kỳ nước Nam, thần núi Đồng cổ ở Thanh Hóa, thần Long đỗ ở

Hà Nội, thần thổ địa thôn An viễn ở Hà Nội, thần thổ địa làng Dóng ở Hà Nội,thần thổ địa thôn An viễn ở Sơn Tây, thần thổ địa Đằng Châu, thần Thổ lệnhBạch hạc ở Vĩnh yên, phúc thần quán Thủ quốc, Hỏa long tinh quân ở HồngChâu) Con số 27 truyện gần đúng với con số mà Phan Huy Chú nêu lên trong

sách Lịch triều hiến chương loại chí:“Tập này chép những đế vương và bề tôi các đời, những người có tiếng anh linh, gồm 28 truyện” [16, tr.45].

Sau đây, sẽ liệt kê các truyện trong Việt điện u linh tập đã được Trịnh

Đình Rư – Đinh Gia Khánh giới thiệu:

1 Bố Cái đại vương

2 Triệu Việt Vương và Lý Nam đế

3 Thiên tổ địa chủ xã tắc đế quân

4 Nhị Trưng phu nhân

5 Hiệp chính Hựu thiện Trinh liệt Châu mãnh phu phân

6 Uy minh Dũng liệt Hiển trung Tá thánh Phu hiển Đại vương

7 Hiệu úy Uy mãnh Anh liệt Phu tín đại vương

8 Thái úy Trung phụ Dũng Vũ uy Thắng công

9 Bảo quốc Trấn linh Định bang, Quốc đô Thành hoàng đại vương

10 Hồng thánh Trung vũ Tá trị đại vương

11 Đô thống Khuông quốc Tá thánh vương

12 Thái úy Trung tuệ Vũ lượng công

13 Khước địch Thiện hựu, Trợ thuận đại Vương Uy địch dũng cảm, Hiển thắng đại vương

14 Chứng an Minh ứng Hựu quốc công

15 Hồi thiên Trung liệt Uy vũ trợ thuận Vương

16 Quả nghị Cương chính Uy huệ Vương

17 Ứng thiên hóa dục Nguyên trung Hậu thổ địa kỳ nguyên quân

Trang 35

18 Minh chủ Linh ứng Chiêu cảm Bảo hựu đại vương

19 Quảng lợi Thánh hựu uy Tế phu ứng đại vương

20 Khai nguyên Uy hiển Long trứ Trung vũ đại vương

21 Xung thiên Dũng liệt Chiêu ứng Uy tín đại vương

22.Tản viên Hựu thánh Khuông quốc Hiển ứng Vương

23 Khai thiên trấn quốc Trung Phụ Tá dực đại vương

24.Trung dực Vũ phụ Uy hiển Vương

25 Thiện hộ Linh ứng Chương vũ quốc công

26 Lợi tế Linh thông Huệ tín Vương

27 Gia ứng Thiện cảm Lĩnh vũ đại vương (Theo dịch giả Đinh Gia Khánh truyện này vốn ở đầu Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên,

nhưng tác giả đã cho xuống phần phụ lục vì xét rằng Sĩ Nhiếp khôngphải nhân vật nước ta và cũng không đáng đề cao)

1.3.2 Sơ lược về tác giả, văn bản Lĩnh Nam chích quái lục

Cũng như một số tác phẩm văn học cổ khác Lĩnh Nam chích quái lục

được truyền đến ngày nay không thể tránh khỏi tình trạng “tam sao thất bản”.Việc xác định tác giả của cuốn sách này dựa trên những tài liệu hiện có là mộtviệc làm rất khó với chúng ta

Những tên tuổi thường hay được nhắc đến cùng với Lĩnh Nam chích quái là Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh và Kiều Phú.

Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quí Đôn viết về Lĩnh Nam chích quái có đoạn như sau: “Sách Lĩnh Nam chích quái, tục truyền do Trần Thế Pháp viết, sách Thiếu vi nam bản cũng nói vậy Chúng ta không rõ Thế Pháp người ở

đâu Hiện nay chỉ thấy được bài nói đầu của Vũ Quỳnh,…” [21, tr243] Căn

cứ vào ý kiến này hình như Trần Thế Pháp là tác giả của Lĩnh Nam chích quái lục Ngoài ra, nhà sử học, nhà thơ Đặng Minh Khiêm trong bài Tựa ở sách Vịnh sử thi tập của ông đề vào mùa xuân năm Quang Thiệu thứ 5 (1520) cũng

Trang 36

có nhắc tới Trần Thế Pháp và Lĩnh Nam chích quái lục:“ Vào khoảng năm Hồng Thuận, tôi vào sử quán, trộm có ý thuật lại chuyện xưa, hiềm vì sách chứa trong Bí thư qua nhiều cơn binh hỏa, đa phần mất mát Chỉ còn thấy có sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký của Phan Phu Tiên, Việt điện u linh tập lục của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp mà thôi…”

