1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thể loại từ trong văn học trung đại việt nam ( Luận án tiến sĩ)

252 324 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 252
Dung lượng 9,57 MB
File đính kèm Luận án Ful.rar (26 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể loại từ trong văn học trung đại việt nam ( Luận án tiến sĩ)Thể loại từ trong văn học trung đại việt nam ( Luận án tiến sĩ)Thể loại từ trong văn học trung đại việt nam ( Luận án tiến sĩ)Thể loại từ trong văn học trung đại việt nam ( Luận án tiến sĩ)Thể loại từ trong văn học trung đại việt nam ( Luận án tiến sĩ)

Trang 1

i

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN ÁNH

THỂ LOẠI TỪ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS TS Trần Ngọc Vương

2 TS Phạm Ngọc Lan

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ii

MỤC LỤC

PHẦ 1

1

1

, 2

2

ệ 3

8

7 9

Chương 1 10

TỔ ỨU THỂ LOẠI TỪ VIỆT NAM 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thể loại từ Việt Nam 10

11

17

1.1.2.1 Những nghiên cứu ở Việt Nam 17

1.1.2.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài 19

TIỂU KẾT 22

Chương 2 23

THỂ LOẠI TỪ Ở CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC TẠI 23

2.1 Khái niệm thể loại từ 23

2.2 Thể loại từ ở Trung Quốc và sự ảnh hưởng của nó ra các nước Đông Á 24

2.2.1 Thể loại từ ở Trung Quốc 24

2.2.2 Thể loại từ ở Nhật Bản 27

2.2.3 Thể loại từ ở Triều Tiên 30

2.3 Thực trạng sáng tác từ ở Việt Nam - Khảo biện qua các nguồn tư liệu 33

2.3.1 Các tiêu chí nhận dạng 33

2.3.2 Khảo biện tác giả, tác phẩm từ Việt Nam qua các nguồn tư liệu 34

2.3.2.1 Khảo biện qua các truyện kí - tiểu thuyết 36

2.3.2.2 Khảo biện qua các thi văn tập 36

2.3.2.3 Khảo biện qua các từ tập chuyên biệt 40

2.3.2.4 Khảo sát qua tư liệu điền dã 43

2.3.2.5 Các tác phẩm đã thất truyền 45

2.4 Phân kì từ sử Việt Nam 50

55

Chương 3 56

: TIẾP NHẬN VÀ TÁI TIẾP NHẬN 56

3.1 Thể loại từ Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII - 56

3.1.1 Đội ngũ tác giả 56

ồn ảnh hưởng đến việc tác từ 57

3.1.3 Quan niệm, động cơ sáng tác 58

3.1.4 Văn bả ể thức 60

3.1.5 Nội dung 61

3.2 Thể loại từ Việt Nam thế kỉ XVIII - Tái tiếp nhận và phát triển 69

Trang 3

iii

3.2.1 Đội ngũ tác giả 69

3.2.2 Các nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ 71

3.2.3 Quan niệm, động cơ sáng tác 75

3.2.4 Thể thức 77

3.2.4.1 Các điệu thức đã được tiếp thu 77

3.2.4.2 Về phương diện gieo vần 79

3.2.4 3 Về ngôn ngữ 80

3.2.4.4 Phân loại theo loại và phiến 82

3.2.4.5 Mức độ chuẩn xác về từ luật 82

3.2.4.6 Nguyên nhân dẫn đến sự sai lệch về cách luật 85

3.2.5 Nộ 88

3.2.5.1 Xu hướng dùng từ để tả cảnh 89

3.2.5.2 Xu hướng dùng từ để trữ tình 93

3.2.5.3 Xu hướng dùng từ để tự sự 97

3.2.5.4 Xu hướng dùng từ để triế 99

