1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị nhân đạo trong tiểu thuyết những người khốn khổ của victo huygô

63 12,4K 79
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị nhân đạo trong tiểu thuyết Những Người Khốn Khổ của Victor Hugo
Người hướng dẫn Thạc sỹ Nguyễn Đình Ba
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 200 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với t cách là sinh viên khoa ngữ văn, học tập tác giả và tác phẩm củaV.Huygô, cùng với lòng ngỡng mộ thiên tài, chúng tôi thấy việc nghiên cứu “Giá trị nhân đạo” trong tác phẩm ấy để làm

Trang 1

Lời nói đầu

Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sụ cố gắng nỗ lực của bản

thân, tôi còn nhận đợc sự hớng dẫn tận tình chu đáo và có phơng pháp khoa học của thầy giáo – Thạc sỹ Nguyễn Đình Ba- giảng viên khoa Ngữ Văn trờng Đại Học Vinh Đồng thời tôi cũng nhận đợc những ý kiến chỉ bảo, giúp đỡ, của các thầy giáo cô giáo khoa Ngữ Văn và đông

đảo bạn bè.

Nhân dịp này tôi xin đợc bày tỏ lòng chân thành cảm ơn tới thầy giáo Nguyễn Đình Ba, các thầy giáo cô giáo, bạn bè cùng gia đình

đã giúp tôi hoàn thành khoá luận này.

Vì những điều kiện khách quan và chủ quan, khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Bởi vậy chúng tôi rất mong nhận đợc sự

đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè để có thể phát triển đề tài hoàn thiện hơn vào dịp khác.

Quan tâm sâu sắc những số phận bất hạnh, khổ đau.

1.1 Giăng Vangiăng - ngời đàn ông sa đoạ vì bán sức lao động 151.2 Phăngtin - ngời phụ nữ trụy lạc vì đói khát 251.3 Côdet- trẻ nhỏ cằn cỗi vì tối tăm 33

Trang 2

1.4 Những trẻ thơ lang thang trên hè phố 38

Ch

ơng II:

Cải tạo xã hội bằng giải pháp tình thơng và công lý tha thứ.

2.1 Giám mục Mirien- hiện thân của tình thơng và lòng từ thiện bao dung

2.1.2Đối với những ngời lầm lỗi phạm pháp 472.2 Mađơlen - hiện thân của con ngời đợc cảm hoá

2.2.1Từ một kẻ phạm tội trở thành thị trởng giàu lòng nhân ái 51

Ch

ơng III:

Lên án tố cáo xã hội t sản vô nhân đạo.

3.1 Nhà tù khắc nghiệt đối với ngời lầm lỗi 60

Trang 3

A - mở đầu

1 Lý do chọn đề tài :

VictoMariHuygô(1802-1885) là nhà văn lãng mạn tiến bộ, u tú của

toàn nhân loại.Ông có vị trí đặc biệt trong nền văn học Pháp nói riêng và vănhọc Phơng Tây nói chung Cuộc đời và sự nghiệp của ông bao trùm thế kỷ XIXcủa nớc Pháp Sáng tác của ông phản ánh trung thành những biến cố lịch sử lớnlao, những cuộc bão táp cách mạng của nhân dân Pháp làm rung chuyển đất n-

ớc thế kỷ XIX Nó tiêu biểu cho ý chí tự do, lòng thiết tha yêu hoà bình, lòngtin tởng cao cả vào những ngời lao động Nhân dân Pháp nói riêng và nhân loạinói chung yêu mến, trân trọng V.Huygô bởi ông đã dành tất cả tình thơng yêucủa mình cho tất thảy mọi kiếp ngời đau khổ trên thế gian này V.Huygô đợcnhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức xem là “một ngời bạn thấu hiểu nổikhổ của họ, tố cáo thay họ” Cuộc đời của ông là cuộc đời đấu tranh khôngngừng cho tự do, cho chính nghĩa, cho dân chủ hoà bình, đấu tranh cho “lơngtri, ánh sáng của con ngời” Dù ở thể loại nào tác phẩm của ông cũng chứa chantinh thần nhân đạo cao cả

Là một thiên tài sáng tạo, sự nghiệp văn chơng của V.Huygô vừa lớn

về số lợng, vừa phong phú về thể loại Ông đi vào sáng tác trên nhiều thể loạivăn học và ở thể loại nào V.Huygô cũng đạt đợc những đỉnh cao Ông để lạicho nhân loại 20 vở kịch, 10 tiểu thuyết và truyện vừa, 15 tập thơ in toàn tậpgồm 153.873 câu, hàng trăm bài chính luận, bình luận văn chơng, nhật ký vănhọc, nhiều bức th tình là những áng văn hay đợc dịch, in vào sách giáo khoa và

ba nghìn bức vẽ

Trong số đó “ Những ngời khốn khổ ” là bộ tiểu thuyết lớn nhất và

cũng là tác phẩm lớn nhất trong sự nghiệp văn chơng của V.Huygô Tác phẩmnày là kết quả của gần 30 năm suy ngẫm của một thiên tài nghệ thuật Nó đợckhởi thảo từ khi V.Huygô còn là một nguyên lão và kết thúc khi ông là một kẻ

lu đầy Nó đề cập nhiều vấn đề lớn lao của xã hội đồng thời thể hiện t tởng

nhân đạo cao cả của V.Huygô “ Những ngời khốn khổ ” còn là hiện thân

cho tài năng và cá tính sáng tạo của V.Huygô

Chính vì lẽ đó, “ Những ngời khốn khổ ” trở thành tâm điểm thu hút sự

quan tâm của đông đảo độc giả cũng nh giới nghiên cứu, phê bình văn họctrong nớc và quốc tế Từ trớc đến nay đã có nhiều tác giả với nhiều hớng tiếp

Trang 4

cận, nhiều cách lý giải khác nhau và ngày càng có nhiều bài viết đem lại nhữngkhám phá mới mẻ, độc đáo Nhng là “ một trái núi ” không chỉ vì số trang mà

còn vì những vấn đề nó bàn tới, vì vậy Những ngời khốn khổ ” luôn mở ra

những chân trời cho sự tìm tòi, khám phá Hầu hết các công trình nghiên cứu,các bài viết đều khẳng định, đây là tác phẩm chứa chan tinh thần nhân đạo Tuynhiên cha công trình nào đi sâu tìm hiểu mà chỉ đề cập đến một số biểu hiệncủa nó Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài “Giá trị nhân đạo” để khám phá tiểuthuyết vĩ đại này

Với t cách là sinh viên khoa ngữ văn, học tập tác giả và tác phẩm củaV.Huygô, cùng với lòng ngỡng mộ thiên tài, chúng tôi thấy việc nghiên cứu

“Giá trị nhân đạo” trong tác phẩm ấy để làm vốn sống, tích luỹ kiến thức cho

sự nghiệp lâu dài là một việc làm thiết thực,

Về mặt lý luận, nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về

Giá trị nhân đạo trong một tác phẩm văn học nói chung và “Những ngời khốn

khổ ” nói riêng Trên cơ sở đó có điều kiện hiểu thêm về V.Huygô, về những

đóng góp to lớn của ông cho văn học nhân loại cả nội dung cũng nh hình thứcnghệ thuật

Về mặt thực tiễn, “Những ngời khốn khổ” không chỉ đợc phổ biến

trong giới độc giả, nghiên cứu mà nó còn đợc trích giảng trong cnhà trờngTrung học phổ thông Lẽ dĩ nhiên, nghiên cứu đề tài “giá trị nhân đạo” của tácphẩm này sẽ giúp chúng tôi có điều kiện giảng dạy tốt ở trờng phổ thông saunày

Ngoài ra, với đề tài này chúng tôi cũng hi vọng giúp việc học tập,

nghiên cứu của bạn bè sinh viên ở các trờng Đại học về “Những ngời khốn

khổ” của V.Huygô nói riêng, sáng tác của ông nói chung tốt hơn

2 Lịch sử vấn đề :

Bớc vào văn đàn lúc 17 tuổi, với cuộc sống kéo dài trong hơn 80 năm

đầy ắp những biến cố sôi động, V.Huygô đã nhanh chóng khẳng định mình nhchủ suý của trờng phái lãng mạn Những tác phẩm của ông thu hút đông đảo

độc giả trên nhiều lĩnh vực khác nhau của văn chơng nghệ thuật Nó thể hiệnmột cờng độ sáng tác hiếm hoi trong lịch sử văn học xa nay.Vì vậy, việc nghiên

cứu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của V.Huygô đặc biệt “ Những ngời

khốn khổ ”là điều dễ hiểu.

Trang 5

Trên thực tế, từ nhiều năm qua “Những ngời khốn khổ ” đã dành đợc

sự quan tâm chú ý của nhiều tác giả trong nớc và quốc tế.ở Việt Nam, từ nhữngnăm 60 trở lại đây, những công trình nghiên cứu, các bài viết, các chuyên luận

về V.V.Huygô đã lần lợt ra đời Qua quá trình đọc và khảo sát, chúng tôi phân

loại các ý kiến về “ Giá trị nhân đạo ” trong “ Những ngời khốn khổ ”theo

trình tự từ các giáo trình đến chuyên luận, các bài viết và một số tài liệu khác

2.1.Các giáo trình văn học Ph ơng Tây :

2.1.1.Cuốn “ Văn học Phơng Tây ”do nhóm tác giả : Đặng Anh Đào,

Hoàng Nhân, Lơng Duy Trung, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Thị Hoàng,Nguyễn văn Chính, Phùng văn Tửu Nxb Giáo dục.H.2001

ở chơng “ Khái quát văn học Phơng Tây thế kỉ XIX” do Hoàng Nhânviết, tác giả đánh giá vị trí của V.Huygô trong nền văn học Pháp và nhận xét

về giá trị nhân đạo trong “ Những ngời khốn khổ ” Ông viết: “Tác phẩm lớn

này miêu tả những cảnh đau lòng dới đáy xã hội Pháp cả chiều rộng lẫn chiềusâu V.Huygô hy vọng giải quyết ba vấn đề: “ sự sa đoạ của ngời đàn ông vìbán sức lao động, sự truỵ lạc của ngời đàn bà vì đói khát, sự cằn cỗi của trẻ thơvì tối tăm” Những con ngời bị vùi dập hiện ra trong tác phẩm với tất cả vẻ đẹpcủa họ V.Huygô tin rằng, lòng yêu thơng tuyệt đối có khả năng tiêu diệt điều

ác, mang lại hạnh phúc cho số phận những con ngời khốn khổ Những rung

động đầy chất thơ đợc nâng lên sự suy tởng có tính chất triết lý đó giải quyếtvấn đề xoá bỏ nỗi đau khổ của nhân loại trong thời kỳ hiện đại (trang 412)

2.1.2 Cuốn “ Văn học lãng mạn và hiện thực Phơng Tây thế kỉ XIX

” của Lê Hồng Sâm và Đặng Thị Hạnh Nxb Đại học và THCN.H.1985

Phần “ Văn học lãng mạn ” do Đặng Thị Hạnh viết Tác giả đã phân

tích giá trị hiện thực cũng nh giá trị nhân đạo của tác phẩm Đặc biệt, bà nhấnmạnh giá trị nhân đạođợc thể hiện qua việc V.Huygô quan tâm những cảnhkhốn cùng của những ngời khốn khổ trong xã hội

2.1.3 Cuốn “ Lịch sử văn học Phơng Tây ” ( tập 2 ) của Đỗ Đức Hiểu Nxb Giáo dục.H 1979 Tác giả khái quát t tởng của “Những ngời khốn

khổ ” nh sau: “ Tác phẩm này gợi lên lòng yêu thơng vô hạn đối với những

ng-ời khốn cùng trong xã hội và cố gắng mở ra con đờng giải quyết số phận của

họ, những ngời khốn khổ trong tác phẩm là ngừơi tù khổ sai Giăng Van giăng,

Trang 6

chị thợ khâu Phăngtin, cô gái Êpônin, bé Côdet héo mòn, Gavơrốt lang thang Cuộc đời bi thảm của họ là lời buộc tội một chế độ xã hội mà pháp luật chỉ bảo

vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị” ( trang51)

