1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngôn ngữ hồi ký vũ bằng trong thương nhớ mười hai và bốn mươi năm nói láo

115 2,1K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn ngôn ngữ hồi ký vũ bằng trong thương nhớ mười hai và bốn mươi năm nói láo
Tác giả Vũ Bằng
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Văn Học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 630 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vũ Bằng 1913 - 1984 là nhà văn hoạt động trên khá nhiều lĩnh vực: báo chí, sáng tác văn chương, viết chân dung nhà văn, viết tiểu luậnphê bình…Ở lĩnh vực nào, ông cũng đạt được những thà

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Cấu trúc luận văn 9

Chương 1 THỂ HỒI KÍ, NGÔN NGỮ HỒI KÍ, HỒI KÍ VŨ BẰNG 10

1.1 Thể hồi kí và đặc điểm ngôn ngữ hồi kí 10

1.1.1 Thể hồi ký 10

1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ ký 14

1.2 Vũ Bằng với thể hồi ký 16

1.2.1 Giới thiệu về nhà văn Vũ Bằng 16

1.2.2 Thể hồi ký trong sự nghiệp văn học của Vũ Bằng 19

1.2.3 Tác phẩm hồi ký Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo 30

Tiểu kết chương 1 36

Chương 2 TỪ NGỮ VÀ CÂU VĂN TRONG THƯƠNG NHỚ MƯỜI HAI VÀ BỐN MƯƠI NĂM NÓI LÁO 37

2.1 Từ ngữ trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo 37

2.1.1 Các hướng tiếp cận từ ngữ trong văn xuôi nghệ thuật 37

2.1.2 Đặc điểm từ ngữ trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo 39

2.2 Câu văn trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo 66

2.2.1 Câu trong văn bản nghệ thuật 66

2.2.2 Ngữ pháp của câu văn Vũ Bằng 68

2.2.3 Tu từ cú pháp trong câu văn Vũ Bằng 73

Tiểu kết chương 2 78

Trang 2

THUẬT TRONG THƯƠNG NHỚ MƯỜI HAI VÀ BỐN MƯƠI

NĂM NÓI LÁO 80

3.1 Các biện pháp tu từ 80

3.1.1 Biện pháp so sánh 80

3.1.2 Phép điệp 83

3.1.3 Dẫn ngữ 88

3.2 Chất trữ tình thể hiện qua giọng điệu nghệ thuật 95

3.2.1 Khái niệm 95

3.2.2 Giọng điệu trữ tình trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo 96

Tiểu kết chương 3 107

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Vũ Bằng (1913 - 1984) là nhà văn hoạt động trên khá nhiều lĩnh

vực: báo chí, sáng tác văn chương, viết chân dung nhà văn, viết tiểu luậnphê bình…Ở lĩnh vực nào, ông cũng đạt được những thành công nhất định.Riêng trong lĩnh vực văn chương, ông để lại một khối lượng lớn, trong đó

có nhiều tác phẩm có giá trị như: Thương nhớ mười hai, Bốn mươi năm nói láo, Miếng ngon Hà Nội, Miếng lạ miền Nam…Ông luôn có ý thức tìm tòi,

sáng tạo để làm mới văn chương, kiến tạo những nét độc đáo riêng, khônglặp lại Dường như văn chương của ông luôn vận động, chuyển mình khôngngừng Có thể nói, Vũ Bằng là nhà văn góp phần thúc đẩy sự đa dạng củavăn xuôi Việt Nam Tuy nhiên, cuộc đời của ông lắm thăng trầm, bí ẩn, nên

vị trí và những đóng góp của Vũ Bằng chỉ mới được khẳng định lại vàotháng 3 năm 2000, khi Bộ Quốc phòng xác nhận sự thật về nhà văn Đócũng là lý do khiến cho tác phẩm của Vũ Bằng chưa đến nhiều với độc giả

1.2 Thương nhớ mười hai được Vũ Bằng sáng tác trong 12 năm

(1960 - 1971), một quãng thời gian khá dài Thương nhớ mười hai là một

tác phẩm đã để lại ấn tượng khá sâu sắc ngay từ lần đầu tiên tiếp xúc với

đoạn trích Tháng ba rét nàng Bân trong Chương trình chuyên ban Khoa

học xã hội Ấn tượng đó càng được khẳng định khi chúng tôi tiếp xúc trọnvẹn tác phẩm

Bốn mươi năm nói láo là tập hồi ký khi Vũ Bằng đã “yên vị” với một

vai trò, một tư cách khác ở miền Nam Do vậy, tác phẩm của ông chắc chắn

sẽ có những vận động, chuyển biến về nội dung, tư tưởng, chủ đề, cảmhứng cũng như phương pháp sáng tác

Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo là hai tác phẩm thiên

về tính tự biểu hiện Đặt trong bối cảnh văn hoá, Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo có mối quan hệ gần gũi với nhiều tác phẩm của các

Trang 4

nhà văn tên tuổi như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài… Do vậy, có thể

lấy Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo làm đối tượng so sánh

với các tác phẩm trên để thấy sự phong phú trong những biểu hiện cảnh sắc

và hương vị đất nước của văn học Việt Nam hiện đại Từ đó, để thấy rõ hơn

sự chi phối, ảnh hưởng lớn của bản sắc văn hóa dân tộc tới sáng tác vănhọc Đó cũng là một trong những lý do cho chúng tôi tìm hiểu tác phẩm

Đặc điểm ngôn ngữ trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng là đề tài có ý nghĩa thiết thực Chúng tôi muốn khảo sát

lâu hơn khía cạnh ngôn ngữ của hai tác phẩm, góp một phần khám phánhững đặc điểm ngôn ngữ trong văn học Việt Nam hiện đại Tìm hiểu đặc

điểm ngôn ngữ trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo,

chúng tôi mong muốn góp thêm một cách nhìn mới về đặc điểm ngôn ngữcủa tác phẩm, đồng thời nhận biết một vài nét đặc thù ngôn ngữ của thểloại văn học khá mới mẻ: thể loại hồi ký trữ tình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Việc nghiên cứu sự nghiệp văn học của Vũ Bằng

Sáng tác đầu tiên của Vũ Bằng là truyện ngắn Con ngựa già đăng trên mục Bút mới của báo Đông Tây năm 1930 Từ đó cho đến cuối đời, Vũ

Bằng cho ra mắt bạn đọc một khối lượng tác phẩm đồ sộ Nhưng đến nay,theo Văn Giá, số lượng tác phẩm tìm được của ông mới được hơn một nửa

Do vậy, việc nghiên cứu Vũ Bằng chưa tương xứng với giá trị tác phẩmcủa ông để lại Theo thống kê của Văn Giá, tính đến năm 2000 mới có 26bài viết về Vũ Bằng và tác phẩm của ông

Người đầu tiên viết về Vũ Bằng là Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại Vũ Ngọc Phan xếp Vũ Bằng vào hang tiểu thuyết gia (ở mục tiểu

thuyết tả chân) Từ đó cho đến năm 1969, mới có thêm một bài giới thiệu

về Vũ Bằng của Thượng Sĩ Đó là lời nói đầu cho cuốn Bốn mươi năm nói láo Năm 1970, Tạ Tỵ cho ra mắt cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ, trong

Trang 5

đó, tác giả gọi Vũ Bằng là Người trở về từ cõi đam mê Vũ Bằng được đánh

giá là một trong những khuôn mặt nghệ sĩ nổi bật nhất lúc bấy giờ

Từ đó cho đến trước năm 2000, chưa có một bài báo nào nghiên cứu

về con người và tác phẩm Vũ Bằng một cách có hệ thống Năm 1999, có

nhiều bài viết đăng trên các báo như Văn Nghệ, Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh… Song các bài viết này cũng dừng lại ở việc nghiên cứu một số vấn

đề trong tác phẩm của ông Chỉ đến công trình Vũ Bằng - Bên trời thương nhớ của Văn Giá chúng ta mới có cái nhìn tương đối hệ thống và toàn diện

về Vũ Bằng Trong công trình này, ngoài bài viết Thân phận và danh tiết giới thiệu khá kỹ về Vũ Bằng và Thương nhớ mười hai Sau đó còn in các

truyện ngắn của Vũ Bằng trước và sau cách mạng Số ít trong cuốn dànhgiới thiệu thư mục tác phẩm, thư mục nghiên cứu Vũ Bằng Song như VănGiá đã nói, đó mới chỉ là nét “phác thảo bước đầu” về Vũ Bằng Trong mộttương lai gần, chắc chắn sẽ có những công trình nghiên cứu toàn diện, đầy

đủ và chi tiết hơn

2.2 Việc nghiên cứu những tác phẩm ký của Vũ Bằng

Quá trình tiếp cận và nghiên cứu như đã nói ở trên về con người và tácphẩm Vũ Bằng cho phép ta khẳng định rằng việc nghiên cứu về ký của VũBằng chắc chắn sẽ chưa được sâu rộng Thỉnh thoảng chỉ thấy xuất hiện rảirác những lời nhận xét về ký của ông chỉ trong vài dòng với từng tác phẩmriêng biệt chứ không theo một hệ thống cụ thể Vương Trí Nhàn trong lời

giới thiệu cho cuốn hồi ký Cai cho rằng: “Có thể nói trong cuộc đời viết đông, viết tây, viết xuôi viết ngược đủ thứ của Vũ Bằng, Cai đánh giấu một

sự chín đầy trọn vẹn của ngòi bút, cái mức chín đẹp trước đó ông chưa đạt

tới và phải mấy chục năm sau, tới Thương nhớ mười hai ông mới có dịp

gặp lại” và khẳng định Vũ Bằng là người có nhiều đóng góp cho nền vănxuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Trang 6

Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng chưa được nghiên cứu sâu rộng.

Chỉ duy nhất trong lời giới thiệu khi cuốn sách lần đầu tiên xuất hiện năm

1969 của Thượng Sỹ với những lời giới thiệu một cách khái quát mà thôi

Với Thương nhớ mười hai, đã có một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí như: Vũ Bằng - Thương nhớ mười hai (Tô Hoài, tạp chí Văn học số 1/1991), Tháng ba - đi tìm thời gian đã mất (Đặng Anh Đào, Tiếng nói tri

âm, tập hai Nxb Trẻ TPHCM, 1996), Khúc nhạc hồn non nước (Văn Giá

-Vũ Bằng bên trời thương nhớ, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000), Thương nhớ mười hai và một cảnh quan văn hoá độc đáo (Vương Trí Nhàn, Cánh bướm và hoa hướng dương)…

Năm 1989, khi cuốn Thương nhớ mười hai được tái bản, ra mắt bạn

đọc, thì tên tuổi Vũ Bằng được nhắc đến nhiều với những lời khen ngợinồng nhiệt

Giáo sư Hoàng Như Mai - người viết lời giới thiệu Thương nhớ mười hai - có lẽ là người đầu tiên đã lên tiếng khẳng định ngợi ca sức hấp dẫn

của tác phẩm Bằng năng lực cảm nhận văn chương tinh tế, ông đã chỉ rahai yếu tố cơ bản nhất tạo nên sức cuốn hút của tác phẩm là “tấm lòng” và

“ngòi bút tài hoa” của tác giả: “Dù giải thích với hoàn cảnh chính trị nhưthế nào đấy, cuốn sách vẫn bày tỏ rất rõ tâm sự của một con người miềnBắc nhớ da diết quê hương bên kia giới tuyến Chính tấm lòng ấy cùng vớingòi bút tài hoa của Vũ Bằng làm nên giá trị văn chương của tác phẩm này

Nó hấp dẫn ta từng dòng, từng trang” Ông nhấn mạnh cuốn sách còn có ýnghĩa “như một nhịp cầu giao lưu văn hoá” vì nó đã giới thiệu “những sảnvật từng tháng ở miền Bắc nước ta” góp phần “làm cho chúng ta có ý thứctrân trọng hơn đối với những giá trị của quê hương” [5, tr.6] Bằng nhữnglời lẽ khá trân trọng và kín đáo, ông đã nêu được nét đẹp của áng vănchương và sức hấp dẫn của nó là nỗi nhớ quê hương da diết gắn chặt vớinét đẹp của làng quê Bắc Bộ

Trang 7

Nhà văn Tô Hoài trong bài viết “Thương nhớ mười hai” đã đánh giá

cao hồi kí này của Vũ Bằng, coi đó là “một nét anh hoa của tấm lòng vớicuộc đời”, “từng yêu tha thiết đã làm cho đến cả người đương ở giữa HàNội cũng phải yêu lây…” Ông nhận thấy “những sành sỏi và sắc sảo toát

ra từ ngòi bút” [26, tr.64]