102

Chương 4 104

104

4.1 Đội ngũ tác giả 104

4.2 Các nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ 105

109

109

n 110

4.3.2.1 Về việc điền từ 111

4.3.2.2 Về tiến trình phát triển của thể loại từ 113

4.3.2.3 Về từ nhạc và mối quan hệ giữa từ với âm nhạc 114

4.3.2.4 Về thao tác điền từ và từ luật 117

4.5 Thể thức 121

121

126

4.6 Nộ 128

TIỂU KẾT 150

152

156

156

TÀI LIỆU THAM KHẢO 158

Tài liệu tham khảo tiếng Việt: 158

Tài liệu tham khảo Hán Nôm: 166

: 168

PHỤ LỤC 1

2.1 1

1

2.2 12

KHẢO BIỆ 12

QUA CÁC TRUYỆN KÍ, TIỂU THUYẾT 12

2.3 19

Trang 4

iv

KHẢO BIỆ 19

QUA CÁC THI VĂN TẬP 19

2.4 44

44

44

4.1 49

49

Trang 5

nước Đông Á Nghiên cứu thể loại từ

ự đối sánh với thể loại này ở Trung Quốc và các nước Đông Á khác là hướng mở, không những có thể góp phần làm sáng tỏ quy luật tiếp thu, kế thừa, sáng tạo của văn học dân tộc mà còn giúp nhìn nhận nền văn học quá khứ của dân tộc trong những tương quan rộng hơn

, nghiên

Trang 6

2

Trang 7

Bản sắc (本色): hay bản sắc đương hàng (當行本色), chỉ đặc trưng âm nhạc,

trữ tình, dụng điển… của từ, phân biệt với thơ ca

Trang 8

4

Bi mĩ (悲美): cái bi trong từ, thiên về tình buồn, sử dụng nhiều từ

tâm trạng buồn, coi đó như một đặc trưng về cảm xúc và ngôn ngữ thể loại

Biến cách (變格): hay biến thể (變体), các thể thức khác ngoài chính thể Biệt thị nhất gia (別是一家): quan niệm coi từ là thể loại phân biệt với thơ ca,

ngang hàng với thơ ca

Cảnh giới (境界): hay cảnh giới nghệ thuật, vừa là ý cảnh, vừa là tâm cả

ẩm từ

Chính thể (正体): Một điệu từ có thể có nhiều dạng thức không hoàn toàn

tương đồng Chính thể, hay chính cách (正格 ạng thức cách luật chính thức

(được xem là chuẩn thức) của một bài từ, được ghi nhận trong các sách về từ phổ,

đồ phổ, từ luật

Chương pháp (章法): Trình tự triển khai một bài từ, bố cục tổng thể của một bài từ

Cô điệu (孤調): điệu thức chỉ được sử dụng một lần duy nhất trong từ sử

Cú thức (句式): kiểu câu trong từ Trong từ sử dụng 11 kiểu câu, từ câu 1 chữ

đến câu 11 chữ

Dĩ thi vi từ (以詩為詞): lấy thơ làm từ, chỉ việc sử dụng các thủ pháp nghệ

thuật của thơ áp dụng sang lĩnh vực điền từ

Dĩ văn vi từ (以文為詞): lấy văn làm từ, chỉ việc áp dụng chất liệu, các thủ

pháp của văn (văn ngôn) sang lĩnh vực điền từ

Diễm khoa (艷科): quan điểm coi từ là văn học giải trí trước chén dưới trăng

(樽前月下-tôn tiền nguyệt hạ), ca đài vũ tạ (歌臺舞謝), coi trọng cái đẹp về ngôn từ,

Trang 9

5

Diễm mĩ (艷美): sự mô tả về nữ sắc, cảnh đẹp, lối chuộng dùng mĩ từ trong từ Dụng sự (用事): cũng như dụng điển (用典), chỉ cách sử dụng điển tích, điển

cố trong từ

Điền từ (填詞): cũng như tác từ, chỉ việc sáng tác theo thể loại từ, có thể là

dựa vào nhạc phổ để điền lời, có thể là dựa vào khung cách luật (đồ phổ) hay trước tác của từ nhân đi trước để điền lời

