Khoá luận Ngôn ngữ thơ trong tập Tiếng thu của Lu Trọng L đợc hoàn thành, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận đợc sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo Hoàng Trọng Canh, các thầy cô g
Trang 1trờng đại học vinh khoa ngữ văn
Giáo viên hớng dẫn: Ts Hoàng Trọng Canh
Sinh viên thực hiện: Chế Thị Hồng
Lớp: 46B1- Ngữ Văn
Vinh, 5/2009
LờI cảm ơn
Tập sự nghiên cứu khoa học là một công việc mới mẻ và khó khăn đối
với ngời thực hiện đề tài này Khoá luận Ngôn ngữ thơ trong tập Tiếng thu
của Lu Trọng L đợc hoàn thành, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận
đợc sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo Hoàng Trọng Canh, các thầy cô giáo
trong tổ ngôn ngữ, sự quan tâm, động viên của gia đình và bạn bè Nhân đây
Trang 2cho phép tôi bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hớng dẫn, các thầy côgiáo trong tổ ngôn ngữ cùng gia đình và bạn bè
Dù đã cố gắng nhng do năng lực còn có những hạn chế, khoá luậnkhông tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận đợc sự góp ý của quýthầy cô cùng các bạn để nay mai khi mở rộng, phát triển đề tài này, vấn đề sẽ
đợc nghiên cứu thu đợc kết quả cao hơn
Thơ mới là thơ của thời đại cái tôi cá nhân, của những cách tân vềnghệ thuật và nội dung Lần đầu tiên trong văn học ý thức về cái tôi cá nhân đ-
ợc đề cao và phát triển mạnh mẽ, chính điều này cũng đã dẫn tới việc cách tân
về ngôn ngữ trong thơ Trong vờn hoa đầy màu sắc ấy, mỗi nhà thơ lại có cáchthể hiện riêng về ngôn ngữ, không ai giống ai Cho nên tìm hiểu thơ mới nóichung, nghiên cứu ngôn ngữ thơ của một tác giả nói riêng luôn có ý nghĩa và
là sự cần thiết
1.2 Lu Trọng L là một cây bút tiêu biểu trong phong trào thơ mới giai
đoạn đầu, là một trong những ngời đặt nền móng cho Thơ mới phát triển Khi
nhắc đến Lu Trọng L ta không thể không nhắc tới tập thơ Tiếng thu bất hủ đã
Trang 3từng vang ngân, làm “thổn thức”, “vơng vấn” biết bao trái tim nhiều thế hệcông chúng trong suốt nhiều thập kỷ qua Một số bài thơ trong tập thơ đã đợc
đa vào giảng dạy trong nhà trờng và là đề tài đợc các nhà nghiên cứu văn học
rất quan tâm Tiếng thu là tác phẩm thể hiện rõ nét phong cách ngôn ngữ thơ
Lu Trọng L trớc cách mạng Chọn đề tài này chúng tôi không chỉ nhằm tập
d-ợt nghiên cứu khoa học, thấy đợc những đặc điểm từ ngữ, những nét phong
cách ngôn ngữ của Lu Trọng L trong tập thơ Tiếng thu của Lu Trọng L mà
còn hớng những kết quả tìm tòi của mình vào mục đích học tập, nâng cao hiểubiết về một tác giả quan trọng trong phong trào thơ mới trong giai đoạn đầu,phục vụ cho công việc dạy học Ngữ văn sau này
Với hai lí do cơ bản nh trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: Ngôn
ngữ thơ trong tập Tiếng thu của Lu Trọng L.
2 Lịch sử vấn đề
Là một cây bút khá tiêu biểu trong giai đoạn đầu của phong trào Thơmới, thơ Lu Trọng L đã đợc rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nh: Hoài
Thanh (Thi nhân Việt Nam), Hà Minh Đức (Lu Trọng L: thơ và lời bình,
2006), Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại), Lê Đình Kỵ (Lu Trọng L: thơ và lời bình, 2006), Lê Tràng Kiều (Lu Trọng L: thơ và lời bình, 2006) … Nhng hầu
hết những công trình đó chỉ đi sâu tìm hiểu một khía cạnh về nghệ thuật, nhạc
điệu trong thơ Lu Trọng L, cha có một công trình nào nghiên cứu về ngôn ngữ
trong tập thơ Tiếng thu.
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã khái quát về cái tôi trữ tình
Lu Trọng L trong hai chữ “mơ màng” Ông khẳng định “Mộng! Đó là quê
h-ơng của L” [32, tr.311] Bài viết chỉ nghiêng về tìm hiểu thế giới mộng của cái
tôi Lu Trọng L mà cha đề cập đến ngôn ngữ trong thơ ông
Vũ Ngọc Phan trong bài viết Lu Trọng L cũng tìm hiểu hồn thơ Lu
Trọng L ở khía cạnh tình và mộng Nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu nhữngrung động nhẹ nhàng, tinh tế của hồn thơ và hoà nó vào cái mơ mộng muôn
thuở của thi nhân Ông khái quát “Lu Trọng L là một thi sĩ đa tình và mơ
mộng” [31].
Hà Minh Đức cũng chỉ khái quát cái mộng, cái mơ, cái tình của LuTrọng L để qua đó chỉ ra sự phát triển của cái tôi Lu Trọng L trong giai đoạnsau Còn đặc điểm về ngôn ngữ thơ không phải là điều mà ông hớng tới
Trang 4Nguyễn Văn Long cũng khái quát Lu Trọng L trong hai chữ tình vàmộng: “Thế giới thơ của Lu Trọng L là thế giới của tình và mộng Tình LuTrọng L là tình day dứt miên man trong thế giới mộng, cứ mơ màng day dứttrong những mối tình tởng tợng để rồi tan vỡ và lại đau khổ” [19, tr.60].
Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng và nhànghiên cứu Thiếu Mai cũng có những bài viết về Lu Trọng L nhng hầu hết chỉtìm hiểu ở những khía cạnh riêng biệt
Riêng Lê Đình Kỵ có tập trung khai thác một khía cạnh đặc điểmngôn ngữ thơ Lu Trọng L về vần điệu trong thơ ông rồi từ đó có những khámphá mới mẻ về dòng cảm xúc của hồn thơ mơ màng chìm đắm trong tình yêu
Trong bài viết: “Một nhà thơ mới rất chú trọng về âm điệu: Lu Trọng
L” [19, tr.58], tác giả Lê Tràng Kiều đã phân tích khá rõ nét đặc sắc của nhà
thơ đó là âm điệu Đây là một nét khác biệt trong ngôn ngữ thơ Lu Trọng L
so với các nhà thơ khác
Về tập Tiếng Thu và các bài thơ trong tập, cũng đã có một số nhà
nghiên cứu viết đánh giá cao nội dung và một vài khía cạnh nghệ thuật thơ
ông nh:
- Thi sĩ Lu Trọng L với Tiếng thu _ Kiều Thanh Quế.
- Lu Trọng L và Tiếng thu _ Ngô Văn Phú.
- Bài kết thúc tập thơ Tiếng thu _ Lu Trọng L.
- Tiếng thu, thơ nhạc của Lu Trọng L _ Lu Đức Hiểu.
- Bài thơ Nắng mới _ Vũ Quần Phơng.
- Về bài thơ Tiếng thu của Lu Trọng L _ Văn Tâm
- Tiếng thu - tiếng một hồn thơ _ Lữ Giang.
- Tiếng thu - giữa thu _ Đoàn Minh Tuấn.