Qua các giáo trình văn học Phơng Tây, chúng tôi thấy, dù ở những

cách nói khác nhau nhng các tác giả đều công nhận “ Những ngời khốn khổ ”

là tác phẩm giàu tinh thần nhân đạo

2.2 Các chuyên luận nghiên cứu về VictoV.Huygô:

2.2.1 Tác giả Đặng Thị Hạnh trong cuốn “ VictoV.Huygô ” Nxb Văn

hoá 1978, đã nhấn mạnh sự độc đáo của “ Những ngời khốn khổ ” đồng thời

khẳng định tình thơng yêu V.Hguygô dành cho những số phận bất hạnh khổ

đau Bà viết : “ Trớc V.Huygô cha ai nói đến số phận ngời phụ nữ nghèo khổ

và nhất là đứa trẻ con với một tấm lòng đồng cảm lớn nh vậy và những lời yêuthơng tế nhị đến thế

2.2.2 Cuốn “Tiểu thuyết Victo Huygô” của Đặng Thị Hạnh Nxb Đại

học và THCN Tác giả đã có nhiều đánh giá xác đáng về nội dung của tiểu

thuyết V.Huygô, đặc biệt là “Những ngời khốn khổ” Bà viết: “ sự trìu mến

nâng niu của ông đối với nhân vật mà ông tạo ra, bộc lộ lòng yêu thơng xót xa

mà lúc nào ông cũng dành cho đứa trẻ” (khi nói về tình cảm V.Hugô dành cho

đối tợng là trẻ nhỏ)

2.2.3.Cuốn “ VictoHuygô với chúng ta ” Nxb Tác phẩm mới Hội

nhà văn Việt Nam.1985 do nhiều tác giả viết

Trong bài Con ngời thế kỉ”, tác giả AnatônFrăngxơ đã bày tỏ niềm

thành kính đối với thiên tài V.Huygô và khẳng định: sức hấp dẫn của “Những

ngời khốn khổ ” là sự tổng hợp đầy sức nặng của lòng cao cả, tinh thần công lí,

niềm thơng xót cao thợng đã áp đảo và thu phục mọi ngời (trang67)

Trong bài “Trên đất nớc bạch dơng”, tác giả Nguyễn Kim Đính

cũng đánh giá cao t tởng nhân đạo của V.Huygô Ông khẳng định: “Victo

V.Huygô là cây bút của những ngời bị chà đạp và nhục mạ” “Những ngời

khốn khổ” là “ cuốn sách đặc sắc”, cuốn sách vĩ đại!” Nó nh “ ma lực” đối với

nhà văn Nga, cây bút đau đáu lo âu cho thân phận ngời nghèo thành thị, trongquá độ “dữ dằn”, ”ác mộng ”của xã hội Nga đen tối “ (trang106) Nh vậy, tác

Trang 7

giả chỉ ra ảnh hởng của “Những ngời khốn khổ ” tới văn học Nga là nhờ giá trị

nhân đạo cao cả

Trong bài “Một thiên tài sáng tạo”, Đỗ Đức Hiểu đã khẳng định:

“ Chúng ta yêu V.Huygô vì tâm hồn ông hoà nhập một cách kì diệuvới tâm hồn Phơng Đông, nhân vật của ông là những biểu tợng, biểu tợng củathiện và ác, của yêu thơng và anh hùng, của hi sinh và đau khổ, nh trong vănchơng thuở trớc ” (trang30) Qua đây, tác giả cũng lí giải : sở dĩ nhân loại gần

gũi với V.Huygô bởi sáng tác của ông, đặc biệt là “Những ngời khốn khổ

”giàu tình thơng yêu đối với con ngời

Tác giả Nguyễn Xuân Sanh trong bài “ Pa ri trong một tiểu thuyết “đẫ

viết : “Đó là Pari của thế kỉ XIX với những dãy phố, đờng hẻm, nhà cửa, tờngthành, lều nát, những sào huyệt, vờn tợc, tiểu tu viện, những chiến luỹ, nhữngcô gái đẹp và cụ già của nó ”(trang 165) Qua đó, tác giả đã nhấn mạnh đối t-

ợng quan tâm của V.Huygô trong tác phẩm “Những ngời khốn khổ , ” đó là

ng-ời nghèo khổ dới tầng đáy của xã hội Nó biểu hiện cho tình thơng của

V.Huygô dành cho nhân vật Đồng thời tác giả nhận xét tầm vóc của Những

ngời khốn khổ”nh sau: “đó là trờng ca của những điều xấu xa có lẽ đợc xử tội

quá đáng và của những tội lỗi đợc xử tội thích đáng.Trờng ca của hạng ngờinghèo.”

Trong bài Nợ và duyê“ n” , tác giả Lê Trí Viễn đã dẫn lời nhận xét xác

đáng của MôriAlem về “ Những ngời khốn khổ ”để đánh giá tác phẩm này nh

sau: “ Tình thơng, nỗi giận là chủ đề mà cũng là chất men trong một số tácphẩm của V.Huygô Nhng cha ở đâu hai tình cảm lớn kia, nhất là tình thơng lại

đợc thể hiện cụ thể hơn, sinh động hơn ở “Những ngời khốn khổ” Nó có mặt

ở khắp mọi, nó thấm nhuần tất cả, sôi nổi, phập phồng Ngời ta có thể xem

“Những ngời khốn khổ” nh cuốn tiểu thuyết của tình thơng”.

2.2.4.Cuốn “VictoHuygô ” của Phùng văn Tửu Nxb.Giáo dục 1987 Tác giả viết về “Những ngời khốn khổ ” : “Đầu thế kỉ XIX, loại tiểu thuyết xã

hội phát triển mạnh mẽ ở Pháp Từ Gioogiơxăng đến V.Huygô, từ Xtăngđan

đến Bandăc Trên con đờng đó, Những ngời khốn khổ” ghi một cái mốc

đáng kể Cha có một nhà văn nào mô tả thế giới của những ngời nghèo khổbằng ngòi bút thơng yêu da diết nh ở đây Ông đã cúi xuống đáy xã hội và quansát ”(trang74)

Trang 8

Mặt khác, tác giả khẳng định: “Những ngời khốn khổ” không phải là

bức tranh miêu tả những chuyện đau khổ của nhân dân ở các bến bờ xa lạ haytrong quá khứ Trớc mắt bạn đọc là những cảnh đau lòng dới xã hội Pháp trongthế kỷ XIX – một nét mới có ý nghĩa Mở đầu tác phẩm, ông nhắc đến sự sa

đoạ của đàn ông vì bán sức lao động, sự truỵ lạc của đàn bà vì đói khát và sựcằn cỗi của trẻ thơ vì tăm tối Nhà văn có dụng ý miêu tả cả thế giới nghèo khổ

có chiều rộng và chiều sâu Trong tác phẩm không chỉ là một hai cảnh nào đó

nh ông thực hiện trong giai đoạn trớc, ông muốn thu vào tác phẩm của mìnhcuộc sống đau khổ của những ngời đàn ông (Giăng Vangiăng), những ngời đàn

bà (Phăngtin ), những trẻ thơ (Côdet, Gavơrôt, ), những ông già (Mabơp )(trang75)

Nh vậy, ở các chuyên luận trên, dù mỗi tác giả có cách nhìn nhận vấn

đề không đồng nhất nhng họ đều chỉ ra các khía cạnh của “giá trị nhân đạo”

trong “Những ngời khốn khổ” nh : quan tâm đến những số phân bất hạnh dới

tầng đáy của xã hội, hay ớc mơ đem đến niềm vui hạnh phúc cho họ ở mứckhái quát nhất

2.3 Những tài liệu khác:

2.3.1 Tác giả Hoàng Nhân trong bài viết “ VictoHuygô, nhà văn lớn

của những ngời khốn khổ” Tạp chí văn học số 10/1962 đã nhận xét: “ Sáng

tác của V.Huygô đồ sộ thấm nhuần tinh thần nhân đạo chủ nghĩa và đánh dấu

sự chuyển biến t tởng từ bóng tối ra ánh sáng của một nhà văn đầy nhiệt tìnhchiến đấu, ông sống lâu, viết nhiều và bút pháp của ông chuyển biến khá phứctạp

Nhận xét giá trị nhân đạo của tác phẩm này, ông viết:

“ Đó là tình cảm trìu mến và cuộc đấu tranh cho quyền lợi, miếng cơmmanh áo của họ T tởng nhân đạo của V.Huygô là sự kết hợp của thánh th, tứclòng yêu thơng tuyệt đối với t tởng ánh sáng, tức đề cao trí tuệ” Tuy nhiên tácgiả mới chỉ dừng ở một khía cạnh của giá trị nhân đạo đó là lòng yêu thơng vàtinh thần đấu tranh cho cuộc sống của họ

2.3.2 Tác giả Hoàng Nhân trong bài VictoHuygô - ngời giao hoà tình thơng và gieo mầm cách mạng ” Tạp chí văn học số 3/1982 lại tiếp tục

khẳng định: VictoV.Huygô dành nhiều yêu thơng trọn vẹn cho các hạng ngời

Trang 9

đau khổ, bất hạnh trong xã hội tối tăm từ buổi thiếu thời cho đến lúc về già, yêuthơng nh những giọt mật dịu ngọt của một bọng ong đầy, nh những làn hơngthoảng bay của một vờn hoa mới, nh những mùi thơm dày của trái cây chín

mọng qua từng trang viết của ông Nói về “ Những ngời khốn khổ” ông viết

tiếp: Tác phẩm này đã miêu tả những cảnh đau lòng dới đáy xã hội với cả chiềurộng lẫn chiều sâu, ông hy vọng giải quyết ba vấn đề : Sự sa đoạ của đàn ông vìbán sức lao động, sự truỵ lạc của đàn bà vì đói khát, sự cằn cỗi của trẻ thơ vì tốităm Những con ngời bị vùi dập hiện lên trong tác phẩm của ông với tất cả vẻ

đẹp cao cả của tâm hồn Những đàn ông Giăng Vangiăng, đà bà nh Phăngtin,

ông già nh Mabơp, hay trẻ nhỏ nh Côdet đều là nạn nhân của luật pháp khắcnghiệt ”

Với bài viết này, tác giả ngợi ca chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm

đồng thời lên án, tố cáo xã hội t sản với công cụ cai trị nh: pháp luật, tào án,nhà tù đẩy con ngời vào cảnh khốn cùng

2.3.3 Trong cuốn Amananh- những nền văn minh thế giới, khi nói

đến V.Huygô, ca ngợi tinh thần nhân đạo cao cả, tác giả khẳng định: “ Tácphẩm hàm chứa ý nghĩa lớn lao về tinh thần nhân đạo, lòng bác ái bao dung đốivới số phận những con ngời nghèo đói của xã hội.”

2.4.Các luận văn tốt nghiệp đại học khoá tr ớc:

Trong nhiều năm qua cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của V.Huygô đặc

biệt là “ Những ngời khốn khổ” không chỉ dành đợc sự quan tâm của giới

nghiên cứu, phê bình văn học mà còn đợc giới học sinh, sinh viên yêu thích,say mê học tập và nghiên cứu Chúng tôi xin thông kê một số luận văn tốtnghiệp đại học ở các năm trớc theo trình tự thời gian sau đây:

2.4.1 Đề tài “ Nghệ thuật tơng phản trong tiểu thuyết “Những ngời

khốn khổ ”, năm 2001 của Phan Thị Huệ ở đề tài này, tác giả tập trung phân

tích vai trò của nghệ thuật tơng phản đối với việc thể hiện t tởng của tác phẩm.Qua đó, khẳng định tài năng văn chơng của V.Huygô

2.4.2 Đề tài “ Chủ đề tình yêu trong Những ngời khốn khổ ” củaNgô Thị Nhạn, năm 2002 Với đề tài này, tác giả khai thác sự đa dạng về môtíp tình yêu trong sáng tác của V.Huygô Đó là tình yêu lứa đôi, tình yêu thơng

Trang 10

giữa con ngời với con ngời Đồng thời khẳng định những đóng góp to lớn củaV.Huygô khi đem đến cho văn học một cái nhìn đa dạng về chủ đề tình yêu.

