TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT Tên đề tài: TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân H
Trang 1TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
(Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia
Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
Mã số: <100 /HĐ-NCKHPTCN>
Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Sỹ Đồng
Bình Dương, 9/2016
Trang 2TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
(Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia
Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
Mã số: <100 /HĐ-NCKHPTCN>
Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Sỹ Đồng
Bình Dương, 9/2016
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
<KHOA NGỮ VĂN>
Tên đề tài:
TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
(Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia
Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
Mã số: < 100 /HĐ-NCKHPTCN>
Tên báo cáo chuyên đề:
BÁO CÁO TỔNG THUẬT TÀI LIỆU ĐỀ TÀI "TÍNH DỤC
TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI"
Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Sỹ Đồng
Bình Dương, 28/9/2016
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
<KHOA NGỮ VĂN>
Tên đề tài:
TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
(Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia
Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
Mã số: < 100 /HĐ-NCKHPTCN>
Tên báo cáo chuyên đề:
KHÁI NIỆM TÍNH DỤC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TÍNH DỤC
TRONG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT
Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Sỹ Đồng
Bình Dương, 12/3/2016
Trang 5TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
<KHOA NGỮ VĂN>
Tên đề tài:
TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
(Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia
Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
Mã số: < 100 /HĐ-NCKHPTCN>
Tên báo cáo chuyên đề:
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TÁC GIẢ VÀ THỜI ĐẠI
Chủ nhiệm đề tài: ThS Lê Sỹ Đồng
Bình Dương, 12/4/2016
Trang 6TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
<KHOA NGỮ VĂN>
Tên đề tài:
TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
(Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia
Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
Trang 7TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
<KHOA NGỮ VĂN>
Tên đề tài:
TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
(Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia
Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
Trang 81 Tính cấp thiết của đề tài Tr 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Tr 7
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Tr 8
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu Tr 9
Gia Thiều
Tr 26
1.2.2 Những vấn đề về thời đại và tác giả Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương Tr 34 1.2.3 Những vấn đề về thời đại và tác giả Nguyễn Đình Chiểu Tr 39 CHƯƠNG 2: TÍNH DỤC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỘI DUNG Tr 43
3.1.1 Nghệ thuật sử dụng điển cố Tr 73 3.1.2 Nghệ thuật sử dụng từ liên tưởng, gợi hình, biểu tượng Tr 79 3.2 Không gian và thời gian nghệ thuật Tr 86
Trang 9TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Đơn vị: KHOA NGỮ VĂN
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam (Khảo sát sáng tác của
các tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
- Mã số: 100 /HĐ - NCKHPTCN
- Chủ nhiệm: ThS Lê Sỹ Đồng
- Đơn vị chủ trì: Khoa Ngữ văn
- Thời gian thực hiện: 12 tháng (6/2015 – 6/ 2016)
Tóm lại, mục tiêu là hướng đến hoạt động học tập và nghiên cứu Công trình Tính
dục trong văn học trung đại Việt Nam (Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ,
Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
sẽ giúp cho người dạy và người học mở rộng nguồn kiến thức về nội dung văn học, có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về văn học trung đại Việt Nam Đồng thời, nó sẽ gợi mở thêm nhiều đề tài cho sinh viên trong quá trình chọn đề tài làm nghiên cứu khoa học hoặc thực hiện khóa luận tốt nghiệp Từ đó, đề tài góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Trường Đại học Thủ Dầu Một
3 Tính mới và sáng tạo
Tính mới là, vấn đề Tính dục trong văn học đối với các nhà nghiên cứu trên thế
giới không hoàn toàn là vấn đề mới, nhưng ở Việt Nam, đây là vấn đề chưa được đào sâu,
nghiên cứu kĩ Đặc biệt, vấn đề Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam lại càng ít
được các nhà nghiên cứu quan tâm Thế nên việc thực hiện đề tài Tính dục trong văn
học trung đại Việt Nam là hoàn toàn mới
Tính sáng tạo là, nghiên cứu về vấn đề Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam
đã được một số nhà nghiên nghiên cứu văn học quan tâm và khảo cứu từ đầu thế kỉ trước Điều này đồng nghĩa với việc để tìm ra một hướng nghiên cứu mới về vấn đề trên không phải là dễ dàng Ở đề tài này, chúng tôi đã vận dụng hướng nghiên cứu từ sự kết hợp các
lí thuyết về thi pháp học và phân tâm học để làm rõ nội dung mà chúng tôi khảo sát, tức
Trang 10là xem vấn đề tính dục vừa là một khía cạnh nội dung lại vừa là một phương thức nghệ thuật
4 Kết quả nghiên cứu
Về khái niệm tính dục, sau khi khảo sát các tác phẩm văn học trung đại, và các định nghĩa về tính dục, chúng tôi xin tạm đưa ra định nghĩa như sau:
Tính dục là một hoạt động tự nhiên của con người, mang tính bản năng Những hành vi ấy nhằm thỏa mãn các giác quan và nhu cầu giải tỏa ức chế tâm lí Do vậy, tính dục không hoàn toàn là hành vi giao hoan Từ đấy, chúng chia tình dục làm hai loại: một
là để giải tỏa sinh lí – như là một cơ chế sinh học; một là để giải tỏa uẩn ức tâm lí Giải tỏa như là một giải pháp chứng minh cho sự tồn tại của mình trên cõi đời; hoặc cũng có thể để quên đời
Về tác giả và thời đại, chúng tôi đặt ra những vấn đề như sau:
- Cần tiếp tục có nhiều công trình nghiên cứu về năm sinh năm mất của Nguyễn Dữ, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương để đi đến thống nhất Riêng tên tác giả
“Nguyễn Dữ” cũng cần tiếp những bài phản biện để thống nhất là “Nguyễn Dữ hay Nguyễn Dư”, và hướng tiếp cận, đính chính tên của tác giả này
- Chúng tôi nhận thấy rằng, sự tác động của thời đại và gia cảnh tới tâm sinh
lí của các tác giả được biểu hiện trong các tác phẩm là rất lớn, mà cụ thể nhất là ở nội dung tính dục Nó như một sự “phá bĩnh” trước hành vi phản ứng của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội và định kiến về đạo đức
Về vấn đề tính dục từ góc nhìn nội dung và hình thức biểu hiện, chúng tôi sau quá trình khảo sát, thống kê, so sánh, phân tích đã tổng hợp ở những khía cạnh sau:
có những kết quả khả quan Sinh viện đã có cái nhìn toàn diện hơn về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm văn học có yếu tố tính dục Đồng thời chất lượng dạy và học cũng
Trang 11được nâng lên rõ rệt Đặc biệt, chúng tôi dự kiến sẽ cho cho sinh viên vận dụng những kết quả nghiên cứu của đề tài này sau khi nghiệm thu vào việc giảng thử các bài học: ; Ở
Ngữ văn lớp 7, tập 1, Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, tr 94; Ở Ngữ văn lớp 9, tập 1,
Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, tr 43, Trích Chinh phụ ngâm (Sau phút chia li) của Đặng Trần Côn, tr 91 Ở Ngữ văn lớp 10, tập 2, Trích Chinh phụ ngâm (Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ) của Đặng Trần Côn, tr 86; Ở Ngữ văn lớp 11, tập
1, Tự tình của Hồ Xuân Hương, tr.18…
- Về phương thức chuyện giao và khả năng áp dụng: Nếu đề tài bảo vệ thành công, chúng tôi sẽ ấn hành thành tài liệu tham khảo cho:
+ Giảng viên, sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Thủ Dầu Một
+ Giảng viên, sinh viên Khoa Giáo dục, Trường Đại học Thủ Dầu Một
+ Giáo viên, học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Trang 12MỞ ĐẦU
- Sự cần thiết phải thực hiện đề tài
Từ trước đến nay, giới nghiên cứu văn học Việt Nam thường tập trung nghiên cứu hai vấn đề cơ bản của văn học: Yêu nước và Nhân đạo Trong khi đó, nội dung của văn học luôn thể hiện một cách toàn diện và sâu sắc hiện thực khách quan và hiện thực tâm hồn của con người Cho nên, nội dung văn học không chỉ là hai vấn đề trên Do đó, việc nghiên cứu nội dung văn học cần có một cái nhìn cách toàn diện hơn, khách quan hơn để
có để đánh giá đầy đủ các vấn đề văn học một cách sâu sắc và chính xác
Khi nhắc tới văn học trung đại Việt Nam, các nhà nghiên cứu thường dựa vào hoàn cảnh lịch sử và thế giới quan của các nhà văn để chia nội dung, đề tài sáng tác… theo các khuynh hướng chung của thời đại; mà quên đi quá trình một tác phẩm văn học ra đời chính là quá trình thể hiện sự thỏa mãn nhu cầu tâm tinh thần của các tác giả Vì vậy, các công trình nghiên cứu thường đề cập nhiều đến những nội dung mang tính chung, tính khái quát mà có phần xem nhẹ tính cụ thể, tính riêng của từng tác phẩm Đây vừa là
ưu điểm lại vừa là khuyết điểm Ưu điểm là dễ dàng tạo lập được một mô hình chung về một thời kì văn học Khuyết điểm là không nhìn thấy được chiều sâu tâm trạng, tâm tư của tác giả dưới bề dầy câu chữ không cảm xúc
Vấn đề Tính dục trong văn học đối với các nhà nghiên cứu trên thế giới không
hoàn toàn là vấn đề mới, nhưng ở Việt Nam, đây là vấn đề chưa được đào sâu, nghiên
cứu kĩ Đặc biệt, vấn đề Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam lại càng ít được các
nhà nghiên cứu quan tâm Thế nên, những khoảng tri thức về vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam còn khá trống trải
Trang 13Trong chương trình đào tạo ngành Sư phạm Ngữ Văn của Trường Đại học Thủ Dầu Một có hai học phần về văn học trung đại Việt Nam nhưng lại chưa có công trình
nào nghiên cứu các vấn đề nội dung Tính dục ở hai học phần này Từ đó, giảng viên khi
nhận nhiệm vụ giảng dạy hai học phần thuộc văn học trung đại Việt Nam còn khá lúng túng khi lên lớp, và hầu như chỉ dựa vào những kiến thức từ các công trình nghiên cứu trước đó để soạn bài giảng Chính điều này đã làm bài giảng kém hấp dẫn, kém mới; chất lượng bài học cũng bớt phần hiệu quả
Từ thực trạng trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: Tính dục trong văn học
trung đại Việt Nam (Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn,
Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
- Cơ sở luận cứ về kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ và các lĩnh vực khác,
nhằm lý giải sự cần thiết phải thực hiện đề tài:
Thứ nhất, sau quá trình sưu tầm tài liệu và khảo cứu những bài viết liên quan
đến Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam như đã trình bày trong phần tổng quan,
