Như vậy, kết nối văn học với đời sống là một quan điểm dạy học đúng đắn, một định hướng trong việc dạy đọc hiểu các tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông.. Trong dạy đọc hiểu vă
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tác giả còn nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy giáo, cô giáo cũng như sự ủng hộ của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn thạc sĩ
Trước hết, tác giả vô cùng biết ơn các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học Giáo dục, những người đã mang đến cho tác giả những kiến thức quý báu cũng như truyền lửa cho tác giả trên hành trình khám phá tri thức Thầy cô đã luôn nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học cũng như thực hiện đề tài nghiên cứu này Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Chính, người đã hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng nghiệp ở trường THPT Trưng Vương, Văn Lâm, Hưng Yên đã luôn tạo điều kiện và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở bên cạnh, động viên, hỗ trợ tác giả trong quá trình học và nghiên cứu thực hiện luận văn
Hà Nội, tháng 11 năm 2020
Tác giả
Đỗ Thị Dung
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GS Giáo sƣ
GV Giáo viên
HS Học sinh NXB Nhà xuất bản SGK Sách giáo khoa THPT Trung học phổ thông
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 1.1 Hệ thống câu hỏi phần Hướng dẫn học bài 50
Bảng 1.2 Hệ thống bài tập 52
Bảng 1.3 Hướng dẫn dạy học trong sách giáo viên 53
Bảng 3.1 Kế hoạch dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 87
Hình 2.1 Những đứa trẻ bị bỏ rơi 73
Hình 2.2 Những đứa trẻ lang thang 85
Hình 3.1 Những đứa trẻ lang thang 106
Hình 3.2 Hướng về miền Trung 107
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 15
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 16
5 Phương pháp nghiên cứu 17
6 Đóng góp của đề tài 17
7 Bố cục của luận văn 18
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 19
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 19
1.1.1 Mối quan hệ giữa văn học và đời sống 19
1.1.2 Vai trò của việc kết nối văn học với đời sống trong dạy đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông 23
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 45
1.2.1 Vị trí, đặc điểm của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 45
1.2.2 Khảo sát sách giáo khoa, sách giáo viên và một số giáo án 48
1.2.3 Khảo sát giờ dạy 55
1.2.4 Một vài nhận xét bước đầu 56
Tiểu kết Chương 1 58
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP KẾT NỐI VĂN HỌC VỚI ĐỜI SỐNG TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 59
2.1 Tiềm năng kết nối văn học với đời sống trong dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 59
Trang 72.2 Nguyên tắc kết nối văn học với đời sống trong dạy học truyện ngắn Việt
Nam giai đoạn 1930 -1945 64
2.2.1 Bám sát văn bản 64
2.2.2 Phát huy vai trò chủ động, tích cực của học sinh 65
2.2.3 Lựa chọn các biện pháp kết nối phù hợp, hiệu quả 68
2.3 Một số biện pháp kết nối văn học với đời sống trong dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 qua quá trình đọc hiểu 69
2.3.1 Biện pháp kết nối văn học với đời sống ở giai đoạn trước khi đọc 70
2.3.2 Biện pháp kết nối văn học với đời sống ở giai đoạn trong khi đọc 76
2.3.3 Biện pháp kết nối văn học với đời sống ở giai đoạn sau khi đọc 81
Tiểu kết Chương 2 86
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 87
3.1 Mục đích thực nghiệm 87
3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 87
3.3 Nội dung và cách thức tiến hành thực nghiệm 88
3.4 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 88
3.5 Giáo án thực nghiệm 88
3.6 Kết quả thực nghiệm 113
3.6.1 Đề kiểm tra 113
3.6.2 Kết quả 113
3.7 Đánh giá kết quả thực nghiệm 114
3.7.1 Đánh giá quá trình dạy học 114
3.7.2 Đánh giá kết quả bài kiểm tra 115
Tiểu kết Chương 3 116
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 117
1 Kết luận 117
2 Khuyến nghị 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 8đề cuả cuộc sống
Với triết lý giáo dục “lấy việc hình thành năng lực người học làm trung tâm, làm mục tiêu đào tạo thay cho truyền thụ kiến thức”, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành trung ương Đảng đã xác định phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục chính là chuyển giáo dục sang hướng tiếp cận năng lực, phát huy phẩm chất người học
Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 đã xác định Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mỹ - nhân văn Môn Ngữ văn
Trang 9giúp học sinh có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập các môn học khác và cũng là công cụ quan trọng để giáo dục học sinh những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ở học sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân ái, giàu lòng vị tha… Đồng thời, môn Ngữ văn còn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất cũng như những năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả cũng như để học tập suốt đời
Môn Ngữ văn giúp hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, giúp học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, có đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng
xử nhân văn, có ý thức về cội nguồn và bản sắc dân tộc Môn Ngữ văn, ngoài việc góp phần hình thành cho học sinh những năng lực chung như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, thì còn giúp học sinh phát triển những năng lực đặc thù như năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học và rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe Từ việc cảm nhận, thấu hiểu những vấn đề mà văn học mang lại, học sinh sẽ biết nhìn nhận cuộc sống với trái tim ấm áp và có trách nhiệm hơn trước cuộc đời
Hoạt động thực tiễn chính là môi trường quan trọng giúp học sinh hình thành những năng lực và phẩm chất của mình Không thông qua các hoạt động thực tiễn, năng lực và phẩm chất không thể được tạo lập Vì thế, việc dạy học văn trong nhà trường phổ thông không thể tách rời với đời sống Bởi
từ việc hướng dẫn học sinh những cách kết nối với đời sống sẽ giúp học sinh hình thành được những năng lực và phẩm chất cần thiết Đây cũng chính là việc cần thiết trong xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay
1.2 Nghệ thuật ngay từ khi mới ra đời đã luôn tồn tại và phát triển trong mối quan hệ mật thiết, gắn bó với đời sống lao động của con người Những nét chạm khắc, những điệu nhảy, những bài ca… ngay từ buổi đầu đã chứng
Trang 10tỏ rằng nghệ thuật đóng vai trò quan trọng như một phương tiện để nhận thức
và phản ánh thế giới tự nhiên và đời sống con người theo góc nhìn của những con người thời đó Chủ nghĩa Mác cũng đã cho rằng nghệ thuật là một hiện tượng xã hội nảy sinh, tồn tại một cách có quy luật trong mối quan hệ qua lại với những hiện tượng khác trong đời sống xã hội Như vậy nghĩa là nghệ thuật luôn gắn bó với đời sống xã hội
Văn học là một hình thái xã hội, một loại hình nghệ thuật dùng ngôn từ
để thể hiện chức năng phản ánh và tái tạo cuộc sống trên quan điểm thẩm mỹ
và lăng kính chủ quan của nhà văn Văn học phản ánh cuộc sống, cung cấp cho bạn đọc những kiến thức phong phú, đa dạng về cuộc sống, về con người Thông qua hình tượng nghệ thuật, nhà văn nhận thức, phản ánh và khái quát
về các hiện tượng trong đời sống Điều cốt lõi của văn chương là lòng nhân ái,
là sự đồng cảm, sự sẻ chia giữa con người với con người Văn chương khiến con người ta biết rung động trước cái đẹp, biết đau đớn với những xót xa, biết căm giận trước cái ác… Những tình cảm rất nhân văn, rất con người đó chính
là cái đích mà văn học luôn hướng tới Văn học không thể tách rời với đời sống bởi đời sống là điểm xuất phát, là nội dung phản ánh và là đích đến của văn học
Nhiệm vụ của người giáo viên là cần hướng dẫn học sinh tạo ra những kết nối giữa văn học với đời sống để giúp học sinh có thể hình dung, tưởng tượng, cắt nghĩa, lí giải, đánh giá và hiểu sâu sắc hơn nội dung tư tưởng, giá trị và những ý nghĩa của tác phẩm văn học Từ đó, giúp học sinh hình thành
và phát triển những năng lực và phẩm chất cần thiết, biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế đời sống Như vậy, kết nối văn học với đời sống
là một quan điểm dạy học đúng đắn, một định hướng trong việc dạy đọc hiểu các tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông
Cũng như mọi ngành khoa học khác, văn học sẽ giúp người học phát hiện, nhận thức, xử lý các vấn đề của xã hội đã, đang và sẽ xảy ra trong tương
Trang 11lai Nói kết nối văn học với cuộc sống có nghĩa là ngoài việc nắm bắt những
sự kiện, những vấn đề xã hội được nhắc, được thể hiện trong tác phẩm đang học thì học sinh còn được trau dồi cả những kỹ năng phán đoán, dự báo được những vấn đề mang tính khu vực hoặc toàn cầu có thể sẽ xuất hiện và năng lực giải quyết những vấn đề đó Đây là điều vô cùng quan trọng với những công dân mang tính toàn cầu trong một thế giới phẳng hiện nay
1.3 Thực tế, việc kết nối văn học với đời sống trong việc dạy đọc hiểu văn bản văn chương ở trường phổ thông hiện nay còn nhiều bất cập
Trong dạy đọc hiểu văn bản văn chương hiện nay, cả giáo viên và học sinh đều chưa nhận thức đúng tầm quan trọng và ý nghĩa của việc kết nối văn học với đời sống Vì thế, kết nối văn học với đời sống chưa thực sự trở thành một hoạt động thường xuyên trong dạy đọc hiểu văn bản văn học
Việc kết nối văn học với đời sống trong thực tế dạy học hiện nay dường như chủ yếu xuất phát từ giáo viên thông qua hệ thống những câu hỏi gợi dẫn Còn học sinh vẫn chưa thực sự chủ động tạo ra những kỹ năng cần có trong việc kết nối với đời sống khi tìm hiểu các tác phẩm văn học Những kết nối văn học với đời sống, nếu có lại thường dừng lại ở việc kết nối với hoàn cảnh
ra đời tác phẩm mà chưa gắn với thực tế cuộc sống hiện tại và tương lai của học sinh trong việc nhận thức và giải quyết các vấn đề của cuộc sống
Khi thực hiện việc kết nối văn học với đời sống, các biện pháp, cách thức mà người giáo viên sử dụng còn máy móc, chưa linh hoạt, đôi khi chưa thật phù hợp với vấn đề cần kết nối nên chưa thu hút được học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập
Từ những điều này đã dẫn đến khoảng cách giữa văn học và đời sống ngày càng xa, học sinh ngày càng không yêu thích môn văn, các em không biết học văn để làm gì, không thấy được tính dự báo của văn học
Kết nối văn học với đời sống không chỉ đưa học sinh đến với tác phẩm văn học mà còn đưa văn học trở về với cuộc đời, để văn học ngoài chức năng
Trang 12phản ánh còn có cả chức năng dự báo nữa Từ đó, học sinh thấy được vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc giải quyết các vấn đề cuộc sống của hôm nay và mai sau
1.4 Như chúng ta đều biết, văn học của mọi dân tộc, mọi thời đại đều xuất phát từ đời sống Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 cũng nằm chung trong quy luật đó
Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 không dừng lại ở chỗ phát hiện và phản ánh nhiều vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống xã hội lúc bấy giờ mà còn gợi mở đến những vấn đề trong đời sống xã hội tương lai Các mâu thuẫn, xung đột giữa thành thị với nông thôn, giữa nông dân với địa chủ, cường hào, đời sống của tiểu tư sản, trí thức… đã được khám phá, được tái hiện Chiều sâu của các tác phẩm thời kì này thể hiện ở sự khám phá những mâu thuẫn quyết liệt đó… Còn chiều rộng của các truyện ngắn giai đoạn này lại thể hiện ở chỗ thông qua việc phản ánh (nhiều khi chỉ là những chuyện vụn vặt đời thường), các nhà văn đã đưa ra những dự báo, những đoán định có tính lịch sử về thân phận con người, về tương lai đất nước, về vấn đề cải tạo
xã hội… Vì thế, truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930- 1945 có thế mạnh trong việc tạo ra sự kết nối sâu sắc với đời sống
Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 luôn được lựa chọn, giới thiệu trong chương trình môn Ngữ văn ở trường THPT (Trung học phổ thông) Trong chương trình môn Ngữ văn hiện nay, ở lớp 11, cả hai ban cơ bản và nâng cao đều lựa chọn học truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao), truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam), truyện ngắn Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) Ngoài ra, ban nâng cao còn được học Đời thừa (Nam Cao) Đây cũng là những truyện ngắn cũng nằm trong danh mục văn bản gợi ý lựa chọn ở THPT trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018
Đó đều là những truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 Nếu Nam Cao là nhà văn tiêu biểu của trào lưu văn
Trang 13học hiện thực Việt Nam 1930 – 1945 thì Thạch Lam, Nguyễn Tuân cũng là những cây bút xuất sắc của Tự lực văn đoàn Nam Cao phê phán thứ văn chương “ánh trăng lừa dối” chỉ để giải trí cho những cô nàng giàu có và nhàn rỗi, thứ văn chương thi vị hóa những cảnh bất công, đen tối, phủ “ánh trăng” trên những kiếp sống lầm than Nhà văn yêu cầu một thứ nghệ thuật phát ngôn cho sự thật và lòng nhân đạo, một thứ văn mà người cầm bút đặt bàn viết ngay giữa hiện thực của đời sống đói nghèo, đau khổ của nhân dân lao động
Nam Cao quan niệm, văn học phản ánh hiện thực phải khám phá vào bản chất, vào chiều sâu của nó Trong Đời thừa, Nam Cao viết: “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có…” [5, tr.203] Đối với con người, nhất
là đối với nhân dân lao động mà cuộc sống lao động nhiều khi làm cho méo
mó cả nhân tính lẫn nhân hình Khi đó, đòi hỏi nhà văn phải có đôi mắt của tình thương mới thấu hiểu được bản chất tốt đẹp của họ
Sáng tác của Thạch Lam, Nguyễn Tuân đều hướng tới những giá trị cao đẹp, những thông điệp văn hóa, nhân văn trong những cảnh đời tăm tối, tầm thường Nếu như Thạch Lam xúc động và trân trọng những khát vọng được đổi đời, được sống hạnh phúc hơn của những đứa trẻ con nhà nghèo ở phố huyện thì Nguyễn Tuân lại tìm thấy sự tỏa sáng trong nhân cách của người tù nơi ngục thất tăm tối, cùng với đó là sự vươn lên của cái đẹp, cái thiên lương của một viên quản ngục trong nhà tù tối tăm Tính nhân văn vốn là điều cần
có trong mọi xã hội, truyện ngắn của Nguyễn Tuân, Thạch Lam và các tác giả khác không chỉ dừng lại ở chỗ phản ánh thời mà ông đang sống mà vượt xa hơn, đi xa hơn về xã hội tương lai Điều này làm cho văn học không bao giờ trở nên cũ kỹ cũng như làm cho khoa học văn học không thể trở thành thứ văn học “tháp ngà”
Việc dạy đọc hiểu các văn bản truyện ngắn này theo định hướng kết nối văn học với đời sống là hoàn toàn khả thi Chỉ có điều, người giáo viên phải hướng dẫn học sinh thực hiện sự kết nối không chỉ với bối cảnh xã hội tác
Trang 14phẩm ra đời mà còn phải gắn với cuộc sống đương đại, góp phần hình thành cho học sinh phẩm chất và phát triển năng lực nhận thức, phát hiện, xử lý những vấn đề đương đại và tương lai
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Kết nối văn học với đời sống trong dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 ở trường Trung học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu của mình, với mong muốn góp thêm một tiếng nói vào quá trình đổi mới dạy học hiện nay
và đưa tác phẩm văn chương trong nhà trường đến gần hơn với cuộc sống
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về kết nối văn học với đời sống
Văn học và đời sống rõ ràng có mối quan hệ gắn bó sâu sắc với nhau Vì thế, khi nghiên cứu văn học chúng ta bắt buộc phải thực hiện việc kết nối văn học với đời sống Trong lịch sử nghiên cứu văn học, chúng ta nhận thấy đã có rất nhiều những cuốn sách, những công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ giữa văn học với đời sống và đưa ra những nguyên tắc dạy học văn gắn kết với đời sống
Trong Lí luận văn học (Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam,
Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình), các tác giả có nhấn mạnh rằng văn học chính là một môn nghệ thuật Đối tượng của văn học chính là con người trong các hoạt động học tập, lao động, chiến đấu, con người trong tình yêu và trong các mối quan hệ xã hội khác Đồng thời con người được đặt trong không gian, thời gian với thiên nhiên vũ trụ Các tác giả cũng khẳng định văn học không chỉ phản ánh đời sống con người mà còn phải nhận thức con người và đời sống của con người, nói lên được những ước mơ, khát vọng, tâm tư, tình cảm của con người trong chiều sâu của tâm hồn Văn học khi đó mới là văn học đích thực trong sự khám phá, sáng tạo và kiến giải hay và đẹp