2.4.3.Đề tài “ Vai trò của ngoại đề trữ tình trong Những ngời khốn khổ ”” của Nguyễn Thị Hạnh, năm 2002 Với đề tài này, tác giả chỉ ra vai trò

của các đoạn ngoại đề trữ tình trong việc thể hiện ý đồ sáng tạo của tác giả.Qua đó khẳng định tài năng văn chơng hiếm văn chơng hiếm có của V.Huygô

2.4.4 Đề tài “Giá trị hiện thực trong Những ngời khốn khổ ” ” củaDơng Danh Vỹ, năm 2003 ở đề tài này tác giả đã khai thác những biểu hiệncủa giá trị hiện thực Trên cơ sở đó khẳng định những đóng góp của tác phẩmnày đối với văn học lãng mạn Pháp thế kỷ XIX nói riêng và văn học nhân loạinói chung

2.4.5 Đề tài “ Nhân vật Giăng Vangiăng trong Những ngời khốn khổ ” của Hồ Thị Hiền Với đề tài này, tác giả phân tích sâu về một nhân vật và

chỉ ra vai trò của nó đối với việc thể hiện t tởng của Victo Huygô

2.4.6 Đề tài “ Nhân vật Mirien trong Những ngời khốn khổ” của

Nguyễn Thuý Huệ, năm 2004 ở đề tài này, tác giả đi sâu nghiên cứu về nhânvật Mirien và cho thấy ý nghĩa của nhân vật này trong việc thể hiện t tởng, tìnhcảm của nhà văn đối với những ngời khốn khổ

Nh vậy, dù đợc khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau nhng “Giá trị

nhân đạo ” trong “ Những ngời khốn khổ” vẫn là một vấn đề còn bỏ ngõ Các

tác giả có khi đề cập đến nhng chỉ dừng lại ở những nhận xét, khái quát hay chỉ

là những liên hệ sinh động Đó là t liệu quý báu để chúng tôi tham khảo, họchỏi và hoàn thành tốt luận văn của mình

2.5 Đánh giá khái quát các ý kiến:

Qua việc khảo sát, tìm hiểu các công trình nghiên cứu về “Những

ng-ời khốn khổ ”, chúng tôi thấy rằng hầu hết các tác giả đều khẳng định sức sống

trờng cửu của cuốn tiểu thuyết vĩ đại này

Nhìn chung các tác giả đều khẳng định “ Những ngời khốn khổ ” là

tác phẩm chứa chan tinh thần nhân đạo Trên cơ sở đó, các tác giả chỉ ra một

số khía cạnh cũng nh nhận xét xác đáng, khách quan về giá trị nhân đạo của nó.Tuy nhiên, cha một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về “giá trị nhân đạo

” trong “ Những ngời khốn khổ ” Vì vậy, các công trình nghiên cứu của các

Trang 11

tác giả đi trớc thực sự là những t liệu quý báu để chúng tôi vận dụng trong việcnghiên cứu đề tài của “giá trị nhân đạo ” Trên cơ sở, đó chúng tôi mong rằng

sẽ góp phần khẳng định vị trí của “ Những ngời khốn khổ ” đối với sự nghiệp

của một thiên tài văn học thế kỷ XIX

3 Đối t ợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

3.1.Đối t ợng nghiên cứu:

Luận văn lấy việc tìm hiểu “ Giá trị nhân đạo” trong tiểu thuyết

“Những ngời khốn khổ” làm đối tợng nghiên cứu

3.1.Phạm vi nghiên cứu :

Tiểu thuyết “ Những ngời khốn khổ ” đề cập tới nhiều vấn đề nhng

trong giới hạn của một luận văn, chúng tôi chỉ nghiên cứu về “ Giá trị nhân

đạo” của tác phẩm này Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi dựa vào bản dịchTiếng Việt gồm hai tập của nhóm dịch giả: Huỳnh Lý, Vũ Đình Liên, Lê TríViễn, Đỗ Đức Hiểu Nxb Văn học Hà Nội 2001 làm t liệu khảo sát

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu:

Qua việc nghiên cứu, luận văn có nhiệm vụ làm rõ những biểu hiện

của “ Giá trị nhân đạo ” trong “ Những ngời khốn khổ ” Trên cơ sở đó, khẳng

định những đóng góp to lớn của V.Huygô về mặt t tởng đối với nền văn họcPháp cũng nh văn học nhân loại

4.Ph ơng pháp nghiên cứu:

Xuất phát từ phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sửdụng một số phơng pháp nghiên cứu sau:

4.1.Ph ơng pháp khảo sát, thống kê, phân tích:

Chỉ ra những chi tiết liên quan đến vấn đề của đề tài Trên cơ sở đó làm

t liệu phân tích và khái quát vấn đề

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chơng:

Chơng I : Quan tâm sâu sắc những số phận bất hạnh, khổ đau

Trang 12

Chơng II: Cải tạo xã hội bằng giải pháp tình thơng và công lý tha thứ Chơng III: Lên án tố cáo xã hội t sản vô nhân đạo.

B- nội dung

Ch ơng I:

Quan tâm sâu sắc những số phận bất hạnh, khổ đau.

Với ba mơi năm ấp ủ và hình thành, “ Những ngời khốn khổ” thực

sự là tác phẩm kết tinh t tởng và tình cảm của Victo Huygô nhiều hơn bất kỳtiểu thuyết nào Chính ở tác phẩm này, ông đã thể hiện lòng căm ghét quyền uy

và “ tình yêu thơng dịu dàng ” đối với những kẻ nghèo hèn Mặt khác, nó khẳng

định những đóng góp to lớn của VictoHuygô đối với lịch sử văn học nhân loại

Với “ Những ngời không khổ ” ông đem đến cho độc giả một cái nhìn mới sâu

sắc hơn, toàn diện hơn về bộ mặt đời sống xã hội ở Pari Bởi trớc V.Huygô,thành phố Pari đã xuất hiện nhiều trong văn học Nhng ở tiểu thuyết này, Parilại xuất hiện với một diện mạo mới mẻ Đó không phải Pari của các vua chúa

Trang 13

và các tầng lớp quý tộc với các cung điện nguy nga và cuộc sống ăn chơi phèphỡn Trái lại, đó là Pari của những phố nghèo bẩn thỉu, với những ngôi nhàrách nát cũ kĩ, rãnh chảy ngang đờng V.Huygô cho rằng Pari hào hoa, tráng lệ,rực rỡ cha phải là tất cả Theo ông, là cái giống thuần tuý, Pari xuất hiện nhiềunhất ở vùng ngoại ô Đó mới là Pari chính cống, là bộ mặt thực của nó Với tráitim nhân hậu của một nghệ sĩ thiên tài, V.Huygô đi sâu vào các ngõ hẻm hangcùng tối tăm nhất của vùng ngoại ô Pari Ông nhận ra rằng, đói nghèo, dốt nát,lao động khổ sai, thù hận, chém giết, đĩ điếm vẫn tồn tại trong xã hội Nó

đang hàng ngày, hàng giờ tiếp tục sinh sôi nảy nở Vì vậy, V.Huygô đã mạnhdạn đa vào tác phẩm của mình những nơi ánh sáng văn minh nhân loại, ánhsáng của tri thức khó lòng lọt tới với vẻ trần trụi, nhơ nhuốc của nó Đó lànhững điều không ai biết, những chốn không ai hay Mặt khác, cùng mang tâmtrạng bất bình với xã hội đơng thời nhng V.Huygô khác với các nhà văn lãngmạn tiêu cực Ông không đem lý tởng của mình đối lập với thực tại t sản.Không trốn tránh nó bằng việc đi tìm nguồn an ủi ở tình yêu, ở thiên nhiên nhMuytxê hay bảo thủ quay về tiếc nuối quá khứ vàng son nh Satôbriăng vàLamactin Ông cũng không dùng những lời văn hào hoa tẻ nhạt an ủi con ngờitrong giấc ngủ triền miên của cuộc sống tầm thờng, ích kỷ Ngợc lại, là mộtnhà văn lãng mạn tiến bộ, V.Huygô luôn tỉnh táo, sáng suốt đứng vững trênthực tại và thấu hiểu những cảnh đời éo le bất hạnh Từ “ một kẻ quyền thếdanh vọng và vinh quang ”, V.Huygô thực sự trở thành “đấu thủ nhiệt thành

của những kẻ nghèo và những ngời bị áp bức” Với “Những ngời khốn khổ”,

lần đầu tiên trong lịch sử văn học nhân loại xuất hiện một tác phẩm viết trọn vềmột giai tầng trong xã hội Nói khác đi, thế giới hình tợng của tác phẩm này làthế giới của những ngời khốn khổ Đúng nh các nhà nghiên cứu đã nhận định,V.Huygô có dụng ý miêu tả một thế giới nghèo khổ có chiều rộng và chiều sâu

Bởi vậy ông đặt tên cho cuốn tiểu thuyết là “Những ngời khốn khổ ” Và ông

giải thích rằng: “khốn khổ có nghĩa là đáng kính- Đau khổ, đó là xứng

đáng”.V.Huygô không miêu tả một hai cảnh khổ mà ông thu vào tác phẩm củamình cuộc sống đau khổ của ngời đàn ông sa đoạ vì bán sức lao động ( GiăngVangiăng ), ngời dàn bà truỵ lạc vì đói khát ( Phăngtin ), những trẻ nhỏ cằn

cõi vì tối tăm (Côdet ), những ông già (Mabơp ) Đồng thời V.Huygô phát

hiện ra những phẩm chất cao quý của họ Ông mong muốn xây dựng một xã

Trang 14

hội tốt đẹp mà ở đó con ngời đợc hởng hạnh phúc, ấm no Họ đối xử với nhaubằng tình thơng yêu và lòng vị tha cao cả Mặt khác, V.Huygô lên án tố cáo xãhội t sản vô nhân đạo Đó chính là những nội dung cơ bản làm nên giá trị nhân

đạo của “ Những ngời khốn khổ”- một giá trị cơ bản của những tác phẩm chân

chính, đợc tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của con ngời,

sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con ngời và lòng tin vàokhả năng vận động của nó

1.1.Giăng Vangiăng ng ời đàn ông sa đoạ vì bán sức lao động :

Trong tác phẩm, đại diện cho những ngời đàn ông sa đoạ vì bán sứclao động là số phận Giăng Vangiăng Có thể nói, trong số những ngời khốnkhổ, Giăng Vangiăng là ngời khốn khổ nhất Bởi ở anh tập trung tất cả nhữngnỗi khổ đau, bất hạnh của nhân loại Đó là nghèo đói, mồ côi, thất học, tù đày

và bị truy đuổi bởi luật pháp

Nhìn một cách khái quát, cuộc đời Giăng Vangiăng đợc chia làm haigiai đoạn: trớc và sau khi gặp giám mục Mirien Trớc khi gặp Mirien, GiăngVangiăng đợc khắc hoạ nh một nhân vật của văn học hiện thực phê phán, tậptrung cho mọi nỗi đau khổ của con ngời trong xã hội hiện đại Nhng sau khigặp giám mục, trớc nghiã cử nhân ái độ lợng của ông, Giăng Vangiăng nhmảnh đất cằn vì khô hạn bắt gặp mạch nớc ngầm trong mát đã trở thành biểu t-ợng cho lòng nhân ái bao la của con ngời trong cuộc sống ở cả hai giai đoạncuộc đời Giăng Vangiăng đều để lại những ấn tợng mạnh đối với ngời đọc Nh-

ng cuộc đời của một ngời đàn ông bất hạnh, khổ đau vẫn sâu đậm hơn cả

Trớc hết, Giăng Vangiăng là hiện thân của một ngời đàn ông lao độngnghèo khổ ở điểm này, V.Huygô khắc hoạ anh với những nét gần gũi so vớicác nhân vật của một tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực phê phán Đó là hiệnthân về một ngời lao động nghèo, làm việc vất vả quanh năm nhng không đủsống Vì quá nghèo túng, quẫn bách, Giăng Vangiăng phải đi ăn cắp và chấpnhận cảnh tù đày