Bằng những cảm thụ tinh tế của một nhà văn, Vũ Quần Phương đã nêubật được một nét đặc sắc của tác phẩm là thể hiện lòng yêu nước của tácgiả: “Đọc Vũ Bằng, thấy lòng yêu nước của con người dăng mắc từ muônngàn sự việc…”, Vũ Bằng đã soi lòng mình vào trời đất và viết nên văn”.Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã có một cái nhìn bao quát hơn, đã phát hiện

vẻ đẹp và sức hấp dẫn của tác phẩm trên nhiều phương diện: “Tình yêu quê

hương đất nước ấy là linh hồn của những trang viết hay nhất trong Thương nhớ mười hai Bao hàm trong đó, còn có tình cảm gia đình, truyền thống

người dân Việt” Ông đã nhìn thấy vẻ đẹp của cái tôi tác giả thể hiện trêntrang văn: “Một con người ham chơi, hiếu động, sành sỏi ẩm thực, nhưngchân thật, tinh tế, tài hoa và rất có duyên Anh yêu tha thiết quê hương đấtnước mình” [37, tr.43]

Năm 1994, đoạn trích Tháng ba rét nàng Bân của tác phẩm đã được

đưa vào chương trình lớp 12 Ban Khoa học xã hội, phần Đọc thêm Tạp chí

Kiến thức ngày nay đã mở cuộc thi bình văn trong đó có đề tài chính là đoạn trích này Điều đó có nghĩa là Thương nhớ mười hai đã được thừa

nhận và có vị trí xứng đáng trong nền văn học Việt Nam hiện đại Cũng từ

đó, xuất hiện rất nhiều ý kiến bình và đánh giá về tác phẩm

Đọc đoạn trích Tháng ba rét nàng Bân, Nguyễn Thị Thanh Xuân đã

khám phá ra vẻ đẹp trữ tình “Một nhân tình hào hoa, lịch lãm, biết sốngđẹp và cảm người yêu của mình đến tận chân tơ kẽ tóc” Tác giả cũng chú

ý đến nguồn mạch tạo nên cái đẹp của tác phẩm: “Cái đẹp như đã thấy qua

Tháng ba rét nàng Bân vốn có từ cuộc sống nhưng cũng là phát hiện riêng

của tâm hồn nhà văn”, chính cái “kỳ diệu” ấy đã “làm nên tác phẩm văn

Trang 8

chương để đời” [51, tr,24] Đặng Anh Đào lại ca ngợi hết lời về cảnh sắcthiên nhiên trong đoạn văn, coi đó là “cuốn phim ảnh màu tuyệt đẹp” về

“những biến động tinh tế của cỏ cây non nước” Nhìn chung, có rất nhiềulời nhận xét về đoạn trích Và các tác giả chỉ dừng lại phân tích cái đẹp củathiên nhiên ở một chương mà chưa bao quát hết toàn bộ tác phẩm

Người dành nhiều tâm huyết khi viết về Vũ Bằng là Văn Giá Về tác

phẩm Thương nhớ mười hai, Văn Giá khẳng định Vũ Bằng là một nhà văn

tài năng xuất sắc trên nhiều phương diện: “Ngòi bút của ông tựa như condao pha sắc nước vừa thạo nghề, vừa cần mẫn” [16, tr.127] Vũ Bằng đãtrải gấm hoa lên những trang văn Và “trang văn dành để nhớ về loài hoasầu đâu xứ Bắc phải nói là tuyệt bút” [16, tr.127] Văn Giá lại khẳng định:

“Với những tác phẩm hồi ký trữ tình này, ông đã có một vị trí chắc chắntrong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Lịch sử thể loại hồi ký nằm tronglịch sử văn học Việt Nam phải nhắc đến ông như một sự đóng góp quantrọng không thể thiếu được” [16, tr.85]

Nhìn lại những ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy những công trình, bàibáo nghiên cứu về Vũ Bằng và sáng tác của ông nhìn chung là chưa tươngxứng với sự nghiệp văn học của ông để lại Song các tác giả đều thống nhấttrong việc đánh giá Vũ Bằng là nhà văn lớn có nhiều cống hiến cho nền vănhọc nước nhà

Thương nhớ mười hai là tác phẩm xuất sắc nhất của Vũ Bằng, là một

trong những tuỳ bút đặc sắc nhất của văn học Việt Nam Nói như nhà vănNguyễn Minh Châu thì bây giờ sách văn học rất nhiều nhưng tìm những

quyển như Thương nhớ mười hai “khó khăn” bởi “sách đâu mà sẵn thế” Thương nhớ mười hai là cuốn sách có vẻ đẹp đặc biệt và có sức hấp dẫn

lớn đối với bạn đọc

Đặc biệt ngôn ngữ tác phẩm man mác chất thơ, nhẹ nhàng mà lắngđọng, ru lòng người trở về ký ức mười hai tháng thấm đãm tinh hoa, linh

Trang 9

hồn dân tộc Chính vì vậy Thương nhớ mười hai không chỉ đẹp bởi những

cảnh sắc thiên nhiên của xứ Bắc mà nổi bật trên đó chính là vẻ đẹp ngôn từ

Không chỉ Thương nhơ mười hai mà Bốn mươi năm nói láo ngôn từ

cũng rất giàu hình ảnh, đậm chất trữ tình Lớp từ phiên âm tiếng Pháp kếthợp với những từ, cụm từ có hàm nghĩa chế giễu hoặc xếch mé nhằm diễnđạt ý giễu nhại hoặc phê phán rất tinh tế vè sâu sắc Tìm hiểu ngôn từ trong

hai tác phẩm Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo chứng tỏ rằng

ngôn từ của Vũ Bằng rất đa dạng và phong phú, mỗi tác phẩm ông có mộtvốn từ ngữ riêng nhưng dù viết như thế nào đi nữa người đọc vẫn nhận thấycác tác phẩm của ông đều đậm chất trữ tình

Trong luận văn này, chúng tôi chỉ xin nêu một số nét đặc sắc, độc đáocủa ngôn từ tác phẩm - cái đẹp làm phương tiện của mọi cái đẹp Cũng từ

đó có thể biểu hiện rõ hơn giá trị tác phẩm và vị trí nhà văn

2.3 Những nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo

Là một tác phẩm ký với đặc trưng thể loại là phản ánh chân thực cuộc

sống nhưng trong Thương nhớ mươi hai lại được viết bằng tình yêu và nỗi

nhớ Và tất yếu lời văn của tác giả cũng thấm đẫm chất thơ Tuy nhiên lời

văn giàu chất thơ không phải là nét riêng của Thương nhớ mười hai mà đó

là đặc điểm riêng của thể loại tuỳ bút Cái đặc sắc của Vũ Bằng là ông đãtạo chất thơ cho tác phẩm bằng những câu văn, những hình ảnh mang vẻ

đẹp riêng độc đáo Trước hết, chúng tôi nhận thấy câu văn trong Thương nhớ mười hai phần lớn là câu dài, nhiều thành phần mở rộng, nhịp nhàng

cân đối Nhiều câu có cách diễn đạt, cách dùng hình ảnh rất giống cấu tứ cadao Ví dụ: “Ai bảo non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăngđừng thương gió, ai cấm được trai thương gái Ai cấm được mẹ yêu con, aicấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùaxuân” [5, tr.16] Tác giả còn sử dụng những câu cảm thán, câu hỏi tu từtrực tiếp bộc lộ cảm xúc: “Đẹp quá đi mùa xuân ơi” [5, tr.16] Ngôn ngữ

Trang 10

Thương nhớ mười hai không chỉ bó hẹp trong việc thể hiện các trường cảm

xúc, cảm giác mà còn giàu hình ảnh như trường ẩm thực Vũ Bằng đã sosánh việc phối hợp gia vị trong các món ăn thật độc đáo “món rươi màthiếu vỏ quýt” thì sẽ như “non thiếu nước, trăng thiếu hoa, gái thiếu trai”.Cách dùng từ ngữ, cách tạo lập câu văn, miêu tả hình ảnh đặc sắc ấy đãmang đến cho ngôn ngữ của tác phẩm một vẻ đẹp thiên nhiên, dung dị vớichất trữ tình đằm thắm

Ở Bốn mươi năm nói láo cũng vậy, giọng điệu chủ đạo vẫn là giọng

trữ tình Nhưng đặc biệt là có sự hoà trộn giữa giọng bộc bạch ấy với sắcthái giễu nhại Bởi tác phẩm vừa là sự thể hiện nhiệt tình bộc lộ thế giớicảm xúc nội tâm vừa thể hiện nhiệt tình phê phán, giễu nhại cái xấu của tác

giả Trong Bốn mươi năm nói láo, xen giữa những câu kể mang tính bộc lộ

là những câu, những đoạn giễu nhại kiểu như: “Tôi thích viết báo và muốnlàm nghề đó quá, nhưng biết làm sao bây giờ? Không có cách gì hơn là bạ

tờ báo nào cũng đọc, bạ cuốn sách nào cũng coi, rồi…học thuộc lòng từngđoạn, kiểu mười bốn, mười lăm đi chim gái, các chàng trai mới lớn lênmượn mẫu thư tình, cóp lại để vứt vào trong nhà người yêu lý tưởng [6,

tr.41] Mặt khác, câu văn trong Bốn mươi năm nói láo cũng là câu dài,

nhưng thường được ngắt ra bởi rất nhiều dấu phẩy làm thành nhiều câunhỏ, nên gây cho ta cảm giác như sự gấp gáp trong tâm trạng, thái độ củangười kể chỉ muốn bộc lộ, kể thật nhanh nối lòng mình, xu hướng đối thoạitương đối rõ rệt Khoảng cách giữa người kể và người nghe vì vậy mà gầngũi, than mật, thậm chí không có khoảng cách

Có thể nói, cảm hứng trữ tình đã chi phối trong các tác phẩm của VũBằng khiến cho giọng điệu chung trong các tác phẩm ấy là giọng điệu trữtình, giọng điệu giãi bày, bộc lộ, tâm tình

Với những đặc điểm trên, Vũ Bằng thực sự tạo cho mình một phongcách nghệ thuật độc đáo và đặc sắc trong thể loại ký Có thể thấy Vũ Bằng

là cây bút tài hoa với vốn từ vựng phong phú

Trang 11

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tiếp cận tác phẩm Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo, đề

tài đi sâu vào khai thác đặc điểm ngôn ngữ hồi ký của Vũ Bằng, tìm hiểunhững đặc sắc trong sử dụng từ ngữ, câu văn và các phép tu từ trong tácphẩm

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát của luận văn là các tác phẩm Thương nhớ mười hai

và Bốn mươi năm nói láo của nhà văn Vũ Bằng.

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng các phươngpháp: Phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống, phương pháp thống

kê, phương pháp so sánh đối chiếu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm các chương sau:

Chương 1: Thể hồi kí, ngôn ngữ hồi kí, hồi kì Vũ Bằng.

Chương 2: Từ ngữ và câu văn trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo.

Chương 3: Các phương tiện tu từ và giọng điệu trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo.