Hiện nay, những gì chúng ta biết về Trần Thế Pháp là rất hạn chế, căn cứvào một số bản chép tay chúng ta biết thêm được rằng Trần Thế Pháp có hiệu

là Thức Chi, quê ở Thạch Thất, Sơn Tây

Vũ Quỳnh tự là Thủ Phác, hiệu Đốc Trai, lại có hiệu khác là Yến Xươngngười làng Mộ Trạch, huyện Đường An, Hải Dương Ông sinh năm 1453, đậutiến sĩ năm 26 tuổi (niên hiệu Hồng Đức thứ 9, 1478) làm quan đến Lễ bộthượng thư Ở cương vị Lễ bộ Thượng thư và là một học giả tinh thông, cầnmẫn lại là người có ý thức xây dựng nền văn hiến dân tộc, được phục hưng từthời Đinh, Tiền Lê và triển khai mạnh mẽ từ thời Hậu Lê, trong cuộc đời của

mình Vũ Quỳnh đã soạn nhiều công trình có giá trị: bộ sử Việt giám thông khảo, tập thơ Tố Cầm, tập truyện Tân Đính Lĩnh Nam chích quái, sách Đại thành toán Pháp.

Hiện nay, có hay không sự hợp tác giữa Trần Thế Pháp và Vũ Quỳnh

trong việc viết Lĩnh Nam chích quái vẫn là một câu hỏi ngỏ Tuy nhiên, nhiều

nhà nghiên cứu nghiêng về ý kiến cho rằng Trần Thế Pháp là người biên soạn

bản Lĩnh Nam chích quái trước và sau đó Vũ Quỳnh dựa vào đó để viết ra một tập truyện khác với cái tên Tân đính Lĩnh Nam chích quái Tập Tân đính Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh dày hơn, có thêm nhiều truyện hơn so với Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp Các chuyện được kể hết sức

độc đáo và sáng tạo, li kì, hấp dẫn, kích thích trí tưởng tượng của người đọc

Kiều Phú sống đồng thời với Vũ Quỳnh, ông đã tiếp xúc với bản Lĩnh

Trang 37

Nam chích quái có trước đó và biên soạn, chỉnh lí lại theo ý mình Trong bài hậu tự sách Lĩnh Nam chích quái (mùa xuân năm Hồng Đức thứ 23 -1492) Tác giả viết: “…cho nên, kẻ ngu này tham khảo thêm sách khác thêm ý riêng cho mình chữa lại cho đúng, biện chính những điều sai lầm của thưở trước, cho khỏi tiếng chê cười của đời sau, lại gọt bớt chỗ rườm rà theo chỗ giản dị

để sách tiện mang cất, coi xem,…” [50, tr.19] Như vậy, sách Lĩnh Nam chích quái của Kiều Phú đã chỉnh sửa, gọt bớt đi nhiều của sách Lĩnh Nam chích quái cổ.

Sau thế kỉ thứ XV, sau Vũ Quỳnh và Kiều Phú, sách Lĩnh Nam chích quái lại bị sửa chữa thêm bớt nhiều lần Theo như bài tự của Vũ Quỳnh thì

ông sắp xếp những chuyện cũ thành hai quyển Sang đời Mạc, một nhà nho họĐoàn lại thêm quyển thứ ba nữa Sang thế kỉ thứ XVIII, Vũ Khâm Lân cũng

tham gia vào việc thêm truyện mới cho Lĩnh Nam chích quái Chắc chắn rằng

từ thế kỷ thứ XVI đến thế kỉ thứ XIX, còn nhiều nhà nho khác mà ta khôngbiết tên dần dần chép thêm những chuyện mới vào sau những truyện mà

người trước đã chép Vì vậy có những tên như Lĩnh Nam chích quái liệt truyện khảo chính, Lĩnh Nam chích quái tiếm đính, có những phần tục bổ, tục biên ở cuối nhiều bản Lĩnh Nam chích quái.

Về số lượng và các truyện trong bản Lĩnh Nam chích quái cổ được cho là

của Trần Thế Pháp cũng là một câu hỏi cần giải đáp Nhà nghiên cứu Đinh

Gia Khánh đã căn cứ vào 9 bản Lĩnh Nam chích quái khác nhau, mỗi bản

chép một số truyện không giống hẳn với các bản khác và thấy rằng bản ít nhấtchép 22 truyện, bản nhiều nhất chép đến 42 truyện Tổng số các truyện đượcchép lên đến 76 truyện khác nhau Trong số 76 truyện đó chỉ có một số

truyện do Vũ Quỳnh, Kiều Phú sưu tập Theo Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí (quyển 45) nguyên bản của Vũ Quỳnh – Kiều Phú