Những bài viết, bài nghiên cứu về Lu Trọng L cũng nh những tácphẩm của Lu Trọng L thì rất nhiều nhng mới chỉ đem đến cho bạn đọc nhữnghiểu biết riêng lẻ về từng khía cạnh khác nhau về thế giới nghệ thuật thơ vàngôn ngữ thơ Lu Trọng L mà thôi Vì vậy, với khoá luận này, chúng tôi muốn
đi tìm hiểu nhiều phơng diện hơn về ngôn ngữ thơ trong tập Tiếng thu của Lu
Trọng L
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Trang 5Đối tợng nghiên cứu của khoá luận này là ngôn ngữ thơ trong tập
Tiếng thu Lu Trọng L.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho khóa luận giải quyết những vấn đề sau đây:
- Trình bày cách hiểu về thơ và ngôn ngữ thơ, phác họa chân dung nhà
thơ Lu Trọng L và tóm tắt vài đặc điểm về tập thơ Tiếng thu.
- Tìm hiểu những nét nổi bật trong ngôn ngữ thơ trong tập tiếng thu
của Lu Trọng L bao gồm vần điệu, nhịp điệu, thể thơ, các lớp từ, các biệnpháp tu từ nổi bật nh: so sánh, phép điệp trong tập thơ
- Bớc đầu nhận diện phong cách ngôn ngữ thơ Lu Trọng L qua tập
Tiếng thu và những đóng góp của ông đối với nền văn học Việt Nam hiện đại.
- Phơng pháp phân tích, tổng hợp: trong quá trình tìm hiểu những đặc
sắc về ngôn ngữ của tập thơ Tiếng thu, chúng tôi dùng phơng pháp phân tích
các dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điệu đã nêu, từ đó rút ra những kết luậnnhất định
- Phơng pháp miêu tả, so sánh: trong quá trình tìm hiểu ngôn ngữ của
tập thơ Tiếng thu, chúng tôi tiến hành miêu tả chung về tất cả các khía cạnh
của ngôn ngữ Trong quá trình đó có so sánh với một số tác giả khác
5 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận sẽ triển khai thành 3
ch-ơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Vần điệu, nhịp điệu và thể thơ trong tập Tiếng thu của Lu
Trọng L
Chơng 3: Các lớp từ nổi bật và một số biện pháp tu từ đặc sắc trong
tập Tiếng thu của Lu Trọng L.
Trang 6Vậy thơ là gì? Đã có rất nhiều ý kiến, nhiều quan niệm, nhiều địnhnghĩa đã trả lời cho câu hỏi đó nhng hầu hết các định nghĩa cha đi đến thốngnhất và cha có tiếng nói chung Điều này khá dễ hiểu do đặc điểm tính phứctạp của thơ, và mỗi nhà thơ, mỗi nhà nghiên cứu, phê bình về thơ đều có mộtcách định nghĩa riêng.
Công trình lý luận thơ ca sớm nhất của phơng Đông ra đời cách đây
1500 năm là “Văn tâm điêu long” của Lu Hiệp đã chỉ ra phơng diện cơ bản
Trang 7cấu thành tác phẩm thơ là: hình văn, hành văn, và tình văn Ngôn ngữ trongthơ có hoạ (hình văn) Đến đời Đờng, quan niệm về thơ của Bạch C Dị đã cụthể hơn một bớc “cái cảm hoá đơc lòng yêu ngời chẳng gì trọng yếu bằng tìnhcảm, chẳng gì bằng ngôn ngữ, chẳng gì bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng
ý nghĩa Với thơ gốc là tình cảm, mầm là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ýnghĩa” [1, tr.24] Trong quan niệm của Bạch C Dị các bình diện của ngôn ngữ
thơ đợc đề cập và làm sáng tỏ Trong bài “Tựa Kinh thi”, Chu Hy cũng cho
rằng “Thơ là cái d âm của lời nói, trong khi lòng có cảm xúc với sự vật bênngoài”
ở Việt Nam, lí luận thơ đã nhấn mạnh “Thi dĩ ngôn chí” nh một đặc
điểm của thể loại này Phan Phu Tiên trong “Viết âm thi tập tân san” đã viết:
“trong lòng có điều gì tất hình thành ở lời cho nên thơ để nói nội dung vậy”
Nguyễn Bỉnh Khiêm khi viết tập thơ Bạch Vân Am đã nói rõ hơn nội dung của
chữ: “có kẻ ở chỉ đạo đức, có kẻ chỉ để ở công danh, có kẻ chỉ để sự ẩn dật”.Nguyễn Trãi trong thời kỳ ông tham gia kháng chiến chống quân Minh lại nói
đến chí của mình là ở sự nghiệp cứu nớc Có thể nói nguyên tắc “thi ngôn
chí” (thơ nói chí) là nguyên tắc mỹ học cổ đại mang chức năng giáo hoá
Nh-ng ở mổi hoàn cảnh lịch sử, mỗi giai đoạn mà chức năNh-ng thơ có thể thay đổi,thơ có thể mang chức năng phản ánh nhận thức, thơ phản ánh chí hớng tìnhcảm con ngời, cuộc sống
Đến đầu thế kỷ XX, xã hội nớc ta có nhiều biến đổi sâu sắc Từ đây,xuất hiện một lớp ngời mới,với cuộc sống mới, suy nghĩ mới,và tình cảm mới.Bắt đầu từ Tản Đà rồi tiếp đến các nhà Thơ mới (1932-1945) đã đem đến mộtluồng sinh khí mới, với những đổi mới, cách tân táo bạo làm thay đổi diệnmạo và làm nên thành công rực rỡ của nền thơ ca nớc nhà, hoà tất quá trìnhhiện đại hoá thơ ca về nội dung Tất nhiên nhiều định nghĩa về thơ cũng sẽxuất hiện
Thế Lữ cho rằng: “Thơ, riêng nó phải có sức gợi cảm bất kể trờng hợpnào” Lu Trọng L thì cho rằng: “Thơ sở dĩ là thơ, vì nó súc tích gọn gàng, lời
ít mà ý nhiều và nếu cần, phải tối nghĩa, mà tối nghĩa chỉ vì thi nhân khôngxuất hiện một cách trực tiếp, lời nói của thi nhân phải là hình ảnh” Cực đoanhơn là ý kiến Hàn Mặc Tử: “làm thơ tức là điên ” Với Chế Lan Viên thì “làmthơ là làm sự phi thờng Thi sĩ không phải là ngời Nó là Ngời Mơ, Ngời Say,Ngời Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại, nó
Trang 8xáo trộn dĩ vãng, nó ôm trùm tơng lai Ngời ta không thể hiểu đợc nó vì nó nóinhững cái vô nghĩa tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý” Có thể thấy ở thời kỳnày các định nghĩa về thơ phần nào có những yếu tố rất cơ bản ảnh hởng từnhững quan niệm của trờng phái thơ tợng trng và siêu thực ở Pháp vào cuốithế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Họ thờng lý tởng hoá hoặc đối lập một cách cực
đoan giữa thơ ca và hiện thực cuộc sống, kiểu nh: “Thơ là sự hiện thân nhữnggì thầm kín nhất và cho những hình ảnh tơi đẹp nhất, âm thanh huyền diệunhất trong thiên nhiên” (La Mactin)
Sau cách mạng tháng Tám nhất là sau 1954, chúng ta lại có điều kiệntiếp xúc với nhiều ý kiến về thơ Trớc hết, thơ là tiếng nói tâm hồn là sợi dâytình cảm ràng buộc con ngời với con ngời, là hành trình ngắn nhất đi tới contim Quan niệm này đợc thể hiện rõ trong định nghĩa sau: “Thơ là một tâmhồn đi từ những tâm hồn đồng điệu”, “Thơ là tiếng nói tri âm” (Tố Hữu) hoặcquan niệm thơ cải thiện cuộc sống, hoàn thiện con ngời “Thơ biểu hiện cuộcsống một cách cao đẹp” (Sóng Hồng), “Thơ là sự sống tập trung cao độ là cốtlõi của cuộc sống” (Lu Trọng L)