Sau cùng là Tài Li ệu Tham khảo

Trang 12

Khi nói đến lịch sử văn học về mặt thể loại là nói đến chuỗi hìnhthức đa dạng của nó Do đó, để chiếm lĩnh các quy luật tổ chức thể loại vănhọc, từ xưa người ta tiến hành cách phân loại khác nhau Cụ thể như:

Ở phương Tây có cách chia văn học ra làm ba loại: tự sự, trữ tình,

kịch của Arixtốt (trong Nghệ thuật thi ca) Đây cũng là cách phân loại của

Hôratxơ, Boalô, Biêlinxki

Ở Trung Quốc với những điều kiện xã hội - lịch sử - văn hóa khác lại

có truyền thống phân loại khác Cách phân chia thể loại sớm nhất ở đây làcách chia văn học thành hai loại: Thơ và văn xuôi Trải qua các thời kỳ lịch

sử, đến cuối đời Thanh, sách vở báo chí Trung Quốc đều thống nhất chiavăn học thành bốn loại: Thơ ca, văn xuôi, tiểu thuyết và kịch

Ở Việt Nam, các giáo trình lý luận văn học chủ yếu dựa trên cơ sởlối “chia ba”, nhưng chọn trình bày bốn thể loại tiêu biểu: thơ trữ tình, kịch,

Trang 13

tiểu thuyết, ký Gần đây nhất, trong giáo trình Lý luận văn học (Nxb GD tái

bản lần thứ 4, H.2004) lại chia văn học thành năm loại: tự sự, trữ tình, kịch,

ký và văn chính luận Cần phải thấy rằng, các cách phân loại nói trên cócác ưu và nhược điểm riêng và mang tính chất tương đối Bởi vì trên thực

tế, thể loại văn học rất đa dạng, không một lối nào bao quát được trọn vẹn

và sít sao Trước hết là các thể loại trung gian, kết hợp loại này với loại kia,không dễ quy hẳn về một loại nào Nhưng trong các cách phân loại trên thìcách phân chia năm có nhiều ưu điểm hơn, “kết hợp được truyền thốngphân loại phương Tây với đặc điểm của văn học cổ xưa và hiện đại, đồngthời, khắc phục được nhược điểm của cách chia ba, chia bốn Ngoài ra,cách chia này cũng đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu giảng dạy văn học ởcác khoa văn cũng như yêu cầu giảng dạy bộ môn văn học ở các trườngtrung học” [14, tr.352] Qua sự lí giải trên, ta thấy rằng, ký được xem làmột thể loại văn học, đồng đẳng, ngang hàng với các thể loại khác như tự

sự, trữ tình, kịch và văn chính luận Điều này đồng nghĩa với việc khẳngđịnh ký là một thể loại văn học có những đặc trưng thể loại riêng khôngtrộn lẫn với các thể loại khác

Trong thực tế, thể loại ký văn học đã tạo nên những đỉnh cao vinh dự

và những tài năng trong văn học Có thể kể đến những nhà văn viết ký nổitiếng trên thế giới như: Tư Mã Thiên, Giôn Rít, M.Gorki, Pautôpxki…ỞViệt Nam, không thể không nhắc đến những gương mặt ký như NguyễnTuân, Thép Mới, Tô Hoài…Ký đã có tác động sâu rộng nhiều mặt đếnngười đọc bằng sức sống trực tiếp, mạnh mẽ và hấp dẫn của nhiều tácphẩm Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Từ sự nhầm lẫn vô tình hay cố ý, người

ta lại muốn sắp đặt chỗ ngồi cho ký: có thể đây là thể loại đàn em Tínhđếm ấy không văn học Trong sáng tạo không thể so sánh các thể loại theolối định mức Bất cứ một sáng tạo văn học nào, khi đạt tới xuất sắc, đềuchiếm lĩnh những đỉnh cao của thể loại ấy và của nền văn học chung” [25,

Trang 14

tr.46] Tóm lại, những ý kiến trên đều mang ý nghĩa chiêu định vị lại chocủa thể loại ký: ký là một thể loại văn học đích thực.

Ký là một thể loại văn học bao gồm nhiều “tiểu loại” Hoàng NgọcHiến viết: “Ký là một thuật ngữ được dùng để gọi tên một thể loại văn họcbao gồm nhiều thể hoặc tiểu loại: bút ký, hồi ký, ký chính luận, du ký,phóng sự, tuỳ bút, tạp văn, tiểu phẩm…” [24, tr.7] Và ngay trong phạm vicủa các thể ký nêu trên, tình hình phân loại cũng chưa phải là đã rõ ràng,dứt khoát Nói chung, đây là một luận điểm chưa có sự thống nhất hoàntoàn trong giới nghiên cứu về ký Tô Hoài từng nói: “Có một chuyện thời

sự được bàn cãi sôi nổi Câu chuyện có mấy loại ký…” [25, tr.56] Bởithông thường, mỗi thể loại văn học thường gắn với một phương thức biểuhiện, riêng ký lại gắn với nhiều phương thức thể hiện khác nhau Trong ký,

có cả phương thức tự sự lẫn phương thức trữ tình… Do đó, khi nghiên cứu

về ký, chúng ta còn gặp nhiều khó khăn, nhất là khi đi vào từng tiểu loại cụthể của nó

Từ trước đến nay, khi bàn về thể ký văn học, các nhà nghiên cứu dễthống nhất với nhau về tầm quan trọng của các thể ký, nhưng xác định mộtđịnh nghĩa về ký lại là vấn đề khá phức tạp, gây nhiều tranh cãi Chính vìthế, việc xác định đặc trưng của ký cũng không phải là vấn đề đơn giản Do

đó, ở đây, khi trình bày về các đặc trưng của ký nói chung và tiểu loại hồi

ký nói riêng chúng ta cũng nên thống nhất về một quan niệm tương đốinhất về ký và tiểu loại hồi ký

Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “Ký cũng như truyện ngắn, truyện dàihoặc thơ, hình thù nó đấy nhưng vóc dáng luôn luôn mới đòi hỏi sáng tạo

và thích ứng Cho nên, càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn Cũngkhông có thể làm việc ấy được” [25, tr.33]

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học, ký được xem là

“một loại hình văn học tái hiện cuộc sống qua sự ghi chép, miêu tả ngườithật, việc thật Hình tượng của ký có địa chỉ chính xác của nó trong cuộc

Trang 15

sống Do đó, tính chính xác tối đa là đặc trưng cơ bản của ký … ký phảnánh cuộc sống kịp thời và thuyết phục người đọc bằng người thật việc thật”[2, tr.131].

Theo Trần Đình Sử thì “ký thực sự là một lĩnh vực văn học đặc thù

Đó là các tác phẩm văn xuôi, tái hiện các hiện tượng đời sống và nhân vậtnhư sự thật xã hội, không tô vẽ (…) Đó là hình thức văn học để chiếm lĩnhcác sự thực ngoài văn học của đời sống …” [14, tr.325]

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, khi nói đến tiểu loại hồi ký văn

học, các soạn giả cho rằng: “Hồi ký là một thể loại thuộc loại hình ký, kểlại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặcchứng kiến” [21, tr.152]

Theo giáo trình Lý luận văn học: “Hồi ký là chủ thể trần thuật phải là

người trong cuộc, kể lại những sự việc trong quá khứ Hồi ký có thể nặng

về người hay việc, có thể theo dạng kết cấu cốt truyện hoặc dạng kết cấuliên tưởng” [14, tr.436]

Về cơ bản, những ý kiến trên có khá nhiều điểm tương đồng Tổnghợp lại, theo chúng tôi, ký là một thể văn học phản ánh hiện thực đời sốngmột cách nghệ thuật mà chân xác, linh hoạt, bộc lộ những ý nghĩ, cảm xúctrực tiếp của cá nhân riêng lẻ và những sự việc, sự vật, con người, cuộc đờivừa có giá trị thẩm mĩ, có ấn tượng lớn với cá nhân, vừa có tính thời sựđược xã hội quan tâm

Có nhiều quan niệm về ký, nhưng không phải là không thống nhấtđược Về đặc trưng của ký cũng vậy, tuy có rất nhiều ý kiến khác nhau,song ở đây, chúng tôi cố gắng trình bày những nét đặc trưng thể loại của ký

mà các nhà nghiên cứu đã thừa nhận trên cơ sở đối sánh với các thể loạikhác

Tiểu loại hồi ký là một loại hình của ký, trong đó nhân vật trần thuật

là nhân vật tôi kể về những chuyện đã xảy ra trong quá khứ Tiểu loại hồi

ký mang những đặc trưng về bản chất như thể ký Trong ký, thời gian trần

Trang 16

thuật luôn luôn có sự hoà trộn giữa hai dòng hiện tại và quá khứ Nếu tácphẩm thiên về ghi chép những sự kiện xảy ra trong quá khứ, đó sẽ là hồi

ký Trong ký, ta còn thấy sự kết hợp chặt chẽ dòng sự kiện, sự việc và dòng

tư tưởng, tình cảm Nếu tác phẩm thiên về phản ánh tư tưởng tình cảm, nó

sẽ là tuỳ bút hoặc bút ký Tuy nhiên, cần phải thấy ranh giới giữa các thể

ký không tuyệt đối Giữa các thể ký luôn luôn có tình trạng chuyển hoá,thâm nhập nhau

1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ ký

Điểm khác biệt cơ bản của hồi ký với các loại hình văn học khác là ởchỗ hồi ký viết những cái có thực trong đời sống, có ý nghĩa thời sự hoặctrực tiếp hoặc gián tiếp Lịch sử văn học đã cho thấy, ký thường phát triểnmạnh mẽ trong những thời kỳ mà xã hội có nhiều biến động

Giống như người viết báo, người viết ký phải đặc biệt tôn trọng, phảitruyền đạt trung thực, chính xác những sự kiện của đời thực với nhữngngười thực, việc thực, cảm xúc thực Nhà viết ký nào cũng phấn đấu theophương châm xác thực đến mức tối đa Nhà văn Bùi Hiển đã nói: “Chúng

ta nên nhớ là trong bút ký, phóng sự, tính xác thực của sự việc là điều kiệncốt yếu” [21, tr.193] Nhà văn Pôlêvôi cũng có ý kiến tương tự: Ký thực sựnhất thiết không được hư cấu Cuộc sống chúng ta muôn hình muôn vẻ nhưthế, lý thú như thế biết bao sự việc xảy ra thực cũng không cần thiết phải

hư cấu thêm thắt tô vẽ gì hơn nữa” [28, tr.189] Trong tuỳ bút Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân như một nhà địa lý, nhà sử học đã nêu cụ thể nguồn

gốc, dòng chảy, chiều dài và tên của dòng song qua các thời kỳ lịch sử:

“Sông Đà khai sinh ra huyện Cảnh Đông tỉnh Vân Nam lấy tên là Li Tiên,

tính toàn thân Sông Đà thì chiều dài là 883 nghìn thước mét” Trong Tờ Hoa, Nguyễn Tuân như một nhà sinh vật học đưa ra những con số cụ thể tỉ

mỉ: “Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mậtlàm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến bay đi, đi từ tổ nó đến các nơi

có hoa quanh vùng Và trong nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được

Trang 17

5 vạn thứ hoa, tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay củacon ong đó là 800.000 cây số”.

Ngôn ngữ ký là ngôn ngữ trần thuật, do trần thuật người thật việcthật nên tác phẩm ký có giá trị cung cấp tri thức về cuộc sống và có giá trịnhư tư liệu lịch sử Hoàng Ngọc Hiến đã khẳng định: “Ngoài gây hiệu ứngkhoái cảm, thẩm mĩ, thể ký gây ở người đọc những khoái thú trí tuệ bằngviệc cung cấp những tri thức người đọc quan tâm” [24, tr.12] Hoàng PhủNgọc Tường cũng nhận xét tương tự: “Cùng với cảm xúc văn học, bút kýcòn chứa đựng cõi thực vốn là bản gốc của tác phẩm Sức nặng ấy được dichuyển đi không giống như một cảm giác mĩ học mà như một quả táoNiutơn rơi xuống tâm hồn người đọc” [14, tr.83]

Do phản ánh nhanh nhạy cuộc sống nên ngôn ngữ ký đòi hỏi phảisáng sủa, ngắn gọn, súc tích, ít lời, không cầu kỳ Kết cấu thường rõ ràng,theo trình tự diễn biến của sự việc nếu là ký sự, theo tình cảm tự tưởng nếu

là tuỳ bút Tình tứ trong ký không léo lắt quanh co, thường là cụ thể nổibật Trong ngôn ngữ ký, điều quan trọng nhất người viết phải biết lựa chọntrong hiện thực cuộc sống đa dạng phong phú những con người, những sựviệc vốn đã mang giá trị điển hình, giá trị thẩm mĩ, đồng thời phải biết cáchsắp xếp miêu tả làm nổi bật chúng

Ngôn ngữ ký ghi lại những cái có thật nhưng không phải bao giờ nhàvăn cũng được trực tiếp chứng kiến sự thực ấy Nhà văn chỉ có thể ghi lạiqua dòng hồi tưởng, qua lời kể của người khác Khi ấy, nhà văn cần có sự

hư cấu và sự hỗ trợ của tưởng tượng Như vậy, ngôn ngữ ký cũng có sự hưcấu, nhưng hư cấu trong ký khác với trong truyện Nếu như hư cấu trongtruyện là tạo ra cái “hiện thực thứ hai” của cuộc sống, thì hư cấu trong kýthể hiện vai trò chủ quan thông qua liên tưởng, ước đoán trong công việclựa chọn, tổ chức, sắp xếp, bình giá những hiện tượng được miêu tả đểchúng hiện lên những nét tiêu biểu, điển hình nhất Song chúng ta cũng cần

Trang 18

lưu ý rằng, dù có hư cấu, ký cũng phải lấy điểm tựa ở hiện thực khách quanđời sống và tôn trọng tính xác thực của đối tượng miêu tả.