Giới thiệu gia cảnh của anh, V.Huygô viết: Giăng Vangiăng sinh ratrong một gia đình nông dân nghèo xứ Bri Anh chẳng đợc học hành, mồ côicha mẹ từ lúc còn nhỏ dại “ Mẹ anh chết vì một cơn sốt xuống sữa không biếtthuốc thang Cha anh cũng làm nghề xén cây, sẩy chân ngã nên thiệt mạng”[T1-147] Không những thế, gánh nặng gia đình của chị goá chồng, trên tay 7

Trang 15

đứa con dại, vừa gái vừa trai còn đè lên vai anh Giăng Vangiăng thay anh rể đilàm giúp chị nuôi các cháu Do đó cả thời trai trẻ, Giăng Vangiăng không biết

đến vui sớng là gì Tác giả viết: “ cả thời trai trẻ anh làm quần quật suốtngày Về mùa xén cây, anh kiếm đợc mỗi ngày 24 xu Hết mùa, anh quay ra

đi gặt thuê, làm mớn, chăn bò, khuân vác, gặp việc gì làm đợc thì làm Chị gáicũng cố gắng nhng con nhỏ không đợc mấy nỗi Cảnh nhà thật thiểu não,quanh năm túng thiếu, mỗi ngày một ngặt thêm Một năm trời rét, GiăngVangiăng không có việc làm Trong nhà không có một mẫu bánh mì, nhng 7

đứa trẻ ” [T1- 147,148]

Trớc hoàn cảnh ấy, Giăng Vangiăng không còn cách nào khác ngoàiviệc ăn cắp Bởi vậy, anh phải đập cửa hàng có chăng lới thép và lắp kính nhà

ông Môbeydabô lấy chiếc bánh mì cho 7 đứa cháu nhỏ Vì vậy, anh bị bắt và

đa ra toà truy tố về tội “ ăn trộm ban đêm có phá cửa trong một nhà có ngời ở”[T1-148] Điều đó chứng tỏ rằng, đói khổ, nghèo túng chính là nguyên nhân

đẩy anh vào con đờng trộm cắp Nhng thực tế không ai hiểu, ngời ta còn tuyên

bố anh là kẻ ăn trộm nguy hiểm có vũ khí Chỉ vì ngời ta phát hiện anh có mộtkhẩu súng đi săn bắt chim chóc Đó là hiện thực rõ nét về ngời đàn ông lao

động cực khổ nhng không đủ ăn, phải ăn cắp và phải chịu cái án quá nặng nề.Tình cảnh ấy, hẳn đã làm xúc động tâm hồn V.Huygô Ông thấu hiểu, bênh vực

và bảo vệ họ Bởi vậy, ông giải thích : “ Theo thống kê ở Anh thì trong năm vụtrộm có bốn vụ trực tiếp do đói mà ra ” [T1-153].Đồng thời ông khẳng địnhbằng chính cử chỉ đáng thơng của Giăng Vangiăng trớc toà: “Trong khi ngời taquai mạnh búa để tán chiếc đinh trên cái gông cổ ở phía sau gáy, anh khóc lênnghẹn ngào không nói nên lời Chốc chốc mới thốt lên đợc một câu: “ Tôi làmnghề xén cây ở Phavơrôn ” Rồi anh nức nở vừa giơ lên vừa hạ xuống bảy lần,mỗi lần một hạ thấp hơn trông nh đang sờ đầu 7 đứa trẻ nhỏ lớn khác nhau.Trông cử chỉ ấy, ngời ta biết anh làm điều gì phi pháp cũng là vì miếng cơmmanh áo của 7 đứa trẻ con ” [T1-150]

Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã thừa nhận rằng, Giăng

Vangiăng khi cha gặp Mirien là một nhân vật có trong thực tế Trong cuốn “Lý

luận văn học (tập” 3 ), tr76, các tác giả :Phơng Lựu, Nguyễn Xuân Nam,Thành Thế Thái Bình đã khẳng định: “ Giăng Vangiăng tuy về cơ bản là conngời không có trong thực tế, nhng đó là giai đoạn sau- từ lúc đợc ông giám mục

Trang 16

Mirien cảm hoá Còn khoảng trớc đó chỉ vì ăn cắp một mẫu bánh mì mà phải

đi tù là một số phận của nhiều ngời trong xã hội t bản thời ấy Nh vậy, chỉ vì

ăn cắp một mẫu bánh mì, Giăng Vangiăng phải chịu mức án 5 năm tù Từ nỗikhổ của một ngời lao động nghèo, tuổi thơ bất hạnh, không học hành, không

mẹ cha, Giăng Vangiăng phải chịu thêm nỗi khốn cùng của một kẻ phạm pháp.Sống 64 năm trên cõi đời, anh phải chịu 19 năm trong cảnh tù đầy Bởi mức án

5 năm cho một mẫu bánh mì, Giăng Vangiăng đã căm thù xã hội và anh quyếttâm vợt ngục nhng không thành Thế nên, sau 4 lần vợt ngục anh phải chịu 19năm khổ sai Chính chốn lao tù đã làm anh trở thành ngời khác Từ một ngời

đàn ông hiền lành chất phát, anh trở nên “ trâng tráo”, “trơ nh đá” “ Lúc vào tùGiăng Vangiăng run sợ, khóc lóc, đến khi ra tù anh thành một ngời thản nhiên,trơ nh đá Lúc vào tù, lòng anh tuyệt vọng nay ra lòng anh đen tối ” [T1-153].Gần một thế kỷ sau, trong tác phẩm “ Chi Phèo”, Nam Cao cũng phản ánh nỗikhổ vì bị bần cùng hoá của ngời nông dân trong xã hội thực dân nửa phongkiến băng những trang viết hết sức chân thực và cảm động Trớc khi vào tù,Chí Phèo là một ngời nông dân lơng thiện, hiền lành Nhng sau 7, 8 năm chế độnhà tù thực dân đã làm biến đổi cả nhân tính lẫn nhân hình của Chí Phèo Tácgiả viết: “ Lần này về nó khác hẳn mấy lần trớc Trông đặc nh thằng sắng

đá.Cái đầu thì ủọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơngcơng, hai mắt gờm gờm trông ghớm chết ! Hắn mặc quần áo mái đen với cái áotây vàng Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng phợng với ông tớng cầm

truỳ, cả hai cánh tay cũng thế ” ( “ Chí Phèo ” - Nam Cao, tr216 ) Nh vậy, cả

Giăng Vangiăng và Chí Phèo đều bị biến đổi bởi chế độ nhà tù bất công Và

đều là hiện thân cho nỗi khổ của ngời lao động trong chế độ xã hội còn phânchia giai cấp Thêm vào đó, Giăng Vangiăng còn phải chịu nỗi khổ của mộtngời bị bóc lột sức lao động Điều này đợc tác giả thể hiện qua hai chi tiếtnhỏ Thứ nhất là việc chi trả tiền cho tù nhân Đáng ra sau19 năm, số tiềnGiăng Vangiăng có đợc là 171 frăng nhng ngời ta chỉ trả cho anh 109 frăng 15

xu Thứ hai, một ngày sau, đến Garớt, anh làm cả ngày cho xởng cất nớc hoacam nhng ngời ta chỉ trả cho anh 24 xu.Trong khi đó, giá tiền công là 30 xu

Rõ ràng cả xã hội và nhà nớc đều bóc lột sức lao động của anh Bởi vậyV.Huygô khái quát: “ xã hội, nhà nớc, bớt tiền của anh là ăn cắp mẻ to Bâygiờ, đến lợt cá nhân ăn cắp của anh từng mẻ nhỏ.” [T1-169]

Trang 17

Cha hết, Giăng Vangiăng còn chịu nỗi nhục của một ngời bị xã hộichối bỏ Anh ra khỏi tù trong bộ dạng thật đáng tội: “chiếc mũ cát sạm nắngnhễ nhãi mồ hôi ,chiếc áo sơ mi vải thô màu vàng, cổ cài mỏ neo bạc, để lòi ramột cái ngực đầy lông Chiếc cà vạt vặn lại nh mẩu thừng Cái quần bằng vảithô màu xanh đã cũ nát, một bên gối bạc phếch và một bên bị thủng Cái áokhoác cũ màu xám, rách mớp một bên khuỷu tay và một miếng dạ xanh khâubằng dây gai Trên lng một chiếc ba lô quân đội còn mới nguyên đầy ắp vàbuộc kỹ lỡng Tay cầm chiếc gậy gộc có đốt, chân không tất đi một đôi giày

đinh Đầu húi trọc, râu để dài ” [T1-110] Con ngời đã tồi tàn nh thế lại phải đi

bộ ngoài nắng mồ hhôi ớt đẫm bụi bám đầy mình, bởi thế trông anh càng ghêtởm (Nếu nh, Chí Phèo ra khỏi tù và trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, bịxã hội tớc đoạt quyền làm ngời Điều này đợc thể hiện trong lời chửi đầu tácphẩm của Chí Phèo Trong cơn say, chỉ có tiếng chó sủa đồng hành cùng vớiChí và cả làng Vũ Đại không ai đáp lại lời y Cha bao giờ Chí Phèo cảm thấy

đau đớn, nhục nhã nh lúc này ) ở Giăng Vangiăng nỗi khổ ấy đợc V.Huygô thểhiện thật cảm động )Với tấm giấy thông hành màu vàng dành cho những tùnhân nguy hiểm, đi đến đâu Giăng Vangiăng cũng bị ngời đời xua đuổi, xã hộichối từ Các hàng quán sang trọng đều cấm cửa Bởi vậy, anh chỉ mong nghỉchân ở một quán rợu “ thật tồi tàn, thật xơ xác ” nhng cũng không thể Đến mộtnhà lao, anh cầm giật dây chuông xin vào trọ qua đêm, ngời gác cổng trả lời :

“Nhà pha không phải là quán trọ, anh cứ làm cho ngời ta bắt giam anh đi Tôi

sẽ mở ca cho ”[T1-119] Đứng trớc một gia đình, Giăng Vangiăng ngắm cảnh

đầm ấm và nghĩ rằng : “ Gia đình vui vẻ này hẳn là hiếu khách và một nơi tràn

đầy hạnh phúc nh thế hẳn sẽ tìm đợc một chút tình thơng chăng ? ” [T1-122).Nhng mọi chuyện đều không nh ý nghĩ của anh, sau ba lần gõ cửa anh đều bị

họ chối từ mà không chút băn khoăn, do dự Có lúc khát nớc, anh hạ mình vanxin nhng cũng không đợc Thậm chí, anh xin ngủ nhờ trong một ổ chó cũng bịngời ta đuổi thẳng cổ Vì lẽ đó, Giăng Vangiăng cảm thấy chua xót, tủi nhụccho chính bản thân mình và thốt lên:

“ Thân ta không bằng một con chó ” [T1-124] Qua những điều trên, tác giảcho thấy một thực tế phũ phàng vẫn diễn ra trong xã hội t sảncòn tồn tại tìnhtrạng phân biệt giai cấp, tầng lớp đó là hiện tợng cả xã hội xa lánh ngời lầm lỗi.Cũng tơng tự, Chí Phèo sau khỏi tù trở thành con quỹ dữ của làng Vũ Đại và bị

Trang 18

xã hội tớc đoạt quyền làm ngời Đời hắn triền miên trong những cơn say Cứ

r-ợu xong là hắn chửi Hắn chửi trời, chửi đời, chửi làng Vũ Đại, chửi cả đứa chết

mẹ nào đã đẻ ra hắn Nhng không ai đáp lại Hắn rơi vào thảm cảnh: mộtthằng say rợu với ba con chó dữ Và một mình hắn cô độc giữa cuộc đời

