1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngôn ngữ thơ thanh thảo trong tập khối vuông rubic

107 2,3K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn ngôn ngữ thơ Thanh Thảo trong tập Khối vuông rubic
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 538 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua bao quát tài liệu, chúng tôi thấy, thơ Thanh Thảo được nghiên cứu trên nhiều phương diện: những chủ đề tư tưởng nổi bật, quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo, những đặc sắc về phương

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ ca nói riêng là một trong những hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động – một lĩnh vực hoạt động đặc thù: hoạt động nghệ thuật Việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca, trong đó có việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ tác giả là một trong những hướng đi cần thiết của việc nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách là phương tiện của nghệ thuật Trong nền thơ

ca Việt Nam đương đại, Thanh Thảo được biết đến như một nhà thơ có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách tân thơ Việt Bằng những cách tổ chức ngôn từ đầy sáng tạo, Thanh Thảo đã thực sự tạo nên dấu ấn phong cách nghệ thuật của mình trên thi

đàn Được nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1985, tập thơ Khối vuông rubic được coi là tập thơ ghi lại rõ nhất dấu ấn phong cách nghệ thuật của Thanh

Thảo trên phương diện ngôn ngữ Tuy nhiên, từ trước đến nay, vấn đề ngôn ngữ

thơ Thanh Thảo nói chung và đặc biệt là ngôn ngữ trong tập thơ Khối vuông rubic

nói riêng chưa được quan tâm nghiên cứu Đó chính là một trong những lí do cơ bản của việc lựa chọn đề tài này

1.2 Từ sau 1975, văn học Việt Nam nói chung, thơ Việt nói riêng có sự vận động và phát triển mạnh mẽ Sự vận động ấy trước hết được đánh dấu bằng sự thay đổi tư duy nghệ thuật của người cầm bút Sau nữa, nó thể hiện qua việc thay đổi của hình thức nghệ thuật, trong đó có ngôn ngữ Thơ Thanh Thảo cũng không nằm

ngoài quy luật vận động ấy Tìm hiểu ngôn ngữ của tập thơ Khối vuông rubic trong

tương quan với các tập thơ khác của Thanh Thảo, chúng tôi mong muốn có một cái nhìn toàn diện hơn về quá trình vận động của thơ Thanh Thảo Đồng thời, qua đó

có thể nhìn nhận thấu đáo hơn về sự vận động của thơ Việt Nam đương đại

1.3 Trong những năm gần đây, tác phẩm của Thanh Thảo đã được lựa chọn và đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông Tìm hiểu những đặc sắc nghệ

Trang 2

thuật của Khối vuông rubic, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm một cách nhìn về thơ

Thanh Thảo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy thơ Thanh Thảo trong nhà trường

vậy, thơ Thanh Thảo nói chung, tập thơ Khối vuông rubic nói riêng đã nhận được

không ít sự quan tâm của độc giả và các nhà nghiên cứu phê bình văn học Qua bao quát tài liệu, chúng tôi thấy, thơ Thanh Thảo được nghiên cứu trên nhiều phương diện: những chủ đề tư tưởng nổi bật, quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo, những đặc sắc về phương diện nội dung, những nét cách tân trong hình thức thể hiện, trong đó có ngôn ngữ

Ngay khi tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ vừa xuất hiện, chân dung nghệ thuật

thơ Thanh Thảo đã được phác họa trong nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê

bình văn học Tiêu biểu là các bài viết Thanh Thảo – thơ và trường ca của tác giả Thiếu Mai (tạp chí Văn học, số 2, năm 1980), “Thanh Thảo – một gương mặt tiêu biểu trong thơ từ sau 1975” của tác giả Bích Thu (tạp chí Văn học, số 5 + 6, 1985),

“Một tiếng thơ quý” của Phong Lan (Văn nghệ quân đội, số 8, 1980), “Chất trẻ trong thơ chống Mĩ” của Nguyễn Trọng Tạo (Văn chương và cảm luận, NXB Văn hóa thông tin, 1998) Thiếu Mai trong bài viết Thơ và trường ca đã nhận định: “thơ

Thanh Thảo có khả năng gọi dậy những suy nghĩ của người đọc, bởi vì thơ ấy là thơ của một tâm hồn giàu suy tưởng, giàu trí tuệ”; “thơ Thanh Thảo có chiều sâu

Trang 3

Có lẽ ai đã đọc thơ anh đều chấp nhận ý kiến đó Có nhiều nguyên nhân, nhưng phải chăng một nguyên nhân khá quan trọng là ở chỗ bao giờ anh cũng muốn vượt qua những hiện tượng bên ngoài, để tìn đến cái bản chất đích thực, cái lõi của sự vật” [dẫn theo 25, tr.6] Nguyễn Trọng Tạo nhân đọc lại thơ Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh cũng nhấn mạnh đến “điệu thơ thâm trầm” và “cái hay ở toàn bài” của trường ca Thanh Thảo, đồng thời, đưa ra một so sánh khá độc đáo về thơ Thanh Thảo Tác giả cho rằng: “thơ Thanh Thảo giống như giọt cồn ở nồng độ cao” [dẫn theo 25, tr.7], bề ngoài thì lạnh mà bên trong thì nóng bỏng.

Bên cạnh những nhận xét mang tính khái quát về chân dung nghệ thuật, thơ Thanh Thảo còn được các nhà nghiên cứu phê bình nhìn nhận ở các phương diện khác

Ở phương diện quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo, có thể kể đến những bài

viết, công trình của các tác giả Vũ Quần Phương (“Thơ hôm nay”, tạp chí Văn nghệ quân đội, số 6, 1982), Nguyễn Văn Long (Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, 2003), Trần Đăng Suyền (“Thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ”, Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, Nxb Đại học sư phạm, 2002) Trong những bài

viết và công trình này, mặc dù đứng ở những góc độ khác nhau nhưng hầu hết, các

tác giả đều khẳng định: Bài ca ống cóng là tuyên ngôn của Thanh Thảo và cũng chính là tuyên ngôn của một lớp nhà thơ trẻ bấy giờ “Khi Thanh Thảo viết Bài ca ống cóng cũng chính là lúc thơ của lớp trẻ phát hiện ra mình” [dẫn theo 24, tr.7] Gần đây nhất, tác giả Đặng Thị Hương Lý trong công trình Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo (luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, ĐHSP Hà Nội, 2006) cũng

đã đi sâu nghiên cứu quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo về bản chất thơ, hình thức thơ, nhà thơ và công việc làm thơ Qua đó, tác giả khẳng định: “Quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo được biểu hiện sinh động và nhất quán trong sáng tác của ông Nó cũng cho thấy quá trình vận động, đổi mới của thơ Việt Nam từ sau

1975 trên nhiều phương diện” [25, tr.26-27]

Trang 4

Ở phương diện nội dung, một số bài viết của các nhà phê bình, nghiên cứu đã tập trung vào việc khẳng định chiều sâu của thơ Thanh Thảo khi nói về thế hệ những người lính trong chiến trường, về nhân dân, Tổ quốc Tiêu biểu là các bài

viết: “Suy nghĩ về tính nhân dân trong Những ngọn sóng mặt trời của Thanh Thảo (Sử Hồng, Trần Đăng Suyền, Báo văn nghệ, tháng 6, 1983), “Dấu chân người lính

trẻ trong thơ Thanh Thảo” (Lại Nguyên Ân, Văn nghệ Nghĩa Bình, 1980), tập tiểu

luận phê bình Những vẻ đẹp thơ của Nguyễn Đức Quyền (Nxb Nghĩa Bình, 1980) Trong những vẻ đẹp thơ, Nguyễn Đức Quyền nhận định: “Thơ chống Mĩ đến Thanh

Thảo đã lắng vào chiều sâu Cái xô bồ của chiến tranh, cái tàn bạo của giặc mĩ, cái gian khổ của người lính được Thanh Thảo nhìn với cái nhìn trầm tĩnh lạ thường” [dẫn theo 25, tr.5] Suy nghĩ về người lính trong thơ Thanh Thảo, Lại Nguyên Ân cũng có ý kiến tương tự: “có thể nói, Thanh Thảo đã tìm được nhiều cung bậc, nhiều sắc thái để tô đậm nét vô danh, bình thường của người lính cùng thế hệ” [dẫn theo 25, tr.6] Bên cạnh những bài viết và công trình của các nhà nghiên cứu, còn

có một số công trình luận văn, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, học viên cao học

cũng đã tìm hiểu về nội dung này như Một số trường ca tiêu biểu về cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (Nguyễn Thị Thu Hương, Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, ĐHSP Hà Nội, 2002), Hình tượng nhân dân và người chiến sĩ trong thơ Thanh Thảo

(, Đặng Thị Thúy Nga, Luận văn thạc sĩ Ngữ Văn, ĐHSP Hà Nội, 2005)

Ở phương diện hình thức nghệ thuật, thơ Thanh Thảo nói chung, tập thơ Khối vuông rubic nói riêng cũng nhận được khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên

cứu phê bình như các tác giả Bích Thu (“Thanh Thảo, một gương mặt tiêu biểu

trong thơ từ sau 1975”, tạp chí Văn học, số 5 +6, 1985), Lê Lưu Oanh (Thơ trữ tình Việt Nam 1975 – 1990, Nxb, Nxb ĐHQG Hà Nội), Chu Văn Sơn (“Trường hợp Thanh Thảo”, Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy,

Nxb ĐHSP Hà Nội), Phan Huy Dũng (“Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo dưới

Trang 5

góc nhìn liên văn bản, Văn học Việt Nam trong nhà trường – một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục, 2009)….

Mặc dù cùng xem xét những nét độc đáo trong hình thức nghệ thuật của thơ Thanh Thảo nhưng trong từng bài viết, mỗi tác giả lại chú ý đến một khía cạnh riêng Tác giả Lại Nguyên Ân chú ý tới phương diện hình thức thể thơ và đặc biệt quan tâm đến thể trường ca của Thanh Thảo Chu Văn Sơn sau khi đã đi sâu khám phá những quan niệm đã sinh thành ra thế giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo cũng khẳng định: “như một nghệ sĩ chân chính, ngay từ những bước đầu tiên trên thi đàn, Thanh Thảo đã là ngòi bút ham cách tân” [22, tr.415] Nét cách tân đầu tiên của Thanh Thảo là khi thơ chống Mĩ đang “mạnh về thứ tâm tình ở bên trên”, “thứ nội tâm giản đơn được chuyển động bởi một chủ nghĩa lạc quan ít nhiều dễ dãi, rập khuôn, nhiều giáo điều, hô hào, ca tụng” [22, tr.416] thì Thanh Thảo đã đem đến một tiếng thơ đầy những bận tâm, toàn những chuyện day dứt nhân bản sâu kín về chuyện được – mất, sống – chết, vinh – nhục, họa – phúc, chung – riêng, cá nhân – cộng đồng, gia đình – tổ quốc,…, toàn những trải nghiệm rớm máu và kiên tâm” [22, tr.416] Tuy nhiên, theo Chu Văn Sơn, “hướng cách tân đó chưa phải là điều đáng nói của Thanh Thảo Thanh Thảo được xem là tay cách tân chủ yếu ở chuyện khác: chuyện hình thức” [22, tr.416]

Lê Lưu Oanh trong Thơ trữ tình Việt Nam 1975 – 1990 khi xem xét sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam hiện đại cũng có những nhận định tương đối toàn diện về tập thơ Khối vuông rubic Tác giả khẳng định: “Khối vuông rubic là một sự chuyển giọng, chuyển cách nhìn vốn có mầm mống từ thơ viết

trước 1975 khi anh vẽ chân dung thế hệ mình với cái nhìn gai góc, lí lẽ nhiều khi phức tạp Anh nhận thấy sự đổi giọng của chính mình, từ những lời thơ chiến tranh rất đỗi mượt mà êm ái… đến những câu thơ trần trụi đầy suy nghĩ và lí sự, tỉnh táo

và rạch ròi” [30, tr.148 – 149]; “chuyển cách nói uyển chuyển nhuần nhị sang thơ văn xuôi (có lúc chẳng ra thơ), Thanh Thảo đã thể nghiệm khả năng lí sự, biện

