1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thể luận trong văn học trung đại việt nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX (2018)

73 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài Thể luận trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX để nghiên cứu nhằm thấy được những vấn đề về: khái niệm, diện mạo

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến ThS Lê Thị Hải Yến - Giảng viên Tổ Văn học Việt Nam, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo Tổ Văn học Việt Nam cùng các thầy, cô trong Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Khóa luận được hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến từ phía thầy cô và các bạn để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 26 tháng 04 năm 2018

Tác giả khóa luận

Khúc Thị Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của tôi dưới

sự hướng dẫn của ThS Lê Thị Hải Yến Nếu phát hiện có bất kỳ gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả khóa luận của mình

Hà Nội, ngày 26 tháng 04 năm 2018

Tác giả khóa luận

Khúc Thị Hà

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Mục đích 3

3.2 Nhiệm vụ 4

4 Đối tượng nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp của khóa luận 5

8 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6

1.1 Thể luận trong văn học trung đại Việt Nam 6

1.1.1 Nguồn gốc, khái niệm 6

1.1.2 Diện mạo 8

1.2 Thể luận trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX 11

1.2.1 Tình hình lịch sử xã hội, văn hóa tư tưởng Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX 11

1.2.2 Hai tác giả tiêu biểu 16

1.2.2.1 Nguyễn Trường Tộ 16

1.2.2.2 Nguyễn Lộ Trạch 19

Tiểu kết chương 1 24

Chương 2: HỆ THỐNG VẤN ĐỀ BÀN LUẬN CHỦ YẾU 25

Trang 6

TRONG THỂ LUẬN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỶ

XIX 25

2.1 Kế sách canh tân đất nước 25

2.1.1 Về chính trị, quân sự 25

2.1.2 Về kinh tế 31

2.1.3 Về văn hóa - xã hội 34

2.2 Kế sách chống chọi với kẻ thù 40

Tiểu kết chương 2: 48

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 49

3.1 Kết cấu và lập luận 49

3.2 Ngôn ngữ 54

3.3 Giọng điệu 58

Tiểu kết chương 3: 61

KẾT LUẬN 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

và cũng chưa có công trình nghiên cứu nào được thực hiện Chính vì vậy,

chúng tôi quyết định chọn đề tài Thể luận trong văn học trung đại Việt Nam

giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX để nghiên cứu nhằm thấy được những vấn đề

về: khái niệm, diện mạo, phương diện nội dung và nghệ thuật của thể luận Khẳng định những đóng góp của thể luận trong văn học trung đại Việt Nam

Trong những năm nửa cuối thế kỷ XIX, sự xâm lược của thực dân Pháp

đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử Việt Nam Một vấn đề được đặt ra trong chính sách đối ngoại của các nước phương Đông là làm thế nào để bảo

vệ được nền độc lập dân tộc và bảo tồn được các giá trị văn hóa trước sự bành trướng và xâm lược của thực dân phương Tây Trong giải pháp của các nước Đông Bắc Á được xây dựng trên nền tảng Nho Giáo như Trung Quốc, Nhật Bản ta có thể tìm thấy một nét chung là: cố gắng hòa nhập yếu tố cũ và mới, truyền thống và hiện đại trên bước đường phát triển của đất nước Nhưng tình hình ở nước ta dưới triều Nguyễn lại diễn ra hoàn toàn khác Trước vận mệnh sống còn của đất nước những nhà văn chính luận thức thời lúc đó đã trăn trở, suy ngẫm và cuối cùng bật lên những tư tưởng sáng chói tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch Những tác phẩm viết bằng thể luận của Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch góp phần quan trọng trong công

Trang 8

cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước và thể hiện sâu sắc tư tưởng của con người Việt Nam

Ngoài ra, bản thân là một giáo viên trong tương lai, với mong muốn được bổ sung thêm kiến thức chuyên ngành, nghiên cứu sẽ giúp tôi có thêm những hiểu biết sâu sắc về thể luận và những tác phẩm thuộc thể loại luận Đặc biệt, có cái nhìn rộng hơn về văn học thời trung đại

Đó là những lí do mà chúng tôi chọn đề tài “Thể luận trong văn học

trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX” Hi vọng rằng, nghiên cứu

về đề tài này sẽ phần nào làm rõ đặc trưng về nội dung, nghệ thuật cũng như đánh giá đúng vai trò của thể luận trong văn học trung đại Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khi nghiên cứu về thể luận trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX trước hết chúng tôi đi nghiên cứu về thể luận nói chung

Để tìm hiểu về thể luận đã có cuốn sách viết về thể luận tiêu biểu là: Thi pháp

Văn học trung đại Việt Nam của Trần Đình Sử, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

(2005) Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra khái niệm về thể luận và khái quát được diện mạo của thể luận qua các giai đoạn với những tác phẩm viết bằng thể luận

Tiếp theo, nghiên cứu về thể luận giai đoạn cuối thế kỷ XIX có cuốn

tiêu biểu là : Văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc - tiếp biến và

phát triển của Nguyễn Đức Thăng trong đề tài khoa học năm 2015 Trong

công trình nghiên cứu này, tác giả cũng đã dẫn ra được khái niệm đồng thời nêu ra được một số đặc trưng về phương diện nội dung, nghệ thuật của thể luận thông qua một số tác phẩm viết bằng thể luận

Bên cạnh đó, để nghiên cứu đề tài này chúng tôi cũng tìm hiểu những tác phẩm của Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch tiêu biểu có những tác phẩm sau:

Trang 9

“Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX” của Chương Châu (1961), Nxb Giáo dục Công trình nghiên cứu này, khái quát

nội dung tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX

“Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo” của Trương Bá Cần

(1988), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Công trình nghiên cứu này, đã đề cập tương đối đầy đủ về con người và tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ

“Nguyễn Lộ Trạch điều trần và thơ văn” của Mai Cao Chương - Đoàn

Lê Giang (1995), Nxb khoa học xã hội Công trình nghiên cứu này, đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Lộ Trạch

“Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn” của Đỗ Bang (1999), Nxb Thuận Hóa Công trình nghiên cứu này, đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp

và tư tưởng canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871) Nguyễn

Lộ Trạch (1853 - 1895) những đề xuất trong tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX

Tuy nhiên, tất cả các tác giả trên chưa tập trung đi sâu vào phân tích kĩ những đặc trưng tiêu biểu của thể loại luận Vấn đề được nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu khái niệm và kể tên một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu thuộc thể luận Vẫn còn khoảng trống về diện mạo phát triển qua các giai đoạn, đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thể luận Vẫn chưa khẳng định được những đóng góp của thể luận trong văn học trung đại Việt Nam Đặc biệt, chưa ai nghiên cứu những tác phẩm này theo góc nhìn từ góc nhìn thể loại

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Khái quát cơ bản những vấn đề về: khái niệm, diện mạo, đặc trưng thể luận giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX

Trang 10

Chỉ ra những đặc điểm về phương diện nội dung và nghệ thuật của thể luận Khẳng định những đóng góp của thể luận trong văn học trung đại Việt Nam

Thứ hai: thống kê số lượng tác phẩm viết bằng thể luận

Thứ ba: đi vào vào nghiên cứu kế sách canh tân đất nước và chống chọi với kẻ thù của Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch để thấy được đặc trưng nội dung, nghệ thuật của thể luận

4 Đối tượng nghiên cứu

Thể luận trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX Cụ thể là qua các tác phẩm thuộc thể loại luận của hai tác giả tiêu biểu

là Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch

nghiên cứu là: Tế cấp luận (1863), Giáo môn luận (1863), Thiên hạ phân hợp

đại thể luận (1863), Thời vụ sách thượng (1877), Thời vụ sách hạ (1882), Thiên hạ đại thế luận (1892)