Bên cạnh đó, Giăng Vangiăng còn chịu nỗi khổ bởi cuộc chạy trốndài phải thay tên đổi họ trớc sự truy đuổi của luật pháp Bởi luật pháp và kẻthừa hành nó không buông tha mà luôn rình rập theo dõi ngay cả khi anh trởthành một công dân tốt, phụng sự điều thiện Qua khảo sát, trong 64 năm hiệnhữu trên cõi đời, 10 năm cuối Giăng Vangiăng phải sống trong lo âu, sợ hãi và

đối phó với pháp luật Sau khi vào tù, cái tên Giăng Vangiăng bị lãng quên “Cảquãng đời trớc đó cuả anh bị xoá mờ, anh không còn tên mà chỉ lấy hiệu tù

24601 ” [T1-150] Giăng Vangiăng căm phẫn tự hỏi xã hội sao lại có quyền bắtcon ngời phải chịu đựng Sao lại ép con ngời vào thế hiểm giữa một cái thiếu vàmột cái thừa, thiếu việc làm và thừa hình phạt Bởi vậy, “ xã hội trở thành mốicăm thù của anh Nó chỉ làm hại anh thôi, anh luôn thấy xã hội chỉ có bộ mặtgiận dữ đó là hình án, bộ mặt trừng trị Mọi ngời xung quanh đụng đến anh chỉ

là để giày vò Mỗi lần tiếp xúc với họ là một vố đau Từ nhỏ đến giờ anh chatừng biết đến một lời thân mật, một cái nhìn thơng mến kể cả đến đau khổkhác đần dần anh kiên quyết rằng dời chỉ là một cuộc chiến tranh và trong cuộcchiến tranh ấy anh là ngời chiến bại Anh chỉ còn một thứ vũ khí đó là lòngcăm thù Anh quyết chí mài giũa nó thật sắc trong tù để khi ra tù anh mangtheo” [ T1-150] Chốn lao tù đã làm tâm hồn anh khô héo: “ Năm này qua nămkhác, tâm hồn anh khô héo dần chầm chậm nhng không gì ngăn nổi Tim khônên mắt cũng khô Lúc ra khỏi nhà lao tính ra 19 năm anh cha hề rỏ một giọt n-

ớc mắt ” [T1-164]

Thoát khỏi chốn lao tù, đợc Mirien nâng đỡ, Giăng Van giăng lấy tên

là Mađơlen và đến sống ở Môngtơrơi Nhng không đợc bao lâu bị cảnh sát pháthiện ông phải đổi tên là Uytimphôsơlơvăng sống trong tu viện PitơPichpuyt và cuối cùng trở về với tên gọi Giăng Vangiăng - ngời tù khổ sai.Nỗi đau đớn ấy, chính Giăng Vangiăng đã thú thực trong lời tâm sự cuối đờivới Mariuyt và Côdet, ông nói: “ để sống xa kia tôi đã ăn cắp một cái bánh,bây giờ để sống tôi không muốn ăn cắp một cái tên ” [T2-493] Kết thúc tác

Trang 19

phẩm, ngời đàn ông ấy ra đi trong một đêm không sao trời tối nh mực Chỉ cònlại một nấm mồ, trên hòn đá không có lấy một cái tên.

Có thể nói rằng trong lịch sử văn học nhân loại cha một tác phẩm nàolại xuất hiện một ngời đàn ông hội tụ đầy đủ nỗi khổ nh Giăng Vangiăng trong

“ Những ngời khốn khổ ” Qua đây, V.Huygô bộc lộ niềm đồng cảm, sẻ chia

sâu sắc đối với nhân vật của mình Đồng thời tác giả lên án tố cáo xã hội t sảnvô nhân đạo đã đẩy con ngời vào những cảnh khốn cùng Không chỉ dừng lại ở

đó, V.Huygô còn phát hiện ra những vẻ đẹp trong tâm hồn của họ Với GăngVăngiăng, đó là vẻ đẹp của lòng hào hiệp, đức hy sinh cao cả của con ngời Bởi

vậy, khi viết “ Những ngời khốn khổ” ông đã hình dung nó nh một tác phẩm

anh hùng ca về một con ngời khốn khổ vật lộn với xã hội và khoa học để vơnlên đỉnh cao của cái thiện: “ Tạo nên bài thơ về lơng tâm con ngời, dù chỉ lấy

đề tài trong một ngời, dù ngời ấy là một ngời nhỏ bé, thì cũng vẫn là hoà tan

các bản anh hùng ca cao nhất và hoàn thiện nhất ” (“Văn học lãng mạn và

hiện thực Phơng tây thế kỉ XIX ” Đặng Thị Hạnh và Lê Hồng Sâm.).

Số phận của Giăng Vangiăng cho thấy cuộc sống khổ cực của nhữngngời lao động dới tầng đáy của xã hội Pháp Nếu nh Chí Phèo là hiện thân chonhững ngời khốn cùng bởi mất mùa, đói kém, bởi thuế khoá, cờng quyền trongxã hội thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam trong những năm trớc Cách mạngtháng Tám –1945 thì Giăng Vangiăng là biểu tởng cho nỗi khổ của ngời đàn

ông sa đoạ vì bán sức lao động trong xã hội t sản Dù ở hai thời đại, nhng giữaV.Huygô và Nam Cao lại có sự đồng điệu về tâm hồn Họ đều thấu hiểu nỗikhổ của ngời lao động nghèo và bộc lộ niềm cảm thông chân thành

1.2 Phăngtin- ng ời phụ nữ truỵ lạc vì đói khát:

Trong lịch sử văn học nhân loại, phụ nữ là một trong những đối tợng

đợc giới nghệ sĩ dành sự quan tâm đặc biệt Trớc V.Huygô, ngoài những sángtác dân gian, trong văn học viết hình tợng ngời phụ nữ đã đợc nhắc đến qua

nhiều sáng tác Trong đó có những tác phẩm nổi tiếng nh “ Truyên Kiều ”của

Nguyễn Du hay những bài thơ trữ tình của Hồ Xuân Hơng, những bi kịch bất

hủ: “Rômêô và Juyliet ”, “ Ôtenlô ” của Sêcxpia, “ Annakarênina” của

Tônxtôi,… ở những sáng tác này, các tác giả đều thể hện thái độ bênh vực, bảo vệ và đấu tranh cho quyền lợi của ngời phụ nữ Đến lợt mình, V.Huygôcũng dành cho họ những trang viết cảm động với một tình cảm chân thành, sâu

Trang 20

nặng Trong đó, “ Những ngời khốn khổ ” là tác phẩm thể hiện đầy đủ và sâu

sắc hơn cả Phăngtin – ngời phụ nữ truỵ lạc vì đói khát là minh chứng tiêubiểu

Sống trong xã hội t sản vô nhân đạo, V.Huygô nhận thấy số phận bấpbênh, chìm nổi của ngời phụ nữ Ông cảm thông sâu sắc với cuộc đời đau khổcủa họ Đồng thời, ông ngợi ca những phẩm chất cao đẹp trong tâm hồn của ng-

ời phụ nữ Trớc Phăngtin, trong tiểu thuyết “ Nhà thờ đức bà Pari ” (1831),

V.Huygô đã nhắc đến hình ảnh ngời đàn bà điên dại, sống cô đơn trong mộtcăn hầm tăm tối của một dòng tu Đó là Pakettơ Ngời đàn bà ấy, thời trẻ đãtừng làm say đắm bao ngời Nhng xã hội đã đẩy cô vào con đờng đau khổ Mộtcuộc sống mòn mỏi, ê chề với “ nghèo đói trên môi ” và “ sa đoạ trong tim ” ởcác tiểu điếm đã in lên đời chị Ngời phụ nữ ấy bị bỏ rơi, bị xua đuổi Tuổixuân tàn tạ bởi sức phá hoại của cuộc sống ghê tởm Tuy nhiên, chị vẫn giữtrong tim mình tình yêu với đứa con thơ dại Bao nhiêu năm sống cuộc đời điêndại, niềm mơ ớc đợc gặp con đã trở thành hiện Nhng trớ trêu thay, đứa con gáicủa chị – cô vũ nữ Êtxêmaranđa xinh đẹp bị ngời ta kết án tử hình vì khôngchịu hiến mình cho linh mục Clôtphrôlô Chị phải ngậm ngùi bởi không cứu đ-

ợc con mình Có thể nói, những bất hạnh Pakétơ chịu đựng chính là phác thảo

đầu tiên để V.Huygô nói về Phăngtin đầy đủ hơn, rõ nét hơn

Trong “ Những ngời khốn khổ ”, tình cảm u ái V.Huygô dành cho

Phăngin trớc hết ở việc tác giả lấy tên của nàng đặt tiêu đề cho phần đầu củatiểu thuyết Điều đó nói lên rằng, số phận và cuộc đời bất hạnh của ngời phụnữ là một trong những mối quan tâm lớn của V.Huygô Ông nhận thấyPhăngtin là cô gái xinh đẹp Ông viết: “ Phăngtin rất đẹp Nàng cố giữ chomình trong trắng mãi Tóc nàng vàng óng, răng của nàng rất đều Nàng cũng cóvàng ngọc làm của riêng nh ai, nhng vàng của nàng xếp trên mái tóc, ngọc củanàng giắt ở sau môi” [T1-207] “ Đôi môi hồng thỏ thẻ nh giọng oanh, khoémiệng xếch lên, dáng say sa , hàng mi dài đen thẫm laị rủ bóng e ấp Cách

ăn mặc của nàng có cái gì bừng bừng và thánh thót Trông nàng đằng trớc thìlộng lẫy, sau thì thanh tao Cặp mắt xanh, đôi chân thon, cổ tay, cổ chân uyểnchuyển, da trắng mịn Gò má thơ ngây, cổ tròn ” [ T1 – 213] Nhìn chung mọi

vẻ đẹp của cô đều nh tạc và vô cùng tế nhị Nhng sắc đẹp không đem lại hạnh

Trang 21

phúc cho Phăngtin Bởi xã hội nàng đang sống là xã hội đầy bất công, lừa đảo,gian trá

Chính vì đó, từ thuở lọt lòng, nàng đã chịu những bất hạnh, khổ đau.Nàng chính là “ bông hoa mọc lên từ trong quần chúng ở trong lòng bóng tốidày đặc nơi đáy sâu của xã hội nhô lên Nàng quả là một ngời không tên,không tuổi, không ai biết … Cha mẹ là ai ? Ngời ta không thấy nàng có cha

mẹ và gọi nàng là Phăngtin ” [ T1 – 207 ]

Nh vậy, nỗi khổ của Phăngtin trớc hết là nỗi khổ của một trẻ mồ côi,không cửa, không nhà, không ngời thân Tuổi thơ của nàng là tuổi thơ của mộttrẻ lang thang nơi vỉa hè đầu phố “ Thuở nàng còn là một con bé đi chân khôngtrên hè phố, khách qua đờng ai muốn gọi tên gì thì gọi Nàng hứng lấy một cáitên nh hứng nớc từ trên trời rơi xuống ” [ T1 – 127 ]

Lớn lên, bớc vào cuộc sống, Phăngtin càng trở nên khốn cùng Bản thânnàng phải tự bơn trải “ Năm lên 10, Phăngtin rời bỏ thành phố đi ở cho một gia

đình trung nông ngoại thành Năm 15 tuổi lên Pari để lập nghiệp ” [T1 - 207 ].Cũng từ đây cuộc đời Phăngtin liên tiếp những khổ cực Xuất phát là mối tình

đầu chớm nở Nàng dành tất cả tình cảm chân thành say đắm cho Tôlômiet Đó

là một anh chàng sinh viên, con nhà t sản Nhng thật bất hạnh, Phăngtin lại bịphụ tình Sau chuyến du lịch về đồng quê, cũng nh ba ngời bạn: Đalia, Đêphin,Phavarit, Phăngtin bị bỏ rơi Bởi bốn chàng trai cho rằng họ phải trở về với bổnphận, với mẹ cha, nề nếp Phăngtin vô cùng đau đớn, nàng khóc cho mối tình

đầu, khóc cho chính bản thân Bởi “ nàng đã hiến thân hoàn toàn cho Tôlômiet

và tội nghiệp nàng đã có con” [ T1 – 242 ] Cũng chính từ đó Phăngtin bị đẩyvào cảnh khốn cùng: “ ngời mẹ trông nghèo nàn buồn bã, chị ăn mặc nh thợsắp quay về làm nông dân Chị còn trẻ lắm ” [T1 – 246] Phăngtin mong đợcchia sẻ, an ủi nên chị viết th gửi Tôlômiet Nhng điều chị nhận đợc chỉ là sựvô vọng Trơ trọi giữa cuộc đời, không một ngời sẻ chia, cảm thông, đỡ đần,Phăngtin lâm vào túng quẫn Chị trở thành kẻ “ tứ cố vô thân ” “ Nàng cảmthấy túng quẫn đến nơi và không biết còn tuột dốc đến đâu nữa ” [ T1 – 248 ]

Có thể nói, cái mệnh “ khốn khổ ” cứ đeo đẳng mãi đời chị Nó không buôngtha mà đẩy chị vào con đờng tăm tối Không còn cách nào khác , “ nàng quyết

định từ bỏ tất những thứ mình có, thay áo hàng, mặc áo vải Những thứ áo lụa,

Trang 22

dải là đăng ten, nàng đem chữa tất cả cho con, niềm kiêu hãnh thiêng liêng độcnhất Có gì nàng đem bán tất để trang trải nợ nần ” [ T1 - 248 ].