Khuyết (闕 (trong trường hợp bài từ chỉ có một đoạ

Lãnh cú (領句): hay lãnh cú tự (領句字), chỉ 1, 2, 3, hoặ ữ trong câu có vai trò dẫn khởi ý nghĩa của câu, hoặ ạn trong bài từ

(連章詞

Mạn từ (慢詞): chỉ các bài từ dài Trong luận án, khái niệm này dùng thông

với khái niệm trường điệu (長調)

Phân cương (分疆): hay thi từ phân cương (詩詞分疆), chỉ sự khác biệt giữa thơ

và từ về thể thức, phạm vi đề tài, hình tượng nhân vật chính, các thủ pháp nghệ thuật… cùng thái độ coi thơ là mạnh mẽ, tao nhã, tôn quý… coi từ là thấp kém, ủy mị như: thi

trang từ tục (詩莊詞俗), thi nhã từ tục (詩雅詞俗), thi tôn từ ti (詩尊詞卑)…

Phiến (片): một đoạn trong một bài từ Trong từ, phân chia theo phiến gồm 4

loại: đơn phiến (單片, dùng thông với đơn điệu, gồm 1 đoạn), song phiến (雙片,

Trang 10

6

dùng thông với song điệu, chỉ các bài từ gồm 2 đoạn), tam điệp (三疊, chỉ các bài từ

gồm 3 đoạn), tứ điệp (四疊, chỉ các bài từ gồm 4 đoạn)

Quá phiến (過片): hay quá biến (過變), câu khởi đầu của đoạn thứ 2 trong

một bài từ hai đoạn (song phiến), có nhiệm vụ thừa tiếp ý của đoạn trên dẫn khởi

cho ý đoạn dưới

Thi hóa (詩化): chỉ sự ảnh hưởng của th

ến từ, khiến từ thi dư (詩餘) có xu hướng dịch chuyển về địa hạt của thơ

Tiểu đạo (小道): quan điểm cho từ là “cái đạo nhỏ nho”, bạc kĩ (薄技)…

không coi trọng thể loại từ

Tiểu lệnh (小令), trung điệu (中調), trường điệu (長調): sự phân chia từ theo

độ dài tác phẩm, theo quan điểm của Cố Tòng Kính (顧從敬) thời Minh trong Loại

biên Thảo Đường thi dư (類編草堂詩餘): Tiểu lệnh gồm các bài từ dài 58 chữ trở

xuống, trung điệu: từ 59 chữ đến 90 chữ; trường điệu: từ 91 chữ trở lên

Từ đề (詞題): nhan đề các bài từ, để khu biệt nội dung bài này với bài khác,

nhất là các bài cùng điệu do cùng một tác giả sáng tác

Từ điệu (詞調): các điệu thức của từ, như: Nguyễn lang quy, Thập lục tự lệnh, Mãn đình phương, Như mộng lệnh… Từ điệu cho biết cách luật của các bài từ

Từ học (詞學): sử dụng theo hai hàm nghĩa: 1/ Chỉ thể loại từ nói chung, 2/

Chỉ những nghiên cứu về từ (như khởi nguyên của từ, từ nhạc, thể thức, từ luật…)

Từ luật (詞律): tức âm luật, hoặc cách luật của từ Trong luận án, khái niệm

này về cơ bản dùng với hàm nghĩa là cách luật của từ

Trang 11

7

Từ nhân (詞人 (詞家 ời làm từ, nói chung,

Từ phái (詞派): các lưu phái từ Hoa gian, phái Uyển ước, phái Hào phóng, phái Cách luật…