Đến cuối thế kỷ XX, Giáo s Phan Ngọc đã đa ra định nghĩa về thơ chú
ý nhấn mạnh về ngôn ngữ Trong bài viết “Thơ là gì” tác giả đã nêu lên: “Thơ
là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ngời tiếp nhận phải nhớphải cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này [22, tr.23] Đây là cách định nghĩakhá lạ, một cách định nghĩa theo hớng cấu trúc ngôn ngữ ý kiến này đã đốilập hẳn ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ cuộc sống hằng ngày và với cả văn xuôi
Định nghĩa này giúp ta thấy đợc vai trò của ngôn ngữ, mối quan hệ cơ bảngiữa thơ và đời sống, thơ và độc giả Định nghĩa đã kế thừa nhiều khám pháquan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trờng phái khác nhau ởChâu Âu và gợi ra một trờng phái nghiên cứu rộng rãi: thơ không phải là mộthình tợng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này.Những phơng thức kết hợp quái đản của ngôn ngữ thơ thực chất là những cấutrúc ngôn ngữ xa lạ so với cấu trúc ngôn ngữ
Một tác giả khác cũng đi theo hớng này là Nguyễn Phan Cảnh Ông
đã tiếp thu các luận thuyết về thơ ca trong và ngoài nớc để đa một vấn đề rấtthiết thực song không kém phần nan giải (các nhà thơ t duy nên chất liệu ngônngữ nh thế nào ?) Lý thuyết liên hệ hệ hình Nguyễn Phan Cảnh đa ra khôngmới song một lần nữa nên xem xét thơ từ phơng thức lựa chọn ngôn từ trong
Trang 9các hệ hình để tạo ra có hiệu quả cao nhất đợc khẳng định là đúng và có sứcthuyết phục cao [2,tr.51-70], Nguyễn Phan Cảnh không dừng lại ở đó mà mởrộng vấn đề sang cả cấu trúc phổ biến trong ngôn ngữ thơ để giải thích nguồngốc các biện pháp tu từ [2,tr.71-77] Điểm nổi bật thứ ba trong chuyên luậncủa ông là lý thuyết trờng nét d Trong đó, tác giả chỉ ra rằng để thiết lập nêncác tổ chức ngôn ngữ trên trục lựa chọn và trục kết hợp, nhà thơ phải sử dụng
đến thao tác loại bỏ trờng nét d chính là quá trình hình thành thể thơ Nét d
đ-ợc loại bỏ càng nhiều thì hàm lợng thông tin càng cao và càng đòi hỏi ở ngời
tiếp nhận năng lực tiếp nhận các kết cấu “lạ” do việc bỏ các yếu tố ngôn ngữ
có hàm lợng thông tin thấp mà ra
Trên đây là các quan niệm, định nghĩa về thơ của các tác giả từ thời kìtrung đại đến hiện đại Cuối cùng trong luận văn này chúng tôi xin nêu ra một
định nghĩa để làm cơ sở khi khảo sát nghiên cứu về thơ, đó là định nghĩa củanhóm các nhà nghiên cứu phê bình văn học gồm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,Nguyễn Khắc Phi: “Thơ là hình thức sáng tạo văn học phản ánh cuộc sống thểhiện tâm trạng những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình
Do đó thơ ca, nh Giáo s Phan Ngọc đã từng nhận xét “là một thể loại có hìnhthức ngôn ngữ quái đản” Rõ ràng ngôn ngữ thơ khác với lời nói thờng vàkhác với các ngôn ngữ văn xuôi ở cấu trúc của nó, lời thơ ít nhng cảm xúc và
ý nghĩa rất phong phú và có sự gợi cảm lớn
Cũng nh Jakobson và nhiều tác giả khác, Nguyễn Phan Cảnh đa ra 2thao tác cơ bản của hành động ngôn ngữ đó là thao tác lựa chọn và thao táckết hợp Thao tác lựa chọn dựa trên một khả năng của ngôn ngữ là “Các điệu
Trang 10ngôn ngữ có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tơng đồng của chúng” [2,tr.16] Thao tác kết hợp lại dựa trên khả năng khác của hành động ngôn ngữnày là “các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ t-
ơng cận giữa chúng” [2, tr.24] Cũng theo tác giả nếu nh văn xuôi làm việc
tr-ớc hết bằng thao tác kết hợp và trong văn xuôi lặp lại là điều tối kị thì ngợc lạichính cái điêù văn xuôi rất tối kị ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ, tính t ơng
đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các thông báo
Nếu nh thao tác lựa chọn cho phép nhà thơ chọn một đơn vị trong mộtloạt đơn vị có giá trị tơng đơng với nhau có thể thay thế cho nhau trên trụcdọc, thì thao tác kết hợp lại cho phép nhà nghệ sĩ, sau khi đã lựa chọn có thểtạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất màngôn ngữ dân tộc cho phép Ngời nghệ sĩ khi sáng tác phải biết chọn lấy một
đơn vị nào đó cho thật phù hợp, có khả năng diễn tả cảm xúc, sự đánh giá củamình trớc đối tợng
R.Jakobson cũng đã nói rằng: “các từ đợc chọn sẽ kết hợp với nhauthành chuỗi Việc tuyển lựa sẽ đợc tiến hành trên cơ sở của sự tơng đồng haybất tơng đồng, tính tơng đồng hay phản nghĩa trong sự kết hợp tức sự xâydựng chuỗi ngôn ngữ thì căn cứ vào sự tiếp cận chức năng của thi ca đemnguyên lý tơng đơng của trục chọn lựa chiếu lên trục kết hợp” [2, tr.83]
Từ những điều trình bày trên, có thể rút ra kết luận: Xét ở phạm vi thểloại, ngôn ngữ thơ là một chùm đặc trng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằmbiểu trng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theo một cách tổ chức riêngcủa thi ca
1.1.3 Đặc điểm của ngôn ngữ thơ
1.1.3.1 Về ngữ âm
Đặc điểm nổi bật về ngữ âm của thơ (so với văn xuôi) là ở tính nhạc
Sở dĩ, chúng ta thờng nhấn mạnh tính nhạc trong thơ vì ngôn ngữ thơ ca giàunhịp điệu, ngữ điệu, quãng cách và hoà âm so với văn xuôi Ngôn ngữ thơ việtnam có một dáng vẻ riêng độc đáo là nhờ vào đặc tính cấu trúc âm tiết tiếngviệt, sự giàu có về thanh điệu Bởi vậy, nghiên cứu đặc điểm tính nhạc trongngôn ngữ thơ không thể không chú ý những yếu tố quan trọng đó
Ngoài ra, 2 yếu tố góp phần quan trọng, góp phần tạo tính nhạc chongôn ngữ thơ ca là vần và nhịp, những yếu tố ngữ âm này là cơ sở và cũng là
Trang 11chất liệu cho sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca tạo nên âm hởng trầm bổng, kìdiệu.