Trong ký, ngôn ngữ miêu tả cũng rất quan trọng, nó làm tái hiện vẻđẹp muôn màu của cuộc sống, song nó thường chú trọng nhất, quan tâm

nhất đến cái đẹp của chân lý, đạo đức Trong Người lái đò Sông Đà,

Nguyễn Tuân đã tập trung bút lực miêu tả tính cách hung dữ của con Sông

Đà là để tôn vinh, làm nổi bật vẻ đẹp của ông lái đò, của người lao động

Đến với tác phẩm ký, chúng ta còn bắt gặp kiểu ngôn ngữ giàu cảmxúc của người nghệ sĩ Trong ký, ta thấy có vai trò đặc biệt của cái tôi tácgiả - một cái tôi chứng kiến, một cái tôi giãi bày

Khi tiếp cận ký của Vũ Bằng, những lý thuyết trên là chìa khoá gợi

mở giúp chúng tôi có một định hướng đúng đắn về mặt thể loại, nội dungcủa hiện tượng ký cụ thể Thông qua đó, làm rõ được cái độc đáo, riêngbiệt và đặc sắc của ngôn ngữ ký Vũ Bằng, cũng như những đóng góp củaông cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại

1.2 Vũ Bằng với thể hồi ký

1.2.1 Giới thiệu về nhà văn Vũ Bằng

Cuộc đời số phận mỗi con người đều gắn với một thời đại, một giaiđoạn lịch sử nhất định Những biến động trong cuộc đời mỗi con người phụthuộc vào sự ứng xử của người đó với môi trường xã hội Cuộc đời VũBằng là một minh chứng cho sự gắn kết lịch sử - con người như thế Mọibiến động lớn trong cuộc đời của nhà văn này đều gắn với những biến độngcủa lịch sử đất nước Tìm hiểu ông trong mối quan hệ đó sẽ lý giải vì saotrong nhiều năm qua, tên tuổi Vũ Bằng còn xa lạ với độc giả Việt Nam, vì

sao văn học nước nhà lại có những tác phẩm như: Cai, Miếng ngon Hà Nội, Thương nhớ mười hai, Bốn mươi năm nói láo…

Vũ Bằng tên thật là Nguyễn Đăng Bằng, sinh ngày 3/6/1913 tại HàNội Cha mất sớm, Vũ Bằng ở với mẹ từ tấm bé Mẹ ông đã gửi ông vàotrường Albert Sarraut - một trường trung học Pháp nổi tiếng thời ấy với

Trang 19

mong muốn sau này Vũ Bằng đi du học bên Pháp và trở thành một thầythuốc Nhưng Vũ Bằng không làm theo được nguyện vọng của mẹ Ôngsớm “ném thân mình” vào làng báo Lòng đam mê, nhiệt thành và năngkhiếu vốn đã đưa Vũ Bằng tới những thành công nhất định Nhưng sự lựachọn nghề báo cũng là một đầu mối cho nhiều biến động phức tạp của cuộcđời Vũ Bằng sau này

Trước năm 1945, Vũ Bằng bộc bạch: “bấy giờ nước ta đang trải quamột thời kỳ hỗn độn Tôi cũng như số đông bạn trẻ không có tinh thần lànhmạnh, cả ngày chỉ nằm đọc những sách chán đời Dần dần đâm ra chánmình, tôi tìm những cuộc dật dục vong nhân để tiêu ma sức khoẻ Tinh thầnngày càng bạc nhược thêm” [6, tr.23]

Nhưng vào thời điểm này Vũ Bằng cũng sống được bằng nghề viếtvăn, làm báo như bao nhà báo khác lúc bấy giờ “Ông viết văn, làm báonhư một cách mưu sinh, hơn thế, ông viết như một nghiệp chướng Baonhiêu sung sướng, bao nhiêu bất hạnh, cả cái vinh quang và cái nhục cũng

từ đấy mà ra cả” [16, tr.13]

Từ sự kiện kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946), Vũ Bằng cùnggia đình đi tản cư Cuộc sống của gia đình Vũ Bằng nói riêng và nhữngngười tản cư rất khó khăn Sự thiếu thốn về vật chất đã tác động rõ rệt đếntinh thần của mỗi người dân tản cư Với nhiều động cơ khác nhau, có khánhiều người trong đội ngũ tri thức văn nghệ sĩ đã “dinh tê” (vào trong).Những người hồi cư như vậy đều phải chịu sự phán xét nghiêm khắc củaquần chúng nhân dân ở cả địa bàn hồi cư và ở cả vùng ngoài kháng chiến

Trong hoàn cảnh ấy, Vũ Bằng đã đưa gia đình về Hà Nội Hành độngnày đồng nghĩa với việc chấp nhận bản án “phản bội cách mạng”, “phảnbội nhân dân” Có điều đặc biệt là Vũ Bằng chấp nhận cái án đó Ông vẫnviết, vẫn hoạt động, âm thầm và lặng lẽ Sự "dinh tê" ấy hoàn toàn khôngxuất phát từ động cơ ích kỷ cá nhân mà vì sự đáp ứng lời kêu gọi của sựnghiệp cách mạng dân tộc - Vũ Bằng là một chiến sĩ tình báo Những lời

Trang 20

đồn đại, những tai tiếng xung quanh việc hồi cư là một áp lực nặng nề đốivới Vũ Bằng, song ông chấp nhận nó để làm vỏ bọc an toàn nhất cho cuộcđời hoạt động tình báo.

Nhưng khó khăn, rắc rối chưa dừng lại ở đó Năm 1948, Nam Cao

cho ra mắt truyện ngắn Đôi mắt, dư luận về Vũ Bằng một lần nữa lại rộ lên

khi người ta cho rằng ông chính là “nguyên mẫu” của nhân vật Hoàngtrong truyện ngắn này Rõ ràng, đến lúc này, Vũ Bằng không chỉ chịu hàmoan về việc hồi cư mà còn mang tiếng là một nhà văn xa rời quần chúngcách mạng, sống ích kỷ theo lối hưởng thụ Đối với một nhà văn, mộtngười cầm bút vì lòng yêu thương con người, vì sự nghiệp cách mạng dântộc thì điều đó là một cái án nặng nề Song trong hoàn cảnh bấy giờ, VũBằng chấp nhận tất cả Vượt lên trên mọi thứ là một tấm lòng yêu nước,một nghị lực lớn lao Vũ Bằng đã chọn cho mình cách nhập cuộc oái oăm

mà đẹp đẽ như thế

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954), tình hình đất nước cónhiều thay đổi Mĩ đã nhanh chóng thế chân Pháp ở miền Nam, miền Bắchoàn toàn giải phóng Trợ giúp Mĩ là bọn phản cách mạng hoạt động chínhtrị ráo riết Chúng tuyên truyền dụ dỗ, lôi kéo đồng bào, tri thức văn nghệ

sĩ, đặc biệt là đồng bào công giáo rời khỏi miền Bắc để vào Nam Vũ Bằng

đã nhập vào đoàn người này, tiếp tục lòng hi sinh cao cả của mình cho sựnghiệp cách mạng của đất nước Nhưng dư luận lúc bấy gìơ, Vũ Bằng lạinhận thêm một cái án nữa - theo bọn phản động vào Nam Đó là “một cái

án bất thành văn tuyên phạt Vũ Bằng” [16, tr.20] Chỉ có điều, nặng nề hơn,

vì lần này, Vũ Bằng vào Nam một mình, chịu đựng những điều tai tiếng

một mình Trong hồi ký Bốn mươi năm nói láo, Vũ Bằng viết: “Nhưng

Nam, Bắc là một đất nước sao lại phải coi chuyến đi này là một cuộc di cư

mà không phải là một vụ đi chơi bậy bạ để tiêu sầu khiển hứng?” Cáchgiải thích này cho thấy quan niệm của Vũ Bằng khá thoải mái Phải chăng

Trang 21

đó là một lời giải thích hợp lý nhất cho sự an toàn của chính nhà văn trongtình hình lúc bấy giờ?

Bề ngoài là thế, nhưng bên trong con người ấy luôn chứa đựng nỗiđau sâu sắc Chia tay vợ con, quê hương để vào Nam, tin rằng Bắc Nam rồi

sẽ sum họp, lúc đó, ông sẽ được trở về đoàn tụ với gia đình và sống tronglòng Bắc Việt thân yêu Song niềm tin ấy cứ mờ dần, chuyển thành hivọng, thành mong ước cháy bỏng trong lòng người con xa quê khi hiệnthực lịch sử đất nước đang diễn biến phức tạp Ngày 30/4/1975, đất nướchoàn toàn thống nhất, nhưng nguyện vọng của Vũ Bằng vẫn chưa thực hiệnđược Cái án di cư của ông chưa được xoá bỏ khi ông vẫn tận tuỵ với côngtác tình báo Tổ ấm gia đình và miền Bắc thân yêu trở thành hình ảnh đẹptrong ký ức của Vũ Bằng Hi vọng đã chuyển thành thất vọng và càng đaubuồn hơn khi Vũ Bằng được tin người vợ của ông đã mất nơi quê nhà VũBằng ôm trọn nỗi đau ấy vào cõi vĩnh hằng Năm 1984 ông ra đi âm thầmlặng lẽ như cuộc đời phục vụ cách mạng của ông vậy Ông ra đi khi mà lịch

sử vẫn chưa làm được công việc mà lẽ ra phải làm từ lâu rồi, đó là xácminh sự thật về cuộc đời của Vũ Bằng Mãi đến 1/3/2000 cục tình báochiến lược quân sự mới thực hiện được điều đó

1.2.2 Thể hồi ký trong sự nghiệp văn học của Vũ Bằng

Cuộc đời của Vũ Bằng là một trong những trường hợp đặc biệt củađội ngũ những nhà văn Việt Nam hiện đại từ trước tới nay Cuộc đời ấyxem qua cũng đủ thấy là có nhiều những “éo le, trắc trở” Do vậy, như mộtnhu cầu tự thân - nhu cầu được giải thoát tâm hồn, cộng với những năngkhiếu vốn có đã thúc đẩy ông tìm đến để ký thác nỗi lòng, tâm sự, trăn trởcủa mình vào việc sáng tác văn học Và có lẽ vì vậy mà ông tìm đến với thểloại hồi ký, tuỳ bút Bởi hồi ký là thể loại phù hợp nhất với nhu cầu bộc lộtinh thần chủ quan và nhu cầu tự thú của bản thân người viết hơn tất cảnhững thể loại khác trong ký khi viết về “người thật, việc thật” Hơn thế,

“bất kỳ quyển sách nào cũng là lời tự thú, và quyển sách hồi ức thì chính là

Trang 22

lời tự thú mà tác giả không cố ý giấu mình dưới cái bóng của các nhân vật

hư cấu” Ngay từ khi viết cuốn Cai (1934 - 1944), “Nhân câu chuyện mình

đã nghiện thuốc phiện thế nào, rồi đã cai ra sao, Vũ Bằng muốn làm mộtcuộc tự thú về những sa đà lầm lẫn mà mình từng mắc phải, và cách thứcvận dụng tất cả nghị lực để vượt lên trên những lầm lỡ ấy…” [6, tr.8] Phảichăng đấy chính là sự sám hối với chính bản thân mình để trả món nợ tinhthần và vật chất mà những người thân của ông đã từng một thời “lao đaokhốn khó” cùng ông trong “kiếp nạn” của toàn xã hội lúc bấy giờ

Những năm tháng hoạt động tình báo cách mạng, con người kỷ luậtcủa một chiến sĩ đã lấn át, áp chế, ra lệnh cho chính bản thân ông Song rõràng ở Vũ Bằng, tiếng nói của một con người nghệ sĩ, một tình nhân vẫnluôn muốn nổi dậy, muốn phá phách Có một mâu thuẫn giằng xé trong VũBằng, đó là vừa phải giữ trọn danh tiết, vừa tạo ra vỏ bọc an toàn để hoạtđộng Vũ Bằng cũng đã tìm đến ký để giãi bày nỗi nhớ thương vời vợi,những xúc cảm không thể kìm nén được của mình về quê hương, đất nước,

về những người thân yêu ruột thịt, về những người thân thiết, về cội nguồn,bản sắc văn hoá… mà ông đã từng gắn bó nơi mảnh đất Bắc Việt thân yêu

Phải chăng đây chính là căn nguyên để Thương nhớ mười hai, Bốn mươi năm nói láo, Miếng ngon Hà Nội… ra đời Và đây cũng chính là lời lý giải

có sức thuyết phục nhất về những biến động của cuộc đời nhà văn gắn liềnvới những biến động của đất nước năm 1954 - 1975

Hơn nữa, cuộc di chuyển vào Nam năm 1954 là cột mốc lớn nhấttrong cuộc đời hoạt động tình báo của Vũ Bằng và cũng là cột mốc lớnđánh dấu sự thay đổi trong con người và cuộc đời ông Bắt đầu từ đây, ôngphải sống cuộc sống xa xứ, xa quê hương Hà thành để hoàn thành nhiệm vụ