Trang 6

luận, tranh cãi, tăng phần trí tuệ, cố gắng hạ nhiệt độ cảm xúc để đưa cái tỉnh táo của lí trí lên cao” [29, tr.149] Đó là về giọng thơ và thể loại, còn về câu thơ, tác giả

nhận xét: “câu thơ của Thanh Thảo mang nhiều định nghĩa, nhiều tuyên bố: Thời chiến tranh là thời quá ít nhu cầu và quá nhiều khát vọng; thế hệ chúng tôi không thể sống bằng kỉ niệm, không dựa dẫm những hào quang có sẵn Nhiều khi lí sự với các lập luận: làm sao… nói cho cùng; coi chừng… nghĩa là; nói vậy… có lẽ, vậy mà… nhưng, phải nói, có lẽ, như thế, thì ra Nhiều đối thoại, đặc biệt đối thoại với

các giọng khác nhau trong ý thức mình…”.[30, tr.148]

Không đi sâu vào việc đánh giá thơ Thanh Thảo nói chung và tập thơ Khối vuông rubic nói riêng nhưng tác giả Phan Huy Dũng đã dành một sự quan tâm đặc biệt cho bài thơ Đàn gita của Lorca – bài thơ tiêu biểu trong Khối vuông rubic đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông Trong bài viết “Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo dưới góc nhìn liên văn bản”, tác giả viết: “đọc Đàn ghita của Lorca, có thể thấy, mỗi từ, mỗi chi tiết, mỗi hình ảnh và hình tượng trung

tâm trong đó đều là đầu mỗi của một quan hệ giao tiếp rộng lớn, mà nếu thiếu tri thức về các văn bản (hiểu theo nghĩa rộng) có trước đó thì độc giả không thể cảm nhận được, hiểu được ý nghĩa của chúng” [6, tr.207]

Bên cạnh những bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình về những đặc sắc

trong hình thức thể hiện của thơ Thanh Thảo nói chung và tập thơ Khối vuông rubic

nói riêng, còn có một số công trình khóa luận và luận văn của sinh viên, học viên

cao học đề cập về vấn đề này Trong công trình luận văn Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của Thanh Thảo, tác giả Đặng Thị Hương Lý đã khái quát quan niệm của

Thanh Thảo về ngôn ngữ, hình ảnh và nhịp điệu thơ, qua đó, tác giả khẳng định

“ngôn ngữ thơ Thanh Thảo là ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ, gần với văn xuôi” [25,

tr.68] Đặc biệt, trong công trình Đặc điểm ngôn ngữ thơ Thanh Thảo (Luận văn

thạc sĩ Ngữ Văn, ĐH Vinh, 2008), tác giả Lê Thị Ngân đã có những nhận xét tương

đối khái quát về đặc điểm ngôn ngữ thơ Thanh Thảo, trong đó có tập thơ Khối

Trang 7

vuông rubic Tác giả luận văn viết: “về ngôn ngữ, thơ Thanh Thảo sử dụng hệ

thống ngôn ngữ phong phú, giản dị nhưng vẫn đảm bảo tính hàm súc, truyền cảm… Nét nổi bật trong thơ Thanh Thảo là tác giả sử dụng nhiều định ngữ nghệ thuật, nhiều biện pháp tu từ so sánh và điệp ngữ Kết cấu bài thơ tự nhiên, thể hiện được suy nghĩ, cảm xúc và những rung động bất ngờ Nhờ vậy mà tô đậm được ấn tượng trong tâm hồn người đọc” [26, tr.99]

Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy rằng, có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về thơ Thanh Thảo Nhìn chung, các ý kiến đều khẳng định tính độc đáo và chiều sâu của thơ Thanh Thảo Tuy nhiên, phần lớn các công trình và bài viết này đều đi vào tìm hiểu những đặc sắc về chủ đề, tư tưởng, quan niệm nghệ thuật và phác họa chân dung nghệ thuật thơ Thanh Thảo Những ý kiến bàn về

ngôn ngữ thơ Thanh Thảo, đặc biệt là ngôn ngữ trong tập thơ Khối vuông rubic

chưa nhiều và nằm rải rác trong các bài viết trong những bài viết về nội dung, về quan niệm nghệ thuật thơ Thanh Thảo Có công trình luận văn đã đi vào nghiên cứu ngôn ngữ thơ Thanh Thảo nhưng do phạm vi của đề tài, luận văn mới chỉ tìm hiểu khái quát một số đặc điểm ngôn ngữ thơ Thanh Thảo nói chung chứ chưa có

điều kiện đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ tập thơ Khối vuông rubic Như vậy, ngôn ngữ

thơ Thanh Thảo trong tập thơ này vẫn đang là một vấn đề còn bỏ ngỏ Và đó chính

là cơ sở để chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu đề tài này

3 Đối tượng nghiên cứu

Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ tìm hiểu tập thơ Khối vuông rubic của Thanh

Thảo trên các phương diện đặc điểm từ ngữ, một số biện pháp tu từ nghệ thuật và

tổ chức bài thơ Do yêu cầu đối sánh để làm nổi bật những nét riêng của phong

cách ngôn ngữ thơ Thanh Thảo trong Khối vuông rubic, khóa luận sẽ khảo sát một

số phương diện trong các tập thơ khác của Thanh Thảo và một số nhà thơ khác trong cùng một bới cảnh văn học

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 8

4.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu ngôn ngữ thơ Thanh Thảo trong tập Khối vuông rubic, khóa luận

hướng đến hai mục đích sau

Thứ nhất, tìm hiểu đề tài này, chúng tôi mong muốn nêu bật được những nét

đặc sắc nhất của ngôn ngữ thơ Thanh Thảo trong tập Khối vuông rubic để thấy

được đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Thanh Thảo

Thứ hai, trong tương quan với các tác phẩm khác của Thanh Thảo và một số nhà thơ khác cùng thời, chúng tôi hy vọng sẽ có được một cái nhìn tổng quan về sự vận động của ngôn ngữ thơ Thanh Thảo, qua đó, có thể hình dung phần nào những quy luật vận động của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được hai mục đích nêu trên, chúng tôi đặt ra cho khóa luận nhiệm

vụ nhận diện, mô tả, đánh giá một cách có hệ thống những đặc sắc ngôn ngữ thơ

Thanh Thảo trong tập Khối vuông rubic qua so sánh với những tác phẩm khác.

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê ngôn ngữ học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp loại hình

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận sẽ được triển khai thành 3 chương Chương 1: Khối vuông rubic với việc đổi mới ngôn ngữ thơ Thanh Thảo.

Chương 2: Từ ngữ và một số biện pháp tu từ trong Khối vuông rubic.

Chương 3: Tổ chức bài thơ trong Khối vuông rubic.

Sau cùng là danh mục Tài liệu tham khảo.

Trang 9

Chương 1

KHỐI VUÔNG RUBIC

VỚI VIỆC ĐỔI MỚI NGÔN NGỮ THƠ THANH THẢO

1.1 Ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại

1.1.1 Một số luận điểm cơ bản về ngôn ngữ thơ

Văn học là nghệ thuật ngôn từ Đó là điều hiển nhiên, bất tất phải bàn cãi Đối với chủ thể sáng tạo, khi sáng tác văn học, nhà văn bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ như chất liệu sáng tác duy nhất Thông qua lăng kính ngôn ngữ, nhà văn bộc lộ cảm xúc, tư tưởng, tài năng và sức sáng tạo của mình “Ngôn ngữ văn học thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn, vừa có tính trực giác, tính cá thể, vì vậy M.Gorki (1868-1936) đã gọi ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” [35, tr.49] Đối với khách thể tiếp nhận, muốn hiểu được ý nghĩa nghệ thuật của tác phẩm, họ không thể không chú ý đến văn bản ngôn từ, cũng tức là cách tổ chức ngôn ngữ của tác phẩm

Thơ ca là loại hình văn học sớm nhất của nhân loại Nó “ra đời hầu như cùng một lúc với nhạc, họa, múa nhảy trong các cuộc tế lễ thần linh, ma thuật thời

nguyên thủy” [35, tr.254] So với loại hình tác phẩm tự sự, “thơ ca là hiện tượng

độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máy ngôn ngữ của nó” [7, tr.5] Ngôn ngữ thơ vì thế trở thành đối tượng quan tâm của nhiều ngành khoa học, không chỉ đối với nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên, ở mỗi ngành, ngôn ngữ thơ lại được nghiên cứu với một mục đích riêng, một phương pháp tiếp cận riêng nên kết quả thu được cũng khác nhau Cho đến nay, vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm về ngôn ngữ thơ Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, ở đây, khóa luận chỉ trình bày một số luận điểm cơ bản của một số nhà nghiên cứu mà chúng tôi cho là tiêu biểu để có một cái nhìn khái quát về vấn đề ngôn ngữ thơ

Trang 10

Từ góc độ thi pháp học, Roman Jakobson trong bài “Thơ là gì?” đã định

nghĩa thơ bằng cách “đối lập nó với cái không phải là thơ” [dẫn theo 8, tr.177] Tuy nhiên, khi đối lập như vậy, ông cũng khẳng định một thực tế là “biên giới giữa thơ

và cái không phải là thơ còn chông chênh hơn cả những địa giới hành chính của nước Trung Hoa” [dẫn theo 8, tr.179] Chính vì vậy, Jakobson kết luận: “Nếu tính thơ, chức năng thơ hiện ra trong một tác phẩm văn học với một tầm quan trọng thống trị thì chúng ta gọi tác phẩm đó là thơ” [dẫn theo 8, tr.184] Và cái mà ông gọi là tính thơ, chức năng thơ được thể hiện ra trong tác phẩm “theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là từ ngữ chứ không phải thay thế đơn giản của đối tượng được chỉ định, theo cách những từ, những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình thức bên trong và bên ngoài của chúng không phải là các dấu hiệu vô hồn của hiện thực mà có trọng lượng riêng, giá trị riêng của chúng” [8, tr.184] Trong một bài viết khác, tác giả so sánh “nếu hội họa là cách tạo hình bằng những chất liệu của trực quan có giá trị tự tại, nếu âm nhạc là cách tạo âm bằng chất liệu thuộc thính quan có giá trị tự tại, nếu vũ điệu tạo hình bằng chất liệu cử động của thân thể có giá trị tự tại, thì thơ là cách tạo hình với từ ngữ có giá trị tự tại Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mĩ của nó” [dẫn theo 39, tr.13] Ngoài ra Jakobson còn khẳng định “ngôn ngữ nói chung và văn xuôi nói riêng nhằm phục vụ một đối tượng trong đời sống hàng ngày Thơ trái lại là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối

tượng” [dẫn theo 39, 16]

Quan điểm của Roman Jakobson về ngôn ngữ thơ thực chất đã làm rõ tương quan giữa âm và nghĩa, giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện trong thơ Nếu

F.de.Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (1913) cho rằng tương

quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện trong ngôn ngữ (nói chung) là võ đoán thì quan điểm của Roman Jakobson đã phản biện lại lí thuyết đó, theo tác giả, tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện (ít nhất là trong lĩnh vực ngôn ngữ thơ) là không võ đoán

Trang 11

Cùng quan điểm với Roman Jakobson, tác giả Đặng Tiến trong bài viết

Thơ la gì? (in trong công trình Thơ – thi pháp – chân dung, Nxb Phụ nữ) khi xem

xét nội dung và hình thức ngôn ngữ thơ cũng khẳng định: “Thơ là ngôn ngữ vậy nó cũng truyền đạt một tình, một ý Nhưng đặc tính không nằm trong thông điệp truyền đi, mà nằm trong vỏ âm thanh của từ ngữ được sử dụng Ngôn ngữ thơ không chỉ là dụng cụ, mà còn là thể chất Nó vừa là nội dung, vừa là hình thức: Nội dung đôi khi chính là hình thức của nó” [39, tr.11-12]

Trong bài viết Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi dường như cũng có sự gặp

gỡ với quan điểm của Jakobson và Đặng Tiến khi ông cho rằng: “Chữ và tiếng

trong thơ phải còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm Người làm thơ chọn chữ và tiếng không phải vì ý nghĩa của nó, cái nghĩa thế nào là thế ấy đóng lại trong một khung sắt Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái ý nghĩa của

nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến chung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, tỏa ra chung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy” [38, tr.55]

Như vậy, mặc dù cách diễn đạt có khác nhau nhưng cả ba tác giả trên đều có chung một quan điểm, đó là: ngôn ngữ thơ không chỉ là một hệ thống kí hiệu thuần túy dùng để biểu đạt một thông tin\ một nội dung ý nghĩa nhất định mà còn có giá trị thẩm mĩ tự tại