Nhạc thơ đợc tạo thành từ các yếu tố chính sau: âm điệu, nhịp điệu,vần điệu
Âm điệu
Âm điệu là một khái niệm đợc thể hiện trong thế tơng quan với vần
điệu và nhịp điệu Âm điệu có thể hiểu là sự hoà âm đợc tạo ra từ sự luânphiên xuất hiện của các đơn vị âm thanh (tiếng), có những chất ngữ âm tơng
đồng và dị biệt trên trục tuyến tính
Trong đó thanh điệu với t cách là yếu tố cơ bản làm nên sự khác biệt
về phẩm chất ngữ âm của mỗi âm tiết, là đối tợng chính của âm điệu Do đó sựkhác biệt về đờng nét và độ cao nên sự phối hợp khác nhau có giá trị tạo ra âm
điệu khác nhau
Vần điệu
Vần trong thơ là một yếu tố quan trọng, nó có quan hệ chặt chẽ vớinhịp điệp “Vần là sự hoà âm, sự cộng hởng nhau theo những quy luật ngữ âmnhất định giữa 2 từ hoặc 2 âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả, nhấnmạnh sự ngừng nhịp” [3, tr.12]
Trong thơ, vần có vai trò gắn kết các dòng thơ lại thành từng đoạn,khổ và từng bài hoàn chỉnh “ở các khổ thơ, bài có vần, với chức năng tổ chứcvần nh sợi dây ràng buộc các các dòng thơ lại với nhau do đó giúp cho việc
đọc thuận miệng, nghe đợc thuận tai và làm cho ngời đọc, ngời nghe dễ thuộc,
Trang 12ngắt và những đơn vị văn bản nh câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, thậm chí đoạnthơ [5, tr.64].
Trong thơ, nhịp điệu là kết quả hoà phối âm thanh đợc tạo ra từ ngắtnhịp Nhịp điệu liên kết với các yếu tố ngữ âm lại với nhau để tạo ra tính nhạc.Nhịp điệu ngừng nghỉ theo cách thức nhất định khi phát âm hay còn gọi là sựngắt nhịp
Vần và nhịp là hai yếu tố quan trọng về mặt hình thức trong thơ ca,vần và nhịp nếu ngắt đúng chỗ thì mang ý nghĩa Vần và nhịp tơng hợp vàgiao hoà với nhau Nhịp là yếu tố cơ bản, là xơng sống của bài thơ, là tiền đềcho hiện tợng gieo vần
1.1.3.2 Về ngữ nghĩa
Thơ là loại hình nghệ thuật ngôn ngữ cô đọng, súc tích về từ ngữ vàhình ảnh Mỗi từ ngữ khi đợc đa vào thơ đều phải trải qua sự lựa chọn của tácgiả vào thơ của mình Nó hoạt động đa dạng, linh hoạt và biến hoá Nếu nhtrong văn xuôi không hạn chế số lợng âm tiết, từ ngữ, câu chữ thì ngợc lại thơthờng theo từng thể loại có những cấu trúc nhất định Khi đi vào thơ, do áp lựccủa cấu trúc và ngữ nghĩa, ngôn từ nhiều khi không dừng chỉ đợc dùng vớinghĩa đen, nghĩa ban đầu của nó mà còn có những ý nghĩa mới tinh tế, đadạng nhiều hơn Mỗi từ ngữ trong câu thơ chứa đựng sức mạnh tiềm tàng,chứa đựng cái tinh tế, đẹp đẽ, sâu sắc Chính vì vậy, ngữ nghĩa của ngôn từtrong thơ phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa ngôn từ trong giao tiếp đờithờng và văn xuôi Từ ngữ của thơ có những từ đợc sử dụng ở phép chuyễnnghĩa (chủ yếu là ẩn dụ)
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ khơi gợi và để thực hiện chức năng gợi, các
đơn vị trong văn bản nghệ thuật phải đợc lựa chọn xây dựng và sắp xếp theocách thức nhất định Hiệu quả biểu đạt ý ở ngoài lời là mục tiêu muôn đời củathi ca Đặc trng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ một sức cuốn hút kỳ lạ vớingời đọc, ngời nghe
1.1.3.3 Về ngữ pháp
Về phơng diện ngữ pháp, câu thơ, dòng thơ, không hoàn toàn trùngnhau, có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ và cũng có nhiều dòng thơbao gồm nhiều câu thơ Nhà thơ có thể sử dụng nhiều kiểu câu bất thờng nh
đảo ngữ, câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng điệp nhng không làm ảnh hởng
đến quy trình tiếp nhận của văn bản, trái lại chính nó mở ra những giá trị mới,
Trang 13ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca và có khả năng vô tận trong việc chuyển tảinhững trạng thái tinh tế bí ẩn của thế giới và tâm hồn con ngời
các báo Phong Hoá, Phụ nữ tân văn, Góp phần khẳng định sự thắng thế “Thơ mới” Năm 1933 Lu Trọng L ra tập sách đầu tay Ngời Sơn Nhân (Ngân Sơn
tùng th- Huế) gồm 33 truyện ngắn và 10 bài thơ Năm 1935, ông cho xuất bản
tiểu thuyết Huyền không động tại Nam Định Thế nhng, thành công của Lu
Trọng L lại là sáng tác thơ
Tập thơ Tiếng Thu, đợc xuất bản vào năm 1939, đã đem đến một
phong cách riêng, mới lạ trên thi đàn Là một nhà thơ tiêu biểu cho phong tràoThơ mới, ông say sa với tất cả những cái đẹp của ngời và tạo vật, tấm lòng lúcnào cũng thổn thức, trí nào ông lúc nào cũng mơ màng, ông đem xáo trộn thựcvới mộng, mộng với thực, thổ lộ nên những lời thơ huyền ảo vô cùng Có thểtóm tắt tất cả những ý thơ của ông vào hai chữ tình và mộng
Cũng năm 1939, ông xuất bản tiểu thuyết Chạy loạn tại Hà Nội Năm
1940 ông xuất bản Một tháng với ma Sang năm 1941, ông xuất bản Chiếc
cáng xanh, Khói lam chiều
Từ sau cách mạng tháng Tám 1945, Lu Trọng L tiếp tục hoạt độngtrong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật ở chiến khu và Hà Nội Ông trở thành hộiviên hội nhà văn Việt Nam vào năm 1957 đến khoá II, là uỷ viên ban chấphành của hội và là Tổng th kí hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam Trong thời gian
này, ông cho xuất bản các tập thơ Toả sáng đôi bờ vào năm 1959; Ngời con
gái sông Gianh (1966); Từ đất này vào năm 1971; Tuỳ bút Mùa thu lớn năm
Trang 14bản kịch nói: Xuân Vĩ Dạ, Anh Trỗi; năm 1989 ông cho xuất bản hồi ký Nửa
đêm sực tỉnh
Năm 2000, ông đợc truy tặng giải thởng Hồ Chí Minh về văn học
nghệ thuật cho các tác phẩm: Tiếng thu, Ngời con gái sông Gianh, Tỏa sáng
đôi bờ.