ở Sài Gòn, mặc dù Hà Nội chỉ cách Sài Gòn “chưa đầy hai giờ máy bay".Với “thân phận lạc loài”, với những nhớ nhung nơi quê nhà, mới hiểu vìsao lại có nỗi sầu xứ và nỗi nhớ thương Hà Nội đến quặn thắt trong lòngnhà văn như vậy

Trang 23

Tiếp cận những sáng tác của nhà văn Vũ Bằng sau năm 1954, chúng

ta ai cũng nhận thấy có một nỗi sầu khắc khoải trong không gian và thờigian luôn luôn tồn tại trong suốt cuộc đời xa xứ của Vũ Bằng Đây có lẽcũng là một trong những căn nguyên dẫn tới sự ra đời của các tập hồi kýxuất sắc của thời kỳ này

Vũ Bằng sinh ra và lớn lên, gắn bó với Hà Nội suốt 40 năm Nhưngcái tuổi 40 (1940), Vũ Bằng phải chuyển vào Nam Cuộc di chuyển này vớiông “dù với bất kỳ lý do đều được xem như là một trường hợp bị bứng khỏisinh quyển văn hoá của mình” [16, tr.60] Cảnh quan môi trường khác xa

Hà Nội lắm Điều kiện khí hậu cận xích đạo đã quy định sinh hoạt, cảnhquan và con người ở Sài Gòn Nơi đây thiếu cái rét ngọt của mùa đông, cáihiu hiu se lạnh của mùa thu Bắc Việt Những mái nhà lặng lẽ đơn sơ nơiphố cổ Hà Nội được thay bằng những mái tôn, những nhà cao tầng san sát.Cuộc sống thời “lai căng kiểu Mĩ” buộc con người phải vội vã, ồn ào vàthực tế hơn…Vũ Bằng đã đến và đã sống trong một môi trường như vậy.Bước chân của kẻ tha hương không tránh khỏi những cảm giác hụt hẫng.Với một người khác có thể xảy ra khả năng “nhập gia tuỳ tục” Họ có thểlàm vơi đi cảm giác, tâm trạng tha hương bằng cách thích nghi với môitrường mới Song, Vũ Bằng đã không làm được điều đó, dù ông đã cố gắngrất nhiều Bốn mươi năm gắn bó với Hà Nội không dễ gì cho phép VũBằng chấp nhận một cuộc sống đổi thay hoàn toàn như vậy Một mình nơiđất khách, ông luôn nhức nhối nỗi niềm tha hương, luôn khắc khoải nhớmong một miền không gian khác, miền không gian ấy là tất cả kỷ niệm,cuộc đời ông Nơi đó, ông còn có một gia đình, một người vợ yêu thươngvẫn đi về khuya sớm…Còn ở đây, với ông tất cả đều xa lạ, đều không thểdung hoà Càng so sánh hai miền không gian ấy, ông càng thấy sự khácbiệt Mặc cảm và nỗi nhớ cứ từ đó mà nhân lên, lan rộng ra, thấm sâu vàolòng, giày vò tâm hồn người xa xứ Càng như vậy, Hà Nội và Bắc Việt

Trang 24

càng trở nên hiện hữu, sống động hơn trong ông Có thể nói, đó là “một cõi

đi về” trong suốt cuộc đời xa xứ của Vũ Bằng

Đã có lúc, Vũ Bằng tự nhủ rằng: “cùng là đất nước, đi đâu mà chẳngthế? Từ Bắc vào Trung, đâu đâu lại không có những con mắt nhìn vào nhữngcon mắt mà như gói gém cả một trời thương: từ Trung vào Nam chỗ nào màchẳng có những miệng cười, không nói ra lời mà hàm súc, biết bao duyênthắm?” Nhưng sự thực không thể phủ nhận được “lòng người xa nhà mà ynhư thể là khúc gỗ bị mối ăn, mục nát từ lúc nào không biết (…) Con tim củangười khách tương tư cố lý cũng đau ốm y như là gỗ mục” [5, tr 9]

So sánh hai miền không gian ấy quả là có sự bất công, “nhưng yêubao giờ mà chẳng bất công như thế?” [5, tr.14] Tình yêu dành cho Hà Nội,cho Bắc Việt nhiều đến nỗi khi xa nó, người ly hương luôn sống với quêhương trong ký ức, và điều đó lý giải nỗi nhớ của Vũ Bằng trong suốtquãng đời xa xứ Và nỗi niềm ấy cũng lý giải tại sao không gian trong kýcủa Vũ Bằng thường là không gian tâm tưởng, không gian ký ức của ngàyxưa Có lúc không gian đó thật bao la, rộng lớn như cả bầu trời Bắc Việt,

có lúc lại thu về trong gia đình nhỏ bé, ấm cúng,… Nó vừa của ngày hômqua gần gũi, quen thuộc, vừa của ngày mai xa vời mà người khách thahương không biết mình có trở về được không Nỗi niềm đau đáu khao khátmuốn tìm về chốn cũ bắt đầu nhân lên từ đó

Nỗi khắc khoải về không gian là nỗi khắc khoải có thể xoá đi nếungười xa xứ về được chốn cũ Nhưng nỗi khắc khoải không gian thường điliền với nỗi khắc khoải thời gian Đây là nỗi niềm không có phương cáchhoá giải Vì thời gian trôi đi không bao giờ trở lại, kỷ niệm mãi mãi thuộc

về quá khứ Có gặp lại, sống lại với kỷ niệm cũng chỉ có thể trong tâm

tưởng mà thôi Hoàng Cầm viết Bên kia sông Đuống là do sự gián cách về

không gian Mọi hình ảnh đẹp nhất của quê hương được thể hiện trong bàithơ là những hình ảnh của quá khứ mà hiện tại nhà thơ không thể có được.Chính nỗi khắc khoải thời gian cộng với nỗi khắc khoải không gian là

Trang 25

nguồn khởi hứng cho Bên kia song Đuống Với Vũ Bằng có lẽ cũng vậy, sự

gián cách trong không gian đã làm cháy lên trong ông một tình yêu lớn với

quê hương đất nước Song còn một thứ gián cách nữa gợi thương nhớ đến

quay quắt, đó là gián cách trong thời gian Ngày hôm qua hiện về trong tâmtrí thôi thúc người xa xứ nghĩ tới ngày mai Vũ Bằng luôn mong muốnngày trở về Hà Nội, trở về với gia đình, với Bắc Việt thân yêu Năm 1954,nhận nhiệm vụ vào Nam, ông tin tưởng sau hai năm đất nước thống nhất sẽđược về quê Song hai năm ấy đã trở thành nỗi khát khao, dập tắt dần ngọnlửa hi vọng trong lòng người xa xứ Nhưng hi vọng nhiều lúc trở thành thấtvọng, và hi vọng nhiều lại thất vọng nhiều: “em ơi, sống là tin tưởng và chờđợi nhưng biết rằng mái tóc người ta có xanh mãi được chăng?” [5, tr.35]

Có lúc niềm hi vọng lại chuyển thành nỗi ước mong: “Lạy trời đất quỷthần! Xin phù hộ cho chúng con mạnh khỏe chân tay để một ngày kia trở

về nơi chon nhau cắt rốn” [5, tr.324] Và có nhiều lúc sự khát khao, niềmước mong ấy lại bộc lộ như những tiếng nấc nghẹn ngào: “Bao giờ về?Phải, bao giờ về”; “Ngày ấy bây giờ đâu? Và bao giờ còn ngày ấy?”.Những câu hỏi ấy cứ hiện lên trong lòng làm cho người ly hương nơi đấtkhách them sầu, thêm nhớ hơn bao giờ hết

Trong những khắc khoải không gian và thời gian ấy, Vũ Bằng hiện

ra như một “thân phận lạc loài” Với tư cách là một công dân yêu nước,một chiến sĩ hoạt động tình báo thì ông vẫn làm tròn sứ mệnh cao cả củamình Nhưng xét ở bình diện cá nhân tồn tại như một nhân cách văn hoá,với tất cả những biểu hiện của nội tâm thì Vũ Bằng hiện ra với nỗi niềm côđơn, sầu xứ, khắc khoải mãi với thời gian Tác giả Triệu Xuân trong lời

giới thiệu Tuyển tập Vũ Bằng đã gọi Vũ Bằng là “người lữ hành đơn côi”.

Cách gọi này có sự gặp gỡ với cách gọi “thân phận lạc loài” của tác giả

Văn Giá trong Vũ Bằng - Bên trời thương nhớ

Xa quê hương, trở thành người tha hương, sống trong môi trườngkhác hoàn toàn với những gì đã gắn bó vào máu thịt mặc cảm của Vũ

Trang 26

Bằng không đơn giản là mặc cảm về sự khác nhau ở cái ăn, cái mặc mà là

sự khác nhau của hai không gian văn hoá Văn hoá ở đây được hiểu theonghĩa rộng là: “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tươngtác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [41, tr.10]

Xét dưới góc độ lịch sử thì văn hoá có tính lịch sử Chính tính lịch sửnày tạo nên bề dày, chiều sâu và được duy trì bằng đời sống văn hóa Cụthể hơn như ngôn ngứ, phong tục, tập quán, nghi lễ … là các dạng cố địnhcủa truyền thống văn hoá Sự cố định này quy định sự ứng xử của conngười đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Hơn nữa với VũBằng, không gian văn hoá Bắc Việt đã ăn sâu, thấm đẫm vào con ngườiông trong suốt bốn mươi năm Bỗng nhiên thay đổi môi trường, tuy đã cónhiều cố gắng nhưng ông không có khả năng hoà nhập vào không gian củanền văn hoá mới ấy Ông luôn có cảm giác mình bị “thừa” ra như một kẻ

xa lạ, chấp nhận sống với những thứ xung quanh mình nhưng là sống bằngthể xác chứ không sống bằng tâm hồn Nỗi nhớ quê hương, sự khao kháttrở về “cõi xưa” cứ day dứt trong lòng không thể chia sẻ cùng ai, không tìmđược tiếng nói đồng cảm nên không thể vợi đi Trong văn học thế giới, hiệntượng văn hoá này đã từng có nhưng với các biểu hiện sinh động khác nhau

ở các cuộc đời như: Ivan Bunhin, Nadim Hikmet, … hay trong hội hoạ ViệtNam với những biểu hiện sáng rõ ở nhiều tác phẩm của những tác giả như:Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu…

Nadim Bunhin (1870 - 1953) là một nhà văn lớn ở Nga nhưng sốngchủ yếu ở Pháp Trong suốt cuộc đời mình ông luôn có tâm niệm trở về quêhương song không bao giờ thực hiện được Bunhin luôn quan niệm “tổquốc trong tim mình”, còn Nadim Hikmet (1902 - 1963), khi sống ở Nga có

ai hỏi ông về Thổ Nhĩ Kỳ - quê hương ông - “là dường như ông lại bùngcháy lên” Hà Nội, Bắc Việt đối với Vũ Bằng khi sống ở Sài Gòn cũng

Trang 27

giống như nước Nga đối với Bunhin khi sống ở Pháp, như Thổ Nhĩ Kỳ đốivới Nadim Hikmet khi sống ở Nga vậy.

