PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lí do ch ọn đề tài Tùng Thiện Vương là một trong bốn tác giả nổi tiếng của văn học Việt Nam thế kỉ XIX, đã được người đời thời ấy xưng tụng qua hai câu: Văn như Siêu, Quát
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
PHÍ THỊ THU LAN
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA THƠ CA TÙNG THIỆN VƯƠNG TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
PHÍ THỊ THU LAN
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA THƠ CA TÙNG THIỆN VƯƠNG TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS LÊ THU YẾN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
- Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
- Các số liệu, tài liệu trích dẫn, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và nghiêm túc
Tác giả luận văn
Phí Th ị Thu Lan
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình và sự động viên, giúp đỡ của PGS.TS Lê Thu Yến Tôi xin kính
gửi lời tri ân chân thành nhất đến Cô!
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh, các Thầy Cô giáo khoa Ngữ Văn, các Thầy Cô phòng Sau đại học, Thư
viện trường đã luôn tạo điều kiện cho tôi học tập, tra cứu, tham khảo tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Kính gửi lời cảm ơn đến những người thân, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành công việc học tập và nghiên cứu đề tài luận văn này!
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2011
H ọc viên
Phí Thị Thu Lan
Trang 5M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 2
L ỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
PH ẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lí do ch ọn đề tài 1
2.L ịch sử vấn đề 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.Phương pháp nghiên cứu 4
5.K ết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 1: TÙNG THIỆN VƯƠNG – THỜI ĐẠI, CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP 6 1.1 Th ời đại 6
1.1.1 Chính tr ị 6
1.1.2 Kinh t ế 8
1.1.3 Xã h ội 9
1.2 Cu ộc đời 10
1.3 S ự nghiệp 22
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ NỘI DUNG CỦA THƠ CA TÙNG THI ỆN VƯƠNG 29
2.1 B ức tranh hiện thực đương thời 29
2.1.1 Tình c ảnh khó khăn của đất nước 29
2.1.2 Cu ộc sống lầm than, bất hạnh của nhân dân 33
2.2 B ức tranh thiên nhiên, cuộc sống 45
2.2.1 Thiên nhiên h ữu tình 45
2.2.2 Cu ộc sống thanh nhàn, bình dị 53
2.3 B ức chân dung con người cá nhân nhà thơ 61
2.3.1 Tình c ảm với người thân, bạn bè 61
2.3.2 N ỗi sầu vì đa nạn, tuổi già 81
2.3.3 N ỗi đau vì “tâm can báo quốc toàn vô địa” 85
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ NGHỆ THUẬT CỦA THƠ CA TÙNG THI ỆN VƯƠNG 97
Trang 63.1 Th ể thơ 97
3.2 Ngôn ng ữ 101
3.2.1 Câu 101
3.2.2 T ừ ngữ 112
3.3 Gi ọng điệu 120
3.3.1 Gi ọng điệu trữ tình 120
3.3.2 Gi ọng điệu phê phán 123
PH ẦN KẾT LUẬN 127
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 129
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do ch ọn đề tài
Tùng Thiện Vương là một trong bốn tác giả nổi tiếng của văn học Việt Nam
thế kỉ XIX, đã được người đời thời ấy xưng tụng qua hai câu:
Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường
Tuy đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng cho đến nay số lượng các công trình về thơ ca Tùng Thiện Vương còn khá khiêm tốn so với lượng sáng tác phong phú và đồ sộ của ông
Do chữ Hán là ngoại lai nên sáng tác bằng chữ Hán có phần xa lạ so với quảng đại quần chúng Tùng Thiện Vương là một nhà thơ chữ Hán trong hoàng tộc nhà Nguyễn Ngoài lý do sử dụng chữ Hán mà tác phẩm của ông ít phổ biến còn do vấn
đề lịch sử của triều đại này Và một nguyên nhân nữa cũng góp phần chi phối việc nghiên cứu thơ chữ Hán Tùng Thiện Vương, ấy là, trước thời đổi mới, việc nhìn nhận văn thơ hoàng tộc đã không tránh khỏi ít nhiều xu hướng tả khuynh trong việc nghiên
cứu, đánh giá
Với thời đổi mới, phương hướng nghiên cứu được thay đổi, trước hết là đổi
mới quan điểm đánh giá tác giả, tác phẩm Người nghệ sĩ tuy chịu sự ràng buộc của hoàn cảnh xuất thân song họ vẫn là những cá tính sáng tạo Tuy xuất thân hoàng tộc, nhưng sáng tác của Tùng Thiện Vương có nhiều tiến bộ, mang tính nhân văn sâu sắc
và nghệ thuật cũng đạt đến mức điêu luyện Ông có một sự nghiệp sáng tác rất quy
mô, song cho đến nay, giá trị của các sáng tác này chưa được ghi nhận và đánh giá đích đáng
Qua tìm hiểu, khảo sát, người viết đã được tiếp xúc với thơ ca Tùng Thiện Vương Người viết nhận thấy ở đây một thi tài, một tấm lòng rất mực đáng quý Tuy thuộc dòng dõi hoàng tộc nhưng thơ văn của ông có nội dung tiến bộ sâu sắc, đặc biệt
ở tư tưởng yêu nước, thương dân
Trang 8Với những lí do trên, người viết chọn đề tài: Những đóng góp của thơ ca Tùng
mong muốn giới thiệu một thi tài không thể không nhắc đến của văn học Việt Nam
thế kỉ XIX, ghi nhận những đóng góp về nội dung và nghệ thuật thơ ca của ông Qua
những việc làm đó, người viết hi vọng góp phần khẳng định vị trí của Tùng Thiện Vương trong văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
2.L ịch sử vấn đề
Một số nhà nghiên cứu văn học đã bắt đầu quan tâm đến Tùng Thiện Vương từ
sớm Nhưng do hoàn cảnh lịch sử, thời đại và ngôn ngữ, Thương Sơn thi tập của
Tùng Thiện Vương từ khi được khắc in đến nay vẫn chưa được giới thiệu nhiều Thành tựu nội dung và nghệ thuật tập thơ ấy đến nay vẫn chưa được tổng kết đầy đủ Người viết xin ghi lại một số nét căn bản về lịch sử vấn đề
Tháng 5 – 1918, trên tạp chí Nam Phong, mục Văn uyển, Tùng Thiện Vương được giới thiệu trang trọng “Ngài Tùng Thiện Vương, ngài Tuy Lý Vương và ngài
Tương An vẫn là ba vị có tiếng thơ hay của bản triều thường gọi là “Tam Đường”
Trong Hương Bình thi phẩm, Hoàng Trọng Thược cũng cho rằng: “Nói đến thi sĩ đất thần kinh, trước hết phải nói đến ba anh em Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương và Tương An Vương, con vua Minh Mạng vì cả ba đều là những thi sĩ lỗi lạc, chẳng
Năm 1970, kỉ niệm 100 năm ngày mất của Tùng Thiện Vương, hai người hàng cháu chắt của nhà thơ là Nguyễn Phúc Ưng Trình và Nguyễn Phúc Bửu Dưỡng có
viết tác phẩm Tùng Thiện Vương – Tiểu sử và thi văn Sách có dạng như một tập
truyện danh nhân Hai tác giả đã giới thiệu một cách khái quát về toàn bộ cuộc đời Tùng Thiện Vương, trích dịch 50 bài và phân tích bình luận từng bài
Tác giả Lương An trong công trình Thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm có
nhận xét: “Miên Thẩm là một nhà thơ hoàng tộc có tiếng giữa thế kỉ XIX Qua thơ
văn ông, chúng ta gặp một con người, tuy bị giai cấp xuất thân hạn chế rất nhiều,
nước không phải phổ biến trong tầng lớp nhà nho – trí thức lúc bấy giờ” Công trình
Trang 9giới thiệu chung về Tùng Thiện Vương và tuyển dịch 104 bài thơ Cùng loại với công trình này là tập Thơ Tùng Thiện Vương do Ngô Linh Ngọc, Ngô Văn Phú dịch, giới
thiệu, cung cấp một bản dịch thơ 89 bài
Năm 1973, công trình Phân tích những khuynh hướng tình cảm, đạo lý, xã hội
dịch từ Thương Sơn thi tập và một khảo luận về ba khuynh hướng nói trên Năm
1984, trong T ừ điển văn học, khi viết vắn tắt về tiểu sử Tùng Thiện Vương, giới thiệu
nhan đề một số bài thơ trong Thương Sơn thi tập, tác giả phần viết này nhận xét:
thậm chí có tư tưởng thoát ly không tính đến việc đời Ông rất giàu tình cảm đối với người thân, bạn bè, tình cảm mở rộng đến cả cây cỏ, loài chim, loài vật”
Năm 2000, tác giả Ngô Thời Đôn trong luận án tiến sĩ Giá trị nhân văn trong
Thương Sơn thi tập của Miên Thẩm nhận xét: “Mặc dầu đã sáng tác bằng ngôn ngữ
khuynh hướng cảm hứng chủ đạo trong sự phát triển của nội dung văn học trung đại
nhân văn là một giá trị độc đáo cần được khẳng định khi đánh giá thơ chữ Hán của
tập thơ này nói riêng vẫn góp phần tác động đến lương tri lịch sử, đến những tâm
Các nhà nghiên cứu đều khẳng định tên tuổi và giá trị thơ ca của Tùng Thiện Vương nhưng mới chỉ trên cơ sở ban đầu, khái quát Và cho đến nay, sáng tác của ông chưa được dịch thuật, khảo luận thấu đáo cả về nội dung và nghệ thuật
Thực hiện đề tài này, người viết kế thừa các công trình nghiên cứu đã có và từ
đó phân tích sâu thêm, trình bày một cách hệ thống những đóng góp của thơ ca Tùng Thiện Vương trong văn học trung đại Việt Nam về hai mặt nội dung và nghệ thuật,
khẳng định vị trí của nhà thơ hoàng tộc tiến bộ này trên văn đàn nước nhà
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là 316 bài thơ chữ Hán của Tùng Thiện Vương được tuyển
chọn và giới thiệu trong các tài liệu tham khảo dưới đây:
- Nguyễn Phúc Ưng Trình và Nguyễn Phúc Bửu Dưỡng, Tùng Thiện Vương,
1970
- Lương An (tuyển chọn và giới thiệu), Thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Nxb
Thuận Hóa, Huế, 1994
- Ngô Văn Phú tuyển chọn, sưu tầm; Dịch thơ và chú thích: Ngô Văn Phú, Ngô Linh Ngọc, Thơ Tùng Thiện Vương, Nxb Văn học, 1991
- Ngô Thời Đôn, Luận án tiến sĩ, Giá trị nhân văn trong “Thương Sơn thi tập”