1.2.1.2 Một số đặc điểm thơ Lu Trọng L
a) Thơ Lu Trọng L đẫm tình và mộng, tha thiết với những mối tình say
đắm Lu Trọng L xót xa với những kỷ niệm đẹp đã đi qua, mơ ớc và đắm đuốitrong tình yêu hiện tại Tình yêu trong thơ Lu Trọng L là tình yêu của mộng t-ởng, say đắm cũng lắm tàn phai rơi rụng Có thể thấy kết cấu chung của
những chuyện tình trong Tiếng thu bao giờ cũng đi từ đắm say đến tan vỡ, đi
từ thực đến mộng, trong giấc mộng tình yêu “vời vợi” không cùng
Từ cõi thực say cõi mộng, chính cõi mộng đã giải toả đợc nhiều điềubức xúc ở tâm t Nơi đây, thi nhân làm một cuộc viễn du trong cõi mộng, đợikhi len lõi vào giấc ngủ của giai nhân để tạo cho mình những mộng tình tuyệt
đẹp từ quá khứ đến hiện tại, từ cõi trần đến cõi tiên, từ thực tại đến h ảo, thậmchí còn hò hẹn nhau ở kiếp lai sinh
Đợi đến Luân hồi sẽ gặp nhau Cùng em nhắc lại chuyện xa sau Chờ anh dới gốc sim già nhá
Em hái đa anh đóa mộng đầu
b) Thơ Lu Trọng L chân tình, xúc động với những rung động, giàuchất thơ, giàu nhạc điệu Lu Trọng L có thể xem là ngời nhạc sĩ lớn hơn cả bởithơ ông hầu nh chỉ là những bản nhạc thuần tuý, những bản nhạc mờ ảo trênnền những bức tranh mờ ảo
Mỗi bài thơ Lu Trọng L là một bản nhạc đợc ngân lên trong lòng nhàthơ và đợc cảm nhận cũng chính bằng âm thanh của câu chữ tạo nên bản nhạc
Trang 15hoà điệu trong lòng ngời Có bài gieo vào lòng ngời một khúc nhạc mơ hồ của
cõi mộng (Thuyền mộng), có bài tạo cho con ngời sự thánh thót của từng nốt nhạc ngân (Hoàng hôn), lại có bài tạo nên tiếng nhạc du dơng quyến rũ lòng ngời (Tiếng thu) Nói chung mỗi bài là một bản nhạc có âm sắc riêng, nhịp
điệu riêng tạo nên cái đa dạng về âm thanh trong bản giao hởng
c) Thơ Lu Trọng L bộc lộ rõ chất lãng tử và con ngời tài hoa của tácgiả Khơi sâu một mạch đời một mạch thơ ông đã đem lại bao d vị cho thơ
Ông viết không nhiều nhng gây đợc ấn tợng cho ngời đọc Ông tạo cho mìnhbản sắc riêng bằng tứ thơ phóng túng, thi vị và khả năng diễn cảm mợt mà,
đắm say, độc đáo
1.2.2 Tập thơ Tiếng thu
Tiếng thu là tập thơ hay nhất của Lu Trọng L trớc cách mạng tháng
Tám, và cũng là tập thơ gây nhiều cảm giác “rạo rực” nhất trong lòng tác giảcho đến tận ngày nay Tập thơ gồm 52 bài, xuất bản năm 1939
Tiếng thu là tập thơ của “tình” và “mộng” Đó là thế giới mà ở đó con
ngời rất ít có mối liên hệ với thực tại, mất khả năng nhận thức cuộc sống hiệnthực mà luôn chìm đắm trong thế giới của mộng tởng Màu sắc, đờng nét, conngời cho đến thời gian, không gian tất cả đều khá mơ hồ, không rõ nét,không xác định mà bảng lãng trong màn sơng của những giấc mộng và những
kỉ niệm Mộng, thực ra là cách trốn tránh và phủ nhận thực tại xã hội đơngthời Thêm nữa, trong cuộc đời nhiều đắng cay, đen bạc lúc ấy, những giấcmộng lành cũng có thể là một nguồn an ủi trong trẻo, một cách tìm ra những
vẻ đẹp nuôi dỡng tâm hồn
Gắn với những giấc mộng là tình ái Khác với tình yêu trong thơ Xuân
Diệu, tình yêu trong Tiếng thu là tình yêu trong mộng tởng, và vì tình yêu
trong mộng nên có cái say đắm mơ màng nhng thờng chóng tàn phai, rơi rụngchỉ để lại d vị bâng khuâng nối tiếc Hạnh phúc nếu có cũng không bền lâu, vàkhi qua đi chỉ còn lại những kỉ niệm đẹp thuở ban đầu
Tiếng thu còn là sự rung động của những cảm xúc mới của thời đại.
Các bài thơ trong tập Tiếng thu đã diễn tả đợc những tinh tế những rung động
của thi nhân Từ cái xào xạc của rừng thu, tiếng “thổn thức” dới ánh trăng mờ,nỗi buồn hồi cố man mác gợi lên trong tiếng gà gáy “não nùng”, đến nỗi buồnlan toả trong dòng thời gian qua tiếng xa quay “năm năm tiếng lụa xe đều”,cái thẫn thờ khi nghe một tiếng đàn ngừng giữa nhịp
Trang 16Hoa lan quên nở trên giàn Nhớ ai em để tiếng đàn ngừng đa Tiếng thu còn là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại Tuy
Lu Trọng L đã đa vào trong thơ mình đề tài rất mới nh tình yêu, cuộc sống
hằng ngày nhng khi đọc Tiếng thu ta thấy vẫn phảng phất nhiều d vị của
truyền thống đó là trong tập thơ vẫn bắt gặp nhiều hình ảnh quá khứ, vẫn sửdụng các từ ngữ mang tính chất cổ kính, sử dụng thể thơ Đờng luật Chính sựkết hợp hài hoà đó mang lại một vẻ đẹp toàn bích cho tập thơ
Tiểu kết
thơ là loại hình nghệ thuật độc đáo Ngôn ngữ thơ là một phơng diệnhình thái đặc thù, khác thờng Đặc trng của ngôn ngữ thơ đợc thể hiện ở cácbình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa
Tập thơ tiếng thu của Lu Trọng L có nhiều nét đặc sắc trên cả hai
ph-ơng diện nội dung và hình thức thể hiện đây là tập thơ đẫm tình và mộng,
giàu nhạc điệu, hầu hết các bài thơ trong tập Tiếng thu đều là một bản nhạc cứ vang ngân mãi Ngôn ngữ thơ trong tập Tiếng thu có nhiều nét độc đáo Do
đó, ở chơng tiếp theo, chúng tôi đi sâu khảo sát một số bình diện đặc sắc ngôn
ngữ thơ trong tập Tiếng thu của Lu Trọng L.
Trang 17Căn cứ vào luật vần ngời ta chia thơ làm 2 loại: thơ cách luật (thơ cóquy tắc và ổn định gồm thơ Đờng, thơ lục bát, song thất lục bát ), thơ khôngcách luật (thơ tự do có số tiếng và số câu không hạn chế).