chúng tôi khẳng định việc nghiên cứu về vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức Trong khi tính dục là phần không thể thiếu trong nội dung văn học ở tất cả các thời kì chứ không riêng gì văn học trung đại Nó không chỉ góp phần làm cho nội dung văn học phong phú hơn mà còn thể hiện nhu cầu về quyền sống của một con người giữa đời thường Ngoài ra, chính việc thể hiện nội dung tính dục trong các tác phẩm văn học mà các tác giả đã tạo ra những nét mới về nghệ thuật cho văn học Việt Nam Do vậy, việc thực hiện đề tài chúng tôi đưa ra sẽ có một ý nghĩa khoa học nhất định Khi đề tài thành công, nó sẽ bổ khuyết những vấn đề khoa học mà những công trình trước đây nghiên cứu
về văn học trung đại Việt Nam còn thiếu sót
Thứ hai, trong chương trình phổ thông, sau khi khảo sát sách giáo khoa Ngữ
Văn từ lớp 6 đến lớp 12, chúng tôi nhận thấy các tác phẩm văn học trung Việt Nam được đưa vào giảng dạy khá nhiều Cụ thể như sau:
Ở Ngữ văn lớp 7, tập 1, có các bài học như: Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt, tr 62; Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải, tr.65; Thiên Trường
vãn vọng của Trần Nhân Tông, tr 75; Trích Cơn Sơn ca của Nguyễn Trãi, tr 78; Trích Chinh phụ ngâm (Sau phút chia li) của Đặng Trần Côn, tr 91; Bánh trôi nước của Hồ
Xuân Hương, tr 94; Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, tr 102; Bạn đến chơi
nhà của Nguyễn Khuyến, tr 104; Trích Quan Âm Thị Kính (Nỗi oan hại chồng) tr.111
Ở Ngữ văn lớp 8, tập 2, có các bài học như: Thiên đô chiếu của Lí Công Uẩn, tr 48; Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, tr.55; Trích Bình Ngô đại cáo (Nước đại
việt ta) của Nguyễn Trãi, tr 66; Luận học pháp của Nguyễn Thiếp, tr.76
Ở Ngữ văn lớp 9, tập 1, có các bài học như: Chuyện người con gái Nam
Xương của Nguyễn Dữ, tr 43; Trích Vũ trung tùy bút (Chuyện cũ ở phủ chúa Trịnh) của
Phạm Đình Hổ, tr.60; Trích Hoàng Lê nhất thống chí (hồi 14) của Ngô Gia Văn Phái, tr 64; Trích Truyện Kiều (Chị em Thúy Kiều- tr.80, Cảnh ngày xuân – tr.84, Kiều ở lầu
Ngưng Bích – tr.93, Mã Giám Sinh mua Kiều – tr.97, Kiều báo ân báo oán – tr.106) của
Nguyễn Du; Trích Lục Vân Tiên (Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên gặp
nạn) của Nguyễn Đình Chiểu, tr 109 – 118
Trang 14Ở Ngữ văn lớp 10, tập 1, có các bài học như: Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, tr.115; Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, tr.117; Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tr.128; Độc Tiểu thanh kí của Nguyễn Du, tr.131; Quốc tộ của Pháp Thuận, tr.138; Cáo
tật thị chúng của Mãn Giác, tr.140; Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn, tr.142
Ở Ngữ văn lớp 10, tập 2, có các bài học như: Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, tr 3; Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi; tr 8; Tựa Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương, tr 28; Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung, tr.31; Chuyện chức Phán Sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ, tr 55; Trích Chinh phụ ngâm
(Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ) của Đặng Trần Côn, tr 86; Trích Truyện Kiều (Trao duyên, Nỗi thương mình, Chí anh hùng, Thề nguyền) của Nguyễn Du, tr 103 –
115
Ở Ngữ văn lớp 11, tập 1, có các bài học như: Trích Thượng kinh kí sự (Vào
phủ chúa Trịnh) của Lê Hữu Trác, tr.3; Tự tình của Hồ Xuân Hương, tr.18; Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến, tr.21; Thương vợ của Trần Tế Xương, tr 29; Khóc Dương Khuê
của Nguyễn Khuyến, tr 31; Vịnh khoa thi hương của Trần Tế Xương, tr 33; Bài ca ngất
ngưỡng của Nguyễn Công Trứ, tr.37; Sa hành đoản ca của Cao Bá Quát, tr.40; Trích Lục Vân Tiên (Lẽ ghét thương) của Nguyễn Đình Chiểu, tr 45; Chạy giặc của Nguyễn Đình
Chiểu, tr.49; Hương sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh, tr 50; Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, tr.56; Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm, tr 68; Trích
Tế cấp bát điều (Xin lập khoa luật) của Nguyễn Trường Tộ, tr.71
Vậy, có trên 50 văn bản kể cả trích đoạn và tác phẩm thuộc văn học trung đại Việt Nam được học trong chương trình Phổ thông, chứng tỏ văn học trung đại chiếm một
vị trí khá quan trọng trong việc dạy và học văn Ngoài nội dung chính của các tác phẩm này là yêu nước và nhân đạo thì ít nhiều đã đề cập đến những vần đề riêng tư đời thường – vấn đề tính dục Tuy nhiên, trong quá giảng dạy chương trình ngữ văn Trung học phổ thông và trao đổi với đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy cả người dạy và người học còn rất rụt dè, e ngại khi dạy và những bài học có yếu tố hoặc có nội dung liên quan đến vấn đề tính dục Nguyên nhân thì nhiều, nhưng chủ yếu vẫn là do chưa có cái nhìn toàn diện về vấn đề tính dục trong văn học, chưa nhìn rõ được nguồn cơn cảm xúc của các tác giả khi muốn giải bày những uẩn ức tâm lí trước sự đời và tình người trong tác phẩm văn học
Thứ ba, trong chương trình đào tạo ngành Sư phạm Ngữ văn của Khoa Ngữ văn
tại Trường ĐH Thủ Dầu Một có học phần Văn học trung đại liên quan trực tiếp đến vấn
đề tính dục trong tác phẩm của các tác giả mà chúng tôi khảo sát như trên nhưng lại chưa
có công trình nào của Khoa trực tiếp nghiên cứu đến nôi dung đề tài chúng tôi đưa ra Do vậy, nếu sớm thực hiện, đề tài này sẽ bổ sung thêm một nguồn tài liệu quý cho sinh viên, cho giảng viên trong quá trình dạy và học
Thứ tư, qua các buổi sinh hoạt về văn học, chúng tôi nhận thấy nhiều độc giả
khá hứng thú với vấn đề tính dục trong văn học nhưng lại có rất ít thông tin, tài liệu tham khảo, đặc biệt là tài liệu về vấn đề tính dục trong văn học trung đại khá khan hiếm nên khi đưa ra nhận định về vấn đề này thường mang tính cảm tính Từ đó, dẫn đến cách hiểu
mờ hồ, đôi khi lệch lạc Vì thế, chúng tôi nhận thấy việc nhanh chóng thực hiện đề tài trên sẽ góp thêm phần không nhỏ vào việc tạo thêm điều kiện cho người đọc tiếp cận với những tác phẩm văn học có nội dung tính dục nói chung và vấn đề tính dục trong văn học
Trang 15trung đại nói riêng trong hoạt động văn học của một số câu lạc bộ văn học trực thuộc các trường trung học, đại học trên địa bàn tỉnh Bình Dương
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Góp thêm vào các công trình nghiên cứu chuyên sâu nội dung văn học thuộc văn học trung đại Việt Nam
- Giúp giảng viên, sinh viên có thêm một nguồn tài liệu để nghiên cứu, bổ sung nội dung vào quá trình dạy và học các học phần văn học trung đại Việt Nam
- Khẳng định hướng nghiên cứu văn học dựa trên cơ sở tâm lí học đã được các nhà nghiên cứu đề xuất trước đó là hoàn toàn có cơ sở
- Góp phần tạo ra một cái nhìn mới mẻ đối với nội dung văn học trung đại Việt Nam
Tóm lại, mục tiêu là hướng đến hoạt động học tập và nghiên cứu Công trình Tính
dục trong văn học trung đại Việt Nam (Khảo sát sáng tác của các tác giả Nguyễn Dữ,
Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu)
sẽ giúp cho người dạy và người học mở rộng nguồn kiến thức về nội dung văn học, có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về văn học trung đại Việt Nam Đồng thời, nó sẽ gợi mở thêm nhiều đề tài cho sinh viên trong quá trình chọn đề tài làm nghiên cứu khoa học hoặc thực hiện khóa luận tốt nghiệp Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Trường Đại học Thủ Dầu Một
Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam
Van học trung đại Việt Nam trải dài 10 thế kỉ, có hàng ngàn tác giả nên việc khảo sát tất cả là không thể Như tên đề tài, chúng tôi chỉ giới hạn phạm nghiên cứu ở một số tác giả và một số văn bản Cụ thể như sau:
+ Tác giả Nguyễn Dữ, chúng tôi chọn văn bản Truyền kì mạn lục, Trúc Khê, Ngô Văn Triện dịch, Nxb Văn nghệ, 1988
+ Tác giả Đặng Trần Côn, chúng tôi chọn văn bản Chinh phụ ngâm, bản của
Nguyễn Đỗ Mục, Tân Dân in, 1929
+ Tác giả Nguyễn Gia Thiều chúng tôi chọn văn bản Cung oán ngâm, Nguyễn Lộc
Trang 16+ Tác giả Nguyễn Đình Chiểu, chúng tôi chọn văn bản Nguyễn Đình Chiểu toàn
tập, tập 1, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo, Nxb Văn
học, 1997
và những công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài
4.1 Cách tiếp cận
Dùng phương pháp duy vật lịch sử, thi pháp học kết hợp tâm lí học để khảo sát, so sánh, phân loại, đánh giá, phân tích, tổng hợp
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào tính chất của đề tài, yêu cầu của một báo cáo khoa học, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp sưu tầm: Tập hợp những công trình liên quan đến vấn đề tính dục
trong văn học trung đại Từ những văn bản được tập hợp này, chúng tôi sẽ làm cơ sở
khoa học, đặt tiền đề cho các bước tiếp theo trong quá trình thực hiện đề tài
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Trong quá trình tập hợp tài liệu, chúng tôi
nhận thấy các tác phẩm mà chúng tôi chon khảo sát có rất nhiều ấn bản ở nhiều thời kì khác nhau Nên với phương pháp so sánh – đối chiếu, chúng tôi sẽ xác định được văn bản tốt nhất phục vụ cho việc nghiên cứu
- Phương pháp thống kê - phân loại: Phương pháp này giúp dễ dàng sử dụng các
tài liệu sưu tầm làm dẫn chứng cho các nhận định ở các mục trong đề tài một cách chính xác, khoa học
- Phương pháp phân tích: Phương pháp này giúp tìm ra và xác định cái hay, cái
mới và chỉ ra những đóng góp của điển cố đối với giá trị nội dung và nghệ thuật
- Phương pháp liên ngành: Vấn đề tính dục không chỉ là nội dung của văn học mà
còn là nội dung của nhiều ngành khoa học khác… Vấn đề tính dục mà chúng tôi khảo sát trong tác phẩm văn học có liên quan mật thiết tới lịch sử, văn hóa, tâm lí nên phương pháp liên ngành rất hữu ích Nó không chỉ giúp cho việc xác định nội dung tính dục mà còn giúp cho việc đánh giá nội dung tính dục để đi đến kết luận cuối cùng về ý nghĩa mà nội dung tính dục góp phần tạo nên giá trị của tác phẩm
- Phương pháp tổng hợp: Dựa vào phương pháp này, chúng tôi có thể đưa ra
những nhận định chung nhất, khái quát nhất về vấn đề tính dục trong văn học trung đại Đồng thời, chúng tôi có thể đi đến kết luận thật cụ thể về vị trí của nội dung tính dục bên cạnh các nội dung khác trong tác phẩm văn học
Hiện nay, những bài báo, những công trình nghiên cứu về các tác giả và tác phẩm
văn học mà chúng tôi chọn khảo sát là không thể thống kê hết Chỉ kể riêng Truyện Kiều
của Nguyễn Du cũng có cả nghìn bài báo, vài chục luận án tiến sĩ, thạc sĩ và hàng trăm
Trang 17cuốn sách Thế nên, chúng tôi chỉ liệt kê dưới đây những công trình, những bài báo liên quan mật thiết nhất đến đối tượng nghiên cứu của đề tài Cụ thể như sau:
Những công trình chung
Hiện thời chúng tôi xác định được những công trình như sau:
1 Vũ Đình Lưu (1968), Hành trình vào phân tâm học, Hoàng Đông Phương, SG
2 Đinh Gia Khánh, Mai Cao Chương, Bùi Duy Tân (1978), Lịch sử văn học Việt
Nam, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
3 Nguyễn Lộc (1978), Lịch sử văn học Việt Nam, Nxb Đại học và Trung học
7 Trần Nho Thìn (2007), Văn học Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục
8 Đoàn Thị Thu Vân (2008), Văn học trung đại Việt Nam – Thế kỉ X đến hết thế kỉ