Từ sử (詞史): lịch sử thể loại từ, diễn tiến của thể loại từ trong lịch sử, bao

gồm cả phương diện sáng tác và lí luận từ học

Từ thoại (詞話): những bàn luận, phê bình về từ

Từ tự (詞序): chỉ chung lời tựa, lời dẫn của các bài từ

Từ vận (詞韻): cách dùng vần trong thể loại từ, có sự phân biệt so với thơ ca,

nhất là thơ cận thể

Tự độ khúc (自度曲): cũng gọi là tự chế khúc (自制曲), chỉ việc các tác giả tự

viết nhạc rồi điền lời vào bản nhạc đó để tạo ra điệu từ mới

Ý cảnh (意境): chỉ sự mô tả hiện thực cuộc sống và sự biểu hiện tư tưởng, tình

cảm trong từ

Trang 12

Phần này mang tính chất thích nghĩa một số khái niệm, thuật ngữ từ học thường dùng trong luận án Một số

khái niệm, thuật ngữ trên sẽ được trình bày sâu hơn ở Phụ lục 2.1

Trang 13

9

4 chương như sau:

Chương 2: Thể loại từ ở các nước trong khu vực và thực trạng sáng tác từ

tại Việt Nam

Chương 3: Thể loại từ Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII: Tiếp

nhận và tái tiếp nhận

Chương 4: Thể loại từ Việt Nam thế kỉ XIX: Thừa tiếp và phát huy

Trang 14

10

Chương 1

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thể loại từ Việt Nam

nào, chỉ biết rằng tác phẩm trích dẫn không đúng thể thức của điệu từ được từ phổ ghi nhận Về đặc trưng thể

loại, trong một đoạn văn ngắn 6 dòng, thông tin do tác giả cung cấp ít nhất đã sai 3 điểm căn bản Cho rằng:

“Lối từ - khúc của Tầu có nhiều điệu, song đều là biến thể của cổ thi cả”, cách hiểu như vậy mơ hồ, dường như chỉ căn cứ vào hình thức của thể từ và thể khúc ẫn đến nhận định sai về nguồn gốc thể loại Lại

nói: “Tuy mỗi một khúc có một tên riêng, song có thể gọi tóm lại là Trúc chi từ, đặt câu dài ngắn, nhiều ít

không có luật nhất đị Từ và khúc đều có nhiều điệu khác nhau Trúc chi

từ chỉ là một trong mấy ngàn thể thức khác nhau của từ, hơn nữa cũng không phải thể thức đặc trưng cho lối

có tác giả nào dùng tên điệu Trúc chi từ làm tên gọi chung cho thể loại từ, huống chi là cả thể từ và thể khúc

, , không có cái được gọi là “nhiều ít không có cách luật nhất định” v.v…

Nếu ở Quốc văn cụ thể Bùi Kỉ cho từ - khúc là dạng thức biến thể từ cổ thi, thì các tác giả sách Thơ ca Việt

Nam hình thức và thể loại lại nhầm lẫn khi cho “từ - khúc là tên gọi chung cho tất cả những bài hát cổ của

Trung Quốc, hoặc có tính chất dân gian, hoặc do văn nhân nghệ sĩ dựa theo lối Sở từ, nhạc phủ mà sáng tác”

Thể loại từ được vận dụng trong sáng tác từ thời Đường, đến Vãn Đường số lượng tác phẩm dần tăng hơn

Trang 15

, vấn đề văn bản tác phẩ ợc các nhà nghiên

cứu tiếp tục triển khai Với bài “Về bài Vương lang quy từ - Khảo sát và giải mã văn bản” (Tạp chí Văn học, số 1 - 1995) tác giả Nguyễn Đăng Na lưu ý độc giả về “luật phá cách”, đến “sóng dao động” của cấu trúc thể loại từ [69] Nếu như Hoàng Văn Lâu cho điệu Nguyễn lang quy không có biến thể thì Nguyễn Đăng Na khảo sát các bài từ cùng điệu trong Toàn Tống từ và tìm thấy hai biến thể của điệu từ này Trên

cơ sở mô hình hóa hai biến thể trên, tác giả xét khả năng tăng giảm số chữ ở các câu,

từ đó đi đến xác lập một văn bản mà ông cho là hợp lý, văn bản này nghiêng theo

văn bản bài từ được ghi trong Đại Việt sử kí toàn thư Bài viết của tác giả Nguyễn

Trang 16

12

biệt là sự biện giải về chính thể và biến thể và sự khái quát của tác giả trên cơ sở 2 bài được coi là biến thể của từ điệu Nguyễn lang quy, từ đó đi đến khái quát về