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu văn học sử

- Phương pháp loại hình

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

- Các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh

7 Đóng góp của khóa luận

Khái quát lại diện mạo, đặc trưng nội dung và nghệ thuật của thể luận trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Thể luận trong văn học trung đại Việt Nam

1.1.1 Nguồn gốc, khái niệm

Thể luận là thể văn đã có từ rất lâu đời trong nền văn học cổ Trung quốc Văn học Trung Quốc có một truyền thống luận rất hùng hậu Ví như

Hàn Dũ có Tranh thần luận; Liễu Tôn Nguyên có Phong kiến luận; Âu Dương Tu có Bản luận, Bằng đảng luận ; Tăng Củng có Đường luận; Tô Tuân có Dịch luận, Nhạc luận, Thi luận, Tư luận; Tô Thức có Phạm Tăng

luận, Tu Hầu luận, Lưu Hầu luận, Giả Nghị luận Như vậy thể luận ở Trung

Quốc có từ xưa Thể văn này đã du nhập vào Việt Nam cùng với thời gian Trung Quốc đô hộ Việt Nam Cụ thể là xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế

kỷ XIII tiêu biểu là Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu và đạt thành tựu tiêu biểu vào nửa cuối thế kỷ XIX với các nhà văn chính luận tiêu biểu như Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch [24; 253, 254]

Để đưa ra một khái niệm thống nhất về luận, chúng tôi tiến hành tìm

hiểu thông qua cuốn từ điển

Theo từ điển tiếng Việt:

luận việc thời sự

luận văn chương

2 dựa vào lí lẽ, ý nghĩa mà suy ra

chữ viết quá mờ, rất khó luận [40; 758]

Trang 13

Cuốn Thi pháp văn học trung đại Việt Nam nhà nghiên cứu Trần Đình

Sử viết:

Luận là một thể văn nhằm phân tích sự lí, phán đoán đúng sai Lưu

Hiệp trong Văn tâm điêu long mục “Luận thuyết” nói “thuật kinh kể lý thì gọi

là luận” “Luận là tổ chức, sắp xếp các ý kiến để làm sáng rõ một chân lí nào đó” Luận bắt đầu từ Khổng Tử trước đó không có chữ luận “Luận là thứ tự, sắp xếp các lý lẽ cho có thứ tự, không bị sơ hở thì thành ý không bị sụp đổ” [24; 203]

Cuốn Văn chính luận Việt Nam và Trung Quốc - tiếp biến, phát triển,

Nguyễn Đức Thăng dẫn: “Luận là một thể văn phân tích sự lí, phán đoán đúng sai Luận là tổ chức, sắp xếp các ý kiến để làm sáng rõ một chân lí nào

đó Luận bắt đầu từ Khổng Tử, trước đó không có chữ luận Luận khác sử luận vì nó chủ về đạo lí Tuân Tử có Lễ luận, Nhạc luận, Hán nho có Thạch

lí trí người đọc và người nghe một cách dễ hiểu nhất Qua đó người đọc thấy được một quan điểm, tư tưởng, lập trường có cơ sở lý luận trong đời sống và học thuật

Trang 14

- Lê Văn Hưu (1230 - 1322)

Khóa hư lục có:

- Phổ huyết sắc thân

- Thu giới luận

- Niệm phật luận

- Tọa thiền luận

- Tuệ giáo giám luận

nửa đầu thế kỷ XIX (thể

luận không xuất hiện)

Cuối thế kỷ XIX - Vũ Phạm Hàm

(1807 - 1872)

- Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871)

- Hòa Nhung luận

- Thiên hạ phân hợp đại thể luận

Trang 15

Giai đoạn Tác giả Tác phẩm

- Nguyễn Lộ Trạch (1853 - 1895)

- Tế cấp luận

- Giáo môn luận

- Thiên hạ đại thể luận

- Thời vụ sách thượng

- Thời vụ sách hạ

Giai đoạn từ thế kỷ X - hết thế kỷ XIV diện mạo của thể luận trong văn học trung đại Việt Nam chưa được phong phú Đời Trần, Trần Thái Tông có Khóa Hư Lục, đây là một kiệt tác phẩm của nền văn học Phật giáo dân tộc, thế kỷ XIII Về nội dung cuốn sách tác giả đã trình bày những tư tưởng triết

lý đại tạng Phật giáo nhằm mục đích tự thức tỉnh mình và đồng thời có tính cách giáo dục quần chúng, nói lên niềm thao thức khổ đau cùng sự giác ngộ của một con người có trách nhiệm với mình, với đời và với đồng bào,

nhân loại Trong sách này có các thiên Thu giới luận, Niệm Phật luận, Tọa

thiền luận, Tuệ giáo luận, Giới định túc luận Có thể nói Phật giáo đã mở đầu

thể luận ở nước ta Tiếp đến Lê Văn Hưu là người mở đầu Sử luận Ông không viết thành bài luận riêng mà dựa vào sự thực lịch sử mà vạch ra ý nghĩa của nó Với tư cách là nhà Sử học, ông lấy trách nhiệm của Sử thần mà phát biểu ý kiến riêng, ý kiến này có giá trị độc lập tương đối so với việc chép sử

Ví dụ bài Luận về Hai Bà Trưng hay đoạn luận về việc nhà Lý sùng Phật

Giai đoạn từ thế kỷ XV - đến hết thế kỷ XVII: thời Lê Sơ nhà Sử học Ngô Sĩ Liên có Sử luận Tác phẩm hoàn toàn theo quan điểm của nho gia, tin mệnh trời, xét đạo đức theo các phạm trù lễ, nghĩa, tín Cuối triều Lê, Bùi

Kỷ giới thiệu bài luận của ông tự làm là Thân thể luận Giống như các thế hệ

nhà nho trước kia, thơ văn Bùi Kỷ là nơi để nói chí, tỏ lòng, thể hiện thế giới

Trang 16

tinh thần của mình trong những nét thanh cao với nhiều ưu tư lo đời, thương đời, cũng là để răn mình, răn đời

Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX thể luận không xuất hiện Ở giai đoạn này nó đã vắng bóng Trải qua gần chín thế kỷ có thể thấy thể luận của nước ta hiếm đến cỡ nào, không thấy để lại mẫu mực Có lẽ điều đó ứng với nhận định của học giả thời nay: “Tổ tiên ta ít làm lý luận Không phải không có nhưng rất ít” [24; 257]

Giai đoạn cuối thế kỷ XIX khi đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng, họa ngoại xâm khó bề lẩn tránh, đất nước lạc hậu tiêu điều thì xuất hiện

những bài luận Ví như Hòa Nhung luận của Vũ Phạm Hàm (1807 - 1872)

Dưới triều vua Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ đã gửi triều đình Huế 58 bản điều

trần và những bản văn xuất sắc Tế cấp luận (Bàn về những vấn đề khẩn cấp, 1863), Giáo môn luận (Bàn về tự do tôn giáo, 1863), đặc biệt, Thiên hạ phân

hợp đại thế luận (Bàn về những thế lớn phân và hợp trong thiên hạ)

Sau đó, có thể kể đến Nguyễn Lộ Trạch với Thời vụ sách thượng, Thời vụ

sách hạ, nhất là tập Thiên hạ đại thế luận (Bàn về thế lớn trong thiên hạ, cụ

thể bàn về tình thế của các nước Đông Á trước nguy cơ thôn tính của phương Tây)

Phải chăng khi xã hội có biến động lớn thì buộc người ta phải suy nghĩ, mới có nhiều điều phải luận Bởi vậy giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX thể luận

đã đạt được thành tựu tiêu biểu

Nhìn chung thể luận trong văn học trung đại Việt Nam xuất hiện từ triều đại nhà Trần và kết thúc khi thực dân Pháp xâm lược và cai trị Việt Nam Trải qua những thăng trầm trong lịch sử, thể loại luận đã để lại những tác phẩm giá trị, đạt giá trị cao về tư tưởng nghệ thuật trở thành những tác phẩm mang màu sắc cổ điển trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam

Trang 17

1.2 Thể luận trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX

1.2.1 Tình hình lịch sử xã hội, văn hóa tư tưởng Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, năm 1858 là mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Cuộc xâm lăng do thực dân Pháp phát động đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc Sự kiện này đã kéo theo những biến động ghê gớm, những đổi thay sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống của nhân dân

Thực dân Pháp đã có ý đồ xâm lược nước ta từ lâu, từ cuối thế kỷ XVIII nhưng âm mưu này chưa thực hiện được “Cuộc chiến bị chậm lại một mặt là do những biến động chính trị trong nội tình nước Pháp, mặt khác là bởi cung cách ứng xử của các vua Nguyễn” [20; 264] Đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp lấy cớ triều đình nhà Nguyễn đã bắn giết các giáo sĩ và ngăn chặn thông thương nên đã chính thức xâm lược Việt Nam Chúng đã phải mất gần

40 năm mới đặt được ách thống trị trên đất nước ta và gần một thế kỷ nhân dân ta phải sống dưới sự cai trị của Pháp

Trong tình hình xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX thì sự kiện Pháp xâm lược Việt Nam là sự kiện quan trọng, nổi bật, chi phối các sự kiện khác

và có ảnh hưởng rất lớn đến mọi tầng lớp người trong xã hội Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã có những biến chuyển to lớn Việt Nam từ một xã hội phong kiến đã biến thành một xã hội thuộc địa, mặc

dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phong kiến Song khi đã hình thành thuộc địa thì tất cả các mặt của xã hội đều nằm trong quỹ đạo chuyển động đó Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, ở Việt Nam đã hình thành những mâu thuẫn đan xen nhau, đó là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn

Trang 18

giai cấp Tuy nhiên, mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động

Trong tình hình đất nước lúc bấy giờ, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh hưởng Nông nghiệp sa sút, nhiều cuộc khẩn hoang được tổ chức khá quy mô và cuối cùng đất đai khai khẩn lại rơi vào tay địa chủ Hiện tượng dân lưu tán trở nên phổ biến, đê điều không được chăm sóc, nạn mất mùa, đói kém xảy ra liên miên Công thương nghiệp bị đình đốn, xu hướng độc quyền công thương của nhà nước đã hạn chế sự phát triển của sản xuất và thương mại

Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đã đấu tranh chống thực dân Pháp quyết liệt Giai cấp phong kiến lúc đầu còn chống đối nhưng ngày càng yếu ớt và cuối cùng thì nhượng bộ, thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp mọi nơi tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của nông dân chống triều đình phong kiến đầu hàng và chống Pháp xâm lược Chẳng hạn như cuộc khởi nghĩa của Ba Cai Vàng, Ðoàn Hữu Trưng, Trần Tấn… Phong trào đấu tranh yêu nước của các sĩ phu, các lãnh binh đã lãnh đạo nhân dân chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương cũng nổ ra rầm rộ kéo dài

từ Bình Ðịnh, Quảng Bình ra đến Hưng Yên, Thái Bình, Tây Bắc Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như Phan Ðình Phùng, Ðinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám… Phong trào chống Pháp tuy sôi nổi, đều khắp nhưng không có lực lượng hậu thuẫn làm nòng cốt nên cuối cùng phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta bị thất bại Tuy thất bại nhưng chứng tỏ được tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần dũng cảm của nhân dân và khẳng định phong trào đấu tranh mang tính nhân dân sâu sắc Có thể nói, đây là giai đoạn lịch sử đau thương mà hùng tráng của dân tộc, nhiều

hi sinh mất mát nhưng rất tự hào, giai đoạn Khổ nhục nhưng vĩ đại

Trang 19

Trước những biến cố lớn lao, xã hội nước ta có sự phân hóa giai cấp sâu sắc Mỗi tầng lớp bị phân hóa đều mang sắc thái tâm lý và thái độ chính trị riêng Giai cấp thống trị cũ của xã hội, thái độ của họ không giống nhau nhưng tâm lý chủ yếu của tầng lớp này là đầu hàng và thỏa hiệp Bên cạnh đó một số sĩ phu, trí thức phong kiến thấy rõ quyền lợi của phong kiến cũng chỉ

là quyền lợi làm tay sai cho đế quốc nên họ tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc, sống gần gũi với nhân dân và hăng hái cùng với nhân dân chống giặc Số khác là những nhà thơ, nhà văn yêu nước họ đã dùng ngòi bút để chiến đấu, để nói lên tâm tư, nguyện vọng và thái độ của mình trước cảnh nước mất, nhà tan Bên cạnh lực lượng nho sĩ, nhiều tầng lớp mới xuất hiện như tư sản, tiểu tư sản và vô sản, quyền lợi đối lập nhau Giai cấp tư sản mới hình thành nên chưa đủ sức mạnh để chống lại tư sản chính quốc, cũng chưa

đủ sức để vươn cao ngọn cờ yêu nước Giai cấp vô sản đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, giai cấp này lớn mạnh nhanh chóng nhất là sau chiến tranh thế giới I Tuy nhiên, sáng tác văn học giai đoạn này vẫn thuộc về giai cấp cũ nên văn học vẫn chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến

Đến giữa thế kỉ XIX, cùng với sự hèn yếu của triều đình nhà Nguyễn,

sự xâm lược của thực dân Pháp và bước đầu tiếp cận với nền văn minh phương Tây, tầng lớp nho sĩ ở nước ta đã phân hóa sâu sắc Lúc này, ở Việt Nam diễn ra sự va chạm giữa hai nền văn minh Á - Âu, giữa văn hóa Nho giáo và văn hóa Thiên chúa giáo du nhập từ phương Tây Trước đây, nền tảng

xã hội là Nho giáo, nó là gốc rễ của mọi hệ tư tưởng Hiện tại, khi thực dân Pháp xâm lược, Nho giáo đã không thể giữ vững vị trí độc tôn và lãnh đạo dân tộc được nữa Biểu hiện rõ nhất là việc xuất hiện những nhóm sĩ phu tiến

bộ có đầu óc canh tân đất nước Những nhân vật điển hình có thể kể đến là: Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871), Nguyễn Lộ Trạch (1853 - 1895) Đây là

Trang 20

những sĩ phu có đầu óc canh tân đầu tiên trong lịch sử nước ta, đặt nền móng cho cuộc vận động giải phóng dân tộc vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

Khi đối diện với vấn đề xâm lược của Pháp, họ phân hóa thành ba khuynh hướng: chủ chiến, chủ hòa và không chiến cũng không hòa “Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, vấn đề được quan tâm nhiều nhất, có ý nghĩa sống còn là câu hỏi: chiến hay hòa?” [20; 267] Chủ chiến có thể kể đến những cái tên như Đốc học Phạm Văn Nghị (1805 - 1884), Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Trần Xuân Soạn (1849 - 1923), Tôn Thất Thuyết (1839 - 1913)… trong phong trào Cần Vương “Là người trí thức phong kiến, họ yêu nước, quyết tâm cứu nước thoát khỏi khổ nạn, nhưng lại cố làm sao cho hành động của mình vẫn nằm trong giới hạn cương thường” [20; 268] Đó là những người có lòng yêu nước sâu sắc, họ sẵn sàng hi sinh tính mạng cứu nước Tuy nhiên, do tư tưởng Nho giáo in sâu, họ không thoát khỏi sự bảo thủ đối với việc canh tân đất nước, xem đó là hành động đi sai luân thường đạo lí Về phía chủ hòa, chia thành chủ hòa hoàn toàn và chủ hòa để canh tân đất nước Trong đó, các nhà nho canh tân còn theo xu hướng cũ và mới Có thể kể đến các nhân vật tiêu biểu cho chủ hòa hoàn toàn như: Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành (1813 - 1883)… Sự phân hóa này còn bắt nguồn từ sự lúng túng trước một kẻ thù mới hoàn toàn khác với các tập đoàn phong kiến phương Bắc trước đây Dù Vương triều Nguyễn là một trong số những Vương triều tiếp xúc và am hiểu nhiều về sức mạnh của phương Tây từ sớm, từ thời Nguyễn Phúc Ánh còn đang tranh chấp với triều Tây Sơn Nếu như khuynh hướng chủ chiến hay chủ hòa đã rõ nét thì khuynh hướng không chiến cũng không hòa cũng khá phức tạp Tư tưởng của khuynh hướng này là giặc từ xa đến trước hết chúng ta phải thủ rồi từ từ mà tiến thoái Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các nhà nho như: Trương Đăng Quế (1793 - 1865), Lâm Duy Hiệp (1806 - 1863)…