XIX, Nxb Giáo dục
9 Đỗ Lai Thúy (2009), Bút pháp của ham muốn, Nxb Tri Thức
10 Đỗ Lai Thúy (2011), Phê bình văn học, con vật lưỡng thể: Tư tưởng phê bình văn
học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử, Nxb Hội nhà văn, HN
11 Liễu Thương (2011), Phân tâm học và phê bình văn học, Nxb Phụ nữ
12 Vũ Thị Hoàng Yến (2010), Hình ảnh người kỹ nữ trong văn học trung đại Việt
Nam, Luận văn cao học, ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh
13 Nguyễn Thị Gái (2010), Thế giới tâm linh trong truyện thơ Nôm, Luận văn cao
học, ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh
Về tác phẩm của Nguyễn Dữ
Hiện thời chúng tôi xác định được những công trình như sau:
1 Nguyễn Quang Hồng (2005), Chuyển dịch từ ngữ song tiết Hán văn sang từ ngữ
văn Nôm trong bản giải âm Truyền kỳ mạn lục, Ngôn Ngữ, Số 8
2 Trần Thị Nhung (2010), Nghệ thuật miêu tả ngoại hình người phụ nữ trong
Truyền kỳ mạn lục từ góc nhìn giới, TC Khoa học và Công nghệ, Số 9
3 Lưu Thị Hồng Việt (2012), Nhân vật người phụ nữ trong Kim ngao tân thoại và
Truyền kỳ mạn lục, Nghiên cứu Đông Bắc á, Số 4
4 Trần Thị Thu Hiền (2012), Oan và giải oan của người đàn ông trong Truyền kỳ
mạn lục - Nguyễn Dữ, Tạp chí Giáo dục, Số 284
Về các phẩm của Hồ Xuân Hương
Hiện thời chúng tôi xác định được những công trình như sau:
1 Đào Thái Tôn (1993), Thơ Hồ Xuân Hương: Từ nguồn cội đến thế tục, Nxb Giáo
Dục, HN
Trang 182 Nguyễn Thị Ngọc (1996), Hồ Xuân Hương và nền văn hóa dân gian Việt Nam,
Nxb Thế Giới, HN
3 Nguyễn Thị Năm (2004), Đi tìm nét đặc sắc của từ lý trong thơ Nôm Hồ Xuân
Hương, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Những nhà nghiên cứu ngữ văn trẻ
4 Phùng Thị Thanh Huyền (2004), Tính nữ trong thơ Hồ Xuân Hương, Kỷ yếu hội
nghị sinh viên nghiên cứu khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội
5 Kiều Thu Hoạch (2007), Thơ nôm Hồ Xuân Hương từ góc nhìn văn bản học, Văn
hóa - nghệ thuật, Số 10
6 Hoàng Phong Tuấn (2007), Những vấn đề đặt ra khi giảng dạy thơ Hồ Xuân
Hương ở nhà trường phổ thông, TC Giáo dục, Số 161
7 Nguyễn Xuân Lạc (2008), Tự tình II, Ngôn ngữ, Số 3
8 Lê Thu Yến (2008), Sức hấp dẫn của thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học,
HN
9 Bùi Thị Thanh Vân (2009), Thơ Nôm Hồ Xuân Hương nhìn từ góc độ giới tính,
Luận văn cao học, ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh
10 Lê Văn Hùng (2010), Tiếp cận thơ Nôm đường luật của Hồ Xuân Hương theo
hình thức quy phạm và hình thức phá cách, Tạp chí Giáo dục, Số 236
11 Hoàng Thị Tuyết Mai, Vũ Thị Ngọc (2010), Trào lưu chủ tình trong văn học Việt
Nam thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX qua thơ nôm Hồ Xuân Hương, TC Khoa học và
Công nghệ, Số 11
12 Đỗ Lai Thúy (2010), Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực: Những mơ mộng nghệ
thuật, Nxb Văn học, HN
13 Nguyễn Thị Ngọc Châu (2010), Vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương
dưới góc độ so sánh, Luận văn cao học, ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh
14 Lê Văn Hùng (2011), Lời thơ trào phúng - một biện pháp nghệ thuật xây dựng nên
thơ Nôm đường luật Hồ Xuân Hương, Tạp chí Khoa học, Số 12
15 Vũ Thị Huế (2013), Giọng điệu khẩu ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Ngôn
ngữ & Đời sống, Số 1 & 2
Về các tác phẩm của Nguyễn Du
Hiện thời chúng tôi xác định được những công trình như sau:
1 Thích Thiên Ân (1966), Giá trị triết học tôn giáo trong Truyện Kiều, Đông
Phương xuất bản, SG
2 Đào Duy Anh (1974), Từ điển Truyện Kiều, Nxb KHXH, HN
3 Phan Ngọc (1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb
6 Nguyễn Đức Khuê (2005), Nhân 240 năm sinh thi hào Nguyễn Du, đọc lại truyện
kiều cảm nhận tình quê trong Thúy Kiều, Ngôn ngữ, Số 12
Trang 197 Trương Xuân Tiếu (2006), Góp phần tìm hiểu nội dung thẩm mĩ đích thực một
đoạn trích tiêu biểu trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, Ngôn ngữ, Số 6
8 Trương Xuân Tiếu (2007), Tìm hiểu nghệ thuật sử dụng từ xưng hô của Nguyễn
Du trong lời thoại của nhân vật Thúy Kiều đêm “trao duyên”, Ngôn ngữ, Số 6
9 Phan Thị Huyền Trang (2007), Những liên tưởng ngữ nghĩa của từ hoa trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du, Ngôn ngữ, Số 11
10 Phan Thanh Sơn (2008), Về một số từ ngữ trong Truyện Kiều, Ngôn ngữ, Số 2
11 Nguyễn Thị Chiến (2008), Nhân vật phụ nữ từ truyện Nôm bình dân đến Truyện
Kiều, Văn hóa - nghệ thuật, Số 288
12 Lê Minh Quốc (2008), Văn hóa Truyện Kiều, Xưa và Nay, Số 301
13 Võ Minh Hải, Nguyễn Quang Linh (2009), Đặc trưng thẩm mĩ của các ngữ liệu
văn hoá trong Truyện Kiều, Ngôn ngữ & đời sống, Số 4
14 Trương Xuân Tiếu (2009), Tìm hiểu nghệ thuật sử dụng từ ngữ và biện pháp tu từ
của Nguyễn Du trong đoạn trích "Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích" (Truyện Kiều),
17 Lê Xuân Lít (2010), Một số vấn đề cần trao đổi khi nghiên cứu Truyện Kiều: dạy
và học Truyện Kiều, Nxb Thời Đại, HN
18 Lê Thị Hoài Phương (2010), Truyện Kiều với nghệ thuật sân khấu truyền thống
Việt Nam, Văn hóa - nghệ thuật, Số 307
19 Nguyễn Lai (2010), Thực thể trời tâm linh trong thế giới nhân quả truyện Kiều
qua bút pháp Nguyễn Du, Ngôn ngữ, Số 12
20 Cao Thị Liên Hương (2010), Văn hóa ứng xử trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du,
Luận văn cao học, ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh
21 Ngô Quốc Quýnh (2010), Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua Truyện Kiều, Nxb
Giáo dục Việt Nam
22 Lê Nguyên Cẩn (2011), Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, Nxb Thông tin
và Truyền thông, HN
23 Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2011), Hội thoại trong Truyện Kiều của Nguyễn Du,
Tạp chí Khoa học, Số 12
24 Lê Thu Yến (2011), Văn hoá ứng xử người Việt thể hiện qua tình yêu Kim - Kiều
(Truyện Kiều của Nguyễn Du), Tạp chí Khoa học, Số 12
25 Đặng Thị Thu Hiền (2011), Ý nghĩa biểu trưng của gió (phong) và các biểu thức
chứa gió trong Truyện Kiều, Ngôn ngữ, Số 10
26 Lê Văn Quán (2012), Những giá trị và hạn chế tư tưởng trong Truyện Kiều, Hán
Nôm, Số 4
27 Phạm Tú Châu (2013), Hai ý kiến đáng ghi nhận về Truyện Kiều của học giả
Trung Quốc, Nghiên cứu Trung Quốc, Số 1
28 Nguyễn Đức Thuận (2013), Thơ vịnh Kiều trên Nam Phong tạp chí, Khoa học, Số
2
Trang 2029 Nguyễn Văn Chương (2013), Thiên tài Nguyễn Du với chữ Xuân trong Truyện
Kiều, Ngôn ngữ &Đời sống, Số 1 & 2
30 Phan Ngọc (2013), Truyện Kiều trong văn hóa Việt Nam, Nxb Thanh Niên, HN
31 Nhiều tác giả (2015), Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa Nguyễn Du, Nxb
Đại học Quốc gia TP HCM
Về tác phẩm của Đặng Trần Côn
Hiện thời chúng tôi xác định được những công trình như sau:
1 Đặng Thai Mai (1949), Giảng văn Chinh phụ ngâm, Ấn thư tư tưởng Thanh Hóa
Sau được in trong Văn học Việt Nam thế kỉ XX (Lí luận – phê bình 1945 -1975),
quyển 5, tập 7, Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên (2008), Nxb Khoa học Xã hội
2 Lê Tuyên (1961), Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày, Ấn bản
Đại học Huế
3 Nguyễn Văn Dương (1964), Thử giải quyết vấn đề diễn giả Chinh phụ ngâm, Ấn
bản Đại học Huế Công trình này sau được tái bản vào năm 2009, Nxb Văn hóa - Thông tin
4 Hoàng Xuân Hãn (1993), Chinh phụ ngâm bị khảo, Nxb Giáo Dục
5 Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm (1994), Chinh phụ ngâm: Hán - Hán Việt - Nôm -
Quốc ngữ , Lạc Thiện sao lục, Ấn bản Hội Ngôn ngữ học T.P Hồ Chí Minh
6 Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm diễn Nôm (1996), Chinh phụ ngâm, Kiều Văn
tuyển chọn, Nxb Đồng Nai
7 Nhiều tác giả (2001), Đến với Chinh phụ ngâm, Ngô Viết Dinh (tuyển chọn và
biên tập), Nxb Thanh Niên
8 Phan Huy Ích (2002), Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc, Nguyễn Văn Xuân khảo
lục, Nxb Văn nghệ
9 Nguyễn Thạch Giang (cb, 2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam,Văn học Việt Nam
thế kỉ XVIII, tập 5, quyển 2, Nxb Khoa học xã hội
10 Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (cb, 2004), Từ điển
văn học bộ mới, Nxb Thế Giới
11 Đoàn Quang Lưu (2008), Mở rộng điển tích Chinh phụ ngâm, Nxb Nghệ An và
TT Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây
Về tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều
Hiện thời chúng tôi xác định được những công trình như sau:
1 Nguyễn Gia Thiều (1964), Cung oán ngâm, Lại Ngọc Cang khảo thích và giới
thiệu, Nxb Văn học
2 Nguyễn Gia Thiều (1986), Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Lộc (khảo đính, giới
thiệu), Nxb Văn học, Hà Nội
3 Nhiều tác giả (2001), Đến với Cung oán ngâm, Ngô Viết Dinh (tuyển chọn và biên
tập), Nxb Thanh Niên
4 Nguyễn Gia Thiều (2004), Cung oán ngâm khúc bằng tranh (Lời: Trần Kim Lý
Thái Thuận, Tranh: Trương Quân), Nxb Văn học, Hà Nội
Trang 215 Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (cb, 2004), Từ điển
văn học bộ mới, Nxb Thế Giới
6 Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm (2007), Cung oán ngâm khúc - Chinh phụ
ngâm, Nxb Văn học
Về tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu
Hiện thời chúng tôi xác định đƣợc những công trình nhƣ sau:
1 Bùi Giáng (1957), Một vài nhận xét về Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm, Quan Âm
Thị Kính, Tân Việt xuất bản, SG
2 Nguyễn Đình Chiểu (1957), Ngư Tiều vấn đáp và văn thơ yêu nước khác, Nxb
Nghiên cứu, HN
3 Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa (1971), Sưu tập bổ túc các bài báo về
Nguyễn Đình Chiểu, Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, SG
4 Nguyễn Đính Chiểu (1973), Lục Vân Tiên, Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa
xuất bản, SG
5 Trần Văn Giàu (1983), Nguyễn Đình Chiểu đạo làm người, Sở Văn hóa Thông tin
xuất bản, LA
6 Cao Tự Thanh, Huỳnh Ngọc Trảng (1983), Nguyễn Đình Chiểu với văn hóa Việt
Nam, Sở Văn hóa Thông tin xuất bản, LA
7 Vũ Tiến Quỳnh (1991), Nguyễn Đình Chiểu: Tuyển chọn và trích dẫn những bài
phê bình – bình luận văn học của các nhà văn – nghiên cứu Việt Nam và thế giới,
Nxb Tổng hợp Khánh Hòa, KH
8 Nhiều tác giả (1997), Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập 1, Nxb Văn học
9 Nhiều tác giả (1997), Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập 2, Nxb Văn học
10 Tuấn Thành, Anh Vũ (2002), Nguyễn Đình Chiểu, tác phẩm và dư luận, Nxb Văn
Trang 221.2 Những vấn đề về tác giả và thời đại
Chương 2: Tính dục nhìn từ góc độ nội dung
Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về tính dục được nêu ra nhưng về cơ bản vẫn
là nói đến sự giao hoan của con người Cụ thể như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt 1 dục tình như tình dục là nhu cầu tự nhiên của con người
về quan hệ tính giao Tính dục đòi hỏi sinh lí về quan hệ tính giao Tính giao là sự giao cấu giữa đực và cái, giữa nam và nữ Dục vọng là sự ham muốn về vật chất
Như vậy, theo tác giả cuốn từ điển này, tính dục chỉ dừng lại ở quan hệ nhục dục, thể xác