- Nguyễn Phước Bảo Quyến, Tùng Thiện Vương – Đời và Thơ, Nxb Thuận Hóa,
2008
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết vận dụng các phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp thống kê, phân loại: Luận văn thống kê, miêu tả, phân loại thơ
Tùng Thiện Vương theo hệ thống đề tài, chủ đề, thể thơ nhằm tạo ra cái nhìn chung
về nội dung và nghệ thuật trong thơ Tùng Thiện Vương
Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận văn đi vào phân tích những đặc sắc về
nội dung và nghệ thuật trong Thương Sơn thi tập của Tùng Thiện Vương, từ đó thấy
được cá tính sáng tạo, đóng góp của thơ ông đối với văn học trung đại Việt Nam
Phương pháp so sánh: Sau khi đã tiến hành phân tích giá trị nội dung và nghệ
thuật trong Thương Sơn thi tập, luận văn so sánh đối chiếu giữa các kết quả để đi đến
những nhận định khái quát
5.K ết cấu luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, Phần nội dung gồm 3 chương lớn:
Chương 1: Tùng Thiện Vương – thời đại, cuộc đời, sự nghiệp
1.1 Th ời đại
1.1.1 Tình hình chính tr ị
Trang 111.3.2 S ự nghiệp văn chương của Tùng Thiện Vương
Chương 2: Những đóng góp về nội dung của thơ ca Tùng Thiện Vương
2.1 B ức tranh hiện thực đương thời
2.1.1 Tình c ảnh khó khăn của đất nước
2.1.2 Cu ộc sống lầm than của nhân dân
2.2 B ức tranh thiên nhiên, cuộc sống
2.2.1 Thiên nhiên h ữu tình
2.2.2 Cu ộc sống thanh nhàn, bình dị
2.3 B ức chân dung con người cá nhân nhà thơ
2.3.1 Tình c ảm với người thân, bạn bè
2.3.2 N ỗi sầu vì đa nạn, tuổi già
2.3.3 N ỗi đau vì “tâm can báo quốc toàn vô địa”
Chương 3: Những đóng góp về nghệ thuật của thơ ca Tùng Thiện Vương
Trang 12PH ẦN NỘI DUNG
C HƯƠNG 1: TÙNG THIỆN VƯƠNG – THỜI ĐẠI, CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP
Đi sâu tìm hiểu thơ ca Tùng Thiện Vương, người viết không thể bỏ qua yếu tố
thời đại Con người sống trong một xã hội, một thời đại không thể không chịu ảnh hưởng, tác động bởi xã hội, thời đại đó Cuộc đời Tùng Thiện Vương trải dài già nửa đầu thế kỉ XIX, thế kỉ đầy biến động của lịch sử dân tộc Việt Nam Vương sinh vào
năm Gia Long thứ 18 (1819) và mất vào năm Tự Đức thứ 23 (1870)
1.1 Th ời đại
1.1.1 Chính tr ị
Từ năm 1771 đến năm 1802, chế độ phong kiến Việt Nam cả Bắc Hà lẫn Nam
Hà (thường gọi là Đàng Ngoài và Đàng Trong) đều rơi vào tình trạng khủng hoảng
trầm trọng Đó là thời kì Lê Mạt – Nguyễn sơ, một thời kì loạn lạc Các cuộc nội chiến đoạt vị tranh quyền do các lực lượng Đàng Trong, Đàng Ngoài chủ xướng tiếp
nối không ngừng đã gây nên biết bao thảm cảnh và dẫn đến việc thay bậc đổi ngôi liên tiếp trên chính trường Nguyễn Ánh lên ngôi ở Phú Xuân năm 1802 lấy niên hiệu
là Gia Long, mở đầu triều đại nhà Nguyễn
Tùng Thiện Vương sinh ra và lớn lên từ triều Gia Long, sống và sáng tác từ triều Minh Mạng đến triều Tự Đức Hơn năm mươi năm sống trên cõi đời, Tùng Thiện Vương đã chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử, của thế sự; chứng kiến hai buổi giao thời lịch sử quan trọng: buổi giao thời Lê mạt – Nguyễn sơ (sau năm 1802) và buổi giao thời Việt – Pháp (sau năm 1862) Trong hai buổi giao thời ấy,
buổi giao thời trước, tuy có sự thay vua đổi chúa nhưng chế độ quân chủ vẫn không thay đổi; đến buổi giao thời sau thì đế quyền ngày càng bị thu hẹp, Nho học bị phá
sản, giai cấp thống trị là nho sĩ bị lụi tàn, chủ quyền quốc gia dần dần rơi vào tay ngoại bang và sau cùng là mất hẳn vào tay thực dân Pháp
Trang 13Tình hình chính trị thời kì Lê mạt – Nguyễn sơ rất rối ren Các cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra liên tiếp Trong tình hình chính trị ấy, trên
đất nước ta từ Bắc chí Nam, xã hội rối ren, lòng dân hoang mang “Sau khi Tây Sơn
người thì đi ẩn lánh các nơi; trong Nam cũng có nhiều người không ra làm quan với nhà Tây Sơn Ngay sau khi vua Gia Long đã thống nhất thiên hạ mà ngoài Bắc cũng
phải ra làm quan”[11,327] Sở dĩ có tình trạng đó là vì lòng dân Bắc Hà vẫn còn
hướng vọng nhà Lê, một triều đại đã trị vì đất nước tròn 360 năm (1428 – 1788) và đã đưa đất nước phát triển rực rỡ một thời nên đã để lại những ấn tượng, những tình cảm khó lòng phai mờ một sớm một chiều
Tuy lòng dân vẫn còn hướng vọng triều Lê, tình hình chính trị trong những năm triều đại Gia Long vẫn tương đối yên ổn Nhưng sang các triều đại sau, từ Minh
Mạng, Thiệu Trị đến Tự Đức thì tình hình không còn yên ổn như trước nữa bởi loạn trong giặc ngoài
Ở trong nước, có nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống triều đình Triều Minh
Mạng, ở Bắc kì có cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành (Nam Định – 1826), của Trọng Liên (Sơn Tây – 1826), của Lê Duy Lương (Ninh Bình – 1833); ở trong Nam có cuộc
nổi dậy của Lê Văn Khôi (Gia Định – 1833) Sang triều Thiệu Trị có cuộc nổi dậy
của Nguyễn Văn Nhờn (dư đảng của Nông Văn Vân) ở Sơn Tây Đến triều Tự Đức, tình hình lại rối ren hơn Ở Bắc kì có cuộc nổi dậy của Lý Văn Xương (Thái Nguyên – 1851), của Lê Duy Cự - Cao Bá Quát (Sơn Tây – 1854), của Tạ Văn Phụng (Quảng Yên – 1861)…; ở kinh đô có cuộc nổi dậy của anh em Đoàn Trưng, Đoàn Trực (1866)…
Đối với bên ngoài, triều đình nhà Nguyễn phải đương đầu với sự tranh giành ảnh hưởng chính trị của Thái Lan trong việc muốn giành quyền bảo hộ Campuchia và Lào nhưng nghiêm trọng hơn là phải đương đầu với bọn thực dân Pháp Năm 1847, dưới triều Thiệu Trị, chiến thuyền Pháp bắn thị uy vào cửa bể Đà Nẵng Năm 1856, dưới triều Tự Đức, chiến thuyền Pháp lại bắn phá Đà Nẵng rồi bỏ đi Hai năm sau, năm 1858 (năm Tự Đức thứ 11), chiến thuyền Pháp lại bắn phá Đà Nẵng lần nữa
Trang 14trước khi chúng kéo quân vào đánh Gia Định mở đầu cuộc xâm lăng đất nước ta
Việc gây hấn của Pháp thực chất là do ý đồ xâm lược các nước nhược tiểu vùng Đông Dương nói riêng và vùng Đông Nam Á nói chung của các nước Châu Âu để khai thác tài nguyên, nhân vật lực tại đây cũng như dùng các vùng này làm thị trường tiêu thụ hàng hóa của chúng Việc cấm đạo của triều đình Huế, khởi đầu từ triều Minh Mạng (vì cho rằng: đạo phương Tây là tả đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy hoại phong
tục…) chỉ là cái cớ để thực dân Pháp thực hiện mưu đồ xâm lược ấy
1.1.2 Kinh t ế
Nguyên nhân của những cuộc nội loạn từ triều Minh Mạng đến triều Tự Đức, ngoài những lí do đã nêu trên còn có lí do khác không kém phần quan trọng, đó là tình trạng kinh tế nghèo nàn, lạc hậu thời bấy giờ
Xã hội Việt Nam lúc này vẫn chia ra làm tứ dân: sĩ, nông, công, thương Trong
tứ dân, giai cấp nông dân chiếm đa số nhưng do kĩ thuật canh tác còn quá lạc hậu nên năng suất thu hoạch kém Hơn nữa chính sách quân điền của triều Nguyễn cũng không công bằng, phần lớn ruộng đất đều lọt vào tay quan lại, phú hào Người nông dân thiếu ruộng canh tác khiến họ phải lâm vào cảnh sống thiếu thốn, cùng khổ, lại thêm thiên tai luôn đe dọa cuộc sống Hạn hán, bão lụt, vỡ đê, sâu bệnh phá hoại mùa màng dẫn đến mất mùa Người nông dân đã khổ lại càng thêm lao đao Chỉ tính triều đại Tự Đức, người ta đã ghi nhận những vụ đói kém và mất mùa do thiên tai gây nên như sau:
- Năm 1848: dân Hà Tĩnh khốn đốn vì giá gạo cao
- Năm 1852: đại hạn tại Thừa Thiên
- Năm 1856, 1857, 1858: bão lụt khắp Bắc kì
- Năm 1859: dân Quảng Nam bị nạn đói
- Năm 1860: dân Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định bị nạn đói
- Năm 1863: mất mùa toàn quốc
- Năm 1864: dân Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi bị
nạn đói
- Năm 1865: đại hạn tại Bắc kì
Trang 15Ngoài thiên tai, người dân còn bị bệnh dịch hoành hành mà lớn nhất là nạn
dịch năm 1820 lan tràn từ Hà Tiên đến Bắc thành, giết chết 206.835 người và nạn
dịch năm 1826 ở Gia Định giết chết 18.000 người
Bên cạnh nền nông nghiệp lạc hậu, luôn bị thiên tai đe dọa khiến dân tình khốn
khổ, nền công thương nghiệp của nước ta cũng chẳng có gì đáng kể Về công nghiệp,
chỉ có tiểu thủ công nghiệp mang tính chất gia đình, cha truyền con nối, phụ họa cùng nông nghiệp Về thương nghiệp, chỉ có buôn bán nhỏ ở trong nước; ngoại thương không những không được mở rộng mà còn bị các vua nhà Nguyễn theo đuổi chính
sách b ế quan tỏa cảng, cấm người nước ngoài vào ra buôn bán mặc dù nước ta đã có
hai trung tâm thương mại lớn là Hội An và Phố Hiến từ thế kỉ XVII
1.1.3 Xã h ội
Xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức cũng vẫn là một
xã hội phong kiến chịu sự chi phối của tư tưởng Nho giáo Cũng như các triều đại trước, các triều đại nhà Nguyễn vẫn rất trọng văn học, vẫn dùng khoa cử để kén chọn nhân tài, bổ nhiệm vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước của mình Vua Gia Long cho mở trường Quốc Tử giám ở Kinh đô để dạy con các quan, lập Văn miếu ở các
trấn, doanh để thờ đức Khổng Tử Năm 1807, vua lại mở thêm 6 trường thi Hương,
lại đặt chức Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo để coi việc giáo dục ở các trấn Vua còn mở thêm các kì thi Hội và thi Đình để lấy Tiến sĩ, Phó bảng… Đến đời vua Tự Đức, vì