Khi tìm hiểu 52 bài thơ Lu Trọng L trong tập Tiếng thu, chúng tôi
thấy có nhiều thể thơ khác nhau: thơ 4 chữ (1 bài) chiếm 1,9%, thơ 5 chữ (3bài) chiếm 5,77%, thơ 7 chữ (15 bài) chiếm 28,85, thơ tự do (15 bài) chiếm28,85%, thơ lục bát (5 bài) chiếm 9,62%, lục bát gián thất (3 bài) chiếm 5,8%,song thất lục bát (1 bài) chiếm 1,92%, thất ngôn tứ tuyệt (9 bài) chiếm 17,3%
Nh vậy, thể thơ trong tập Tiếng thu mà Lu Trọng L a lựa chọn nhiều nhất là
thơ 7 chữ, thơ hợp thể (thơ tự do), thơ thất ngôn tứ tuyệt, tiếp đến là thơ lụcbát, thơ 5 chữ
Vì vậy, chúng ta có thể đi sâu vào tìm hiểu các thể thơ mà ông đã lựachọn, a dùng
2.1.1 Thơ 5 chữ
Thơ 5 chữ là một trong những thể thơ tiêu biểu của thơ hiện đại ViệtNam Đây là thể thơ viết theo thể thơ hát giặm (phổ biến ở trong từ ngữ và hátgiặm Nghệ Tĩnh) có nhịp phổ biến là 3/2 (khác với thể thơ ngụ ngôn môphỏng theo thơ Trung Quốc nhịp 2/3), vần thơ thay đổi không nhất thiết là vầnliên tiếp, số câu không hạn định Mãi sau này (đầu thế kỉ XX) ngời ta mớidùng để sáng tác thơ
Khảo sát thơ 5 chữ trong tập Tiếng thu của Lu Trọng L thì số lợng bài thơ là theo thể này không nhiều, chỉ có 3 bài Tiếng thu, Trăng lên, Còn chi
nữa Dù chiếm số lợng ít nhng thể thơ này lại đợc nhà thơ sử dụng khá thành
công và tạo ra đợc những tác phẩm bất hủ nh bài Tiếng thu Với thể loại này,
Lu Trọng L đã có những đóng góp nhất định cho thơ mới nói riêng và thơ cahiện đại nói chung
Trang 18Tiếng thu đã từng làm say đắm biết bao tấm lòng bạn yêu thơng
Em không nghe mùa thu Dới trăng mờ thổn thức
rừng thu? Ai nghe đợc tiếng “thổn thức” của trăng mờ? Ai cảm nhận tiếng
“rạo rực” trong lòng ngời cô phụ? Chỉ có Lu Trọng L mới có thể “vẽ” đợc,
“nghe” đợc trong một thể mà không có nhiều từ để mà “nghe” mà “vẽ” Hay
để có thể để tả một khung cảnh tuyệt diệu nh chốn thần tiên cùng một cặp tìnhnhân:
Đủng đỉnh chiếc thuyền con Trăng lên đầy ngọn núi
đời sông nội tâm con ngời Câu chữ nh đợc bay lợn cùng cảm xúc nhà thơ,tình ý đợc diễn tả một cách thiết tha, mợt mà hơn Thơ Lu Trọng L đi vào lòngngời là thế
2.1.2 Thơ 7 chữ
Đây là thể thơ đợc các nhà thơ mới sử dụng khá nhiều Trong tập
Tiếng thu, có 15/52 bài sử dụng thể thơ 7 chữ Điều này cũng có thể thấy thơ 7
chữ đợc sử dụng khá nhiều trong thơ hiện đại, nhng nó đã có sự biến đổi hơn
so với thể thơ 7 chữ Đờng luật
Nếu ở thể thơ Đờng luật kết cấu của một bài thơ nh một cái khuôn
định sẵn, nó gò bó những suy nghĩ và tình cảm của nhà thơ theo nhng nguyên
Trang 19tắc nhất định về niêm, luật, vần, thanh Nhng hình thức nghệ thuật mang tínhchất quy phạm đã gò bó cảm hứng sáng tạo thơ ca và hạn chế sắc thái cảm xúcnhà thơ Đến Lu Trọng L kết cấu bài thơ là tùy thuộc vào trạng thái cảm xúc,hình thức kết cấu là kết quả, là phơng thức biểu hiện nội dung cảm xúc chứ
không phải là tiền đề khuôn mẫu định hớng cho cảm xúc Trong Hôm qua,
dòng cảm xúc theo giấc mộng thi nhân chứ không gò bó trong câu chữ Thinhân nh đang thủ thỉ tâm tình cùng ta để kể về giấc mộng của mình
Hôm qua bạn ạ! Ta chiêm bao
Gò ngựa bên sông với gốc đào
Sớm ấy đông qua đào chín ửng
Ta trèo vịn hái trên cành cao.
(Hôm qua)
Thể loại thơ 7 chữ này hầu nh Lu Trọng L hay sử dụng nói cái mộng,
cái mơ của mình (Thuyền mộng, Chiếc cáng điều, Bâng khuâng, Hôm qua ).
Vì là mộng nên ý tràn, mộng tràn không thể gò bó trong câu chữ, vậy mà L uTrọng L sử dụng thể 7 chữ rất thành công
Thể thơ 7 chữ đợc Lu Trọng L dùng để nói những mộng ảo của mình
(Thuyền mộng) hay những tình cảm, cảm xúc con ngời đời thờng (Hôm qua,
Hoa xoan) và cả những việc rất thờng tình nh uống rợu (Lại uống )
Anh đã dặn em đừng uống nữa
Vì đâu anh lại đã say rồi
Hãy cho anh trái lời em dặn
Một lần và lần nữa mà thôi
(Lại uống)
Vì thế thơ 7 chữ đã trở nên gần gũi hơn với lòng ngời, nói dợc nhiềucảm xúc hơn và do đó nó cũng đợc các nhà thơ mới sử dụng nhiều hơn trongcác sáng tác của mình
2.1.3 Các thể thơ dân tộc: Lục bát, lục bát gián thấ t
Thơ lục bát là một thể thơ truyền thống độc đáo, là một hình thức thơmang tính thẩm mỹ, thể hiện sâu đậm tâm hồn ngời Việt Đây là thể thơ rấtphổ biến đợc vận dụng đầy sáng tạo trong tục ngữ, ca dao, dân ca trong cáclàn điệu chèo, tuồng trong các bài vè dài Sau này thể lục bát đợc dùng vàothể thơ mới và đặc biệt lục bát vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong thơ cahiện đại ngày nay Lục bát có hình thức là thể tổ hợp giữa câu 6 chữ và câu 8
Trang 20chữ, số câu trong một bài không hạn định, ít thì dùng 2 câu (gọi là cặp) đến 4
câu và nhiều câu,có khi hàng ngàn câu nh Truyện Kiều với niêm luật khá
giản dị
Thơ lục bát gián thất là một sự cách tân trong thơ lục bát Đây là thểthơ có hình thức một cặp lục bát (6 chữ và 8 chữ) và một cặp 7 chữ (2 câu 7chữ)
Trong phong trào Thơ mới các thể thơ dân tộc này đợc các nhà thơ sửdụng để diễn tả cảm xúc mới, tình cảm mới Lu Trọng L cũng là một trong sốrất nhiều nhà thơ sử dụng thể thơ truyền thống này để diễn tả những cảm xúcmới mẻ của con ngời hiện đại
Mặc dù chiếm tỉ lệ không nhiều nhng trong Tiếng thu các bài sử dụng
những thể thơ dân tộc này cũng đã có những nét khác biệt so với thời Trung
đại Về vần, nhịp, đã không còn là cách hiệp vần và nhịp bất di bất dịch màvần và nhịp ở đây chính là dòng cảm xúc của nhà thơ
Nhớ em trong ánh trăng mờ Sóng cây gió lợn giời bao la sầu (Bao la sầu)
Theo cách gieo vần truyền thống thì tiếng thứ 6 của câu lục phải hiệpvần với tiếng thứ 6 của câu bát Thế nhng, ở một vài cặp lục bát trong tập
Tiếng thu lại không tuân thủ theo quy tắc này mà đã có sự phá cách ở một số
câu thơ này, vần không gieo ở câu lục mà ở đây đã đợc thay bằng dòng cảm
xúc “sầu bao la” của nhà thơ, câu thơ vì thế vẫn đi vào lòng ngời và đợc chấp
nhận
Lúc này đề tài của thể thơ dân tộc này không còn là những tình cảm e
ấp của những chàng trai cô gái thôn quê nữa mà trong thơ Lu Trọng L đã làmột thứ “tình hiện đại”
Mời em lên ngựa với anh Nơng theo bãi sậy qua ghềnh suối Mây
(Suối mây)
Nó cũng không còn là những cảnh lao động ngày mùa hăng say mà
đôi khi lại chìm vào trong những nỗi sầu miên man hay những cõi mộng xa
mờ ảo nhng táo bạo
Một đêm ma gió rộn ràng Vô tình ta đã bên giờng Quý Phi
Trang 21Mới ở đây hay tới từ lâu (Giang hồ)
Đó cũng là xu thế chung của sự phát triển các thể loại thơ: tồn tại đợccũng là nhờ sự biến đổi cho phù hợp với tình cảm mới, cuộc sống mới
2.1.4 Thơ thất ngôn tứ tuyệt (tứ tuyệt)
Đây là một dạng của thơ Đờng luật, có quy định bằng, trắc, niêm, đối
chặt chẽ Lu Trọng L trong tập Tiếng thu ngoài việc sử dụng các thể thơ mới,
thơ dân tộc cũng sử dụng cả thể thơ này Sử dụng thể thơ này nhng Lu Trọng
L đã có nhiều cách tân về nhiều mặt, các bài thơ thất ngôn tứ tuyệt trong thơ
ông không còn chịu sự quy định chặt chẽ của luật bằng, trắc, niêm, đối vàcũng không còn sự gò bó về mặt đề tài nữa mà ông đa vao đó những đề tài vềcuộc sống, về tình yêu
Đó là đề tài về tình yêu nh là: “Đợi; Khi yêu”
Yêu với Không yêu, nói lúc đầu Làm chi nh thế phỉnh phờ nhau
Hôm ni, hôm nớ mong rồi đợi Trăng nở đầy buồng, ngời mãi đâu.