Bên cạnh việc nhìn nhận ngôn ngữ thơ trong chức năng thẩm mĩ của nó, nhiều nhà nghiên cứu còn tìm bản chất của ngôn ngữ thơ bằng cách đối lập nó với ngôn thông thường và ngôn ngữ trong tác phẩm ngôn ngữ tự sự Jan Makarovsy –

một thành viên của “Nhóm ngôn ngữ Phara ”, trong công trình Ngôn ngữ chuẩn và ngôn ngữ thơ (Standard language and potic language, 1948) đã viết: “Ngôn ngữ

thơ, vì thế không phải là ngôn ngữ chuẩn Nói vậy không phải để phủ nhận mối quan hệ mật thiết giữa hai thứ ngôn ngữ, trong đó, đối với thơ, ngôn ngữ chuẩn là cái nền phản ánh sự bóp méo có dụng ý thẩm mĩ của các thành tố ngôn ngữ của tác

Trang 12

phẩm; nói cách khác, sự phá hoại cố ý vi phạm của ngôn ngữ chuẩn” [dẫn theo 20, tr.52-53]

Trong tiểu luận “Thơ là gì?” cũng đem đối lập ngôn ngữ thơ với các hình

thức ngôn ngữ khác như ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ giao tiếp và đi đến kết luận:

“Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này Nói rằng hình thức tổ chức của ngôn ngữ thơ hết sức quái đản là bởi trong ngôn ngữ giao

tiếp không ai tổ chức như thế” [28, tr.23] Trong Thơ thi pháp chân dung, Đặng

Tiến cũng có ý kiến tương tự: “Thơ là ngôn ngữ nghịch với lẽ thường” [39, tr.18] Việc đối lập nói trên có cơ sở thực tế từ chính sự khác biệt giữa hình thức tổ chức của ngôn ngữ thơ với hình thức tổ chức ngôn ngữ nói thông thường và ngôn ngữ của tác phẩm tự sự Mặc dù vậy, quan niệm này đã bị rất nhiều học giả bác bỏ

Chẳng hạn, tác giả Marry Louise Pratt, nhà lí luận Hoa Kì, trong cuốn Towarda Speech Act Theory of Literary Discourse (1977) đã dành hẳn chương đầu tiên có nhan đề The “Poetic Language” Fallacy ( Ngụy biện về ngôn ngữ thi ca) để bác bỏ

định nghĩa thơ dựa trên sự đối lập giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ giao tiếp Bà viết: “Điều khiến học thuyết về ngôn ngữ thơ đáng ngờ nhất là ở chỗ mặc dù các môn đồ của nó luôn khẳng định cơ sở thực chứng cho sự đối lập ngôn ngữ thơ/ không thơ, thật ra họ chư bao giờ kiểm chứng giả định của họ về diễn ngôn phi văn học so với các dữ liệu ngôn ngữ thực tế, “thông thường”, và trên thực tế họ cũng không có nhu cầu kiểm chứng… Nếu một sự kiểm chứng như thế được tiến hành , những giả định đó sẽ sụp đổ hoàn toàn và cùng với chúng sẽ sụp đổ luôn hai ý niệm nòng cốt đối với thi pháp học cấu trúc: niềm tin rằng văn học khác hẳn với các phát

ngôn khác về mặt chức năng và hình thức” [dẫn theo 20, 54-55] Ở đây, do trình độ

còn hạn hẹp, chúng tôi không dám đi vào bình ý kiến này Song, như chúng tôi đã khẳng định ở trên, sự khác biệt giữa hình thức tổ chức của ngôn ngữ thơ với hình thức tổ chức của tác phẩm tự sự và ngôn ngữ nói thông thường là có cơ sở thực tế

Trang 13

Quả thật, ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó có rất nhiều cách tổ chức

Mô hình kết hợp và kiều kết cấu ngữ pháp của nó vì thế cũng rất đa dạng Tuy nhiên, trong sự đa dạng ấy, ở bất kì ngôn ngữ nào chúng ta cũng có thể tìm thấy những hình thức tổ chức phổ biến, quen thuộc và những hình thức tổ chức không phổ biến, có phần mới lạ, độc đáo Trong đó, ngôn ngữ giao tiếp thông thường và ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự thường sử dụng những mô hình tổ chức thông dụng phổ biến còn ngôn ngữ thơ lại thường khai thác những kết hợp độc đáo, bất ngờ, những cách tổ chức ngôn từ mới lạ Mặc dù trong văn học nghệ thuật, khi lấy ngôn ngữ làm chất liệu để sáng tác, người cầm bút bao giờ cũng cố gắng tạo ra tính thẩm

mĩ, giá trị nghệ thuật cho ngôn từ nhưng so với tác phẩm tự sự, tác phẩm thơ bao giờ cũng là lĩnh vực dung chứa nhiều hơn cả những kết hợp lạ, những hình thức cú pháp độc đáo Sở dĩ có hiện tượng này là vì trong tác phẩm tự sự, dù nhà văn luôn hướng đến “viết câu chuyện” chứ không phải là “kể câu chuyện” nhưng họ không lấy ngôn từ làm cứu cánh Nếu không tạo được nét độc đáo trong cách sử dụng ngôn từ thì nhà vẫn có thể tạo ấn tượng thẩm mĩ cho người đọc bằng cách tạo nên

sự hấp dẫn trong cách tổ chức câu chuyện, tình huống truyện, các chi tiết nghệ thuật…Trong khi đó, thơ là loại hình lấy ngôn ngữ làm phương tiện và cũng là cứu cánh nên nhà thơ thường chú ý sử dụng các cách tổ chức ngôn từ độc đáo để khai thác tối đa giá trị thẩm mĩ của ngôn từ khiến cho người đọc không bị “trượt” qua câu thơ, bài thơ một cách “hờ hững” Do đó, theo chúng tôi, việc nhấn mạnh chức năng thảm mĩ của ngôn ngữ thơ và đi tìm đặc điểm của ngôn ngữ thơ qua việc đối lập nó với ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thông thường vẫn là một quan điểm có tính khoa học Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà tuyệt đối hóa quan điểm này Nhà thơ là người luôn có ý thức làm “lạ hóa” ngôn từ nhưng không phải ngôn ngữ thơ lúc nào cũng “quái đản” (chữ dùng của Phan Ngọc) Có những câu thơ, bài thơ

có ngôn từ vô cùng giản dị, gần gũi với đời sống hàng ngày nhưng vẫn đậm chất thơ Ngược lại, có những tác phẩm văn xuôi của một số tác giả (chẳng hạn như

Trang 14

truyện và kí Nguyễn Tuân), lại có cách tổ chức ngôn ngữ hết sức độc đáo nhưng vẫn là văn xuôi tự sự

Cũng đối lập ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ thông thường và ngôn ngữ văn

xuôi nhưng tác giả Nguyễn Phan Cảnh trong cuốn Ngôn ngữ thơ (Nxb Văn hóa

thông tin, 2000) lại tìm đặc điểm của ngôn ngữ thơ trước hết ở cách nhà thơ tư duy trên chất liệu ngôn ngữ: “Nhà thơ tư duy trên chất liệu ngôn ngữ một cách khá đặc thù: hình thành các hệ hình…, từ hệ hình xây dựng các phương trình…, rồi biến

phương trình thành các triết đoạn’ [1, tr.55] Do cách tư duy đặc biệt ấy nên ngôn

ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi có sự khác biệt Tác giả viết: “Để có thể giao tế, chúng ta không được để xuất hiện ở những thời điểm sát nhau những định vị trong cùng một hệ hình… Đấy chính là nguyên lí làm việc của văn xuôi” [1, tr.51], tức là trong văn xuôi, lặp lại là điều tối kị và phương trình không được dùng để xây dựng

các thông báo” Nhưng “chính cái điều mà văn xuôi rất kị ấy lại là thủ pháp làm

việc của thơ: trong thơ, tính tương đương của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo [1, tr.52] Theo tác giả, thơ là một ngôn ngữ đã được loại

trừ nét dư đến mức tối đa để chỉ còn giữ lại nét khu biệt nữa mà thôi” [1, tr.61]

Quan điểm này thực chất đã nhấn mạnh đến nguyên lí song song và tính hàm súc, hai đắc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ

Ở góc độ lí luận văn học, PGS Nguyễn Xuân Nam trong giáo trình Lí luận văn học, tập 2, Tác phẩm và thể loại văn học, khi đi vào phân tích đặc trưng của thơ

cũng đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Theo đó, tác giả này

khẳng định: “Ngôn từ thơ là ngôn từ được cấu tạo một cách đặc biệt” [35, tr.267]

Cấu tạo đặc biệt của ngôn ngữ thơ theo Nguyễn Xuân Nam được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

- Đó là ngôn từ có nhịp điệu

Trang 15

- Ngôn từ thơ không có tính liên tục và tính phân tích như ngôn từ văn xuôi, ngược lai, nó có tính nhảy vọt, gián đoạn, tạo thành những khoảng lặng đầy ý nghĩa Ngôn từ thơ không phải là ngôn từ tuyến tính mà là ngôn tù phức hợp.

- Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính với những âm thanh luyến láy, những tứ trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và những cách ngắt nhịp có giá trị gợi cảm

Quan điểm này mặc dù chưa khái quát được hết những đặc điểm của ngôn ngữ thơ nhưng đã chỉ ra cho chúng ta những đặc điểm quan trọng để nhận diện loại ngôn từ đặc biệt này

Tóm lại, có thể thấy, có rất nhiều quan điểm về ngôn ngữ thơ Trên đây chỉ là một số luận điểm cơ bản tiêu biểu cho một số quan điểm ấy Những luận điểm này mặc dù có những hạn chế riêng nhưng phần nào đã cho ta thấy sự đa diện của ngôn ngữ thơ và tính phức tạp của vấn đề Về cơ bản, chính những luận điểm này đã góp phần làm cho chúng ta thấy rõ hơn đặc điểm của ngôn ngữ thơ Có thể xem những luận điểm này là những tiền đề lý thuyết mà khi soi chiếu vào thơ Việt đương đại, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về đặc điểm của ngôn ngữ thơ Việt

Nam giai đoạn này nói chung, ngôn ngữ thơ Thanh Thảo trong tập Khối vuông Rubic nói riêng.

1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại

Sau 1975, hoàn cảnh lịch sử và xã hội nước ta có nhiều biến động lớn Nếu trước đó, vốn gắn bó chặt chẽ với vận mệnh lịch sử của dân tộc nên trong những năm tháng máu lửa chiến tranh, văn học nhiều khi đã phải “hy sinh” tính nghệ thuật của mình để hướng về phục vụ cho chính trị thì giờ đây, khi đất nước trở về với cuộc sống hòa bình, văn học Việt Nam trong đó có thơ ca lại có điều kiện tìm về với bản thể của chính mình để chuyển sang một thời kì mới với những đặc điểm và quy luật vận động khác trước Hơn ba mươi năm qua, văn học Việt Nam nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng bước vào thời kì đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ, tạo nên diện mạo mới mẻ của văn học Việt Nam đương đại Sự đổi mới này bắt đầu trước hết từ

Trang 16

từ sự đổi mới tư duy nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật thơ, sau đó, nó thể hiện ở những cách tân mới mẻ trong hình thức thể hiện, trong đó có phương diện ngôn ngữ Trong thời kì này, khi tinh thần dân chủ trở thành một đặc điểm chính của văn học và tác động mạnh mẽ đến tư duy nghệ thuật của nhà văn, khi cái tôi trữ tình trong thơ từ cái tôi công dân trở về với cái tôi cá nhân mang tính bản thể thì nhiều nhà thơ đã tìm đến với những lối viết mới, các hình thức thể hiện mới Tác giả Trần

Ngọc Hiếu trong bài viết Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ trong thơ Việt Nam đương đại đã nhận định: “Có lẽ cũng không khó khăn lắm để nhận ra

nhiều cây bút thơ hiện nay đã không còn thỏa mãn với lối viết, hệ thi pháp đã định hình và dường như đã biến thành lối mòn Khao khát bứt phá, đổi mới đã khiến nhiều nhà thơ hoài nghi, muốn xem xét lại những định nghĩa tưởng chừng như đã xong xuôi, ổn định Đâu là yếu tính của thơ? Câu hỏi mang tính bản thể ấy đã không dẫn đến những câu trả lời thống nhất và thực tế cho thấy những tìm tòi thể

nghiệm cách tân thơ hiện nay đang đi theo nhiều ngả khác nhau” [22, tr.368] Nguyễn Đình Thi trong Mấy ý nghĩ về thơ cũng có ý kiến tương tự Ông khẳng