gồm 22 truyện, tập hợp trong hai quyển, còn một quyển thứ ba có lẽ thêm về

Trang 38

sau thì gồm 19 truyện [16, tr.52] Và căn cứ vào bài tự của Vũ Quỳnh và bàihậu tự của Kiều Phú thì có lẽ con số 22 truyện là gần đúng Trong bài tự củamình, Vũ Quỳnh có nhắc đến từng truyện với ý nghĩa của nó Các truyện ông

kể ra là: “Họ Hồng Bàng”, “Dạ Thoa”, “Bạch Trĩ”, “Rùa vàng”,” Cây cau”,

“Dưa hấu”, “Bánh chưng”, “Hà Ô Lôi”, “Đổng Thiên Vương”, “Lý Ông Trọng”,

“Nhất Dạ Trạch”, “Giếng Việt”, “Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không”,

“Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải”, “Ngư Tinh”, “Hồ Tinh”, “Hai BàTrưng”, “Thần núi Tản Viên”, “Nam chiếu”, “Man Nương”, “Tô Lịch”, “Mộctinh” Trong bài Hậu tự, Kiều Phú cũng nêu lên từng truyện với ý nghĩa của nó.Các truyện ông kể đến là: “Họ Hồng Bàng”, “Nam Chiếu”, “Tô Lịch”, “Rùavàng”, “Ngư tinh”, “Hồ tinh”, “Mộc tinh”, “Bánh chưng”, “Long Nhãn”, “Bạchtrĩ”, “Đổng Thiên Vương”, “Lý Ông Trọng”, “Dưa hấu”, “Cây cau”, “Nhất DạTrạch”, “Giếng Việt”, “Hà Ô Lôi”, “Dạ Thoa”, “Thần núi Tản Viên”, “ManNương”, “Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không”, “Dương Không Lộ và

Nguyễn Giác Hải” Thứ tự mà Kiều Phú theo không giống như thứ tự mà Vũ

Quỳnh đã theo nhưng số truyện đều là 22 truyện cả và các truyện kể ra gần nhưgiống nhau chỉ có truyện “Bánh Trưng” là không có trong bài hậu tự của KiềuPhú, truyện “Long Nhãn” có trong bài hậu tự của Kiều Phú nhưng lại không cótrong bài tự của Vũ Quỳnh Như vậy con số lệch nhau giữa tập của Vũ Quỳnh

và Kiều Phú là một truyện Vậy đem tổng số truyện mà hai ông nhắc đến ta có

23 truyện Ông Đinh Gia Khánh đã nghiên cứu 9 bản Lĩnh Nam chích quái

khác nhau và thấy rằng 23 truyện nói trên được chép trong hầu hết các bản

Điều đó chứng tỏ rằng 23 truyện trên là phần cốt lõi của tập Lĩnh Nam chích quái

cổ Chính vì vậy người chép 9 bản trên mới giữ nguyên phần lõi đó rồi mới thêmcác truyện khác vào Con số các truyện chép thêm từ 9 bản này đã lên tới 50

truyện Trong số đó có nhiều truyện lấy từ sách Việt điện u linh tập đã nói ở trên Trải qua quá trình sàng lọc và cố gắng đưa ra một bản Lĩnh Nam chích

Trang 39

quái gần với nguyên văn của Vũ Quỳnh và Kiều Phú, gần với những cốt lõi của bản Lĩnh Nam chích quái cổ nhất cuối cùng Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San đã công bố một bản dịch Lĩnh Nam chích quái có giá trị, là tài liệu

có cơ sở để các nhà nghiên cứu có thể dựa vào Các ông chọn bản A.33 đượclưu trữ tại thư viện khoa học xã hội là bản chính để dịch Bản này cũng chia

Lĩnh Nam chích quái ra làm hai quyển thượng và hạ như Vũ Quỳnh đã viết

trong bài tự và số truyện cũng phù hợp với số truyện mà Vũ Quỳnh và Kiều

Phú nêu ra, chỉ có thiếu truyện Dạ Thoa và đã được các dịch giả lấy ở một

bản khác (số sách A.750, Thư viện khoa học) Bản A.33 là bản tương đối cổ,chép vào năm Chính Hòa thứ 16, tức năm 1695 đời Lê Hy Tông (ở tờ đầu cóghi: Chính Hòa thập lục tuế, tại Đinh Sửu, trọng đông, cốc nhật) Ngoài bảndịch có từ lâu của Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San thì bản dịch gần đâycủa Nguyễn Đăng Na cũng là bản dịch đáng tin cậy Nguyễn Đăng Na đã dịch

từ bản HV.486 hiện lưu trữ tại viện Sử học, theo ông đây là bản chưa bị KiềuPhú sửa đổi Hiện nay, chúng tôi mới chỉ được tiếp xúc với một số truyện của