Trang 21

Đội ngũ trí thức nho học giai đoạn này còn đối diện với việc gìn giữ những giá trị truyền thống nho học đã tồn tại nghìn năm nay hay cải cách đổi mới theo nền văn minh phương Tây tiến bộ hơn Sự phân hóa này chiếm vai trò chủ đạo trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX Vấn đề canh tân đất nước đã trở thành một mối quan tâm lớn của tầng lớp trí thức khi một số quốc gia lân cận nhờ cải cách mà thoát khỏi sự kìm hãm của chủ nghĩa tư bản Đại diện cho khuynh hướng chủ hòa để canh tân đất nước có thể kể đến như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ Họ tiêu biểu cho một nhóm trí thức đã kịp thức tỉnh, thoát khỏi ý thức hệ phong kiến mà nắm bắt được bước tiến của thời đại Trong con người họ luôn trăn trở, lo âu với sự đổi mới canh tân đất nước Nhờ tiếp xúc với luồng tư tưởng tiến bộ của phương Tây, họ luôn mong muốn dùng tư duy và trí tuệ của mình để đưa đất nước tiến bộ Còn bộ phận còn lại họ luôn ra sức bảo vệ những giá trị truyền thống nho học lâu đời, chống phá lại những tư tưởng canh tân đất nước lúc bấy giờ

Ngoài những vấn đề nói trên, sự phân hóa trong tư tưởng của nho sĩ đương thời còn thể hiện ở việc xuất và xử Những cái xử của nho sĩ lúc bấy giờ không giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp mà là sự bất hợp tác với kẻ thù và quyết bảo vệ tiết tháo nhà nho Đối lập với khuynh hướng xử thế là khuynh hướng xuất thế Họ có xu hướng hợp tác với Pháp tuy nhiên trong nhóm xuất cũng có những sự phân hóa khác nhau

Nhìn chung, giai đoạn này tầng lớp nho sĩ Việt Nam có sự phân hóa mạnh mẽ và sâu sắc Sự phân hóa này mang tính chất lịch sử cụ thể, đó là sự lúng túng trước một kẻ thù mới với nền văn minh tiến bộ Bởi nho sĩ là tinh hoa của xã hội cho nên sự phân hóa của họ đã có tác động to lớn đến phong trào yêu nước Việt Nam Như vậy, những biến cố lịch sử trong nửa cuối thế kỉ XIX đã làm phân hóa hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam tồn tại bao đời nay

Trang 22

Điều này đã tác động không nhỏ đến quan điểm sáng tác cũng như nội dung phản ánh trong các tác phẩm văn học nghệ thuật

1.2.2 Hai tác giả tiêu biểu

1.2.2.1 Nguyễn Trường Tộ

Cuộc đời

Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830 ở làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình theo đạo Gia tô Cha là Nguyễn Quốc Thủ, một người hay chữ, một thầy thuốc Đông y có tiếng, nhưng mất sớm Thuở ấu thơ, Nguyễn Trường Tộ học chữ Hán với cha và các thầy ở trong vùng: Tú Giai ở Bùi Ngõa, Cống Hữu ở Kim Khê và quan huyện Địa Linh về hưu ở Tân Lộc Ông thông minh, học giỏi nên được truyền tụng là

"Trạng Tộ" Ông từng mở trường dạy học tại nhà, đức cha Hậu biết ông là người tài đức, liền mời ông làm người dạy các chúng sinh của giáo phận Đồng thời Nguyễn Trường Tộ cũng nhờ cậy đức cha để học thêm tiếng Pháp

và nghiên cứu nền văn minh phương Tây cùng sự thay đổi của các quốc gia trên thế giới

Năm 1858, Giám mục Gauthier đưa ông sang Hương Cảng (Hồng Kông), Tân Gia Ba (Singapore), Thụy Sỹ, Rôma, … rồi cuối cùng sang Paris(Pháp) theo học trong gần 2 năm Khoảng thời gian ở Paris, chẳng những ông hiểu biết nhiều về khoa học - kỹ thuật, có trình độ như một kiến trúc sư, một người biết khai mỏ, mà còn đọc rộng về các mặt chính trị, kinh tế, quân

sự, ngoại giao, pháp luật, và tìm hiểu được một số hoạt động công nghệ của nước Pháp Cuối 1858, Nguyễn Trường Tộ cùng với Giám mục Gauthier vào

Đà Nẵng tránh nạn (phân tháp) rồi đầu năm 1859 sang Hồng Kông

Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về Sài Gòn với một hoài bão lớn là đem những hiểu biết thu thập được của mình để giúp đất nước canh tân, tự cường, tự lực để mong tránh được sự mất nước, ông làm chức từ - hàn (thông

Trang 23

dịch viên) và bị triều đình nghi kị là tay sai của ngoại bang Do sống trong lòng địch nên việc phải làm việc với quân Pháp là bất đắc dĩ Ông làm công việc phiên dịch các công hàm trao đổi giữa triều đình Huế với Soái phủ Pháp

ở thành Gia Định Nhiều lần ông có sửa đi một số chữ nghĩa trong công hàm của hai bên để tránh những lời lẽ quá khích, xúc phạm tới triều đình và gây hại cho việc tạm hòa Ngoài ra, một số lần ông còn thông báo cho một số đại thần của triều Nguyễn như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ những âm mưu của thực dân Pháp Do ông là người công giáo, có thời gian làm việc với thực dân Pháp lâu dài, và triều đình lại luôn căm ghét đạo Ki - tô cho nên triều đình cũng như nhân dân luôn có thái độ không tin tưởng đối với ông Chính điều này cho nên một người tài năng, thông minh, giàu lòng yêu nước như ông lại không được đánh giá đúng và tin dùng như một số người khác

1862, ông xin thôi chức Từ - hàn, lui về quê, ông dồn hết tâm trí vào việc thảo kế hoạch giúp nước

Năm 1863, Nguyễn Trường Tộ tìm cách thoát ra khỏi khu vực chiếm đóng của quân Pháp, liên hệ được với triều đình Huế Từ đây cho đến cuối đời ông viết hàng loạt điều trần, luận văn, tờ bẩm, trình nhiều kiến nghị có tầm chiến lược nhằm canh tân đất nước, tạo thế vươn lên cho dân tộc để giữ nền độc lập một cách khôn khéo mà vững chắc cho quê hương đất nước

Trong lúc chờ đợi ở Sài Gòn, sau khi thôi làm phiên dịch cho Pháp ông

đã giúp xây cất tu viện dòng thánh Phaolo, số 4 Tôn Đức Thắng hiện nay Công cuộc xây dựng được bắt đầu tháng 9 năm 1862 và hoàn tất vào 18 - 7 -