về con người và đời sống con người Qua đó, chúng ta thấy rất rõ trung tâm của văn học chính là con người Điều này cũng được nhóm tác giả Hà Minh
Trang 15Đức, Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Lí Hoài Thu khẳng định trong
chương I Nghệ thuật với đời sống của cuốn sách Lí luận văn học Các tác giả
đã khẳng định nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng chỉ thực sự phát triển,
có đóng góp hữu hiệu cho sự phát triển của xã hội khi nó xác lập được mối liên hệ sâu xa, trực tiếp với đời sống ở mọi mặt từ chính trị đến văn hóa, đạo đức xã hội, hay nói cách khác là sự vận động đồng bộ với những hình thái ý
thức khác của kiến trúc thượng tầng
Ở cuốn Văn học và cuộc sống (1996), tác giả Mai Thanh ngay trong
những lời mở đầu đã khẳng định “ý tưởng nổi bật và sâu đậm nhất là: cuộc sống và mối quan hệ giữa văn học với cuộc sống Cuộc sống ở đây được hiểu theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này” [37, tr.7] Theo tác giả, cuộc sống là thứ có trước, văn học là cái có sau, văn học phải xuất phát từ cuộc sống, thấu hiểu cuộc sống chứ không được phép làm sai lệch cuộc sống
Trong Văn học đời sống – Đời sống với văn học, tác giả Ngô Thảo đã
cho rằng mối quan hệ giữa văn học và đời sống là một vấn đề rất cơ bản Trong mối quan hệ này, đời sống đóng vai trò vô cùng quan trọng Đời sống vừa là điểm bắt đầu cũng là điểm đi tới của văn học Văn học phản ánh hiện thực đời sống, phục vụ đời sống và góp phần quan trọng vào việc cải tạo đời sống Như thế chúng ta càng thấy rõ hơn sự gắn kết vô cùng quan trọng giữa văn học với đời sống
Văn học luôn gắn bó mật thiết, sâu sắc với đời sống Vì thế, dạy học đọc hiểu các tác phẩm văn học, người dạy và người học không ngừng tạo ra những kết nối, sự gắn kết giữa văn học và đời sống trong và ngoài tác phẩm
GS Phan Trọng Luận trong cuốn Phương pháp dạy học văn đã nhấn mạnh mối liên hệ giữa tác phẩm văn học và đời sống với vai trò của người
giáo viên phải tạo ra được nhiều biện pháp để xóa bỏ ngăn cách tác phẩm văn học với học sinh và đời sống để tác phẩm văn học có thể tác động sâu sắc đến
Trang 16trí tuệ và tâm hồn học sinh Nói cách khác, giảng văn chính là việc giúp học sinh hiểu được tác phẩm văn học trong quan hệ biện chứng giữa văn học – con người – cuộc sống
Năm 2004, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh đã đưa ra mối quan hệ giữa
văn học và đời sống trong giảng dạy Ngữ văn thông qua quan niệm Dạy văn
hay chính là dạy cho sắc những giờ lên lớp Đó là những giờ học tạo được sự
gắn kết với cuộc sống hiện hành Giờ học chính là nơi các em học sinh có thể gắn kết với đời sống, với lao động sản xuất Hơn thế, liên hệ thực tế chính là đặt bài học vào hoàn cảnh lúc bấy giờ để có thể giáo dục tư tưởng học sinh một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất Đóng góp của Vũ Ngọc Khánh khá quan trọng và có sức ảnh hưởng đối với giảng dạy môn học Ngữ văn lúc bấy giờ
Tác giả Lê Sử cũng đã phân tích sự thể hiện của quan niệm dạy văn gắn với đời sống qua các thời kì, giai đoạn khác nhau Để văn học có thể phát huy hết những chức năng của mình, trong giờ học văn, người giáo viên cần phải chú trọng đến việc gắn liền giảng dạy văn học với thực tế đời sống, từ cuộc sống được tái hiện trong tác phẩm làm cho học sinh hiểu rõ cuộc sống thực tế
và con người bên ngoài, trong quá khứ, hiện tại và tương lai Đồng thời trong quá trình dạy học văn, có thể vận dụng những hiểu biết ở bên ngoài xã hội để cảm thụ, lí giải đời sống được phản ánh trong tác phẩm văn học Dạy học văn gắn với đời sống được đẩy lên tới tận cùng, trở thành biểu hiện cao nhất của việc độc tôn phương pháp xã hội học, đồng thời phủ nhận mọi phương pháp cũng như hướng tiếp cận khác Hậu quả của cách nhìn nhận này là đã xóa đi ranh giới giữa văn học và cuộc đời, hay nói cách khác coi văn chương là thứ tài liệu ghi chép nguyên xi đời sống Đây là hướng tiếp cận dung tục đối với tác phẩm văn chương
Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm
văn chương trong nhà trường đã cho rằng để tiến hành đổi mới dạy học Ngữ
Trang 17văn cần tôn trọng những nguyên tắc dạy học văn hiện đại và dạy văn cần gắn với đời sống tinh thần của dân tộc và nhân loại chính là một trong những nguyên tắc đó
Trên đây là một số những nghiên cứu dạy học văn gắn liền với đời sống Thông qua các bài nghiên cứu, các tác giả đã có những đóng góp nhất định cho vấn đề thực tiễn trong dạy học văn Các tác giả phần lớn đều hướng đến việc tìm hiểu các phương pháp dạy học tích cực để xóa bỏ khoảng cách giữa văn học và cuộc sống, giúp người học nhận ra văn học xuất phát từ cuộc sống
Nhắc đến văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 chúng ta không thể
không nhắc đến Nam Cao Trong cuốn Văn học Việt Nam (1900 – 1945), tác
giả Hà Văn Đức đã khẳng định:
Trang 18Nam Cao có một vị trí đặc biệt trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930