định: “Thơ chúng ta ngày nay đang ở tuổi trẻ nhất của thời đại mới Nhịp sống của chúng ta từ sau cách mạng đập lên nhiều phen dữ dội đến bàng hoàng, đồng thời

mở rộng ào ạt Chúng ta không sống khoan thai như một thời nào trước Nhịp điệu

cũ, theo tôi, không còn đủ cho chúng ta Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng,

thơ tìm tòi trăm nghìn phía nhưng lúc nào cũng là một sức sống đang lên” [38,

tr.55] Những nhận định này phần nào đã cho ta thấy sự vận động mạnh mẽ và phức tạp của thơ Việt Nam đương đại Có thể nói, sau 1975, văn học Việt Nam nói chung và thơ Việt Nam nói riêng vẫn đang trong thời kì “tìm đường”, thể nghiệm Xác định những động hình mới của ngôn ngữ thơ trong một giai đoạn văn học đầy biến động như vậy, quả thực không phải là chuyện đơn giản Nguyễn Đăng Điệp

trong bài viết Thơ Việt Nam sau 1975- diện mạo và khuynh hướng phát triển sau khi

Trang 17

nêu ra một số khuynh hướng nổi bật của thơ ca đương đại cũng đã chỉ ra một số loại hình ngôn ngữ nổi bật của thơ ca giai đoạn này, cụ thể là:

- Ngôn ngữ đậm chất đời thường

- Ngôn ngữ giàu chất tượng trưng

- Những “trò chơi” ngữ nghĩa trong thơ

Có thể thấy ba loại hình ngôn ngữ này chưa khái quát được hết diện mạo của ngôn ngữ thơ đương đại song cũng là những loại hình ngôn ngữ nổi bật của thơ Việt Nam từ 1975 đến nay Trên cơ sở ý kiến của Nguyễn Đăng Điệp, chúng tôi cũng xác định một số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại, đó là: ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường; ngôn ngữ thơ lược bớt các dấu hiệu liên kết, tăng cường tính hàm súc, đa nghĩa; sự gia tăng chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ và

sự xuất hiện những “trò chơi ngữ nghĩa” trong thơ

1.1.2.1 Ngôn ngữ thơ đậm chất đời thường

Như chúng tôi đã khẳng định, sau 1975, thơ ca Việt Nam dần chuyển mình sang một thời kì mới với những đặc điểm và quy luật vận động khác trước Điều đó thể hiện qua nhiều phương diện, trong đó có phương diện ngôn ngữ Có thể nói, sau

1975, ngôn ngữ thơ thực sự đã vận động, thay đổi Ngôn ngữ trong thơ Việt đương đại giờ đây không chỉ là những ngôn từ đậm tính hoa mĩ đã được gọt giũa, chắt lọc công phu mà còn là thứ ngôn từ thô tháp, trần trụi, đậm chất đời thường Nhiều nhà thơ sử dụng những cách nói dân gian, những cách tổ chức ngôn từ mang phong cách sinh hoạt, khẩu ngữ, làm cho thơ vừa trở nên gần gũi với người đọc, vừa hóm

hỉnh, hài hước Nguyễn Đăng Điệp đã nhận xét: Thơ ca Việt Nam trước đây có phần quá nghiêm trang và đậm chất giáo huấn Việc tạo nên những cách nói “xẩm giọng” và giọng điệu “bụi bậm” đã khiến cho thơ trở nên “tếu táo” hơn và cũng gần gũi với người đọc hơn [22, tr.385] Sở dĩ có hiện tượng này là do hai nguyên

nhân chính sau đây:

Trang 18

Thứ nhất, có thể thấy, trong thơ Việt Nam đương đại, các nhà thơ có xu hướng trở về với cái tôi cá nhân, với những lo toan của đời sống thường nhật Họ nói nhiều hơn về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận của cái tôi trước một thực tại khắc nghiệt Nhưng để tái hiện những nỗi buồn, sự lo âu ấy, các nhà thơ không nói bằng giọng điệu thâm trầm, đau đớn mà thể hiện bằng một giọng điệu đầy chua chát, mỉa mai Và để có được giọng điệu ấy, không có phương thức nào tốt hơn bằng việc sử dụng những hình thức tổ chức ngôn ngữ mang đậm phong cách khẩu ngữ, sinh hoạt Có lúc, đó là thứ ngôn ngữ đầy “tếu táo” kiểu Nguyễn Duy:

Tạnh men là tạnh la đà

Tạnh cơn một bóng ảo ra chính mình

Phàm trần bớt chút lung linh

Các em bớt xỉnh xình xinh mấy phần.

Có lúc, đó là thứ ngôn ngữ đầy “táo tợn” kiểu Bùi Chí Vinh:

Các em thất tiết nhiều hơn trước

Bộ ngực nào cũng nhuộm phong sương

Thứ hai, việc sử dụng ngôn ngữ đậm chất đời thường có nguyên nhân từ việc

“giải thiêng” quan niệm về ngôn ngữ thơ Nếu trước đây, người ta quan niệm ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ được chắt lọc từ “hàng tấn quặng ngôn từ” thì giờ đây bằng cái nhìn đầy dân chủ, các nhà thơ đương đại đã đưa vào trong thơ tất cả những ngôn từ mà người ta vẫn kiên kị, né tránh Trong các tác phẩm của mình, bằng cách đưa vào trong thơ những ngôn từ đậm chất đời thường, một số nhà thơ đương đại

đã bắt đầu thể hiện ý thức đối thoại với quan niệm thơ trước đó Thu Bồn khẳng định:

tôi lột hết ngữ ngôn bóng bảy Những xống áo triệu thần trong những tụng ca

Nguyễn Hữu Hồng Minh có bài thơ Đề cao hiện thực miêu tả cái bồn cầu Trần Tiến Dũng có Bầu trời lông gà lông vịt, hoặc táo bạo hơn, nhóm Mở miệng

Trang 19

gọi thẳng tên bộ phận sinh dục và hành vi tính giao bằng các từ ngữ thông tục mà người ta vẫn sử dụng hàng ngày Xuất phát từ ý tưởng không thể làm ra cái mới, họ tuyên bố làm thơ là một hành động phá phách: “Thơ nhiều khi chỉ là chuyện gây hấn, một chút hài hước, một cú sốc nhận thức, thậm chí là một trò đùa vui nơi bàn nhậu, chẳng kém phần nhảm nhí” [dẫn theo 12, tr.44] Việc đưa những từ ngữ thô tục vào trong thơ một cách phổ biến đã thể hiện hành động “gây hấn” với dư luận của họ Nó làm ta nhớ đến nhóm Sáng tạo ở Sài Gòn những năm 60, trường phái Dada đầu thế kỉ ở phương Tây…Dù sao, đây cũng là “một hiện tượng còn đang vận động và lời phán quyết thuộc về tương lai” [12, tr.44].

Thực ra, việc sử dụng ngôn ngữ đậm chất đời thường không phải là một hiện tượng cá biệt trong thơ mà là một hiện tượng có tính phổ quát của văn học Việt Nam giai đoạn này Ở truyện ngắn và tiểu thuyết, hình thức tổ chức ngôn ngữ này được thể hiện qua sự xuất hiện những lời chửi và lời văn giễu nhại trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà….Và trên thực tế, kiểu ngôn ngữ này đã góp phần làm nên không ít thành công cho các nhà thơ, nhà văn đương đại

1.1.2.2 Ngôn ngữ thơ tỉnh lược tối đa các dấu hiệu liên kết, gia tăng độ nhòe ngữ

So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có một đặc điểm khác hẳn đó là sự ngắn gọn, súc tích Nếu ngôn ngữ văn xuôi được nhà văn tổ chức một cách đầy đặn

để diễn đạt đúng nội dung mà họ hướng tới thì ngôn ngữ thơ lại được nhà thơ tổ chức một cách ngắn gọn để đạt được độ hàm súc, gợi mở cao Việc các nhà thơ sử dụng dày đặc các hình thái tu từ như ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, ước lệ… trong tác phẩm của mình đã “chứng tỏ một cố gắng đầy ý thức của các nhà thơ nhằm uốn vặn ngôn ngữ thông thường tạo nên hiện tượng “lệch chuẩn” có giá trị, hướng tới việc biểu đạt những rung động thơ đầy phong phú, phức tạp trong một hình thức súc tích, kiệm lời và mang tính gián tiếp” [5, tr.48] Ở bất cứ giai đoạn nào của lịch

Trang 20

sử văn học, các nhà thơ cũng luôn cố gắng để tăng cường sức chứa, sức biểu đạt, biểu cảm cho ngon từ trong thơ Việt Nam đương đại, tình hình cũng diễn ra tương

tự như vậy Tuy nhiên, nếu trước đây các nhà thơ sử dụng những hình thức ngôn từ mang tính tượng trưng, ước lệ, các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ… để tăng cường tính hàm súc, tỉnh lược chủ ngữ để tạo ra tính phiếm chỉ thì trong văn học đương đại, ngoài những hình thức này, một số nhà thơ có xu hướng tỉnh lược tối đa các dấu hiệu liên kết ngôn từ, dồn nén từ ngữ để tạo cho câu thơ độ mở về nghĩa, từ đó, gia tăng tính hàm súc cho ngôn ngữ thơ Sở dĩ có hiện tượng này là vì trong thời gian gần đây, một số tác giả có xu hướng trở về với cái tôi bản thể, cố gắng phát hiện chiều sâu bí ẩn của tâm linh con người, đặc biệt là những phần bản năng, vô thức nên họ muốn khước từ và loại bỏ áp lực của lí trí, của tư duy logic trong thơ, ngôn ngữ thơ vì thế mà không còn tuân theo logic trật tự thông thường mà biến hóa theo sự vận động của cảm xúc và dòng ý thức Hơn nữa, nhiều nhà thơ còn muốn đưa thơ trở về với bản thể tự nhiên, phản ứng lại quan niệm ngôn từ chỉ là phương tiện chuyển tải, họ xem ngôn ngữ như một đối tượng sáng tạo và khai thác tối đa tính đa nghĩa trong từ vựng, chủ trương làm thơ tạo sinh Quan hệ giữa dòng thơ, câu thơ, đoạn thơ trong bài vì thế cũng bị gián đoạn, thậm chí có lúc rời rạc, lỏng lẻo Tuy nhiên, giữa cái bê ngoài lỏng lẻo ấy, ngôn ngữ thơ vẫn có một mạch liên kết riêng, đó là mạch liên kết của cảm xúc Trên thực tế, cách tổ chức ngôn từ này

là một hướng thể nghiệm của không ít nhà thơ và đã trở thành một đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại

1.1.2.3 Sự gia tăng chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ

Song song với xu hướng tỉnh lược tối đa các dấu hiệu liên kết và dồn nén từ ngữ, tạo nên tính đa nghĩa, hàm sức cho ngôn ngữ thơ, trong thơ ca đương đại, nhiều nhà thơ còn chủ trương cách tân ngôn ngữ thơ bằng cách thể nghiệm một hình thức mới, đó là gia tăng chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ Theo đó, các nhà thơ đưa vào trong tác phẩm của mình nhiều mẩu đối thoại, các hình thức tự sự…,

Trang 21

sử dụng những hình thức tổ chức ngôn ngữ một cách đầy đặn như ngôn ngữ văn xuôi Bài thơ không phân khổ, phân đoạn mà được trình bày như một văn bản tự

sự Câu thơ, bài thơ được nới rộng Cấu trúc các thể loại thơ truyền thống cũng được nới lỏng Nếu trước đây, bài thơ được tổ chức một cách chặt chẽ, gắn chặt với vần, nhịp thì giờ đây, vần thơ gần như không được chú ý nếu không muốn nói là bị lược bỏ Dấu hiệu để nhận ra tác phẩm thơ lúc này là nhịp thơ, hình ảnh thơ, cách cấu từ bài thơ Nhiều nhà thơ muốn tung phá, thoát ra khỏi quy ước về dòng thơ, câu thơ, bài thơ và tiết tấu để đi tìm một khuôn mặt thích hợp cho phép dung chứa

sự tìm tòi phóng túng, cách tân trong tư duy và biểu đạt ngôn từ thi ca Thể thơ văn xuôi và thơ tự do vì thế trở thành thể loại được nhiều nhà thơ đương đại lựa chọn