vốn là vị vua hay chữ nên việc học lại càng được mở mang thêm Vua đặt ra Nhã sĩ khoa và Cát sĩ khoa để chọn người đỗ đạt ra làm quan, lại đặt thêm Tập hiền viện và Khai kinh diên để các quan luận bàn về văn học và chính trị Tuy nhiên, chế độ giáo
dục trọng khoa bảng, trọng cử nghiệp “càng lâu càng sinh tệ: các sĩ phu chỉ biết tầm
chương trích cú, đẽo gọt câu thơ, câu văn, thành ra cái thói chuộng hư văn một ngày
nhà Nguyễn cũng chỉ biết có nền văn hóa, văn minh của Trung Quốc ngoài ra chẳng
biết mở mắt nhìn xa trông rộng đến các nước khác, nhất là nền văn minh của các nước phương Tây nên chẳng biết chút gì về khoa học thực dụng, về cơ khí, kĩ nghệ… Trong khi đó, trên thế giới, đến thế kỉ XIX, đã có rất nhiều đổi thay, khoa học đã tiến
Trang 16một bước dài, vượt xa nền văn minh Trung Quốc thì nhà cầm quyền và sĩ phu nước ta
vẫn còn ngủ say trong tháp ngà của tư tưởng Nho giáo, lấy văn minh Trung Quốc làm
mẫu mực để tổ chức công việc trị nước từ hành chính đến thương mại, giáo dục… Tất
cả đều nhất nhất theo khuôn phép cũ mà làm Bàn về tình hình văn hóa – xã hội của
nước ta thời kì này, sử gia Trần Trọng Kim đã đưa ra nhận định: “Những người giữ
bàn đến quốc sự thì phi Nghiêu, Thuấn lại Hạ, Thương, Chu, việc mấy nghìn năm trước cứ đem ra làm gương cho thời hiện tại rồi cứ nghễu nghện tự xưng mình là hơn người, cho thiên hạ là dã man…”[12,474]
Chính do kiến văn hạn hẹp, tri thức nông cạn, khiếm khuyết mà nhà cầm quyền nước ta thời ấy đã có những quyết định thiếu khôn khéo, cực đoan, sai lầm về
nội trị cũng như ngoại giao nhất là trong việc ngoại giao với các nước phương Tây nên đã tạo ra cái cớ thuận lợi cho mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp để chúng đặt ách đô hộ lên dân tộc ta suốt gần thế kỉ Nhìn chung, cùng với tình hình chính trị từ
nội trị đến ngoại giao như đã nói trên, nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu đã làm cho xã
hội Việt Nam trở nên rối ren, loạn lạc, dân tình khốn khổ hơn bao giờ hết
1.2 Cu ộc đời
Tùng Thiện Vương sinh ngày 24 tháng 8 năm Kỷ Mão, giờ Dậu, năm Gia Long
thứ 18 tức ngày 11.12.1819 tại điện Thanh Hòa, cung Thái tử Lúc sơ sinh, vua Gia Long đặt là Nghiện (có nghĩa là sắc mặt trời lúc mới mọc, nhưng vì kiêng húy nên đọc là Ngợn) Đến năm thứ tư triều Minh Mạng nhà vua ngự chế “Đế hệ thi”, Vương
được đổi tên thành Nguyễn Phước Miên Thẩm (Thẩm nghĩa là xét đoán rõ ràng)
Vương là hoàng tử thứ mười của vua Minh Mạng tức đức Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Thân mẫu của Vương là bà Thục Tần Nguyễn Thị Bảo người làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, con gái quan Tư Không Nguyễn Khắc Thiệu và phu nhân Nguyễn Thị Phú
Từ lúc sinh ra, Vương thường khóc đêm, các ngự y cho là mắc chứng “dạ đề”, các quan coi việc Khâm Thiên chấm số tử vi lại đoán là “có hung tinh chiếu mạng” tâu xin cúng sao Thái Bạch và cho đổi chỗ ở Thuận Thiên Hoàng hậu bèn đem cháu
Trang 17từ viện Đoan Trang sang cung Thọ Nguyên để mong cháu đỡ bệnh nhưng tình hình
vẫn không thay đổi Thấy vậy, bà Thục Tần không yên lòng nên tâu xin đưa con trở
lại viện Đoan Trang để tự mình chăm sóc Được mẹ ngày đêm tận tình chăm sóc,
chạy chữa thuốc thang, sức khỏe ngày một khá lên Biết đi, biết nói, ngày càng tíu tít bên mẹ Chiều nào mẹ cũng dẫn Vương đi dọc theo dãy hành lang từ viện này sang cung nọ, trước để chầu Thuận Thiên hoàng hậu sau để tập cho Vương dạn nắng, dạn gió
Từ bé, Vương đã tỏ ra thông minh, đĩnh ngộ hơn người Năm bốn tuổi, Vương
bắt đầu theo học Hiếu kinh với bà Học phi dạy trong nội cung Lên năm tuổi học Tam
Chánh đường vừa mới xây xong, bà tâu xin vua cho con qua Dưỡng Chánh đường ở cùng với các anh em (gồm bảy hoàng tử: Miên Thần, Miên Phú, Miên Thủ, Miên Trinh, Miên Bửu, Miên Trữ) để theo học với hai vị đại khoa là Trương Đăng Quế và Thân Văn Quyền
Trong thời gian học ở Dưỡng Chánh đường, một hôm vào chầu bà Thục Tần, Vương thấy trên cái quạt giấy để trên bàn có bài thơ Đường trong đó có nhiều chữ Vương không rõ Vốn ham hiểu biết, Vương cố nài xin mẹ cho được Hôm sau Vương đem quạt giấy đến hỏi thầy Thân Văn Quyền rồi xin được học phép làm thơ
Thầy nghiêm khắc, không dạy phép làm thơ cũng không cho đọc thơ Ngay cả
bà Thị Phụng, vị nữ quan chuyên lo chăm giữ Vương, cũng kiềm chế Những sách gì không có trong chương trình học cũng không cho đọc Thầy không dạy phép làm thơ, trò lại càng mong chóng biết Vì vậy, trò càng cố công tìm hiểu Đọc Đường thi, trò
phải lén đọc và phải đọc thầm một mình trong những lúc đi dạo May mà có em, ngài Mười Một (Tuy Lý Vương) tính cũng thích thơ nên hai anh em thường lén tìm hiểu phép tắc làm thơ rồi học làm thơ và thường ngâm vịnh riêng với nhau, khi thì thơ chữ Hán, khi thì thơ chữ Nôm, mật thiết như hai người ở trong một hội kín
Năm Minh Mạng thứ tám (1827) Vương được vua cho đến ở tại Minh Thiện đường trước Dưỡng Chánh đường cùng với hai em là Miên Trinh (Tuy Lý Vương) và Miên Bửu (Tương An Quận Vương) Lễ tế đàn Nam Giao mùa xuân năm ấy, Vương
Trang 18được theo hầu vua và Vương có làm bài “Nam Giao thi”, rất được tán thưởng Khi ấy
Vương vừa tròn 9 tuổi
Năm mười bảy tuổi (Minh Mạng thứ 16 – 1835), được theo hầu Vua lên đàn
Nam Giao, Vương có làm bài thơ Trai cung tùng thụ(Thông ở Trai cung) rồi lại được
hộ giá Vua lên núi Ngự Bình để ứng chế thi phú Các bài thơ phú ứng chế có nhiều câu hay được mọi người tán thưởng, Vua ban khen, phong tước Tùng Quốc Công
Năm mười tám tuổi (Minh Mạng thứ 17 – 1836), Vương được nhà vua cho ra ở
phủ riêng (cùng lúc với hai ông Hoàng Mười Một và Mười Hai) Phủ của Vương ở ngang với phủ của Tuy Lý tại phường Liêm Năng trong Kinh thành, phía đông Lục
bộ Ở đây, hai ông hoàng thường hay qua lại liên ngâm, xướng họa thơ ca Vì hai anh
em xuất khẩu thành thơ nên sĩ phu đương thời gọi hai ngài là “nhị Tô” (ví hai ngài như hai anh em Tô Thức, Tô Triệt đời nhà Tống) Cũng năm ấy, vua sắc cho ba hoàng tử được cưới thiếp Đồng thời lại sắc cho các công thần, ai có con gái đoan chính thì được chọn rể hoàng tử Để tỏ lòng biết ơn đối với người thầy đã có công
dạy dỗ mình, Vương chọn cưới con gái của Tuy Thạnh Quận Công Trương Đăng
Quế làm đệ nhất phủ thiếp Đó là bà Trương Thị Thứ, hiệu là Nguyên Cơ Lúc này Vương được ra ngoài để giảng tập kinh sử Vương rất ham đọc sách, thích du sơn ngoạn thủy và cũng rất thích giao du kết bạn với các tao nhân mặc khách, các danh sĩ đương thời
Năm hai mươi tuổi (1838 – Minh Mạng thứ 19) Vương được dự triều ban
Những năm đầu tập tễnh học làm quan, Vương đã mắc phải một vài lỗi lầm tuy nhỏ
mà làm Vương ân hận mãi Theo lệ mỗi ngày, một hoàng tử phải vào gửi thẻ thỉnh an vào đầu giờ Mão tức lúc 5 giờ sáng Công việc không có gì khó nhọc, chỉ vào ngồi tại
Tả Vu, nhờ Thái giám gửi dâng thẻ thỉnh an – thẻ bằng ngà, trên thẻ trạm sẵn bốn chữ
“Cung thỉnh vạn an”, hoàng tử chỉ viết thêm tên mình và đề ngày tháng vào Nếu thánh thể được khỏe thì Hoàng đế hạ một chấm son vào mặt chữ “an” rồi giao thẻ cho thái giám đem trở ra để người thỉnh an thông báo cho đình thần biết Rủi thay, hôm đến phiên mình thỉnh an, Vương lại dâng trễ nửa giờ Nhận được thẻ, hoàng đế chẳng trách phạt gì nhưng khi giao thẻ trở ra, người chẳng phê một chấm son nào, thành thử Vương không biết phải thông báo như thế nào về thánh thể trong khi cả phủ Tôn
Trang 19Nhơn và triều thần đang chờ chực để biết tin Tuy tội nhẹ mà nhiều người biết; sự
việc được loan truyền khắp cả Kinh thành, Vương cảm thấy đau đớn, hổ thẹn vô cùng
về tội tắc trách của mình
Qua năm sau, lại một việc khác, không phải vì ngủ mà vì thức, làm Vương mang tội nặng hơn Vương thường thích tổ chức diễn kịch và thích tự mình diễn một vai Một hôm, khoảng hết canh hai, Vương cho nổi trống diễn tuồng, có ngài “Mười
Một” hưởng ứng ngồi cầm chầu Rủi thay, khi ấy Hoàng đế đang xem sách, trong cung không ai dám to tiếng Nghe tiếng trống chầu, Vua sắc hỏi Sáng hôm sau, phủ Tôn Nhơn dâng phiến tâu rõ sự tình đêm qua, vua phê vào mặt phiến: “Khởi cổ ở trong thành mà không xin phép, Miên Thẩm phải phạt bổng hai năm và phải đóng
cửa ba tháng, không được dự triều hạ” Từ ngày bị phạt, Vương đốt hết các pho tuồng, không dám bàn đến nghề ấy nữa Vương quay sang chú tâm vào sáng tác thơ, góp thành một tập lấy tên là “Nhĩ hinh”
Mùa đông năm Canh Tý – 1840, ngày 19 tháng chạp vua lâm bệnh nặng Thái
y lo thuốc thang nhưng hiệu quả không được như ý Sáng 26, một viên Thái giám ra truyền sắc rằng: “Thuốc của viện Thái y chưa đúng bệnh, ai biết ngoại khoa, có phương thuốc gì theo kinh nghiệm thì được phép dâng vào.” Nghe lời sắc ấy, Vương
đã lo lại càng lo hơn Nhớ lại mấy năm trước, đã từng đau bệnh lỵ, chỉ dùng một thứ nghệ tẩm mật ong và có hiệu nghiệm nên Vương đem ra bàn với anh em rồi gởi vào dâng lên với lòng mong mỏi vua cha mau lành bệnh Hôm sau cũng viên Thái giám
ấy đệ ra một đồng tiền vàng phụng sắc cho ông Hoàng Mười: “Bệnh tình giảm được nhiều, Hoàng đế ban khen cho phương thuốc ấy.”
