1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngôn ngữ thơ thanh thảo

106 1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngữ Ngữ Thơ Thanh Thảo
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 367 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1983, các tác giả Sử Hồng và Trần Đăng Xuyền đã đi sâu phân tíchmột chủ đề tư tưởng nổi bật của thơ Thanh Thảo trong bài viết: “Suy nghĩ về nhân dân trong “Những ngọn sóng mặt trời”

Trang 1

đã trở thành tiếng nói của một thế hệ, của những ngời trực tiếp xung kích trên mặttrận chống quân thù Nhà thơ đã trở thành một trong những gơng mặt tiêu biểu củaphong trào thơ trẻ chống Mĩ cứu nớc.

Sự hiện diện của Thanh Thảo trong thời kì cuối của cuộc kháng chiến chống

Mĩ cứu nớc là sự tiếp sức trong đội ngũ các nhà thơ trẻ Song Thanh Thảo vẫn đem

đến một tiếng thơ mới mẻ, một dáng dấp cho thơ ca kháng chiến chống Mĩ

Cựng với Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Bằng Việt,Xuõn Quỳnh, Hữu Thỉnh,… Thanh Thảo cũng là một trong những gương mặttiờu biểu của đội ngũ những nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ Bằng tài năng và tõmhuyết của mỡnh, nhà thơ đó sớm khẳng định phong cỏch thơ ca và đem đến chonền thơ ca chống Mĩ núi riờng và thơ ca dõn tộc núi chung một tiếng thơ, mộtcỏch tiếp cận và khỏm phỏ hiện thực, một phương thức biểu hiện mới mẻ độcđỏo

Đó cú rất nhiều bài viết về con người và sự nghiệp của Thanh Thảo trờncỏc bỏo Văn nghệ, Tạp chớ Văn học, Văn nghệ Quõn đội, Bỏo Thanh niờn, Báo

điện tử… Hầu hết cỏc bài viết đều là những bài giới thiệu, nghiờn cứu ngắn, nờulờn những cảm nhận chung về thơ Thanh Thảo Nhưng đú chỉ được giới nghiờncứu quan tõm về phương diện nội dung Cũn về phương diện hỡnh thức, cụ thể làvấn đề ngụn ngữ thơ Thanh Thảo thỡ cho đến nay chưa được quan tõm nghiờncứu đỳng mức

Là một nhà thơ luụn trăn trở, nghĩ suy về nghệ thuật chõn chớnh, trong suốtđời thơ của mỡnh, Thanh Thảo luụn cú ý thức cỏch tõn,sáng tạo về hỡnh thức thể

Trang 2

hiện, về ngụn ngữ thơ Bởi vậy, việc tỡm hiểu ngụn ngữ thơ Thanh Thảo giỳp ta

cú cỏi nhỡn sỏng rừ đặc điểm ngụn ngữ thơ hiện đại mà Thanh Thảo là người cúđúng gúp tớch cực vào quỏ trỡnh đổi mới của thơ ca Việt Nam từ 1975

Trờn đõy là những lớ do chớnh, cũng là mục đớch chớnh của chỳng tụi khichọn đề tài “Ngụn ngữ thơ Thanh Thảo”

2 Lịch sử vấn đề

Giữa những năm ỏc liệt nhất của năm 1972 rền tiếng bom giặc Mĩ, một bàithơ của Thanh Thảo đó được chuyển đến Chế Lan Viờn, nhờ đọc hơn là để đăngtrờn bỏo Với con mắt tinh tường của nhà thơ lớn, Chế Lan Viờn nhận thấy “bàithơ rất hay, nhưng mà đau xút quỏ” Và trong thời điểm lỳc ấy “thờm một tiếngđau” thỡ “cú ớch gỡ” nờn ụng đó quyết định “giữ bài thơ và chờ đợi” Vậy làThanh Thảo một lần lỗi hẹn với bạn đọc

Năm 1974, cũng qua một người bạn, thơ Thanh Thảo lại đến vúi Chế LanViờn như một sự tỡnh cờ, nhưng lần này khụng phải là một bài thơ mà là một tập.Tập thơ cho thấy “cỏi riờng của anh đó rắn rỏi lờn trong cuộc chiến đấu chung”

Tờn tập thơ là “Dấu chõn qua trảng cỏ” Và Chế Lan Viờn đó khụng chần chừ

lựa chọn và đăng giới thiệu liền 13 bài trong mấy chục bài của tập thơ đầu tay ấytrờn Tạp chớ Tỏc phẩm mới với tiờu đề “Thơ Thanh Thảo” (Từ miền Nam gửi ra)

Từ đó, cái tờn Thanh Thảo được nhắc đến trờn thi đàn

Cho đến nay, đó cú rất nhiều bài viết, nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về thơ

và trường ca của Thanh Thảo trờn cỏc phương diện: những chủ đề tư tưởng,những nột đắc sắc trong hỡnh thức thể hiện

2.1 Những bài viết về Thanh Thảo tập trung nhiều nhất vào cuối những

năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX

Năm 1980, trong tập tiểu luận phờ bỡnh “Những vẻ đẹp thơ” (NXB NghĩaBỡnh), tỏc giả Nguyễn Đức Quyền đó cú những nột phỏc họa về chõn dung nghệthuật của Thanh Thảo: “Thơ chống Mĩ đến Thanh Thảo đó lắng vào chiều sõu.Cỏi xụ bồ của chiến tranh, cỏi tàn bạo của giặc Mĩ, cỏi gian khổ của người lớnhđược Thanh Thảo nhỡn với cỏi nhỡn trầm tĩnh lạ thường” [53]

Trang 3

Trên Tạp chí Văn học số 2 năm 1980, tác giả Thiếu Mai có một bài viếtvới nhan đề: “Thanh Thảo - Thơ và trường ca” nhận xét: “Thơ Thanh Thảo códáng riêng Nó đủ sức gây, chú ý và gợi suy nghĩ…thơ Thanh Thảo có chiềusâu…, có nhiều nguyên nhân, nhưng phải chăng một nguyên nhân khá quan trọng

là ở chỗ bao giờ anh cũng muốn vượt qua những hiện tượng bên ngoài, để tìmđến cái bản chất đích thực, cái lõi của sự vật…thơ anh bộc lộ khả năng tự phântích cảm giác, cảm xúc của mình một cách tỉ mĩ, chi li…Thanh Thảo có ý thứccân nhắc từng chữ, sao cho mỗi chữ giữ một vị trí, một chức năng, khó thay thếbằng chữ nào khác…cái hay của thơ Thanh Thảo vừa lạ vừa quen…” [49]

Năm 1983, các tác giả Sử Hồng và Trần Đăng Xuyền đã đi sâu phân tíchmột chủ đề tư tưởng nổi bật của thơ Thanh Thảo trong bài viết: “Suy nghĩ về

nhân dân trong “Những ngọn sóng mặt trời” của Thanh Thảo” (Báo Văn nghệ

-tháng 6 năm 1983): “Những tập thơ của Thanh Thảo đã góp phần làm sâu sắcthêm quan niệm nghệ thuật về nhân dân trong văn học…tư tưởng nhân dân khôngphải được thể hiện chủ yếu qua những hình tượng cụ thể, đơn lẻ, riêng biệt màtrước hết được thể hiện qua hình tượng tập thể nhân dân đông đảo và chủ nghĩaanh hùng trong hình thái bình thường nhất của sự sống” [24]

Tác giả Lại Nguyên Ân lại nhấn mạnh chân dung và sự tự khẳng định mộtcách mạnh mẽ của người lính thuộc “thế hệ thứ ba” trong thơ Thanh Thảo:

“Thanh Thảo đã tìm được khá nhiều cung bậc, nhiều sắc thái để tô đậm nét vôdanh, bình thường ở những người lính cùng thế hệ…” Tác giả bài viết cũng nhận

thấy “tuyên ngôn về lẽ sống” và “có lẽ cả tuyên ngôn về nghệ thuật” trong “Bài

ca ống cóng” [2].

Tiếp sau đó, trong bài: “Thanh Thảo - Một gương mặt tiêu biểu trong thơ

từ sau 1975” đăng trên Tạp chí Văn học số 5+6 năm 1985, Bích Thu đã đưa ra cáinhìn tổng quát về vị trí của Thanh Thảo trong thơ trẻ chống Mỹ, những tìm tòiđổi mới từ chất liệu, thể loại, nội dung tư tưởng, giọng điệu đến các hình thức cái

tôi trữ tình trong thơ: “anh đã đem đến cho người đọc một thực đơn tinh thần mới

mẻ và độc đáo, góp phần làm phong phú thêm tiếng nói của thơ hôm nay…, cáimới của Thanh Thảo không phải là những nét trần trụi, gân guốc của thực tế

Trang 4

chiến trường mà chính là tâm hồn thơ giàu kiến thức văn hoá, luôn khát khao tớinhững vấn đề mới mẻ, với những suy cảm sâu sắc, đầy dấu ấn cá tính…”, thơ ông

“chứa đựng những yếu tố mới trong cách cấu tứ, trong lời lẽ và trong cách sửdụng chất liệu hiện thực… Thanh Thảo đã tạo được một giọng thơ trầm, giàunghĩ ngợi với những liên tưởng độc đáo, bất ngờ mang ý nghĩa khái quát sâuxa…hình thức câu thơ luôn được biến đổi nên tránh được cảm giác nặng nề, đơnđiệu” [69]

Bên cạnh đó còn có các bài viết về thơ trẻ chống Mĩ của một số tác giảkhác với những nhận định, đánh giá về Thanh Thảo như là một gương mặt tiêubiểu Đáng lưu ý là bài “Thơ hôm nay” (Văn nghệ Quân đội số 6 năm 1982), tác

giả Vũ Quần Phương đã nhận định: tuyên ngôn của Thanh Thảo trong “Bài ca

ống cóng” cũng chính là tuyên ngôn của một lớp nhà thơ trẻ lúc bấy giờ: “khi

Thanh Thảo viết “Bài ca ống cóng”…cũng là lúc thơ của lớp trẻ phát hiện ra

mình…”[52]

Có thể thấy, các bài viết về Thanh Thảo trong thời kỳ này khá nhiều và đãđưa ra nhiều ý kiến, nhiều nhận định sâu sắc về thơ Thanh Thảo Các ý kiến đềukhẳng định tính độc đáo, chiều sâu của thơ Thanh Thảo khi viết về thế hệ, vềnhân dân, Tổ quốc

2.2 Nếu như các bài viết trong thời kỳ trước khá nhiều thì từ cuối những

năm 80, đầu những năm 90 trở về đây các bài viết về Thanh Thảo thưa thớt hơn.Thanh Thảo được đề cập tới trong những bài khái quát về đặc điểm của nền thơViệt Nam trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ hoặc những côngtrình bàn về thi pháp, về sự phát triển hệ thống thể loại của thơ Việt nam hiện đại

Tác giả Nguyễn Trọng Tạo nhân đọc bài Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo,Hữu Thỉnh mà suy nghĩ về “Chất trẻ trong thơ trẻ chống Mĩ” (Văn chương cảm

và luận - NXB Văn hoá Thông tin, 1998) Ông đã đưa ra nhận xét: “Nếu nhưgiọng thơ trẻ trước anh ồn ào như mạch thác phía đầu nguồn, thì đến ThanhThảo, dòng thơ lai láng dấu trong nó một sức chảy ngầm mạnh mẽ cuối dòngsông…thơ Thanh Thảo chính là cách nói trầm tĩnh, khai thác cảm xúc đến tậncùng nhằm đẩy nhanh tứ thơ đến những hình tượng khái quát giàu chất suy nghĩ,

Trang 5

mang được một vẻ đẹp riêng” [57], đồng thời ví: thơ Thanh Thảo giống như “giọtcồn ở nồng độ cao”, bề ngoài thì lạnh mà bên trong thì nóng bỏng.

