Lập luận trong các sách giáo khoa về văn nghị luận Trong Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thông, Nguyễn Quang Ninh Chủ biên, lập luận được hiểu là: Đưa ra
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN
LƯU THỊ HỌA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
LẬP LUẬN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG
ĐẠI VIỆT NAM
Đà Nẵng 04/05/2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Thầy Bùi Trọng Ngoãn Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học trong công trình này
Đà Nẵng, ngày tháng 5 năm 2015
Sinh viên Lưu Thị Họa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của nhiều người
Nhân đây tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Trường Đại học
Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn đã tạo điều kiện cho tôi được thực hiện đề tài khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của Thầy Bùi Trọng Ngoãn trong suốt quá trình thực hiện khóa luận, từ việc xác định trọng tâm đề tài, tìm kiếm tài liệu để phát triển nội dung đề tài…
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô quản lý thư viện trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, phòng tư liệu khoa Ngữ Văn đã giúp đỡ tôi trong việc tìm kiếm và sưu tầm tài liệu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của quý thầy cô!
Đà Nẵng, ngày tháng 5, năm 2015
Sinh viên
Trang 4LẬP LUẬN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, lập luận không phải là vấn đề mới Ngay thời Hi Lạp cổ đại, khi bàn về nghệ thuật hùng biện, lập luận đã được đề cập Tuy nhiên, lúc này, lập luận vẫn giới hạn ở phạm vi logic học (luận lí học) Cũng như vậy, khi nói đến văn nghị luận, trong nhà trường đã giảng dạy về các cách thức lập luận như diễn dịch, quy nạp…Tuy nhiên phải đến khi có sự xuất hiện của Ngữ dụng học thì lập luận của phát ngôn mới trở thành đối tượng của Ngôn ngữ học Trong văn chính luận, lập luận được phát huy cao nhất, đặc trưng của nó được thể hiện rõ nhất
Trong lịch sử Văn học Việt Nam, các nhà văn thời Trung đại đã để lại một khối lượng tác phẩm văn chính luận lớn với nhiều tác phẩm có giá trị Văn chính luận Trung đại Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tìm hiểu tính chất lịch sử, chính luận, chiến đấu mà hầu như chưa chú trọng đến vấn đề lập luận trong văn chính luận Trung đại
Trong lịch sử văn học Trung đại Việt Nam, nhiều nhà văn chính luận đã xuất hiện, trong đó có Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm là hai nhà văn chính luận kiệt xuất Một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam đã được đưa vào giảng dạy ở bậc Phổ thông, Đại học Việc tiếp nhận tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn lập luận là hướng đi có cơ sở khoa học, mang tính hiệu quả cao
Từ những căn cứ trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu đề tài: Lập luận trong
một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam
Trang 52 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hình thức và vai trò của lập luận trong một
số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là 63 bài văn chính luận của các tác giả Lý Công Uẩn,
Lý Thường Kiệt, Lý Phật Mã, Trần Quốc Tuấn, Trần Mạnh, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm thuộc các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Tây Sơn
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3.1 Lịch sử nghiên cứu về lập luận
Từ xa xưa, lập luận đã được quan tâm nhiều Lập luận đã được đề cập trong logic học từ trước công nguyên Trong nhà trường, lập luận đã được đề cập trong việc xây dựng cũng như phân tích các bài văn nghị luận Khi xuất hiện Ngữ dựng học, lập luận trở thành đối tượng của Ngữ dụng học Ở phần 1.1 của chương 1, chúng tôi sẽ trình bày đầy đủ về lập luận trong Logic học, trong Sách giáo khoa về văn nghị luận và trong Ngữ dụng học
3.2 Lập luận trong văn chính luận Trung đại Việt Nam
Thực tế, khi nói (viết), người nói (người viết) luôn luôn sử dụng cách lập luận Đặc biệt, trong các thể loại tranh biện, kiến giải; trình bày một quan niệm; một tư tưởng, lập luận trở thành phương tiện quan trọng, hữu dụng nhất Tuy nhiên, trong thực tế khi giảng dạy về văn nghị luận Trung đại Việt Nam, hầu như người ta chỉ quan tâm nó như một tác phẩm văn chương tức là loại văn nghệ thuật với hai đặc trưng: Tính hình tượng và tính hư cấu Trong khi đó, lập luận ít được chú ý Theo tìm hiểu của chúng tôi, những công trình sau có đề
cập đến một số vấn đề về lập luận trong văn chính luận Trung đại Việt Nam:
“Quân trung từ mệnh tập”, đỉnh cao của dòng văn học luận chiến ngoại giao chống xâm lược (bài viết của Nguyễn Huệ Chi) [15, tr 170], Tìm hiểu phương
Trang 6pháp lập luận của Nguyễn Trãi trong “Quân trung từ mệnh tập” (bài viết của
Đặng Thị Hảo) [15, tr 209], Cần hình thành cho học sinh cách đọc hiểu tác phẩm
nghị luận trung đại ( Huỳnh Văn Hoa, Tạp chí Giáo dục số 160, tháng 4 năm
2007), Lập luận trong văn chính luận của Nguyễn Trãi, khảo sát qua “Quân
trung từ mệnh tập” (đề tài Sinh viên Nghiên cứu Khoa học của chúng tôi)
4 Giá trị lí luận và thực tiễn của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Đi vào nghiên cứu đề tài “Lập luận trong một số tác phẩm văn chính luận
Trung đại Việt”, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả:
Trong phương pháp miêu tả, chúng tôi sử dụng các thủ pháp sau: Thủ pháp xã hội học, thủ pháp phân tích ngôn cảnh, thủ pháp phân loại và hệ thống hóa, thủ pháp logic học, thủ pháp thống kê toán học
- Phương pháp so sánh:
So sánh hình thức lập luận giữa các bức thư, các bài chiếu, biểu, giữa một số tác giả văn Văn học Trung đại Việt Nam tiêu biểu
6 Bố cục của khóa luận