Chiều ngày 28, bệnh lại tái phát và có vẻ nặng hơn Công bao nhiêu tội cũng
bấy nhiêu, Vương nhìn đồng tiền vàng mà khóc Tối hôm ấy, Thuận Thiên Hoàng
hậu tuyên triệu các đại thần và các Hoàng tử vào cung Vương hồi tưởng những việc mình đã làm ngày trước: khi nổi trống hát, khi dâng trễ thẻ thỉnh an cùng những lời nói, việc làm khác… mà lòng vô cùng đau xót chỉ mong sao cho vua cha sống lâu để mình còn ngày giờ chuộc lỗi Gần đến canh một đêm 28 tháng chạp năm Canh Tý (1840), sau khi vẫy quan đại thần Trương Đăng Quế đến bên long sàng thì thào
Trang 20truyền lệnh tôn con trưởng lên nối ngôi, Hoàng đế băng trong sự tiếc thương của mọi người, hưởng thọ 50 tuổi, trị vì được 21 năm
Mùa xuân năm Tân Sửu (1841), hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Tuyền lên ngôi
lấy niên hiệu là Thiệu Trị (Hiến Tổ Chương Hoàng Đế) Năm sau (1842), ngày 21 tháng 2 vua ngự Bắc tuần làm lễ bang giao, nhận sắc phong của triều đình nhà Thanh Vương và Tương An Công cùng được sung chức Ngự tiền hộ giá Ra khỏi Thừa Thiên, tiến lên phía bắc, “bên tai nhiều giọng lạ, trước mắt ít người quen” (Xạ văn
hương ngữ biệt, Tiệm giác cố nhân hi – Bắc hành), trải qua nhiều miền đất lạ, mỗi
nơi Vương đều có làm thơ ghi lại cảm nghĩ của mình Đến Hà Nội, nhìn phong cảnh thành Long Biên, Vương xúc động viết:
Long Biên đài thượng nguyệt đương thiên
Phương thảo xuân qui diệc suy yết,
(Long Biên thành rộng, đài cao,
Cỏ tươi, trăng tỏ biết bao giữa trời
Cỏ kia tươi chỉ một thời, Trăng kia tỏ đó, tự đời nào đây?)
Bửu Thanh, sứ thần của vua Đạo Quang nhà Thanh sang làm lễ bang giao, đọc bài này, khuyên cả bốn câu và phê: Thảo nguyệt câu tân, do bút diệu dã (Trăng với
cỏ đều là những cảnh thường nhưng do ngòi bút tả khéo mà ra lạ, ra mới cả) Kết thúc chuyến hành trình ra Bắc, hơn trăm bài thơ đã ra đời làm thành tập Bắc hành Ở Hà
Nội, Vương có dịp gặp gỡ một số tao nhân mặc khách của đất Bắc và đặc biệt là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu – một danh sĩ của Hà thành Cũng trong dịp này, sĩ phu Bắc hà được thưởng thức tài nghệ của Vương qua tập Bắc hành Từ sau khi gặp
Nguyễn Văn Siêu trong chuyến Bắc tuần ấy về, bên cạnh việc sáng tác thơ để cho ra
đời tập Ngộ ngôn, Vương còn chuyên chú việc viết văn Các bộ Thương Sơn văn di,
Vốn là người yêu thiên nhiên, thích du sơn ngoạn thủy, cảm thấy sống trong Kinh thành ngày càng tù túng nên khi thấy sông Lợi Nông phong cảnh hữu tình,
Trang 21Vương đã xin vua dời phủ đệ từ phường Liêm Năng về bên sông Lợi Nông, khúc Phủ Cam Ở đây Vương cho đào hồ, đắp núi, xây nên một phủ đệ đặt tên là Ký Thưởng
vịnh; nhà Bạch Bí là chỗ các bà phủ thiếp ở và ươm tơ, dệt vải; nhà Tùng Vân là nhà
để thi văn; Cổ cầm đình là chỗ ngồi đàn; Xuy tiêu ỷ là chỗ thổi tiêu; Sở tụng đình là
chỗ trồng cam; Hàn lục hiên là chỗ trồng cúc v.v… Những nhà trong Ký Thưởng viên
không nguy nga, hùng vĩ như lâu đài của các vị vương công đời xưa nhưng tao nhân
mặc khách lại thích, không phải thích cái nhà mà thích tên cái nhà Và chính vùng
sông nước Lợi Nông đẹp đẽ này đã khơi nguồn cảm hứng cho những tập Hà Thượng,
Mô trường, Bạch Bí ra đời Là một người giao du rộng, hào phóng, chủ nhân Ký Thưởng viên đã dành một nhà lớn nhất để tiếp đãi văn nhân Ngay gian giữa treo một
tấm biển năm chữ thếp vàng “Thương hà bạch lộ đường”, không phải do chủ nhân
làm ra mà do một quan sứ Tàu gửi tặng
Tháng 10 năm Đinh Mùi (1847) vua Tự Đức (Dực Tông Anh Hoàng Đế) tức vị Nhà vua đã toan ngự Bắc tuần làm lễ bang giao như thường lệ, nhưng quan Nguyễn Đăng Giai dâng sớ tâu đề nghị vua tiếp sứ thần tại Phú Xuân với lý do nhà Thanh đã công nhận nước ta là Việt Nam, đóng đô tại Phú Xuân thì lễ bang giao phải tiếp sứ
thần tại Phú Xuân mới hợp Nghe ra có lý, nhà vua đã đổi ý và gửi quốc thư sang nhà Thanh xin tiếp sứ Tàu làm lễ bang giao tại Kinh đô Phú Xuân Vua Đạo Quang cũng cho là phải và phái Lao Sùng Quang, Đệ nhị giáp tiến sĩ Thanh triều, Tuần vũ Quảng Tây, đi sứ sang nước ta Vua Tự Đức cho triều thần tuyển chọn những tác phẩm kiệt
xuất xưa nay của ta làm thành một tập gọi là Hoàng Việt phong nhã thống biên
Trong đó phần nhiều là thơ văn của “nhị Tô” nước Nam (Tùng Thiện vương và Tuy
Lý vương)
Năm Kỷ Dậu (1849) sứ thần Trung Quốc Lao Sùng Quang đến Phú Xuân làm
lễ bang giao Khi đọc tập Hoàng Việt phong nhã thống biên, vị sứ thần nhà Thanh tỏ
ra rất có thiện cảm và bắt đầu nể trọng người Việt Nam ta, không dám tự phụ mình là
vị Tiến sĩ đệ nhị giáp, sứ thần của một đại quốc Trong những ngày lưu lại Đế đô, Lao Sùng Quang đã cùng Vương xướng họa thi văn và rất thán phục tài thơ của
Trang 22Vương Ông còn đến thăm Vương tại Ký thưởng viên Khách chủ bút đàm Và khi
đàm luận đến thơ Vương, Lao Sùng Quang có viết:
Độc đáo bạch âu hoàng diệp cú,
(Đọc đến câu “bạch âu hoàng diệp”,
Cả người ớn lạnh với hơi thu.)