1864 Cũng trong thời gian này, Nguyễn Trường Tộ sống trong những ngày buồn tẻ và bệnh tật Ông còn bị bệnh tê thấp, chính căn bệnh này đã hạn chế phần nào những hoạt động của ông

Từ 1861 - 1866, Nguyễn Trường Tộ chủ yếu ở Sài Gòn, không về Nghệ

An, ông cũng ít đi Huế, cho tới giữa năm 1866 mới được về Xã Đoài Trong

Trang 24

năm này, ông được mời về Huế, đây là những năm tháng đầy triển vọng của ông Trong thời gian này, ông được vua Tự Đức chú ý đến và được triệu vào kinh giải quyết vấn đề tàu London Tuy nhiên, triều đình không sử dụng và nhà vua cũng nghe theo, cuối cùng Nguyễn Trường Tộ thấy mình ở Huế cũng không có gì để làm nên đã xin đi ra Quảng Bình để về Nghệ An

10 - 4 - 1866, Nguyễn Trường Tộ cùng với linh mục Croc và Nguyễn Hoàng rời Huế để đi Bố chính Sau đó ông cùng giám mục Gauthier đi về Xã Đoài, Nghệ An Nhưng không lâu sau ông quay lại Huế Lần quay lại này Nguyễn Trường Tộ thấy bức xúc về việc canh tân đất nước nhưng ông cũng thấy được rõ ràng và sâu sắc hơn những khó khăn trước mắt Vua thì nghi ngờ ông vì ông là người công giáo, các quan trong triều thì cổ hủ không hiểu về hoàn cảnh thực tế mà luôn ghen ghét sinh lòng đố kị với nhau

1867, Nguyễn Trường Tộ đã cùng với giám mục Gauthier và một số người khác đáp tàu đến Pháp Đây là giai đoạn mà Nguyễn Trường Tộ viết dâng lên triều đình Huế nhiều bản điều trần có giá trị nhằm góp phần cho công cuộc canh tân đất nước Gần 60 di thảo của ông được người đời sau sưu tầm và gìn giữ đã thể hiện tài năng, tư duy tài tình của ông trên nhiều phương diện về chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự…

Trong những năm cuối đời (1868 - 1871), Nguyễn Trường Tộ có góp phần quan trọng trong việc xây dựng nhà chung Xã Đoài, đồng thời ông cũng

có nhiều liên lạc với triều đình Huế, khoảng hai mươi văn bản trong số đó hiện có ba văn bản chưa tìm thấy ở đâu Ngày 3 - 1 - 1871, Nguyễn Trường

Tộ được tổng đốc Nghệ An cử đi Huế với lí do là để đem học sinh đi du học Trong những ngày ở Huế, ông đã lặng lẽ gặp gỡ nhiều quan chức trong triều đình và ông cũng để lại nhiều văn bản thôi thúc triều đình mở rộng bang giao, canh tân đất nước… Sau một thời gian ở Huế bệnh cũ tái phát, Nguyễn

Trang 25

Trường Tộ về Nghệ An Ông chết âm thầm ở làng quê Bùi Chu ngày 10 tháng

10 năm Tự Đức thứ 24, tức 23 tháng 11 năm 1871

Sự nghiệp

Nguyễn Trường Tộ đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ, cả văn và

di thảo thơ gồm khoảng 36 tác phẩm trong đó có 3 tác phẩm được viết bằng

thể luận đó là: Tế cấp luận (Bàn về những vấn đề khẩn cấp, 1863) mà cụ thể

là vấn đề về chính trị - quân sự, kinh tế, văn hóa – xã hội Giáo môn luận

(Bàn về tự do tôn giáo, 1863) ông kêu gọi triều đình phải có chính sách bao

dung, nhân ái đối với những tín đồ Công giáo Đặc biệt, Thiên hạ phân hợp

đại thế luận (Bàn về những thế lớn phân và hợp trong thiên hạ) ông trình bày

những chiến lược cơ bản về những thế lớn phân và hợp trong thiên hạ Ông đề nghị triều đình chủ hòa nhưng không phải là chủ hàng

1.2.2.2 Nguyễn Lộ Trạch

Cuộc đời

Nguyễn Lộ Trạch tự Tổn Tu, Hà Nhân, hiệu Kỳ Am, Hồ thiên Cư Sĩ, Bàn Cơ Điếu Đồ, Tùng Linh, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1853 tại Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Tuy nhiên, quê gốc của ông là làng Kế Môn, huyện Phong Ðiền, tỉnh Thừa Thiên (nay thuộc xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế)

Tổ tiên ông có lẽ là người Hoan Ái (tức vùng Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh ngày nay), đến thế kỷ XVI, theo tướng Nguyễn Hoàng vào vùng Thuận Hóa Họ Nguyễn Thanh truyền đến Nguyễn Lộ Trạch là 12 đời Cha ông là Nguyễn Thanh Oai (1816-1876), đỗ Tiến sĩ năm 1843 dưới triều vua Thiệu Trị (cùng khoa với danh thần Phạm Phú Thứ), từng giữ chức quyền Thượng thư bộ Hình, Tổng đốc Ninh Thái (gồm Bắc Ninh và Thái Nguyên)

Nguyễn Lộ Trạch có tiếng là thông minh, tài giỏi, nhưng không theo lối mòn vạch sẵn thời bấy giờ: đi học, đi thi, làm quan - có lẽ vì ông thấy được sự

Trang 26

bất tài của đám quan lại và cái vô nghĩa của lối học cử tử lúc bấy giờ.Ông đọc nhiều sách, biết nghề thuốc, có kiến thức sâu rộng, nhưng không đi thi, chỉ chú tâm vào con đường thực dụng Ông thường ngao du khắp các tỉnh miền Trung, tìm người cùng chí hướng kết giao, được người đương thời gọi là "cậu

ấm tàng tàng"

Năm 20 tuổi, ông kết hôn với Trần Thị Nhàn, con gái Phụ chính Trần Tiễn Thành Chính ở văn phòng cha vợ, ông đã đọc được nhiều sách tân thư của Trung Quốc, đọc được cả bản những bản điều của Nguyễn Trường Tộ, và chịu ảnh hưởng những tư tưởng canh tân này

Năm Tự Đức thứ 30 (Đinh Sửu, 1877), kỳ thi Hội ở Huế, có lấy chuyện

"Sứ Pháp vào chầu, hòa hiếu hợp lễ" làm đề thi Tuy không dự thi, nhưng với tấm lòng luôn băn khoăn day dứt về tình hình đất nước, Nguyễn Lộ Trạch đã

dâng lên một bản "Thời vụ sách thượng", vạch rõ mưu kế giả vờ hòa nghị của

thực dân Pháp, đồng thời khuyên triều đình nên "gấp lo tự cường tự trị" để

cứu nước Mặc dù, Thời vụ sách thượng không được triều đình thi hành,

nhưng cũng đã gây được tiếng vang lớn

Đầu năm Nhâm Ngọ 1882, Cơ mật viện có ý cử ông sang Hương Cảng (Hồng Kông) học kỹ thuật, nhưng về sau không thành Sau đó, ông có gửi thư lên cha vợ là Trần Tiễn Thành đề nghị ông nhắc nhở triều đình là "phải biết tự cường, tự trị, đồng thời phải biết mật giao với các cường quốc thù địch của Pháp như Anh, Đức để làm thế chân vạc kiềm chế Pháp" Tự Đức xem xong

và phê rằng "Ngôn hà quá cao" (Nói sao quá cao!) rồi thôi

Tháng 4 năm đó, quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai Nguyễn Lộ

Trạch liền dâng bản "Thời vụ sách hạ" Trong bản điều này, ông chỉ rõ những

điểm cụ thể cần làm ngay và chủ trương rất mạnh mẽ, kiên quyết: xây dựng thủ đô ở Thanh Hóa để chuẩn bị kháng chiến, tổ chức lại quân đội, ngoại giao