Đề tài Lập luận trong một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt
Nam” ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được chúng tôi
triển khai qua ba chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Trang 7Chương 2: Khảo sát hình thức lập luận trong một số bài văn chính luận
Trung đại Việt Nam
Chương 3: Vai trò của lập luận đối với tính hùng biện trong một số bài
văn chính luận Trung đại Việt Nam
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Lập luận
1.1.1 Lập luận trong Logic học
Trong Logic học, lập luận được hiểu gần giống suy luận Suy luận được hiểu là “hình thức của tư duy nhờ đó rút ra phán đoán mới từ một hay nhiều
phán đoán theo các quy tắc logic xác định” [5, tr.123] Phán đoán được hiểu là
“hình thức của tư duy trong đó nêu lên sự khẳng định hay phủ định về sự vật, các thuộc tính hoặc các quan hệ của chúng Phán đoán được biểu thị bằng câu”
[5, tr.8]
Trong Logic học đại cương, Vương Tất Đạt viết: Quan hệ suy diễn logic
giữa các tiên đề và kết luận được quy định bởi mối liên hệ giữa các tiền đề về mặt nội dung Nếu các phán đoán không có liên hệ về mặt nội dung thì không thể lập luận và rút ra kết luận Tính chân thực của kết luận phân tích và tính chân thực của các tiền đề và tính đúng đắn logic của mối quan hệ nội dung giữa các tiền đề Trong quá trình lập luận để thu được tri thức chân thực mới cần tuân theo hai điều kiện:
a) Thứ nhất: các tiền đề của suy luận phải chân thực
b) Thứ hai: phải tuân theo các quy tắc logic của lập luận [5, tr.124] Như vậy với cách hiểu đó, kết luận trong logic học không thuộc lập luận Lập luận chỉ được hiểu là một phương thức để rút ra kết luận
Căn cứ vào cách thức lập luận, suy luận được chia ra thành suy luận diễn dịch (suy diễn) và suy luận quy nạp (quy nạp) Suy diễn là suy luận trong đó lập
Trang 8luận từ cái chung đến cái riêng, đơn nhất Quy nạp là suy luận trong đó lập luận
từ cái riêng, cái đơn nhất đến cái chung [5, tr.127] Suy diễn được chia thành suy diễn trực tiếp và suy diễn gián tiếp
Trong Logic học, thế lưỡng phân chân thực / giả dối hay đúng / sai rất
quan trọng trong quá trình lập luận Theo Logic học đại cương của Vương Tất
Đạt: Tính chân thực của nội dung tư tưởng là điều kiện cần để đạt tới các kết quả chân thực trong quá trình lập luận Nhưng nếu lập luận chỉ tuân theo các điều kiện đó thì chưa đủ; lập luận còn phải tuân theo tính đúng đắn về hình thức hay tính đúng đắn logic Tính đúng đắn logic của lập luận do các quy luật
và các quy tắc tư duy (quy luật không cơ bản quy định) Trong quá trình lập luận, nếu chỉ vi phạm một trong những yêu cầu của chúng sẽ dẫn tới những sai lầm logic và kết quả thu được sẽ không phù hợp với hiện thực Để rút ra kết luận đúng đắn trong quá trình lập luận, cần phải tuân theo hai điều kiện: 1) Các tiên đề dùng để xây dựng lập luận phải chân thực và 2) Sử dụng chính xác các quy luật (và quy tắc) của tư duy [5, tr.13] Trong quá trình lập luận, Logic học đòi hỏi phải tuân theo quy luật đồng nhất, không mâu thuẫn, loại trừ cái thứ
ba, lí do đầy đủ
Trong logic có phép quy nạp và diễn dịch Quy nạp hay diễn dịch đều là
đi từ luận cứ đến kết luận Nếu đi từ luận cứ cục bộ đến kết luận khái quát thì
ta có quy nạp, nếu đi từ từ một tiền đề khái quát đến suy ra kết luận cục bộ thì
ta có diễn dịch Nói tới lập luận thường là nói tới suy luận theo diễn dịch và ta thường nghĩ ngay đến logic, đến lí luận, đến diễn ngôn nghị luận…Ở tam đoạn luận logic kết luận là hệ quả tất yếu của đại tiền đề, tiểu tiền đề và của thao tác suy diễn Nếu đại tiền đề đúng, tiểu tiền đề đúng và thao tác suy diễn đúng thì kết luận tất yếu phải đúng…Một kết luận logic chỉ có hai khả năng hoặc đúng, hoặc sai, đúng hay sai không thể bác bỏ, có nghĩa là nếu kết luận logic đã đúng
Trang 9thì không thể lập luận chứng minh rằng nó sai Ngược lại nếu nó đã sai thì không thể chứng minh rằng nó đúng [2, tr.165]
1.1.2 Lập luận trong các sách giáo khoa về văn nghị luận
Trong Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ
thông, Nguyễn Quang Ninh (Chủ biên), lập luận được hiểu là: Đưa ra những lí lẽ,
dẫn chứng một cách đầy đủ, chặt chẽ và đáng tin cậy nhằm dắt dẫn người đọc, người nghe đến với một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đấy mà người viết, người nói muốn đạt tới [11, tr.10] Nói một cách khái quát, lập luận
là quá trình xây dựng lí lẽ để đề xuất ý kiến, liên kết các ý kiến dẫn đến kết luận
của bài viết, bài nói [11, tr.12] Tác giả Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị
luận cho học sinh phổ thông cho rằng một lập luận có các yếu tố là luận cứ lập
luận, kết luận lập luận, cách thức lập luận, có các dạng lập luận thường gặp là lập luận diễn dịch, lập luận quy nạp, lập luận phối hợp Trong xây dựng lập luận, người xây dựng phải chú ý các thao tác như thao tác logic, thao tác trình bày Thao tác logic gồm phân tích, tổng hợp và tổng phân hợp Thao tác trình bày gồm giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh và nhân quả Đồng thời, tác giả
Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thông cũng chỉ
ra các lỗi lập luận là lỗi luận cứ và lỗi kết luận Lỗi luận cứ gồm: luận cứ không đầy đủ, luận cứ sắp xếp lộn xộn, luận cứ không phù hợp với kết luận, các luận
cứ tương phản; mâu thuẫn nhau Lỗi kết luận gồm: thiếu kết luận, kết luận không rõ ràng
Trong Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ
thông, Nguyễn Quang Ninh (Chủ biên), luận cứ; kết luận; cách thức lập luận
được hiểu là: Những lí lẽ, những dẫn chứng được rút ra từ thực tiễn đời sống
xã hội, đời sống văn học hoặc những chân lí được nhiều người thừa nhận….dùng làm chỗ dựa, làm cơ sở cho việc dẫn tới kết luận [11, tr.12] Kết luận lập luận là điều rút ra được sau khi đã giải thích, phân tích và chứng minh