Nguyên trong bài Khi ển hoài trích từ tập Hà thượng của Vương có câu:
Thân tự bạch âu tùy xứ túc, Giao như hoàng diệp nhập thu sơ
(Thân như âu trắng bay tùy thích,
Bạn tựa lá vàng thu mới sang)
Ví thân mình như con chim âu trắng, ví đời người như chiếc lá mùa thu Đọc đến câu thơ này, Lao Sùng Quang cảm xúc đến ớn lạnh cả người nên đã viết như thế
Từ đó mà có tập Thương Sơn thi thoại
Vương cũng lập ra Tùng Vân thi xã hay Mặc Vân thi xã, tập hợp được nhiều danh sĩ đương thời như Hà Tôn Quyền, Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Đức Đạt, Vũ Đức Nhu… Các em trai ( Tuy Lý Vương, Tương An Quận Vương, Thọ Xuân Vương, Phú Bình Công, Hàm Thuận Công, Hoằng Hóa Công…), em gái ( Qui Đức công chúa, Lại Đức công chúa, Thuận Lễ công chúa); con trai (Hồng Phì, Hồng Tích,
Hồng Dục…); con gái (Thể Cúc, Thức Huấn, Chấp Khuông,…) đều được tham dự cả
Cũng năm ấy (1849), mẹ Vương, bà Thục Tần, mãn tang Thuận Thiên Hoàng
hậu, và như thế là đã làm tròn đạo làm vợ và đạo làm dâu, Vương dâng sớ tâu xin vua cho rước mẹ về Tiêu viên để phụng dưỡng vì mẹ tuổi đã già Chiều ý mẹ, Vương lập sau Tiêu viên ba sở phủ cho ba bà chúa em Bốn anh em thường họp nhau khi đàn, khi ca, khi kể chuyện xưa, khi kể chuyện nay, cốt để làm vui lòng mẹ Năm Tự Đức
thứ ba (1850), bà Thục Tần bị thương phong Nhờ có thuốc trong cung ban ra nên
bệnh tình tạm yên nhưng cánh tay trái chưa cử động được, đầu lưỡi còn tê, tiếng nói không được rõ Từ khi bị bệnh, mặc dù con cháu ngày đêm túc trực bên giường chăm sóc nhưng “cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng; con muốn nuôi mà mẹ không ở”,
Trang 23tháng 8 năm ấy (1851), bà Thục Tần tạ thế Quá đau buồn, Vương phó thác Ký
Thưởng viên cho sông Lợi Nông Sau khi an táng mẹ trên núi ở làng Dương Xuân,
Vương dựng chòi một bên tẩm, ở hầu mộ mẹ, tự tay lo hương khói hôm mai và lo
dựng bia công đức cho thỏa lòng hiếu thảo
Năm Tự Đức thứ bảy (Giáp Dần – 1854), Vương được tấn phong Tùng Thiện Công Cũng năm đó, Vương tâu với vua xin mua 12 mẫu tư điền ở làng Dương Xuân,
cất nhà ở gọi là Phương Thốn Thảo Đường (nhà cỏ vuông một tấc), đào mương dẫn
nuớc tạo thành ao gọi là Hoàng Tử Pha, trên ao có giường tre là nơi đọc sách, uống
rượu, ngâm vịnh với bạn văn
Sau ngày bà Thục Tần mất, Tiêu viên được sửa thành Từ đường; Ký thưởng
sách Đương thời sĩ phu đến học đều tôn xưng Vương là “Đức Thầy” Con em trong nhà cũng xưng hô như thế và Vương cũng thích nhận cái danh hiệu mới ấy Học trò Vương có rất nhiều người thành danh Hồng Phì làm Tham tri Bộ Lại, Hồng Tích làm
tá lý, Hồng Dục làm Phó sứ, Hồng Khẳng được truy thọ Đông các đại học sĩ Xuất
sắc nhất là Nguyễn Trọng Hợp đậu tiến sĩ năm Tự Đức thứ 6 (1853), làm Tổng đốc
Hà Nội, Thương Bạc đại thần, Bắc Kỳ kinh lược, Phụ chính đại thần và Phạm Phú
Thứ quan hàm đến Hiệp Tá đại học sĩ, từng làm Tổng Đốc, Cơ Mật đại thần, Thượng thư Bộ Hộ
Ngay chính vua Tự Đức cũng tuyên triệu Vương vào cung để dạy nghề thơ vì vua là người thích thơ Tùng Thiện Vương khuyên vua nhưng vua không nghe, nên ông đành phải nhận lời Vua thường sai người đem thơ đến cho Vương nhờ Vương nghị bàn Mỗi khi tiếp thị vệ đệ tráp Ngự chế thi, Vương mặc áo rộng, đội khăn đen đến Ngự Mặc đình, tự tay mở hoàng phong ra đọc, ngẫm nghĩ và rồi tự tay viết sớ dâng vào, tâu xin đổi những chữ nào và tâu rõ vì sao phải đổi những chữ ấy Tuân theo lời khẩu dụ của vua là phải giữ bí mật nên việc này Vương chẳng dám hở môi
với ai Không chỉ “vãng lai thi tấu” với Vương, vua còn hay đến Ký thưởng viên, ngự
đề thơ tại nhà Tùng Vân
Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), Vương được 47 tuổi Vua thấy Vương tuổi cao đức lớn, cho khỏi phải lạy chầu khi thường triều, lại cho kiêm nhiếp Tôn Nhơn
Trang 24phủ Tả Tôn Nhơn Tự xét mình tuổi đã già, Vương dâng sớ xin từ Vua xem sớ phê
rằng: “Việc phủ quan trọng nhiều, phải nhờ người học rộng đức dày như ông mới làm được Ông không nên từ” Do đó Vương phải nhận
Năm Tự Đức thứ mười chín (1866), con rể của Vương là Đoàn Trưng (chồng
bà Thể Cúc, trưởng nữ của Vương) ngầm tổ chức bạn bè và một số nhà sư vận động dân phu đang cực khổ xây dựng Vạn Niên Cơ làm cuộc nổi dậy nhằm lật đổ vua Tự Đức để phò hoàng tôn Ưng Đạo, con trưởng của An Phong Công Hồng Bảo lên làm vua Việc thất bại, Trưng bị tội chết (sau cuộc nổi dậy này, Tự Đức cho đổi tên Vạn Niên Cơ thành Khiêm cung) Vương trói con gái cùng cháu ngoại đem dâng nạp và thượng sớ xin chịu tội vì không biết dạy bảo rể con Vua giáng dụ lập Hội đồng điều tra, bắt Vương phải đóng cửa Ký thưởng viên, không được giao tiếp với một ai Suốt hơn ba tháng, ngoài cửa Ký thưởng viên có lính canh gác, trong Ký thưởng viên rêu
phủ khuất dấu giày văn nhân thi sĩ Riêng Vương, trong thời gian này, thường ngồi
một mình một bóng trầm tư mặc tưởng và đã sáng tác thêm một tập thơ nữa là tập
Mãi điền
May thay, ngọc không bị lầm với đá, ngày tòa Hội đồng dâng án, vua phê:
“Tùng Thi ện Công không phải là người tham danh, háo lợi; tâm thuật lại biết lấy
Đối với quốc pháp, vua đã mở lượng khoan hồng nhưng còn gia pháp, biết bà
Thục Tần có chịu tha thứ cho? Phận làm con vẫn mang tội Ngày tiếp phủ Tôn Nhơn
lục án, Vương mặc áo rộng đen ra trước từ đường đốt nhang đèn quì thẳng lưng hai tay dâng lên cây roi miệng lầm rầm khấn vái một hồi rồi nằm sấp trước bàn thờ để
chịu đòn như hồi sinh tiền bà Thục Tần đã thường trị tội Sau đó Vương đem cả con,
cả cháu sang ở bên Phương Thốn Thảo Đường (nhà cỏ vuông một tấc) ở làng Dương
Xuân đồng thời cho sửa sang ngôi chùa cổ Từ Lâm Từ sau vụ án Đoàn Trưng, lòng nhiều phiền muộn, nhất là bị dằn vặt bởi mặc cảm phạm tội, Vương sống như một kẻ mang tâm bệnh, tránh chuyện giao du Trong thời gian này, Vương soạn xong hai tập
Trang 25Năm Tự Đức thứ hai mươi mốt (1868), vua Tự Đức mời Vương phải kiêm nhiếp Tôn Nhơn phủ Tả Tôn nhơn như trước, coi về vấn đề “Trị thân” nghĩa là răn
dạy cho Hoàng gia, theo lời dụ của vua có ba chữ “Bố giáo lệnh” Vì cảm tình tri kỷ nên Vương chẳng dám chối từ, phải ép lòng cầm lại cái ấn son và phải lo hoàn thành nhiệm vụ vua giao
Năm ấy, gặp tiết Tứ tuần đại khánh, khi ấy Vương cũng lên tuổi 50, vua Tự Đức ban cho những đồ trân bửu (vàng bạc, gấm lụa, văn phòng tứ phẩm ) nhiều hơn năm Vương mừng thọ tứ tuần để tỏ lòng yêu trọng Vương như ngày trước và còn làm
bài thơ Hoài Công ban cho Nhưng lễ Hạ thọ, Vương không cho con cháu cử hành vì
tự xét mình vẫn là người có tội Để kỷ niệm ngày 50 tuổi, Vương chỉ viết mấy câu:
Bán bách niên hoa vãn Kiêm chi ưu hoạn tồn
trầm tư mặc tưởng Ngày 17 tháng 3 bỗng nhiên phát bệnh kiết lỵ Uống thuốc nghệ
tẩm mật ong đến ngày 25, bệnh lành
Ngày 27 vẫn bình thường Ngày 28, nghe tin Lạng Sơn bị Tô Tứ, dư đảng bọn
phỉ Ngô Côn người Trung Quốc vây, Tổng thống Bắc Kì quân vụ Đoàn Thọ phải tự sát, Vương ớn lạnh mới đem rượu ra uống để giải sầu Chiều ấy, bệnh lỵ tái phát Vua
Tự Đức tuy đang phiền về việc Lạng Sơn nhưng vẫn cho ngự y đến chữa trị, ban sâm
quế cùng thuốc quý và cho thị vệ ngày đêm đến thăm hỏi Ngày 30, tự biết mình sắp
sức tàn lực kiệt, Vương gượng ngồi dậy viết bài biểu gửi dâng lên vua trong đó có
đoạn: “Tử sanh mạng dã, duy dĩ bất hoạch kiến Nam Bắc phục viên y cựu vi hận nhỉ
Trang 26tích, nh ất du nhất dự sở đương phòng, tương thời chế nghi, thượng hạ nhất niệm, tôn
được thấy bờ cõi Bắc Nam vẹn toàn Trộm nghĩ, ra công gầy dựng cơ nghiệp thật khó khăn mà việc giữ gìn bờ cõi cũng không phải dễ; nào tài, nào lực cũng phải nên tiếc,
dạo chơi vui thích cũng phải lo phòng, phải tùy thời mà đối xử, trên dưới một lòng thì
mới là phúc cho tông miếu, may mắn cho thiên hạ) Vua ngự lãm bài biểu sắc đòi Nội các phải lục cho Sử quán một bản để làm sử nhằm khỏi mất đi một điều hay
Sau khi gởi dâng tờ di biểu, Vương càng lúc càng yếu dần Các bà phủ thiếp, con cháu nội ngoại, các ông hoàng bà chúa và Nguyễn Trọng Hợp đều đứng vây quanh chỗ nằm.Vương mở mắt nhìn từng người rồi lấy tay vẫy Nguyễn Trọng Hợp