Nh vậy, chính đói nghèo đã đẩy chị lún sâu vào “ vũng lầy khốn khổ”.Chị bị đặt trong một tình thế hiểm nghèo Hoặc là phải xa con để có việc làm.Hoặc gần con thì không kiếm đâu ra việc làm Bởi thực tế xã hội t sản khôngchấp nhận một ngời phụ nữ đi làm có con nhng không có chồng Hoàn cảnh bắtbuộc Phăngtin phải gửi con cho gia đình Tênacđiê để có việc làm.Vì thế,Phăngtin phải chịu nỗi khổ của một ngời mẹ yêu thơng con nhng phải sống xalìa

Trở về quê cũ, ngời ta không còn nhớ chị Nhng may mắn thay cánhcổng xởng máy của ông Mađơlen laị mở rộng đón chị Phăngtin đợc vào làm ởkhu nữ Có đợc việc làm , chị cảm thấy vui và hi vọng sẽ sống lơng thiện bằngchính đôi bàn tay lao động cần cù Nhng xã hội t sản luôn bóp nghẹt những ớcmơ bình dị của những ngời lao động nghèo Chính vì thế, những niềm vui chỉthoáng qua trong đời Phăngtin Chỉ vì ngời ta biết chị có con nhng không cóchồng Thói ích kỷ, hẹp hòi, lòng đố kỵ đen tối của ngời đời đã không cho chịsống yên lành Ngời ta bàn tán, dị nghị Bởi thế, “ chị bị chúng ghen gét vì cómái tóc dài và hàm răng trắng” [ T1 – 291 ] Cuối cùng, nỗi khổ của một ngờithất nghiệp đã đè lên cuộc đời bất hạnh của chị Phăngtin mất việc làm Cõilòng chị tan nát Trứơc mắt chị, cuộc sống chỉ là một màu đen Trong khi đó,Tênacđiê lại thúc giấy đòi tiền Chị nghe nh sét đánh bên tai và không biết bỏ

đi đâu đợc nữa Chị xấu hổ, mặc cảm với chính mình Mỗi lần ra phố, chị cảmthấy mình phải đối mặt với cả xã hội tàn nhẫn “Mỗi khi ra phố chị cảm thấy aicũng trông theo chị mà chỉ trỏ Ai cũng giơng mắt nhìn chị mà không thèmchào hỏi Sự khinh bỉ, chua chát, lạnh lùng của kẻ qua đờng, xoáy vào da thịt,tâm hồn chị nh ngọn gió bấc ” [ T1 – 296 ] Từ một ngời hiền lành, dịu dàng,Phăngtin trở nên “ trâng tráo ” trớc những cái nhìn khinh bạc của ngời đời xãhội t sản đã không đồng cảm, không thấu hiểu hoàn cảnh éo le cùng những bấthạnh của đời chị Ngựơc lại, họ còn đẩy chị vào hố thẳm khôn cùng Thực tếcuộc sống buộc chị phải chấp nhận “ rồi chị cũng quen với cảnh túng đói Lần

đầu chị cũng dứt khoát, hai ba tháng sau chị rũ bỏ hổ thẹn, đi lại ngoài phố nhkhông có chuyện gì xảy ra Chị thầm bảo và tự nhủ rằng “ cóc cần ” và đi lại

Trang 23

ngẩng cao đầu, cời ngao ngán, chị cảm thấy mình đơng hoá ra trâng tráo ”[T1 – 296 ].

Cùng với cảnh thất nghiệp, Phăngtin phải chịu nỗi khổ bởi bệnh tậtdày vò Cuộc sống túng quẫn bao nhiêu nợ nần của chị chồng chất bấy nhiêu.Hoàn cảnh ấy buộc chị phải lao lực “ Phăngtin lao lực quá nên suy yếu đi,bệnh ho khan ngày càng tăng ” [ T1 – 296 ] Tình cảnh thất nghiệp kéo dàiPhăngtin không còn kế sinh nhai Đã vậy, vợ chồng Tênacđiê lại luôn lừa dốichị để đòi tiền Chúng yêu cầu chị phải gửi tiền để mua váy, nếu không Côdet

sẽ chịu rét Thơng con quá, chị phải bán mái tóc “ giát vàng ” với giá 10 Frăng

để mua váy gửi cho con Dù cuộc sống có muôn vàn khổ cực nhng chị luôn cốgắng để Côdet đợc sung sớng Chị cảm thấy vui lòng khi nghĩ đến cảnh Côdet

ấm áp trong chiếc váy xinh xắn Chị nghĩ : “ con ta sẽ không rét nữa, ta lấy tócdệt cho con ta rồi ” [ T1 – 298] Vì Phăngtin phải chịu những đớn đau, giày

vò đen tối nên chị căm ghét tất cả Chị căm thù xã hội đã làm chị khổ đau Sa

đoạ cùng quẫn khiến chị bắt nhân tình với một kẻ không yêu, không thơngmình Đó là một tên khốn nạn, một tên gẩy đàn hành khất, một đứa vô nghềnghiệp Chị bị hắn đánh đập bỏ rơi một cách dễ dàng Nhng càng khổ nhục baonhiêu, hình ảnh Côdet lại càng sáng chói trong tâm hồn chị bấy nhiêu Côdet

nh là niềm tin, là sự hi vọng để chi vợt lên tất cả Trong hoàn cảnh tởng chừngkhông thể vực dậy Phăngtin vẫn hi vọng, đến một ngày nào đó chị sẽ đợc sốngbên Côdet Chị hằng ớc: “ bao giờ giàu thì ta sẽ đón Côdet về ”

[ T1 – 299 ] Và chị đem bán nốt hai cái răng duyên để gửi tiền cho Côdet Đó chính là những lý do làm cho đời sống của Phăngtin mỗi ngày mộttồi tệ thêm Cuộc sống sung túc, đàng hoàng hoàn toàn xa lạ đối với chị “ Từlâu nàng không ở cái phòng ở tầng hai nữa mà lên ở trên gác xếp sát mái nhà,chỉ cài bằng một cái then con, một cái xó mà mái gác chếch lên mặt sàn, ra vào

đụng đầu Kẻ nghèo khổ chui vào buồng mình ở cũng nh đi vào số mệnh, càngvào càng phải cúi rạp lng xuống Phăngtin không có giờng nữa, nàng chỉ cómột mảnh giẻ rách gọi là chăn, một cái đệm vất xuống sàn và một chiếc ghế nát

” [ T1 – 303] Cuộc sống khổ cực, khiến chị không còn thiết nghĩ đến chuyệnlàm đẹp cho mình “Phăgtin không còn biết xấu hổ là gì, đến nay nàng cũngkhông thiết làm dáng nữa ” Chị cảm thấy đời mình thế là hết Chị ra đờngtrong một trang phục tồi tàn không khác những kẻ hành khất, đồ dùng chị cũng

Trang 24

không buồn sửa sang lại: “ Chị đội những cái mũ chụp bẩn đi ra phố Vì bậnhay vì chán chờng, nàng để mặc cho quần áo rách nát không vá víu nữa Khigót bít tất thủng, nàng gấp vào trong giầy làm cho bít tất có những nếp giăndọc, nàng chụp cái coóc – xê cũ nát bằng những mủn vải bở, hễ cựa một cái

là toạc ra ” [ T1 – 303 ] Đã thế, chị lại luôn phải chịu áp lực nặng nề bởi nợnần chồng chất “ Chủ nợ luôn mè nheo, không để chị yên lúc nào ở ngoài đ-ờng cũng thấy họ, về nhà cứ đến cầu thang lại đã thấy họ ”[ T1 – 303] Vớichị lúc này, cuộc sống chỉ là đau thơng và tủi nhục: “ Đêm nào nàng cũng nghĩngợi và khóc lóc”[ T1 – 303] Tình cảnh vốn đã khốn đốn, những tên chủ thầubất lơng lại ra sức bóc lột chị, chị làm việc cật lực 17 giờ trong một ngày, nhngchỉ đợc chín xu Trong hoàn cảnh ấy, “nàng cảm thấy mình nh một con vật bịngời ta săn bắt và đơng hoá nên hung tợn vì bị đuổi cùng đờng” [T1 – 304 ]

Cuối cùng, chị phải đi làm gái điếm Đó là đỉnh điểm nỗi đau trongcuộc đời mà Phăngtin phải chịu đựng Đến bớc đờng bi đát ấy, chị không còn làmình nữa Phăngtin cảm thấy buốt tay Cũng nh Giăng Vangiăng, sau 19 năm

tù trở thành ngời “ trơ nh đá” và căm thù xã hội thì Phăngtin đoạn tuyệt vớicuộc đời, với trật tự xã hội,… “ Nàng đã nhận tất, chịu tất, thử thách tất, đau khổnhất, mất tất, khóc thơng tất,… a rào cứ tuôn xuống ngời, biển cả cứ giội lên.MNàng đã là một tấm giẻ đẫm nớc ”[ T1 – 305] Qua đó, V.Huygô muốn khẳng

định một điều trong xã hội bất công xấu xa, đen tối không còn nỗi khổ đau,nhục nhã nào lại cha đè lên ngời lao động nghèo T tởng nhân đạo củaV.Huygô sâu sắc chính là ở đó Trái tim ông luôn rộng mở để thấu suốt mọivấn đề của cuộc sống, xã hội và con ngời

Bên cạnh đó, Phăng tin còn phải chịu nỗi khổ bởi sự đối xử bất côngcủa luật pháp t sản Phải nhục nhã bán mình để kiếm sống, những tên t sản vô l-

ơng tâm còn không để chị yên Trong đó Bamtaboa là một điển hình Trongmột buổi chờ khách, chị bị y trêu tức rồi lấy tuyết bỏ vào ngời Phăngtin lạnhbuốt Nỗi cực nhục và bực tức lên đến đỉnh điểm, đã khiến chị chống trả lại y.Chính vì vậy, Phăngtin bị luật pháp bất công phạt 6 tháng tù Nhng cuộc đời chịlại một lần nữa đợc Mađơlen cứu giúp Hiểu rõ hoàn cảnh của Phăngtin và nhìnnhận đúng bản chất của sự việc, với t cách là một thị trởng, Mađơlen đã ra lệnhyêu cầu cảnh sát thả chị Thoát khỏi vòng pháp luật, bao nỗi đau dồn tụ đãkhiến chị lâm bệnh nặng và qua đời trong nỗi tuỵêt vọng Bởi chị chỉ mong