Trang 10trong quá trình lập luận [11, tr.14] Cách thức lập luận là sự phối hợp, tổ chức, liên kết các luận cứ theo những cách thức suy luận nào đấy để dẫn đến kết
luận và làm nổi bật kết luận [9, tr.15] Luận cứ có thể chia thành hai loại là luận
cứ thực tế và luận cứ nhân tạo Kết luận lập luận được phân làm hai loại là kết luận tường minh và kết luận không tường minh
Chương trình Sách giáo khoa trong nhà trường, văn nghị luận đã được đưa vào giảng dạy, cụ thể: Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 có các bài: Lập dàn ý bài văn nghị luận, Lập luận trong văn nghị luận, Các thao tác nghị luận,…; Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 có các bài: Thao tác lập luận phân tích, Thao tác lập luận so sánh, Thao tác lập luận bác bỏ…nhằm giới thiệu, rèn luyện cho học sinh cách thức lập luận cũng như đi vào tìm hiểu, phân tích một văn bản nghị luận
Trong văn bản, trong diễn ngôn, chúng ta thường nói tới tư tưởng chủ
đề Tư tưởng chủ đề thường là kết luận tường minh hay hàm ẩn Nói khác đi, một văn bản, một diễn ngôn (hay một đoạn văn) là một lập luận đơn hay lập luận phức bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào Tính lập luận là sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, diễn ngôn [2, tr.174]
Theo thầy Bùi Trọng Ngoãn: Các phép lập luận đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử Ngữ Văn của nhân loại Các nhà triết học cổ đại Hi Lạp đã bàn về các phương pháp lập luận khi nói về nghệ thuật tranh luận Sau này, lập luận là một đối tượng của logic học, tức là một bước phát triển đỉnh cao của suy luận toán học và nó được hình thành thành một chuyên ngành khoa học từ thế kỉ XVIII
Logic học bao giờ cũng gọi một nội dung cần được làm sáng tỏ, làm thuyết minh là vấn đề Làm sáng tỏ nó, người ta cần các phán đoán
Ví dụ:
Khi nói đến Hà Nội, người ta sẽ nghĩ tới những phán đoán cơ bản sau:
Trang 11- Phán đoán 1: Thành phố lớn
- Phán đoán 2: Có lịch sử lâu dài
- Phán đoán 3: Thủ đô của Việt Nam
Khi đi vào văn bản, vấn đề được gọi là luận đề và các phán đoán sẽ được gọi là các luận điểm
1.1.3 Lập luận trong Ngữ dụng học
Trước đây, lập luận (argumentation) được nghiên cứu trong tu từ học và trong logic học Hai nhà ngôn ngữ học Pháp: Oswald Ducrot và Jean Claude Anscombre đã đặc biệt quan tâm tới bản chất ngữ dụng học của lập luận [2, tr.154]…Cũng chính O.Ducrot đã cho rằng lập luận là một hành động ở lời [2, tr.174] Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới Có thể hiểu quan hệ lập luận giữa các phát ngôn (nói đúng hơn là nội dung các phát ngôn) như sau:
- Con mèo này màu đen (p) (nên) rất dễ sợ (r)
p là một thông tin miêu tả
- Mệt mỏi thì phải nghỉ ngơi (p) mà cậu thì đã làm việc liền 8 tiếng rồi (q) -cậu phải nghe nhạc một lát (r)
Trang 12Luận cứ và kết luận là những thành phần trong lập luận Thuật ngữ lập luận được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, nó chỉ sự lập luận, tức hành vi lập luận Thứ hai, nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận, tức toàn bộ cấu trúc của lập luận, về cả nội dung và hình thức [2 Tr.155] Tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm cần phân biệt lập luận logic với lập luận đời thường Tác giả viết: Ngữ dụng là lĩnh vực của ngữ nghĩa không thể đánh giá được theo tiêu chuẩn đúng – sai logic Chứng minh bản chất ngữ dụng của lập luận đời thường là chứng minh rằng nó không bị chi phối bởi quy tắc, các tiêu chuẩn đánh giá của lập luận logic [2, tr.165] Một kết luận đúng logic thì chỉ cần một luận cứ, trong một lập luận logic, không thể dẫn nhiều luận cứ cho cùng một kết luận [2, tr.167] Trong Ngữ dụng học, giữa các luận cứ có quan hệ định hướng lập luận,
có nghĩa là p và q được đưa ra để hướng tới một kết luận nào đấy P và q có thể đồng hướng lập luận khi cả hai đều dẫn đến một kết luận chung, kí hiệu:
p 3 r
q -3 r
p và q có thể nghịch hướng lập luận khi p hướng tới r còn q hướng tới – r (nên chú ý r và – r cùng một phạm trù, nói khác đi – r là phủ định của r Nếu p hướng tới r, q hướng tới kết luận s thì chúng khác biệt về định hướng lập luận)
ở sau luận cứ có hiệu quả lập luận yếu hơn [2, tr.178]
Chỉ lập luận đời thường, không phải lập luận logic mới chấp nhận các hành vi ở lời và các biểu thức (các phát ngôn ngữ vi) làm thành phần…Một nội
Trang 13dung miêu tả có thể được dùng làm luận cứ cho một lập luận đời thường Vì vậy muốn chứng minh một lập luận đời thường là vấn đề của ngữ dụng học thì ngoài việc chứng minh các thành phần của nó khác với những thành phần của lập luận logic, còn phải chứng minh giá trị nội dung miêu tả trong lập luận đời thường không phải được đánh giá theo tiêu chí đúng sai logic [2, tr.171] Có những nội dung miêu tả tự nó có giá trị lập luận hướng về kết luận tốt hoặc xấu, không cần những chỉ dẫn lập luận bổ sung để làm rõ giá trị lập luận của chúng
Ví dụ các nội dung miêu tả:
sẽ dẫn tới kết luận đánh giá tốt [ĐHC, tr.172]
Khi nói đến lập luận trong Ngữ dụng học, người ta phải đề cập đến vấn
đề lẽ thường Lẽ thường là những chân lí thông thường có tính kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như tiên đề logic Do nhân loại là một thực thể trùm lên mọi dân tộc cho nên có những lẽ thường phổ quát (phổ quát nhưng không tất yếu, bắt buộc) chung cho toàn nhân loại hay một số dân tộc cùng một nền văn hóa Lại có khá nhiều lẽ thường riêng cho một quốc gia, thậm chí một địa phương trong một quốc gia [2, tr.198] Lẽ thường có tính chung nghĩa
là lẽ thường đó được mọi người công nhận Mọi người ở đây không nhất thiết