Ngay từ những năm 1970, Ủy ban giáo dục và thông tin về tình dục ở Mỹ đã đưa
ra định nghĩa hiện đại về tính dục như sau2
: Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi
khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người và do đó tác động trở lại xã hội
Trang 23Vậy, như định nghĩa trên thì tình dục chỉ là một trong những yếu tố của tính dục
Đó là tình dục, yếu tố sinh học, tâm lí và văn hóa đời sống xã hội
Còn Tình theo Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Thị Huế (1998), Từ điển từ nguyên - giải
nghĩa, Nxb Dân tộc, thì có các ý sau: “lòng yêu giữa con người với con người” 3
; “lòng yêu trai gái” 4 ; “con người có bảy tình thể hiện ra tâm trạng, người xưa gọi là bảy tình: thương, ghét, vui, yêu, giận, muốn, sợ” 5
Với cách hiểu như vậy, tình bao gồm tất cả các
trạng thái cảm xúc chứ không riêng gì cảm xúc trong tính dục
Tình dục ở con người trải quan nhiều giai đoạn, nhưng cơ bản có ba giai đoạn: giai đoạn cảm xúc tình cảm; giai đoạn cảm xúc từ xúc cảm và giai đoạn cực cảm – nhục dục
Tất cả những giai đoạn ấy gắn với quá trình sinh học – cơ chế tạo hoocmon khoái cảm ở hai thực thể khác giới Tất nhiên, trong một vài trường hợp cũng xẩy ra ở đồng giới
Theo Freud6 thì có hai dạng hành vi tình dục: thứ nhất là dạng hành vi tình dục bình thường – dạng này chỉ dừng lại ở xúc cảm tình cảm trước khi giao cấu hoặc dạng hành vi gây cực cảm nhục dục bằng hoạt động giao cấu nhưng lại chịu sự chi phối của đạo đức cộng đồng xã hội Thứ hai, dạng hành vi tính dục sa đọa – cũng có các hoạt động như hành vi tình dục bình thường nhưng nó không chịu sự chi phối của ngoại cảnh, hay bất kì quy định nào về đạo đức cộng đồng Loại hành vi này thể hiện sự ẩn ức về bản năng rất cao
Sau quá trình phân tích kết quả nghiên cứu về tình dục trẻ em, Freud đã đi đến kết
luận: ở trẻ em cũng có ý thức tình dục Ông đưa ra khái niệm “mặc cảm Oedipe” về sự
thiên vị tình cảm của con trai dành cho mẹ Ông cũng kết luận rằng: “Lòng khát dục (libido) không phải tự nhiên mà hình thành, phải trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, chẳng giai đoạn nào giống giai đoạn nào y như những giai đoạn giúp một con ngài trở thành con bướm Chỗ rẽ của sự phát triển đó chính là lúc các khuynh hướng lẻ tẻ chịu lệ thuộc vào cơ quan sinh dục”7
Vậy kết luận ấy, Freud muốn nhấn mạnh tính dục là một quá trình chứ không phải
là sự ngẫu nhiên Do đó, những hành vi tính dục gắn liền với sự trưởng thành của con người và thuộc về con người
Theo Freud, nhân tính của con người được hình thành từ ba thành tố: Bản năng (id), ngã tính (ego) và siêu ngã tính (superego)
Bản năng (id) được tồn tại dưới hai dạng: vô thức và tiềm thức Nếu xét về bản năng tính dục, cái vô thức tình dục và tiềm thức tình dục không hoàn toàn là cơ chế sinh học mà nó chịu sự chi phối bởi các quan niệm về văn hóa xã hội Từ những rào cản ấy,
nó bị dồn nén và tạo ra hiện tượng ẩn ức tình dục Bản năng tính dục khi bị cái siêu ngã kìm chế sẽ dẫn tới những hành vi ngây ngô, bất thường như: nói lắp, nói vu vơ, hành động vô thức
Trang 24Tất nhiên, tình dục gắn liền với sức khỏe, khả năng, thu nhập, môi trường sống Cũng có một số nghiên cứu cho rằng nó còn phụ thuộc vào giai cấp Chúng tôi cho rằng, giai tầng chỉ là một yếu tố rất nhỏ có thể tác động tới tình dục
Nhà triết học Osho cũng đưa ra định nghĩa tình dục như sau: “Tình dục là điểm
khởi đầu cho mọi cuộc hành trình của tình yêu” 8
Còn “Nhục cảm là khả năng khêu gợi đòi hỏi về xác thịt ở người khác giới tính
(thường nói về nữ giới)” 9
Hay “Nhục dục là lòng ham muốn về xác thịt” 10
Cuốn Từ điển bách khoa y học Anh – Việt, Nxb Y học cũng định nghĩa từ sex như
sau: “1 The characteristics that differentiate males and females in most plans and animals 2 Motivation, both psychological and physiological, for behavior associated with procreation and erotic pleasure”11 (1 Giới tính mà các đặc tính phân biệt giống đực
và giống cái ở các loài thực vật và động vật 2 Động cơ giới tính: động cơ, tâm lí, sinh lí cho các hành vi liên quan đến sinh sản và tình dục)
Sexual activity: “The areas of importance are desire, arousal, orgasm, satisfaction, and pain”12
(Sự thích thú phụ thuộc vào những phần quan trọng như: ham muốn, kích thích, sự cực khoái, sự thỏa mãn và đau đớn)
Sexual health: “The World Health Organization has defined three elements of sexual health: a capacity to enjoy and control sexual behavior in accordance with a social and personal ethic; freedom from fear, shame, guilt, false beliefes, and other psychological factors inhibiting sexual response and impairing sexual relationships; and freedom from organic disorder, disease, and deficiencies that interfere with sexual and reproductive functions”13
(Tổ chức Y tế thế giới đã xác định ba yếu tố của sức khỏe giới tính: Khả năng thích thú và kiểm soát hành vi giới tính phù hợp với đạo đức cá nhân và
xã hội; không bị sự sợ hãi, xấu hổ, tội lỗi, niềm tin giả tạo và các nhân tố sinh lí khác kìm hãm phản ứng giới tính và làm giảm quan hệ tình dục; và và không bị các rối loạn tổ chức, bệnh tật và khiếm khuyết cản trở các hoạt động tình dục)
Dưới đây, chúng tôi xin nêu thêm một số định nghĩa liên quan đến tính dục:
Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách (1999), Từ điển Phật học, Nxb Thuận Hóa
Định nghĩa về từ “Dục” như sau: “là sự tham ái một đối tượng thuộc về giác quan và sự thỏa mãn với đối tượng đó”14; Có năm thứ dục dựa trên năm giác quan là “sự tham ái về sắc, về âm thanh, về hương, về mùi vị, về thân thể”15
Phạm Minh Hạc (2013), Từ điển Bách khoa Tâm lí học – Giáo dục học Việt Nam,
Nxb Giáo Dục Việt Nam nêu thêm định nghĩa ác dâm “hành vi tính dục, sử dụng sức mạnh để uy hiếp, hoặc cưỡng bức người khác nhằm thỏa mãn ham muốn nhục thể Những kẻ ác dâm không hề tính đến những hậu quả nặng nề về tâm thần, thể chất và
Trang 25những vết thương lòng để lại trong suốt cuộc đời người bị hại”16 “Cái nó – một trong ba tiểu cấu trúc của cấu trúc nhân cách mà S Freud đã nêu”17; “Sự hiện hữu của cái nó nhằm một mục đích duy nhất là thỏa mãn những nhu cầu bẩm sinh của con người Cái nó được
S Freud đồng nhất với vô thức tính dục, hoặc ngấm ngầm ẩn dấu hoặc công khai bộc lộ,
có vai trò quyết định từ những bản năng liên quan đến sự sống, cái chết, quyền lực, sự phá phách… cho đến những sáng tạo và thăng hoa trong văn học, nghệ thuật, khoa học và chính trị”18
Sidmund Freud (1970), Phân tâm học về tình dục, Thụ Nhân dịch, Nhị Nùng xuất
bản: “Ta nên nhớ bản năng tính dục là bẩm sinh Cũng nên phân biệt tình dục với sinh dục Sinh dục phát triển tới tuổi dậy thì sẽ trở thành khát khao về nhục dục chính hiệu, và
vô thức”19
“Tính dục thì mơ hồ, vô thức, tự động xuất hiện khi có hai phái đối diện Cũng nên nhớ CÁI ĐÓ có tính chất phi đạo đức CÁI ĐÓ có những thúc đẩy bản năng cũng tự nhiên xuất phát như ước ao được ăn, được uống khi đói, khi khát”20 “Không nên lẫn lộn tình dục với sinh dục Bản năng tình dục không thể nào đồng hóa với ước ao làm tình Cũng như bất cứ bản năng nào khác, bản năng tính dục là bẩm sinh”21
Như trình bày trên, có rất nhiều định nghĩa về tính dục và những yếu tố, hành vi liên quan tới tính dục Tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa này đều khẳng định tính dục là hành vi tính giao nhằm thỏa mãn nhu cầu tự nhiên về nhục thể của con người Chúng tôi sau khi khảo sát các tác phẩm văn học trung đại, và các định nghĩa về tính dục trên, xin tạm đưa ra định nghĩa như sau: Tính dục là một hoạt động tự nhiên của con người, mang tính bản năng Những hành vi ấy nhằm thỏa mãn các giác quan và nhu cầu giải tỏa ức chế tâm lí Do vậy, tính dục không hoàn toàn là hành vi giao hoan Từ đấy, chúng chia tình dục làm hai loại: một là để giải tỏa sinh lí – như là một cơ chế sinh học; một là để giải tỏa uẩn ức tâm lí Giải tỏa như là một giải pháp chứng minh cho sự tồn tại của mình trên cõi đời; hoặc cũng có thể để quên đời Tất nhiên, đôi khi lại là sự mỉa mai những hành vi có thể dẫn đến tình dục
1.1.2 Tính dục trong văn học nghệ thuật và tín ngưỡng
Tính dục, nếu ta xét đến tận cùng ý nghĩa thì nó là nguồn cội của sự sống, là hoạt
động tất yếu để duy trì giống nòi Do đó, khi là nội dung của văn học – một hình thái ý thức xã hội, nó không chỉ là một biểu hiện của sự thăng hoa nghệ thuật mà còn là việc miêu tả hoạt động tính giao để duy trì giống nòi Và dù ở góc độ nào, “tính dục” cũng là một biểu tượng nhân văn Nó là một biểu tượng của tình yêu, của cảm xúc, của niềm khát khao muốn được giao hòa với cuộc sống Thế nên, khi đánh giá “tính dục” trong văn học nghệ thuật mà chỉ dừng lại ở tính luyến ái, đậm màu sắc
Trang 26nhục dục thì thật chưa nhìn nhận một cách toàn vẹn giá trị thẩm mĩ mà nó đem lại
Trong văn học cổ đại phương Tây, mà tiêu biểu là thần thoại Hi Lạp, ta thấy chằng chịt những hình ảnh “tính dục”, những biểu hiện “tính dục”, những hành vi “tính dục” Các vị thần trên đỉnh Olimpe thường xuyên thể hiện nhu cầu tính dục rất lớn Ví dụ như thần Zues thường xuyên trốn xuống hạ giới để ghạ gẫm những cô gái đẹp, hoặc cũng
có khi cưỡng đoạt những người phụ nữ mà mình thích (Zues hóa thân thành con thiên
nga để quyến rũ nữ hoàng Leda (Sparta), Bức tranh của Michelangelo, thế kỉ 16)
Những hành vi ấy hẳn không phải vì duy trì nòi giống mà nhằm thỏa mãn dục tính về giới Đặc biệt, trong thần thoại Hi - La, phải kể đến mối tình của Cupid và Psyche Cupid thần tình yêu và Psyche nghĩa là tâm hồn Thần Capid theo lệnh của mẹ (nữ thần Venus) xuống trần gian và đem những điều tồi tệ nhất đến cho Psyche Nhưng trước vẻ đẹp của Psyche, Cupid đã đem lòng yêu để rồi tạo nên một thiên tình sử tuyệt đẹp, gợi ra biết bao cảm hứng sáng tạo nghệ thuật cho thời đại Phục hưng sau này
Hay như hai thiên sử thi Odise và Iliad của Home cũng đều phảng phất vấn đề tính
dục khi viết về cuộc tranh chấp những người đẹp của các vị thủ lĩnh Điển hình trong
Iliad, Agamemnong đã cướp cô gái – là phần thưởng của Asin Và cũng vì cô gái này, mà
Asin đã không phục vụ cho quân đội của Agamemnong nữa Còn trong Odise, Ulixo đã
bị nữ thần đảo Capoli giam giữ với ý định muốn biến chàng thành chồng; hay như cuộc chiến của bọn cầu hôn khi không chỉ muốn chiếm gia tài của Ulixo mà còn muốn chiếm luôn cả vợ của Ulixo Như vậy, tính dục trong các câu chuyện trên không đơn thuần là việc miêu tả nhu cầu dục tính, mà nó còn gắn liền với đời sống tinh thần của các vị anh hùng, các vị thần Tức là, ngoài sắc thái tự nhiên nó còn mang yếu tố tinh thần, yếu tố xã hội