Sở dĩ có hiện tượng này là vì sau chiến tranh, con người trở về với muôn mặt đời thường với những tình cảm, những suy nghĩ mới đa dạng và phức tạp Hình thức ngắn gọn, súc tích của câu thơ, thể thơ truyền thống giờ đây không thể dung chứa toàn bộ hiện thực rộng lớn của đời sống thế sự cũng như những tình cảm phức tạp của con người Để phản ánh và thể hiện được điều đó, các nhà thơ đã tìm đến với những hình thức biểu hiện mới Và sự gia tăng chất văn xuôi trong ngôn ngữ thơ trở thành một xu hướng tất yếu của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại

1.1.2.4 Xuất hiện những trò chơi chữ nghĩa trong thơ

Khi vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật thơ ca được chú ý nhiều hơn thì tất yếu sẽ dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau Nếu trước đây, người ta cho rằng, văn

chương mà đặc biệt là thi ca là một thứ vũ khí: Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền - Sóng Hồng, thì đến thời hiện đại, văn

chương, trong đó có thi ca không chỉ là một thứ vũ khí để đấu tranh, một thứ phương tiện để biểu đạt tâm trạng cá nhân mà với nhiều người, nó còn là một trò chơi Với cách quan niệm như vậy, nhà thơ có thể thoải mái thể hiện ý tưởng của mình một cách sáng tạo nhất Nó “đối trọng” với quan niệm coi văn chương, trong

đó có thơ ca là “nghiêm túc”, là phương tiện “tải đạo” Nhiều nhà thơ đương đại

Trang 22

xếp đặt ngôn từ như một trò chơi - trò chơi ngữ âm và trò chơi chữ nghĩa Cách làm

thơ độc âm của Trần Dần trong tập Mùa sạch, cách sắp đặt chữ nghĩa của Lê Đạt trong Bóng chữ, cách khai thác vẻ đẹp diện mạo, hình dáng con chữ của Dương Tường trong tập Đàn…là những ví dụ sinh động Với những cách sắp đặt ngôn từ

như một trò chơi, những nhà thơ này đã thực sự “chơi” với chữ, với âm và qua đó chứng minh khả năng kì diệu của con chữ, của âm thanh trong việc tạo nên những liên tưởng nhiều chiều cho người đọc Với họ, thơ cần được cảm nhận hơn là được hiểu Tất nhiên, trò chơi chữ nghĩa này thể hiện một quan niệm nghệ thuật mới của các nhà thơ về ngôn từ thơ ca, rộng hơn là quan niệm nghệ thuật về thế giới, về con người Nó gắn với quan niệm “giải thiêng” chức năng thi ca trong văn học Việt Nam đương đại Thực ra, hình thức tổ chức ngôn ngữ này không còn quá mới lạ với thơ ca nhân loại Người ta có thể nhìn thấy thơ thị giác của Apooline hay cách xếp đặt âm thanh, hình khối khác lạ trong thơ Châu Âu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ

XX Song, với độc giả Việt Nam, hình thức tổ chức ngôn ngữ này vẫn còn mới lạ

và vì thế ở một khía cạnh nào đó, nó đã góp phần tạo nên diện mạo mới mẻ cho ngôn ngữ thơ giai đoạn này

Trên đây là sự trình bày sơ lược một số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ đương đại Ở một thời kì mà thơ vẫn đang trên hành trình tìm đường và thể nghiệm, những đặc điểm này phần nào đã cho ta thấy sự phát triển đa dạng, phong phú và phức tạp của ngôn ngữ thơ đương đại Việt Nam Về cơ bản, những đặc điểm này có thể cấp cho ta một cái nhìn tổng quan hơn về thơ Việt Nam sau 1975 nói chung và ngôn ngữ thơ Việt Nam sau 1975 nói riêng Đặt những đặc điểm ngôn ngữ thơ

Thanh Thảo trong Khối vuông rubic qua tương quan với những đặc điểm nêu trên,

chúng ta sẽ thấy được rõ hơn những đóng góp quan trọng của Thanh Thảo trong hành trình cách tân thơ Việt

1.2 Thanh Thảo với tập Khối vuông Rubic

1.2.1 Thanh Thảo với những nỗ lực cách tân thơ Việt

Trang 23

Cách tân và sáng tạo, đó là con đường duy nhất cho các nghệ sĩ chân chính, cho dù đó là con đường đầy chông gai, hiểm nguy và đơn độc Hành trình sáng tạo của người nghệ sĩ là hành trình tìm đến cái mới, đến sự cách tân Là một nhà thơ luôn có ý thức trách nhiệm với nghề nghiệp, “như một nghệ sĩ chân chính, ngay từ những bước đàu tiên trên thi đàn, Thanh Thảo đã là ngòi bút ham cách tân” [22, tr.415] Trong các tập thơ và tiểu luận của mình, Thanh Thảo thường nhắc tới hình

ảnh Kinh thành Cordoba xa thẳm và đơn độc trong thơ G Lorca như là biểu tượng

cho bản chất bí mật của thơ ca mà con người không thể khám phá hết được Nhưng cho dù khám phá được hay không thì vị trí mà Thanh Thảo lựa chọn vẫn là vị trí tiên phong với tinh thần táo bạo của một bản lĩnh dám dấn thân Nhà thơ quan niệm, “số phận của một nhà thơ cách tân là luôn luôn ở vạch xuất phát và luôn phải

biết quên” Khi Thanh Thảo mới bắt đầu con đường thơ thì Dấu chân qua trảng cỏ, Những người đi tới biển, Những ngọn sóng mặt trời đã là một tiếng thơ mới đầy ấn

tượng Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, sau những bước đi ban đầu của mình, nhà thơ vẫn không ngừng theo đuổi những dự định sáng tạo mới Ông sẵn sàng quên đi

tất cả để trở về với vạch xuất phát (chữ dùng của Thanh Thảo), để cặp mắt được tái sinh (Khối vuông Rubic) với những nẻo đường mới, những khó khăn mới, chấp

nhận mọi rủi ro thua thiệt Và Thanh Thảo đã thực sự thành công với những thể nghiệm, những sáng tạo mới của mình Đúng như nhà phê bình Chu Văn Sơn đã nhận xét: “Đến nay, dấu ấn mạnh mẽ anh gieo vào lòng người đọc cũng là những bản lĩnh dám dấn thân, dám tiên phong Đó không phải là những dấu chân in trên trảng cỏ thời gian hiền lành, mà là những dấu chân mở lối giữa chông gai nhiều khi rớm máu Và những giọt máu rỏ xuống con đường tìm kiếm do giẫm vào gai sắc,

do bước qua cả mõm chó vó ngựa, không phải là không kết nên những đóa hoa sáng tạo” [22, tr.415]

Nói về những cách tân của Thanh Thảo đối với thơ Việt, trước hết phải nói đến những cách tân về nội dung thơ Giữa lúc thơ Việt Nam đang “mạnh về thứ

Trang 24

tâm tình ở bên trên” (chữ của Chu Văn Sơn), đang vận động theo quán tính của nền văn học sử thi, lãng mạn đầy những lời hô hào, ca tụng ít nhiều dễ dãi thì Thanh Thảo đã mang đến cho thơ Việt Nam một luồng sinh khí mới bằng cách đưa vào thơ một tiếng nói mới đầy băn khoăn, day dứt, đầy lo âu, bận tâm về lẽ nhân sinh Trong thế hệ mình, Thanh Thảo thuộc số ít người đã có những băn khoăn như thế ngay từ những sáng tác đầu tay:

Hạnh phúc nào cho tôi?

Hạnh phúc nào cho anh?

Hạnh phúc nào cho chúng ta?

Hạnh phúc nào cho đất nước?

Những câu hỏi chưa bao giờ nguôi được?

(Thử nói về hạnh phúc)

Nỗi niềm trăn trở của Thanh Thảo thực ra cũng là nỗi niềm trăn trở của cả một thế hệ, nỗi niềm của bao con người đã từng vượt qua “những trải nghiệm rớm máu” (chữ của Chu Văn Sơn):

Chúng tôi không tiếc đời mình

Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc?

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi đất nước?

Nhưng đó mới chỉ là một phần nhỏ trong những nỗ lực cách tân của Thanh

Thảo Nhà phê bình Chu Văn Sơn đã nhận định: Thanh Thảo được xem là tay cách tân chủ yếu ở chuyện khác: chuyện hình thức [22, tr.416] Trong hình thức thể hiện,

Thanh Thảo tập trung nỗ lực cách tân của mình trước hết vào việc phá vỡ cấu trúc

của tác phẩm Nhà thơ quan niệm: Rubic- đó là cấu trúc của thơ Thơ Thanh Thảo

mới xem tưởng như chỉ là những mảnh đoạn được lắp ghép một cách rời rạc, không

có sự liên kết, nhưng đọc kĩ, chúng ta sẽ thấy, những mảnh đoạn tưởng như rời rạc

ấy lại được liên kết bởi một cấu trúc bề sâu vô cùng chặt chẽ, giống như khối vuông rubic dù muôn màu, muôn mặt nhưng đều châu tuần xung quanh một trục

Trang 25

kết hợp nhất định Ngoài ra, Thanh Thảo còn không ngừng nỗ lực đổi mới ngôn ngữ thơ Ông là một trong những nhà thơ đầu tiên đưa vào thơ Việt thứ ngôn ngữ mang phong cách khẩu ngữ, sinh hoạt, mang hơi thở nóng hổi của cuộc sống Bên cạnh đó, nhà thơ giản lược tối đa các phương tiện liên kết trong ngôn ngữ thơ, sử dụng kiểu ngôn ngữ gián cách, vận động theo mạch cảm xúc Ngôn ngữ thơ Thanh Thảo vì thế thường chứa nhiều khoảng trống, giàu khả năng gợi mở, đa nghĩa Đặc biệt, trong một số sáng tác gần đây của mình, Thanh Thảo thường tổ chức câu thơ theo từng đoạn, từng chuỗi ngôn từ, các dấu câu bị lược bỏ hoàn toàn Những cách tân này của Thanh Thảo đã góp phần làm nên diện mạo mới cho thơ Việt Nam đương đại và có ảnh hưởng không nhỏ đến các nhà thơ thế hệ sau Đúng như Chu Văn Sơn nhận xét: “Cách Thanh Thảo làm cho thơ cũng không khác cách Nguyễn Tuân làm cho tùy bút trước đây, Nguyễn Đình Thi làm cho thơ và kịch, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp làm cho truyện ngắn, Nguyễn Khaỉ, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh làm cho tiểu thuyết, hay lớp người kế tiếp đang hăng hái làm cho bao thể khác nữa Những nỗ lực như thế bao giờ cũng thuộc về tương lai” [22, tr.422].

1.2.2 Khối vuông Rubic - kết quả đổi mới nghệ thuật thơ của Thanh Thảo

Con đường nghệ thuật của Thanh Thảo có thể chia làm hai chặng chính: trước

và sau 1985 Ngay sau 1975, Thanh Thảo đã thực sự tạo nên những tiếng vang trên

thi đàn Việt Nam vốn đang sôi nổi lúc bấy giờ với hàng loạt tập trường ca: Dấu chân qua trảng cỏ, Những người đi tới biển, Những ngọn sóng mặt trời Trong

những tập thơ này, Thanh Thảo đã thể hiện nét táo bạo trong cách cảm,, cách nghĩ của mình về những vấn đề lớn của dân tộc Tuy nhiên, trên đại thể, thơ Thanh Thảo thời kì này vẫn còn giữ trong nó âm hưởng của thời kì văn học mang khuynh

hướng sử thi Phải đến khi tập thơ Khối vuông rubic ra đời, những nỗ lực cách tân

thơ Việt của Thanh Thảo mới được bộc lộ Được nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn

hành năm 1985, sự ra đời của tập thơ Khối vuông rubic là bước chuyển quan trọng

Trang 26

trong sự nghiệp sáng tác của Thanh thảo Với Khối vuông rubic, Thanh Thảo đã tìm được lối ra cho những cơn xuất hứng (chữ dùng của Thanh Thảo), và đây là tập thơ

khiến ông vui Trên nền tảng của sự thống nhất cơ bản trong phong cách sáng tác,

so với giai đoạn trước, trong Khối vuông rubic, Thanh Thảo đã có những tìm tòi đổi

mới mang tính sáng tạo, đặc biệt là ở phương diện ngôn ngữ Tất cả những nỗ lực cách tân thơ của Thanh Thảo, từ việc phá vỡ cấu trúc tác phẩm truyền thống đến việc sử dụng ngôn từ đa phong cách, giản lược tối đa phương tiện liên kết của câu

thơ, bài thơ… đều tập trung hội tụ trong tập thơ này Từ Khối vuông rubic, Thanh

Thảo đã mở ra chặng đường sáng tạo mới cho sự nghiệp của mình, đồng thời, góp phần mở ra những ngả đường mới cho thơ Việt đương đại

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, chúng tôi đã đi vào làm rõ một số luận điểm về ngôn ngữ thơ và đặc điểm của ngôn ngữ thơ Việt Nam đương đại Đồng thời, chúng tôi cũng chỉ ra những nỗ lực của Thanh Thảo trên con đường cách tân thơ Việt và vai trò

của tập thơ Khối vuông rubic trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Qua đó, có thể

rút ra một số kết luận cụ thể như sau:

Thứ nhất, trong tương quan với ngôn ngữ thông thường và ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có hình thức tổ chức tương đối đặc biệt, có giá trị thẩm mĩ tự tại

Thứ hai, ngôn ngữ thơ vận động theo sự phất triển của cái tôi trữ tình và thay đổi trong từng giai đoạn văn học, và vì vậy, sau 1975, khi hoàn cảnh lịch sử xã hội của Việt Nam có nhiều thay đổi, ngôn ngữ thơ cũng chuyển mình và vận động theo những quy luật và đặc điểm khác trước

Thứ ba, trong nền thơ ca đương đại, Thanh Thảo là nhà thơ có đóng gopsto lớn cho sự nghiệp cách tân thơ Việt Những nỗ lực của ông đã được ghi nhận và có

ảnh hưởng mạnh mẽ đến thơ việt giai đoạn này Ra đời năm 1985, tập thơ Khối vuông rubic là cột mốc đánh dấu bước chuyển trong sự nghiệp sáng tác của Thanh

Trang 27

Thảo và cũng là tập thơ kết tinh tất cả những nỗ lực cách tân của nhà thơ đối với thơ Việt Nam đương đại.