– 1945 Những tác phẩm của Nam Cao phần lớn ra đời trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, đánh dấu bước phát triển của trào lưu văn học hiện thực phê phán trong một thời kì tưởng như bế tắc Nam Cao bước chân vào con đường văn chương khi trên văn đàn, dòng văn học hiện thực phê phán đã xuất hiện những nhà văn tiêu biểu, đã gặt hái được không ít thành công như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng… nhưng tên tuổi Nam Cao hoàn toàn không bị lu mờ Trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình, Nam Cao đã không dẫm lên lối mòn của những người đi trước Những tác phẩm của Nam Cao đã phản ánh chân thực cuộc sống ngột ngạt, đen tối của xã hội thực dân phong kiến và thể hiện sinh động thân phận khổ đau, bế tắc của những người tiểu tư sản nghèo và nông dân nghèo những năm 1940 – 1945.[13, tr.471]
Đồng thời tác giả cũng đã phân tích những thành công của Nam Cao ở hai đề tài người trí thức nghèo và người nông dân nghèo, cùng với đó là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật bậc thầy của Nam Cao
Trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945, GS Nguyễn
Đăng Mạnh đã có những nhận xét rất sâu sắc về Nam Cao, về Chí Phèo
“…khi thằng Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra trong trang sách của Nam Cao thì người ta mới thấy, đây mới là kẻ khốn cùng nhất ở nông thôn Việt Nam ngày trước Chị Dậu đã bán đi tất cả nhưng vẫn được làm người Chí Phèo phải bán cả linh hồn, bán cả bộ mặt người của mình đi để trở thành con quỷ
dữ làng Vũ Đại”[29, tr.102]
Năm 1999, NXB Giáo dục đã cho xuất bản cuốn Nam Cao về tác gia và
tác phẩm do Bích Thu tuyển chọn và giới thiệu Cuốn sách là sự tập hợp các
bài viết khẳng định chân dung và sự nghiệp Nam Cao trong các giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám Các bài viết đi sâu phân tích và cảm thụ
các tác phẩm đặc sắc của Nam Cao như Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn, Đời
Trang 19thừa… Khai thác, khám phá những giá trị tiềm ẩn của một tài năng văn
chương trong nghệ thuật ngôn từ với một phong cách sáng tạo độc đáo và hiện đại, vượt lên trên mọi thách thức của thời gian Đó còn là những kỉ niệm
về nhà văn trong kí ức của bạn bè, người thân, bạn đọc
Tác giả Văn Giá đã tuyển chọn và biên soạn cuốn Nhà văn và tác phẩm
trong nhà trường – Nam Cao với những kiến thức cơ bản phục vụ có hiệu quả
cho việc giảng dạy và học tập các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông
Hai tác phẩm Chí Phèo và Đời thừa của Nam Cao luôn có mặt trong chương trình môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông Nếu Chí Phèo tiêu biểu cho đề tài người nông dân thì Đời thừa lại là sự phản ánh chân thực bức tranh
đời sống người trí thức nghèo trước Cách mạng tháng Tám Đây cũng là những truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao và đã có rất nhiều những công trình, bài viết viết về hai truyện ngắn này như các bài viết của tác giả Nguyễn
Hoành Khung trong Giảng văn văn học Việt Nam Trong Nam Cao về tác gia
và tác phẩm (Bích Thu tuyển chọn và giới thiệu) có các bài viết như Qua truyện ngắn Chí Phèo bàn thêm về cái nhìn hiện thực của Nam Cao (Trần
Tuấn Lộ), Con người bị từ chối làm người trong truyện “Chí Phèo của Nam
Cao (Nguyễn Văn Trung), Tính chất lưỡng hóa trong nhân vật Chí Phèo
(Nguyễn Quang Trung), Khả năng tái sinh của Chí Phèo (Đặng Anh Đào),
Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và AQ (Phạm Tú Châu)…
Tác giả Hà Minh Đức trong Văn học Việt Nam hiện đại, bình giảng và
phân tích tác phẩm, đã có những bài viết đặc sắc như Nhân vật Chí Phèo và
bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, Bi kịch của người trí thức nghèo trong xã hội cũ qua nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao
Ngoài ra, tác giả Nam Cao cũng như các tác phẩm của Nam Cao được đưa vào chương trình phổ thông cũng được đề cập đến trong nhiều luận văn
Trang 20như Sự tha hóa của con người trong sáng tác của Nam Cao trước 1945 (Đỗ Viết Khanh), Đặc sắc bút pháp tự sự trong truyện ngắn của Nam Cao và Lỗ
Tấn (Nguyễn Thị Mộng Thùy), Ngoại hình nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 (Mã Thị Huệ), Cái đói – Chủ đề
ám ảnh trong các tác phẩm của Nam Cao, Dạy học tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa của Nam Cao theo đặc trưng thể loại, Bút pháp hiện thực trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao – những tương đồng và dị biệt…
Tên tuổi của Thạch Lam cũng đã gắn bó lâu dài với chương trình SGK phổ thông Cũng giống như Nam Cao, sáng tác của Thạch Lam luôn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
Ngay từ trước Cách mạng Tháng Tám, trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc
Phan đã có những nhận xét sâu sắc về nhà văn Thạch Lam Vũ Ngọc Phan cho rằng nhà văn Thạch Lam là người có ngòi bút vô cùng lặng lẽ, điềm tĩnh, thường tả tỉ mỉ những cái vốn rất nhỏ và rất đẹp, đi sâu vào những tình cảm nhỏ nhẹ của con người Vì thế, Vũ Ngọc Phan đã khẳng định những đặc tính xuất sắc trong truyện ngắn Thạch Lam chính là buồn mà đẹp, tỉ mỉ mà lại vô cùng sâu sắc Chính sự tinh tế, dung dị đó khiến chúng ta vô cùng yêu thích các sáng tác của Thạch Lam
Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến hàng loạt các bài viết của Văn Giá,
Lê Dục Tú, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Tuấn Anh, Vương Trí Nhàn… được
tập hợp trong các cuốn sách: Truyện ngắn Thạch Lam – tác phẩm và dư
luận; Thạch Lam về tác gia và tác phẩm; Thạch Lam – văn chương và cái đẹp… Tên tuổi của Thạch Lam còn xuất hiện nhiều trên các tạp chí văn
học, ngôn ngữ…
Tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) cũng được nhiều nhà nghiên cứu,