Vào thời kì Phục Hưng, Phương Tây nổ ra các phong trào đấu tranh dân chủ Rồi tiếp các thế kỉ sau, quyền tự do của con người ngày càng được đề cao Các phong trào nhân văn được điều kiện phát triển, hướng tới giải phóng con người một cách toàn diện, tức cả về mặt thể xác lẫn tinh thần Do đó, “tính dục” như là một nhu cầu tự nhiên, được giải phóng khỏi chủ nghĩa khổ hạnh, chủ nghĩa diệt dục Hàng loạt những tác phẩm nghệ thuật ra đời nhằm mô tả vẻ đẹp thân thể con người, về sự lãng mạn trong tình yêu, về sự hạnh phúc khi được thỏa mãn ái ân Đó là những bức tượng khỏa thân, hay những bức tranh đầy nhục cảm Cùng với đó, trong các tác phẩm văn học cũng ngập tràn nhưng chuyện yêu đương, ân ái, thậm chí là “trác tán” ở sáng tác của các tác giả theo chủ nghĩa
tự nhiên
Ở phương Đông, từ xưa người ta đã biết đến hai bộ sách nổi tiếng nói về nghệ
thuật chăn gối là Tố nữ kinh và Kamasutra
Kama Sutra22 (tiếng Phạn là Kāmasūtra) là một cuốn sách Ấn Độ cổ, biên khảo về
tình dục được viết bằng tiếng Phạn, được cho là do thiền sư Balamon, Mallanaga Watsyayana ở Ấn Độ, vào thế kỷ thứ III Theo tiếng Phạn, “Kamadeva” là tên của vị thần tình yêu thể xác (tương tự thần Eros hay Cupid của Hy Lạp) và "Sutra" có nghĩa là
“kinh” hoặc “châm ngôn” Kama Sutra được hiểu là Kinh hoan lạc hoặc là những luận
22
https://vi.wikipedia.org/wiki/Kama_Sutra , truy cập ngày 15 tháng 10 ngăm 2015
Trang 27bàn về tình yêu thể xác Tác phẩm gồm 7 phần, với khoảng 1.250 khổ thơ có thể tóm lược
một số phần như sau:
Phần 1 gồm 13 chương Chương 1: Lời bàn về ba điều cần thiết cho hạnh phúc ở đời: đức hạnh, của cải và lạc thú Chương 2: Nghiên cứu về sáu mươi bốn nghệ thuật Chương 3: Đời sống của một công dân: nhà cửa, công việc, tiêu khiển, bằng hữu Chương 4: Những phụ nữ không được phép giao hoan: bạn gái, người làm mai Chương 5: Ôm ấp, mơn trớn Chương 6: Nụ hôn Chương 7: Về các vết cào cấu gây ra bởi móng tay Chương 8: Cắn và các kỹ thuật khác Chương 9: Tư thế giao hoan Chương 10: Bạo dâm Chương 11: Nữ đóng vai trò chủ động Chương 12: Người ái nam ái nữ, giao hoan bằng miệng Chương 13: Cách khởi đầu và kết thúc một cuộc giao hoan
Phần 2 gồm 5 chương Chương 1: Bàn về sự hứa hôn và kết hôn Chương 2: Chinh phục lòng tin của một trinh nữ Chương 3: Tỏ tình, tìm hiểu tình cảm của đối phương Chương 4: Đàn ông muốn bảo vệ lứa đôi, phụ nữ muốn chi phối và kiểm soát đàn ông Chương 5: Các hình thức hôn nhân
Phần 3 gồm 2 chương Chương 1: Nếp sống của người đàn bà đức hạnh, các xử sự khi vắng chồng _ Chương 2: Các luật lệ trong mối liên hệ vợ chồng
Phần 4 gồm 5 chương Chương 1: Đặc tính của phái nam và phái nữ Chương 2: Cách giao tiếp và những yếu tố cấn thiết để chinh phục phụ nữ Chương 3: Nhận xét phụ
nữ Chương 4: Nhiệm vụ người làm mai Chương 5: Tình yêu của kẻ dan díu với vợ người khác
Phần 5 gồm 7 chương Chương 1: Những bước thăm dò Chương 2: Hôn lễ tạm thời của các nàng chiêu đãi Chương 3: Gái chiêu đãi, sống như vợ một người đàn ông Chương 4: Những mánh khóe moi tiền của gái chiêu đãi Chương 5: Tái hợp với người tình cũ Chương 6: Những điều lợi Chương 7: Lợi lộc, mất mát, nghi ngờ, các loại gái làng chơi và chiêu đãi
Phần 6 gồm 2 chương Chương 1: Những cách hấp dẫn người khác phái, những cách làm tăng khả năng làm tình Chương 2: Phương pháp kích thích dục tình người phụ
nữ, kỹ thuật tăng kích thước dương vật
Phần 7 là kết luận
Như vậy, khi tổng hợp, bàn luận về những vấn đề về đời sống của đôi bạn tình như miêu tả các tư thế giao hợp hay đề cập đến các thủ thuật làm cho bạn tình thỏa mãn, Vatsyayana không dừng lại ở việc nêu hay thống kê mà đã biến nó thành một tác phẩm nghệ thuật thực sự, thành một cuốn sách tham khảo hữu ích cho đời đời sống “thầm kín” của con người
Lẽ chăng, tác phẩm này là minh chứng cho quan niệm của người Ấn độ về vấn đề tính dục: “Sự sinh sôi nảy nở trong trời đất là do sự phối hợp giữa giống đực (Purusha) và giống cái (Prakriti) Hai giống ấy có khắp nơi luôn luôn tìm gặp nhau theo ý muốn tự nhiên, nghĩa của Kama là như vậy”23
Còn khi nói cầu mong thỏa nguyện luyến ái, thì người Ấn Độ thường gọi thần Kama: “Hỡi Kama ! Thần có chiếc tên nhằm trúng đích
23
Lưu Đức Trung (1999), Văn học Ấn Độ, Nxb Giáo dục, tr 36, 37
Trang 28Cánh tên là sầu muộn, lòng tên là mong mỏi, mũi tên là dục tình, mong thần đến xuyên qua trái tim con người”24
Ngoài ra, ở Ấn độ, trong hai bộ sử thi Ramayana và Mahabrahata, ta bắt gặp
không ít những đoạn văn miêu tả, kể lại những hành động mang sắc thái tính dục Ở đó
có thể là hoạt động giao hoan để thỏa mãn nhu cầu xác thịt, cũng có thể là nhằm mục đích sinh sôi, duy trì nòi giống; hoặc cũng có thể xem nó như là một phương thức nhằm khẳng định sức mạnh chiếm hữu
Tố nữ kinh là một tác phẩm cổ điển của Trung Quốc, ra đời cách đây gần 2000
năm, tương truyền là do một cung nữ tên Tố Nữ viết Nội dung là những câu trả lời của
Tố Nữ trước những thắc mắc của Hoàng Đế về những chuyện phòng the Do đó, sách
được trình bày theo lối đối thoại Khác với Kamasutra, Tố nữ kinh không chỉ tập trung
vào kĩ thuật làm tình mà còn chú ý nhiều đến những yếu tố liên quan đến việc làm tình, đặc biệt là sức khỏe tình dục Trước hết, nghệ thuật chăn gối được thể hiện thông qua triết lí âm dương Tức là, việc phòng the phải có sự hòa hợp dựa trên quy luật tương sinh tương khắc Nếu cả nam và nữ hài hòa thì cùng phát triển, nếu không hài hòa thì dẫn đến những tổn hại khó lường Thứ hai, là việc tăng cường sinh lực thông qua hoạt động tình dục Vì dựa trên triết lí âm dương, do đó có thể bổ sung khí âm hoặc khí dương thông qua hoạt động giao hoan Khi con người giữ được trạng thái cân bằng sẽ khỏe mạnh, sống lâu; bằng không sẽ suy yếu thậm chí dẫn đến tử vong Thứ ba, là trình bày các phương pháp làm cho đối tác hứng tình nhất, và các tư thế khi giao hoan Cuối cùng, là các cách luyện khí công thông qua hoạt động hít thở nhằm nâng cao khả năng tình dục
Như vậy, tác phẩm này không chỉ đơn thuần là thuật lại các hình thế chăn gối mà còn là một tác phẩm nghệ thuật dựa trên cơ sở khoa học, triết học và y hoc
Sau Tố Nữ kinh phải kể đến Nhục bồ đoàn viết khoảng thế kỉ thứ XIV Triết lí của
truyện chủ yếu nhấn mạnh đến hiện tượng con người chỉ biết trông xa mà không biết nhìn gần Tuy nhiên, tác phẩm này lại đậm chất nhục thể Nội dung kể về nhân vật chính là Bán Dạ Sinh – một người trẻ tuổi mê lạc thú Dạ Sinh đã đi khắp đây đó, tìm kiếm người đẹp; trải qua rất nhiều cuộc tình để thỏa mãn nhu câu cá nhân nhưng lại quên mất nhu cầu tình dục của vợ Nên những người vợ của Dạ Sinh đều vì tình dục mà trốn theo trai Buồn rầu, Dạ Sinh lại đi tìm những người giỏi chuyện chăn gối để hành sự Sau tìm đến người giỏi nhất, lại chính là vợ mình
Tiếp sau Nhục bồ đoàn là Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, ra đời vào khoảng thế
kỉ thứ XVII Đây là tập truyện ngắn được tác giả sưu tầm từ những câu chuyện dân gian Truyện chủ yếu lấy yếu tố hoang đường để nói về hiện thực Trong đó các nhân vật như thần tiên, yêu ma quỷ quái, hồ li, hổ báo, mộc tinh, trùng tinh… là hiện thân của các kiểu người, loại người trong xã hội đương thời Nội dung truyện tập trung vào những vấn đề chính như: phơi bày bản chất tham tàn của bọn thống trị mà đại diện là những bọn quan lại, cường hào; Phê phán chế độ khoa cử, hiện tượng mua danh bán tước; Thể hiện ước
mơ quyền được tự do trong tình yêu trai gái Tác phẩm này không miêu tả trực tiếp những hành động tình dục mà chủ yếu miêu tả những yếu tố tạo nên xúc cảm tính dục Trong đó, chủ yếu miêu tả vẻ đẹp trinh nguyên, gợi cảm của các thiếu nữ
24
Lưu Đức Trung (1999), Tlđd, Nxb Giáo dục, tr 36, 37
Trang 29Cùng với các khuynh hướng nhân văn trong văn học Phương Tây, văn học Phương Đông cũng có sự chuyển mình mạnh mẽ khi hướng tới những đề tài, nội dung gắn liền với con người cá nhân Trong đó, nhu cầu được tự do luyến ái được đặc biệt chú ý Tất nhiên, trong chừng mực nhất định, do sự hà khắc của đạo đức phong kiến, nhu cầu ấy phần nhiều chỉ được miêu tả một cách gián tiếp hoặc được phủ lên mình “chiếc áo hoang
đường, ma quái” Như đã trình bày, Nhục bồ đoàn không chỉ là tác phẩm phản ánh triết lí của nhà Phật, mà rất đậm chất tự nhiên chủ nghĩa, rất thế tục, đời thường Liêu trai chí dị
thông qua những câu chuyện yêu ma mà phản ánh nhu cầu tự do luyến ái
Bên cạnh những tác phẩm có nội dung tính dục trong văn học Trung Quốc, Ấn Độ,
ta còn phải kể đến những tác phẩm của văn học Nhật Bản, mà tiêu biểu nhất có lẽ là
Truyện kể Genji, một trường thiên tiểu thuyết 54 chương của Murasaki Shikibu, viết
khoảng đầu thế kỉ XI, dưới thời đại Heian Tác phẩm có hai phần, xoay quanh cuộc đời của những hoàng thân đắm chìm trong tình yêu Phần thứ nhất viết về các mối tình của hoàng tử Genji Năm 12 tuổi, Genji lấy Aoi, con gái tể tướng Đây là người tình đầu tiên của Genji Người thứ hai là Fujitsubo, người thiếp của vua cha Người thứ ba là Utsusemi, vợ của một viên quan cấp tỉnh Người thứ tư là Yugao, người tình của người bạn Người thứ năm là Murasaki Người thứ sáu là Akashi, con gái một vị tu sĩ Người thứ bảy là San-no-miya (Onnasan), con gái của cựu hoàng nhờ Genji bảo vệ và nuôi dưỡng Ngoài những mối tình sâu sắc với những cô gái trên, Genji còn tư tình với vô số những cô gái khác như: “Sue-tsumu-hona, cô gái hay ngượng ngùng và khiêm nhường,
có chút nhược điểm về ngoại hình; Genji-no-naishi, người đàn bà quý phái đã cao tuổi có cặp lông mày trắng thôi miên người khác phái; Hanna-chiru-haso, một phụ nữ trầm tính, thiếu say đắm nhưng lại dễ chịu như một người bạn gái”25 v.v
Phần thứ hai, viết về các cuộc tình của Kaoru con của Genji nhưng thật ra là con của Kashiwaki – người tình của San-no-miya, hoàng tử Niou – cháu trai Genji, với rất nhiều cô gái trẻ Đặc biệt là mối tình tay ba giữa hai hoàng tử này với Ukifune
Cho đến nay, Chuyện kể Genji có nhiều luồng ý kiến trái chiều nhau Có ý kiến
cho rằng nó có tính giáo dục cao, thể hiện mối quan hệ nhân quả Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng, tác phẩm này chỉ thuần túy khiêu dâm, loạn luân Dù vậy, chuyện kể này
đã tạo ra những ảnh hưởng nhất định trong sáng tác của các nhà văn Nhật Bản đương đại Theo nhà nghiên cứu Nhật Chiêu, tiểu thuyết Genji monogatari, cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của văn học Nhật Bản thường được so sánh với tác phẩm Decameron (Mười ngày ) của Boccaccio – tác phẩm tràn ngập những yếu tố nhục thể, thì nhân vật Genji lại được xem là một “Don Juan Japonais ”26
Ở Việt Nam ta, từ thời xa xưa, yếu tố tính dục cũng đã được thể hiện trong những
câu hát dân gian, những truyện kể dân gian Truyện Sự tích Đầm Dạ Trạch (Tiên Dung –
Chữ Đồng Tử) với chi tiết về tình huống gặp gỡ, hòa hợp giữa hai con người thuộc hai giai tầng khác nhau đã cho thấy giá trị của “tính dục” Hay như dấu vết về những người anh hùng, những chàng trai khôi ngô tuấn tú được sinh ra từ các cuộc “ngoại hôn” qua các biểu tượng “ướm chân”, “uống nước dừa”, “ngôi sao sa vào bụng”, “con trăn lớn
25
https://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%87n_k%E1%BB%83_Genji , truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2015
26 Nhật Chiêu (2001), Văn học Nhật Bản từ khởi thuỷ đến 1868, Nxb Giáo dục, tr.122