là toàn nhân loại hoặc toàn thể nhân dân một đất nước, toàn thể nhân viên của một dân tộc Chung ở đây chỉ có nghĩa là được một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận, cộng đồng này có thể lớn bé khác nhau [2, tr.194] Đó chính là sự khác biệt của lập luận trong Ngữ dụng học và lập luận trong Logic học Hơn nữa, trong Logic học, chúng ta không thể bác bỏ một lập luận Bởi một lập luận
Trang 14trong Logic học có giá trị lưỡng phân: đúng/sai Trong Ngữ dụng học, đôi khi, người ta có thể bác bỏ một lập luận
Một số nhà Việt ngữ học cũng đề cấp đến vấn đề lập luận Tuy nhiên, hướng đi của các nhà Việt ngữ này theo hướng đi của tác giả Đỗ Hữu Châu
Trong số đó, chúng ta có thể kể đến tác Diệp Quang Ban với Giao tiếp, diễn
ngôn và cấu tạo của văn bản hay tác giả Nguyễn Thiện Giáp với 777 Khái niệm ngôn ngữ học
Trong logic học, đôi khi một phán đoán (mệnh đề) được hiểu là luận cứ (luận chứng) lại là một lập luận trong Ngữ dụng học
Ví dụ:
Phán đoán “a v b” sau đây là một lập luận trong Ngữ dụng học: Cô ấy
thành công nhờ chăm chỉ hoặc nhờ thông minh
1.2 Văn chính luận và lập luận trong văn chính luận
1.2.1 Văn chính luận
Văn chính luận là thể văn viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hóa,…Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một
tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất định Chính vì thế, tác phẩm chính luận bao giờ cũng thể hiện khuynh hướng tư tưởng, lập trường công dân rõ ràng Tình cảm sục sôi, luận chiến quyết liệt và tính khuynh hướng công khai là những dấu hiệu quan trọng của phong cách chính luận Tất cả những cái đó làm cho giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn chính luận gần gũi với giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn tuyên truyền, hùng biện [11, tr.400]
Trong những giờ phút trọng đại của lịch sử dân tộc, văn chính luận
thường đóng một vai trò rất quan trọng Ví dụ: Lí Công Uẩn viết Chiếu dời đô
để luận giải cho việc chuyển kinh đô ra Thăng Long Trần Hưng Đạo viết Hịch
Trang 15tướng sĩ để vạch ra tội ác của quân Nguyên và khích lệ quân sĩ đánh giặc, bảo
vệ đất nước Nguyễn Trãi viết Quân trung từ mệnh tập chỉ ra những việc phi
nhân nghĩa và tất bại của quân giặc, từ đó thuyết phục quân giặc ra hàng, củng
cố lòng quân dân của ta Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập để luận
giải, khẳng định quyền độc lập; tự chủ của nước Việt Nam và tuyên bố việc thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa…
Trong Phong cách học tiếng Việt (1982) của Võ Bình – Lê Anh Hiền – Cù
Đình Tú – Nguyễn Thái Hòa, văn chính luận được hiểu là “một thể thông dụng hầu như ai ai cũng đọc, nhưng khó có một định nghĩa rõ ràng Thông thường, người ta giải thích: chính luận là văn nghị luận chính trị để phân biệt với nghị luận xã hội, nghị luận khoa học…Tuy nhiên, trong xã hội ta, những vấn đề xã hội như đạo đức, tác phong, nếp sống, v.v…cũng là những vấn đề chính trị Vì vậy căn cứ vào nội dung để phân loại là đúng nhưng chưa đủ” [7, tr 83] Nhóm tác giả trên còn cho rằng chính luận vừa mang phong cách khoa học vừa mang phong cách báo chí Vì vậy phong cách chính luận có những đặc trưng sau: Tính khái quát của khoa học chính trị kết hợp với tính thời sự nóng hổi, Tính trí tuệ của ngôn ngữ khoa học kết hợp với tính chiến đấu rất cao của văn báo chí, Tính trừu tượng của ngôn ngữ khoa học kết hợp với tính kích thích của ngôn ngữ báo chí
Trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại (2011), tác giả Hữu Đạt cho
rằng: Phong cách chính luận “là phong cách được dùng để tỏ bày thái độ, quan điểm của người viết (nói) về một vấn đề nào đó thuộc lĩnh vực chính trị, xã hội nhằm lôi kéo người đọc (nghe) về phía mình, hành động theo mình” [4, tr 264] Tác giả còn cho rằng ngôn ngữ trong phong cách chính luận có những đặc trưng sau: Ngôn ngữ giàu tính lí luận kết hợp với biểu cảm, Tính khúc triết, giàu tính thuyết phục, Tính trong sáng và tính thẩm mĩ cao, Tính trang trọng và đại chúng, Đặc điểm về cách dùng từ Các dạng tồn tại của văn chính luận gồm
Trang 16tuyên ngôn, hịch, chiếu, cáo văn, lời kêu gọi, di chúc, điếu văn, các nghị quyết của Hội nghị Trung ương, các Báo cáo Chính trị, Thông cáo chung, các bài xã luận, xã thuyết, nghị luận văn học
Theo thầy Bùi Trọng Ngoãn: “Phong cách ngôn ngữ văn bản chính luận là phong cách được sử dụng trong các văn bản bàn bạc, thảo luận, kiến giải, nêu quan điểm…về các vấn đề chính trị - xã hội liên quan đến đời sống cộng đồng
và việc nước, nhằm tuyên truyền, giáo dục, động viên
Văn bản chính luận tồn tại ở cả hai dạng nói và viết, gồm có:
+ hịch, cáo, lời kêu gọi, tuyên ngôn, + các bài xã luận, bình luận chính trị, + các bài diễn thuyết chính trị trong các buổi mít tinh, các buổi đón tiếp ngoại giao,
+ các báo cáo chính trị, các nghị quyết chính trị…” [10, tr 91] Thầy Bùi Trọng Ngoãn còn cho rằng phong cách ngôn ngữ văn bản chính luận có nững đặc trưng sau: Tính hàm súc, tính hùng biện (tính lí luận chặt chẽ, tính logic) và tính đại chúng
1.2.1 Lập luận trong văn chính luận
Trong Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ
thông, Nguyễn Quang Ninh đã đưa ra cách nhìn, quan niệm của mình về lập
luận, lập luận trong văn nghị luận như sau:
“Trong một văn bản hoàn chỉnh, việc lập luận sẽ phong phú, đa dạng và phức tạp” [12, tr.5] “Lập luận là đưa ra những lĩ lẽ, dẫn chứng một cách đầy
đủ, chặt chẽ, nhất quán và đáng tin cậy nhằm dắt dẫn người đọc, người nghe đến với một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đấy mà người viết, người nói muốn đạt tới” [12, tr.10] “Nói cách khác, lập luận là quá trình xây dựng lí lẽ để đề xuất ý kiến, liên kết các ý kiến dẫn đến kết luận của bài viết, bài nói” [12, tr.12]
Trang 17Nguyễn Quang Ninh cho rằng một lập luận thường gồm ba yếu tố là luận
cứ lập luận, kết luận lập luận và cách thức lập luận Luận cứ được hiểu là “căn