ọi là “sóng dao động” của từ Lê Mạnh Thát trong phần

“Khuông Việt với công tác ngoại giao” (trong sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam từ

Lý Nam Đế (544) đến Lý Thái Tông, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001) xác định

tên điệu của bài từ là Nguyễn lang quy [101] Tác giả dựa vào từ luật để hiệu chỉnh một số câu chữ, lấy Thiền uyển tập anh làm nền, lại tham khảo Đại Việt sử kí toàn

thư để đưa ra một văn bản mà ông cho là khả thủ Trong bài viết, tác giả

ẳng định “vị trí có một không hai trong lịch sử ngoại giao và văn học dân

tộc”của bài từ [101, tr.452]

Nghiên cứu văn bản bài từ trên còn có bài viết “Bài từ Ngọc lang quy của Khuông Việt đại sư (933-1011) và vấn đề văn bản học” của Alexandre Lê (Thời đại

số 6 - 2002) Tác giả bài viết sau khi khảo sát bốn dị bản gồm: Đại Việt sử kí toàn

thư, Thiền uyển tập anh, Việt sử tiêu án và Lịch triều hiến chương loại chí, tiến

hành một số thao tác như hiệu chỉnh về niêm luật, về ngữ nghĩa, ngôn từ cuối cùng cũng đưa ra một văn bản khảo đính mà tác giả cho là hợp lý [59] Trước

Alexandre Lê, đã có ít nhất 4 tác giả tiến hành khảo đính văn bản bài từ, bốn văn

bản họ đưa ra không hoàn toàn giống nhau, tất nhiên cũng không giống văn bản mà Alexandre Lê xác lập

, trong bài “Về bài từ Ngọc lang quy của Khuông Việt” (Tạp chí Hán Nôm số 5 - 2005), Nguyễn Đình Phức dựa vào sử liệu Việt Nam

và Trung Quốc khẳng định niên đại bài từ của Ngô Chân Lưu vào năm Thiên Phúc thứ 8 (987) là chuẩn xác Niên đại theo Thiền uyển tập anh (Thiên Phúc thứ 7) là nhầm lẫn [82] Tác giả tiếp tục biện giải về mấy chữ “Ngọc lang quy” như Hoàng Văn Lâu đã có lần đặt ra [67], cho ba chữ “Vương lang quy 王郎歸” ở bản Thiền

uyển tập anh thời Tự Đức, chữ “Vương 王” trong cụm từ này do chữ “ngọc 玉” bị

thợ khắc làm mất đi một dấu chấ

Trang 17

13

, song tác giả bài viết còn đặt vấn đề thể ẩm của

Nguyễn lang quy của Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu dưới góc nhìn từ sử

, chúng tôi: 1 Niên đại, 2 Thể loại, 3 Tên tác phẩm, 4 Số chữ [6, tr.103-116]

Trên Tạp chí Hán Nôm số 1, năm

Người viết

Khuông Việt, số 10, tháng 5 - 2010,

quy của Khuông Việt đạ

Trên

Trang 18

-Nam

Sau

năm 1982, trong phần “Tìm hiểu nhà thơ Đào Tấn”, sách Các nhà thơ cổ điển Việt

Nam (tập II, Nxb Văn học, H.1982), Xuân Diệu dành 25 trang để viết về bộ phận

“Đào Tấn làm từ, như là ghi lại nhật kí tâm hồn”, hai cảm hứng chính trong từ của

ông là “Thậm cảm hưng vong việc nước nhà” và nỗi buồn thân thế [35, tr.375-377]

Phần viết về từ Đào Tấn của Xuân Diệu có nhiều trang tinh tế

; nhãn quan về từ của ông cơ hồ được “bứng trồng”

Trang 19

15

từ , do vậy tuy thấy được một số nét độc đáo của từ so vớ

ấy đặc trưng vốn có của thể loại

-ả Đỗ ẽ đi sâu nghiên cứu các tác bài “từ khúc”