Trang 27

với Đức, Anh để kiềm chế Pháp Song lần này, triều đình nhà Nguyễn cũng

đã làm ngơ trước các đề nghị của ông

Tháng Giêng năm Giáp Thân (1884), Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường mời ông và Phạm Phú Đường (con trai Phạm Phú Thứ) đến kinh đô Huế bàn việc nước Để nhắc lại lần nữa những luận điểm cơ bản trong kế sách chống ngoại xâm của mình Khi trở về, Nguyễn Lộ Trạch đã thảo một bức thư

có tên là "Dữ Phạm Phú Đường thướng Phụ chính đại thần" (Thư đứng tên cùng Phạm Phú Đường gửi Phụ chính đại thần), rồi dâng lên ông Tường

Tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi chạy ra chiến khu Quảng Trị, ban bố dụ Cần Vương Năm 1888, vua Hàm Nghi bị quân Pháp bắt, đồng thời phong trào Cần Vương bị đàn áp khốc liệt, Nguyễn Lộ Trạch đành phải lui về ở ẩn song vẫn không nguôi lưu tâm đến việc nước

Năm 1892 dưới triều Thành Thái, lại có kỳ thi Hội ở Huế Tuy không

đi thi, nhưng nhân đầu đề hỏi về "đại thế hoàn cầu", ông cũng viết một bài có

tên là "Thiên hạ đại thế luận" (Bàn về thế lớn trong thiên hạ) bàn về tình thế

các nước Á Đông trước nguy cơ thôn tính của một số nước ở Phương Tây Sau khi phân giải, ông đã chỉ ra đại để rằng: dã tâm xâm lược của thực dân Pháp đã có từ lâu, không vì chúng ta sợ sệt cầu hòa mà họ ngừng lại, cũng không vì chúng ta khiêu khích mà họ dấy binh nhiều hơn Nay nhà vua và triều đình chỉ còn cách:

- Từ bỏ hẳn tệ quan liêu, tham nhũng, thói chuộng hư danh thì "biết đâu một ngày kia lại không thể tung hoành làm nên nghiệp lớn"

- Cần nắm lấy, kịp thời sửa sang chính trị, giáo dục để không khỏi phụ lòng mong mỏi của nhân dân

Ông viết bài luận này cốt để khơi gợi cho vua Thành Thái và các quan đầu triều gấp lo phục hưng đất nước, nhưng khi được công bố, nó đã gây

Trang 28

được tiếng vang rộng rãi, được đông đảo sĩ phu và những người có tư tưởng cách tân tìm đọc và tán thưởng, trong số đó có Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Vũ Phạm Hàm, Trương Gia Mô

Về cuối đời, ông lại tiếp tục ngao du đây đó, tìm người tài giỏi kết bạn tri âm Năm Ất Mùi (1895), ông làm một chuyến Nam du vào Phan Thiết - trung tâm “tỵ địa” của nhóm sĩ phu Nam Trung Bộ thuở ấy Ông còn tính chuyện xuất dương nhưng chưa thực hiện được đã lâm bệnh nặng rồi mất tại Bình Định vào năm 1895, lúc 42 tuổi

Năm 1957, con cháu Nguyễn Lộ Trạch đã đưa di cốt ông từ Bình Định

về táng tại nghĩa trang của làng Kế Môn, thuộc xã Ðiền Môn, huyện Phong Ðiền, tỉnh Thừa Thiên - Huế Mộ ông hình tròn đơn giản, đường kính 3 m, thành cao 40 cm, dày 20 cm; và đã được nhà nước công nhận là di tích quốc gia theo quyết định số 52/2001/QÐBVHTT ngày 28 tháng 12 năm 2001

Sự nghiệp

Tác phẩm của Nguyễn Lộ Trạch phần lớn đều bằng chữ Hán, gồm có:

- Quỳ Ưu lục: là tập hợp các bài văn nghị luận của ông (trong đó có "Thời vụ sách I, II", và "Thiên hạ đại thế luận"), do tự tay ông sắp xếp vào năm 1884

- Kỷ trào lục (Tự nhạo mình như người nước Kỷ)

- Kỳ Am dã thoại (Những lời quê mùa của Kỳ Am)

- Kỳ Am thi văn toàn tập (Toàn tập thơ văn của Kỳ Am)

- Quốc ngữ thị phụ giai ẩn từ (Bài ca quốc ngữ khuyên vợ cùng đi ẩn)

Song phần lớn thơ văn trên đều đã thất lạc, chỉ còn lại tập Kỳ Am Nguyễn Lộ Trạch di văn (Những bài văn còn lại của Kỳ Am Nguyễn Lộ Trạch) do người đời sau góp nhặt Trong đó có Quỳ Ưu lục, một số thư từ và

15 bài thơ

Trang 29

Nhìn chung, thơ ông mang âm hưởng trầm buồn Văn nghị luận của ông, ngoài sự nhiệt huyết ra còn hấp dẫn người đọc ở những ví dụ giàu sức biểu cảm, vừa tác động vào cảm xúc, vừa có ý vị trào lộng hài hước, khiến người đọc không ai có thể thờ ơ

Trang 30

Tiểu kết chương 1

Ở chương một, chúng tôi đã tìm hiểu những vấn đề về thể luận trong văn học trung đại Việt Nam Chúng tôi cũng khái quát cơ bản những vấn đề về: khái niệm, diện mạo, đặc trưng thể luận giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX Đồng thời nghiên cứu về tác giả Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch Các tác phẩm của Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch đã mang đậm những đặc trưng về nội dung cũng như nghệ thuật của thể loại luận Tiếp cận các tác phẩm của Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch là hướng đi đúng đắn, góp phần đánh giá được vị trí văn chính luận của Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch trong dòng chảy văn chính luận trung đại

Trang 31

Chương 2: HỆ THỐNG VẤN ĐỀ BÀN LUẬN CHỦ YẾU

TRONG THỂ LUẬN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

Trong tiến trình văn học trung đại, thể luận với nội dung chính về chính trị - quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội góp phần quan trọng trong đấu tranh dựng nước, giữ nước và thể hiện sâu sắc tư tưởng của con người Việt Nam Giai đoạn đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng, lạc hậu, tiêu điều thì thể luận xuất hiện và đạt được những thành tựu tiêu biểu Điều đó được thể hiện

cụ thể qua kế sách canh tân đất nước và kế sách chống chọi với kẻ thù của Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch Bởi lẽ nó như mũi dao găm, là thuốc nổ chống lại mọi sự bất công, cường quyền

2.1 Kế sách canh tân đất nước

2.1.1 Về chính trị, quân sự

Trong Thiên hạ phân hợp đại thể luận Nguyễn Trường Tộ trình bày

những chiến lược cơ bản về những thế lớn phân và hợp trong thiên hạ Ông đề

nghị triều đình chủ hòa nhưng không phải là chủ hàng

Trong bài Tế cấp luận Nguyễn Trường Tộ đã đề cập đến việc canh tân

và phát triển đất nước Đối với tình thế nước ta, ông đã đưa ra những điều cần phải làm ngay

Thứ nhất: xin gấp rút sửa đổi võ bị Xuất phát từ mối nguy hại của kẻ xâm lược, nổi loạn trong nước và quân đội triều đình thì yếu kém, không có sức chiến đấu nên ông rất quan tâm đến võ bị Ông nói với triều đình phải

“Gấp rút chấn chỉnh biên phòng Xiết chặt hàng ngũ”, “Phải có một hàng ngũ mạnh mẽ”, “Thì mới khỏi bị các nước phương Tây đến viếng” Ông nhấn mạnh, nếu có được quân đội mạnh thì mới bảo vệ được đất nước cho nên nhà nước phải trọng võ Ông chống lại quan niệm cho rằng “một lời nói mạnh hơn