Dưới góc độ cái tôi trữ tình trong thơ, khi nghiên cứu về thơ trữ tình ViệtNam từ 1975 - 1990, tác giả Lê Lưu Oanh cũng đã đưa ra nhận định của mình về

sự vận động, đổi mới trong thơ Thanh Thảo

Trong một số công trình nghiên cứu văn học sử cũng ít nhiều có đề cập đếnthơ Thanh Thảo: “Cái tôi của thơ trẻ muốn tìm cho mình một tiếng nói trầm tĩnh,trực tiềp, thậm chí đến trần trụi, chối bỏ những gì hoa mĩ và sáo mòn trong thơ”[32]

Tác giả Trần Đăng Xuyền trong bài “Thế hệ các nhà thơ trẻ thời kỳ chốngMĩ” (Lịch sử văn học Việt Nam (tập 3) - NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2002)

có viết: “Mang khát vọng chân chính, mảnh liệt của nhân dân, của toàn dân tộc,bằng giọng điệu riêng của thế hệ mình, những nhà thơ khao khát thơ họ sẽ vượtqua được những sµng lọc nghiệt ngã của thời gian” [46]

Gần đây nhất, trong công trình “Thanh Th¶o - nghÜa khÝ vµ c¸ch t©n”, tácgiả Chu Văn Sơn đã đề cập đến những cách tân mới mẻ về hình thức thơ củaThanh Thảo: “Thanh thảo được xem là tay cách tân chủ yểu ở chuyện khác:chuyện hình thức… Thanh Thảo đã tập trung nổ lực cách tân của mình đột phávào cấu trúc thơ, tìm kiếm các mối kết hợp, các dạng liªn kết cho thơ mình” [54]

Vào ngày rét đầu năm 2008, trong bài “Thanh Thảo - Thơ - 123”, PaulHoover - nhà thơ Mỹ thành danh trong nhóm các nhà thơ tiên phong hậu hiện đạitrường phái New York School, sau khi tham gia dịch ra tiếng Anh tập thơ này đã

có những nhận xét: “Thơ Thanh Thảo đã xử lí một cách tuyệt đẹp sự màu nhiệmcái hiện hữu và phi hiện hữu, của quá khứ và hiện tại…” [12]

Trên báo Vietnam.net 12/01/2004 cũng đã đưa ra nhận xét xác thực về thơThanh Thảo: “Thơ anh như một khối vuông Rubic, nhiều tầng nhiều nghĩa, có tớisáu mặt…” [24]

2.3 Bên cạnh những bài viết của các nhà phê bình, nhà thơ còn có một số

các công trình luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn ở các trường khác nhau cũng đãchọn đối tượng nghiên cứu là thơ của Thanh Thảo: “Những đóng góp của thơ trẻ

Trang 6

thời kỳ chống Mỹ” (Đào Thị Bỡnh - 1999); “Tỡm hiểu quan niệm nghệ thuật củaThanh Thảo” (Đặng Thị Hương Lý - 2006); “Hình tợng nhân dân và ngời chiấn sĩtrong thơ Thanh Thảo” (Đặng Thị Thuý Nga - 2006)…

Tất cả những ý kiến trờn đõy chỳng tụi chỉ cú ý định điểm lại những ý kiếntiờu biểu gắn với vấn đề đặt ra của luận văn Từ cỏi nhỡn tổng quan về lịch trỡnhnghiờn cứu thơ Thanh Thảo chỳng tụi thấy rằng cỏc cụng trỡnh, bài bỏo, luận vănnghiờn cứu thơ Thanh Thảo chỉ mới ở gúc độ văn học Một số cụng trỡnh tuy đóbàn tới ngụn ngữ thơ Thanh Thảo nhưng mới chỉ ở dạng những phỏc thảo sơlược, chưa cú cụng trỡnh nào nghiờn cứu ngụn ngữ thơ Thanh Thảo một cỏch đầy

đủ, toàn diện

Trờn cơ sở những đỏnh giỏ, nghiờn cứu, nhận định về thơ Thanh Thảo củanhững người đi trước, chỳng tụi thấy cần tiếp tục nghiờn cứu đầy đủ và tập trunghơn ngụn ngữ thơ Thanh Thảo để từ đú cú cỏi nhỡn tổng quỏt về đặc trưng phongcỏch thơ ụng, gúp phần vào việc khẳng định vị trớ và tài năng của một hồn thơ cúnhiều đúng gúp cho nền thi ca dõn tộc

3 Nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiờn cứu

Thanh Thảo khụng chỉ sang tỏc thơ mà cũn sang tỏc cả trường ca Trường

ca của Thanh Thảo gồm cú: Những người đi tới biển (1977), Những ngọn súngmặt trời (1982), Trũ chuyện với nhõn vật của mỡnh (2002) Tuy nhiờn, mục đớchnghiờn cứu của chỳng tụi là thơ Thanh Thảo, cho nờn chỳng tụi sẽ tập trung khảocứu những tập thơ sau:

- Dấu chõn qua trảng cỏ - NXB Tỏc phẩm mới - HN, 1978

- Khối vuụng Rubic - NXB Tỏc phẩm mới - HN, 1985

- Bạch đàn gửi bạch dương - NXB Tổng hợp Nghĩa Bỡnh, 1987

- Từ một đến trăm - NXB Đà Nẵng, 1988

- 123 - NXB Hội nhà văn, 2007

3.2 Nhiệm vụ nghiờn cứu

Với đề tài này chỳng tụi phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

Trang 7

- Giới thiệu chung về thơ và nghiên cứu ngôn ngữ thơ Giới thiệu kháiquát về tác giả, tác phẩm Thanh Thảo.

- Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ Thanh Thảo ở các phương diện hình thức,cấu tạo các câu thơ, bài thơ

- Tìm hiểu nội dung phản ánh, các loại ngữ nghĩa, các hình ảnh thơ tiêubiểu của tác giả

- Từ những đặc điểm hình thức và nội dung trên khái quát những đặcđiểm chung nhất về ngôn ngữ thơ Thanh Thảo

4 Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn sử dụngnhững phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Đề tài đi vào khảo sát 94 bài thơ trong 5 tập thơ của Thanh Thảo, từ đóthống kê, phân loại những hiện tượng thường gặp trong thơ ông

4.2 Phương pháp phân tích, miêu tả, tổng hợp

Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các tín hiệu ngôn ngữ trong thơ ThanhThảo như việc sử dụng từ ngữ, sử dụng thể thơ, các cấu trúc câu thơ tiêu biểu,chúng tôi sẽ khái quát những đặc điểm cơ bản về phong cách ngôn ngữ thơ ông

4.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Phương pháp này được áp dụng khi phân tích các tác phẩm của chính tácgiả cần nghiên cứu Đồng thời, chúng tôi sẽ dùng khi cần so sánh cách sử dụngngôn ngữ của Thanh Thảo với các tác giả khác để làm nổi bật đặc điểm riêng vềphong cách ngôn ngữ của nhà thơ

5 §ãng gãp cña luËn v¨n

Có thể nói, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu ngôn ngữ thơ Thanh Thảodưới góc độ ngôn ngữ Từ đó, đánh giá được những đóng góp riêng của nhà thơtrong nền văn học nước nhà cuối và sau những năm chiến tranh

6 Bè côc cña luËn v¨n

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm:

Trang 8

Chương 1: Một số vấn đề lÝ thuyÕt liªn quan tới đề tàiChương 2: Đặc điểm hình thức thơ Thanh ThảoChương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa thơ Thanh Thảo

Trang 9

Chơng 1: Những vấn đề lí thuyết xung quanh đề tài

(Thanh Thảo)Kinh thành Cordoba “xa thẳm và đơn độc” chính là nơi cất dấu bí mật vĩnhhằng của thơ ca, ngời ta có thể “tới gần” nhng không thể tới đích, không thể chạm

đáy… Dù biết cái đích của con đờng là xa xôi, mù mịt nhng có thì mới có đến Có

lẽ cũng chính vì thế nên Chế Lan Viên đã từng trăn trở và đặt ra câu hỏi : “Thơ làgì? Thơ là thế nào? chả lẽ tôi hì hục làm thơ mấy chục năm trời lại trả lời là thơcũng khó định nghĩa… Thế thì điệu quá, làm bộ làm tịch quá Nhng thực ra tôi chahiểu hết thơ đâu Tôi cố định nghĩa nhiều lần… Nhng lần này định nghĩa thì lần saunán lại, chỗ này định nghĩa thì chỗ khác bổ sung” [13, 133]

Là một thể loại văn học thuộc phơng thức biểu hiện trữ tình, thơ gắn liền vớinhững rung động, với cảm xúc tơi mới, trực tiếp của cái tôi trữ tình Thơ tác động

đến ngời đọc vừa bằng nhận thức cuộc sống, vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc,vừa tác động trực tiếp với cảm xúc, suy nghĩ, vừa bằng sự rung động của ngôn ngữgiàu nhạc điệu

Đứng trớc một hiện tợng phong phú, phức tạp và bí ẩn nh vậy Mỗi ngời tìm

đến thơ lại có một cách lí giải riêng, đặc biệt khi họ tiếp cận thơ ca từ những góc độkhác nhau, có khi là đối lập nhau

Điểm qua một số công trình nghiên cứu về thơ, chúng ta có thể rút ra những

điểm cơ bản sau:

Trang 10

Thơ là tiếng nói của tình cảm con ngời, là sợi dây thơng mến ràng buộc conngời, bộc lộ tình cảm con ngời: Trớc hết nó đợc khẳng định “Thơ là sự thổ lộ tựnhiên của những tình cảm mãnh liệt” (Uyliơm Uốcxơ uuốcdơ), “Thơ là một hành

động giao cảm, một hành động tín nhiệm” [18], Tố Hữu cũng quan niệm “Thơ làmột điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu… Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình,

đập của trái tim quần chúng và xu thế lịch sử của loài ngời” (Sóng Hồng), “Cái chỗ

đến cuối cùng của thơ là đem đến một cài gì nâng sự sống lên” (Huy Cận)

Thơ là một phơng diện tinh hoa của con ngời và tạo vật “Thơ là cái nhuỵ củacuộc sống” (Tố Hữu), “Thơ là lọc lấy tính chất, là sự vật đợc phản ánh cào trongtâm tình” (Xuân Diệu), “Thơ là hoa tiểu thuyết là quả” (Nguyễn Đình Thi), “Thơ làtinh hoa là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm” (Thanh Tịnh), “Thơ là nhịp tậptrung cao độ là cái lõi của cuộc sống” (Lu Trọng L)

Thơ ca là sự sáng tạo, bản chất của nghệ thuật là sáng tạo: “Thơ ca là sángtạo của sáng tạo” [18, 18]

Trên đây chúng tôi đã lợc dẫn một số quan niệm, một số định nghĩa về thơ

Kế thừa các quan niệm, định nghĩa trên, một nhóm tác giả Việt Nam gồm các nhànghiên cứu: Lê Bá Hán, Trần đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã da ra một dịnh nghĩamang tính khái quát: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thểhiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh vànhất là có nhịp điệu” [20, 254] Định nghĩa này đã định danh một các đầy đủ về thơ

ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật, đặc biệt đã khu biệt đợc đặc trng cơ bản củangôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong các thể loại văn học khác