ông đã vượt qua được “cái khó” trên, vì thế kết luận đưa ra rằ ột

nhà từ khúc lỗi lạc” [51, tr.41] Cách chứng minh của tác giả bài viế

-4

, chúng tôi tiến hành khảo cứu văn bản

toàn bộ 60 tác phẩm từ trong , phát hiện bài từ điệu Nhất lạc sách

trong thực chất chỉ là chép nguyên vẹn nửa trên (thượng phiến) bài

từ cùng điệu của Chu Bang Ngạn (周邦彥, 1057-1121) đời Tống, đồng thời cũng

đính chính những sai lầm về từ điệu, từ đề các bài từ trong từ tập và chỉnh lí một số

Trang 20

16

, nhưng chưa triệt để bằng nghiên cứu do

, trên Nghiên

cứu Văn học số 9 năm 2009, chúng tôi tiến thêm một bước trong việc giám định văn

bản Mộng Mai từ lục Trong bài “Sự thực nào cho Mộng Mai từ lục”, chúng tôi đã

chỉ Mộng Mai từ lục vốn chỉ là các bài chép tác phẩm từ

yếu tố nào khả dĩ có thể khẳng định chắc chắn là tác phẩm của Đào Tấn, nhưng nhất

thời chưa thấy chúng xuất hiện trong bất cứ tài liệu nào khác ngoài Mộng Mai từ

và 1 bài tồn nghi là tác phẩm của từ gia Cung Tường Lân (龔翔麟) thời Thanh [12,

3 (106) năm 2011, chúng tôi

không phải bài nào cũng có thể yên tâm về mặt tác quyề

, chúng tôi

: “Về Nguyễn Húc và bộ Cưu đài thi tập hiện còn” (Tạp chí

Nghiên cứu Văn học, số

Trang 21

không phải từ tập của Việt Nam” (Tạp chí Hán Nôm, số 3 năm 2007), chúng tôi

trong

ột số hiện tượng bất ổn trong văn

bản Lưu Hương kí” (Nghiên cứu Văn học, số 11, năm 2008), chúng tôi

trong

chúng tôi cũng đã công bố một số kết quả nghiên cứu

[18, tr.61-76], v.v

-1.1.2.1 Những nghiên cứu ở Việt Nam

hưởng của nó ở Việt Nam” Trong bài viết này, tác giả mới chỉ đưa ra một vài thông

tin sơ giản về thể từ ở Trung Hoa; phần viết về “ảnh hưởng của nó ở Việt Nam”

cũng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả rất phổ thông, đơn giản và rời rạc, chứng tỏ đối với vấn đề ả chưa dụng công khảo cứu, về cơ bản, bài viết thu thập một số thông tin từ các sách đã in trướ ệ thố ể đưa đến cho độc giả một sự

Trang 22

18

Trên Tạp chí Văn học số 9 - 2004, Trần Ngọc Vương và Đinh Thanh Hiế bài “Từ - một chủng loại văn học ít được biết tới”, trình bày khái quát về từ sử

Trung Quốc từ khi hình thành đến thời cận đại, cung cấp cho độc giả một số tri thức

cần thiết về thể loại từ đồng thời còn đưa ra “những đề nghị về việc nghiên cứu từ ở

Việt Nam”, xem đó như là “giả thiết công tác”, ngõ hầu có thể từ đó đi sâu nghiên cứu thể loại này trong văn học dân tộc

Trong bài “Thể loại từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam

và ảnh hưởng của nó đối với văn học bản địa” (Tạp chí Hán Nôm, số 5 - 2005), thông qua việc khảo sát nguồn tư liệu Hán Nôm, thống kê tác giả, tác phẩm từ