đến một bên nhờ viết mấy lời di chúc: “Ta là người có tội, đã đem giặc vào nhà,
không nên liệm áo mão của triều đình, chỉ liệm khăn áo đen; đời xưa Vương Đán cũng đã dặn con như thế Áo ta thường mặc, liệm một vài cái là vừa còn bao nhiêu chia cho con để giữ cho còn hơi hướng Dưới chân tẩm bà Thục Tần còn đất, là chỗ vĩnh trạch của ta, con cháu không được theo phong thủy, tin dị đoan mà đem ta nằm nơi khác Miên Thẩm xin tạ ơn những người đã có lòng chiếu cố; nay là giờ vĩnh biệt, không còn lại thấy được nhau”[1,153]
Đến khi kiệt sức, không còn nói được nữa, Vương dùng ngón tay trỏ viết lên khoảng không bài thơ tuyệt bút Nguyễn Trọng Hợp và Hồng Phì đều nhìn theo đó
mà chép lại, được chữ nào đọc lớn lên chữ ấy cho Vương nghe, chữ nào sai, Vương
viết lại Khi nghe đúng 28 chữ, Vương tự duỗi thẳng hai tay, hai chân, nằm ngửa mặt lên, thở dài một hơi, vừa nhắm mắt Vương mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (30.4.1870) thọ 52 tuổi Hai mươi tám chữ tuyệt bút của Vương là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt:
(Nửa đời học đạo thật hoài công,
“Bỏ dép”, đường dài nay mới thông
Trang 27Thiên Mụ, Túy Vân, trăng với sóng, Hình non, hương nước có ai không?) Cáo phó đưa ra, vua rất thương tiếc, nghỉ triều ba ngày, ban cho gấm the, vải
bô, tiền và đồ liệm Vua lại ngự chế bài văn tế rồi sai Tuy Lý Công khâm mạng tế rượu và ban cho Vương thụy là Văn Nhã (sau đổi Đoan Cung như ghi trên mộ chí) Vua lại sai Hiệp lãnh Thị vệ Hồ Văn Hiển đứng chủ lễ đám tang và hộ tống Vương đến nơi an nghỉ cuối cùng
Năm Tự Đức thứ ba mươi mốt (1878) Vương được truy tặng Tùng Thiện Quận Vương Đến năm Khải Định thứ 10 (1924), Vương được truy tặng Tùng Thiện Vương
Tẩm của Vương tọa lạc tại núi Cửa Sẻ làng Dương Xuân Hạ, huyện Hương
Thủy, tỉnh Thừa Thiên, gần tẩm của mẹ Vương – bà Thục Tần, như sở nguyện trong
di chúc của Vương Trong một lần đến thăm tẩm của Vương, vua Tự Đức, trăm
thương nghìn tiếc, đã buồn rầu thốt lên lời than thở: Nhất đại thi ông thệ bất hoàn
(Sao thi ông nổi tiếng một thời nỡ sớm đi không trở lại!) Và sau đó, nói về Vương, Vua lại có hai câu thơ đề tặng:
Sổ xích tân phần tỳ mẫu mộ,
(Vài thước đất un gần mộ mẹ,
Mấy bài thơ rải khắp bầu trời.)
Từ khi là quốc sĩ cho đến khi là “Nhất đại thi ông”, trong khoảng ba mươi tư năm, cuộc đời Vương có lắm đoạn gian nan, có lúc nguy đến tính mạng Chưa đầy ba mươi tuổi, cây bút đã làm rung động rừng Nho, chẳng những làm cho các danh sĩ nhà Thanh phải kính nể mà còn được người đương thời phong tặng địa vị tối cao so với thơ thời thịnh Đường Tuy sinh trưởng trong phú quí, cao sang, nhưng Tùng Thiện Vương vẫn trọng thực nghiệp, xem thường phù hoa Sinh thời, Vương thích vui thú
với thơ văn, có duyên với sơn khê, có tình với hàn sĩ, chỉ tiếc là ngày vui thì ít mà ngày ưu phiền, hoạn nạn thì nhiều Cả đời khổ lụy vì một chữ tình như Vương đã
từng viết: Tự cổ đa tình chuyển lụy thân (Phải đeo hoạn nạn bởi “đa tình” – Ưng
Trình và Bửu Dưỡng dịch) Quả đúng Vương là một kẻ đa tình: tình với dân, với
Trang 28nước, với vua; tình với người thiên cổ; tình với bạn đồng thời; tình với anh em, bà con, gia tộc Vì thế mà ngay cả trước khi lâm chung, những giọt lệ thâm tình vẫn còn thấm đẫm trên tờ di chúc, trên tờ di biểu dâng vua
Nhìn chung, Tùng Thiện Vương là một con người vừa có tài năng vừa có đức
độ Đương thời, các danh sĩ Trung Quốc và Việt Nam bình phẩm khen ngợi tài năng, đức độ của Vương khá nhiều Lao Sùng Quang, Đệ nhị giáp Tiến sĩ Thanh triều, sứ
thần Trung Quốc, đã nhận định về Vương như sau: “Hiếu, hữu, trung, ái, dật chỉ mặc
tràn trên giấy mực)
Tuy được mọi người yêu mến, nể trọng nhưng Vương vẫn tự coi mình là người
“vô tích sự”, chẳng làm nên trò trống gì có ích cho đời cả Vương nhún nhường như
thế, nhưng người đời vẫn thấy ở Vương tài năng, đức độ mà nổi bật là phong cách, thái độ sống
1.3 S ự nghiệp
Trong vườn hoa đầy sắc màu của văn học cổ điển Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, Tùng Thiện Vương là một gương mặt nổi bật, một cây bút tài hoa Ngoài một số bài thơ xướng họa hoặc liên ngâm với hai bào đệ là Tuy Lý Vương và Tương An
Quận Vương viết bằng chữ Nôm, còn hầu hết đều viết bằng chữ Hán bao gồm cả hai lĩnh vực văn và thơ Sau đây là những tác phẩm chính của Vương:
1 Thương Sơn thi tập
2 Thương Sơn thi thoại
3 Thương Sơn từ tập
4 Thương Sơn ngoại tập
5 Thương Sơn văn di
Trang 2911 Thi t ấu hợp biên
17 L ịch đại thi nhân tiểu sử
18 Thi kinh di ễn nghĩa ca
Sự nghiệp sáng tác của Vương rất lớn, văn cũng như thơ Về văn chỉ riêng bộ
Nạp bị văn tập – gồm những bài viết theo thể văn biền ngẫu – đã 19 quyển Về thơ,
chỉ riêng bộ Thương Sơn thi tập đã gồm đến 8 tập, 54 quyển với hơn 2.200 bài thơ Đây là tác phẩm được biết đến nhiều nhất làm nên danh vị “Thi đáo Tùng, Tuy thất
Thương Sơn thi tập là một bộ thơ gồm 8 tập thơ gộp lại Tám tập thơ ấy có tên
theo thể Đường luật (còn gọi là cận thể) Thể Đường luật gồm các bài tuyệt cú và bát
cú với hai dạng ngũ ngôn và thất ngôn Còn lại được sáng tác theo thể cổ phong ( còn
gọi là cổ thể) Thể cổ phong, trong quá trình sáng tác, được sử dụng linh hoạt gồm trường thiên, hành, ca, từ, khúc, dao, tứ ngôn, lục ngôn, lục cú Đây là nét mới của thơ ca thế kỷ XIX nói chung và của Tùng Thiện Vương nói riêng trong việc sử dụng các thể thơ có khả năng đáp ứng việc chuyển tải nội dung hiện thực và nhân văn hơn Trong tám tập thơ của Thương Sơn thi tập có:
Tập Nhĩ hinh (Ngươi là vậy – Nghĩa trọn: “Tuổi trẻ là thế”) là tập thơ đầu tay,
đầu đời của Vương, sáng tác trong 11 năm từ 1830 đến 1841 (khi khắc in được chia
ra làm 4 tập) Nhĩ hinh thể hiện những cảm xúc, suy nghĩ của “ông hoàng mười” thời
hoa niên trước thiên nhiên và cuộc sống bởi vậy cảm hứng thơ rất hồn nhiên, trong sáng, tứ thơ trẻ trung, đầy sức sống, có nhiều bài thể hiện tinh tế Qua tập thơ, tác giả như muốn gửi gắm khát vọng cống hiến của một tâm hồn trai trẻ Trong ý hướng ấy,
Trang 30nhan đề Nhĩ hinh còn toát lên ý nghĩa: “Ngươi hãy tỏa hương” (hinh ngoài nghĩa như
trên còn có nghĩa: hương thơm tỏa ra xa)
Tập Bắc hành (Đi Bắc), tập thơ thứ hai, được sáng tác trong thời gian Vương
theo vua Thiệu Trị ngự giá Bắc tuần làm lễ bang giao, nhận sắc phong của triều đình nhà Thanh năm 1842 (khi khắc in được chia thành 2 tập) Cảm xúc thơ gắn liền với chiều dài, chiều rộng và chiều sâu của đất nước; với lịch sử, thời đại; với những miền đất lạ, những đền đài lăng miếu, những danh lam thắng cảnh trên đường đi qua đó
bộc lộ những suy nghĩ lắng sâu trước vẻ đẹp của non sông đất nước, trước quá khứ hào hùng của dân tộc và lắng đọng trong đó niềm cảm hoài khắc khoải, ưu tư về thân
thế, về sự hưng vong của các triều đại xưa, về cuộc sống của nhân dân Vì vậy tập
thơ còn được tác giả gọi tên là Ký lý cổ (Tiếng trống ghi dặm đường đi qua)
Sau B ắc hành là tập Ngộ ngôn, tập thơ được sáng tác từ 1842 – 1847, sau
chuyến ra Bắc trở về (khi khắc in được chia ra làm 14 tập) Tập thơ mang ý nghĩa:
“Sự gặp gỡ, đàm đạo với người xưa, với quá khứ” như Vương đã viết trong bài tựa
tập thơ: “Bộc vô tha năng, thân vô dụng thế chi cụ, vị phi dụng thể chi địa; kỳ ư thi,
chẳng biết một nghề, tay đã không có khí cụ để làm việc đời; chân cũng không có đứng vào địa vị để gánh việc nước; ta chỉ có bệnh ham thơ, gần như nghiện vậy Cả ngày tuy chỉ quanh quẩn trong một góc nhà mà vẫn được cùng cổ nhân đàm đạo )
những vấn đề xã hội, nhân sinh, qua đó nhà thơ đã có thể giải bình, nghiệm suy về chân lý xưa và nay, về tri thức và thực tế, khát vọng và hiện thực trong nỗi niềm băn khoăn, dằn vặt trước bao nhiêu ngang trái trong xã hội và những đổi thay của cuộc đời vô thường từ đó toát lên giá trị nhân văn rất cao
Những biến cố của vương triều, hoàng tộc trong hai năm 1848 – 1849 làm lòng Vương đau xót, Vương tìm cách giải sầu, nguôi quên trong cách sống “tiêu dao trên