Trang 32

mười vạn quân”, tức là quan niệm đương thời chỉ coi trọng văn chương phù phiếm

Ông đề cập những biện pháp để chấn chỉnh quân đội Theo ông, quân đội phải được huấn luyện khoa quân sự mới với phương châm là lí thuyết phải gắn với thực hành, học võ là học các sách binh thư đồ trận Học việc gì phải thực tập việc ấy Nội dung thực tập gồm nhiều mặt như: cách bắn súng, đâm

lê, cách đánh đồn, phục kích, cách sử dụng địa hình Ông còn đề nghị triều đình soạn binh thư cho binh lính học tập Việc soạn binh thư thì triều đình phải dựa theo sách binh pháp cũ, loại bỏ những phần không thích hợp và tham khảo binh thư phương Tây bổ sung vào Ngoài ra phải thu nhặt ý kiến của người giỏi quân sự trong nước để thêm vào binh thư Qua đó cho thấy Nguyễn Trường Tộ có tư duy sáng suốt của một nhà cải cách quân sự, cải cách nhưng không có nghĩa là phủ nhận sạch trơn những gì tiến bộ của cha ông, học hỏi những cái hay cái mới, thậm chí đó là những cái của kẻ thù Về

tổ chức, ông đã đề nghị triều đình nên theo các nước phương Tây xây dựng các chế độ cho binh lính và võ quan Các võ quan khi về hưu vẫn được lĩnh lương như khi còn ở tại chức và khi chết cũng vậy Các võ quan phạm tội thì

bị tội, nhưng không nên không giảm lương bổng, giáng chức hoặc làm khổ nhục thân họ Với những chính sách đó sẽ khiến binh lính hết lòng phục vụ cho triều đình, đây thật là một cách làm hay Ông đề nghị triều đình phải thải bớt những người bất tài Theo ông, võ quan cần giỏi chứ không cần nhiều và

võ quan mà bớt đi thì lại có điều kiện tăng lương cho binh lính Tướng tá chỉ cần những người giỏi, chứ dở dầu nhiều cũng vô ích Cho nên ông cho rằng nếu võ quan mà bất tài thì cho dù họ là con cháu những vị công thần trước kia cũng phải thải vì để họ chỉ huy quân sự sẽ có hại hơn là cho họ ngồi không hưởng bổng lộc Đây là quan điểm rất sáng suốt của ông Ông còn nêu lên tình trạng dốt nát của sĩ quan lúc bấy giờ như nhiều người chỉ biết viết hai chữ

Trang 33

“tuân phụng” và đề nghị phải tuyển những người đậu cử nhân, tú tài rồi cho đi học võ bị Đối với binh lính, ông đề nghị nhà nước phải tuyển dụng những binh tráng từ 20 tuổi trở lên, chưa có vợ con và thải bớt những người già yếu

về nhà để lấy số lương ấy cấp thêm cho binh lính tại ngũ Võ quan phải dành thì giờ cho binh lính tập quân sự không nên bắt họ làm công việc khác Nếu

có công việc kiến thiết nên huy động dân quan và tù nhân làm Các võ quan không được coi họ như tôi tớ trong nhà hay sỉ nhục, ngược đãi họ Đời sống vật chất của binh lính phải được chú ý, không nên cho binh lính ăn gạo cũ, mặc rét Các thương binh phải được hưởng lương bổng và chăm sóc chu đáo Đây là chính sách quân sự mang đầy tính nhân đạo và tiến bộ Qua đó thể hiện tài năng nhìn xa trông rộng của ông Ngoài ra, để tăng cường lực lượng binh bị giữ làng, giữ nước, ông đề nghị triều đình phải chú ý xây dựng đội ngũ quân dân Đây là lực lượng khá quan trọng, khi xảy ra loạn lạc hay họa xâm lăng, dân quân sẽ làm nhiệm vụ tự vệ và phối hợp với quân đội triều đình chiến đấu Đội quân này tổ chức thành đội ngũ, có những vũ khí thông thường như giáo mác, và chủ yếu là giữ làng và bảo vệ an ninh ở địa phương

Họ vẫn tham gia sản xuất làm ăn như người bình thường, khi cần họ còn làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, xây dựng đường sá, đào vét sông ngòi và các việc công ích khác Họ không có lương bổng như binh lính nên khi huy động họ làm việc công ích thì nhà nước phải cấp tiền gạo cho họ Đây là một trong những tư tưởng cải cách rất hay về quân đội của ông, chẳng những tăng cường và mở rộng sức mạnh cho quân đội triều đình mà còn tăng cường tinh thần đoàn kết giữa quân và dân, huy động được sức mạnh của nhân dân, mặt khác tạo ra một vòng bảo vệ chắc chắc thứ hai, cản bước chân quân địch, làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến Chính sách này cho tới ngày nay chúng

ta vẫn sử dụng nó một cách hiệu quả ở mỗi địa phương Ông còn xin triều đình lập một số binh chủng mới Ngoài bộ binh ra, còn phải có đội kị binh để

Trang 34

tuần tiễn nơi biên phòng miền núi và đội thủy binh để ứng phó mặt biển Các đội bộ binh, thủy binh, kị binh đều phải liên hệ với nhau và do bộ binh của triều đình thống lĩnh Ông cũng nêu lên biện pháp cụ thể để xây dựng đội thủy binh và kị binh Về thủy binh, triều đình phải có mua tàu có đại bác lớn và thuê người Pháp hoặc người Anh huấn luyện hải quân Về kị binh, triều đình phải phái người sang Ma - ni mua độ 4, 5 trăm con ngựa đã được huấn luyện cho kị binh của ta Rõ ràng có thể nhận thấy ông đã tìm ra những điểm yếu của quân đội triều đình, chỉ chú trọng bộ binh mà chưa thật sự chú trọng tới quân đội ở biển và vùng biên giới hiểm

Vấn đề vũ khí cũng được ông hết sức quan tâm Ông đề nghị triều đình phải mua vũ khí tối tân của các nước để trang bị cho quân đội và nhờ họ huấn luyện cho quân đội của ta Cụ thể là triều đình nên phái người sang Anh, Pháp mua loại súng liên thanh bắn mỗi phút 100 viên đạn, mua đại bác có xe chở

để trang bị cho quân đội của ta Nhưng chủ yếu là triều đình phải lập những xưởng đúc súng và dựa vào súng của họ mà đúc ra súng của ta Những xưởng đúc súng phải giữ bí mật Đồng thời để đáp ứng nhu cầu đúc súng phải tăng cường khai thác các mỏ kim loại, làm hạt nổ thuốc súng và mời kĩ sư người Tây về giúp đỡ Việc này phải tiến hành nhanh để sau một thời gian ta có thể

tự túc được súng Vấn đề tổ chức phòng thủ thì triều đình phải dần dần xem xét địa hình chuẩn bị xây cất đồng lũy để khống chế những chỗ quan yếu Miền duyên hải từ Quảng Yên đến kinh đô phải được xem xét để xây đồn lũy kiểu mới và phải chở đá đến hai bên cửa biển phòng khi hữu sự Miền biên giới Trung Hoa cũng cần được nghiên cứu xây dựng thêm nhiều đồn lũy, nhất

là trên những con sông chảy vào nước ta… Tất cả các đồn lũy phải có binh lính canh phòng, lúc nào cũng phải coi như có giặc tới tấn công Trong đồn phải trồng nhiều cây cối và phải hớt ngọn chỉ để cao bằng thành đồn