Trang 11

Từ sự nhận diện về thơ nh trên, chúng ta có điều kiện để đi tìm hiểu những

Ngôn ngữ thơ ca trớc hết là một thứ ngôn ngữ đợc trau chuốt gọt giũa đếnmức tinh luyện Nó nh là một loại nớc cất đợc chng lên từ vô số lời nói hằng ngày.Maiacôpxki cho rằng: “Quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống nh nhữngngời lọc quặng, lọc ra cái tinh chất… Thơ ca là cái tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, làcái ánh ngời phi thờng của nó” Mỗi bài thơ là “những ngôn từ sáng giá đứng trongmột trật tự hoàn hảo” (Côlêritgiơ) Bởi thế, nhiều ngời đã khẳng định: Thơ là sự kếttinh và thăng hoa của nghệ thuật ngôn từ Trong thơ, ngôn ngữ dễ có điều kiện bộc

lộ năng lực biểu hiện và vẻ đẹp hơn so với ngôn ngữ đợc vận dụng trong các lĩnhvực khác

Nội dung phản ánh của thơ ca không có gì khác ngoài đời sống xã hội, nhngcái quan trọng là nó tạo ra cảm xúc, tạo nên những rung động trong tâm hồn vớinhững liên tởng theo nhiều chiều hớng khác nhau “Thơ… chỉ chọn một ít điểmchính, bấm vào những điểm ấy thì toàn thể động lên theo” (Nguyễn Đình Thi) Vìvậy mà một bầu trời trong xanh, một con sóng vỗ bờ, một ánh sao trong vũng nớc

đêm, một tiếng còi tàu… đều có thể là thi liệu cho thơ, qua đó mà nảy nở cảm xúcvốn ẩn tàng trong mỗi con ngời Nhng đặc trng hơn cả là cách biểu hiện ngôn từ vàhình thức tổ chức bài thơ Với thơ, ngời ta không chỉ thấy đợc những suy nghĩ khácthờng, cảm xúc khác thờng mà còn là cách diễn đạt khác thờng GS Phan Ngọcnhận xét: “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ngời tiếpnhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữnày” [40, 29]

Nh vậy, trong thơ ngời nghệ sĩ có thể sử dụng những cấu trúc rất khác,những cách diễn đạt lạ nhiều khi tởng nh phi lý Nhng tất cả những cái đó lại đạt

Trang 12

đến hiệu quả nghệ thuật cao đối với ngời đọc, gợi lên những cảm xúc rất tinh tế.Chẳng hạn:

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá

Thu đến nơi nơi động tiếng huyền

(Thơ duyên – Xuân Diệu)Câu trên có cấu trúc ngữ pháp rất lạ Đáng lẽ nhà thơ phải viết đúng “khuônphép” là: “Trời xanh đổ ngọc qua muôn lá” Nhng nhờ biện pháp đảo ngữ “Đổ trờixanh ngọc” thi sĩ đã diễn tả đợc chút choáng ngợp trong cảm xúc và vẻ ăm ắp, no

đầy, tự dng nghiêng đổ của thiên nhiên Hình thức đặc thù ấy còn đợc thể hiện bằngcách tổ chức ngôn ngữ theo âm tiết, vần, nhịp, dòng thơ, khổ thơ tạo nên diện mạo

và hình thức riêng cho thơ

Nhờ cách tổ chức ngôn ngữ độc đáo ấy mà ngoài ngữ nghĩa thông báo củabài thơ ta còn có ngữ nghĩa khác Điều đó làm nên tính đa tầng ý nghĩa của thơ,giúp nhà thơ chuyển tải tối đa sự phức tạp, tinh tế của tâm trạng, tình cảm con ngờitrong sự hữu hạn của số lợng câu chữ Cũng vì cái mới lạ, bất ngờ của tổ chức ngônngữ mà thơ bắt ngời đọc phải suy nghĩ, giải mã với khát khao chiếm lĩnh trọn vẹnnội dung lẫn hình thức Thơ hấp dẫn với ngời đọc cũng bởi vì vậy

1.2 Đặc trng của ngôn ngữ thơ

Cấu trúc là cái thống nhất, là phần xơng cốt của tác phẩm Khác với vănxuôi, thơ ca là thể loại chỉ dùng một số lợng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểuhiện cái vô hạn của cuộc sống, bao gồm các sự kiện của tự nhiên và xã hội cũng nhtất cả các cung bậc tình cảm thầm kín, riêng t của con ngời Để thực hiện thiênchức đó, thơ ca phải tính đến những kiểu tổ chức đặc biệt Kiểu tổ chức ấy đợc biểuhiện trên các mặt: ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa

1.2.1 Về ngữ âm

Nh đã nói ở phần trên, là một hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộcsống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ Ngôn ngữ thơ với tínhcách là một thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, ngữ điệu phong phú về cách hoà âm,chính là thứ ngôn ngữ giàu tính nhạc Lời thơ khác với lời nói thờng và khác cả vớicâu văn xuôi về phơng diện mà dấu hiệu dễ phân biệt nhất chính là bởi nó đầy tính

Trang 13

nhạc Thơ là một thể loại của văn chơng, nhng nó là văn có nhạc Chỉ trong thơ, cáimặt vật chất, mặt cấu âm của ngôn từ trở thành một chất liệu quan trọng Tình cảm,hình ảnh, nhạc điệu là những nhân tố cơ bản của thơ, nh ba chiếc chân kiềng Vănxuôi mà có tính nhạc thì đợc xem là giàu chất thơ Thơ văn xuôi là loại thơ dùmang dáng dấp câu văn xuôi nhng tính nhạc vẫn là điều cơ bản phân biệt nó với vănxuôi Tính nhạc đem đến cho thơ sự mềm mại, duyên dáng, quyến rũ, tạo nên sựkhoái cảm thẩm mỹ cho thơ: “Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời,

ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ ngời nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối” [10, 121] Nhờnhạc điệu mà thơ dễ nhớ, dễ truyền cảm và lan toả rộng rãi trong công chúng Bởivậy, để thoả mãn nhu cầu ngâm ngợi của ngời đọc để lôi cuốn ngời đọc trong malực âm thanh của từ ngữ, thơ luôn phải giữ một trong những đặc điểm chủ yếu củamình là nhạc điệu “Nhạc tính của một thi phẩm càng giàu, tức những tham sốthanh lọc của ngôn ngữ càng có độ tin cậy cao, thì hiệu quả lu giữ - truyền đạt của

nó càng mạnh” [10, 136]

Để tạo nên giai điệu nhạc tính thì vần và nhịp giữ một vai trò rất quan trọng

Đặc biệt, nhịp điệu là yếu tố cơ bản, không thể thiếu làm nên tính nhạc, sức ngânvang cho thơ Với mỗi cách ngắt nhịp khác nhau sẽ có các tiết tấu, cung bậc khácnhau Thơ có thể không có vần nhng không thể không có nhịp Trong thơ hiện đại,vần điệu của thơ có thể bị suy yếu đi nhng nhịp điệu vẫn là một trong những yếu tốchính tạo nên tính nhạc cho thơ Có thể bài thơ không có sự hiệp vần, hoặc ít đợchiệp vần, và viết theo thể tự do nhng vẫn giữ đợc tính cân đối, hoà điệu trong nộidung cũng nh trong hệ thống ngôn từ để tạo nên một nhạc điệu riêng hấp dẫn, độc

đáo Nhiều nhà thơ khi viết thơ theo thể tự do nếu không lu ý, chăm lo tổ chức nhịp

điệu của từng câu thơ, sự hoà hợp về nhạc điệu trong một khổ thơ, một bài thơ thìtác dụng truyền cảm của thơ sẽ bị hạn chế Nh vậy, có thể nói nhịp điệu là linh hồncủa thơ, “là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ” (Maiacôpxki) Vì thế,

có ngời đã định nghĩa: thơ là văn bản đợc tổ chức bằng nhịp điệu của ngôn từ Và

“nếu nhịp điệu vĩnh viễn trờng tồn, thì làm sao thơ ca bị tiêu diệt đợc?” [10, 136]

Nhịp điệu trong thơ, đặc biệt là trong thơ trữ tình có sự phân biệt rõ với nhịp

điệu trong văn xuôi, trong những tác phẩm tự sự Nhìn chung, so với nhịp điệu văn

Trang 14

xuôi, “nhịp điệu của thơ tình có tính chất cao hơn hẳn đến mức trở thành yếu tố đặctrng nhất của thơ, bởi thơ về cơ bản đã đợc giải phóng khỏi chức năng tạo hình đểtập trung vào việc biểu hiện, bộc lộ cảm xúc mà cảm xúc là cái khó định hình, khónắm bắt Do đó, nhịp điệu trong thơ phải đảm trách nhiệm vụ vừa phân định, vừa

đóng vai trò ngời thuyết minh tích cực, tận tuỵ cho chính dòng cảm xúc ấy, khi ợng ngôn từ dùng để dẫn giải, rào đón, mô tả đã đợc rút lại gần ở mức tối thiểu”[14]

l-Tính nhạc không chỉ là sự hài hoà vần nhịp theo các mô hình cấu trúc ngữ

âm chặt chẽ mà còn ở sự lặp lại, sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ Biện pháp trùng

điệp đợc khai thác đến mức tối đa trong ngôn ngữ thơ, bao gồm: điệp thanh, điệpvần, điệp phụ âm đầu, điệp từ, điệp ngữ, điệp câu Ngoài tác dụng để liên kết dòngthơ, khổ thơ, nó còn tạo nhạc điệu khác thờng cho bài thơ

Nh vậy, thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của cảm xúc, tìnhcảm Chiều sâu nội tâm, thế giới tình cảm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ýnghĩa của từ ngữ mà còn trong cả âm thanh, nhịp điệu, kết cấu Bởi thế, nhiều ngời

đã thừa nhận tính nhạc là đặc thù cơ bản của thi ca và nó co tính phổ biến trongmọi ngôn ngữ, đặc biệt là đối với ngôn ngữ thơ Việt Nam

1.2.2 Về ngữ nghĩa

Khác với ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày và trong văn xuôi, ngữ nghĩa trongthơ ca phong phú hơn nhiều bởi thơ là một cấu trúc cô đọng, hàm súc Chính vì vậy,ngôn ngữ thơ phải chứa đựng nhiều thông báo, một câu, một chữ có thể gợi lênnhiều nghĩa Tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ đợc Nguyễn Phan Cảnh giải thích nhsau: “Sức mạnh của cơ cấu lặp lại, của kiến trúc song song chính là ở chỗ đã tạo ramột sự láy, song song trong t tởng Việc chức năng mỹ học chiếm u thế trong cácthông báo thơ trong khi không loại chức năng giao tế, đã làm cho thông báo thành

ra đa nghĩa, có tính chất nớc đôi, thành ra nhập nhằng hiểu theo nghĩa tốt của từnày” [10, 55] Và đó chính là điều cốt tử của thơ: “Thơ phải đợc ý ở ngoài lời.Trong thơ hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của ngời làm thơ Cho nên ý thừa hơnlời thì tuy cạn mà vẫn sâu, lời thừa hơn ý thì tuy công phu mà vẫn vụng Còn nh ýhết mà lời cũng hết thì không đáng là ngời làm thơ vậy” (Ngô Lôi Pháp)

Trang 15

Mang trong mình sự sống, ngôn ngữ thơ ca chứa nhiều ý nghĩa xuất phát từ ý

đồ nghệ thuật của tác giả Mỗi từ ngữ khi đa vào thơ đều đã qua trục lựa chọn củachính tác giả Nh “con kỳ nhông”, nó hoạt động rất đa dạng và biến hoá linh hoạttuỳ theo chuỗi từ ngữ và nhịp điệu mà trong đó nó đợc sử dụng Giá trị ngữ nghĩacủa từ phụ thuộc vào vị trí của nó trong câu thơ Do đó, từ ngữ trong một diễn ngônthơ luôn có sự thay đổi ý nghĩa và kéo theo, ngữ nghĩa học thơ ca thờng đi chệch sovới sự liên kết từ ngữ thông thờng