ọa một bức tranh tổng thể về sáng tác từ ở Việt Nam Sau nhiều

một bảng thống kê các tác giả, tác phẩm từ ở Việt Nam, phân làm 3 giai đoạn với số lượng các bài từ gồm 220 bài, 120 điệu từ khác nhau [74, tr.12-23] Tuy nhiên

thống kê củ

Các tác giả quan trọng có sáng tác từ như Phùng Khắc

bảng thống kê này T ờng hợp nhầm lẫn về tác giả và tác phẩm, thống

đi sâu nghiên cứu “thể loại từ của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và ảnh hưởng

của nó đến văn học bản đị ề bài viết, song trên tinh thần cơ bản,

có thể khẳng định đây là bài viết thể hiện công phu, sự chú tâm của tác giả

từ của các tác giả Việt Nam nằm rải rác trong kho sách

Hán Nôm, bước đầu giúp người đọc mường tượng về vị trí của thể loại này trong lịch sử văn học dân tộc

ội thảo quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao

lưu văn hóa khu vực và quốc tế (Vietnamese Literature in the Regional and

International Context of Cultural Exchanges), tổ chức tại Hà Nội tháng 11 năm

2006, chúng tôi ự tiếp nhận thể loại từ ở Việt Nam - khảo sát từ

Trang 23

( chúng tôi

ể loại từ ở Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII” đăng trên Nghiên cứu và Phát triển số

, người viết

ừ Nam

, các kết quả nghiên cứu chúng tôi đã công bố

1.1.2.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Trang 24

sử (Quân sự nghị văn xuất bản xã, Bắc Kinh, 2001) của Vu Tạ Chiếu (于謝照) nên

chỉ kể ra được 04 tác giả, gồm Ngô Chân Lưu, Phạm Thái, Trương Quỳnh Như và Miên Thẩm Tác giả hẳn cũng không biết rằng Trương Quỳnh Như sở dĩ được coi là

tác giả từ chỉ là do suy diễn từ truyện thơ Nôm Sơ kính tân trang của Phạm Thái mà

ra Tuy Sơ kính tân trang giàu yếu tố tự truyện, song không thể tin tất cả những tình

tiết trong tác phẩm này là sự thực Do vậy, nếu cẩn trọng thì về danh nghĩa tác giả

những bài từ trong tác phẩm này vẫn phải quy về Phạm Thái Ngoài 4 bài từ viết bằng chữ Nôm trong Sơ kính tân trang, Phạm Thái không có tác phẩm từ nào khác

Do đó, Tưởng Quốc Học sai lầm khi tin vào Vu Tạ Chiếu mà cho là “Sau khi truyền vào Việt Nam, chỉ có một số ít thi nhân cổ điển như Phạm Thái, Trương Quỳnh

Như… dùng chữ Hán để làm từ” [196, tr.100] Trong điều kiện tư liệu hạn hẹp, họ Tưởng chỉ có thể tin vào nhận định của Vu Tạ Chiếu, rằng “tại Việt Nam, từ nhân

thực sự e là chỉ có một mình Miên Thẩm” [196, tr.100], từ đó triển khai ý tưởng toàn bài, bất cập là điều không thể tránh khỏi

(何仟年) -

-) [213, tr

Trang 25

-21

quy

của tác giả tuy

có chi tiết hơn Tưởng Quốc học song vẫn rất phi

Thiên Niên dựa vào bộ Việt Nam Hán Nôm văn

hiến mục lục đề yếu (越南漢喃文獻目錄提要) của Vương Tiểu Thuẫn (王小盾)

t

Thiên Niên từng phê phán về những nhầm lẫn học thuật xung quanh sự xuất hiện

về thể loại nên vẫn có nhầm lẫn, đó là trường hợp 10 bài điệu Trúc chi từ trong

Lương Khê thi thảo, vốn chỉ là thơ cận thể, không phải từ 1 tác

phẩm trong Việt hành ngâm thảo của Nhữ

ỉ là thơ trường đoản cú Do đó, trừ đi những nhầm lẫn trên, thống kê

của Hà Thiên Niên chỉ còn 5 tác giả với 111 bài từ

điền từ của các tác giả

Trang 26

Luậ n vậ n đậ y đu ở file:Luậ n vậ n Full

Ngày đăng: 12/07/2018, 16:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w