sông nước” Tập Hà thượng (Trên sông) – mượn chữ từ câu “Hà thượng hồ tiêu dao”
(rong chơi trên sông) trong Kinh Thi – ra đời trong hoàn cảnh, thời gian ấy (khi khắc
in được chia thành 3 tập)
Trang 31Tiếp đến là tập Mô Trường (Lấy tên ngôi nhà nơi Vương ngâm vịnh trong Ký
thưởng viên) được ra đời trong những năm 1850 – 1853 (khi khắc in được chia thành
7 tập)
Và tiếp theo, trong những năm 1854 – 1858, tập Bạch Bí (bạch bí có nghĩa là
chất phác, không trang sức lòe loẹt – tên Vương đặt cho nơi các bà phủ thiếp ở và
ươm tơ, dệt vải trong Ký thưởng viên) được hoàn thành Khi khắc in được chia thành
10 tập trong đó 2 tập cuối thuộc Minh Mạng cung từ (những bài từ trong nội cung
thời Minh Mạng)
Trong ba tập thơ này (Hà thượng, Mô Trường, Bạch Bí) những cảm hứng thơ
hồn nhiên, tươi trẻ vợi hẳn đi, thay vào đó là những dòng thơ mang nặng nỗi buồn tâm sự: một tiếng thở than trước tình đời thay đổi; một tiếng thở dài trước cuộc sống
rỗng không vô ích; một nỗi đau vì phải sống như kẻ ăn bám, chỉ có danh hão Vương mơ ước được thong dong như con chim âu trắng giữa biển trời mênh mông, được xa lánh những trái ngang của cuộc đời thay đổi bể dâu nhưng nào có được Nỗi đau vẫn dai dẳng dài theo năm tháng nhất là nỗi đau trước sự bất lực của bản thân trong trạng huống mâu thuẫn giữa một bên là hoài bão, chí hướng và một bên là thực
tại cuộc sống: Tâm Vương – cái tâm của một nhà nho – mong muốn được “báo quốc”
mà thân Vương thì lại không có cơ hội để thi thố; Vương đã “phí bao tâm huyết” mà
“vẫn không có gì để lại cho đời sau”
Cũng trong năm 1858, tập Minh Mạng cung từ với trên 100 bài thơ được viết
theo thể cung từ thời vua Sùng Trinh nhà Minh bên Trung Quốc, kể lại các sự việc trong cung thời Minh Mạng được hoàn thành (khi khắc in, Minh Mạng cung từ được
ghép vào cuốn Bạch Bí – tập 9, tập 10)
Sau Minh M ạng cung từ, từ 1859 đến 1862 Vương viết tiếp tập Bạch Bí (được
gọi là Bạch Bí tục và khi khắc in được chia thành 7 tập)
Từ năm 1864 đến 1870 Vương viết tập Mãi điền (Mua ruộng – khi khắc in
được chia thành 7 tập)
Hai tập cuối này (Bạch Bí và Mãi điền) của bộ Thương Sơn thi tập được sáng
tác trong bối cảnh nghiêm trọng của lịch sử dân tộc: Ở miền Bắc, ngoài việc nhân dân
nổi dậy chống đối triều đình, bọn giặc ngoài liên tiếp xâm nhập cướp phá; ở miền
Trang 32Nam, trước mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp, lần lượt 3 tỉnh miền Đông rồi đến 3
tỉnh miền Tây rơi vào tay giặc Trong thời gian này, hoàn cảnh riêng của Vương cũng nhiều ưu hoạn Phải kể đến việc gia đình Vương bị liên can trong cuộc biến động lật
đổ vua Tự Đức của người con rể là Đoàn Trưng năm 1866 gây nên cho Vương một
vết thương lòng dai dẳng Trong nỗi xót đau, u uất của một thần dân khi thấy “bờ cõi
Bắc Nam không còn như cũ”, nhân dân phải chịu cảnh khổ bởi tai trời ách nước; trong nỗi buồn đau của một người con hiếu thảo khi phải đứng nhìn quê mẹ bị giặc chiếm đóng, giày xéo; trong nỗi ưu phiền của một hoàng thân mang mặc cảm phạm
tội, hai tập thơ cuối này đánh dấu một đoạn đời không bình yên của Vương với những suy tư, trăn trở; những đau xót, dằn vặt trong cuộc sống tinh thần trước hoàn cảnh đau buồn của bản thân cũng như trước tình hình nghiêng ngả, bi thương của đất nước
và xã hội
Sau khi Vương mất, tám tập của bộ Thương Sơn thi tập được các em gái là
Vĩnh Trinh (Qui Đức công chúa, hiệu Nguyệt Đình), Trinh Thận (Lại Đức công chúa,
hiệu Mai Am), Tĩnh Hòa (Thuận Lễ công chúa, hiệu Huệ Phố) và các con trai Hồng
Nhị - con trưởng (tự Sĩ Trường), Hồng Phì – con thứ ba (tự Sĩ Thắng) sắp xếp lại cùng được các em trai Miên Triện (Hoằng Hóa quân vương), Miên Thân (Phù Cát
quận công) sửa chữa lại rồi cho khắc in bằng bản gỗ vào năm Tự Đức thứ 25 (năm Nhâm Thân – 1872), mỗi tập được chia thành nhiều tập nhỏ (như đã nói ở trên) rồi
mỗi tập nhỏ ấy lại được chia thành nhiều quyền, tổng cộng toàn bộ tám tập thơ được chia thành 54 quyển và được phân bổ như sau:
Trang 33B ạch Bí tập 7 Bạch Bí tập 8
B ạch Bí tục tập 6 Bạch Bí tục tập 7 Mãi điền tập 1 Mãi điền tập 1
Hồng Nhị Vĩnh Trinh
Hồng Phì
Hồng Nhị
Hồng Phì Trinh Thận Trinh Thận Tĩnh Hòa Tĩnh Hòa
Trang 34Như vậy, Thương Sơn thi tập là tâm huyết của một cuộc đời Ông Hoàng Mười;
là thao thức, dằn vặt trong chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn một con người luôn luôn suy nghĩ về bản thân cũng như thế giới xung quanh mình; nhân dân, đất nước Đúng như vua Tự Đức đánh giá, “tuy văn hiến của nước ta đã đầy đủ rõ ràng, nhưng âm hưởng thơ Đường đến ông mới được nghe”
Như vậy có thể thấy Tùng Thiện Vương tuy xuất thân hoàng tộc, sống trong giàu sang nhưng cũng đã trải qua không ít ưu hoạn trong cuộc đời Với một tâm hồn
nhạy cảm, một trái tim tha thiết yêu thương và một tài năng xuất chúng, ông đã trở thành một nhà thơ hoàng tộc tiến bộ và thành công Thành công không chỉ ở sự nghiệp sáng tác phong phú, đồ sộ mà còn ở những nội dung sâu sắc, những đóng góp
mới mẻ về nghệ thuật nhưng quan trọng hơn cả là tất cả đã chinh phục người đọc
bằng tấm lòng tha thiết của ông hoàng Mười
Trang 35CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ NỘI DUNG CỦA THƠ CA TÙNG
THIỆN VƯƠNG
2.1 B ức tranh hiện thực đương thời
2.1.1 Tình c ảnh khó khăn của đất nước
Là một vị hoàng tử, mặc dù không có danh phận gì trong bộ máy chính quyền
để trực tiếp lo việc “trí quân trạch dân” (giúp đỡ vua, ra ơn cho dân); mặc dù không ham danh lợi, sống đời ẩn sĩ, xa lánh cuộc sống bon chen phồn hoa đô hội nhưng Vương vẫn nặng một lòng ưu ái đối với nước, với vua Lòng trung quân ái quốc của Vương không chỉ bộc lộ ở việc ngợi ca tấm gương cao đẹp của các danh tướng, công
thần, anh hùng, nghĩa sĩ một đời xả thân vì vua vì nước; ở niềm tự hào trước công nghiệp của tổ tiên mà còn thể hiện ở nỗi đau xót trước tình cảnh khó khăn của đất nước
Đầu năm 1859, để gỡ thế bí phải giam chân lâu ở Đà Nẵng, giặc Pháp rút quân đánh chiếm thành Gia Định Tháng 3-1860 Nguyễn Tri Phương được điều động từ
Đà Nẵng vào chỉ huy mặt trận Gia Định Ông huy động quân dân gấp rút xây dựng
một hệ thống phòng thủ lấy đồn lớn Phú Thọ làm đại bản doanh Tháng 2 năm 1861
giặc Pháp tấn công đồn lớn Phú Thọ Chiếm xong Gia Định, thừa thắng, quân Pháp đánh ra nhiều nơi Cuối năm ấy, ngày 14.12.1861 (ngày 13 tháng 11 năm Tân Dậu),
giặc Pháp tỏa ra đánh chiếm ba xứ Cần Giuộc, Tân An, Gò Gông Hai hôm sau, nhân đêm rằm, dân quân ba xứ ấy nổi dậy tập kích đồn giặc ở Cần Giuộc Nghĩa quân phá đồn giặc, đốt nhà đạo, giết chết tên quan hai Pháp và một số lính mã tà Về phía ta, nghĩa quân hy sinh khoảng 27 người Sau thắng lợi này, tuần phủ Gia Định Đỗ Quang lệnh cho Bùi Quang Diệu tổ chức lễ truy điệu và nhờ Nguyễn Đình Chiểu, bấy
giờ đang ở xã Thanh Ba, quê vợ, thuộc Cần Giuộc, làm bài văn tế những nghĩa quân
tử trận Cuộc điếu tế diễn ra tại Cần Giuộc nên bài văn có tên là Tế Cần Giuộc sĩ dân
trận vong văn hay còn được gọi là Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Bài văn tế gây tiếng
vang rất lớn trong nhân dân, khi truyền ra tới Huế, Tùng Thiện Vương đọc được
Trang 36Niềm cảm kích trước lòng yêu nước, trước nghĩa khí của dân binh cũng như trước
văn chương và tấm lòng của Nguyễn Đình Chiểu đã được Vương bày tỏ trong Độc
Nguyễn Đình Chiểu nghĩa dân tử trận quốc ngữ văn:
Táp đạp biên thanh nhất nhất lai
Chí cánh thư sinh không bút trận Báo quân chí th ử diệc bi tai
(Lại cầm mở ra đọc bài điếu văn chiến trường/ Nghe cất lên từng tiếng nói của vùng biên giới/… Giương sào làm cờ, chặt cây làm binh khí vang tiếng nghìn thu/ Các tử sĩ như hạc oán vượn kêu biết bao lần/ Cho đến thư sinh cũng đánh giặc bằng ngòi bút/ Báo đền ơn vua chỉ như thế cũng đáng xót thương thay)
Không chỉ ca ngợi dân binh nghĩa sĩ, qua bài thơ, Vương còn ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu Tấm lòng yêu nước của hai nhà thơ, dù cách xa nhau về không gian cũng như về giai tầng xã hội nhưng thật chẳng khác gì nhau Đáng quý biết bao!