Trong thơ, tuỳ theo từng thể loại mà có những cấu trúc nhất định Khi đi vàothơ, do áp lực của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ nhiều khi không dừng lại ởnghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà đã đi vào những tầng ý nghĩa mớitinh tế hơn, sâu sắc hơn, đa dạng hơn và mới mẻ hơn nhiều Đó là nghĩa bóng haycòn gọi là ý nghĩa biểu trng của ngôn ngữ thơ ca Đặc trng ngữ nghĩa này tạo chongôn ngữ thơ một sức cuốn hút kỳ lạ đối với ngời đọc, ngời nghe Bởi họ không chỉtiếp nhận văn bản thơ bằng mắt, bằng tai mà bằng cả xúc động, tình cảm, bằng cảtrí tởng tợng liên tởng nữa Điều đó cũng làm cho ngôn ngữ thơ không còn là phơngdiện giao tiếp mà đã đóng một vai trò khác Khi ấy, ngôn ngữ trở thành một thứ gì

đó cha từng đợc nói hoặc đợc nghe Đó là ngôn ngữ, đồng thời cũng là sự phủ nhậnngôn ngữ

Tóm lại, trong quá trình vận động tạo nghĩa của ngôn ngữ thơ ca, cái biểuhiện và cái đợc biểu hiện đã xâm nhập và chuyển hoá vào nhau tạo ra cái khoảngkhông ngữ nghĩa vô cùng cho ngôn ngữ thơ ca

1.2.3 Về ngữ pháp

Thơ có một loại đơn vị rất đặc trng là dòng, còn gọi là câu, hay cú Song sựthực, ranh giới giữa câu thơ và dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau Dòng thơkhông đồng nhất với câu cú pháp, thờng là nhỏ hơn nhng cũng có thể bằng hoặc lớnhơn Số lợng âm tiết của dòng và số dòng trong một bài thơ đã trở thành tên gọi củathể thơ: ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát… (theo số tiếng dòng), bát cú, tứ tuyệt…(theo

số câu trong bài) Điều này cũng chứng tỏ cấu trúc thơ khác cấu trúc văn xuôi rấtnhiều

Trang 16

Nếu cho rằng thơ là một "cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản" (PhanNgọc) Sở dĩ quái gỡ, kỳ lạ nh vậy vì cấu trúc câu của ngôn ngữ thơ thờng khôngtheo quy tắc bắt buộc và chặt chẽ nh câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thôngdụng “Phải nói rằng ngôn ngữ thơ là một thứ ngôn ngữ bộc lộ thế giới chủ quan,thiên về thế giới ấn tợng cảm xúc, cảm giác Những mạch biểu cảm thờng đan chéonhau, chiếm những cấp độ nghĩa thiếu quan hệ nội tại trên bề mặt cú pháp Do vậy,cấu trúc cú pháp câu thơ thờng khó phân tích theo nguyên tắc lôgíc của ngữ phápthông thờng nh trong văn xuôi” [29, 129] Chịu sự chi phối của một thể loại vănbản luôn đòi hỏi hiệu quả nghệ thuật có sự thay đổi vợt bậc: tính đa thanh, tính hìnhtợng, tính cảm xúc, nên thơ phải chọn cho mình những hình thức biểu đạt riêng, màmột trong những hình thức đó là xây dựng kiểu câu có cấu trúc bất quy tắc Đó lànhững câu có sự bẻ gãy trật tự tuyến tính của các đơn vị ngôn ngữ, không tuân theoquy tắc thông thờng, gồm có: câu đảo ngữ, câu tỉnh lợc, câu tách biệt, câu vắt dòng,câu trùng điệp, câu có sự kết hợp bất thờng về nghĩa… “Từ vốn từ ngữ quen thuộc,sẵn có chung cho mọi ngời, ngời sáng tạo văn bản phải biết chọn lựa, sắp xếp cáctín hiệu từ ngữ theo một cách thức nào đó để làm nên sự khác biệt, sự “phát sáng”.

Điều này đa đến sự kết hợp các tín hiệu ngôn ngữ theo tuyến tính thời gian bị mờ

đi, bị đẩy xuống hàng thứ yếu, và sự chọn lựa tín hiệu này chứ không phải tín hiệukia trên trục liên tởng nổi lên, chiếm u thế Nhờ sự chọn lựa trên trục lựa chọn này,

ta có các kiểu câu đầy sức nặng” [45, 267] Việc sử dụng phổ biến các kết cấu nàykhông làm ảnh hởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa văn bản thơ Ngợc lại, chínhnhững kết hợp, tổ chức ngôn ngữ “bất bình thờng” đó lại mở ra những giá trị mới, ýnghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca tạo nên tính hàm nghĩa, đa nghĩa, tính biểu cảm màmột cấu trúc thông thờng không thể có Nó chứng tỏ khả năng vô tận của ngôn ngữthơ trong việc chuyển tải những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế giới và tâm hồn conngời Có những hiệu quả nghệ thuật, ngữ nghĩa mà câu có cấu trúc bất quy tắc đalại vợt lên cả ý đồ ngời viết

Vì lẽ đó, ngữ pháp thơ ca đợc xem là loại ngữ pháp có cấu tạo đặc biệt, độc

đáo mang tính nghệ thuật riêng, một thứ ngữ pháp bí ẩn, đầy ma lực, hấp dẫn conngời mặc dù việc phân tích, giải mã chúng không phải là đơn giản, dễ dàng

Trang 17

1.2.Thanh Thảo và thơ Thanh Thảo

1.2.1 Đôi nét về tác giả Thanh Thảo

Thanh Thảo - Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê ở Đức Tân, Mộ Đức,tỉnh Quảng Ngãi, lớn lên ở Hà Nội, tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội,Thanh Thảo hiện nay sống và làm việc ở quê nhà Quảng Ngãi

Cuối những năm 60 của thế kỷ XX khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bớc vàogiai đoạn khốc liệt, Thanh Thảo cùng nhiều nhà văn, nhà thơ khác khoác ba lô vàochiến trờng, tự nguyện làm ngời chiến sĩ trong cuộc chiến đấu vì tổ quốc Và trongcuộc chiến tranh chống Mỹ này, Thanh Thảo là phóng viên chiến trờng, chơng trìnhphát thanh Quân đội nhân dân của Đài tiếng nói Việt Nam

Sau năm 1975, Thanh Thảo chuyên hoạt động văn học nghệ thuật, hiện làthành viên Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam trong nhiều khoá và là Chủ tịchHội Nhà văn Quảng Ngãi Thanh Thảo đợc trao giảI thởng nhà nớc về Văn học năm

2001, giải thởng hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ Những dấu chân qua trảng cỏ năm 1978 và giải thởng của Bộ quốc phòng năm 1996 cho trờng ca Những ngọn

sóng mặt trời.

Thanh Thảo là một trong những nhà thơ đơng đại nổi tiếng, cả phong cáchsống lẫn thi ca, trần trụi, mạnh mẽ, phóng khoáng và giàu suy tởng Ngỡng mộF.Lorca, B.Pasternak và S.Essenin, Thanh Thảo đã tiếp nhận thành công phongcách hiện đại của thơ ca phơng Tây vào thơ Với những bài thơ lẻ xuất bản trongnhững năm 70 và đặc biệt tập Khối vuông Rubic (NXB Hội Nhà văn, 1985) Thanh

Thảo đã thực sự khuấy đảo thơ Việt đơng đại Giàu ý tởng, phức tạp chủ đề nhngnhuốm màu hài hớc, thơ Thanh Thảo cho phép độc giả vừa ngẫm ngợi vừa khoáichí cời Thanh Thảo đã xuất bản ít nhất 15 tập thơ cùng rất nhiều bài phê bình

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Thanh Thảo

Thanh Thảo là nhà thơ áo lính, đã trởng thành từ những tháng năm bom đạn

ở Trờng Sơn Ngay sau 1975, tên tuổi Thanh Thảo đã có những tiếng vang trên thi

đàn Việt Nam vốn đang rất sôi nổi lúc bấy giờ với hàng loạt tập thơ và trờng ca:

“Những ngời đi tới biển” (1977), “Dấu chân qua trảng cỏ” (1978), “Những nghĩa sĩ

Trang 18

Cần Guộc” (1980) “Những ngọn sóng mặt trời” (1982), “Bùng nổ mùa xuân”(1982), “Đêm trên cát” (1983), “Khối vuông Rubic” (1985)…

Tập thơ “Khối vuông Rubic” (1985) là bớc chuyển biến quan trọng trong sựnghiệp sáng tác của Thanh Thảo Với “Khối vuông Rubic” Thanh Thảo đã tìm đợc

“lối ra cho những cơn xuất hứng, dù ngắn ngủi nhất”, và vì thế, đây là tập thơ khiếncho ông vui [67, 251]

Sau “Khối vuông Rubic” sáng tác Thanh Thảo tiếp tục nở rộ với các tập thơ

và trờng ca nh:, “Tàu sắp vào ga” (1986), “Bạch đàn gửi bạch dơng” (1987), “Trẻcon ở Sơn Mỹ” (1987), “Từ một đến trăm” (1988), “Trò chuyện với nhân vật củamình” (2002), “Cỏ vẫn mọc” (2002) Ngoài ra, Thanh Thảo còn viết một số tập tiểuluận phê bình “Ngón thứ sáu của bàn tay” (1995), “Mãi mãi là bí mật” (2004)…

1.2.3 Một số quan niệm về thơ của Thanh Thảo

Là một nhà thơ có ý thức sáng suốt về nghệ thuật, về sứ mạng của ngời nghệ

sĩ, luôn khao khát đợc dấn thân, mở đờng, Thanh Thảo cũng không ngừng suyngẫm, trăn trở về cái đẹp, về đối tợng của nghệ thuật Quan niệm thẫm mỹ củaThanh Thảo khá nhất quán trong cả quá trình sáng tác, từ những tập thơ đầu tiên

nh “Những ngọn sóng mặt trời”, “Dấu chân qua trảng cỏ”,… cho tới bây giờ

Quan niệm thẫm mỹ của Thanh Thảo đó là cái đẹp “Thô sơ và hực sáng”,cuộc sống có vô vàn những vẻ đẹp khác nhau, nhng với một nghệ sĩ lại đặc biệt

“nhạy” đối với một số đối tợng nhất định theo quan niệm lí tởng thẩm mỹ củamình “Thô sơ’ đó là đặc tính thứ nhất để xây dựng đối tợng thẩm mỹ cho thơThanh Thảo, “thô sơ” trớc hết là vẻ đẹp tiềm ẩn trong những gì giản dị nhất, mộcmạc nhất, đời thờng nhất, “thô sơ” không chỉ là đối tợng thẩm mỹ trong quan niệmcủa Thanh Thảo mà còn là một phẩm chất thẫm mỹ “Thô sơ” chính là những cáithuần phác, nguyên thuỷ, cha đẻo gọt, tỉa tót, màu mè Cái đẹp “thô sơ” chính là cái

đẹp từ bản chất, chân thành, không giả dối, không vụ lợi Thơ phải luôn tìm về với

sự thật, sự thật ấy có thể là “chén đắng” trong mỗi chén đắng ngẫm nghĩ vẫn còn vịngọt, thơ không thể giả dối, không thể mang vị ngọt của cốc nớc đờng hoá học, nóngọt trớc đắng sau, “đắng lộn mửa”

Trang 19

Tuy nhiên, những cái “thô sơ” mới chỉ là phạm vi, là phẩm chất thứ nhất củacái đẹp trong quan niệm của Thanh Thảo Quan niệm về cái đẹp của Thanh Thảocòn đợc xác định rõ hơn bằng phẩm chất thứ hai: “hực sáng” Thanh Thảo quan tâmnhiều nhất đến những vẻ đẹp sáng Trong phạm vi những đối tợng “thô sơ” kia,Thanh Thảo chăm chú nhìn để bắt lấy cái thần, cái giây phút loé sáng của sự vật.