Trang 35

Thứ hai: sửa sang lại biên giới Ông đề nghị vẽ bản đồ biên giới cũng như điều tra dân số và thống kê tất cả mọi mặt sinh hoạt của đất nước như vẽ bản đồ tất cả các xứ trong nước Về địa phận mỗi tỉnh, huyện, xã, thôn, phường, sách, động, trang phải đo đạc lại hết cho phù hợp bốn bên, xa gần, rộng hẹp Đồng thời mô tả tình thế mặt đất rồi ghi chú rõ ràng vào bản đồ cả nước Vẽ bản đồ phải thực hiện nhiều loại, có loại vẽ phân tích ra từng phần,

có loại vẽ tổng hợp chung tất cả các phần vào một như lối vẽ của phương Tây, nói chung các bản đồ đều phải lấy độ số bằng dặm vuông để dễ suy toán

Bên cạnh đó, Nguyễn Lộ Trạch viết Thời vụ sách hạ nhằm chỉ trích

thói ươn hèn, cầu an, bất lực của triều đình nhà Nguyễn Để đối phó với tình hình khó khăn, ông đề nghị biện pháp tích cực có tính chất cứu nguy là dựa vào địa thế hiểm yếu để giữ vững gốc nước Khi phân tích vị trí của Kinh thành Huế, Nguyễn Lộ Trạch cho rằng: vị trí kinh thành Huế sớm muộn gì cũng bị tàu Pháp uy hiếp, mà khả năng phòng thủ về mặt biển thì không có gì đảm bảo ngăn được tàu giặc, nên Nguyễn Lộ Trạch đề xuất xây dựng kinh đô thứ hai ở Thanh Hóa Nguyễn Lộ Trạch chọn địa bàn Thanh Hóa để đặt kinh

đô kháng chiến cho thấy con mắt sáng suốt của nhà chiến lược Nơi đây có những địa thế về kinh tế, chính trị, quân sự trong thời chiến Việc ông đề xuất rời đô ra Thanh Hóa là một suy nghĩ táo bạo, sáng suốt mà chưa có nhà cải cách nào đương thời nêu lên

Ông cũng đưa ra biện pháp huấn luyện binh lính để có đủ binh lực Có thể thấy Nguyễn Lộ Trạch bàn đến cải cách quân đội, trang bị lại vũ khí và tổ

chức tập luyện Ông bàn sâu về bộ binh chứ không bàn về thủy binh như Thời

vụ sách thượng Vì xây dựng thủy quân là việc lâu dài cần có thời gian hòa

bình nhất định mà trước mắt không còn cơ hội đó Quan điểm chủ yếu của Nguyễn Lộ Trạch về tổ chức quân đội là phải tinh nhuệ Điều này không có gì mới so với lý thuyết quân đội thời xưa, nhưng lại là một yêu cầu cao đối với

Trang 36

thực trạng quân đội triều Nguyễn lúc bấy giờ Vì quân đội đã sa sút đến mức thảm hại không còn sức chiến đấu: “Nay trong số ngạch binh có cả trẻ con non choẹt Lùa đám dân chưa được huấn luyện ra chống giặc khác nào đem thí bỏ đâu Huống nữa việc tạp dịch không được miễn thì việc huấn luyện không được chuyên - lên núi đốn gỗ, lam chướng nhiễm vào mười phần chết một, hai, thế thì quân đội không được bảo toàn lực lượng Đến như lương tháng quá ít, muối mắm không cấp, đóng góp lung tung, khiến thân người như không còn chỗ nguyên vẹn” [3; 117]

Ông chủ trương chia quân đội ra làm 3 loại, có tiêu chuẩn đãi ngộ rõ ràng, sử dụng đúng theo khả năng và đối tượng tác chiến Ông chú trọng chất lượng một cách nghiêm ngặt: “Còn nếu như bảo rằng: quân số ngày nay thường chỉ có danh sách ma, lựa chọn càng nghiêm thì quân số càng ít Nhưng thà có một người mà dùng được một người còn hơn có 10 người mà không dùng được một Quả thật là quân đội có cần gì phải nhiều đâu!” [3; 118] Nguyễn Lộ Trạch cũng không quên đội quân hương dũng ở làng xã, đề nghị tổ chức lại theo tinh thần “dụng tinh bất dụng đa”, đảm bảo luyện tập hẳn hoi, miễn phu dịch, khi hữu sự mới có thể điều động nhanh chóng và có công hiệu Ông còn quan tâm đặc biệt đến trang bị vũ khí, đề nghị thay loại súng “điểu sang” cũ kỹ bằng súng “hỏa sang” hiện đại: “Binh khí ngày nay không còn gì hơn súng hỏa sang Hỏa sang lợi hại vì nó mau lẹ và tinh xảo Còn súng đểu sang của ta thì vụng về thô nặng, chậm chạp khó đeo mang, lỗ châm ngòi nghiêng lệch, tro và thuốc đạn lẫn lộn, khi lâm trận phải quay nòng lại nhồi thuốc, bắn không chính xác, dẫu có ngàn khẩu thì cũng không bằng dùng một khẩu, tiếng là có vũ khí mà kỳ thực cũng chỉ như tay không mà thôi Tôi xin hãy bỏ hết súng cũ của ta, đổi sang dùng súng kiểu mới của Phương Tây, giúp mang nhẹ bắn nhanh, tiện lợi cho việc hành quân đường xa Nếu nói súng ấy không phải sản xuất trong nước, mua sắm khó khăn, để rồi lại

Ngày đăng: 28/08/2018, 05:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Bang, (1999), “ Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn”, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn”
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1999
2. Trương Bá Cần, (1988), Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo
Tác giả: Trương Bá Cần
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1988
3. Mai Cao Chương - Đoàn Lê Giang (1995), “Nguyễn Lộ Trạch điều trần và thơ văn” Nxb khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Lộ Trạch điều trần và thơ văn
Tác giả: Mai Cao Chương - Đoàn Lê Giang
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 1995
4. Nguyễn Khắc Đạm, (1992), “Nhìn nhận và đánh giá về Nguyễn Trường Tộ”, Nghiên cứu Lịch sử, số 1, tr.88-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn nhận và đánh giá về Nguyễn Trường Tộ”, "Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Khắc Đạm
Năm: 1992
5. Nguyễn Đình Đầu, (2013), Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức
Tác giả: Nguyễn Đình Đầu
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2013
6. Nhiều tác giả, (2005), Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
7. Nhiều tác giả, (2014), Nguyễn Trường Tộ hôm qua và hôm nay, Nxb tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ hôm qua và hôm nay
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb tri thức
Năm: 2014
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 1992
9. Hoàng Ngọc Hiến, (1998), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Bùi Kha, (2011), Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân
Tác giả: Bùi Kha
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2011
11. Lê Thị Lan, (2002), Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX
Tác giả: Lê Thị Lan
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
12. Hoàng Văn Lân, (1999), Ý thức dân tộc trong hệ thống tư tưởng Nguyễn Trường Tộ, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức dân tộc trong hệ thống tư tưởng Nguyễn Trường Tộ
Tác giả: Hoàng Văn Lân
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1999
13. Nguyễn Lân, (1941), Báo Tràng An, số 835, tr.1 - 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Tràng An
Tác giả: Nguyễn Lân
Năm: 1941
14. Hồ Lê, (2000), Trí tuệ và nhân cách Nguyễn Trường Tộ, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ và nhân cách Nguyễn Trường Tộ
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
15. Nguyễn Lộc, (1971), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1971
16. Lưu Văn Lợi, “Tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ”, Quan hệ Quốc tế, số 10 - 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ”, "Quan hệ Quốc tế
17. Nguyễn Tiến Lực, (2013), Fukuzawa yukichi và Nguyễn Trường Tộ - Tư tường cải cách giáo dục, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Fukuzawa yukichi và Nguyễn Trường Tộ - Tư tường cải cách giáo dục
Tác giả: Nguyễn Tiến Lực
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
18. Phương Lựu, (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
19. Nguyễn Đăng Na, (2006), Con đường giải mã Văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường giải mã Văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
20. Nguyễn Đăng Na, (2015), Văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w