Trang 28

Chương 2

TỪ NGỮ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ NỔI BẬT

TRONG KHỐI VUÔNG RUBIC

2.1 Từ ngữ trong Khối vuông rubic

2.1.1 Từ ngữ trong thơ và các hướng tiếp cận

Theo quan điểm của lí luận văn học hiện đại, cấu trúc của văn bản văn học được tạo nên từ ba yếu tố cơ bản, đó là: văn bản ngôn từ, hình tượng văn học, ý nghĩa (hàm ý) Trong đó, “văn bản ngôn từ là yếu tố nền tảng của cấu trúc văn bản nghệ thuật, đảm bảo sự tồn tại ổn định và chất văn của nó Yếu tố này bao gồm mặt ngữ

âm, ngữ nghĩa và đặc sắc thẩm mĩ của ngôn từ nghệ thuật (như vần, nhịp, điệu, sự

trùng điệp, nói lái…)” [35, tr.40] Như vậy, nằm trong tính toàn vẹn của chỉnh thể

tác phẩm văn học, ngôn từ là yếu tố nền tảng tạo nên thế giới nghệ thuật của tác phẩm

Ngôn từ trong tác phẩm văn học được tạo nên từ nhiều phương diện, nhiều cấp độ, như từ, câu, đoạn văn (đoạn thơ), văn bản Trong đó, từ ngữ là cấp độ đầu tiên phải xem xét khi nghiên cứu một văn bản nghệ thuật, bởi đúng như Đỗ Hữu Châu đã nhận định: “Trong tiếng Việt những bản sắc độc đáo cũng là bản sắc của từ" [2, tr.11]

Do những quy định của thể loại, trong tương quan với từ ngữ văn xuôi, từ ngữ trong thơ có những đặc trưng riêng Từ ngữ trong thơ, xét từ góc độ ngôn ngữ học thuần túy, không phải là thứ sản phẩm gì xa lạ Đó vẫn là những từ ngữ được rút ra chủ yếu từ vốn từ toàn dân, có ý nghĩa xác định, được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau với nhiều người sử dụng khác nhau, Tuy nhiên, bằng năng lực sáng tạo của mình, nhà thơ đã “làm mới” những từ ngữ quen thuộc ấy bằng những hình thức tổ chức ngôn từ khác nhau, khiến cho những từ ngữ ấy không chỉ là những kí hiệu ngôn ngữ mang trong nó những nội dung ngữ nghĩa thuần túy mà

Trang 29

còn có giá trị thẩm mĩ riêng, chứa đựng quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Nghĩa của từ ngữ trong thơ không chỉ nằm ở nghĩa độc lập, nghĩa tự vị của mỗi từ mà còn nằm ở “cấu trúc ngôn từ của văn bản - một kiểu cấu trúc tạo nên những “mã”, cất giấu những “mật ngữ”, thách thức cái nhìn của “người trần mắt thịt” [23, tr.60] Do

đó, nhiều người cho rằng, nghĩa của từ trong thơ là thứ nghĩa tạo sinh bởi quan hệ chứ không còn là nghĩa tròn trặn trong từ điển

Cũng do quy định của thể loại, từ ngữ trong thơ được lựa chọn dưới nhiều

áp lực: cảm hứng đề tài, chủ đề, cá tính sáng tạo của cá nhân nhà thơ… Về mặt lí thuyết, mọi từ ngữ trong vốn từ toàn dân đều có thể đi vào thơ nhưng trên thực tế, không phải mọi loại từ ngữ đều được các nhà thơ lựa chọn và sử dụng Từ ngữ trong thơ vì thế thường mang nặng tính đặc tuyển, đã được gọt giũa, chắt lọc một cách công phu Ngược lại, để phản ánh hiện thực bề bộn của đời sống và sự phức tạp của con người, ngôn ngữ tự sự chấp nhận mọi lớp từ trong vốn từ toàn dân, miễn sao chúng thể hiện được dụng ý nghệ thuật của người viết

Do những đặc trưng nêu trên, từ ngữ trong thơ trở thành vấn đề được nhiều

nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, ở mỗi ngành khoa học khác nhau, từ ngữ trong thơ lại thường được các nhà nghiên cứu tiếp cận ở những góc độ khác nhau Nhà từ vựng học thống kê vốn từ của nhà thơ, khảo sát những lớp từ nổi bật (từ Hán Việt, từ địa phương, tiếng “lóng”,…), đặt những từ này trong tương quan với vốn từ toàn dân để rút ra hiệu quả nghệ thuật mà lớp từ đó mang lại cho tác phẩm cũng như thấy được dấu ấn riêng của nhà thơ trong cách sử dụng lớp từ đó Nhà ngữ pháp học quan tâm đến đặc điểm cấu tạo của từ ngữ mà nhà thơ thường sử dụng, đặc biệt là từ láy và cách tạo từ trong tác phẩm Người làm phong cách xem xét từ ngữ trong thơ dưới góc độ phong cách chức năng và sự lựa chọn từ ngữ của nhà thơ Nhà thi pháp học thống kê tần số sử dụng của một số lớp từ nổi bật, qua

đó, rút ra quan niệm nghệ thuật của nhà thơ từ cách sử dụng ấy… Như vậy, từ ngữ trong thơ được tiếp cận dưới rất nhiều góc độ Trong khóa luận này, chúng tôi chỉ

Trang 30

đưa ra hai hướng tiếp cận mà chúng tôi cho là có hiệu quả nghệ thuật hơn cả, đó là hướng tiếp cận từ góc độ phong cách học và hướng tiếp cận từ góc độ thi pháp học “Trong những nét chung nhất, phong cách học được hiểu là khoa học nghiên cứu sự vận dụng ngôn ngữ, nói khác đi, đó là khoa học về các quy luật nói

và viết có hiệu lực cao” [18, tr.7] Theo đó, một trong những đối tượng nghiên cứu

cơ bản của phong cách học đó là nguyên tắc lựa chọn, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, trong đó có từ ngữ

Từ ngữ trong thơ, ngoài giá trị thông báo còn mang giá trị thẩm mĩ, giáu sức biểu cảm Theo Jakobson, trong thơ, “những con chữ và cú pháp, và ý nghĩa, và hình thể ngoại tại và nội tại không phải chỉ là những kí hiệu vô vị của thực tế, trái

lại, những con chữ đó có trọng lượng riêng, có giá trị riêng” [dẫn theo 39, tr.13]

Nhưng để mỗi từ trong thơ đều có giá trị biểu cảm thì hơn ai hết, người làm thơ không thể bỏ qua một thao tác quan trọng, đó là lựa chọn và sử dụng từ ngữ Cảm xúc mà từ ngữ trong thơ đưa lại, xét cho cùng, chính là do sự lựa chọn cách biểu đạt có giá trị tạo nên Và do đó, phong cách học nghiên cứu từ ngữ trong thơ bằng cách khảo sát và phân tích các kiểu lựa chọn ấy Như vậy, khi tìm hiểu từ ngữ trong thơ, người làm phong cách chú ý đến mặt biểu cảm của từ ngữ được lựa chọn, đối lập nó với các kiểu lựa chọn khác có giá trị ngữ nghĩa tương đương Đồng thời khảo sát những từ ngữ thuộc cùng một kiểu lựa chọn của tác giả Nếu những từ ngữ thuộc kiểu lựa chọn đó có mặt trong tác phẩm với một tần số cao thì đó là dấu hiệu

để nhận ra phong cách của nhà thơ

Bên cạnh việc nghiên cứu từ ngữ trong thơ từ góc độ phong cách học, nhiều nhà nghiên cứu còn hướng đến tiếp cận từ ngữ trong thơ từ góc độ thi pháp học

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng

chủ biên), thi pháp học là “khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống phương thức, phương tiện biểu hiện đới sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản

Trang 31

nghệ thuật tham gia vào sự hình thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều

sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật” [11, tr.206]

Với mục đích chia tách và hệ thống hóa tất cả các yếu tố của văn bản nghệ thuật trong tính chỉnh thể của nó, thi pháp học quan tâm tới tất cả các phương tiện biểu hiện của tác phẩm như thể loại, phong cách, kết cấu, không gian - thời gian nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ Theo đó, người nghiên cứu tác phẩm văn học từ phương diện thi pháp sẽ miêu tả đặc điểm hình thức của các yếu tố nói trên một cách có hệ thống, qua đó, phát hiện những yếu tố lặp đi lặp lại trong tác phẩm một cách có quy luật để xác định tính chỉnh thể của hệ thống thi pháp, đồng thời nhận ra nét độc đáo của một tác giả, một thể loại, thậm chí là một trào lưu, một trường phái văn học

Khi tiếp cận từ ngữ trong thơ từ góc nhìn thi pháp học, người nghiên cứu vận dụng các lí thuyết của thi pháp học để soi chiếu vào tác phẩm, nhận ra những từ ngữ xuất hiện nhiều trong tác phẩm một cách có quy luật, thể hiện sự lựa chọn của tác giả để tìm ra điểm độc đáo của tác phẩm Đồng thời, qua đó, chỉ ra quan niệm nghệ thuật của tác giả thể hiện qua hình thức lặp lại ấy Bởi theo quan điểm của thi pháp học, bất cứ hình thức nào trong tác phẩm được nhà thơ, nhà văn tập trung xây dựng có hệ thống cũng là hình thức mang tính quan niệm

Như chúng tôi đã khẳng định, có rất nhiều hướng tiếp cận từ ngữ trong thơ Trên đây chỉ là một số hướng nghiên cứu cơ bản mà trong quá trình tìm hiểu từ ngữ

trong Khối vuông rubic của Thanh Thảo chúng tôi có sử dụng Có thể hướng nghiên

cứu ấy không bao quát được hết toàn bộ những đặc điểm nổi bật của từ ngữ nhưng

hy vọng lại cho thấy một số dấu hiệu đặc trưng về phong cách sử dụng từ ngữ trong thơ Thanh Thảo Như thế, có thể sẽ chưa khái quát được hết đặc trưng của từ ngữ trong tập thơ này nhưng chúng tôi mong muốn phân tích được những nét độc đáo trong cách sử dụng từ ngữ của thanh Thảo

2.1.2 Đặc điểm từ ngữ trong Khối vuông rubic

Trang 32

Là một nhà thơ có tài năng và trách nhiệm với nghề nghiệp, Thanh Thảo luôn luôn theo đuổi những dự định sáng tạo mới Sáng tạo và cách tân đối với ông không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm đam mê Cũng chính vì vậy, mỗi tác phẩm của ông đều có những nét cách tân vô cùng táo bạo, quyết liệt, đặc biệt là những cách

tân trên phương diện hình thức ngôn từ Trong Khối vuông rubic cũng như những

tập thơ khác sau này, Thanh Thảo luôn có những cách xử lí nghệ thuật riêng để tạo

ra dấu ấn phong cách của mình, tạo ra một hình thức ngôn từ mới cho thơ Việt Điều này được thể hiện trên tất cả mọi cấp độ của ngôn ngữ trong tác phẩm của Thanh Thảo mà trước hết là cấp độ từ ngữ