Trước khí thế chiến đấu và chiến thắng của nghĩa quân, Vương lại thắp lên trong lòng mình niềm hy vọng Vương hồ hởi tiễn các vị quan đi mộ lính đánh Tây
thị lang sung tán tương Gia Định quân vụ) và gửi theo các vị ấy niềm tin thắng lợi
của mình Nặng tình với đất nước, ngày đêm Vương sốt ruột mong tin chiến thắng từ Nguyễn Tri Phương nhưng tin chiến thắng nào chẳng thấy “Hải nội trưng cầu biến/
buồn rười rượi” (Sơn thủy quan sầu tứ) Vương khắc khoải ưu tư không nguôi về vận
nước đến nỗi niềm mơ ước thu lại đất cũ từ tay giặc đi cả vào trong giấc ngủ của Vương Vương mơ thấy mình theo vua vào Nam đánh giặc, vũ khí dùng toàn những nông cụ nào trang, nào bừa, nào liềm, nào cuốc như nghĩa quân thế mà “bọn rợ Hồ”
cũng mất vía chạy dài Rồi vua “đặt quan chia chức như cũ” (Thiết quan phân chức
Trang 37su ất y cựu) và “trên đất vua dân lại tiếp tục canh tác như xưa” (Tả nhậm phục tác vương thổ dân) Giọng điệu, hình ảnh trong bài Nhị nguyệt nhị thập thất nhật chi dạ mộng tòng đại giá thân chinh tận phục Nam Kỳ cố địa hỉ thậm cuồng túy bát mặc trường ca sổ thập cú chấn bút đại tiếu đọa mã kinh ngộ khiêu đăng tục thành chi
(Đêm 27 tháng hai mơ thấy theo vua đi đánh giặc lấy lại toàn bộ đất Nam Kỳ cũ
mừng quá hóa say như điên mài mực làm bài hát dài mấy chục câu, vung bút cười lớn ngã ngựa tỉnh ra khêu đèn viết tiếp cho trọn bài) tràn đầy sảng khoái, hào khí ngất trời như đoạn mở đầu sau đây của bài thơ:
Quần Hồ xuy thần thanh chấn thiên Đường đường vương sư chiến tất khắc
(Nam Kỳ ngọn lửa bốc lên mây/ Thiêu sạch tàu Tây đồn bót Tây/ Râu cháy thịt quay không cứu nổi/ Rợ Hồ mất vía thét kêu đầy/ Ào ạt quân vua đánh tất được/ Tám năm thật thấy bình xâm lược/ Cụ già đón ngựa rượu cơm dâng/ Sáu trấn anh hùng tận
sức lực )
Nhưng tất cả chỉ là giấc mơ, hiện thực đất nước vẫn ngày càng đen tối Lòng Vương đã thất vọng lại càng thất vọng Lời thơ Vương quặn đau theo tiếng chân ngựa
giặc giày xéo lên mảnh đất bị cắt lìa khỏi Tổ quốc (Tống nhân chi Gia Định); trong
nỗi khổ của người dân bị giặc cướp hết của cải (Phiên An), bị giặc giết chết oan uổng
trạng buồn đau ấy, nhân được ăn trái xoài tượng từ quê ngoại Gia Định chở ra dâng
tặng, Vương đã từng rơi nước mắt và cảm thấy hổ thẹn vì chẳng làm được gì để giúp nước giúp dân:
Thổ vật do lai xuất ngoại hương
Trang 38Thâm quí ngô sinh đồ khẩu phúc
(Binh cơ lâu nay vẫn được vua trù tính/ Vật thổ sản từ xưa vốn là của quê bên ngoại/ Thẹn cho đời ta chỉ lo về ăn uống/ Ơn nước tình nhà thêm ướt áo)
Nỗi ưu tư về vận mạng của đất nước cứ canh cánh trong lòng, cho đến khi gần xuôi tay nhắm mắt, Vương còn gắng gượng viết di biểu dâng lên vua Tự Đức, lời lẽ
rất tha thiết trong đó có đoạn: “Chúng tôi là Miên Thẩm, kính tâu: Xin Hoàng đế nhớ
đế rủ lòng soi xét đến”[1,152]
Lo cho vận nước nhưng Vương vẫn không dám vượt ra ngoài lễ giáo cương thường
của giáo lý Khổng Mạnh Trong nhận thức của Vương, Vua vẫn là người “chăn dân
trị nước”, vẫn là bậc chí tôn, đạo làm tôi, làm thần phải một lòng tôn thờ vua, trung
với vua Chính vì thế mà, mặc dầu không đồng tình với chính sách nghị hòa của triều
đình Tự Đức với thực dân Pháp: “Ngụy Giáng hòa Nhung thưởng/ Thù phi tự thử
bàn như thế) nhưng Vương vẫn trông cậy vào vua: “Nhung trù cửu dĩ lao thần toán”
trong việc “chăn dân trị nước” của vua: “Quốc sự phân vô cựu/ Hồi thiên lại thánh
chuyển lại trời đất)
Cái tâm của Vương đối với nước thật đáng quý, đáng trân trọng nhưng tư tưởng tôn quân, trung quân một cách tuyệt đối, vô điều kiện như thế, quả đó là hạn
chế của Tùng Thiện Vương Tuy nhiên, nếu nhìn nhận, đánh giá một cách cụ thể, toàn diện và lịch sử thì hạn chế của Tùng Thiện Vương là một hạn chế có tính lịch sử,
có tính tất yếu vì con người sống trong một thời đại, tất yếu sẽ bị chi phối bởi tư tưởng của thời đại đó, khó có thể vượt qua một cách triệt để, toàn diện
Trang 392.1.2 Cu ộc sống lầm than, bất hạnh của nhân dân
Thơ chữ Hán dân tộc thời trung đại đề cập nhiều đến người dân Vào các thời thái bình thịnh trị, “dân đen”, “con đỏ” là hình ảnh lý tưởng của Nho giáo, thể hiện sự
“thay trời hành đạo” của thiên tử, thánh quân Các nho sĩ lý tưởng khi bước ra làm quan, gánh vác trách nhiệm “trí quân, trạch dân” cũng tự thấy phải tận trung với thiên
tử trong trách nhiệm “chăn dân” Nho sĩ trung đại viết về dân cũng nhiều nhưng thơ văn của họ nghiêng về lý tưởng và là sự kết tinh của đạo trị nước, giúp dân Họ miêu
tả còn ít về hiện thực cuộc sống cụ thể của người dân Điều này cho thấy một khoảng
trống khá lớn về đề tài hiện thực đất nước, nhân dân dưới thời phong kiến
Vào thời loạn lạc, vua chúa tàn bạo, bê tha, quan lại tham lam, lũng đoạn thì nhân dân càng rơi vào cảnh áp bức, bất công, đói khổ… Những nhà thơ hiểu đời, biết đạo mới thấy được lý tưởng là lý tưởng, còn thực tế vẫn là thực tế Họ đem tấm lòng
ưu ái trăn trở cho vận mệnh đất nước, nhân dân và những vần thơ mang hơi hướng
hiện thực cuộc sống mới xuất hiện nhiều thêm
Nỗi niềm thương dân, lo cho dân theo tinh thần ấy đã thấy xuất hiện trong thơ
chữ Hán của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Hương lý tài qua như mộng đáo
(Làng quê mới qua, như thấy chiêm bao đến/ Can qua chưa dứt, may được vẹn chiếc thân)
(Chưa ra quân để diệt bọn giặc xấu xa/ Dân gặp loạn, nhiều người ly tán bốn phương)
Trong thơ chữ Hán của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói đến “tiểu dân”, “lưu dân”, “điêu sái dân”… Đó là những người dân bị khổ vì chiến tranh, trộm cướp Họ đói khổ vì những nguyên nhân ấy Những cách nói này phản ánh cái nhìn có tính chất
Trang 40lí tưởng phong kiến Hay nói cách khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm thương dân nhưng nhà thơ đứng trên quan điểm “điếu dân phạt tội”, lên án kẻ gây ra chiến tranh xâm lược
và kẻ hung bạo tàn ác Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa đi sâu vào nỗi thống khổ cụ thể của người dân
Trong thơ Nguyễn Đình Chiểu (người đương thời với Tùng Thiện Vương) vẫn
chủ yếu là miêu tả khái quát nỗi khổ của người dân thời chiến tranh loạn lạc:
Nỡ để dân đen mắc nạn này?
Tùng Thiện Vương viết nhiều thơ nói về muôn mặt cuộc sống đau khổ của người dân Không chỉ viết nhiều, viết đa dạng mà điều đáng chú ý là ông không viết
về cuộc sống của người dân theo quan điểm thẩm mĩ phong kiến Nhà nghiên cứu
Trần Thanh Mại đã nhận định: “Cảnh sống cơ cực đau khổ của nhân dân lao động là
động của nông dân không giống như các nhà thơ cổ điển nhìn cảnh ngư tiều canh
người dân
Qua đề tài cuộc sống người dân của Tùng Thiện Vương, người đọc có dịp tiếp xúc rộng rãi, cởi mở, chân thực về cuộc sống của người dân Vương đã thể hiện nỗi xót đau chân thành trước cuộc sống lầm than của nhân dân lao động lúc bấy giờ Là
một người thích đi đây đi đó, sống gần gũi với nhân dân lao động, Vương được nghe, được thấy nhiều điều, những điều mà một ông hoàng như Vương nếu không đi thì không thể nào hiểu biết và tưởng tượng ra được:
Sinh trưởng phú quý trung
V ị tằng giai cơ khách Xúc m ục bội thê thiết
L ữ vị tư thiểu thường