phê bình văn học, nhiều thầy cô tìm tòi, khám phá để tìm ra phương hướng dạy học phù hợp nhất Trong số hàng loạt các bài viết chúng ta có thể kể đến
Trang 21Ấn tượng Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Lê Huy Bắc), Truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Nguyễn Thanh Hồng), Giảng bình truyện Hai đứa trẻ (Văn
Tâm)… Qua các công trình nghiên cứu có thể thấy, điểm gặp gỡ của các tác giả là ở sự thừa nhận thế mạnh về cảm xúc, nội tâm trong phạm vi phản ánh hiện thực và những nét riêng ở truyện ngắn Thạch Lam
Nguyễn Tuân và truyện ngắn Chữ người tử tù cũng đã có rất nhiều
những công trình nghiên cứu và bài viết về nhà văn và tác phẩm này Rất nhiều những nhận xét, đánh giá về nhà văn đã được tập hợp trong cuốn
Nguyễn Tuân, nhà văn và tác phẩm Nguyễn Tuân là nhà văn tài hoa và uyên
bác, một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp
Chữ người tử tù là một truyện ngắn thành công của Nguyễn Tuân trước
Cách mạng tháng Tám Tiến sĩ Chu Văn Sơn khi đi nghiên cứu truyện ngắn này đã có phát hiện độc đáo về mối quan hệ giữa Huấn Cao và viên quản
ngục Đó là “sự đối mặt giữa hai loại nhà tù, hai kiểu tù nhân: một người tự
do về nhân thân nhưng bị cầm tù về nhân cách, người kia luôn tự do về nhân cách nhưng lại bị cầm tù về nhân thân Hoàn toàn có thể coi đây là cuộc gặp
gỡ giữa một kẻ tử tù (Huấn Cao) và một người tù chung thân (quản ngục) - bị cầm tù ngay trong môi trường sống của mình”.[30, tr.145]
Tiến sĩ Nguyễn Thành Thi khi giảng dạy tác phẩm Chữ người tử tù trên
các trang web cũng đã có phát hiện hết sức thú vị, mới mẻ về một hình tượng
nhân vật được tác giả giấu đi, đó chính là “chữ” của người tử tù Tác giả nhấn
mạnh rằng chữ của người tử tù chính là biểu tượng trung tâm để kết nối các nhân vật đồng thời làm nổi bật tính cách của các nhân vật Từ đó tác giả đã nêu lên ý nghĩa biểu trưng của hình tượng ấy Chữ có thể nói chính là hiện thân cho cốt cách tài hoa, cho cái đẹp, cho khí phách, cho thiên lương Quan trọng nhất chữ chính là người, người tạo ra những con chữ - Huấn Cao
Ngoài ra, chúng ta có thể kể đến những công trình, bài viết liên quan đến việc tìm hiểu các tác phẩm truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 được
Trang 22giới thiệu ở trường THPT như: Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 11 do Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên; Giảng văn chọn lọc Văn học Việt Nam Văn học
hiện đại do Trần Đình Sử tuyển chọn; Tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông – Những con đường khám phá của Vũ Dương Quỹ, Lê Bảo;
Thiết kế bài học Ngữ văn 11 (tập 1) do Phan Trọng Luận chủ biên; Thiết kế
bài giảng Ngữ văn 11 (tập 1) do Nguyễn Văn Đường chủ biên…
Tóm lại, những công trình nghiên cứu, những bài viết có liên quan đến việc dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở trường THPT là phong phú và đã đạt được nhiều kết quả Tuy nhiên, những công trình đó chủ yếu tập trung nghiên cứu truyện ngắn giai đoạn 1930 – 1945 với tư cách
là những trào lưu, phong cách, những sáng tạo độc đáo, có giá trị đặc sắc, cũng như vận dụng những phương pháp, biện pháp vào quá trình dạy học truyện ngắn lớp 11 để phát huy năng lực cảm thụ, năng lực đọc – hiểu trong giờ dạy tác phẩm văn chương Những thành tựu nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này đã trang bị cho chúng tôi rất nhiều những nhận thức quý báu, những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu và thực hành giảng dạy văn học nói chung, truyện ngắn và truyện ngắn giai đoạn
1930 – 1945 nói riêng
Quá trình điểm luận lịch sử nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn
1930 – 1945 cũng cho thấy việc dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn
1930 – 1945 theo hướng kết nối văn học với đời sống vẫn đang còn bỏ ngỏ
Vì vậy, với luận văn này, chúng tôi mạnh dạn đề xuất, triển khai theo hướng kết nối các tác phẩm với đời sống, từ đó góp phần phát triển năng lực học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Luận văn nhằm mục đích khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc kết nối văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn
Trang 231930 – 1945 ở trường THPT Đồng thời chỉ ra được cách thức kết nối văn học với đời sống Qua đó, góp phần phát triển năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực và kĩ năng sống cho học sinh, hướng học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng những đề xuất trong luận văn
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: toàn bộ quá trình dạy học Ngữ văn 11 trong đó dạy học truyện ngắn giai đoạn 1930 – 1945 là tâm điểm
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa văn học với đời sống trong dạy học đọc hiểu và hoạt động kết nối văn học với đời sống trong hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở trường THPT
Trang 244.3 Phạm vi nghiên cứu
Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, tập trung vào ba tác phẩm
được dạy ở THPT: Chí Phèo (Nam Cao), Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ
người tử tù (Nguyễn Tuân) và hoạt động dạy học đọc hiểu các tác phẩm văn
học này
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra
+ Điều tra tình hình giảng dạy của giáo viên ở một số trường THPT trong tỉnh về kết nối văn học với đời sống
+ Điều tra nhận thức và mức độ được tiếp cận của học sinh trong việc thực hiện kết nối văn học với đời sống
- Thực nghiệm sư phạm: Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp sư phạm đã đưa ra