Từ là đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ, có “hình thức ngữ âm và ý nghĩa,

có tính sẵn có, cố định, bắt buộc và là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ, lớn nhất trong hệ thống của một ngôn ngữ và nhỏ nhất để tạo câu” [2, tr.8] So với từ, ngữ là đơn vị được cấu tạo nên từ từ nhưng hai đơn vị này đều có chức năng định danh và dùng để cấu tạo câu, nên trong khóa luận này, chúng tôi xem xét cả hai đơn vị

Lấy ngôn ngữ làm chất liệu duy nhất để sáng tạo, nhà văn, nhà thơ trong quá trình sáng tác luôn chú ý lựa chọn và kết hợp từ ngữ Trong kho từ ngữ vô cùng phong phú của mỗi dân tộc, nhà văn, nhà thơ luôn hướng đến sự lựa chọn và sử dụng từ ngữ một cách hiệu quả nhất, làm cho nó không còn là những “kí hiệu tầm thường của sự vật được gọi tên”, cũng không phải là những “kí hiệu vô vị của thực tế” mà còn “có trọng lượng riêng, có giá trị riêng” [Jakobson, dẫn theo 39, tr.13] Đúng như Jakobson nhận định: “chúng ta đều biết rằng từ ngữ là những kí hiệu, nhưng giữa chúng ta, thi sĩ là kẻ cuối cùng còn sót lại biết rằng từ ngữ, xưa kia cũng là những giá trị” [dẫn theo 39, tr.13]

Đối với mỗi nhà thơ, việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ không chỉ là thao tác quan trọng để tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật mà còn là dấu ấn để tác giả thể hiện phong cách nghệ thuật của mình Tùy vào chủ đề, đề tài, cảm hứng

Trang 33

sáng tạo và phong cách nghệ thuật, mỗi nhà thơ có thể lựa chọn cho mình một mảng từ ngữ khác nhau trong vốn từ toàn dân Và khi lựa chọn, họ luôn có ý thức

“làm mới” từ ngữ, để lại “dấu vân tay trên từng con chữ” Thanh Thảo cũng không nằm ngoài quy luật đó Trước ông, các nhà thơ mới đã lựa chọn và sử dụng “một vốn từ mới và loại bỏ hầu hết những từ sáo rỗng, ước lệ của thi ca cũ”, hoặc có thể dùng lại một số từ cũ nào đó nhưng đã “đem vào nội dung và cách diễn tả mới” [29, tr.84] Cũng để phục vụ cho sự diễn tả những cảnh sinh hoạt và những trạng thái tình cảm phong phú và phức tạp, “trong vốn từ của nhà thơ mới đã có thêm nhiều từ mới, đặc biệt là các loại giới từ, liên từ và thán từ, v.v Việc sử dụng những loại từ này làm cho cảm xúc bộc lộ tự nhiên, câu thơ thêm duyên dáng, ý nhị” [29, tr.84] Như vậy, từ ngữ đến phong trào Thơ mới đã thoát hẳn tính ước lệ của thơ ca cổ điển Nó phát triển phong phú hơn và vì thế cũng trở nên gần gũi hơn với đời sống thường nhật Các nhà thơ của phong trào Thơ mới đã khai thác triệt để nét tinh tế của từ ngữ để thể hiện tất cả các cung bậc cảm xúc của mình Đến thơ ca cách mạng, mặc dù từ ngữ trong thơ có xu hướng tìm đến một hình thức mới giản

dị, chân thực mang tính đại chúng nhưng cũng vì thế mà từ ngữ trong thơ còn mang tính chất ồn ào và nhiều khi sáo rỗng Là một nhà thơ trưởng thành trong cách mạng, đối với Thanh Thảo, làm thế nào để từ ngữ trong thơ vượt qua sự sáo mòn của nhiều từ ngữ trong thơ ca cách mạng cũng như vượt qua những giới hạn kết tinh mà các nhà thơ mới đã tạo ra, đó là một thách thức lớn Tuy vậy, bằng tài năng

và lòng nhiệt huyết của mình, Thanh Thảo đã thực sự để lại dấu ấn phong cách

riêng trên phương diện từ ngữ trong nhiều tập thơ, trong đó có Khối vuông rubic

Trong tập thơ này, nhà thơ đã khai thác triệt để vốn từ toàn dân, đưa vào trong thơ những lớp từ ngữ vô cùng đa dạng (xét cả về phương diện ngữ nghĩa, nguồn gốc, phong cách) Trong đó, xét về phương diện ngữ nghĩa, có thể kể đến hai trường từ nổi bật là trường từ chỉ những sự vật nhỏ bé, mộc mạc, giản dị và trường từ chỉ những hiện tượng thiên nhiên kì vĩ, lớn lao Xét về phương diện phong cách chức

Trang 34

năng và nguồn gốc của từ, có thể kể đến lớp từ mang phong cách khẩu ngữ sinh hoạt và lớp từ mới Bên cạnh việc sử dụng đa dạng các lớp từ ngữ, Thanh Thảo còn

tạo cho từ ngữ trong Khối vuông rubic giá trị thẩm mĩ riêng bằng việc sử dụng các

định ngữ nghệ thuật Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi không có điều kiện để

khái quát toàn bộ đặc điểm từ ngữ trong Khối vuông rubic mà chỉ đi vào tìm hiểu

một số đặc điểm nổi bật nêu trên

2.1.2.1 Sự đa dạng của các lớp từ ngữ và các trường từ vựng

Trước hết, để có cái nhìn chung nhất về sự đa dạng của các lớp từ ngữ trong Khối vuông rubic, chúng ta cần xem xét kết quả thống kê số lượng các từ ngữ trong một số trường từ vựng nổi bật và các lớp từ tiêu biểu của Khối vuông rubic Từ đó, qua so sánh với các lớp từ và các trường từ tương ứng trong tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ - tập thơ đầu tiên của Thanh Thảo, chúng ta nhìn nhận rõ hơn về sự thay đổi của từ ngữ trong thơ Thanh Thảo và sự đa dạng của từ ngữ trong Khối vuông rubic.

Bảng 2.1: Thống kê số lượng từ ngữ của một số trường từ và lớp từ

tiêu biểu trong Dấu chân qua trảng cỏ và Khối vuông rubic

Lớp từ

Tập thơ

Trường từ chỉ những

sự vật nhỏ

bé, giản dị, gần gũi

Trường từ chỉ những hiện tượng thiên nhiên

kì vĩ

Từ ngữ sinh hoạt

Từ mới

Số lượng

Lượt dùng

Số lượng

Lượt dùng

Số lượng

Lượt dùng

Số lượng

Lượt dùng

Dấu chân qua

Trang 35

Nhìn từ góc độ phong cách, từ ngữ có mặt trong các văn bản bao giờ cũng là kết quả của một sự chọn lựa “Trước cùng một đề tài, trường từ vựng của nhà văn hoàn toàn không giống nhau, bởi tập hợp mỗi từ là sự phản ánh một tư tưởng thẩm

mĩ, một lối tiếp cận đời sống và vốn ngôn ngữ riêng của một cá nhân” [23, tr.64]

Có thể thấy rõ điều này qua khảo sát một số trường từ tiêu biểu của tập thơ Khối vuông rubic

a) Trường từ vựng chỉ những sự vật nhỏ bé, giản dị, gần gũi với cuộc sống Qua bảng thống kê ở trên, có thể thấy, trong Khối vuông rubic, những từ ngữ

thuộc trường từ chỉ những sự vật nhỏ bé, giản dị, gần gũi có số lượng tương đối

nhiều (263 từ với 302 lượt sử dụng) Chẳng hạn như các từ: chiếc lá, cành củi, chồi non, cọng bàng, hoa xoan, hoa móng bò, bông điên điển, gió heo may, cành bàng khô, lũy tre ngà, ngọn đèn, mẹt hàng, tấm áo, ngọn cỏ, mảnh chăn, bữa cơm rau dưa, ao bèo, lối mòn, tấm áo, mái lá, dảnh mạ, hòn sỏi, trảng dầu, mầm cây, hạt cát… So với tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ thì đây là một tỉ lệ khá cao, bởi trong

tập thơ này, số lượng từ ngữ thi ca chỉ những sự vật, hiện tượng nhỏ bé, quen thuộc, gần gũi với đời sống thường ngày chỉ là 118 với 147 lượt sử dụng Như vậy, qua so sánh, có thể thấy, đối tượng thẩm mĩ mà Thanh Thảo hướng đến trong cả hai tập thơ đều là những vẻ đẹp tiềm ẩn trong những sự vật giản dị nhất, mộc mạc nhất

và đời thường nhất Không phải Thanh Thảo không say mê những vẻ đẹp mảnh mai, tao nhã, cao xa, trang trọng nhưng cái đẹp mà ông lựa chọn để gắn bó luôn là

cái đẹp giản dị, khiêm nhường Trong trường ca Những ngọn sóng mặt trời, ông đã

viết:

Tôi yêu quý hoa sen

nhưng xin suốt đời ở cùng bông súng

lẳng lặng nở hoa giữa đồng sâu ruộng trũng

giữa những anh em bùn đất của tôi

Trang 36

Trong Bài ca ống cóng - một tác phẩm được nhiều người xem như là tuyên

ngôn nghệ thuật đầu tiên của Thanh Thảo -, nhà thơ viết:

Bài hát của hôm nay

Thô sơ và hực sáng

Mang lẽ đời đơn giản

Nói được tới ngày mai

Chính vì hướng tới những vẻ đẹp “thô sơ và hực sáng” giữa nơi “đồng sâu ruộng trũng” và “giữa những anh em bùn đất của tôi” nên từ ngữ thi ca của Thanh

Thảo trong Khối vuông Rubic cũng như Dấu chân qua trảng cỏ luôn mộc mạc, giản

dị, gần gũi Ngay cả trong tập thơ 123, tập thơ được Thanh Thảo viết gần đây,

những từ chỉ sự vật, hiện tượng nhỏ bé, gần gũi vẫn chiếm một số lượng khá lớn (38 từ với 53 lượt sử dụng) Như vậy, có thể nói, những từ ngữ trong thơ Thanh

Thảo nói chung, tập thơ Khối vuông rubic nói riêng luôn hướng tới vẻ đẹp mộc

mạc, giản dị, gần gũi, đó như là một nét phong cách trong lựa chọn từ ngữ của ông Tất nhiên, Thanh Thảo không phải là người đầu tiên tìm đến vẻ đẹp của những sự vật nhỏ bé, dân dã và biểu đạt bằng thứ ngôn từ mộc mạc ấy Trước ông, ngay trong phong trào Thơ mới, chúng ta cũng có thể tìm thấy những vần thơ diễn tả những vẻ đẹp rất chân quê trong thơ Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng

Bá Lân…Tuy nhiên, việc xuất hiện với số lượng lớn những từ ngữ mang vẻ đẹp

chân chất, mộc mạc trong Khối vuông Rubic cũng như nhiều tập thơ khác của

Thanh Thảo là một hiện tượng không thể không chú ý Bởi, như nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, “tần số xuất hiện của một từ hay một lớp từ nào đó trong tác phẩm của một nhà văn là những dấu hiệu mà người nghiên cứu phong cách không thể bỏ qua, và nếu có chút gì riêng về phương diện từ ngữ của người cầm bút thì trước hết

là ở chỗ đó” [23, tr.63] Việc sử dụng hàng loạt những từ ngữ chỉ những sự vật,

hiện tượng nhỏ bé, gần gũi trong Khối vuông rubic của Thanh Thảo vừa cho ta thấy

được quan niệm thẩm mĩ của ông lại vừa là dấu hiệu để độc giả nhận ra phong cách

Trang 37

nghệ thuật của Thanh Thảo Tuy nhiên, nếu chỉ tính số lượng của những từ ngữ này

để khẳng định đó là dấu hiệu phong cách nghệ thuật của Thanh Thảo trên phương diện từ ngữ thì có lẽ vẫn còn có phần khiên cưỡng Bởi phong cách của nhà thơ không chỉ được thể hiện ở việc nhà thơ sử dụng nhiều hay ít từ ngữ trong một lớp

từ cụ thể mà quan trọng hơn là ở cách nhà thơ sử dụng những từ ngữ ấy như thế nào Do đó, ngoài việc xem xét số lượng các từ ngữ chỉ sự vật nhỏ bé, giản dị trong