Phải chăng đó chính là tất cả tính bảo thủ của một nền văn hoá kếttinh trong một con người, nó ăn sâu, thấm đẫm vào máu thịt của một cánhân cụ thể: Vũ Bằng? Tính bảo thủ này quy định sự hành xử của một cánhân khi sống ở một không gian văn hoá khác Rõ ràng, tinh hoa của mộtnền văn hoá kết tinh trong một cá nhân không bao giờ cho phép người đó

dễ dãi chấp nhận, thích ứng sự thay đổi trong môi trường sống Chính điều

đó giúp ta phân biệt cá nhân này với cá nhân khác, vùng văn hoá này vớivùng văn hoá khác Ở Vũ Bằng, ta thấy có sự đối lập không thể hoà giảiđược giữa một cá nhân văn hoá với không gian văn hóa đô thị Sài Gòn.Ông trở thành một nhân vật lạc loài, cô đơn trên khắp nẻo đường hiện tại

Đặt trạng thái cô đơn, lạc loài này của Vũ Bằng trong những biếnđộng của cuộc đời ông từ 1954 - 1975 mới thấy hết được thực chất của nó.Nhiệm vụ của một tình báo viên buộc ông phải tạo cho mình vỏ bọc bềngoài an toàn Ông không thể tuỳ ý bộc lộ nội tâm, trở về quê hương hayliên lạc với quê hương để vợi đi “sầu biệt ly vơi sáng đầy chiều” Trong khi

đó, hơn cả nỗi nhớ thông thường, tình yêu ông dành cho quê hương giốngnhư tình yêu nam nữ, “như trai nhớ gái” Nhiều lần ông tự nhận mình là

“người mắc bệnh tương tư kinh niên” cũng vì tình yêu lớn lao ông dànhcho quê hương Trạng thái cô đơn, lạc loài do vậy cũng đẩy lên đến đỉnhđiểm Đó cũng chính là lý do giải thích vì sao hoài niệm của ông ngày càng

da diết hơn, mãnh liệt hơn Và những trang văn của ông lại là những trangvăn của hoài niệm, của ký ức “Quê hương”, “gia đình”, “bè bạn”…trongnỗi nhớ của Vũ Bằng lúc này vừa cụ thể, vừa là biểu trưng cho sự bình an,

có thể xoa dịu nỗi đau, khối sầu của một tâm hồn đang chứa nhiều trắc ẩn

Món nợ tinh thần phải trả cho quê hương, gia đình, bạn bè và nhucầu giải thoát tâm hồn của Vũ Bằng cũng là một phần mà tác giả muốn gửivào trong hồi ký của mình

Trang 28

Phản ánh hiện thực là thuộc tính của văn học Cũng giống như cácloại hình nghệ thuật khác, phản ánh văn học là một loại hình phản ánh đặcthù: phản ánh gắn liền với biểu hiện và sáng tạo Tác phẩm không chỉ nhằmtái hiện “thế giới bên ngoài” mà còn biểu hiện những suy tư, cảm xúc,những mong muốn chủ quan của chủ thể sáng tạo về thế giới ấy Khi cầmbút cũng là lúc nhà văn bắt đầu quá trình giao tiếp giữa mình với bạn đọc.

Vì đó chính là khi những tâm tư tình cảm, cảm xúc lên tới đỉnh điểm, nóthôi thúc nhà văn phải biểu hiện để giữ được cân bằng trong trạng thái tình

cảm của mình Chắc chắn Vũ Bằng viết những Cai, Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Bốn mươi năm nói láo… trước hết vì nhu cầu giải

thoát như vậy

Phần "tự ngôn" của tác phẩm Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng bộc lộ:

“Tôi ghi lại Thương nhớ mười hai không nhằm mục đích gì cao rộng,

chẳng qua chỉ là đánh dấu những ấn tượng hiện ra trong trí óc những buổimây chiều gió sớm “sầu biệt ly vơi sáng đầy chiều” thâu nhận được trongnhững khi lạc bước trên nẻo đường chật ních những người bận rộn bêncạnh những ngoại kiều ăn mặc như phường chèo, “nói líu lô buồn nỗi khónghe”!” [5, tr.16]

Ở phần “dựng” của Miếng ngon Hà Nội ông cũng viết: “Cuốn sách

nhỏ bé không tham vọng gì hơn là ghi lại được nỗi buồn nhớ xa xôi và gửigắm cho một chút tình cho ai ai, ở Bắc, Trung cũng như ở Nam mang nặngtrong lòng những biệt ly xứ sở” [7, tr.47]

Vậy là trong suốt quãng đời xa xứ, Vũ Bằng luôn sống trong nỗi nhớmong, buồn thương và cô độc, không có cơ hội để bộc lộ, giãi bày tâmtrạng cũng như thanh minh cho thân phận của mình Ông đã tìm đến vănchương với toàn bộ sức mạnh của loại hình nghệ thuật này là làm cho tâmhồn của con người luôn trong sạch, thanh cao và phong phú hơn Cái cơ

chế tâm hồn sản sinh Thương nhớ mười hai, Bốn mươi năm nói láo chính là

“khối tương tư kinh niên” của Vũ Bằng Vì thế, một quãng đời lầm lỗi đã

Trang 29

qua lâu rồi, những nét đẹp văn hoá của một miền quê yêu dấu thể hiện quanhững hội hè, đình đám, phong tục, lễ tết, miếng ăn, một thời tuổi trẻ hàohoa và kiêu bạc cùng bè bạn tung hoành trên làng báo suốt bốn mươi năm

… cứ trở đi, trở lại như một nỗi ám ảnh trong các sáng tác ký của ông

Thương nhớ mười hai, Bốn mươi năm nói láo ghi lại kết quả của

những biến động trong cuộc đời Vũ Bằng từ trước 1945 - 1975 Cuộc dichuyển vào Nam của ông đồng nghĩa với việc chấp nhận bản án “phảnđộng” một cách chủ động Chúng ta hiểu rằng bên trong sự chủ động ấy làmột nỗi lòng, một con người với tất cả day dứt, băn khoăn, giằng xé tâmcan Làm sao một con người yêu thương quê hương, yêu gia đình và trântrọng bạn bè như thế lại có thể vô tâm trước sự tuyên phạt của bản án “phảnđộng”? Phải chăng những tác phẩm ấy chính là sự “thanh minh” cho “thânphận và danh tiết” của Vũ Bằng? Chúng là cách trả lời của ông đối với dưluận, với tất cả mọi người: “Tôi không bao giờ phản bội tổ quốc, phản bộinhân dân!” Thiết nghĩ, không phải chờ đợi đến ngày 1/3/2000 khi Bộ Quốcphòng xác nhận Vũ Bằng là tình báo viên thì ông mới thuộc về nhân dân

Sự thực, Vũ Bằng đã thuộc về nhân dân khi Thương nhớ mười hai, Bốn mươi năm nói láo … hoàn thành Không có một lời xác minh nào chân xác

hơn, vì những tác phẩm ấy chính là sự thật về con người, về tâm hồn nhạycảm, tràn đầy yêu thương của nhà văn tình báo này Bởi “văn là người” vàhơn thế, những trang viết ấy lại là những tác phẩm hồi ký Tự bản chất thểloại những sáng tác ấy đã nói lên một cách đầy đủ những sự thật về conngười nhà văn Vũ Bằng

Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng, căn nguyên đưa Vũ Bằng đến với

ký là những biến động của xã hội, của lịch sử đã tác động lên cuộc đời ôngtrong suốt một thời gian dài, khiến ông trở thành một “thân phận lạc loài”ngay trên đất nước và bên cạnh nhân dân của mình Chính vì vậy, có một

Vũ Bằng thứ hai, một “Vũ Bằng sầu xứ” Con người ấy được kết nên từngàn vạn mối tương tư, ngàn vạn nỗi nhớ thương và buồn khổ Con người

Trang 30

ấy phải tìm đến văn chương để giãi bày tâm trạng Nỗi niềm sầu xứ vớinhững khắc khoải không gian và thời gian luôn đeo đẳng Để trả món nợtinh thần cho quê hương, gia đình, bè bạn và giải thoát tâm hồn mình.

Đọc hồi ký của Vũ Bằng, chúng ta thấy nổi lên hai đặc điểm đó là:Hồi ký của Vũ Bằng thiên về nội dung trữ tình và hồi ký của Vũ Bằng cũngthuộc thể tài ký sự

Hồi ký của Vũ Bằng thiên về trữ tình, bởi Vũ Bằng viết hồi ký là do

sự thúc bách của nội tâm Ông đã sống một phần đời tuổi trẻ với nhiều lỗilầm và ích kỷ Vũ Bằng “muốn mượn giấy để ghi những quãng đời sa đoạ

đã qua” như một nhu cầu tự thú, sám hối của ông trước bản than và giađình, người thân của mình Bởi thế, từ trang đầu đến trang cuối tác phẩm lànhững lời giãi bày chân thành của nhà văn về mọi hoàn cảnh đã trải quacũng như những trạng thái cảm xúc của ông trong những thời điểm đó Do

vậy, dễ nhận ra nguồn cảm hứng chủ đạo của tác phẩm là nguồn cảm hứng trữ tình.

Sau sự kiện vào Nam năm 1954, nhà văn bắt đầu những tháng ngày

xa quê cho đến cuối cuộc đời Nơi đất khách quê người, lại mang trongmình nỗi “mặc cảm” của người không được hiểu đúng (là kẻ “phản bội”),

Vũ Bằng luôn phải sống trong tâm trạng nhớ mong, buồn thương và côđộc, không có cơ hội để giãi bày, thanh minh cho thân phận, cho tấm lòngmình với bất cứ ai Bởi vậy, như một hệ quả tất yếu, các tác phẩm hồi kýnào ông viết ra cũng chứa đựng nhu cầu giải thoát, và điều đó trở thànhnguồn cảm hứng chính chi phối hệ thống hình tượng, cảm xúc của tác

phẩm Đọc Thương nhớ mười hai, điều dễ nhận biết là xuyên suốt chiều dài

của tác phẩm là nỗi sầu xứ, nỗi nhớ quê hương Bắc Việt của người con ly

quê Vũ Bằng Ở Bốn mươi năm nói láo cũng vậy, toàn bộ tác phẩm bàng

bạc một tâm sự nhớ thương của Vũ Bằng về quãng đời quá khứ tươi đẹp,sôi động của mình với bao nhiêu bè bạn trên làng văn, làng báo

Trang 31

Biêlinxki từng nói: “tư tưởng thơ… đó là cảm hứng” Vậy trong tácphẩm văn học, cảm hứng chủ đạo chính là nội dung tư tưởng cơ bản của tácphẩm Cảm hứng chủ đạo trong hồi ký của Vũ Bằng là cảm hứng trữ tình,

do đó, có thể nói, nội dung trữ tình là nội dung chủ yếu của các tác phẩm

ký Vũ Bằng Những biểu hiện cụ thể của nguồn cảm hứng chủ đạo nàytrong các sáng tác ký của Vũ Bằng sẽ được chúng tôi trình bày thông quangôn ngữ hồi ký của ông

Hồi ký của Vũ Bằng cũng mang đầy đủ đặc điểm của thể tài ký sự.Theo nhà lý luận văn học Nga Pôxpêlốp, nội dung thể loại ở đây lànội dung có tính loại hình, được lặp đi lặp lại qua các đề tài khác nhau Đó

là các thuộc tính chung của một vùng tiếp xúc có ranh giới loại hình trongviệc miêu tả, phản ánh hiện thực Theo quan niệm này, ông đã đề xuất banhóm nội dung thể loại chủ yếu là: thể loại lịch sử dân tộc, thể loại thế sự,thể loại đời tư Và các nhóm thể tài nói trên đều có thể được thể hiện quacác loại văn học khác nhau: tự sự, trữ tình, kịch, ký, văn chính luận Nghĩa

là trong thực tế có sự thâm nhập của các nhóm nội dung thể loại nói trên vàvào tất cả các thể loại văn học khác nhau, chẳng hạn có truyện ngắn thế sự,kịch thế sự, ký thế sự… Ngoài ra còn có các thể loại kết hợp như: tiểuthuyết đời tư - thế sự, tiểu thuyết lịch sử - thế sự, ký thế sự - lịch sử, ký thế

sự - đời tư …

Nếu xem tác phẩm loại thế sự là những tác phẩm tập trung thể hiệnphương thức sinh hoạt dân sự, công cộng trong xã hội hay của tầng lớpngười trong xã hội, đề xuất các nguyên tắc chuẩn mực trong sinh hoạt cộngđồng, các quan niệm công lý xã hội” [14, tr.354], thì ký của Vũ Bằng cũng

có những phẩm chất của thể loại ký sự Có điều, trong mỗi tác phẩm đề cậpđến một mảng thế sự khác nhau với những mức độ khác nhau, còn có sự

đan xen của các yếu tố khác như yếu tố đời tư (Cai), yếu tố lịch sử (Bốn mươi năm nói láo) Nhưng yếu tố đó đều không phải là những nét nội dung

Trang 32

mang tính loại hình nên không thể làm thành đặc điểm nội dung thể loại kýcủa Vũ Bằng theo tiêu chí này được.

Với việc lấy cảm hứng trữ tình làm cảm hứng chủ đạo trong các tác

phẩm Cai, Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Bốn mươi năm nói láo, Vũ Bằng đã thông qua việc bộc lộ thế giới nội tâm của mình mà tái

hiện lại được cả một thời kỳ “hỗn độn”, “xã hội tràn đầy cảnh bất công, bóclột tạo ra vì chế độ thực dân tàn ác” [6, tr.56], đẩy cả một thế hệ thanh niênmắc “bệnh thời đại” Họ sống một cuộc sống không tin tưởng Không cóngày mai Sa ngã Truỵ lạc” [5, tr.19] Lịch sử báo chí và những biến độngchính trị, xã hội, văn hoá của nước ta và đời sống của một thế hệ các nhàvăn, nhà báo trong suốt bốn mươi năm được thể hiện một cách rõ ràng

trong Bốn mươi năm nói láo Thương nhớ mười hai lại tái hiện được những

phong tục tập quán, lối sống… của con người Hà Nội, quê hương Bắc Việt.Tất cả đều là những vấn đề thuộc về đời sống thế sự được phản ánh tronghồi ký Vũ Bằng

1.2.3 Tác phẩm hồi ký Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo

Vũ Bằng đã dành trọn cuộc đời cho nghề viết văn Ông là cây bútviết nhanh, viết khoẻ, chuyên cần trên nhiều lĩnh vực Trong hơn 50 nămcầm bút, ông đã để lại khối lượng sáng tác đáng nể gồm hàng trăm tácphẩm với nhiều thể loại: tuỳ bút, truyện ngắn, hồi ký, bút ký, tiểu thuyết

Trong đó có nhiều tác phẩm nổi tiếng Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo là một trong những tác phẩm như thế.