cứ để rút ra kết luận Đó là những lí lẽ, những dẫn chứng được rút ra từ thực tiễn của đời sống xã hội, đời sống văn học hoặc những chân lí được nhiều người thừa nhận…dùng để làm chỗ dựa, làm cơ sở cho việc dẫn tới kết luận” [12, tr.12] “Nói tới lập luận không thể không nói đến việc giải thích, phân tích, chứng minh cho kết luận Những lí lẽ, dẫn chứng đưa ra nhằm mục đích giải thích, phân tích và chứng minh cho kết luận ấy chính là các luận cứ trong một lập luận” [12, tr 12] Nguyễn Quang Ninh chia luận cứ lập luận thành hai loại là luận cứ thực tế và luận cứ nhân tạo Trong đó, luận cứ tự nhiên lá luận cứ có giá trị đối với kết luận của lập luận Kết luận lập luận được hiểu là “điều rút ra được sau khi đã giải thích, phân tích và chứng minh trong quá trình lập luận Kết luận là cái đích của một lập luận Đây là điều người viết, người nói muốn người đọc chấp nhận”….“Thông qua các luận cứ của lập luận, người viết, người nói có thể dẫn người đọc, người nghe đến với những kết luận rất khác nhau
Có thể đó là một sự khẳng định, một sự phủ định hoặc một sự bộc lộ thái độ, tình cảm…, nhưng dù khác nhau thế nào đi chăng nữa thì kết luận vẫn luôn luôn là cái cần có trong một lập luận” [12, tr.12] Nguyễn Quang Ninh chia kết luận thành kết luận tường minh và kết luận không tường minh Cách thức lập luận “là sự phối hợp, tổ chức, liên kết các luận cứ theo những cách thức suy luận nào đấy để dẫn đến kết luận và làm nổi bật kết luận” [12, tr.15] Nguyễn Quang Ninh chỉ ra ba cách thức lập luận thường gặp là lập luận diễn dịch, lập luận quy nạp và lập luận phối hợp
Nguyễn Quang Ninh đã đưa ra mô hình lựa chọn và sắp xếp các yếu tố của lập luận, luyện xây dựng lập luận và lỗi lập luận như sau:
Lựa chọn và sắp xếp luận cứ: Đồng hướng, nghịch hướng, theo hiệu lực lập luận, theo trình tự logic của sự việc
Trang 18Lựa chọn và sắp xếp kết luận: Tường minh sau các luận cứ, tường minh trước các luận cứ, không tường minh
Luyện xây dựng lập luận theo thao tác logic: Phân tích, tổng hợp, tổng phân hợp
Luyện xây dựng lập luận theo thao tác trình bày: Giải thích, chứng minh, bình luận, so sánh, nhân quả
Lỗi luận cứ: Không đầy đủ, không logic, không phù hợp với kết luận, tương phản mâu thuẫn nhau
Lỗi kết luận: Thiếu, không đầy đủ
Trong văn nghị luận, lập luận có một vai trò rất quan trọng Lập luận tạo nên tính chặt chẽ, thuyết phục của văn nghị luận Trong văn nghị luận, người viết phải biết lập luận nghĩa là phải biết xây dựng và trình bày bố cục văn bản, triển khai các luận điểm, dùng lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều muốn nói,
để hướng người đọc đến đích lập luận của mình
1.3 Một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
Trong giai đoạn Văn học Trung đại Việt Nam, nhiều nhà văn chính luận kiệt xuất đã xuất hiện Thông thường, họ là những tướng sĩ, quan lại, có thể là
cả vua chúa Trong phạm vi luận văn, chúng tôi khảo sát 63 bài văn chính luận của bảy tác giả thuộc các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Tây Sơn Các tác giải đó là
Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Lý Phật Mã, Trần Quốc Tuấn, Trần Mạnh, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm, cụ thể: 1 bài của Lý Thường Kiệt, 1 bài của Lý Công Uẩn,
2 bài của Lý Phật Mã, 1 bài của Trần Quốc Tuấn, 2 bài của Trần Mạnh in trong
Tinh tuyển Văn học Việt Nam, Văn học thế kỉ X-XVII, 46 bài in trong Quân trung
từ mệnh tập của Nguyễn Trãi, 10 bài in trong Hàn các anh hoa của Ngô Thì
Nhậm
Tiểu kết chương 1
Trang 19Trong chương 1 này, chúng tôi trình bày những vẫn đề lí luận liên quan đến đề tài, cụ thể: Lập luận trong logic học, các sách giáo khoa về văn nghị luận
và Ngữ dụng học, văn chính luận, một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam mà đề tài khảo sát
Lập luận là đối tượng trong logic học Nó được phân tích trong các sách giáo khoa về văn nghị luận Trong những năm gần đây khi xuất hiện Ngữ dụng học, lập luận trở thành đối tượng của Ngôn ngữ học Hiểu một cách đơn giản, lập luận là việc đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng để hướng đến kết luận
Văn chính luận là thể văn viết về những vấn đề mang tính thời sự và tính cộng đồng Trong lịch sử văn học Việt Nam, nhiều nhà văn chính luận đã xuất hiện Trong đó, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm là hai đỉnh cao Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát 63 bài văn chính luận của bảy tác giả thuộc các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê và Tây Sơn, cụ thể là những bài văn chính luận của Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Lý Phật Mã, Trần Quốc Tuấn, Trần Mạnh, Nguyễn Trãi và Ngô Thì Nhậm
Chương 2 KHẢO SÁT HÌNH THỨC LẬP LUẬN TRONG MỘT SỐ BÀI VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát ngẫu nhiên 63 bài văn chính luận của bảy tác giả thuộc các triều đại Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, cụ thể: 46 bài
trong Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi, 10 bài trong Hàn các anh hoa của Ngô Thì Nhậm, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Luận về việc dùng người
và Luận về nhân vật thiện, ác để hoàng tử biết của Trần Mạnh, Lộ bố về việc
đánh Tống của Lý Thường Kiệt, Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, Chiếu đánh dẹp
họ Nùng và Chiếu tha thuế của Lý Phật Mã Trong đó, Nguyễn Trãi và Ngô Thì
Nhậm là hai nhà văn chính luận xuất sắc nhất trong Văn học Trung đại Việt
Trang 20Nam nên chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát văn chính luận của hai tác giả này
2.1 Các dạng thức trình bày văn bản và phương thức lập luận trong một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam
2.1.1 Kết cấu, bố cục một số bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
Một văn bản thông thường có ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận Theo khảo sát của chúng tôi, bố cục của 63 bài văn chính luận trên nằm trong năm mô hình sau:
- Dạng 1: phần mở đầu – phần nội dung – phần kết luận
Xuất hiện ở 26 bài (chiếm 44.9 %), cụ thể: Chiếu dời đô, Chiếu tha thuế,
Thư xin hàng, Thư cho tổng binh cùng quan phủ vệ Thanh – Hóa, Thư cho Thái giám Sơn Thọ, Thư cho Phương Chính, Thư trả lời Phương Chính, Lại thư trả lời Phương Chính, Lại thư trả lời cho Phương Chính, Lại thư trả lời Phương Chính, Thư cho tổng binh Vương Thông và thái giám Sơn Thọ, Thư cho hình nội quan cùng bọn Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Biểu cầu phong, Lại thư cho Vương Thông, Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Thư cho Thái đô đốc, Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ An, Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa, Thư cho Vương Thông, Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng Nhượng công Giám quốc, Tờ chiếu lên ngôi, Tờ chiếu khuyến nông, Tờ chiếu cầu hiền, Tờ chiếu về việc lập nhà thái học,
Tờ biểu của đình thần văn võ xin Quang Trung ngự giá ra Thăng Long, Tờ chiếu
về việc ban ơn
- Dạng 2: Phần mở đầu – Phần nội dung
Xuất hiện ở 1 bài (chiếm 1.5%), cụ thể: Luận về nhân vật thiện, ác để
hoàng tử biết
- Dạng 3: Phần mở đầu – phần kết luận
Trang 21Xuất hiện ở 2 bài (chiếm 3%), cụ thể: Lại thư cho Vương Thông, Tờ tấu
cầu phong
- Dạng 4: Phần nội dung – kết luận
Xuất hiện ở 30 bài (chiếm 47.6%), cụ thể: Chiếu đánh dẹp họ Nùng, Luận
về việc dùng người, Lại thư trả lời cho Phương Chính, Thư gửi bọn Hoa đại nhân, Thư cho Thái Công, Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư trả lời Vương Thông, Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Sơn Thọ, Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà Trần), Thư cho Vương Thông, Thư cho thái giám Sơn Thọ, Lại thư cho Sơn Thọ, Lại thư cho thái giám Sơn Thọ, Thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu, Thư dụ thành Bắc Giang, Thư dụ hàng thành Tam Giang, Thư cho Vương Thông, Lại thư dụ Vương Thông, Lại thư dụ Vương Thông, Thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Chiếu khuyến dụ hào kiệt, Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ triều cũ, Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa, Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc hòa hảo đã thành
- Dạng 5: Phần nội dung
Xuất hiện ở 2 bài (chiếm 3%), cụ thể: Lại thư cho Vương Thông, Tờ tấu về
việc tìm hiểu con cháu họ Trần
Dưới đây là bảng tổng hợp của chúng tôi:
Bảng 2.1: Kết cấu, bố cục của 63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
STT Văn bản Bố cục văn bản
Mở đầu – Nội dung – Kết
Mở đầu – Nội dung
Mở đầu – Kết luận
Nội dung – Kết luận
Nội dung
Trang 227 Luận về nhân vật thiện, ác để
10 Thư cho thái giám Sơn Thọ X
11 Thư cho Phương Chính X
12 Thư trả lời Phương Chính X
13 Lại thư trả lời Phương Chính X
14 Lại thư trả lời cho Phương
15 Lại thư trả lời Phương Chính X
16 Thư trả lời bọn tổng binh X
Trang 23Vương Thông và thái giám
Sơn Thọ
22 Lại thư gửi cho Vương Thông
24 Lại thư cho Vương Thông X
29 Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà
33 Lại thư cho Vương Thông X
34 Thư cho Đả Trung và Lương X
Trang 24Nhữ Hốt
37 Thư dụ thổ quan thành Điêu
39 Thư dụ hàng thành Tam
47 Thư dụ các thành Thanh Hóa,
48
Lệnh dụ các tướng hiệu quân
nhân ở Nghệ An, Tân Bình,
Thuận Hóa
X
53 Tờ tấu về việc tìm hỏi con
Trang 25HÀN CÁC ANH HOA CỦA NGÔ THÌ NHẬM
54 Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng
Nhượng công Giám quốc X
56 Tờ chiếu hiểu dụ các quan
57 Tờ chiếu phát phối hàng binh
58 Tờ chiếu khuyến nông X
60 Tờ chiếu về việc lập nhà thái
61 Tờ biểu của hai ban văn võ
62
Tờ biểu của đình thần văn võ
xin Quang Trung ngự giá ra
Trang 262.1.2 Phương thức lập luận trong một số tác phẩm văn chính luận Trung đại Việt Nam
Ở mục này, chúng tôi khảo sát phương thức lập luận của 63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam ở cấp độ văn bản Những văn bản chỉ có một đoạn văn, chúng tôi quan niệm nó là một đoạn văn thuần túy, có một luận điểm Luận điểm đó có thể có những luận cứ lập luận Khi đó, kết luận của chúng sẽ nằm ở tiêu đề văn bản hoặc là kết luận hàm ẩn
“Cách thức lập luận (phương thức lập luận – người viết) là sự phối hợp,
tổ chức, liên kết các luận cứ theo những cách suy luận nào đấy để dẫn đến kết luận và làm nổi bật kết luận Các luận cứ trong một lập luận không bao giờ nằm tách biệt nhau mà luôn ở trong mối quan hệ ràng buộc, liên kết chặt chẽ với nhau Bởi vậy, khi tiến hành lập luận, chỉ khi nào người viết, người nói xác định thật rõ được mối quan hệ giữa luận cứ với luận cứ, giữa luận cứ với kết luận thì khi ấy người nói, người viết mới có thể lựa chọn được một cách thức lập luận phù hợp, nghĩa là chọn được chính xác một quỹ đạo chung cho các luận cứ và kết luận” [11, tr.15] Nguyễn Quang Ninh chỉ ra ba cách lập luận thường gặp là: Lập luận diễn dịch, lập luận quy nạp và lập luận phối hợp Cách thức lập luận ở đây được tác giả đề cập trong phạm vi đoạn văn Trong luận văn này, chúng tôi
áp dụng lí thuyết phương thức lập luận vào khảo sát từng đoạn văn cụ thể nói riêng và từng văn bản nói chung Dưới đây là kết quả khảo sát của chúng tôi về các dạng lập luận ở cấp độ văn bản của 63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
- Dạng lập luận diễn dịch: Lập luận diễn dịch là phương thức lập luận
xuất hiện từ cái khái quát đến cái cụ thể Văn bản được lập luận theo phương thức diễn dịch là văn bản có phần mở đầu nêu nội dung khái quát và phần nội dung triển khai nội dung khái quát đó Những bài văn có hình thức một đoạn văn có thể xuất hiện dưới dạng lập luận diễn dịch Khi đó, kết luận của văn bản