- Sử dụng toán học thống kê để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Về mặt khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao nhận thức của bản thân
về lý luận bộ môn, về một trong những biện pháp được xem là có hiệu quả nhất trong thực hiện mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả học Ngữ văn ở trường THPT và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn nói chung
6.2 Về thực tiễn
Giúp bản thân hiểu sâu sắc hơn về phương pháp dạy học Ngữ văn, rèn luyện kĩ năng nghiên cứu khoa học, kĩ năng vận dụng lý luận vào dạy học của bản thân
Trang 25Đề xuất một số biện pháp hiệu quả có thể vận dụng vào thực tiễn dạy học ở các trường THPT
7 Bố cục của luận văn
Đề tài gồm 3 chương Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, cấu trúc cụ thể của đề tài như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Một số nguyên tắc và biện pháp kết nối văn học với đời sống trong dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở trường Trung học phổ thông
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 26CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Mối quan hệ giữa văn học và đời sống
Có thể nói, đời sống là điểm xuất phát và cũng là đích đến cuối cùng của văn học Chỉ có điều, tác phẩm văn học mà chúng ta tri nhận đã được trình bày từ một điểm nhìn nào đó chứ không phải là sự rập khuôn, sao chép từ hiện thực cuộc sống Hơn thế, tác phẩm văn học đã thể hiện được thái độ của nhà văn đối với hiện thực
1.1.1.1 Văn học xuất phát từ đời sống
Ngay từ thời xa xưa, người ta đã biết được rằng văn học bắt nguồn từ cuộc sống Từ Hêraclit đến Aristote đều xem nghệ thuật được bắt nguồn từ sự
“bắt chước”, “mô phỏng” các hoạt động và cuộc sống của con người Nghĩa là đời sống con người với những hành động, tình cảm, cảm xúc, ý chí có trước
và văn học được bắt nguồn từ đó mà ra
Các tác giả của cuốn Lí luận văn học tập 1 do giáo sư Phương Lựu chỉ
biên đã cho rằng: “Văn học cũng như nghệ thuật nói chung là lĩnh vực của tình cảm thẩm mỹ, nhưng vẫn là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại
xã hội Mối quan hệ giữa văn học với hiện thực là mối quan hệ giữa cái phản ánh và cái được phản ánh” [28, tr.80] Hiện thực là nguồn gốc của nhận thức, của ý thức, cho nên “đời sống là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ thuật và đồng thời là cái chìa khóa giải thích được những hiện tượng phức tạp của nghệ thuật” [28, tr.80] Bất kì một nền nghệ thuật nào cũng được hình thành trên một cơ sở hiện thực nhất định Bất kì một người nghệ sĩ nào cũng được trưởng thành từ một môi trường sống nhất định nào đó Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng là sự khúc xạ những vấn đề của đời sống thông qua cái nhìn của nhà văn Vì thế, có thể nói, tính hiện thực là thuộc tính tất yếu của văn nghệ
Trang 27Việc phản ánh hiện thực đời sống đã mang đến giá trị nhận thức cho tác phẩm văn học Những tác phẩm lớn là những tác phẩm đã mang đến cho người đọc những nhận thức sâu sắc, mới mẻ về cuộc sống và về con người Tuy nhiên, tác phẩm văn học không sao chép, không phản ánh nguyên xi cuộc sống mà nó đã được khúc xạ qua sự cảm nhận chủ quan của người nghệ sĩ Hiện thực cuộc sống trong tác phẩm văn học đã mang cái nhìn, thái độ, quan điểm, sự đánh giá của từng nhà văn Bởi vậy, trước một vấn đề của cuộc sống, mỗi nhà văn, mỗi tác phẩm văn học lại có góc nhìn và cách phản ánh riêng, không hoàn toàn giống nhau
Văn học không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn biểu hiện thế giới chủ quan của con người Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã quan niệm:
“Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” Hay nhà văn M.Gorki cũng đã khẳng định: “Văn học là nhân học” Có thể nói, đối tượng trung tâm của văn học là cuộc sống, sự sống của con người Đó
là những con người cụ thể, có tư tưởng, tình cảm, hành động, dáng hình vừa rất riêng vừa mang những nét chung đại diện cho một lớp người, một kiểu người, một giai cấp người trong đời sống xã hội Từ những con người cụ thể trong cuộc sống, bằng phương pháp khái quát hóa và điển hình hóa nghệ thuật, những con người đó đã bước vào tác phẩm văn học và trở thành những nhân vật văn học được bạn đọc yêu mến
Ngoài ra, văn học còn có khả năng sáng tạo ra thế giới khác trên cơ sở thế giới thực tại Thế giới nghệ thuật mà văn học sáng tạo ra không trùng khít với cuộc sống thực nhưng cũng không bao giờ thoát ly hoàn toàn với cuộc
đời Khung cảnh phố huyện nghèo trong “Hai đứa trẻ” được Thạch Lam xây
dựng dựa trên những kí ức về phố huyện Cẩm Giàng, nơi nhà văn đã có
những năm tháng tuổi thơ gắn bó Bức tranh làng Vũ Đại trong “Chí Phèo” ít
nhiều mang dáng dấp làng Đại Hoàng, quê hương của chính nhà văn Nam Cao Chúng ta thấy, cuộc đời là nguồn cảm hứng, là cơ sở cho mọi sáng tạo
Trang 28nghệ thuật Khi đi tìm hiểu tác phẩm văn học, việc đối chiếu, so sánh văn học với đời sống là cần thiết nhưng không vì thế mà đồng nhất chân lý nghệ thuật với chân lý đời sống
Là một loại hình nghệ thuật, văn học phản ánh đời sống thông qua các hình tượng nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật chính là phương tiện để nhà văn nhận thức, phản ánh, khái quát các hiện tượng đời sống Thông qua việc tìm hiểu các hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, người đọc có thể hình dung, tưởng tượng ra thế giới hiện thực, cảm nhận được quan điểm, thái độ của nhà văn được bộc lộ trong tác phẩm