Trang 30trườn qua bụng”… đã thể hiện rất rõ những mặc cảm tội lỗi về việc có con ngoài hôn thú, hoặc giả muốn tạo nên sự huyền bí, siêu linh về nguồn gốc cho “nhưng đứa con hoang” Tiến thêm một bước nữa, yếu tố tính dục được thể hiện mạnh bạo hơn trong ca dao, hay những câu đố dân gian Đã có nhận xét cho rằng: “Nếu ta để ý thì trong một trăm câu chuyện tiếu lâm có tới 80 truyện bắt nguồn từ tính dục Dù là ý nhị hay tục tĩu, thì cái ý chính vẫn y cựu Ngoài ra còn có những câu đố mệnh danh là đố tục giảng thanh có rất nhiều trong văn chương bình dân Việt Nam Thí dụ: Hai tay bưng lấy khư khư, miệng thì bảo dạ càng ư đút vào, đút vào nó sướng làm sao, dập lên dập xuống nó trào nước ra Đố
là cái gì?, Đáp: ăn mía Hoặc như: Hai chân song song, hai bọng ấp nhau, nhảu nhau nhau
dí một cái, đố là cái gì? Đáp: cái kéo”27
Ngoài ra chúng tôi còn sưu tầm được hàng hàng loạt những câu đố như:
Khi xưa em trắng như ngà,
Vì chàng quân tử em đà hóa thâm
Trách chàng quân tử vô tâm,
Chàng đánh chàng đập, chàng còn nằm với tôi Đáp: cái chiếu cói
- Hai tay nắm lấy hai tay,
Trèo lên cái bụng, hai chân chòi chòi Đáp: Đạp xe
- Một người nằm một người ngồi
Đút vào sướng lắm em ơi
Rút ra đánh choạch, miệng cười toét tòe loe Đáp: cho con bú
Mình tròn trùng trục, đầu toét tòe loe
Đút vào con gái, con gái nghe
Đút vào bà lão, bà lão lắc Đáp: Đôi hoa tai
Hay một số câu tục ngữ như:
- Nạ dòng lấy được trai tơ, đêm nằm mê mẩn như mơ được vàng
- Gái hơi trai như thài lai hơi cứt chó
- Trai phải hơi vợ như cò bợ phải trời mưa
Hoặc một số bài ca dao như:
Lấy chồng từ thuở mười lăm,
Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi
Đến năm mười tám, đôi mươi,
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương,
Có bốn chân giường, gãy một còn ba
Đêm qua anh nằm nhà ngoài,
Để em thở ngắn than dài nhà trong
Ước gì anh được vô phòng,
Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan
- Tham giàu em lấy thằng bé tỉ tì ti,
Làng trên xóm dưới thiếu gì trai tơ,
Em đem thân cho thằng bé nó giày vò,
27
Sidmund Freud (1970), Phân tâm học về tình dục, Thụ Nhân dịch, Nhị Nùng xuất bản, tr 184
Trang 31Mùa đông tháng giá nó nằm co trong lòng
Cũng đa mang là gái có chồng,
Chín đêm chực tiết, nằm không cả mười
Nói ra sợ chị em cười,
Má hồng bỏ quá, thiệt đời xuân xanh,
Em cũng liều mình vì thằng bé trẻ ranh,
Đêm nằm sờ mó quẩn quanh cho đỡ buồn
Buồn mình, em lại bế thằng bé nó lên,
Nó còn bé mọn đã nên cơm cháo gì
Nó ngủ nó ngáy tì tì,
Một giấc đến sáng còn gì là xuân
Chị em ơi! Hoa nở mấy lần
Một tay gõ mõ, gõ chuông,
Một tay bóp vú cô nàng nghe kinh
Gái đâu có gái lạ đời
Chỉ trừ có một ông trời không chim
Đến thời phong kiến, xã hội Việt Nam hướng theo những quy định khắt khe của giai cấp thống trị Cuộc sống của con người bị gò bó vào những khuôn khổ đạo đức Nho giáo Nhu cầu tình cảm cá nhân bị trách nhiệm cộng đồng đè nén đến mức ngột ngạt Tuy nhiên, ta thấy một nghịch lí rằng, những quy định tưởng như rất “thánh hiền” ấy lại quá
dễ dãi đối với lớp người tự xưng là “trượng phu” Dường như việc lập thê thiếp, hay chơi bời “trăng gió, mây mưa” của các “đấng” lại ít bị phê phán Thậm chí, xem đó như việc bình thường trong xã hội Trong khi đó, việc chung đụng “gối chăn” của các “thục nữ” được xem là những việc rất nghiêm trọng Nó được quy định rất chặt chẽ Và đôi khi, với cách nhìn thái quá, nó bị xem như một hành vi không hay ho cho lắm Cũng theo đó, người phụ nữ với hành vi ấy thường bị xã hội coi khinh, xa lánh “Trong tất cả các thứ tình, thứ dục thì Nho giáo sợ nhất là sắc đẹp đàn bà và tình yêu Đó là thứ tình mạnh nhất, thứ dục thiết tha nhất, thứ đam mê da diết, dai dẳng, bất trị nhất Cho nên đối với tình yêu, các nhà nho tỏ ra có nhiều nghi ngại, đặt ra nhiều lễ tiết, lo nghĩ, phòng phạm rất cẩn thận”28 Chính quan niệm này, mà trong cả ngàn năm phong kiến, văn học Việt Nam gần như không đả động trực tiếp đến vấn đề tính dục Hoặc giả nếu có thì cũng là phần
“backround” được phản ánh qua những chi tiết hoang đường, kì quái, yêu ma
Ví như trong Truyển Kì mạn lục của Nguyễn Dữ, hầu hết các yếu tố liên quan đến
tính dục đều liên quan đến yêu ma; những lời văn nói đến tính dục chỉ là “lời nhắc”, chứ không mấy khi miêu tả Đặc biệt, đối tượng khơi gợi nhu cầu tính dục lại thường là nữ
Điều đặc biệt này, ta cũng thấy ở các tác phẩm như Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn Như vậy, có thể đưa ra hai nhận định, thứ
nhất là trong văn học trung đại Việt Nam, các nhà văn, nhà thơ khá ngần ngại khi đề cập đến vấn đề tính dục; thứ hai là vấn đề tính dục đã được ít nhiều phản ánh trong các tác phẩm văn học thời kì này Nó không chỉ biểu hiện của nội dung nghệ thuật, mà còn là biểu hiện của nhu cầu cuộc sống – không thể che phủ bằng bất kì lớp vỏ đạo đức nào Và,
28
Trần Đình Hượu (1998), Nho giáo và văn học Trung cận đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr.172
Trang 32cũng chính là một nhu cầu tự nhiên, tính dục đã được Hồ Xuân Hương đưa vào thơ Nôm một cách tinh tế với những biểu tượng ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa
Sang thế kỉ XX, ý thức hệ tư tưởng thay đổi Sự kết giao văn hóa Đông Tây ngày một khăng khít Những sự cởi mở về quan niệm sống và ý thức dân chủ ở Phương Tây ồ
ạt tràn vào xã hội Phương Đông đã tạo ra làn sóng mới phá vỡ những bờ ngăn mà xã hội phong kiến dựng lên kiên cố cả ngàn năm nhằm hạn chế bản năng, quyền sống của con người Trong xu hướng ấy, nội dung tính dục được các nhà văn không ngần ngại đưa vào tác phẩm của mình
Ở Việt Nam, khi trào lưu văn học lãng mạn định hình, phong trào thơ mới nở rộ ở những năm 30 của thế kỉ XX thì chuyện ái tình được đặc biệt chú ý Không chỉ có vậy, ái tình nhục dục còn thâm nhập cả vào nội dung tác phẩm của các tác giả theo khuynh hướng hiện thực Ví dụ, như Nam Cao, ít ai nghĩ rằng ông lại để yếu tố tính dục tác động
nhiều đến tác phẩm của mình đến thế Điển hình là tác phẩm Chí Phèo Vì tính dục, mà
một kẻ khôn ngoan như Bá Kiến cũng trở nên mất bình tĩnh, hậm hực Vì tính dục mà một kẻ bần cùng, lưu manh như Chí Phèo lại lạc quan làm ăn, trở nên thánh thiện
Cho đến thế kỉ XXI này, vấn đề tính dục dù vẫn còn khá nhạy cảm trước phản ứng của ý thức bảo tồn những giá trị truyền thống thì vẫn được các tác giả văn học, đặc biệt là những nhà văn trẻ không ngại ngần đưa vào tác phẩm của mình như là một giải pháp cho những bế tắc về mặt đề tài cũng như sự sáng tạo các thủ pháp nghệ thuật
Tất cả những điều đó chứng tỏ, tính dục tồn tại ở bất kì thời gian, không gian nào; bất kể giai tầng, đẳng cấp Và, nó luôn khẳng định được giá trị nhân văn, vị trí vững chắc trong các tác phẩm văn học dù phải chịu không ít “hòn chông mũi đạn” của định kiến
Trong các loại hình nghệ thuật khác và tín
ngưỡng
Như chúng tôi đã trình bày, tính dục cũng như các
hoạt động tất yếu trong đời sống của con người, vì vậy nó
không chỉ là đề tài, nội dung của riêng văn học mà còn là
đề tài chung của các loại hình nghệ thuật khác
Ngay từ xa xưa, tính dục được thể hiện rõ trong các
điệu múa Đó là việc các vũ công khi trình diễn phải phô
bày cho hết được các đường cong gợi cảm nhất trên cơ thể
của mình Ngày nay, dấu tích của nó thể hiện rõ nhất trong
điệu múa bụng của các dân tộc Tây Á, và ở các bức tượng
về vũ công ở các nước Đông Nam Á (Hình ảnh: tượng Vũ
nữ Trà Kiệu ở Thánh địa Mỹ Sơn, Quảng Nam)
Cùng với văn học, hội họa và điêu khắc là bộ môn
nghệ thuật chú ý đặc biệt đến tính dục Không khó để ta bắt gặp các bức tranh, bức trạm sinh thực khí nam, nữ của các nghệ sĩ ở khắp nơi trên thế giới
Sở dĩ, tính dục gắn chặt với hai loại hình nghệ thuật này đến thế là bởi đó là kết
quả tất yếu của con người về quan niệm nhân sinh và vũ trụ Trong cuốn Quan hệ giới
Trang 33tính trong các nền văn hóa 29 , Zl Starowicz đã khái quát tình dục trong các nền văn hóa
khác nhau từ các nước Châu Phi, Nam Mỹ đến các nước thuộc khu vực Lưỡng Hà, rồi
Ấn Độ và Trung Quốc Tác giả đã chỉ ra rằng, tính dục là một hoạt động mang tính đa dạng nhưng đều thống nhất ở việc gắn liền với các tập quán, và nó được biểu hiện qua các tác phẩm nghệ thuật
Ví dụ như ở đền thờ Khajuraho tại Ấn Độ, trên các bức tường và cột đền trạm trổ rất nhiều những bức tượng, trong đó có không ít những bức trạm mô tả tư thế quan hệ
tính giao Theo các nhà nghiên cứu 30 , cảnh ở đây
không hề tục tĩu mà mang đậm một màu sắc tín
ngưỡng, liên hệ tới quan niệm phồn thực trong
thế giới quan của người Ấn Độ (Ảnh: Charukesi
Ramadurai)
Ở phương Tây, hội họa có tranh loã thể với
tác phẩm Les Desmoiselles d’Avignon của
Picasso, điêu khắc có tượng Nữ thần Tự do biểu
tượng của nền dân chủ Mỹ và sự giải phóng thiên
tính nữ, hay tượng Nữ thần tình yêu và sắc đẹp
Apherođit khỏa thân bằng cẩm thạch ở bảo tàng Luvere (Pháp)
Trong hang động, những tượng đá cổ sơ đào được ở miền Nam nước Pháp, và phía Bắc của Tây Ban Nha là những người đàn bà mặt mũi không rõ nét nhưng mông, vú, âm vật thì rất to Đây là dấu tích về sự đề cao khả năng sinh sản – vì mắn đẻ mà các nàng vệ
nữ thời ấy được tôn sùng
Ở phương Đông, các loại hình nghệ thuật cũng gắn liền với tín ngưỡng phồn thực, trước hết biểu hiện ở tục thờ sinh thực khí, biểu tượng của năng lượng thiêng sinh ra muôn loài Ở Ấn Độ, Nê Pan, trong nghệ thuật của họ và của các dân tộc (dân tộc Chăm – Việt Nam) chịu ảnh hưởng tục thờ Linga - Yoni rất phổ biến Ở các ngôi đền Ấn giáo, Phật Mật Tông, trên mặt tiền, dưới chân cột hoặc nội điện đầy các tượng thần nam và nữ đang ở trạng thái hoan lạc Cụ thể, người dân Ấn Độ có tục tôn thờ tín ngưỡng thần Mẹ
và thờ cúng âm lực, coi âm vật (Yoni) là nguồn gốc của mọi sáng tạo Cạnh Yoni, họ thờ cúng dương vật (Linga) Hai thần đó được biểu hiện bằng một khối đá hoặc đất sét cứng hình trụ có chóp tròn hoặc tháp tròn đặt trên một cái bệ hình tam giác Họ cho rằng mọi
sự sinh sôi nảy nở trong trời đất, con người, súc vật ngày càng đông đúc, mùa màng cây cối tươi tốt đều do đực - cái hay âm - dương kết hợp với nhau Theo quan niệm dân gian, hoa sen Đức Phật cầm tay hay toà sen Phật ngồi là biểu tượng âm vật thể hiện sự an lành, thịnh vượng, sự sinh sôi nảy nở
Rồi các nền văn hoá cổ chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ như Thái Lan, Mianma, Campuchia, Inđonesia, hầu hết đều có các công trình kiến trúc mang tín ngưỡng tôn giáo ở Chăm đều có thờ Linga - Yoni Còn người Trung Hoa nâng các yếu tố đực – cái thành nguyên lý phổ quát âm - dương của vũ trụ
Trang 34Dễ thấy rằng, từ xa xưa, dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên thế giới đều có tục thờ sinh thực khí Ta không khó bắt gặp những dấu vết của tục thờ sinh thực khí trong các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn lưu lại trong các lễ hội sinh hoạt dân gian Thế nên, giữa cái tục và cái thiêng nó có khoảng cách rất mong manh Thậm chí, sự thật là, “cái tục” kia là cái thiêng khi nó trở thành một biểu tượng “thần thánh, ma quỷ” mang màu sắc huyễn hão, thần bí Do vậy, trong tín ngưỡng dân gian, lẽ chăng chưa