Trang 27chính là tiêu đề của văn bản Theo khảo sát của chúng tôi, dạng lập luận này
xuất hiện ở 12 bài, cụ thể: Chiếu tha thuế, Luận về nhân vật thiện, ác để hoàng
tử biết, Thư xin hàng, Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà Trần), Thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu, Thư dụ thành Bắc Giang, Thư dụ hàng thành Tam Giang, Lại thư dụ Vương Thông, Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ An, Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa, Chiếu khuyến dụ hào kiệt, Tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu họ Trần
- Dạng lập luận quy nạp: Lập luận quy nạp là phương thức lập luận xuất
hiện đi từ cái riêng đến cái khái quát Văn bản lập luận theo phương thức quy nạp là văn bản có phần nội dung – kết luận hoặc mở đầu – kết luận Những bài văn có hình thức một đoạn văn có thể xuất hiện dưới dạng lập luận quy nạp Khi đó, văn bản có kết luận hàm ẩn Theo khảo sát của chúng tôi, dạng này xuất
hiện ở 41 bài, cụ thể: Luận về việc dùng người, Thư cho Tổng binh cùng quan
phủ vệ Thanh – Hóa, Thư cho thái giám Sơn Thọ, Thư cho Phương Chính, Thư trả lời Phương Chính, Lại thư trả lời Phương Chính, Lại thư trả lời cho Phương Chính, Lại thư trả lời Phương Chính, Thư trả lời bọn tổng binh Vương Thông và thái giám Sơn Thọ, Thư gửi bọn Hoa đại nhân, Thư cho Thái Công, Thư cho hình nội quan cùng bọn Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư trả lời Vương Thông, Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho Sơn Thọ, Thư cho Vương Thông, Thư cho thái giám Sơn Thọ, Lại thư cho Sơn Thọ, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư cho thái giám Sơn Thọ, Thư cho Vương Thông, Thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Thư cho Thái đô đốc, Thư cho Vương Thông, Thư cho Vương Thông, Lại thư cho Vương Thông, Lộ bố về việc đánh Tống, Chiếu đánh dẹp họ Nùng, Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, Lại thư cho Vương Thông, Lại thư
dụ Vương Thông, Tờ tấu cầu phong, Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ triều cũ,
Trang 28Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa, Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc hòa hảo đã thành
- Dạng lập luận tổng – phân – hợp: Lập luận tổng – phân – hợp là
phương thức lập luận nối giữa cách thức lập luận và quy nạp Văn bản lập luận theo phương thức này là văn bản có đầy đủ ba phần mở đầu – nội dung – kết
luận Theo khảo sát của chúng tôi, dạng này xuất hiện ở 10 bài, cụ thể: Chiếu
dời đô, Hịch tướng sĩ, Biểu cầu phong, Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng Nhượng công Giám quốc, Tờ chiếu lên ngôi, Tờ chiếu khuyến nông, Tờ chiếu cầu hiền, Tờ chiếu về việc lập nhà thái học, Tờ biểu của đình thần văn võ xin Quang Trung ngự giá ra Thăng Long, Tờ chiếu về việc ban ơn
- Dạng lập luận song hành: Là phương thức lập luận tạo nên sự bình
đẳng giữa các luận cứ (trong đoạn văn) và các luận điểm (trong văn bản) Theo khảo sát của chúng tôi, dạng này không xuất hiện ở bài nào
- Dạng lập luận móc xích: Là phương thức lập luận tạo nên sự tiếp nối
phát triển nghĩa là nội dung luận cứ sau (trong đoạn văn) hoặc luận điểm sau (trong văn bản) phát triển nội dung của luận cứ trước hoặc luận điểm trước Theo khảo sát của chúng tôi, dạng này không xuất hiện ở bài nào
Như vậy, 63 bài văn chính luận đã khảo sát chỉ xuất hiện ba dạng lập luận
ở cấp độ văn bản: Dạng lập luận quy nạp xuất hiện nhiều nhất, sau đó là dạng lập luận diễn dịch và dạng lập luận tổng – phân – hợp Dưới đây là bảng tổng hợp của chúng tôi về các phương thức lập luận 63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam:
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp về phương thức lập luận
ở cấp độ văn bản của 63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
ST
T Văn bản Phương thức lập luận
Diễn Quy Tổng – Song Móc
Trang 297 Luận về nhân vật thiện, ác để hoàng
14 Lại thư trả lời cho Phương Chính X
16 Thư trả lời bọn tổng binh Vương X
Trang 30Thông và thái giám Sơn Thọ
19 Thư cho hình nội quan cùng bọn Đả
20 Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ
22 Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ X
29 Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà Trần) X
34 Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt X
37 Thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu X
39 Thư dụ hàng thành Tam Giang X
Trang 3140 Thư cho Vương Thông X
47 Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ
48 Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở
Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa X
52 Chiếu khuyến dụ hào kiệt X
53 Tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu họ
HÀN CÁC ANH HOA CỦA NGÔ THÌ NHẬM
54 Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng Nhượng công
56 Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ
Trang 3259 Tờ chiếu cầu hiền X
61 Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc
62 Tờ biểu của đình thần văn võ xin
- Dạng lập luận diễn dịch: Xuất hiện 9 đoạn văn ở những văn bản sau:
Chiếu dời đô (1 đoạn), Chiếu đánh dẹp họ Nùng (1 đoạn), Luận về nhân vật thiện, ác để hoàng tử biết (1 đoạn), Tờ chỉ dụ cho Sùng Nhượng công Giám quốc, Tờ chiếu lên ngôi (2 đoạn), Tờ chiếu khuyến nông (1 đoạn), Tờ chiếu cầu hiền (1 đoạn)
- Dạng lập luận quy nạp: Xuất hiện lần 71 đoạn văn ở những văn bản
sau: Lộ bố về việc đánh Tống (3 đoạn), Chiếu dời đô (2 đoạn), Chiếu đánh dẹp
họ Nùng (1 đoạn), Hịch tướng sĩ (5 đoạn), Luận về việc dùng người (1 đoạn), Lại thư trả lời Phương Chính (1 đoạn), Thư gửi bọn Hoa đại nhân (1 đoạn), Thư cho Thái công, Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt (1 đoạn), Lại thư trả lời