“Thô sơ” và “hực sáng” là hai phơng diện của cái đẹp, vừa tơng phản đối lậpvừa bao hàm, hoà hợp Sự hoà hợp của những đối lực bao giờ cũng làm cho cái đẹpnổi bật hơn, ấn tợng hơn Quan niệm này đã góp phần mở rộng phạm vi đối tợngthẩm mỹ cho thơ

Không chỉ nói về cái đẹp “thô sơ và hực sáng” nói chung, Thanh Thảo còn

đặc biệt quan tâm đến những vẻ đẹp của “chất ngời” Vẻ đẹp của “chất ngời” là vẻ

đẹp sáng và thẳng Những con ngời trong thơ Thanh Thảo đều ít nhiều có phẩmchất của một ngời nghệ sĩ, kể cả những ngời giải phóng quân trẻ tuổi ở thế hệ ông,những ngời dám hi sinh cả tuổi thanh xuân quí giá cho ổ quốc

Thơ Thanh Thảo - hành trình góp nhặt “những vệt bùn làm vinh hạnh chothơ” Suốt đời thơ, Thanh Thảo đã lặng lẽ đi tìm vẻ đẹp cuộc sống ở những cái chơxô bồ, ở những nơi lấm lem bùn đất, sình lầy Những vệt bùn đó có thể “làm vinhhạnh cho thơ”: "nh bông hoa đã nở trọn vẹn những bông hoa vô danh, những cỏ nộihoa hèn mà ngời ta vẫn gọi là vinh dự đợc sống cùng, những bông hoa vinh dự ấyvinh dự vì đã phát hiện ra chúng" (Trò chuyện với nhân vật của mình) Chất liệu đểxây dựng nên thế giới hình tợng trong thơ ông thờng là những hình tợng mang haitính chất cơ bản đó là: hình ảnh bình thờng, những “chuyện thờng” và cuộc sốngtrong trạng thái “âm thầm”, “im lặng’ Đó là cách để Thanh Thảo ghi lại dấu ấn củamình trong nền thơ của cả một thế hệ

Bên cạnh quan niệm thẩm mỹ, Thanh Thảo còn đề cập đến bản chất của thơ

đó là “mãi mãi là bí mật” Với ông, thơ chính là sự đối lập giữa tâm hồn với không

- có - tâm - hồn Thơ là tâm hồn còn “tâm hồn là ngọn lửa’ mà “lửa là đốt cháy”nên “thơ là tự huỷ Tất nhiên lửa không bao giờ tự tử và cũng không bao giờ cháylên vì nhu cầu ngoài nó” Có thể thấy, Thanh Thảo quan niệm về bản chất thơ làmột nhu cầu tự thân Nó đòi hỏi sự chân thành theo mọi nghĩa và hoàn toàn không

Trang 20

có chỗ cho những kẻ lợi dụng thơ vì một mục đích khác “Chân thành’ nh là mộttiêu chí, một phẩm chất của thơ Sự “chân thành” trong quan niệm của Thanh Thảotrớc hết là sự thành thực của cảm xúc thơ: “tôi sẵn sàng gặp gió, gặp bão, gặp em,riêng sự hững hờ là tôi không chờ gặp” (Một trăm mảnh gỗ vuông).

Quan niệm bản chất của thơ ca là sự chân thành của cảm xúc thơ ThanhThảo đã phản ánh đúng bản chất của thơ ca Thơ bao giờ cũng gắn với nhu cầu tựbộc bạch, tự tâm sự, một lời “tự hát’.Ngoài ra nó còn là tính chất vô t lợi của thơ.Thơ không thể vì một mục đích gì khác ngoài mục đích biểu hiện tâm hồn của conngời

Xác định thành thực là yếu tố, là phẩm chất đầu tiên của thơ ca, Thanh Thảo

đồng thời cũng khẳng định thơ ca là “”hành trình đơn đọc của mỗi cá nhân Bởi lẽ,chỉ khi con ngời một mình đối diện với chình bản thân mình thì lúc ấy con ngờikhông còn gì phải che dấu, con ngời đợc sống thực với bản thân mình

Theo Thanh Thảo, thơ coi trọng cảm giác, sức sống của thơ là cảm giác Cảmgiác là cái luôn luôn tơi mới, nó cha đa đến mọt triết lý, hay một kết luận cuối cùngnhng đánh dấu sự bắt đầu, khơi gợi nhiều hơn là nói hết Coi trọng cảm giác, ThanhThảo đã phản bác lại quan niệm “thơ phải rõ ràng, phải có một hạt nhân duy lýtrong thơ”

Sức mạnh của thơ là cảm giác Nhng thơ không thể hoàn toàn là cảm giác.Nếu chỉ đơn thuần là cảm giác, thơ sẽ có “số phận của cây cảnh trang trí hòn nonbộ” Từ những cảm giác giản dị, tự nhiên thơ cần khơi gợi, đánh thức những phầnsau kín của bản thể Đó chính là cái kỳ lạ của thơ Thơ không thể không kỳ lạ nhngcái kỳ lạ ấy phải đợc nói lên bằng những điều giản dị Dới một hình thức giản dị,thơ Thanh Thảo đã đề cập đến những vấn đề lớn nh: dân tộc, hoà bình tự do, hạnhphúc,… nhng có lẽ chủ đề ám ảnh nhất, xuyên suốt mọi chặng đờng thơ ThanhThảo là sự sống và nhân tính

Theo Thanh Thảo, thơ cũng nh “Ngón thứ sáu của bàn tay” quỷ ám trên bàntay cô gái đẹp có tên là Đời sống nhng “nếu không có nó, cái ngón thứ sáu quái dị

ấy, cuộc đời ta sẽ trống rỗng, tẻ nhạt biết chừng nào!” Thừa thãi mà thiếu hụt, cay

đắng mà vinh quang… Đó là số phận của thơ!

Trang 21

Trong nghệ thuật, trong thơ, “hình thức là sự hiện diện nghệ thuật của từngnghệ sĩ Không có cái hình thức đó thì cũng chẳng bao giờ có nghệ thuật” [67,119].

Sự “hiện diện nghệ thuật” của Thanh Thảo trớc hết là ở quan niệm của ông

về cấu trúc của tác phẩm thơ Thanh Thảo quan niệm “Rubic - đó là cấu trúc củathơ”, cũng giống nh Rubic, thơ là những “chuyển động” tự do quanh trục cố định bí

ẩn Thanh Thảo quan niệm thơ phải tìm vào chiều sâu của đời sống tinh thần củacon ngời, mà dòng chảy thực của tinh thần lại luôn chuyển động

Cấu trúc là cái thống nhất, là phần xơng cốt của tác phẩm văn học Quanniệm về cấu trúc Rubic của thơ cũng tơng ứng với quan niệm về ngôn ngữ, hình

ảnh và nhịp điệu thơ của Thanh Thảo

Với Thanh Thảo, ngôn ngữ là lĩnh vực để nhà thơ có thể tự do sáng tác Trớchết Thanh Thảo cho rằng, ngôn ngữ thơ phải là ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ tốigiản Thanh Thảo dị ứng gay gắt với mọi sự “làm dáng” trong thơ: “Tôi chúa ghétnhững ngời văn chơng uốn éo, những vị hay trình diễn thời trang (khoẻ đẹp) trongvăn” [66, 46]

Cấu trúc Rubic của thơ quy định cách tổ chức ngôn ngữ, đồng thời nó quy

định cách kiến tạo hình ảnh trong thơ Thanh Thảo Hớng tới vẻ đẹp “thô sơ và hựcsáng”, tới bản chất ngôn ngữ “không tách rời bùn nớc nhng luôn vơn cao hơn bùnnớc”, Thanh Thảo lựa chọn những hình ảnh bình thờng giản dị nhng có sức gợi mởnhững vấn đề bản thể của sự tồn tại, gợi mở chiều sâu tâm hồn làm chất liệu chothơ mình Hình ảnh trong thơ Thanh Thảo đợc tổ chức theo hai kiểu cơ bản Đó làkiểu tổ chức hình ảnh trùng điệp, cộng hởng và những hình ảnh bất chợt, hình ảnh

đợc xây dựng bởi ấn tợng của nhiều giác quan

Với những cách tân mới mẻ về hình thức thơ, Thanh Thảo không phủ nhậnvai trò của nhịp điệu, của tính nhạc trong thơ Theo ông, mọi nhà thơ cần tạo đợcnhịp điệu riêng cho thơ mình Thanh Thảo cho rằng nhịp điệu trong thơ không chỉ

là nhịp điệu trên phơng diện hình thức mà còn là nhịp điệu ngầm bên trong bài thơ

Bên cạnh đó, thể loại còn là sự lựa chọn từ những thôi thúc bên trong củaThanh Thảo, đặc biệt là về trờng ca và thơ Thanh Thảo

Trang 22

Tóm lại, Thanh Thảo đã trình bày một hệ thống quan niệm khá toàn diện vềthơ Là một nhà thơ có tài năng và tâm huyết, Thanh Thảo đã đa ra nhiều quanniệm mới mẻ, sâu sắc về những vấn đề thuộc về bản chất của thơ ca nh: đối tợng,nguồn thi liệu của thơ; những yêu cầu của cảm xúc trong thơ; những vấn đề, giá trịcốt lõi mà thơ cần hớng đến; hình thức thơ ca, vai trò và chức năng của thơ tronghiện tại và cả ở tơng lai Những quan niệm này vừa nhất quán vừa đổi mới quanhững thời kì sáng tác khác nhau của Thanh Thảo.

1.3 Tiểu kết

Trong chơng này, chúng tôi nêu một số vấn đề mang tính chất tiền đề lý luận

có liên quan trực tiếp đến đề tài, những vấn đề gồm:

1- Thơ là một loại hình nghệ thuật đặc thù, độc đáo Ngôn ngữ Thơ là mộtphơng diện hình thức góp phần đặc biệt quan trọng làm nên phong cách, diện mạocủa thơ

2- Thanh Thảo là một nhà thơ đã tạo nên một phong cách độc đáo Nhữngquan niệm về thơ của ông đã làm nên tiền đề cho việc định hớng sáng tác, soi sángcho việc tìm hiểu thơ ông

3- Thơ Thanh Thảo gắn bó với đời sống với cuộc chiến tranh chống Mỹ, là

sự kết tinh sâu sắc suy nghĩ, tình cảm của ông với cuộc đời Thơ Thanh Thảo đặt ranhiều vấn đề trong việc nghiên cứu, từ phơng diện nội dung đến hình thức, đặc biệt

là phơng diện ngôn ngữ thơ

Dựa vào những vấn đề có tính chất lý luận, những quan niệm và định hớngsáng tác trên đây, phần tiếp theo của luận văn sẽ đi sâu vào khảo sát các đặc điểm

vầ hình thức (chơng 2) và nội dung (chơng 3)

Trang 23

Chơng 2: Đặc điểm hình thức thơ Thanh Thảo

2.1 Dẫn nhập

Bêlinxki đã từng khẳng định: “Trong tác phẩm nghệ thuật, t tởng và hìnhthức phải hoà hợp một cách hữu cơ nh là tâm hồn và thể xác, nếu huỷ diệt hình thứcthì cũng có nghĩa là huỷ diệt t tởng và ngợc lại cũng vậy” [43, 29]

Nói nh vậy có nghĩa là nội dung và hình thức có một mối quan hệ rất chặtchẽ và phức tạp Hơn nữa, thơ lại có một cách thức phản ánh cuộc sống mang tính

đặc thù Vì thế hình thức thơ đơng nhiên phải phù hợp với nội dung và cách thứcphản ánh mang tính đặc thù ấy

Trang 24

Nghiên cứu ngôn ngữ thơ Thanh Thảo, trớc hết chúng tôi tìm hiểu những đặc

điểm ở phơng diện hình thức Từ đó, ta có thể thấy rõ hơn phong cách, diện mạoriêng của nhà thơ trong thơ ca nói chung, thơ Việt Nam hiện đại nói riêng