có khái niệm gọi là “cái tục”, mà nó chỉ đơn thuần là một biểu tượng của một kiểu loại tín ngưỡng
Tín ngưỡng trong văn hóa Việt chịu ảnh hưởng sâu sắc từ quan niệm âm dương trong các học thuyết phương Đông và được vận dụng chính thực tiễn lao động sản xuất vật chất và đời sống tinh thần Theo đó, người Việt dựa vào thuyết âm dương để nhìn nhận sinh thực khí cũng như hoạt động tính dục của con người Chính vì thế, khi nói đến chuyện “tính giao” người Việt tỏ thái độ khá thoải mái Cụ thể, những chuyện “Ấy” được người Việt đưa vào những truyện tiếu lâm khá nhiều Mà chuyện tiếu lâm tức là truyện để gây cười là chính Lẽ nào, người Việt lại lấy cái chuyện “Ấy” làm chuyện cười Hẳn không phải thế
Trong các tín ngưỡng dân gian của người Việt, sinh thực khí nam, nữ được xem như hai thực thể đại diện cho âm và dương Do đó, những hình ảnh về bộ phân sinh dục nam hoặc nữ, hoặc hành động tính giao sau này người ta cho là tục đấy lại rất gần gũi, quen thuộc, và như thế, trong dân gian khi nói đến chuyện “Ấy” không có gì là lạ Điều này sẽ không có gì đáng để bàn nhiều, nếu quan niệm về tín ngưỡng, đạo đức, lối sống trong xã hội không thay đổi Khi Nho giáo truyền vào nước ta, một bộ phận người Việt
mà chủ yếu là những người học sách vở Nho học để thi cử và hướng theo đạo “thánh hiền”, họ bắt đầu bài xích, xa lánh những tín ngưỡng dân gian có nội dung hay hình thức khác hoặc trái với điều ghi trong sách vở ấy Từ đó, dẫn tới bài xích luôn những hoạt động gắn với cái “Ấy”, chuyện “Ấy” cho dù nó đã gắn với đời sống tinh thần của cộng đồng từ ngàn năm trước Tất nhiên, sự bài xích kia dẫn tới sự xung đột giữa bản năng tự nhiên và quy định chung của xã hội Điều này đã làm cho con người sống hai mặt Một mặt, con người đạo đức luôn nói tới những chuẩn mực thanh cao Mặt khác, con người tự nhiên lại giải nén bằng cách lấy rất nhiều vợ (hiện tượng đa thê trong xã hội phong kiến) Cho nên cái chuyện tiếu lâm ấy, không phải là để mua vui mà nhằm phản ánh một sự thực về dấu vết tín ngưỡng dân gian trong đời sống người Việt
Tóm lại, tính dục được thể hiện dưới nhiều góc độ trong đời sống Nó hoặc hiện diện ở các di sản văn hóa vật thể ở một số cộng đồng người; hoặc ẩn chứa lưu lại dấu vết đằng sau những câu chuyện dân gian, hoặc các hoạt động văn hóa gắn với đời sống tinh thần của một dân tộc
Trong cái thiêng, cái tục ấy ẩn chứa quan niệm về nhân sinh của con người Đó
chính là quan niệm âm dương Trong cuốn Đạo đức kinh, Lão tử đã lấy cở sở từ quan hệ
hữu cơ của hai phạm trù âm dương để xây dựng “Đạo” của mình Theo như Lão tử, tất cả mọi vật sinh ra từ âm dương, rồi trong bản thân của mỗi vật cũng có âm dương Cho nên trong bản thân con người cũng có âm dương, mà để con người sinh ra được thì cũng do
âm dương giao hợp mà thành
Trang 35Do đó, tính dục không thể tách khỏi tín ngưỡng được Bởi các tín ngưỡng dân gian liên quan tới thờ sinh thực khí để có chung một mục đích là cầu cho vạn vật nảy nở tốt tươi, thuận lợi
Vậy cái tục và cái thiêng tách thành hai phạm trù riêng với tên gọi chỉ những đối tượng khác nhau có từ khi nào? Hẳn phải có một công trình công phu nghiên cứu vấn đề này Chúng tôi, trong giới hạn của đề tài chưa thể giải quyết rốt ráo được Tuy nhiên, qua khảo sát một số công trình nghiên cứu về tính dục, thì phần nhiều, các tác giả đều cho rằng khái niệm “cái tục”, “cái thiêng” xuất hiện khi con người đã thoát khỏi lối sống mê muội, sơ khai Tức khi con người đã phân biệt được những giá trị đạo đức mang “tính con người xã hội”, hơn là “tính con người tự nhiên” Tức là, khi trong xã hội đã có giáo dục, đã có lề, nếp để phân biệt tốt xấu, đúng sai, hoặc giả được điều chỉnh hành vi theo một hệ thống các quy chuẩn hành vi của một học thuyết đạo đức, chính trị hay triết học nào đấy Thế thì, hẳn “cái tục” chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp Ở Việt Nam
ta, có lẽ từ thời xã hội phong kiến, “cái tục” được sử dụng như một phạm trù để chỉ các đối tượng đối lập với cái cao nhã
Ở phương tây, ta thấy rất rõ yếu tố “tính dục” gắn liền với các tín ngưỡng dân gian thông qua những truyện thần thoại hay sử thi, truyền thuyết Ta không khó gặp hình ảnh những vị thần giao phối với các cô gái là người trần, hoặc các nữ thần ân ái với các nam nhân trần thế để rồi sau đó sinh ra các á thần Hoặc trong các buổi tế tự, thường vật tế là các trinh nữ xinh đẹp Hay như ở Hy Lạp, La Mã trong các buổi lễ Tửu thần, người ta
cúng Phallus –sinh thực khí nam
Ở phương Đông, như trình bày trên, Kamasutra là một tác phẩm kinh điển về vấn
đề tình dục nhưng lại được một thiền sư Balamon là Mallanaga Watsyayana ở Ấn Độ, viết vào thế kỷ thứ III Tác phẩm này là “kinh” của Kamadeva – một vị thần về thể xác Theo như nội dung tóm tắt trên thì tính dục là cả một quá trình có bắt đầu có kết thúc
Nó không chỉ dừng lại ở việc giao cấu để thỏa mãn nhu cầu xác thịt cho một phía mà nó
là sự thể nghiệm của không chỉ hai thể xác mà còn cả ở hai tâm hồn Cuốn sách này cũng nhấn mạnh theo tín ngưỡng Hindu giáo thì tính dục là một trong ba yếu tố quan trong cấu thành đời sống con người Cho nên, nếu thiếu nó, cuộc sống tinh thần của con người sẽ bị khiếm khuyết Tồi tệ hơn nữa là xã hội loài người sẽ biến mất Có thể thấy rằng, với đạo Hindu, tình dục chiếm một ví trí hết sức quan trọng Nó vừa mang yếu tố tự nhiên lại vừa mang tính chất thiêng liêng
Từ tác phẩm này, ta có thể thấy hàng loạt các tác phẩm điêu khắc tại các đền chùa
ở Ấn Độ vẽ những tư thế giao hợp Vậy là, tín ngưỡng và tính dục từ xa xưa đã gắn bó mật thiết với nhau
Ở đất nước “mặt trời mọc”, ngày nay vẫn còn lễ hội thờ sinh thực khí nam – Lễ hội phồn thực Shito Lễ hội này được tổ chức vào ngày Chủ nhật đầu tiên của tháng 4 hằng năm Lễ hội này còn có tên là Kanamara Matsuri hay “Lễ hội của dương vật thép” Theo truyền thuyết31, vào thời kỳ Edo (1603-1867), có một con quỷ yêu một cô gái nhưng không được chấp nhận Vào đêm tân hôn của cô gái, nó liền hóa thân chui vào bộ phân sinh dục của cô gái Khi chú rể giao hoan với cô gái, thì nó đã cắn đứt dương vật
31
http://danviet.vn/the-gioi/kham-pha-le-hoi-ruoc-cua-quy-khong-lo-o-nhat-ban-662237.html , truy cập 3/3/2016
Trang 36của chú rể Người chồng thứ hai của cô gái cũng bị con quỷ cắn mất dương vật Rất may, theo mưu kế của dân làng, một người thợ rèn đã chế ra một cái dương vật bằng thép để đưa giao hợp với cô gái Con quỷ không biết đó là “của giả” nên cắn phải, gãy hết răng
Từ đó nó phải rời khỏi bộ phân sinh dục của cô gái Để nhớ sự kiện này, người làng đã đưa “của quý” bằng thép vào đền Kanayama, nơi thờ Kanayama Hikonokami và Kanayama Himenokami – hai vị thần của sự sinh nở và sức khỏe
Ở Đông Nam Á, các nước làng giềng của Việt Nam ta như Campuchia, Mianma, Philippin, Lào đều có những lễ hội múa hát, tập tục cầu mưa như: Tục cầu mưa, Lễ cầu nước Mẹ, Tục té nước… đều có dáng dấp của yếu tố tính dục
Theo Giáo sư Chu Xuân Diên32
, trong các hình thức thực hành tín ngưỡng nông nghiệp của người Việt, thường gắn liền với nghi lễ phồn thực Tín ngưỡng và nghi lễ phồn thực của người việt rất đa dạng Trước hết là tục thờ sinh thực khí mà nhiều địa phương gọi là nõ nường, tục rước sinh thực khí diễn ra trong hội làng ở nhiều nơi
Cùng với tục thờ sinh thực khí là tục thờ các hành vi giao phối Từ thời Đông Sơn
đã có những chứng tích về ý nghĩa quan trọng của tục thờ hành vi giao phối như tượng bốn đôi nam nữ giao hợp trên thạp đồng Đào Thịnh Trong điệu múa Tùng dí ở hội Đền Hùng, hành vi mô phỏng cho sinh thực khí “dí” vào nhau là dấu vết của tín ngưỡng thờ hoạt động hành vi tính giao Hay như trong nghi thức hôn lễ của người Việt hiện nay ở một số nơi vẫn có tục giã cối đón dâu Ngoài ra, trong những trò chơi dân gian của người Việt còn có các hoạt động như đánh đu, ném còn, … như là hành vi tạo hứng tình
Tóm lại, trong văn học nghệ thuật từ cổ chí kim, từ đông tận tây, nội dung tính dục luôn được các tác giả lựa chọn như một đối tượng được thể hiện một cách thú vị Nội dung ấy có thể được miêu tả như là một nghệ thuật làm tình, nhưng cũng thể chỉ nhằm thể hiện một triết lí nhân sinh, hay là một cách thức để đấu tranh cho tự do hôn nhân và nhân bản của con người Còn trong tín ngưỡng, tính dục lại được nhìn nhận một cách đa chiều hơn Có khi nó là cái thiêng, có khi nó là cái tục; và dù ở vị thế nào, nó vẫn luôn hiện hữu qua các nghi thức, hành vi và lễ vật được trưng bày trong các hoạt động tín ngưỡng Điều đó khẳng định, trong tâm thức của mỗi dân tộc, vấn đề tính dục luôn được chú ý như là một di sản kí ức của những thế hệ khai thiên lập địa
1.2 Những vấn đề về thời đại và tác giả
1.2.1 Những vấn đề về thời đại, và tác giả Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều
Theo như phạm vi nghiên cứu của đề tài, các tác giả văn học mà chúng tôi chọn khảo sát trải dài từ thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XIX Trong khoảng thời gian bốn thế kỉ ấy,
xã hội Việt Nam nhìn từ thể chế chính trị gần như không có gì thay đổi nhưng khi soi vào từng khía cạnh của xã hội thì có không ít những vấn đề để chúng ta bàn lại, nhìn nhận và rút ra những bài học lịch sử quý giá Tất nhiên, để nhìn nhận được vấn đề của một giai đoạn lịch sử, chúng ta phải đặt nó trong sự phát triển chung của một dân tộc, một quốc gia, thậm chí là với cả xã hội loài người
32
Chu Xuân Diên (1999), Cơ sở văn hoá, ĐHQG TP HCM, tr.171 - 172
Trang 37Xã hội loài người trên hành trình hình thành văn minh luôn có những khoảnh khắc
bị “sập bẫy” thời đại Xã hội Việt Nam cũng vậy Hiển nhiên, trong cả ngàn năm tồn tại dưới hình thức thể chế quân chủ chuyên chế, xã hội Việt Nam mà cụ thể là con người sống trong thời đại ấy không thể hình dung được mình đang ở “vòng trôn” thứ mấy thuộc tầng bậc nào trong tiến trình phát triển của các hình thái xã hội Ngày nay, khi nhìn lại lịch sử xã hội Việt Nam, các học giả đều thừa nhận sự hạn chế của xã hội phong kiến như
là một rào cản kìm hãm sự phát triển của con người ở nhiều khía cạnh, đặc biệt là khía cạnh nhân quyền Dường như, vấn đề quyền sống như một con người thực sự ở cả hai mặt tự nhiên và xã hội rất ít được đề cập Tuy nhiên, cũng đã có, dù chỉ số rất ít những bậc “kì tài” thời ấy nhận ra điều này Và, dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng đã nêu lên vấn
đề “quyền con người”
Kể từ thời Bà Trưng, Bà Triệu cho đến Ngô Quyền, quá trình đấu tranh giành độc lập cho dân tộc có nhiều lúc đứt đoạn nhưng vẫn đến được cái đích cuối cùng - đó là khẳng định được “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” Từ đấy, nền tảng cơ bản riêng của người Việt dần quang lộ và được khẳng định qua các cuộc chiến đấu và chiến thắng giặc Tống, giặc Nguyên Mông, giặc Minh Quá trình bảo vệ đất nước, cũng là quá trình người Việt thay đổi cách nhìn nhận về khả năng và quyền con người Trong tác phẩm
“Đáp quốc vương Quốc tộ chi vấn”, thiền sư Pháp Thuận đã viết “Vô vi cư điên các”,