Khối vuông rubic trong tương quan với hai tập thơ trước và sau nó, chúng ta cần

phải chú trọng xem xét cách tổ chức và kết hợp từ ngữ trong tập thơ này Về vấn đề

này, chúng tôi sẽ phân tích rõ hơn trong phần định ngữ nghệ thuật trong Khối vuông rubic

b) Trường từ chỉ các hiện tượng thiên nhiên kì vĩ, lớn lao

Giản dị, mộc mạc, khiêm nhường, đó là một đối tượng thẩm mĩ mà Thanh Thảo khao khát kiếm tìm Song như đã nói, nếu chỉ dừng lại ở đó thì vẫn còn chưa

đủ Cái đẹp mà Thanh Thảo hướng đến còn là cái đẹp “quyết liệt”, “cường tráng”,

“ngự trị” (chữ dùng của Thanh Thảo) Có lẽ vì thế mà bên cạnh việc sử dụng

trường từ chỉ những sự vật, hiện tượng nhỏ bé, gần gũi và quen thuộc, trong Khối vuông rubic, Thanh Thảo còn sử dụng khá nhiều từ ngữ thuộc trường từ chỉ những hiện tượng thiên nhiên có tính chất lớn lao, kì vĩ Trong Khối vuông rubic chúng ta

có thể bắt gặp thường xuyên những từ như vầng dương, núi lửa, bầu trời, tuyết, gió ngàn, vầng trăng, Trường Sơn, ghềnh thác, bến bờ, núi non, vực thẳm, rừng bạch dương, khoảng trời, giông bão, đại dương, ánh chớp, màn mưa, ngọn sóng,… Theo thống kê của chúng tôi, trong Khối vuôngrRubic, số lượng những từ ngữ thi ca loại

này là 63 từ với 78 lượt sử dụng Điều đáng chú ý là những từ ngữ chỉ những hiện tượng thiên nhiên này thường được Thanh Thảo kết hợp với những động từ chỉ

trạng thái vận động mạnh mẽ như bùng ngọn lửa, mưa quất, nước đã giựt, cơn lốc xoáy, rừng bạch dương của nước Nga vặn mình, đại dương bốc cháy, hoa phượng cháy tận cùng ngọn lửa, cánh đồng ngập ngụa, sao vụt xanh, gió cát quay cuồng,

Trang 38

biển bùng cơn ác mộng, cánh rừng quẫy mạnh, cây vươn vai, khung trời gãy gập, dòng sông lao xuống từ trời, chớp xé tầng mây, hàng cây bùng cháy… Giữa một

bên là những danh từ biểu đạt những vẻ đẹp khiêm nhường, mộc mạc, chân chất với một bên là những danh từ chỉ những hiện tượng thiên nhiên kì vĩ, quyết liệt, cường tráng, người ta thấy một hồn thơ vừa quyết liệt, mạnh mẽ lại vừa sâu lắng, trầm tư Đó là hồn thơ Thanh Thảo - hồn thơ của một thi nhân biết gọi ra những vẻ đẹp tiềm tàng, thuần khiết của bao sự vật bé nhỏ, đồng thời cũng say mê những vẻ đẹp dữ dội, kì vĩ của tự nhiên Đối chọi và hòa hợp, đó là cái trục bí ẩn của “khối rubic từ ngữ” mà Thanh Thảo sử dụng, cũng là cái trục thẩm mĩ riêng của thế giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo

c) Từ ngữ sinh hoạt

Từ ngữ sinh hoạt là những từ ngữ mang phong cách khẩu ngữ, sinh hoạt, thường được sử dụng trong ngôn ngữ nói hàng ngày Màu sắc phong cách khẩu ngữ của những từ ngữ này dễ thấy trong sự đối lập với những từ ngữ sách vở có màu sắc trung tính

Trong sáng tạo văn học, đặc biệt là trong lĩnh vực thơ ca, về mặt lí thuyết, khi lấy ngôn ngữ làm chất liệu để sáng tác tác phẩm của mình, nhà thơ có thể lựa chọn và sử dụng mọi loại từ ngữ trong vốn từ toàn dân Tuy nhiên, trên thực tế, từ ngữ thơ ca lại “mang nặng tính đặc tuyển” [23, tr.60] Những từ ngữ được đưa vào thơ thường là những từ ngữ đã được nhà thơ tuyển lựa, gọt giũa, mang tính hoa mĩ

Từ ngữ mang phong cách sinh hoạt, khẩu ngữ vì thế rất ít có cơ hội được đưa vào thơ Tất nhiên, trong văn học Việt Nam trước đây, có những nhà thơ có cá tính mạnh mẽ đã khai thác và sử dụng không ít những từ ngữ này “Dưới ngòi bút của

Hồ Xuân Hương, những chữ tầm thường của lời nói hàng ngày, nôm na mách qué,

đã trở thành những lời thơ được truyền tụng mãi, và Nguyễn Du không những để lại những câu thơ như “mai cốt cách, tuyết tinh thần” mà còn viết:

Thoắt trông lờn lợt màu da

Trang 39

Ăn chi to béo đẫy đà làm sao.”

Trong phong trào Thơ mới, một số nhà thơ như Anh Thơ, Bàng Bá Lân,

Đoàn Văn Cừ, v.v “đã đem vào thơ những bức tranh sinh hoạt, miêu tả với những

nét vẽ và ngôn ngữ gần gũi với cuộc đời thực” Trong thơ Anh Thơ có những cảnh

chợ mùa hè:

“Chó thè lưỡi ngồi thừ nhìn cũi đóng

Lợn trói nằm hồng hộc thở căng dây”

Và chợ ngày Tết:

Đây mấy mụ chổng mông lên khảo gạo

Kia một cô chúm miệng húp canh riêu”

Và những nét sinh hoạt nông thôn:

Trên cầu ao con đĩ ngồi xát gạo

Mắt ngây nhìn rau muống nở hoa tươi.”

Nhưng đó vẫn chỉ được coi là những hiện tượng hiếm hoi trong văn học Tuy nhiên, chính những hiện tượng hiếm hoi đó đã chứng minh một điều: từ ngữ mang phong cách sinh hoạt cũng như bất kì lớp từ ngữ nào khác đều có thể mang lại giá trị nghệ thuật cho thơ nếu nhà thơ thực sự có tài năng, biết sáng tạo

Khi Thanh Thảo bước lên thi đàn cũng là lúc thơ Việt đã đi qua một chặng đường dài với nhiều thành tựu đỉnh cao mà tiêu biểu là phong trào Thơ mới Đó cũng là lúc xã hội Việt Nam bước ra khỏi chiến tranh để xây dựng cuộc sống hòa bình Nhiều vấn đề của đời sống đòi hỏi nhà thơ không thể diễn đạt như trước Dẫu rằng trong Thơ mới có nhiều nhà thơ đã đem lại tiếng nói giản dị cho thơ bằng những từ ngữ mang phong cách sinh hoạt nhưng ấn tượng mà thơ mới để lại vẫn là

những mĩ từ giàu sức gợi, kiểu như: cành biếc, chiều mộng, nhánh duyên, nắng ửng, khói mơ, nguyệt tỏ ngời, tuần tháng mật, cành tơ, khúc tình si Từ ngữ trong Thơ

mới vì thế vẫn mang nặng tính đặc tuyển Trong thơ ca cách mạng, từ ngữ mang phong cách sinh hoạt cũng chỉ xuất hiện rất ít, thay vào đó là những từ ngữ của

Trang 40

máu lửa, chiến tranh với hi sinh, chiến đấu, quyết tử, quyết sinh, đoàn kết, chiến thắng, lí tưởng, độc lập, tự do, bom đạn…Tất cả đều không còn phù hợp với đời

sống hiện đại đầy biến động nữa Thanh Thảo là một trong những nhà thơ đầu tiên sớm nhận ra điều đó Tuy nhiên, ảnh hưởng quán tính của nền văn học cách mạng,

trong Dấu chân qua trảng cỏ, Thanh Thảo vẫn sử dụng nhiều những từ ngữ gắn với

nền văn học sử thi hào hùng Khảo sát tập thơ này, chúng tôi thấy chỉ có 24 từ ngữ mang phong cách khẩu ngữ sinh hoạt Phải đến khi trở về với đời sống thường nhật

và bị cuốn vào sự bề bộn của nó, Thanh Thảo mới thực sự làm nên một sự cách tân

trên phương diện từ ngữ bằng cách đưa vào tập thơ Khối vuông rubic một số lượng

lớn từ ngữ mang phong cách khẩu ngữ sinh hoạt (187 từ với 203 lượt sử dụng) Ví

như: nói tục, chửi thề, chửi, đá bay, tay dẫn quân, tay trạm trưởng, mấy “khách” sốt rét, chuyên ngủ, chuyên xơi, bà vợ đoảng, đứa con học hành lôm côm, tắm, bương,

bố khỉ, cần quái gì, vảy cá, rác bẩn, đồng bạc rách, nói gay, biếu không, cú phản phế, trò oái oăm, tán gái, lợi dụng, tỉnh bơ, cuộc đời chó đẻ, khạc ra,…Không phải

ngẫu nhiên mà những từ ngữ mang phong cách khẩu ngữ sinh hoạt này lại xuất

hiện nhiều như vậy trong Khối vuông rubic Có thể thấy, sau 1975, nền văn học

Việt Nam vận động mạnh mẽ theo khuynh hướng dân chủ hóa Điều này thể hiện ở nhiều phương diện, trước hết là ở ý thức nghệ thuật của người cầm bút và công chúng văn học Ở giai đoạn này, quan niệm về vai trò, vị trí và chức năng của văn học và nhà văn đã có sự thay đổi Nếu trong giai đoạn trước, văn học được nhìn nhận như một thứ vú khí của cách mạng thì đến nay, nhà văn, nhà thơ, bằng trực cảm tinh nhạy của người cầm bút đã giải thiêng tính nghiêm túc và vai trò của văn chương Văn học lúc này không chỉ là tiếng nói của cộng đồng mà còn là phát ngôn của mỗi cá nhân Hiện thực được phản ánh trong văn học cũng không còn là hiện thực cách mạng với các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà là hiện thực của đời sống hàng ngày với các quan hệ thế sự chằng chịt, phức tạp và đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách Tất cả mọi sự

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2001
2. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
3. Mai Ngọc Chừ (1990), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1990
4. Nguyễn Đức Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
5. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), Lụân án tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình)
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
6. Phan Huy Dũng (2009), “Đàn ghita của Lorca dưới góc nhìn liên văn bản”, Văn học Việt Nam trong nhà trường - một góc nhìn, một cách đọc , Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàn ghita của Lorca dưới góc nhìn liên văn bản”, "Văn học Việt Nam trong nhà trường - một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
7. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
8. Trĩnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học - trung tâm nghiên cứu quốc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học
Tác giả: Trĩnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Văn học - trung tâm nghiên cứu quốc học
Năm: 2002
9. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học, Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2008
10. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
11. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn họ
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
12.Nguyễn Thị Hiền (2008), Văn học Việt Nam sau 1975, Tài liệu lưu hành nội bộ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2008
13.Nguyễn Văn Hoa - Nguyễn Ngọc Thiện (1997), Tuyển tập thơ văn xuôi Việt Nam và nước ngoài, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ văn xuôi Việt Nam và nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Văn Hoa - Nguyễn Ngọc Thiện
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
14. Nguyễn Thái Hoà (2004), Từ điển tu từ - Thi pháp - Phong cách học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ - Thi pháp - Phong cách học
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
15. I. P. Ilin - E. A. Truganova (2001), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở phương Tây thế kỉ XX, Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở phương Tây thế kỉ XX
Tác giả: I. P. Ilin - E. A. Truganova
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
16. Thụy Khuê (1995), Cấu trúc thơ, Nxb Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc thơ
Tác giả: Thụy Khuê
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1995
17. Đinh Trọng Lạc (1996), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
18. Đinh Trọng Lạc (2006), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
19. Nguyễn Lai (1996), Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học
Tác giả: Nguyễn Lai
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
20. Ngô Tự Lập (2007), Văn chuương như là quá trình dụng điển, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chuương như là quá trình dụng điển
Tác giả: Ngô Tự Lập
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. So sánh tỉ lệ thơ tự do trong Khối vuông rubic của Thanh Thảo, - Luận văn ngôn ngữ thơ thanh thảo trong tập khối vuông rubic
Bảng 3.1. So sánh tỉ lệ thơ tự do trong Khối vuông rubic của Thanh Thảo, (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w