Trang 25

một điều duy nhất là đợc nhìn thấy Côdet Chị cho rằng, chỉ khi nào đợc gặpCôdet chúa mới tha thứ cho chị Trong lúc sốt nặng, chị đã nói với các bà xơ : “Tôi là một ngời tội lỗi, song lúc mà con tôi đợc đến với tôi thì tức là chúa đã thathứ cho tôi Khi trớc, tôi còn là con ngời h hỏng Tôi không dám đem conCôdet về nhà, tôi không nỡ để con tôi phải chịu nhìn tôi ngơ ngác và buồn rầu.Thế nhng lại chính vì chút máu rơi ấy mà thân tôi nên nông nỗi này Chính vìthế mà chúa tha thứ cho tôi Bao giờ Côdet ở đây, lúc ấy là lúc tôi chịu phúcchúa ban cho ” [T1 – 327]

Nh vậy, cuộc đời Phăngtin là chuỗi dài những đau khổ Đến khi chếtcòn cha thanh thản tâm hồn Ngời ta đem chôn chị nơi vùi lấp những kẻ nghèohèn “Mồ của chị là cái mồ chung của mọi ngời, cũng nh giờng chị nằm trớckia ” [T1 -468]

Tất cả điều đó đợc V.Huygô thể hiện trong những trăn trở, băn khoănbằng một câu hỏi lớn : “ Chuyện của Phăngtin là chuyện gì vậy ”? Và ôngkhẳng định :

“ Chuyện xã hội mua một ngời nô lệ

Mua của ai ? của cùng khổ

Của đói khát, của rét mớt, của cô đơn hắt hủi, của trơ trọi”

[ T1 – 304].Tình cảm V.Huygô dành cho ngời phụ nữ truỵ lạc vì đói khát chính là ở chỗ

ông gần gũi, cảm thông và phản ánh trung thực những nỗi khổ mà họ chịu

đựng Đồng thời ông ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của họ Với Phăngtin đó là sự hysinh và tình thơng yêu dành cho đứa con mà chị gọi là “ ngọc quý ”, “ hònngọc” Phăngtin trở thành biểu tợng cho bao nỗi khổ của ngời phụ nữ khôngchỉ trong xã hội Pháp thế kỉ XIX mà ở nhiều nơi, nhiều thời điểm khác nhautrên thế giới Trớc V.Huygô, trong nền văn học Việt Nam trung đại, Nguyễn

Du cũng đã từng đề cập đến nỗi khổ cuả ngời phụ nữ qua những trang thơ trữ

tình đầy thơng xót Trong đó, “ Truyện Kiều” là tác phẩm tiêu biểu nhất.

Thông qua số phận của nàng Kiều, Nguyễn Du thể hiện sự cảm thông sâu sắcvới nỗi khổ của ngời con gái tài hoa nhng bạc mệnh.Qua đó, ông lên án tố cáoxã hội phong kiến bất công,vô nhân đạo đã chà đạp lên nhân phẩm ngời phụ nữ

Nh vậy, không hẹn mà nên, ở hai thời đại, hai phơng trời, đứng trớc một trongnhững vấn đề lớn lao của nhân loại có phân chia giai cấp, là vấn đề sa đoạ của

Trang 26

ngời phụ nữ, hai trái tim lớn, Pháp và Việt Nam đã gặp nhau, đều có những u áicao cả Niềm u ái ấy đâu cũng là chuyện đau lòng

1.3 Côdet - trẻ nhỏ cằn cỗi vì tối tăm :

Cùng với phụ nữ, trẻ thơ là đối tợng đợc V.Huygô đề cập nhiều trongsáng tác Theo ông, nhìn một ngời đàn ông khốn khổ chúng ta cha thấy gì,phảinhìn ngời phụ nữ Nhng mới chỉ nhìn ngời phụ nữ khốn khổ cũng coi nh chathấy gì Phải thấy một đứa trẻ khốn khổ mới thấu hiểu đợc nỗi khổ của con ng-

ời Với “ Những ngời khốn khổ ”, Côdet - trẻ nhỏ cằn cỗi vì tối tăm chính là

minh chứng tiêu biểu

Qua những trang viết giàu tinh thần nhân đạo, Huygô đã thể hiện sâusắc tình cảm yêu thơng đối với những trẻ thơ bất hạnh Ông nói về tuổi thơcủa Côdet bằng một thái độ trìu mến Nỗi khổ của Côdet, trớc hết là nỗi khổcủa một đứa trẻ lớn lên không biết cha mẹ mình là ai Từ khi còn rất nhỏCôdet đã bị bóc lột sức lao động, bị ức hiếp làm cho méo mó về hình dáng, sợhãi, hoảng loạn trong tâm hồn

Nếu nh, Giăng Vangiăng khổ bởi nghèo đói, thất học, tù đầy, bởi sựtruy đuổi của luật pháp ; Phăngtin khổ bởi thất nghiệp, bị phụ tình và d luận xãhội thì Côdet lại khốn khổ bởi sự hành hạ độc ác của những kẻ vô nhân đạotrong xã hội.ẻtong đó vợ chồng Tênacđiê là đại diện

Theo lẽ thờng, một trẻ thơ khi sinh ra phải đợc hởng những niềm vui,hạnh phúc, sự chăm sóc yêu thơng của gia đình và xã hội Nhng Côdet sinh rakhông có đợc may mắn ấy Ngay từ nhỏ Côdet đã là một đứa trẻ “khốn khổ ” Côdet là kết quả của mối tình giữa Phăngtin và Tôlômiet NhngPhăngtin bị phụ tình, rơi vào hoàn cảnh éo le Để có tiền trang trải nợ nần, chị

đành gửi Côdet cho gia đình Tênacđiê Nàng không ngờ mình đã “gửi trứng cho

ác ” Bởi vậy, những năm tháng sống với gia đình Tênacđiê chính là chuỗi ngàyCôdet chịu nhiều khổ cực hơn cả

Trái ngợc với Êpônin, Adenma – những đứa con của gia đìnhTênacđiê, chúng đợc sống trong sự yêu thơng, trìu mến còn Côdet chỉ thấy trớcmắt mình toàn những lời đe doạ, chửi mắng Từ khi còn rất nhỏ “ Côdet đãgánh vác hộ đòn cho con mụ Chúng chỉ lĩnh những cái hôn hít vuốt ve, cònCôdet mỗi lần động chân, động tay là bị phạt, bị mắng nh tát nớc vào mặt mộtcách thậm vô lý Con bé hiền lành yếu ớt không hiểu gì về cuộc đời, về chúa,

Trang 27

chỉ thấy quanh năm bị phạt, bị mắng, bị hành hạ, bị đánh đập, mà ở cùng nhàhai đứa cũng nh mình lại sớng nh tiên ” [ T1 – 259 ] Lẽ dĩ nhiên, tuổi thơ củaCôdet lớn lên trong những trận đòn tàn nhẫn Bởi vợ chồng Tênacđiê đều lànhững kẻ vô nhân đạo Chúng thuộc hạng ngời lùn, không vơn lên đợc “Khimột dục vọng nào đó hun đốt thì cả hai đều dễ trở thành yêu quái Con vợ bảnchất phũ phàng, thô bạo, còn thằng chồng thì là một thằng khốn kiếp Cả hai

đều có triển vọng tiến đến không cùng của tội ác ” [ T1 – 255 ] Cách đối xửvới Côdet đã thể hiện sự tàn bạo, bất lơng của chúng Nó nh một minh chứng vềxã hội không quan tâm, không dành yêu thơng cho những trẻ nhỏ có hoàn cảnh

éo le

Bởi thế, “ mỗi năm Côdet một lớn thì những nỗi điêu khổ của nó cũnglớn theo ” [ T1 - 259 ] Thật không có nỗi cực nào hơn “ khi bé tí, Côdet là cáibung sung của hai đứa con nhà Tênacđiê, đến lúc lớn lên đợc một chút ( cha

đầy năm tuổi ) thì nó trở thành đầy tớ cho cả nhà ” [T1 – 260 ] Nh vậy, Côdet

từ nhỏ đã là một đầy tớ chịu đựng những đòn roi đau đớn

Thứ nữa, Côdet còn chịu nỗi khổ của một trẻ nhỏ bị bóc lột sức lao

động Điều đó đợc thể hiện ở chỗ, mọi công việc trong nhà Tênacđiê đều đèlên đôi vai bé bỏng của em Nó đợc Huygô thể hiện qua những chi tiết hết sứcsinh động Ông viết : “ Côdet phải làm các việc vặt, quét tớc các buồng và sân,cổng, rửa bát, có lúc phải khiêng vác đồ nặng Khi mẹ gửi tiền chậm vài tháng,

vợ chồng Tênacđiê đợc thể hành hạ … Khi đợc gửi vào gia đình ấy, Côdet là

đứa trẻ xinh tơi nhng đến nay thì xanh xao, gầy còm Dáng đi rụt rè, sợ sệt, … Phải chịu đựng bất công lắm con bé hoá ra càu nhàu, đói khổ nó hoá ra xấu xí.Cả ngời con bé chỉ còn đôi mắt là đẹp Ai trông cũng phải thơng, càng to càngthấy mênh mông nỗi khổ ” [ T1 – 260] Cứ nh thế, những công việc nặngkhông ngừng đè lên đôi vai bé bỏng của Côdet.Nỗi cục nhọc ấy đợc Huygô thểhiện rất cảm động, ông viết: “ Mùa rét, cha sáng con bé đã phải ra quét tớc Nórun lẩy bẩy trong mấy miếng giẻ che thân Hai bàn tay nhỏ và đỏ nhừ ôm mộtcái chổi to tớng Trong mỗi khoé mắt, một giọt lệ ngập ngừng thật não nùng ”[ T1 - 260,261 ] Mọi ngời xung quanh gọi Côdet là sơn ca Bởi ngời ta thấyrằng, em không lớn hơn con chim, run lẩy bẩy, lúc nào cũng sợ sệt, cũng giậtmình trong nhà và cả trong làng Sáng tinh sơng cha ai dậy, đã thấy Côdetngoài đờng hay ra đồng Nhng tội nghiệp, sơn ca ấy không bao giờ hót cả

Trang 28

Chẳng bao giờ Côdet nhận đợc ở gia đình Tênacđiê một cử chỉ âu yếm, yêu

th-ơng, chiều chuộng Ngợc lại, chỉ là những trận đòn, những công việc tiếp nốinhau Vì vậy, mới tám tuổi do chịu nhiều khổ cực nên dáng điệu Côdet nh một

bà già thảm hại Chắc hẳn không còn nỗi thơng tâm nào hơn thế Chính cuộcsống tăm tối đã thui chột những ớc mơ tuổi thần tiên của Côdet Có lần mùa

đông, trời “ tối nh hũ nút ” Côdet phải vào rừng lấy nớc cho ngựa của kháchtrọ Một cảnh tợng diễn ra đến hãi hùng : “ Trớc mắt nó, một không gian đenngòm, vắng lặng Nó nhìn mà tuyệt vọng, không còn lấy một ngời nào, chắc cóthú, có cả ma nữa cũng nên, … Côdet không hiểu đợc cảm giác của mình lúc

đó, nhng nó cảm thấy cả khối to lớn, đen ngòm của vũ trụ đang bám chặt lấy

nó, không phải nó chỉ thấy khủng khiếp mà nó thấy cái gì còn hơn sự khủngkhiếp ” [T1 – 591] Ngời đọc không mấy ai cầm lòng khi chứng kiến cảnh t-ợng kinh hoàng ấy Nhìn Côdet thật đáng tội : “ Trông nó nh một bà già đicòng về phía trớc, đầu cúi xuống Thùng nứơc nặng quá, cánh tay gầy gò cứthẳng căng và cứng đờ ra ” [ T1 – 594 ]