Tháng giêng năm 1960, Vũ Bằng bắt tay vào viết Thương nhớ mười hai, đến năm 1967 vừa viết xong phần Tháng chín, gạo mới chim ngói thì được tin vợ mất Mãi đến năm 1971, Vũ Bằng mới viết xong Thương nhớ mười hai Năm 1972 in Thương nhớ mười hai tại nhà xuất bản Nguyễn

Đình Vượng

Trang 33

Mới đầu vừa mới ra đời, Thương nhớ mười hai chưa tạo ra ấn tượng

gì nổi bật Mãi đến năm 1989, khi tái bản lần thứ nhất, tác phẩm đã đượcđông đảo bạn đọc đón nhận, đặc biệt là độc giả phía Bắc

Giáo sư Hoàng Như Mai là người đầu tiên viết lời giới thiệu cho

cuốn Thương nhớ mười hai, ca ngợi sức hấp dẫn của tác phẩm Ông cho

rằng, sức thu hút bạn đọc của tác phẩm chính là ở “tấm lòng” và ngòi bút

“tài hoa” của tác giả Còn Tô Hoài, Vũ Quần Phương, Nguyễn Đăng Mạnh

đều thống nhất khẳng định Thương nhớ mười hai là một tác phẩm có giá trị

văn chương, linh hồn của những trang văn thương nhớ là tình yêu quêhương đất nước của tác giả

Thương nhớ mười hai được Vũ Bằng viết bằng cảm hứng lãng mạn,

bằng tình yêu và nỗi nhớ cảnh sắc thiên nhiên đến những thời trân, phong

tục, nếp sống, con người xứ Bắc Trong Thương nhớ mười hai những sản

vật ở mọi miền quê hương từ quả thơm trái ngọt đến các món ăn, món quàbình dị đều trở thành “thời trân” những sản vật quý của các mùa Quêhương Bắc Việt còn có “bao nhiêu chùa đẹp”, “bao nhiêu là cảnh nên thơ”.Vẫn chưa hết, Bắc Việt còn hấp dẫn ta bởi miền quê ấy quanh năm tưngbừng lễ tết hội hè, “mà hội hè nào cũng ý vị, mà cũng nên thơ, mà cũng hấp

dẫn” [5, tr.58] Có thể nói, đến với Thương nhớ mười hai, chúng ta được

đến với những cảnh đẹp thiên nhiên của tâm hồn văn hoá dân tộc trong mộtkhông gian nghệ thuật rộng lớn, phong phú đa dạng

Bao trùm lên Thương nhớ mười hai là không gian cố hương - không

gian tâm tưởng - không gian của tình yêu và nỗi nhớ Chính niềm thươngnhớ vời vợi đã tạo ra không gian trang trọng, không gian trìu mến, ôm ấp,

vỗ về - một không gian linh thiêng Trong ký ức về một quãng đời êm đẹp,người ta thường giữ những gì tươi tắn, đáng yêu nhất Và hiện lên trongtâm tưởng, trong niềm yêu nỗi nhớ, vẻ đẹp của những kỷ niệm bao giờcũng được thăng hoa

Trang 34

Có thể khẳng định, trong tác phẩm Thương nhớ mười hai, với cảm

hứng lãng mạn, Vũ Bằng tái hiện, mô tả một miền quê “lộng lẫy gấm hoa”,một thế giới nghệ thuật hội tụ những vẻ đẹp trong đời sống văn hoá tinhthần Việt Nam: vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên, vẻ đẹp của con người, vẻđẹp của di sản tinh thần tổ tiên truyền lại Chưa ở đâu và chưa bao giờchúng ta lại bắt gặp một thế giới nghệ thuật tập trung mô tả tái hiện toàn cáiđẹp như thế Và điều đáng lưu ý là thế giới nghệ thuật ấy mang đậm dấu ấnriêng độc đáo của nhà văn Vũ Bằng - con người luôn mang nặng nỗi ưu tư

về việc lưu giữ những nét đẹp của văn hoá dân tộc

Thương nhớ mười hai được viết bằng ngôn ngữ giàu cảm xúc, đầy

thi vị Và tất yếu, lời văn của tác phẩm cũng thấm đẫm chất thơ Cách dùngnhững từ ngữ, những câu văn, những hình ảnh đặc sắc đã mang đến cho lờivăn của tác phẩm một vẻ đẹp riêng

Ở Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng, với tư cách người kể chuyện đã

xuất hiện ở rất nhiều ngôi thứ khác nhau với cách xưng hô khác nhau Khiđứng ở ngôi thứ nhất, người kể không chỉ xưng “tôi” mà còn xưng “mình”:

“Đi vào giữa ánh sáng mơ hồ ấy, mình cảm thấy như bay trong không gian

vô bờ bến” Điều đặc biệt là dù người kể chuyện ở vị trí nào, đối tượngngười kể hướng tới ai chúng ta cũng đều nhận thấy nổi bật một giọng điệuchủ đạo đó là giọng độc thoại với chính mình Chính điều này đã tạo chotác phẩm sắc thái trữ tình và giọng điệu thật độc đáo, không thể trộn lẫn:giọng tâm tình hoài niệm

Đọc Thương nhớ mười hai, chúng ta nhận thấy hình tượng tác giả

-con người nếm trải và tài hoa hiện diện ớ khắp nơi Con người ấy khôngchỉ biết rung động mê say, biết nâng niu trân trọng gom góp những cái đẹpbình dị, nhỏ nhặt trong cuộc sống mà còn biết cách tái tạo, lưu giữ vàtruyền lại cái đẹp cho mọi người Con người ấy biết sống đẹp và làm phongphú cho cuộc sống Song cái đẹp của cuộc sống đó lại được thể hiện ởphương diện ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt Thông qua

Trang 35

ngôn ngữ, hình ảnh quê hương đất nước hiện lên đầy chất thơ, mộc mạc màtrữ tình Ngôn ngữ nghệ thuật Vũ Bằng như được phù phép, đầy quyềnnăng mê hoặc người đọc.

Nếu như Thương nhớ mười hai đưa người đọc về với miền quê thương nhớ của nhà văn, thì đến với hồi ký Bốn mươi năm nói láo, người

đọc lại cảm nhận được toàn bộ tác phẩm là sự bộc bạch những tâm sự,những nhớ thương của Vũ Bằng về quãng đời làm báo của mình trong suốtbốn mươi năm Qua lời tự bạch và hồi kể của ông, chúng ta hình dung đượcnhững nỗi buồn vui mà Vũ Bằng đã nếm trải cùng bạn bè, đồng nghiệp khilàm báo ở Hà Nội, ở Khu Ba, ở miền Nam Đó là tâm trạng của một thời

“trẻ người non dạ”, “liều lĩnh và lố lăng”, “tấp tểnh” bước vào nghề báo vớinhững quan niệm hão huyền, mơ ước cũng rất viển vông, làm báo chỉ vì

“thích thì làm, thích làm báo thì viết chớ cũng chẳng xây mộng lớn lao gìhết” [6, tr.228] Khi “bài báo” đầu tiên của mình được in, Vũ Bằng đã trảiqua rất nhiều trạng thái tình cảm khác nhau: vui mừng quá độ, rồi dươngdương tự đắc vì cho là mình có tài, rồi tự cho mình cái quyền được “khinhkhinh”, “phớt lờ” với người khác, kể cả với người thân của mìn… Thế rồi,

từ chuyện đùa, chuyện táo tếu mà thành thật, Vũ Bằng “ngã” vào nghề làmbáo như một “nghiệp chướng của đời mình” Bao chuyện buồn vui kháccủa những thời kỳ khác nhau của cuộc đời làm báo như thời làm “bào tếu”,làm báo “đấu tranh”, làm báo “xây dựng”… như thế nào đều được tái hiệnlại qua dòng hồi kể sinh động, chân thật pha chút hài hước, giễu nhại Đặcbiệt, ta không thể quên cảm nhận của Vũ Bằng về cái thời “làm báo lưuđộng ở khu Ba”: “những ngày kháng chiến đầu tiên ở hậu phương thật làcực khổ, nhưng cũng thật vui lạ Tôi chạy về khu Ba ngồi kéo sợi và hơntrong nửa năm trời không làm gì; nhung sau lần bắt liên lạc được với anhem cũ, tôi viết mấy vở kịch,… rồi do đó đi họp văn hoá, viết một hai tờbáo nhỏ ở địa phương… Ngày tháng nặng nề trôi, đời sống thiếu thốn đủmọi cách, nhưng lòng người hể hả như chết mà sống lại Tôi chưa hề được

Trang 36

sống những giờ phút sôi động mà ấm lòng như thế; đồng bào thương xótnhau như ruột thịt; người dân giúp đỡ nhau thực tình; anh lính ho thì ngườidân tự nhiên thấy ngực mình đau nhói Riêng tôi, tôi thấy rưng rưng nướcmắt khi thấy Nguyễn Phổ và Nguyễn Kỳ từ Cao Bắc Lạng về thăm tôi…Cảm động nhất là Sở Bảo Doãn Kế Thiện đã già rồi mà cũng lặn lội từ SơnTây về rủ tôi làm việc văn hoá …” [6, tr.214] Thời kỳ này, Vũ Bằng đượcsống trong nguồn tình cảm nồng ấm của những người dân nơi tản cư, ông

đã xúc động thực sự trước những tấm lòng đồng bào, đồng chí Ông thừanhận: “Sống cả một kiếp người ở nội thành, không thể có những phútthương như thế Tình đồng bào với đồng bào ngạt ngào thơm mùi của hoabưởi nửa đêm về sáng…” [6, tr.219] Làm sao có thể dửng dưng với nhữngkhoảnh khắc như thế của cuộc đời? Chính vì vậy mà những trang văn của

Vũ Bằng thấm đầy cảm xúc nhớ thương, trân trọng những tấm lòng ngườidân nơi tản cư và cũng là của đồng bào, đồng chí của mình Tình cảm ấy đãtheo Vũ Bằng suốt cuộc đời, nên khi cầm bút ghi lại một quãng đời sôiđộng, đầy biến cố của mình trên làng báo, Vũ Bằng không thể không nhắctới như một sự tri ân

Bên cạnh những dòng bộc bạch cảm động ấy của Vũ Bằng, ta còncảm nhận những tiếc nhớ và trân trọng của ông về một thời làm báo, làm vănvới bạn bè, đồng nghiệp giữa đât Hà Thành một thuở Ông đã dành tình cảmkhông nhỏ cho nhiều tên tuổi của các nhà văn như Thanh Châu, Ngọc Giao,Trần Huyền Trân, Tô Hoài, Thâm Tâm và đặc biệt là với Nguyễn Tuân, NgôTất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… khi những dòng ông viết về họ, VũBằng muốn lấy cái ngày xưa không gì thay thế được ấy để khoả lấp phầnnào cái trống vắng tâm hồn nơi chốn phồn hoa đô thị Sài Gòn mà ông đangsống Nhớ về họ, viết về họ là một dịp để ông ôn lại những kỷ niệm của thời

kỳ sôi động của mình và bè bạn cùng làm báo, viết văn để bộc lộ niềm khaokhát tự do dân chủ, và sự ý thức, tranh đấu không nguôi cho thân phậnnhững người dân của một đất nước bị nô lệ, bị áp bức Họ viết với những

Trang 37

phương châm, đường lối đã vạch sẵn: “lập trường quốc gia, dân tộc”, “làmbáo Việt Nam, cho người Việt Nam, vì người Việt Nam…” [6, tr.406].