Trang 33Vương Thông (1 đoạn), Lại thư gửi Vương Thông (1 đoạn), Lại thư cho Sơn Thọ
(1 đoạn), Biểu cầu phong (2 đoạn), Văn tấu cao (Liệt thánh nhà Trần) (1 đoạn),
Thư cho Vương Thông (1 đoạn), Thư cho thái giám Sơn Thọ (1 đoạn), Lại thư cho Sơn Thọ (1 đoạn), Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Lại thư cho thái giám Sơn Thọ (1 đoạn), Lại thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu (1 đoạn), Thư dụ thành Bắc Giang (1 đoạn), Thư cho Vương Thông (1 đoạn), Lại thư dụ Vương Thông (1 đoạn), Lại thư dụ Vương Thông (2 đoạn), Thư cho Vương Thông (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1
đoạn), Thư cho Vương Thông (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Tờ
tấu cầu phong (1 đoạn), Chiếu khuyến dụ hào kiệt (1 đoạn), Tờ dụ ủy cho Sùng Nhượng Công Giám quốc (3 đoạn), Tờ chiếu lên ngôi (4 đoạn), Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ triều cũ (4 đoạn), Tờ chiếu phát phối hàng binh người nội địa
(4 đoạn), Tờ chiếu khuyến nông (1 đoạn), Tờ chiếu cầu hiền (2 đoạn), Tờ chiếu
về việc lập nhà thái học (3 đoạn), Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc hòa hảo đã thành (1 đoạn), Tờ biểu của đình thần văn võ xin Quang Trung ngự giá
ra Thăng Long (9 đoạn), Tờ chiếu về việc ban ơn (1 đoạn)
- Dạng lập luận tổng – phân – hợp: Xuất hiện 26 đoạn văn ở những văn
bản sau: Chiếu dời đô (1 đoạn), Chiếu tha thuế (1 đoạn), Hịch tướng sĩ (1 đoạn),
Thư xin hàng (1 đoạn), Thư cho tổng binh cùng quan phủ vệ Thanh – Hóa (1
đoạn), Thư cho thái giám Sơn Thọ (1 đoạn), Thư cho Phương Chính (1 đoạn),
Thư trả lời Phương Chính (1 đoạn), Lại thư trả lời Phương Chính (1 đoạn), Lại thư trả lời Phương Chính (1 đoạn), Thư cho bọn tổng binh Vương Thông và thái giám Sơn Thọ (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Biểu cầu phong (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Thư cho Thái đô đốc (1 đoạn), Thư dụ các thành Thanh Hóa, Nghệ An (1 đoạn), Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa (1 đoạn), Thư cho Vương Thông (1 đoạn), Tờ chỉ dụ cho Sùng Nhượng công Giám quốc (1
Trang 34đoạn), Tờ chiếu lên ngôi (1 đoạn), Tờ chiếu khuyến nông (1 đoạn), Tờ chiếu cầu
hiền (1 đoạn), Tờ chiếu về việc lập nhà thái học (1 đoạn), Tờ biểu của đình thần văn võ xin Quang Trung ngự giá ra Thăng Long (1 đoạn), Tờ chiếu về việc ban
ơn (1 đoạn)
- Dạng lập luận song hành: Xuất hiện 15 đoạn văn ở những văn bản sau:
Lộ bố về việc đánh Tống (1 bài), Hịch tướng sĩ (4 đoạn), Luận về việc dùng người (1 đoạn), Lại thư cho Vương Thông (1 đoạn), Tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu họ Trần (1 đoạn), Tờ chiếu khuyến nông (1 đoạn), Tờ chiếu cầu hiền (3
đoạn), Tờ chiếu về việc lập nhà thái học (1 đoạn), Tờ biểu của hai ban văn võ
mừng việc hòa hảo đã thành (1 đoạn), Tờ chiếu về việc ban ơn (1 đoạn)
- Dạng lập luận móc xích: Xuất hiện 4 đoạn văn ở những văn bản sau:
Hịch tướng sĩ (1 đoạn), Thư cho hình nội quan cùng bọn Đả Trung và Lương Nhữ Hốt (1 đoạn), Tờ chiếu lên ngôi (1 đoạn), Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc hòa hảo đã thành (1 đoạn)
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp về phương thức lập luận ở cấp độ đoạn văn của
63 bài văn chính luận Trung đại Việt Nam
ST
T Văn bản Phương thức lập luận
Diễn dịch
Quy nạp
Tổng – phân – hợp
Song hành
Móc xích
Trang 354 Chiếu tha thuế 1
TRẦN QUỐC TUẤN
TRẦN MẠNH
7 Luận về nhân vật thiện, ác để hoàng
14 Lại thư trả lời cho Phương Chính 1
16 Thư trả lời bọn tổng binh Vương
19 Thư cho hình nội quan cùng bọn Đả
Trang 3622 Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ 1
29 Văn tấu cáo (Liệt thánh nhà Trần) 1
34 Thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt 1
37 Thư dụ thổ quan thành Điêu Diêu 1
Trang 37An
48 Lệnh dụ các tướng hiệu quân nhân ở
53 Tờ tấu về việc tìm hỏi con cháu họ
HÀN CÁC ANH HOA CỦA NGÔ THÌ NHẬM
54 Tờ chỉ dụ ủy cho Sùng Nhượng công
56 Tờ chiếu hiểu dụ các quan văn vũ
57 Tờ chiếu phát phối hàng binh người
61 Tờ biểu của hai ban văn võ mừng việc
62 Tờ biểu của đình thần văn võ xin
Quang Trung ngự giá ra Thăng Long 9 1
Tổng 9 71 26 15 4
Trang 38Để tạo nên tính chặt chẽ cũng như phương thức lập luận, giữa các câu văn trong đoạn văn cũng như trong văn bản có hình thức một đoạn văn phải có những phương thức liên kết nhất định Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, phương thức liên kết giữa các câu văn trong đoạn văn cũng như giữa các câu văn trong văn bản có hình thức một đoạn văn xuất hiện 1380 lần, trong đó phương thức liên tưởng xuất hiện nhiều nhất (623 lần – chiếm 45.1%), phương thức nối xuất hiện thứ hai (358 lần – chiếm 30%), phương thức lặp xuất hiện nhiều thứ ba (191 lần – chiếm 13.8%), phương thức thế xuất hiện nhiều thứ tư (116 lần – chiếm 8.4%) và cuối cùng là phương thức dùng câu hỏi (92 lần – chiếm 2.7%) Dưới đây là kết quả khảo sát của chúng tôi:
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp về phương thức liên kết giữa các câu văn và
các văn bản chỉ có một đoạn văn
STT Văn bản Phương thức liên kết
Phương thức dùng câu hỏi
Phương thức thế
Phương thức lặp
Phương thức nối
Phương thức liên tưởng
Trang 396 Luận về việc dùng người 1 2 2 4 8
7 Luận về nhân vật thiện,
QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI
9 Thư cho Tổng binh cùng
10
Thư cho thái giám Sơn
13 Lại thư trả lời Phương
Thư trả lời bọn tổng binh
Vương Thông và thái
giám Sơn Thọ
17 Thư gửi bọn Hoa đại
19 Thư cho hình nội quan
Trang 4026 Lại thư cho Vương
29 Văn tấu cáo (Liệt thánh
31 Thư cho thái giám Sơn
34 Thư cho Đả Trung và
36 Lại thư cho thái giám Sơn