Nh vậy, mới tám tuổi Côdet đã phải lao động cực nhọc Chính nhữngvất vả đã làm tâm hồn em khô héo Sống trong nhà Tênacđiê Côdet nh một kẻ

bị “ cối xay gió nghiền, bị kìm xé thịt ” Và sống trong gia đình ấy, Côdet nh “rơi vào tổ nhện ” áo quần thì độc một manh, đã rách nát,… “ hai vai gầy lõmxơng trông đến rớt nớc mắt ” [T1 – 608] Những nỗi khiếp sợ thờng xuyênlàm Côdet mất đi vẻ hồn nhiên vốn có của một đứa trẻ Đã vậy, chỗ ăn chỗ ởcủa em lại không khác gì chỗ của con chó, con mèo Chỗ Côdet nằm là gầmcầu thang Nhìn vào thấy ngổn ngang những sọt cũ, chai lọ vỡ, bụi bặm vàmạng nhện chăng đầy ; ở giữa một cái giờng Gọi là giờng nhng thật ra chỉ làmột cái ổ rơm cũ thủng lòi cả rơm ra ngoài, lại có một cái chăn rách giơ cả lõi.Làm gì có khăn trải, ổ rơm ngay giữa mặt đất ” [ T1 – 626 ] Bát của em cũnggiống nh bát của con chó, con mèo trong nhà Tênacđiê đó là chiếc bát gỗ, thô,

cũ kỹ

Ngoài những cực khổ vì bị bóc lột sức lao động, Côdet còn chịu bấthạnh bởi không bao giờ có đợc những thứ đồ chơi nh ý Hay nói khác đi, đó lànỗi khổ của một tuổi thơ không đợc sống với những mơ ớc hồn nhiên V.Huygô

đặt Côdet bên cạnh hai đứa nhỏ nhà Tênacđiê là cả một dụng ý nghệ thuật.Khác với Êpônin và Adenma, chúng có đầy đủ những thứ đồ chơi với những

Trang 29

con búp bê xinh xắn Trong khi đó, Côdet chỉ mong đợc ôm chú búp bê đã cũcủa chúng Cùng với những đòn roi của vợ chồng Tênacđiê, Côdet còn bị chínhnhững đứa con của họ khinh rẻ “ Chúng coi Côdet nh con chó trong nhà Cả bacộng lại cha đầy tuổi hai mơi, nhng tiêu biểu cho tất cả xã hội loài ngời, mộtbên là thèm muốn, một bên là khinh rẻ ” [T1 – 613 ] Vì vậy cái cảm giáccùng vui, cùng chơi không bao giờ có giữa ba đứa trẻ.

Chính những điều đó đã khiến cho Côdet trở nên “ ngây dại nh một conquái vật ”

Qua đó, chúng ta hiểu vì sao trong sáng tác của V.Huygô tình cảm yêuthơng dành cho trẻ sâu sắc và để lại nhiều trăn trở đến vậy Cả đời, ông chỉmong sao cho các em đựơc hạnh phúc, ấm no Và thực tế, V.Huygô luôn đem

đến cho trẻ nhỏ những niềm vui Ông dành thời gian chuyện trò với chúng vớimột thái độ ân cần Ông thiết đãi chúng những bữa tiệc cuối tuần hay vào mỗidịp Noen Ông dạy chúng biết yêu thơng Ông bảo cho chúng hiểu để thoátkhỏi nỗi khổ trên đời con ngời cần phải làm những gì Và ông nói, đó chính làhai điều đơn giản : “yêu thơng và làm việc”.Những yêu thơng đó biểu hiện rõnét t tởng nhân đạo lớn lao của V.Huygô Với hình tợng Côdet, bằng cách viếtchân thực có thể khẳng định rằng cha một tác giả nào lại dành những tình cảmxúc động cho trẻ thơ nh V.Huygô Đó là một đứa trẻ chịu nhiều nỗi khổ khôngnhững về vật chất mà cả tinh thần Một tuổi thơ không biết đến hạnh phúc đíchthực là gì

1.4 Những trẻ thơ lang thang trên hè phố:

V.Huygô suốt đời quan tâm tới những vấn đề của lịch sử, xã hội và

đời sống Vì vậy, trong tác phẩm của ông mọi vấn đề đều đợc phản ánh một

cách đầy đủ Trong “ Những ngời khốn khổ ” bên cạnh Côdet- trẻ thơ cằn

cỗi vì tối tăm, V.Huygô còn nhìn thấy cảnh đời éo le của những nhỏ trẻ langlang trên hè phố Trong đó, Gavơrốt, Êpônin, Giécve, là những điển hình Trớc hết là chú bé Gavơrốt V.Huygô viết : “… Ngời ta thờng thấy trên

đại lộ Tăngpơlơ và ở trong vùng Satôđô, một em trai nhỏ khoảng mời một, mờihai tuổi, có thể nói là ứng đáp lý tởng các chú “nhóc” , nếu với cái cời của tuổitrên môi, trái tim em không hoàn toàn âm u và trống rỗng Em bé đó cũng mặcmột cái quần dài, nhng không phải của cha em, một cái áo ngắn, nhng khôngphải của mẹ em : những ngời từ thiện nào đó đã cho em, quần áo ấy ”[T1 –

Trang 30

879 ] Những chi tiết ngắn gọn ấy đã nói đầy đủ hoàn cảnh của Gavơrốt Mộtchú bé lang thang, tồn tại trên các hè phố và sống nhờ vào lòng từ thiện của ng-

ời đời

Gavơrốt vốn có đầy đủ cha mẹ Cha em chính là Tênacđiê, chỉ nghĩ

đến mục đích làm giàu Mẹ em không thơng gì những đứa con trai Vì vậy “emcũng có cha mẹ Nhng cha em không nghĩ đến em và mẹ em khêng yêu em

Em bé ấy là một trong những em nhỏ đáng thơng hơn cả, có cha có mẹ mà lại

mồ côi ”[ T1 – 879 ] Tuổi thơ của Gavơrốt cũng nh Côdet, không đợc họchành, không biết đến một cử chỉ âu yếm, yêu thơng Em lớn lên bằng chínhnhững căn nhà nát của thủ đô Pari “ Em bé ấy không ở đâu khoan khoái bằng

ở ngoài đờng Những viên đá lát đờng không rắn bằng trái tim mẹ em Với mộtcái đá, bố mẹ em đã vứt em vào cuộc đời và thế là em đã bay đi ” [ T1 -879 ].Qua đó , V.Hugô muốn lý giải vì sao Gavơrốt trở thành trẻ lang thang Hay nóikhác đi, chính sự bất lơng của cha mẹ đã đẩy em ra giữa dòng đời, sống mộttuổi thơ tăm tối

Gavơrốt mang đầy đủ những đặc điểm của một trẻ thơ lang thang trên

hè phố Không cửa, không nhà, lấy bầu trời, mặt đất làm nhà, ghế đá công viênlàm giờng Đầu trần chân đất Cơm không đủ no, áo không đủ mặc Hơn thế, vì

bị bỏ rơi nên Gavơrốt sớm du nhập những thói h tật xấu của xã hội Em họccách ăn nói cũng nh hành động mang tính chất của những đứa trẻ không đợcdạy dỗ, khuyên bảo Gavơrốt “ biết trèo tờng , trộm cắp vặt, vật vờ nơi đầu đ-ờng, xó chợ hay nói tiếng lóng Gavơrốt là một chú bé vui nhộn xanh xao,nhanh nhẹn, tinh khôn, a chế giễu, có vẻ mặt hoạt bát mà ốm yếu” [ T1 –879] Nh vậy, tuổi thơ của Gavơrốt chính là những ngày lang thang nơi vỉa hè

đầu phố Những chi tiết chân thực ấy có sức khái quát rộng lớn về hiện tợng vôthừa nhận những trẻ thơ ở Pháp thế kỷ XIX

V.Huygô đã thấu hiểu hoàn cảnh, nguyên nhân dẫn đến cuộc sống langthang của trẻ thơ Hơn thế nữa, ông còn nhìn thấy ở các em những vẻ hồnnhiên, những tình cảm cao đẹp

Gavơrốt vẫn đi lại, hát cời trên đờng phố Chú “ vui vẻ nh con mèo haycon chim sẻ Chú cời khi ngời ta gọi là “ nhãi ranh”, nhng tức giận khi ngời tagọi là “ mất dạy ” Chú không có nhà ở, không có bánh ăn, không có lò sởi,không có ai yêu, nhng chú vui sớng vì tự do” [ T1 – 880 ] Điều đáng quí là

Trang 31

dù cuộc sống tối tăm, dù không đợc hởng niềm vui chốn nhà cao, cửa rộng,

nh-ng ở Gavơrốt vẫn sánh-ng lên tia lửa của lònh-ng yêu đời, yêu chính cuộc sốnh-ng củamình Đặc biệt Gavơrốt vẫn dành tình thơng yêu cho những ngời thân cũng nh

ai đồng cảnh ngộ “ Dù bị cha mẹ mang bỏ chợ, đôi khi cứ cách hai, ba tháng

em lại nói: “ Chà ! mình phải đến thăm bà bô một chút ” [T1 – 880 ] Cũng làmột trẻ thơ lang thang “ ăn những của mà ngời ta vứt đi, mặc toàn rách, cả ngàylục tìm trong những đống rác tất cả những gì có thể bỏ vào mồm” NhngGavơrốt vẫn không ngần ngại khi nhờng chiếc khăn duy nhất cho bé gái hànhkhất hay sẵn sàng bỏ tiền mua bánh mì cho những trẻ em khác Khi cuộc khởinghĩa của quần chúng diễn ra, Gavơrôt tham gia hăng hái Em đi lại nhanhnhẹn, hồn nhiên và hoàn thành mọi nhiệm vụ đợc giao Sự hi sinh dũng cảmcủa em mãi là biểu tợng cho lòng yêu tự do, yêu hoà bình và đấu tranh vì hạnhphúc của nhân loại Đó là những biểu hiện rõ nét của tình cảm trìu mến vàniềm tin cao cả vào con ngời trong sáng tác của V.Huygô

Từ những điều phân tích trên cho thấy, Gavơrốt thực sự tiêu biểu cho lớptrẻ em nghèo khổ nơi hè phố, ở tầng đáy của xã hội lúc bấy giờ Nỗi bất hạnh

ấy đợc V.Huygô khái quát bằng những câu văn hết sức giản dị Ông viết: “Chú

bé sống không chút tình thơng yêu cũng nh đám cỏ nhợt mọc trong hầm tối.Chú không thấy thế là khổ mà cũng chẳng trách ai Chú chẳng biết đúng mộtngời bố, một ngời mẹ thì nh thế nào ” [T1 – 881 ]

Bên cạnh Gavơrốt, Êpônin – cô gái bị biến dạng cũng là một minhchứng Thực chất, Gavơrốt chính là em của Êpônin Cả hai chị em đều bị bố mẹ

đẩy vào hoàn cảnh của những trẻ lang thang Là những kẻ làm giàu bất lơng, vợchồng Tênacđiê đều có thể tiến đến cùng của sự độc ác Chính vì vậy, Êpôninbuộc phải lang thang ngoài đờng với những lá th mặc danh do chính tay chaviết mong cứu giúp từ thiện Lối sống t sản lọc lừa giả dối theo đó đã ảnh hởng

đến em Êpônin bị xã hội làm cho “ biến dạng ” Em “ gầy gò, xanh xao, hốchác, cô chỉ phong phanh một cái váy, ngời lạnh cóng run lẩy bẩy”.Thân hìnhcủa Êpônin là một thân hình biến dạng : hai vai gầy, dơ cả xơng ra ngoài áo, n-

ớc da nhợt nhạt, xơng vai xám xịt, bàn tay thì đỏ bầm, miệng mất mấy cái răng,con mắt đục táo tợn … Những chi tiết ấy cho ta thấy Êpônin cũng chịu nỗi bấthạnh của một trẻ lang thang không khác Gavơrốt

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w