Khi xem xét mặt hình thức trong câu thơ Thanh Thảo, chúng tôi chủ yếu đivào tìm hiểu các khía cạnh sau: thể thơ, các đặc điểm về tổ chức câu thơ (vần, nhịp

điệu), đặc điểm về từ ngữ…

2.2 Thể thơ

Thể loại tác phẩm văn học là “khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm,trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạocho tác phẩm một hình thức chỉnh thể” [43, 154]

Thể loại văn học luôn vừa cũ vừa mới Nó thể hiện các quy luật phản ánh đờisống và tổ chức tác phẩm tơng đối bền vững ổn định, đã đợc định hình trong thựctiễn sáng tác Nhng mặt khác, thể loại cũng đợc tái sinh, đổi mới để thích ứng vớinội dung hiện thực Những vấn đề của tác phẩm cần đợc thể hiện dới một hình thứcthể loại nhất định Vì thế, sự lựa chọn cũng là yếu tố bộc lộ quan niệm nghệ thuậtcủa nghệ sĩ

Là một nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ cứu nớc, ngòi bút của Thanh Thảocũng đề cập đến nhiều đề tài khác nhau, mỗi đề tài đó lại đợc thể hiện dàn trải, thểnghiệm qua những thể loại thích hợp để ghi lại dấu ấn, bản sắc riêng của mìnhtrong rất nhiều thể loại từ thơ năm chữ, thơ tự do đến thơ lục bát

Khi tìm hiểu thơ Thanh Thảo, chúng tôi nhận thấy trong số 93 bài có: thơnăm chữ: 6 bài, thơ lục bát: 3 bài, thơ bốn chữ: 1 bài, thơ tám chữ: 1 bài, thơ bảy –tám chữ: 1 bài, thơ tự do: 81 bài

2.2.1 Thơ tự do

Nếu nh “lục bát có những hạn chế trong việc biểu hiện cái quyết liệt và sôinổi của hiện thực khách quan, cuộc sống với tất cả những sự kiện xô bồ, chất liệuphong phú với những sắc thái đa dạng nhất cũng gặp khó khăn khi đa vào thơ lụcbát” [17, 292] thì thơ tự do lại có khả năng biểu hiện rất lớn Thơ tự do hoàn toànkhông chịu sự tác động, chi phối bởi những qui tắc, luật lệ nh các thể thơ cách luậttruyền thống, mà rất cởi mở, linh hoạt Số chữ trong câu không bị hạn chế, có thể

Trang 25

một chữ đến mời chữ hoặc nhiều hơn Số câu trong một khổ cũng không hạn định

có thể là một câu đến nhiều câu thơ Gieo vần cũng vậy, có thể gieo nhiều vần vừabằng, vừa trắc, có kiểu vần liên tiếp, vần gián cách Có khi không có vần, chỉ cónhịp điệu Chính vì những đặc điểm trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thơ bộc

lộ cách cảm, cách nghĩ thành công hơn về những cái sôi nổi, quyết liệt của hiệnthực khách quan cũng nh cách cảm, cách nghĩ một cách chân thật nhất

Tuy nhiên, thơ tự do không có nghĩa là tuỳ tiện, Xuân Diệu phát biểu “Tự do

đặt mình một kỷ luật linh động, tuỳ theo mỗi trờng hợp, nhng luôn luôn có kỷ luật.Muốn ca hát mà chẳng theo tiết tấu nhịp nhàng thì ai nghe? Làm thơ tự do tức làmỗi đề tài tự tạo ra một nhịp điệu riêng thích hợp, cái điệu không đợc phiêu lu màcần thiết Phải cao tay lắm mới sai khiến đợc thơ tự do Tự do không có nghĩa làmuốn làm gì thì làm” [17, 408]

Qua thống kê các thể thơ của Thanh Thảo, ta thấy: trong tổng số 93 bài (tấtcả các thể thơ) thì thơ tự do có đến 81 bài (chiếm 87,1%) Nh vậy, đại đa số thơThanh Thảo thuộc thể thơ tự do

Thơ tự do của Thanh Thảo có sự co duỗi nhịp nhàng Bên cạnh những bài thơrất dài: Một ngời lính nói về thế hệ mình, Thử nói về hạnh phúc, Thời gian khác nhau trong một ngày, Hà Nội - Nhìn từ phía tôi, Mẹ Quảng Bình… lại có những

bài thơ rất gọn gàng, cô đúc nh Thơ bốn câu, Bên cối xay gió… Hầu hết các bài thơ

đều đợc chia thành những khổ thơ rõ ràng, còn những bài thơ dài lại chia thànhtừng đoạn thơ theo mạch cảm xúc khác nhau

Nếu nh bài thơ có sự dài ngắn khác nhau thì dòng thơ trong câu thơ cũngvậy Dòng thơ ngắn nhất của Thanh Thảo chỉ có một âm tiết, còn dài nhất là 17 âmtiết ở các bài thơ tự do thờng có hiện tợng đan xen câu thơ, dòng thơ dài ngắnkhác nhau khiến lời thơ uyển chuyển, nhịp điệu câu thơ nh chính nhịp điệu tâmhồn

Đề tài nổi bật và chủ đạo trong những sáng tác của Thanh Thảo ở thể thơ này

là phạm vi hiện thực cuộc sống xã hội với nhiều vấn đề gay cấn, nhức nhối và phứctạp của đất nớc

Trang 26

ấn tợng rõ nhất đối với thơ tự do là giàu chất hiện thực Hiện thực đất nớchiện lên qua nhiều chi tiết chân thực Nhng đằng sau đó nhà thơ muốn cố gắng h-ớng ngời đọc vào chiều sâu cảm xúc, suy nghĩ Chất chính luận, nghĩ suy mang tínhlô gíc của t duy hiện đại tác động mạnh mẽ, làm thay đổi cấu trúc cũng nh âm điệucủa câu thơ trong bài thơ tự do của Thanh Thảo Câu thơ có lúc co lại, có lúc lại kéodài ra theo chiều ngang mang dáng dấp của câu văn xuôi, đậm chất văn xuôi, thểhiện qua ngôn ngữ lời kể, lời tâm sự

Chẳng hạn nh bài “Thử nói về hạnh phúc”, bài thơ đã gây rất nhiều ngạcnhiên vì nó viết rất thật về chiến tranh, về những hi sinh mất mát, về cả quan niệmcủa một ngời lính trẻ không chịu chết cho bất cứ tín điều mù quáng nào mà chỉ sẵnsàng chết cho đất nớc mình:

Những tình yêu thật thà không ồn àochúng tôi hiểu đất nớc đang hồi khốc liệtchúng tôi hiểu điều ấy bằng mọi giác quan

Trang 27

Có những lúc ra về lòng rỗng khôngVì phải gặp trong cơ quan một thàng cặn bã

Tôi chào đất nớc tôi Buồn quá

Đất nớc cùng tôi lặng lẽ trên đờng

(Tôi chào đất nớc tôi)

Có khi là lời thơ trong trẻo vô t:

trên cành

(Khúc chậm 2000)Tất cả đã tạo cho âm điệu câu thơ, bài thơ nh một giàn giao hởng Sỡ dĩ có sựphân hoá giọng điệu nh vậy là do có sự phong phú của các mảng đề tài, sự thay đổihiện thực, và đặc biệt là cách nhìn, cách cảm của nhà thơ trớc cuộc sống Có khitrong một bài thơ bộc lộ nhiều giọng điệu khác nhau: Một ngời lính nói về thế hệmình, Hà Nội – nhìn từ phía tôi, Khúc chậm 2000… song dù viết ở giọng điệu nào

đi nữa trong thơ tự do của Thanh Thảo cũng trầm lắng, suy t Đó là dòng cảm xúccủa trái tim tác giả:

Con lại về nhà thấy má

cây mai mới trồng bật hoa

nh mắt nắng lạc giữa vùng lụt bão

nh mắt má

đăm đăm góc vờntrong veo màu vú sữa

Trang 28

(Không đề)Trên bớc đờng trở lại với những ký ức tuổi thơ của mình nhà thơ đã tìm lạibức tranh xa cách khỏi chiến tranh.

Thơ tự do của Thanh Thảo có những bài thơ có cách tổ chức rất đặc biệt, vớikiểu xuống dòng bất chợt nh một sự bỡn cợt của thơ ca:

anh nói/ tôi là ngời yếu đuối/ nhng tôimạnh khoẻ/ theo kiểu/ anh làm

(Khúc chậm 2000)

Và cách ngắt câu, xuống dòng nhằm tạo nên sức ngân vang của ý thơ:

mà vào buổi chiều ấytrên những dòng kênh ấypháo bắn và nớc cháythế hệ chúng tôi

nhìn rất rõ

mặt ngời(Một ngời lính nói về thế hệ mình)Bên cạnh đó Thanh Thảo còn sáng tác những câu thơ vắt dòng (một câu thơnằm trên những dòng thơ khác nhau) tạo khả năng diễn đạt từng chữ, từng nhóm

Trang 29

chữ Nhờ vậy mà ý thơ đợc nhấn mạnh hơn, câu thơ tăng thêm tính gợi cảm và nhạc

điệu:

Con lại vềgiếng khơivành vạnh trờibóng cây nghiêng bóng má

bóng tiếng chuông loáng thoáng

ma chuông

(Không đề)Nhà thơ đã sử dụng hình thức kéo dài câu thơ bằng cách xuống dòng khôngviết hoa chữ đầu dòng nhằm tạo ra những câu thơ dài theo chiều dọc Nhờ vậy câuthơ của Thanh Thảo có khả năng thể hiện trọn vẹn một ý muốn mà chỉ riêng mộtcâu thơ ngắn thì cha thể nói hết đợc

Có thể nói, thể thơ tự do là thể thơ thành công của Thanh Thảo bởi nó hoàntoàn không bị gò bó bởi những quy tắc, những luật lệ nh các thể thơ dân tộc Điềunày giúp nhà thơ diễn tả trọn vẹn bản hợp tấu của cảm xúc, của tâm hồn

2.2.2 Thơ năm chữ

Thơ năm chữ là một thể thơ truyền thống có xuất phát điểm từ xa xa trongmột số thể loại của thơ ca dân gian nh: vè, hát dặm, đồng giao hay cổ phong (ngũngôn cổ phong) và thơ Đờng (ngũ ngôn Đờng luật) Thơ năm chữ đã đợc nhiều nhàthơ hiện đại sử dụng để bộc lộ cảm xúc của mình nh: “Tiếng thu” của Lu Trọng L,

“Ma Thuận Thành” của Hoàng Cầm, “thuyền và biển” của Xuân Quỳnh, “Thămlúa” của Trần Hữu Thung, “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải và đã khẳng định đ-

ợc vị trí của mình trong trờng thể loại

ở thể loại này, Thanh Thảo sáng tác không nhiều, chỉ vẻn vẹn 6 bài/ 93 bài(chiếm 6,45%), song cũng nh bao nhiêu nhà thơ hiện đại khác, phong cách ThanhThảo đã tìm thấy tiếng nói hoà hợp ở thể thơ năm chữ này

Các bài thơ năm chữ của Thanh Thảo thờng dài, đặc biệt là những bài nh:

“Bài ca ống cóng” có 33 dòng, “Mẹ Quảng Bình” có 57 dòng thơ Cách chia khổ

Trang 30

của nhà thơ cũng linh hoạt, thờng mỗi khổ 4 và 6 dòng thơ, có khổ chỉ 2 dòng (bài