Lĩnh Nam chích quái do Nguyễn Đăng Na dịch, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (tập 1)

Điểm qua tình hình tác giả và văn bản ở trên thì thấy rằng Trần Thế Pháp

là người đầu tiên sáng tạo ra Lĩnh Nam chích quái (hoặc ít nhất ông cũng được tiếp xúc với bản Lĩnh Nam chích quái của các nhà Nho trước đó và biên

soạn lại) Có nhiều chứng cứ cho ta thấy các nhà Nho đời sau như Vũ Quỳnh,

Kiều Phú đều dựa vào bản Lĩnh Nam chích quái cổ của Trần Thế Pháp để sáng tạo ra tác phẩm của mình Công lao của Trần Thế Pháp đối với Lĩnh Nam chích quái là điều không thể phủ định Và công lao biên soạn, lưu giữ lại Lĩnh Nam chích quái cổ của Vũ Quỳnh và Kiều Phú đều rất đáng được ghi nhận Đặc biệt tập Tân đính Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh là một sáng

tạo nghệ thuật vượt bậc của một cây bút hết sức tài hoa

Trang 40

Trong tình hình tài liệu hiện nay, việc tìm ra bản Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp là rất khó Phần lớn những bản lưu giữ hiện nay có thể

là do người đời sau chép lại từ bản của Vũ Quỳnh và Kiều Phú Tuy nhiên,bằng tất cả những nỗ lực, các dịch giả đã cố gắng tiếp cận với những văn bản

có cơ sở và đáng tin cậy, gần với nguyên tác của Trần Thế Pháp nhất

Dưới đây là các truyện do Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San giới thiệutrong bản dịch của mình:

14 Truyện Hai bà Trinh linh phu nhân họ Trưng

15 Truyện Man Nương

16 Truyện Nam Chiếu

17 Truyện sông Tô Lịch

18 Truyện núi Tản Viên

Ngày đăng: 27/12/2017, 21:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (2003), Quan niệm về thần và việc văn bản hoá truyền thuyết trong truyện văn xuôi trung đại, Tạp chí Văn học (số 30), tr. 35- 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2003
2. Trần Thị An (2014), Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyếtdân gian Việt Nam
Tác giả: Trần Thị An
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2014
3. Trần Lê Bảo (2011), Giải mã văn học từ mã văn hóa, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã văn học từ mã văn hóa
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2011
4. Benac Henri (2005), Dẫn giải ý tưởng văn chương (Nguyễn Thế Công dịch), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn giải ý tưởng văn chương
Tác giả: Benac Henri
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
5. Cadière L. (1997) Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt (Đỗ Trinh Huệ dịch), Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
6. Nguyễn Đổng Chi (1956), Lược thảo về thần thoại Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược thảo về thần thoại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nhà xuấtbản Văn Sử Địa
Năm: 1956
7. Nguyễn Đổng Chi (1958), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Quyển 2, Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Sử Địa
Năm: 1958
8. Nguyễn Đổng Chi (1961), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nhà xuấtbản Sử học
Năm: 1961
9. Nguyễn Huệ Chi (1992), Con đường giao tiếp của văn học cổ trung đại nhìn trong mối quan hệ khu vực, Tạp chí Văn học (số 1), tr.13 -23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1992
10. Nguyễn Huệ Chi (2009), Truyện truyền kì Việt Nam, Quyển 2, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo dục
Năm: 2009
11. Nguyễn Huệ Chi (2009), Truyện truyền kì Việt Nam, Quyển 3, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo dục
Năm: 2009
12. Nguyễn Huệ Chi (2013) Văn học cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn vănhóa đến các mã nghệ thuật
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
13. Đào Phương Chi (2007), Nghiên cứu văn bản Việt điện u linh tập và quá trình dịch chuyển văn bản, Luận án tiến sĩ Hán Nôm, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn bản Việt điện u linh tập và quátrình dịch chuyển văn bản
Tác giả: Đào Phương Chi
Năm: 2007
14. Nguyễn Đình Chú (1980), Để tiến tới xác định rõ ràng hơn nữa vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc, Tạp chí Văn học (số 5), tr.86-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vănhọc
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1980
15. Nguyễn Đình Chú (2012), Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết trong lịch sử văn học dân tộc, Nguyễn Đình Chú tuyển tập, Tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Chú tuyển tập
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2012
16. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí (Ngô Hữu Tạo dịch), Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nhà xuất bản Sử học
Năm: 1960
17. Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian – Mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian – Mấy vấn đề phương phápluận và nghiên cứu thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
18. Nguyễn Tấn Đắc (2001), Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Nhàxuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2001
19. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2007), Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp – chân dung, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp –chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
20. Cao Huy Đỉnh (1969), Người anh hùng làng Dóng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người anh hùng làng Dóng
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoahọc xã hội
Năm: 1969

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w