cái vô vi ấy không chỉ ở việc hành xử chính trị mà còn ở việc đối đãi công bằng với
người dưới Đến “Bạch Đằng giang phú”, Trương Hán Siêu viết tiếp: “Tín tri: Bất tại
quan hà chi hiểm hề, Duy tại ý đức chi mạc kinh” Với câu nói ấy, Trương Hán Siêu đã
thể hiện một cách nhìn nhận táo bạo về khả năng của con người, một tư duy vượt tầm thời đại, phá vỡ ý thức hệ phong kiến Nho giáo về học thuyết thiên mệnh Quan niệm
nhân sinh này ta cũng dễ dàng bắt gặp ở các truyện trong Việt Điện U linh của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp
Mặc dù có những cách nhìn nhận về con người, vũ trụ tiến bộ như trên nhưng các bậc “kì tài” vẫn khó thoát khỏi “bóng mây” ý thức Nho giáo Tư tưởng Nho giáo vẫn
thống trị ý thức hệ của con người thời bấy giờ Con người nằm trong tam cương ngũ
thường Sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi đã xây dựng một nhà nước phong kiến lí
tưởng dựa trên quan niệm nhân nghĩa thời đại “Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân” với mối quan hệ quân thần “yết can vi kì, manh lệ chi đồ tứ tập; đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm” Tuy nhiên, thể chế anh minh, lí tưởng được Lê Lợi dựng lên với vua hiền tôi trung cũng chỉ duy trì được trong khoảng mấy mươi năm cuối thế kỉ XV Sang thế kỉ thế XVI, nhà hậu Lê bắt đầu có những dấu hiệu khủng hoảng với sự bạo tàn của Lê Uy Mục Trong khoảng mươi năm đầu thế kỉ XVI, cuộc chiến huynh đệ tương tàn, tranh giành quyền lực của con cháu nhà Lê đã gây ra biết bao cảnh tang thương Chưa kể, hai ông vua Uy Mục và Tương Dực khét tiếng tàn bạo và dâm dật đã làm cho lòng người ngả nghiêng nhiều phía Từ đó, mới dẫn tới cuộc nổi loạn của Trần Tuân, hay sự phản bội của quyền thần Trịnh Duy Sản Có lẽ vì lẽ ấy, mà một người tài năng như Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không “thủy chung” làm quan cho một thế lực nào Hiện tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là minh chứng cho sự đổi thay về cách nhìn của các nhà Nho Việt Nam khi học đạo thánh hiền nhưng lại “hưu hướng Như Lai hành xứ hành” Xin bàn thêm về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa rõ năm sinh, nhưng theo
Trang 38nhiều tài liệu thì ông sinh 1491 và mất năm 1585 Năm 45 tuổi, ông mới ra ứng thí, đỗ trạng nguyên và ra làm quan cho nhà Mạc Khoảng năm 52 tuổi ông cáo quan, ít lâu sau lại ra làm quan, rồi được thăng tới chức Thượng thư Bộ Lại Điều đặc biệt là “Học trò ông có nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Lương Hưu Khánh, Nguyễn Dữ…, người thì theo nhà Mạc, người thì giúp nhà Lê trung hưng, người suốt đời ẩn dật Ông được người đời tôn kính như bậc thầy Ngoài triều Mạc, họ Trịnh,
họ Nguyễn đều phái sứ giả tới am Bạch Vân để hỏi ông những việc hệ trọng”33 Vậy, vấn
đề xã hội đặt ra ở đây là: tại sao các thế lực thống trị đối địch nhau lại chấp nhận và tôn thờ cùng một nhà Nho ẩn dật Đây là trường hợp hiếm gặp trong các triều đại phong Kiến Như ta biết, năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi Nhà Mạc chính thức được thành lập Sau đó, Nguyễn Kim tôn Lê Duy Ninh (một tôn thất nhà Lê) lên làm vua Nhà Lê được lập lại Năm 1543, Nguyễn Kim giúp nhà Lê đánh Mạc, chiếm được Tây Đô Kể từ đó, xã hội Việt Nam do hai chính quyền cai trị, một là Bắc triều do nhà Mạc làm chủ từ Ninh Bình trở ra ; hai là Nam triều do nhà Lê làm chủ (thực
ra sau khi Nguyễn Kim chết, quyền hành rơi vào tay họ Trịnh) từ Thanh Hóa trở vào Tất nhiên, một nước không thể hai vua Cuộc chiến Nam – Bắc triều trải mấy mươi năm, gây bao cảnh tan hoang, ảm đạm Có thể nói, đây là hai thế lực không thể ở chung trong một vòm trời Có nghĩa, những trung thần của thế lực này cũng là kẻ thù của thế lực kia Nguyễn Bỉnh Khiêm làm tới chức Thượng thư cho nhà Mạc, lẽ ra các thế lực đối địch với nhà Mạc phải tìm cách giết đi; hoặc giả với những thế lực này, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng phải tìm cách né tránh để không phạm vào qua niệm nhà Nho: “trai trung không thờ hai chúa, gái trinh không lấy hai chồng” Với cách hành xử như trên của đại diện các tập đoàn phong kiến cũng như của Nguyễn Bỉnh Khiêm, chứng tỏ ý thức hệ Nho giáo không còn là chỗ dựa vững chắc cho ý thức hệ thời đại ấy Tức, “lời châu ý ngọc” nay trở thành công cụ, phương tiện cho hành trình tiến thân theo con đường khoa cử chứ không phải để
“tu thân, tề gia” Và như vậy, các tập đoàn phong kiến chỉ dựa vào cái vỏ “hình thức” đạo đức thánh hiền để củng cố địa vị thống trị của mình chứ không phải để cai trị xã hội
Trong tình cảnh xã hội, nhân sinh như thế, Nguyễn Dữ “hành tung bí ẩn” Ông chỉ
ra làm quan một năm, rồi về vùng núi Thanh Hóa làm tao nhân mặc khách
Vì vậy cho đến nay, các tư liệu về Nguyễn Dữ còn lưu lại không nhiều, do đó khó thống nhất Nguyễn Dữ là danh sĩ nhà Hậu Lê (Mạc), không rõ năm sinh, năm mất Con
vị tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu, quê xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, tỉnh Hải Dương (nay thuộc thôn Đỗ Lâm, xã Phạm Kha, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương)
Ông là học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm, bạn thân thiết với Phùng Khắc Khoan Sau khi đậu Hương tiến (tức Cử nhân), làm quan với nhà Mạc, rồi về với nhà Lê làm Tri huyện Thanh Tuyền (nay là huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc); nhưng mới được một năm, vì bất mãn với thời cuộc, lấy cớ nuôi mẹ, xin về ở núi rừng Thanh Hóa Từ đó, ông
ở ẩn và mất tại Thanh Hóa
Về tên tác giả Nguyễn Dữ, từ những năm 40 của thế kỉ trước, học giả Dương Quảng Hàm với tinh thần làm khoa học nghiêm túc đã đính chính tên Nguyễn Dữ thành
Nguyễn Dư trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu Sau này, nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân
33 Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế Giới
Trang 39có nhắc lại: “Tên tác giả là Nguyễn Dư hay Nguyễn Dữ ? Nếu theo bản Tân truyền kì
mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm 1763 thì tên tác giả là Nguyễn Dư Chữ viết có
bộ ngọc là Dư Phan tức một thứ ngọc quý Chữ Dữ viết không có bộ ngọc có lẽ không
đúng Trong quyển Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (trang 290, dòng 12
- in năm 1944) có in sai là Nguyễn Dữ nhưng ở cuối cuốn sách tác giả đã đính chính là Nguyễn Dư, có lẽ số đông chúng ta không để ý đến, cứ đọc mãi là Nguyễn Dữ thành thói quen Thiết tưởng đặt tên người không ai đặt tên xấu (Dữ) như vậy”
Từ nghiên cứu trên, nên chăng chúng ta cần thêm những bài nghiên cứu để khẳng
định chính xác tên tác giả của Truyền kì mạn lục là Nguyễn Dữ hay Nguyễn Dư để tránh
những sai lầm đáng tiếc
Như đã trình bày, sự hiểu biết của người đời sau về cuộc đời và con người Nguyễn
Dữ còn khá khiêm tốn Về thân thế của Nguyễn Dữ, về thế giới quan, nhân sinh quan, về tính cách… vẫn còn là điều bí ẩn Để giải mã được điều này, chúng ta cần phải có thêm thời gian sưu tầm, truy cứu những tài liệu cổ mới có thể đưa ra những nhận định chân xác được
Tình trạng thông tin về tác giả Nguyễn Dư ít ỏi là thế nhưng các bài nghiên cứu
về tác phẩm Truyền kì mạn lục của tác giả này lại rất nhiều Tuy nhiên, nó mới chỉ xoay quanh hai vấn đề: nội dung và nghệ thuật Trong Từ điển văn học bộ mới có nhận xét về nghệ thuật tác phẩm này như sau: “Truyền kì mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản văn,
xen lẫn biền văn và thơ ca Cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc của một
người cùng quan điểm với tác giả… Truyền kì mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành
tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật… Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca ”34 Còn về nội
dung, cuốn từ điền này cũng đưa ra nhận định: “Trong Truyền kì mạn lục, có truyện vạch
trần chế độ đen tối, hủ bại, đả kích chế độ hôn quân bạo chúa, tham qua lại nhũng, đồi phong bại tục, có truyện nói đến quyền sống của con người như tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, có truyện thể hiện đời sống của sĩ phu ẩn dật…”35
Từ thế kỉ XVII, nước Nam ta chia thành hai Đàng: Đàng trong và Đàng ngoài,
sau khi kết thúc cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn kéo dài gần 50 năm (1627 – 1672) Sang đầu thế kỉ XVIII, dù không còn chiến tranh nhưng hậu quả do cuộc nội chiến gây ra vẫn ảnh hưởng nặng nề tới cuộc sống của người dân Nông nghiệp, công nghiệp đình đốn Các tập đoàn phong kiến không chú ý chăm lo cho đời sống nhân dân mà tập trung vào việc bảo vệ địa vị thống trị; đồng thời củng cố lực lượng quân đội nhằm mưu đồ thực hiện những cuộc nội chiến mới để thâu tóm quyền lực Trong tình trạng xã hội ấy, không chỉ tầng lớp bình dân mà tất cả các tầng lớp xã hội trong đó có tầng lớp trí thức chịu ám ảnh nặng nề về hình ảnh chiến tranh Chiến tranh như “con ngáo ộp” luôn đe dọa đời sống tinh thần của tất cả mọi người, và tất nhiên trong xã hội cũng có rất nhiều bậc trí thức đã thay nhân dân nói lên tiếng nói chống lại các cuộc chiến tranh phi nghĩa Vậy vấn
đề xã hội đặt ra ở đây là: Tại sao trong xã hội Việt Nam ta lại tồn tại song song hai thế
Trang 40lực thống trị như vậy trong khi chỉ có duy nhất vua Lê Câu hỏi tưởng như ngây thơ, nhưng khi đặt trong bối cảnh ý thức hệ Nho giáo lúc bấy giờ, ta mới thấy có sự bất cập Chúa Nguyễn Đàng trong giương khẩu hiệu “phò Lê diệt Trịnh”; ngược lại, chúa Trịnh Đàng ngoài cũng nêu cao quyết tâm “phò Lê diệt Nguyễn” Ở đây, chúng tôi không bàn đến vai trò của vua Lê, mà muốn nói sự tác động của tư tưởng Nho giáo đến ý thức hệ của các nhà nho Chắc hẳn cả hai tập đoàn Lê, Trịnh đều muốn lợi dụng vua Lê – tức lợi dụng ý thức Nho giáo về mối quan hệ tam cương ngũ thường để lấy lòng dân Chứ kì thực, họ không còn tôn trọng đạo đức Nho giáo Một vấn đề khác, là các trí thức Nho giáo có nhận thức được bản chất thực sự của tập đoàn Lê, Trịnh không ? Nếu có, tại sao
họ vẫn tin và cống hiến cho những triều đại mà vua tôi không còn “chính danh”, làm ngược lại đạo đức thánh hiền Có lẽ để giải mã rốt ráo được những vấn đề trên, cần nhiều thêm nữa những công trình về sử học, văn hóa học nghiên cứu về thời đại này
Về tác giả Đặng Trần Côn36, hiện các nhà nghiên cứu còn khá ít thông tin Ông chưa rõ năm sinh năm mất Ông quê ở làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, Hà Nội Theo Hoàng Xuân Hãn phỏng đoán thì họ Đặng sinh “khoảng 1710, dưới thời Lê Dụ Tông và chúa Nhân vương Trịnh Cương”, và “mất vào khoảng năm 1750”37
Ông là người sống cùng thời với Đoàn Thị Điểm, có tài thơ phú Tính ông phóng khoáng, thích rượu, có lẽ đây là một trong những nguyên nhân khiến ông khi hỏng thi Hội thì không thi nữa mà ra làm quan Chắc rằng, Đặng Trần Côn hẳn “hoang mang” lắm khi làm quan dưới một triều đình liên tục thay vua Cụ thể như sau:
Hòa hoàng
đế
Lê Duy Đường
17061729
-Vĩnh Thịnh 1719)
17321735
-Long Đức
Huy hoàng
đế
Lê Duy Thận (Lê Duy Chấn)
17351740