Trớc hiện thực nóng hổi và bề bộn của chiến trờng, Thanh Thảo không đivào miêu tả sự việc, sự kiện mà từ những sự việc, sự kiện cụ thể xảy ra trong mộtthời gian và không gian xác định, Thanh Thảo hớng tới những vấn đề mang ý nghĩakhái quát: hình tợng nhân dân, chân dung thế hệ, tự do, hạnh phúc… “thơ anh bộc

lộ khả năng tự phân tích cảm giác, cảm xúc của mình một cách tỉ mỉ, chi li Anh ờng chọn những chi tiết giản dị nhất nhng lại tiêu biểu cho một tình huống, mộttâm trạng, một vấn đề Vì vậy thơ anh nhiều bài có ý nghĩa bao quát về một lớp ng-

th-ời, về cả một thời kì” [49]

ở bài “Bài ca ống cóng”, Thanh Thảo đã khắc hoạ chân dung ngời chiến sĩkhông chỉ qua bề ngoài mộc mạc, giản dị mà còn tập trung khai thác vẻ đẹp tinhthần, cái đẹp bên trong của ngời lính Ông đã da ra một tuyên ngôn rất riêng củangời lính trẻ rồi quả quyết bằng giọng thơ sâu lắng, không ồn ào, hoa mỹ:

Bài ca của chúng tôi

là bài ca ống cóng

…tháng năm sẽ dần phaibao bài ca duyên dángnhng tôi biết từ đây

nh khắc vào tảng đá

nh vạch vào thân câybài ca của hôm naythô sơ và hực sáng

Trang 31

…mang lẽ đời đơn giảnnói đợc đến ngày mai

(Bài ca ống cóng)Khát vọng trả lời những câu hỏi lớn của thời đại, khám phá bản chất của conngời và cuộc sống của các nhà thơ đã đặt ra một yêu cầu cấp bách cho thơ

Nếu nh ở bài “Bài ca ống cóng”, nhà thơ đã dùng thể thơ năm chữ để đa ramột kiểu tuyên ngôn của thế hệ vừa làm thơ, vừa cầm súng thì trong bài “Gặp lácơm nếp” Thanh Thảo lại diễn tả thấm thía nỗi nhớ quê hơng da diết Trên mỗichặng đờcg hành quân vất vả, ngời lính thờng khao khát, nâng niu những điều giản

(Gặp lá cơm nếp)Bát canh hoa thiên lý, mùi xôi nếp mới thơm lừng… đó chỉ là những món ănbình dị nhất trong cuộc đời con ngời những đã trở thành món ăn tinh thần của rấtnhiều chàng trai trẻ trong những tháng ngày gian khổ trở đi trở lại trong tâm trí hị

nh một vùng kí ức thân thơng về quê hơng, về mẹ Trong đáy sâu tâm hồn ngờilính, quê hơng chính là điểm tựa vững chắc tiếp sức cho họ bớc vào những trận

đánh mới

Câu thơ chỉ với năm âm tiết, nhịp ngắn gọn rất phù hợp với lối kể chuyện.Thơ năm chữ của Thanh Thảo cũng chủ yếu dùng để kể chuyện kết hợp với miêutả, giải bày tâm trạng với lời thơ mộc mạc, tự nhiên

Đó là những giây phút hiếm hoi trên đờng ra trận, những giây phút hồn nhiêngiải bày lan toả trong tâm hồn ngời chiến sĩ Mọi đói rét, khổ đau, bệnh tật dờng

nh tan biến:

Trang 32

Những anh chàng sốt rétTờng đuổi ruồi không bayThế mà qua từng trạmCắt cơn là đi ngay

(Bài ca ống cóng)Chính sự gắn bó, lăn lộn với đời sống gian khổ của ngời chiến sĩ đã giúp họkết gắn với nhau hơn:

nằm với nhau một đêmhai võng cùng thức suốtnói bao lời gan ruộtngay phút mình lặng im

bạn đi nên để ývùng rừng B52bạn cời: khi đến cậumình đã qua đờng này

(Thăm bạn)Nhiều khi cuộc sống tởng chừng quá khắc nghiệt, tởng chừng nh không vợtqua:

Mấy năm ở hầm sâu

Đến cột nhà còn mụcPháo bom cào mặt đấtSống mần răng mẹ ơi?

(Mẹ Quảng Bình)Giữa làn ranh giới giữa sự sống và cái chết, ngời chiến sĩ giải phóng có dịpbộc lộ tính cách của chính mình:

Với những ngời ra trận

Từ lòng mẹ Quảng BìnhTrờng Sơn thành nhỏ lắm

(Mẹ Quảng Bình)

Trang 33

Hình ảnh ngời chiến sĩ lạc quan, yêu đời trong thơ Thanh Thảo đợc biểu hiện

rõ nét hơn không chỉ ở ngôn từ mà còn qua nhịp thơ, âm điệu bài thơ, nhịp thơ thay

đổi từng khổ, từng câu nh sự biến đổi tất yếu của cuộc sống chiến trờng:

Ngời ta bảo/ Trờng SơnCao nhất/ và xa nhất

Đừng lo nhiều/ mẹ ơiChúng con/ rồi qua tất

(Mẹ Quảng Bình)Tóc/ pha màu bụi đá

Mắt/ hoà nớc sông CônNgời/ lẫn vào cây đá

Đời/ nhập với con đờng

(Tra Vĩnh Sơn)

Có lúc giọng thơ nh giọng điệu đối thoại:

- Bạn đi nên để ývùng rừng B52bạn cời: khi đến cậumình đã qua đờng này”

(Tra Vĩnh Sơn)Bên cạnh đó, khi đọc những bài thơ của Thanh Thảo, ngời đọc nhận thấy lúcnào ông cũng muốn nói lên đợc những suy nghĩ tận cùng nhất của mình bằng mộtgiọng lắng lại, trầm t:

tuổi hai mơi bom rơituổi ba mơi ghềnh thác

Trang 34

tuổi bốn mơi day dứttuổi năm mơi trầm ngâm

(Tra Vĩnh Sơn)Tóm lại, với thể thơ năm chữ, Thanh Thảo đã có những cách tân mới mẻ,sáng tạo đem đến cho chúng ta nhiều bài thơ hay giàu giá trị hiện thực Vợt qua ràocản của ngôn ngữ, thơ năm chữ của ông phản ánh một cách chân thực, cảm động,

đã vợt ra những hiện tợng bên ngoài để tìm đến cái bản chất đích thực, cốt lõi của

sự vật

2.2.3 Thơ lục bát

Thơ lục bát là một thể thơ truyền thống, mang đạm bản sắc dân tộc Nó đợchình thành trong ca dao và đợc nâng tới đỉnh cao ở “Truyện Kiều” Cho đến nay vớisức sống bền bỉ của mình, thơ lục bát đã và đang phát triển mạnh mẽ, giữ một vaitrò rất quan trọng trong trào lu của thơ tự do

Sở dĩ thơ lục bát có sức sống nh vậy là bởi chính đặc trng thể loại của nó Làmột thể loại văn học mang tính chất giản dị, dễ thuộc, dễ hiểu, nó có thể chuyển tải

đợc mọi cung bậc tình cảm của con ngời

Là một thể thơ: “làm đợc tốt thì đấy là tính dân tộc, làm không tốt sẽ trởthành không làm đợc tốt thì tuy luôn có đó diễn ca, song chiều ngợc lại lấy đi chohết thật còn xa vô cùng Vì thế không nơi nào có thể làm phép thử tốt bằng ở đây -

đằng thằng, trần trụi, không “gia vị” nhng chính vì thế mà bản chất nhất mà khônglộn sòng đợc” [10, 131] Thơ lục bát là một thể thơ dễ làm nhng khó hay là ở chỗ

đó, nó nh một sợi dây vô hình giữa một bên là thi phẩm làm rung động lòng ngờivới một bên là bài vè thô thiển Tuy là một thể thơ tơng đối khó nhng trên thi đànViệt Nam từ xa tới nay đã có không ít nhà thơ đã khẳng định đợc vị thế của mìnhnh: Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Tố Hữu…

Thanh Thảo là một nhà thơ đơng đại, trong giai đoạn hiện nay trên thi đànViệt Nam đã có không ít những tác giả trẻ đa ra những hình thức diễn đạt quá mới

mẻ nhng với Thanh Thảo ông lại không quan niệm thơ cũ hay thơ mới mà chỉ quanniệm thơ hay và thơ dở, đề cao bố cục bài thơ, chú ý những vấn đề nên nói, cái nàonói trớc, cái nào nói sau, cố gắng vừa đủ, chú ý đến hiệu quả toàn bài Dù số lợng

Trang 35

các bài thơ lục bát của Thanh Thảo không nhiều, chỉ vẻn vẹn 3/93 bài (chiếm3,23%) nhng có những tác phẩm đã để lại một ấn tợng sâu sắc trong lòng độc giả

nh bài “Dấu chân qua trảng cỏ”

Vốn là một thể loại không hạn định số lợng câu cho một bài thơ nên thờngxảy ra hiện tợng có những bài thơ lục bát rông dài, kể lể, trở thành những bài vè,nhiều lời mà ít ý Bằng lối t duy sắc sảo thông minh và bàn tay khéo léo ThanhThảo đã đa thể lục bát của mình thoát khỏi điểm yếu đó Các bài thơ lục bát của

ông thờng nằm ở dung lợng vừa phải, không quá ngắn, cũng không quá dài, dao

động từ 24 đến 32 dòng Tất cả đều có kết cấu rõ ràng, vừa đủ, đảm bảo đợc độhàm súc của thơ, hàm chứa đợc nhiều điều sâu xa, đằm sâu chất triết lý cuộc đời

mà không rơi vào cảm giác tối nghĩa hoặc quá dài dòng

Do bắt nguồn từ thơ ca dân gian, không là ngoại lệ, thơ lục bát của ThanhThảo cũng tiếp thu, chịu ảnh hởng của ca dao từ chất liệu ngôn từ cho đến cách vívon, bóng bẩy Có thể tìm thấy trong thơ ông những câu lục bát, những bài lục bátnhuần nhị, ngọt ngào đến nỗi ngời ta ngỡ nhầm tởng là ca dao:

“Gió đa cây cải về trờiRau răm ở lại chịu đời đắng cay”

Con nghe lời mẹ ru bayHeo may ngoài đó trong này nồm nam

Ngọn dừa khói bếp xanh lamCũng màu khói ấy ớt đằm ngọn tre

(Lời ru nghe ở Kinh trứng cá)Trong quá trình làm thơ lục bát, Thanh Thảo luôn có ý thức cách tân và pháttriển, đa thơ lục bát truyền thống gần gũi với các thể thơ hiện đại Sự đổi mới trớchết là về nội dung, ông mợn thể thơ này để đề cập tới những hiện tợng, sự việc củangày hôm nay với cách cảm, cách nghĩ mang đậm t duy theo lối hiện đại Lục bát

ca dao chủ yếu giãi bày tâm trạng riêng t, những mất mát đớn đau trong tình yêu.Với Thanh Thảo, vẫn nỗi đau ấy, song nó là của hôm nay, nỗi đau đó đã biến thànhmột niềm tin – niềm tin chiến thắng:

Trang 36

Niềm tin dai dẳng trọn đời ở đây

Dẫu rằng thêm nữa đắng cayNiềm tin nuôi lớn đất này bao năm

Con xin làm ngọn rau răm…

(Lời ru nghe ở Kinh trứng cá)Nhà thơ đã gửi vào trong thơ lục bát tinh thần khẩu khí của thời đại mình, đã

áp sát những vấn đề thời sự nóng hổi của cuộc sống vào thơ Có nhiều trờng hợp,Thanh Thảo đã đa ra cái lối t duy lôgic hiện đại khiến cho câu thơ lục bát nặng trĩusuy t, chứa đựng nhiều lý giải, suy nghiệm về cuộc đời, vợt lên khỏi lối tâm tìnhgiản dị vốn là đặc tính quen thuộc trong lục bát ca dao Chất suy t ấy đã đợc nảysinh từ hiện thực cuộc sống của đất nớc trong những năm tháng chiến tranh, đặcbiệt là từ hiện thực gian khổ, ác liệt của đời sống chiến trờng thông qua sự trảinghiệm sâu sắc của cái tôi thế hệ trong thơ Thanh Thảo Thông qua đó, chân dungtinh thần của thế hệ trẻ cầm súng hiện lên nh những con ngời đầy tinh thần tráchnhiệm đối với nhân dân, đất nớc:

Ai đi gần ai đi xaNhững gì gửi lại chỉ là dấu chân

Vùi trong trảng cỏ thời gianVẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta

Vẫn đằm hơi ấm thiết thaCho ngời sau biết đờng ra chiếm trờng

(Dấu chân qua trảng cỏ)Vẫn là thơ lục bát đấy, nhng cái nhịp thông thờng êm ngọt thì không cònnguyên vẹn Giai điệu vốn êm đềm nh ru của lục bát đã đợc Thanh Thảo cải biên để

nó xích lại gần hơn với lời nói thờng:

Những ngời sốt rét lên cơnDấu chân bấm xuống đờng trơn, có nhoè?