(Đợi)
Nhng nhiều lúc có sự vấn vơng tới quá khứ nh trong bài Chiều cổ
Chiều sơng rừng tím, lệ muôn hàng San sát ghe đầy bến Trúc lang Cây, nớc, say theo ngời tráng sĩ Con đò quên cả chuyến sang ngang.
Nh vậy, qua việc khảo sát việc sử dụng thể thơ 7 chữ trong thơ LuTrọng L, chúng ta thấy thơ ông vừa có sự cách tân, mới mẻ về đề tài, luật bằngtrắc, niêm đối, nhng bên cạng đó vẫn còn vơng vấn “chút ít với quá khứ” Đâycũng là điều dễ hiểu bởi Lu Trọng L là con ngời giao thời chuyển từ thơ cũsang thơ mới
2.1.5 Thơ hợp thể (thơ tự do)
Đây là thể thơ hoàn toàn mới xuất hiện và Lu Trọng L là ngời có công
đầu phát triển thể thơ đi đến hoàn thiện hơn Trong Tiếng thu Lu Trọng L đã
sử dụng 15/52 bài của tâp thơ
Các bài thơ hợp thể xuất hiện đã gây đợc sự chú ý của ngời đọc, hìnhthức hợp thể ở đây không mang tính xác định nh một thể thơ đã ổn định mà là
sự kết hợp linh hoạt những dòng thơ mà thể thơ thuộc các thể khác nhau trong
Trang 22một bài Sự gắn bó ở đây cũng là sự gắn bó của dòng cảm xúc của nghệ sĩ chứkhông phải là một sự kết hợp hoàn chỉnh trong thể thống nhất.
Lu Trọng L là một tác giả có những thành công ở thể loại và Một mùa
đông là một tác phẩm thờng đợc bạn đọc và giới nghiên cứu nói đến nh một
minh chứng cho sự tồn tại và phát triển của thể thơ hợp thể Lu Trọng L sửdụng thể 5 chữ cho đoạn thứ nhất (36 câu chia làm 6 khổ) và thể 6 chữ, 7 chữcho đoạn thơ sau
Trong một bài mà tác giả đã sử dụng rất nhiều thể loại để kết hợp vớinhau tạo cảm giác mới mẻ thu hút độc giả
có thể đến với em “Ngời em sầu mộng” của mình
Đến đoạn II với sự kết hợp của thể 6 chữ và 7 chữ:
Em là gái trong song cửa Anh là mây bốn phơng trời
Em chỉ là ngời em gái thôi Ngời em sầu mộng của muôn đời.
Đó là một lời an ủi với thi nhân Với sự kết hợp của 2 thể thơ ta nhcảm nhận sự dùng dằng trong suy nghĩ của nhà thơ, vừa muốn an ủi (đó là
“ngời em gái thôi”) nhng lòng vẫn trỗi dậy cảm xúc:
Ai bảo em là giai nhân Cho đời anh đau khổ.
Đoạn III, với thể 7 chữ, thi nhân nh lặng ngời trong dòng cảm xúc vềmối tình cũ với những kỉ niệm đẹp êm dịu:
Ngày một ngày hai cách biệt nhau Chẳng đợc cùng em kê gối sầu Khóc chuyện thế gian cời ngặt nghẽo Cùng cời những truyện thế gian đau
Trang 23Đoạn IV, nhà thơ trở về với cõi u tình lồng lộng của mình để đợc đắmchìm trong nỗi sầu muôn thuở của thi nhân:
Hãy nh chiếc sao băng hằng mãi Để lòng buồn buồn mãi không thôi
Ngoài ra ta còn có thể thấy Lu Trọng L đã có sự kết hợp thể loại trong
rất nhiều bài thơ: Giang hồ là sự kết hợp giữa câu lục bát và lục bát gián thất
tạo nên thể thơ thích hợp để thi nhân có thể nói lên giấc mộng giang hồ của
ngời lữ khách Hay Ma ma mãi là sự kết hợp giữa những câu 4 chữ với câu 5
chữ, 6 chữ, 7 chữ nh tạo sự vang vọng kéo dài thánh thót Ta còn thấy nhiều
trong bài nh: Còn chi nữa, Hoa bên đờng, Điệu hát lẳng lơ, Hồn nghệ sĩ,
Nhờ có sự kết hợp sáng tạo và phát triển mạnh mẽ hình thức thơ nênthơ ông, những trạng thái cảm xúc và lối cấu tứ của các nhà thơ vì vậy phongphú và đa dạng Mỗi trạng thái đều mang tính chất cá thể riêng biệt có cáibuồn ảo não da diết nhng cũng có cái buồn u hoài, cái buồn bâng khuâng Sựkết hợp biến đổi giữa các thể loại thơ cũng nhằm kết hợp những u điểm củacác thể loại và cách diễn tả cảm xúc khác nhau tạo nên sự đa dạng phong phú
về cảm xúc ngay trong một bài thơ
Hình thức hợp thể thực chất chỉ là một dạng thức trên đờng đi đến thơ
tự do Bản thân nó không tự xác định đầy đủ t cách của một thể thơ độc lập,
ổn định Các bài thơ hợp thể trong thời kỳ này cũng cha có đợc những mạchthơ phóng khoáng, những tứ thơ dào dạt nh những giai đoạn phát triển saunày
Thơ hợp thể (thơ tự do) giai đoạn này đang trên đờng phát triển vàchứng minh khả năng của nó để tồn tại phát triển.Với việc sử dụng thành công
thể thơ này trong Tiếng thu, Lu Trọng L cũng đã làm phong phú thêm khả
năng của mình và góp phần thúc đẩy sự phát triển của các thể loại thơ ViệtNam trong thời kỳ hiện đại
2.2 Đặc điểm về ngữ âm trong tập Tiếng thu của Lu Trọng L
2.2.1 Âm điệu
Âm điệu là một khái niệm rộng đợc dùng trong nhiều lĩnh vực khoahọc nh ngữ âm, tu từ học, phong cách học Trong ngữ âm học, âm điệu (cũng
có khi đợc gọi là vần điệu, ngôn điệu) đợc hiểu là: Những phẩm chất ngữ âm
nh cao độ, trờng độ, cờng độ đợc thể hiện trong lời nói ở tất cả các cấp độ của
Trang 24một chuỗi lời nói (âm tiết, từ, cụm từ, cú đoạn, câu) có chức năng khu biệtnghĩa [12, tr.17].