Không những thế, Vũ Bằng còn thổ lộ những suy nghĩ, nhận thức chủquan của mình về “nghề nói láo” mà ông sớm dấn thân vào và theo đuổi suốtđời Ban đầu, đó là những nhận thức ấu trĩ, sai lầm kiểu như: “làm báo là nóiláo ăn tiền”, mê nghề làm báo chỉ vì “nó là một nghề đã oai mà lại hốt bạc”[6, tr.252], làm cái anh nhà báo “oai biết mấy, danh giá biết bao nhiêu!” [6,tr.253], “làm báo là trò chơi, ai muốn viết gì thì viết, quăng bài vào toà soạnrồi in ra, thế là xong Chúng tôi không cần phải có đường lối chính trị, khôngcần phải có quan điểm, lập trường, lôi thôi lắm!” [6, tr.261] Sau rất nhiềunhững biến cố xảy ra với các tờ báo, với chính bản thân của người viết báo

do tác động ghê gớm của những biến chuyển chính trị, xã hội, văn hoá trongnước, thế giới: báo này “đổ”, báo kia lại lên; người viết báo thì kẻ mất ngườicòn, người lại đi xa… Tất cả những “cú huých” vào nhận thức, vào tâm hồncủa những người như Vũ Bằng tạo nên những thay đổi lớn trong họ Vấn đềvận mệnh dân tộc, danh dự đất nước trở thành vấn đề cấp thiết và cốt cántrong quan điểm, trong việc đấu tranh bằng báo chí, bằng văn chương: “thàchịu khổ sở, thiếu thốn, hiểm nghèo chớ không chịu vị tình người Pháp hay

vì tiền của họ mà thay đổi lập trường, chí hướng” [6, tr.293] Bởi vì, trongnhận thức của họ bây giờ “làm báo là làm một cái gì lớn lao, nói lên đượcphẩm chất văn minh, hoặc thoái hoá của một chế độ và hơn thế nữa, mổ xẻtình tiết, tâm tư của con người, đi sâu vào từng khía cạnh trớ trêu, uẩn khúc

và giả tạo của một chế độ chống lại chế độ ấy, nếu cần, hầu cho giống nòivươn lên và cho giống nòi tồn tại và tiến bộ” [6, tr.302 - 303] Từ việc coibáo chí là một trò chơi, đến việc coi báo chí là một vũ khí, một lực lượng vậtchất để đấu tranh, để “cải tạo xã hôi”, họ đã phải trả giá rất nhiều Những lờibộc bạch của nhà văn được chuyển tải trân ngôn ngữ tâm tình, bộc bạch, vàdường như vì vậy mà câu văn dài, vừa tâm tình vừa pha chút giễu nhại khinhìn lại quãng đời đã qua

Trang 38

Viết Bốn mươi năm nói láo, giãi bày tâm sự của người làm báo chí

trong một giai đoạn dài binh lửa, chia cắt của đất nước, Vũ Bằng còn muốntha thiết khẳng định: làm báo, đó là tất cả nhiệt thành và tâm huyết củacuộc đời ông Không như vậy không thể có những dòng này: “người mẹnào sanh ra con mà chẳng muốn con mình sau này ăn nên làm ra, có vai có

vế, nhưng Mẹ ơi, con đành chịu tội bất hiếu với Mẹ: nếu trở lại làm người,con cứ xin làm báo!” [6, tr.593]

Đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo, chúng ta lại cảm nhận sâu sắc hơn về vẻ đẹp ngôn từ

trong tác phẩm, cũng từ đó cho chúng ta có cái nhìn chính xác hơn về VũBằng - ngòi bút khai lối mở đường cho lối viết chất thơ, giàu cảm xúc vàcảm hứng trữ tình trong ngôn từ nghệ thuật

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề liên quan đến thểloại ký nói chung, thể hồi ký nói riêng trong văn học, đặc điểm của ngônngữ hồi kí Đây là những vấn đề đã được đề cập trong một số công trình

lý luận văn học, với những quan điểm có sự khác nhau giữa các nhà nghiêncứu Từ yêu cầu của luận văn, chúng tôi đã tổng hợp các quan niệm và đưa

ra cách lí giải, làm chỗ dựa cho việc khảo sát ở những chương sau

Trong chương này, luận văn đã giới thiệu những nét khái quát về conngười và sự nghiệp văn chương của nhà văn Vũ Bằng, nhấn mạnh vai tròcủa thể hồi kí trong toàn bộ di sản của nhà văn Hồi ký là những dòng tâmtưởng, những tâm sự, những nhớ nhung mà Vũ Bằng gửi gắm vào đó nhưmột nỗi niềm, những kỷ niệm đẹp về một thời đã qua, về quê hương BắcViệt mà người con ly hương không thể trở về Hồi kí của Vũ Bằng khôngchỉ phong phú về nội dung, mà còn đặc sắc về hình thức thể hiện, trong đó,nhà văn đã in đậm dấu ấn riêng của mình ở ngôn từ nghệ thuật Việc tìm

hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo vì thế, là công việc có ý nghĩa.

Trang 39

Chương 2

TỪ NGỮ VÀ CÂU VĂN

TRONG THƯƠNG NHỚ MƯỜI HAI VÀ BỐN MƯƠI NĂM NÓI LÁO

2.1 Từ ngữ trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo

2.1.1 Các hướng tiếp cận từ ngữ trong văn xuôi nghệ thuật

Dưới nhiều cách nhìn khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu đưa ra nhũngnhận định khác nhau về từ Người nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật xem từngữ là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên giọng điệu của một tácgiả Nhà từ vựng học thống kê vốn từ của nhà văn, đặt chúng trong tươngquan với vốn từ của toàn dân để đưa ra nhận xét khách quan nhất Nhà ngữpháp học quan tâm đến vấn đề từ loại, đặc điểm cấu tạo, cách tạo từ trongtác phẩm và từ dó, dối chiếu trong ngôn ngữ chung Nhà ngữ dụng họcquan sát từ ngữ trong tác phẩm của nhà văn ở sự hành chức của nó, và cắtnghĩa sự hành chức đó để củng cố các luận điểm lý thuyết

Từ là một trong những đơn vị cơ bản nhất của ngôn ngữ Nó ở vào vịtrí trung tâm của hệ thống ngôn ngữ Nó là cơ sở để con người có thể tiếnhành nhận thức và tạo ra mọi sản phẩm ngôn ngữ như câu, đoạn văn, vănbản phục vụ cho nhu cầu giao tiếp của con người Từ là đơn vị có sẵn, tồntại trong hệ thống ngôn ngữ, tạo thành kho từ vựng của một thứ tiếng Ởmỗi người, từ được tích luỹ dần và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ Nó làmột trong những yếu tố thể hiện trình độ ngôn ngữ của cá thể

Khi các cá nhân thực hiện hoạt động giao tiếp với nhau thì các từ làcần thiết trong vốn từ được huy động và kết hợp với nhau thành các cụm

từ, các câu, ngôn bản để thực hiện hoạt động giao tiếp Chính trong quátrình tham gia vào hoạt động giao tiếp, từ mới thực sự có cuộc sống sinhđộng, mới bộc lộ rõ và cụ thể hoá các thuộc tính hay đặc điểm thuộc vàobình diện khác nhau của nó và thậm chí có thể có những biến đổi và chuyển

Trang 40

hoá đa dạng, phong phú hơn khi nó tồn tại trong trạng thái tĩnh của hệ thốngngôn ngữ.

Khi chuyển từ dạng tĩnh trong hệ thống ngôn ngữ sang trạng tháiđộng trong giao tiếp, các yếu tố ngôn ngữ nói chung và từ nói riêng cùngđồng thời chuyển từ dạng trừu tượng, khái quát sang một dạng cụ thể sinhđộng Bởi vì hình thành và tồn tại của từ trong hệ thống ngôn ngữ nhìn mộtcách tổng thể là để phục vụ cho toàn thể xã hội, cho hoạt động và tư duytrong giao tiếp nói chung Trong quá trình hoạt động giao tiếp, nghĩa của từmới được xác định Cái mới đó chính là mầm mống và động lực cho nhữngvận động và sự phát triển không ngừng của ngôn ngữ

Từ thực tiễn ngôn ngữ khác nhau mà ngay trong trạng thái tĩnh, chưahình thành chức năng của hệ thống ngôn ngữ, cũng tồn tại những từ tiềmtàng năng lực giao tiếp và mỗi chức năng như thế sẽ hệ thống hoá trongtừng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

Trong nghệ thuật, không có hiện tượng chung chung mà chỉ có cáchình tượng nghệ thuật gắn liền với một chất liệu cụ thể như hình tượng hộihoạ, hình tượng âm nhạc, hình tượng sân khấu, hình tượng văn học, Tínhchất đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật gắn liền với đặc trưng, đặcđiểm và khả năng nghệ thuật của chất liệu được dùng làm cơ sở cho nghệthuật đó Chính vì vậy sẽ không hiểu được đặc trưng của văn học nếu bỏqua đặc điểm thể hiện nghệ thuật của ngôn từ

Có thể nói, từ ngữ có vai trò quan trọng trong tác phẩm văn học,trước hết nó là yếu tố tạo ra hình hài cảu tác phẩm, tạo nên sự sống cho hìnhtượng tác phẩm Tiếp xúc với một tác phẩm văn học nào trước hết chúng tabắt gặp một văn bản ngôn từ đặc điểm của lớp từ này là trực tiếp chịu sựquy định của quy luật ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ pháp từ vựng, phong cáchhọc, đồng thời chịu sự chi phối của quy luật văn thơ, thể loại Từ ngữ còn làchất liệu để nhà văn xây dựng các hình tượng trong tác phẩm của mình.Xuyên qua lớp từ ngữ, ta bắt gặp các chi tiết tạo hình, các tình tiết sự kiện

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alain Laurent (1999), Lịch sử cá nhân luận, Phan Ngọc dịch, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cá nhân luận
Tác giả: Alain Laurent
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1999
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. M.Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp của Đôxtôiepxki, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của Đôxtôiepxki
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
4. R.A.Bunganov, Tính thẩm mĩ của ngôn ngữ, Tài liệu đánh máy, Thư viện trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính thẩm mĩ của ngôn ngữ
5. Vũ Bằng (2002), Thương nhớ mười hai, Nxb Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương nhớ mười hai
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Kim Đồng
Năm: 2002
6. Vũ Bằng (2001), Bốn mươi năm nói láo, Nxb Văn hoá thông tin tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mươi năm nói láo
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin tái bản
Năm: 2001
7. Nguyễn Phan Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2000
8. Đỗ Hữu Châu (1973), “Khái niệm “trường” và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng", Ngôn ngữ số 2, tr.45-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm “trường” và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1973
9. Đỗ Hữu Châu (1990), “Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học”, Ngôn ngữ, số 2, tr.8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1990
10. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1998), Ngôn ngữ học đại cương (tập 1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
11. Trương Chính (1990), "Từ ngôn ngữ đến văn chương: dùng từ”, Ngôn ngữ, số phụ, tr.23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngôn ngữ đến văn chương: dùng từ
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1990
12. Nguyễn Đức Dân, Đặng Thái Minh (1999), Thống kê ngôn ngữ học, một số ứng dụng, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê ngôn ngữ học, một số ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Dân, Đặng Thái Minh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
13. Đinh Văn Đức (2004), “Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam thế kỷ XX” in trong sách Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam thế kỷ XX"” in trong sách "Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
14. Hà Minh Đức chủ biên (2002), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
15. Văn Giá (1995), Tiếng kêu rỉ máu, Tác phẩm số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng kêu rỉ máu
Tác giả: Văn Giá
Năm: 1995
16. Văn Giá (2000), Vũ Bằng bên trời thương nhớ, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Bằng bên trời thương nhớ
Tác giả: Văn Giá
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
17. Văn Giá (1996), "Khúc nhạc hồn non nước", Tiếng nói tri âm, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khúc nhạc hồn non nước
Tác giả: Văn Giá
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1996
18. Văn Giá (2000), "Người nghệ sĩ tấu Khúc nhạc hồn non nước”, TC Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người nghệ sĩ tấu Khúc nhạc hồn non nước
Tác giả: Văn Giá
Năm: 2000
19. Văn Giá (1998), Từ nguyên mẫu đến nhân vật điển hình trong đôi mắt của Nam Cao, Văn học số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ nguyên mẫu đến nhân vật điển hình trong đôi mắt của Nam Cao, Văn học
Tác giả: Văn Giá
Năm: 1998
20. Mak Haliday (2001), Dẫn luận ngữ pháp chức năng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngữ pháp chức năng
Tác giả: Mak Haliday
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Bảng thông kê số lượt và tỉ lệ về địa danh và nhân danh - Luận văn ngôn ngữ hồi ký vũ bằng trong thương nhớ mười hai và bốn mươi năm nói láo
Bảng 2.2. Bảng thông kê số lượt và tỉ lệ về địa danh và nhân danh (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w