Nhịp điệu trong thơ lục bát của Thanh Thảo biến hoá linh hoạt phù hợp vớinội dung biểu đạt và cảm xúc tự nhiên Điểm ngắt nhịp ở đây không nhất thiết phải

Trang 37

tách nhau Thơ lục bát của Thanh Thảo có nhiều kiểu ngắt nhịp táo bạo khác hẳnvới lối ngắt nhịp thờng gặp (2/2/2, 2/4/2, 4/4, 3/3) của lục bát truyền thống Chẳnghạn:

(2/4) Cuộc đời trải mút mắt ta(3/3/2) Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trờng

(Dấu chân qua trảng cỏ)(2/4) Ai qua xuồng mẹ đa sang

(2/1/3/2) Mái chèo khuấy một bang làng trong veo

Thực ra, sự cách tân thể thơ lục bát của Thanh Thảo không hoàn toàn mới lạ,riêng biệt Song điều đáng trân trọng là nhà thơ đã gửi đợc cái giọng điệu, cái riêngcủa mình trong đó Hay nói cách khác, Thanh Thảo đã đa thể thơ lục bát truyềnthống hoà nhịp vào khuôn mặt chung của thi ca hiện đại Sự thành công về thể lụcbát của Thanh Thảo giúp chúng ta nhận ra bản sắc riêng của một phong cách thơ

độc đáo, giàu hơng vị dân tộc

Ngoài các thể thơ nói trên, chúng tôi còn thấy xuất hiện một số bài thơ đợcviết theo thể loại khác nh: thơ bốn chữ: 1 bài (chiếm 1,08%), thơ bày chữ: 1 bài(chiếm 1,08%), thơ bảy, tám chữ: 1 bài (chiếm 1,08%) Các thể thơ này đều đợcThanh Thảo vận dung nâng cao sáng tạo cùng với sự tìm tòi cách tân mạnh mẽ vềcấu trúc, ngôn ngữ, nhịp điệu Những thử nghiệm ấy đa lại cho ông một phongcách, một tiếng nói riêng cho mình

Nhìn lại toàn bộ sáng tác của Thanh Thảo, chúng tôi nhận thấy rằng thể thơ

đợc nhà thơ sử dụng nhiều nhất là thơ tự do (87,1%) ở thể thơ này ông đã tạo nênmột ấn tợng góp phần khẳng định vai trò của phong cách riêng độc đáo trên thi đànvăn học hiện đại

Trang 38

2.3 Vần và nhịp trong thơ Thanh Thảo

2.3.1 Vần

Vần là gì? Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa vần: “Một phơng tiện tổchức văn bản thơ dựa trên cơ sở lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở những vị trínhất định vủa dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hoà và liên kết của dòng thơ và giữacác dòng thơ” [20, 292]

Nh vậy, xét vần trong cấu trúc của khổ thơ, bài thơ thì vầ có chức năng làchiếc cầu nối qua các dòng thơ, gắn chúng lại với nhau thành từng đoạn, từng khổ,từng bài hoàn chỉnh “ở các khổ thơ, bài thơ có vần, với chức năng tổ chức, vần nhsợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau Do đó, giúp cho việc đọc đợc thuậnmiệng, nghe đợc thuận tai và làm cho ngời đọc, ngời nghe dễ thuộc và dễ nhớ” [13,22]

Khi nghiên cứu vần thơ ở góc độ ngôn ngữ, thực tế thơ ca đã thừa nhận vần

là yếu tố không thể thiếu trong thơ ở đâu có thơ là ở đó có vần Khi nào cần thơ thìkhi đó cần vần trong thơ Cũng chính vì vậy mà vần trong thơ đảm nhiệm và thựchiện ba chức năng:

1 Chức năng tổ chức, chức năng liên kết giữa các dòng thơ trong văn bản

2 Tạo âm hởng, tiếng vang trong thơ

3 Chức năng làm tăng thêm sức liên tởng, sức mạnh biểu đạt ý nghĩ của câuthơ

Dựa vào những tiêu chí khác nhau, ngời ta có cách phân loại vần khác nhau

Từ trớc đến nay, các tác giả đều thống nhất dựa vào các tiêu chí phân loại sau:

- Theo vị trí các tiếng hiệp vần ta có: vần chân và vần lng Vần chân có cáckiểu chính gồm vần chân liên tiếp, vần chân gián cách và vần chân ôm nhau

- Theo mức độ hoà âm giữa các tiếng hiệp vần ta có: vần chính, vần thông vàvần ép Trong đó phổ biến nhất là hai loại đầu

- Theo đờng nét thanh điệu trong các âm tiết hiệp vầ ta có: vần bằng và vầntrắc

Trong luận văn này chúng tôi đi vào tìm hiểu đặc điểm những vần điệu trongthơ Thanh Thảo theo hai cách phân loại: vị trí gieo vần và mức độ hoà âm

2.3.1.1 Vần trong thơ Thanh Thảo xét ở vị trí gieo vần

Trang 39

a Vần chân

Vần chân hay gọi là vần yêu vận tức là vần đợc gieo vào cuối dòng thơ nhằm

đáng dấu sự kết thúc của dòng thơ và tạo nên mối liên kết giữa các dòng thơ

Trong thơ Thanh Thảo, số lợng bài thơ đợc gieo bằng vần chân chiếm một số ợng lớn, với 89/93 bài (chiếm 95,7%)

l-Ví dụ:

lẽ ra hai ta trôi cùng chiều

thế giới sẽ hài hoà bao nhiêu

(Trên băng chuyền tự động)

“nhiêu” hiệp vần với “chiều”

Anh lại cầm tay em dễ dàng đến thế

Lời thềm hẹn tháng năm anh về trễ

(Dòng chữ cho em)

“trễ” hiệp vầ với “thế”

Ta thấy trong thơ Thanh Thảo bất kể ở thể loại nào: năm chữ, bảy chữ, lụcbát hay thể thơ khác tác giả đều sử dụng nhiều vần chân

Vần chân trong thơ ông rất phong phú, đa dạng bao gồm nhiều dạng nh vầnliền, vần gián cách và vần ôm

Trang 40

ở trờng hợp khác, vần liền lại đợc gieo theo mẫu AABB tức là hai âm tiếtcuối dòng hiệp vầ với nhau Kiểu gieo vần này xuất hiện rất nhiều trong thơ ThanhThảo:

mùi hoa sữa chừng nặng hơn nỗi nhớ

chừng nặng hơn giữa vùng bom toạ độ

mùi hoa ấm nồng nh một bàn tay

đặt trên ngực tôi suet tháng năm này

(Viết từ cánh rừng)Vần liền xuất hiện nhiều đã đem lại hiệu quả cao cho thơ ở các dòng thơ,khổ thơ xuất hiện vần liền làm cho chúng ta có cảm giác liền mạch, gắn bó, ý nàytiếp ý kia, dòng này tiếp nối dòng kia tởng nh không dứt

* Vần cách

Hay còn gọi là vần gián cách, vần giao nhau Đây là loại vần cũng đợc sửdụng tơng đối nhiều trong thơ Thanh Thảo Vần cách là vần mà các âm tiết hiệpvần xen kẽ nhau liên tục làm thành thế gián cách ABAB làm cho khổ thơ có sự đanxen hài hoà về mặt hình thức, cũng nh về mặt ngữ nghĩa

Xanh rất xanh một ngày tất cả cây bong trên mặt đất

Những tìm tòi không mỏi mệt suốt đời anh

Là vơn tới màu xanh này rất thật

Báo trớc cơn ma từ một thoáng rung cành

(Thơ bốn câu)Nghe ong ong rừng giàThơm thơm mùi hoa dẻ

Nâng li rợu ngà ngà

Im im nh đá chẻ

(Tra Vĩnh Sơn)Lại có những khổ thơ, những bài thơ trong đó chỉ có hai vần ở hai dòng bắtvần với nhau:

Dù chúng ta chỉ là hai con tàu trôi trên biểnHãy báo cho tôi vài tín hiệu bằng cờ hay bằng tay

Tôi muốn biết con sang kinh hoàng nào em gặp

Đã trôi dạt tàu em đến vụng nớc kín bng này

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1975), “Thơ với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc vĩ đại của dân tộc”, Văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc vĩ đạicủa dân tộc”, "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1975
2. Lại Nguyên Ân (1981), “Bàn góp về trờng ca”, Văn nghệ Quân đội, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn góp về trờng ca”, "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1981
3. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
4. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1999
6. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiepxki, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1993
7. Võ Bình (1993), “Bàn thêm về một số vấn đề thơ”, Ngôn ngữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về một số vấn đề thơ”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Võ Bình
Năm: 1993
8. Đào Thị Bình (1999), Những đóng góp của các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đóng góp của các nhà thơ trẻ thời kỳ chốngMỹ
Tác giả: Đào Thị Bình
Năm: 1999
9. Nguyễn Nhã Bản (1993), “Quan hệ giữa vần và nhịp trong thơ hiện đại”, Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa vần và nhịp trong thơ hiện đại”,"Văn học
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Năm: 1993
10. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb ĐH và THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1987
11. Boey Kim Cheng (2008), “Thơ Thanh Thảo Chống lại ngày quên lãng”http://www6.thanhnien.com.vn/vanhoa/2008/5/4/237254.tno Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Thanh Thảo "Chống lại ngày quên lãng"”
Tác giả: Boey Kim Cheng
Năm: 2008
12. Nguyễn Đình Chính (2008), “Thanh Thảo – Thơ - 123”, http://lethieunhon.com/web/showpost.php?id=2698 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Thảo – Thơ - 123”
Tác giả: Nguyễn Đình Chính
Năm: 2008
13. Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dới ánh sáng của ngôn ngữ học, Nxb ĐH và THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dới ánh sáng của ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1991
14. Phan Huy Dũng (2001), “Nhận diện nhịp điẹu trong thơ trữ tình”, Ngôn ng÷, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện nhịp điẹu trong thơ trữ tình”, "Ngônng÷
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 2001
15. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1996
16. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
17. Hà Minh Đức (1971), Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại , Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam "–" Hình thức và thể loại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NxbKHXH
Năm: 1971
18. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NxbGD
Năm: 1997
19. Nguyễn Hải Hà (cb) (1999), Tác phẩm văn học 11, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học 11
Tác giả: Nguyễn Hải Hà (cb)
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
20. Lê Bá Hán (cb) (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán (cb)
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2000
21. Lê Anh Hiến (1973), “Vần thơ và cái nền của nó trong thơ Việt Nam”, Ngôn ngữ, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ và cái nền của nó trong thơ Việt Nam”,"Ngôn ngữ
Tác giả: Lê Anh Hiến
Năm: 1973

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w