Âm điệu là một khái niệm cũng đợc dùng trong thơ nhng không có sựthống nhất Ngời ta thờng nói: âm điệu làng quê, âm điệu bài ca, âm điệu khúchát Quá trình hình thành khái niệm cho đến nay vẫn cha ổn định Trongphạm vi luận văn này, chúng ta có thể hiểu âm điệu là một cái gì đó thuộc về
âm thanh
Đọc thơ Lu Trọng L ta thấy Lu Trọng L chú trọng phơng diện âm điệu
hơn các phơng diện khác Ví dụ nh bài Bên thành:
Bên thành con chim con
hót nỉ non
Giục lòng em bồn chồn
buổi hoàng hôn
Em trách gì con chim con
Em oán gì con chim con
Em chỉ hận:
Sao em ngớ ngẩn
Đã để tình lang em lận đận
Chốn xa xôi
Nơi tuyệt vời.
Trong lúc con chim giời
Này mây hỡi! Mây chiều hỡi Dừng lại đây chờ ta với Theo dấu chim xanh
Trang 25Ma này lệ ngời thơng.
(Lại nhớ)
Hay:
Rõ vô duyên khép thơng hão
Non nớc gì một đóa hoa
Đợi bóng trời lá hoa tan tác rụng Bùn một vũng hoa tắm mình hoa Còn hơng đâu nữa mà
L là vì hồn thi sĩ nh chỉ bàng bạc phảng phất trong cái thế giới vô tình: trongmột hơi thở, trong bóng trăng mờ, trong một vài vong hồn hay là những cáinhỏ nhặt quá mà ngời thờng bỏ qua ngời bớc nặng, ngời hát lớn, ngời thìkhông bao giờ tìm đợc nhà thi sĩ Động mạnh là hồn nhà thi sĩ tan ngay
Cũng đồng tả tiếng, mọi thi sĩ thì thích những tiếng đàn sáo thần tiênréo rắt, làm rung chuyển cả tâm hồn, Lu Trọng L thì riêng thích những tiếngrạo rực, ríu rít, những tiếng mà ngời thờng không nghe thấy
Em không nghe mùa thu
Dới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực Hình ảnh kẻ chinh phu
Trang 26Trong lòng ngời cô phụ
Em không nghe rừng thu Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô.
Trong một cái tầm thờng nhỏ nhặt thi sĩ cảm đợc cái to lớn, cái linhthiêng một cành hoa mọc ở bên đờng, ngời thờng cho là một cành hoakhông để ý, nhng thi sĩ bảo đây là một cành hoa do đống xơng lạnh của mộtngời thiếu nữ bạc mệnh mà đâm chồi lên vậy:
Kiếp trớc hoa là thiếu nữ
Sống một kiếp vạn ngời thơng Chết vô duyên vùi bên đờng Một đám đất vàng
Dãi nắng dầm sơng Trên đống xơng lạnh
Chồi lên một nhánhLúc canh trờngThoảng mùi hơng
(Hoa bên đờng)
Nhng tình cảm trong thơ Lu Trọng L là một thứ tình cảm dồi dào mới
mẻ, tế nhị, tế nhị quá nên ngời đời khó nhận ra
Nhng đối phó với phái thơ cũ thì Lu Trọng L là một cái chiến lũy chắcchắn vô cùng, vì thơ Lu Trọng L, có âm nhạc rất dồi dào, rất phong phú
Trang 27- Phân loại dựa vào mức độ hòa âm giữa 2 âm tiết bắt vần với nhau(thành các vần chính, vần thông, vần ép).
- Phân loại dựa vào đờng nét biến thiên của thanh điệu ở âm tiết mangvần (thành vần bằng)
Trong luận văn này, chúng tôi đi vào tìm hiểu đặc trng những vần điệutrong thơ Lu Trọng L theo cách: dựa vào vị trí của tiếng gieo vần ở mỗi dòngthơ, khổ thơ
Số lợng bài thơ của Lu Trọng L trong tập Tiếng thu đợc gieo bằng vần
chân rất nhiều, có 52 bài, chiếm 100% Vần chân trong thơ ông rất phong phú
đa dạng, gồm vần liền, vần gián cách, vần ôm
* Vần liền
Là loại vần mà các âm tiếp hiệp vần với nhau giữa các dòng thơ Quakhảo sát 252 cặp vần chân chung tôi thấy có 159 cặp vần liền, đây là loại vần
chiếm số lợng nhiều nhất trong tập thơ Tiếng thu của Lu Trọng L.
Vần liền đợc sử dụng với nhiều trờng hợp khác nhau, có khi theo kiểuAA-A nh:
Hôm qua bạn ạ! Ta chiêm bao
Gò ngựa bên sông, dới gốc đào
Sớm ấy đông qua đào chín ửng
Ta trèo vin hái trên cành cao
(Hôm qua)
Em có bao giờ nói với anh
Những câu tình tứ, thuở ngày xanh Khi thu rụng lá, bên hè vắng
Tiếng sáo ngàn xa vẳng trớc mành
(Khi thu rụng lá)
Trang 28ở trờng hợp khác, vần liền lại đợc gieo theo mẫu AABB tức là 2 âmtiết cuối dòng trớc hiệp vần với nhau và 2 âm tiết cuối dòng sau hiệp vần với
nhau: kiểu gieo vần này trong tập Tiếng thu rất ít, chỉ có vài cặp.
Để mặc anh đau khổ
ái ân, giờ tận số Khép chặt đôi cánh song Khép cả một tấm lòng.
(Một mùa đông)
Hay:
Càng gỡ càng rối thêm Giận chim chẳng êm đềm Nàng buồn rụng hết tóc Mỗi chiều ra vờn khóc.
âm tiết hiệp vần xen kẽ liên tục làm thành thế gián cách ABAB
Thuyền bơi trong quãng giời xanh ngắt Thẳm xa, xa thẳm, một màu lơ
Nhìn mây thẳm trời xa chóng mặt Van nàng cắm lại chiếc thuyền mơ.
(Thuyền mộng)
Hay có những khổ thơ, trong đó chỉ có 2 vần ở 2 dòng bắt vần với nhau
Hôm xa ta đứng bên hồ Kiếm Quanh ta rộn rịp biết bao ng ời
Mà ta chỉ thấy ngời hôm ấy
In giữa không gian một nụ c ời
(Mộng chiều hè)
Trang 29Vần cách là hình thức đan chéo gián cách nhau trong những bài thơ sửdụng vần này làm cho câu thơ có sự lồng ghép, đan chéo, hòa nguyện chặt chẽgiữa hình thức và ngữ nghĩa.
(Còn chi nữa)
Đây là loại vần mà Lu Trọng L sử dụng không nhiều, chỉ có 15 cặp
vần song hiệu quả của nó mang lại không nhỏ Vần ôm trong tập thơ Tiếng
thu có sự phân bố nh sau:
Hoặc trờng hợp âm tiết cuối của dòng thứ hai bắt vần với âm tiết cuốicủa dòng thứ ba, lúc này vần cuối của dòng thứ t trở nên tự do không bị ràngbuộc với các dòng trớc và dòng sau
Để chăn gối yên nằm chỗ cũ Hãy lịm ngời trong thú đau th ơng Giờ đây ta hãy đốt nén h ơng Trên tay ta buộc dải tang cho tình.
(Thú đau thơng)
Loại vần này còn có điểm đáng chú ý là ở các khổ thơ có 2 vần bắt dòng vớinhau thì ngoài âm tiết là vần đã mang thanh cùng tuyến điệu, 2 âm tiết của 2dòng còn lại không có quan hệ vần với nhau tức không hiệp vần nhng cùng
đều chứa những thamh cùng tuyến điệu khác với 2 âm tiết kia Cụ thể là nếu 2
âm tiết bắt vần có mang thanh trắc thì 2 âm tiết cuối dòng còn lai sẽ mangthanh bằng
Ngày một rồi ngày hai Mảnh trăng treo cửa sổ
Đã quen mùi rơm cỏ Nàng nguyện với nghèo vui.
(Ngày xa) Nàng sẽ về với ta