1.1.1.2 Văn học tác động trở lại cuộc sống
Văn học bắt nguồn từ đời sống, phản ánh mọi biểu hiện của đời sống Nhưng khi tác phẩm văn học ra đời được người đọc tiếp nhận và thông qua người đọc, tác phẩm đã tác động trở lại đời sống và góp phần quan trọng vào việc cải tạo và sáng tạo thế giới theo chiều hướng tích cực, tiến bộ Người nghệ sĩ bằng tác phẩm văn chương của mình thường gợi lên ở người đọc những suy nghĩ và tình cảm về cuộc sống Điều quan trọng không phải là tác phẩm văn học bắt đầu từ phạm vi nào của cuộc sống mà là ở chỗ qua tác phẩm văn học, người đọc nhận ra được những khát vọng và nỗ lực của con người phù hợp với quan niệm sống, thời đại mà họ đang sống
Sở dĩ văn học có thể tác động đến đời sống là bởi văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt với rất nhiều chức năng Ngoài chức năng đặc trưng là chức năng thẩm mỹ, văn học còn có những chức năng khác như chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng giao tiếp, chức năng giải trí, chức năng dự báo
Văn học phản ánh bức tranh hiện thực trong tính sinh động, toàn vẹn của
nó Bởi vậy, giống như những bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống, văn học
mở ra trước mắt chúng ta những chân trời mới, cung cấp cho con người những kiến thức phong phú về thế giới xung quanh, về con người và về chính
Trang 29bản thân mình Những hiểu biết ấy vượt qua khỏi giới hạn về thời gian, không gian giúp con người tự hoàn thiện mình
Không dừng lại ở chức năng nhận thức, văn học còn có khả năng giáo dục những phẩm chất người, giáo dục đạo đức, lối sống và những cách ứng
xử phù hợp với lẽ phải, với trách nhiệm, tình thương và phù hợp với từng hoàn cảnh có tính lịch sử cụ thể Văn học tác động vào tình cảm, suy nghĩ của con người thông qua hình tượng nghệ thuật và bằng con đường lan truyền tình cảm nên chức năng giáo dục của văn học trở thành chức năng tự giáo dục Thông qua đọc tác phẩm văn học, chúng ta sẽ biết yêu, biết ghét, biết vui, biết buồn, biết cảm thông và chia sẻ với những nỗi đau của con người và biết cùng
con người hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn Đến với truyện ngắn Một
người Hà Nội (Nguyễn Khải), qua nhân vật cô Hiền – một hạt bụi vàng của
Hà Nội đã cùng Hà Nội, cùng đất nước trải qua bao thăng trầm, chúng ta hiểu hơn về nét đẹp của người Hà Nội, về ý thức giữ gìn văn hóa Hà Nội qua mọi
thăng trầm của đất nước Tiếp cận truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
(Nguyễn Minh Châu), chúng ta không khỏi xót xa cho số phận người đàn bà làng chài đang vật lộn trong cuộc sống mưu sinh và những hi sinh của người phụ nữ cho gia đình, cho con Bà sẵn sàng đánh đổi nỗi đau cả về thể xác và tinh thần của mình để mong các con có một gia đình, để được thấy những đứa con lớn lên như biết bao những đứa trẻ khác Bà đã sống cho con, cho ngày mai chứ không phải sống cho hôm nay và cho bản thân mình Chúng ta thấy thấp thoáng ở đó biết bao hình ảnh của những người phụ nữ trong các gia
đình Việt Nam Hay đọc Chí Phèo (Nam Cao), chúng ta như được sống cùng
nhân vật với biết bao đớn đau Xót xa khi con người sinh ra mang hình hài của một con người mà lại không được coi là một con người Chí sinh ra đã bị
bỏ rơi, được nhặt về, được đem cho, đem bán như một món đồ Cả làng Vũ Đại không ai đáp lại tiếng chửi của Chí cũng chính là không ai muốn thừa nhận Chí là một con người, có thể nghe và hiểu được tiếng của đồng loại
Trang 30Nam Cao chắc hẳn cũng đau đớn, xót xa khi phải đặt Chí ở cạnh ba con chó
dữ Chí khác nào một con chó dữ, một con quỷ dữ của làng Vũ Đại mà không ai muốn tới gần Đau đớn hơn khi Chí Phèo phải tự kết liễu cuộc đời ngay khi khát khao được trở về với cuộc sống con người trỗi dậy trong con quỷ dữ Chí Phèo
Như vậy, qua việc tiếp nhận tác phẩm văn học của bạn đọc, văn học đã tác động vào nhận thức, tâm hồn, tình cảm, nhân cách của từng con người để con người tự hoàn thiện bản thân Từ đó, tác phẩm văn học góp phần cải tạo
xã hội, mang đến cuộc sống tốt đẹp hơn cho con người
Chúng ta có thể khẳng định văn học và đời sống có mối quan hệ khăng khít và tác động qua lại với nhau Văn học khởi phát từ đời sống và góp phần tạo nên một cuộc sống ý nghĩa hơn Vì thế, gắn với đời sống có thể được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản trong việc dạy học văn ở trường phổ thông
1.1.2 Vai trò của việc kết nối văn học với đời sống trong dạy đọc hiểu văn bản ở trường phổ thông
1.2.1.1 Đọc hiểu văn bản văn học
Đọc là sự thu nhận thông tin có nội dung ý nghĩa nào đó Vì thế, đọc có liên quan đến khả năng nhận thức, đến nhu cầu sống và giao tiếp của con người với sự sáng tạo cuộc sống ngày càng cao.[22, tr.31]
Đọc – hiểu là một khái niệm mới được hình thành, gồm đọc và hiểu Đọc – hiểu nhấn mạnh hai hoạt động đồng thời vừa đọc vừa nhận thức trong cảm
thụ văn bản Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong Kĩ năng đọc hiểu văn đã chỉ
rõ:
Đọc hiểu sinh thành từ hoạt động đọc nhưng không vì thế mà xem nó
là một phương pháp như phương pháp đọc diễn cảm, cũng không nên quan niệm đọc hiểu là một giai đoạn đọc Đọc hiểu có mặt ở tất cả các giai đoạn của quá trình đọc tác phẩm Đọc hiểu chính là mục đích cuối cùng để người đọc có thể lĩnh hội được giá trị đích thực của một tác phẩm [22, tr.38]
Trang 31Tác phẩm văn học được xem như một hệ thống cấu trúc trong đó bất cứ yếu tố nào cũng có giá trị và vai trò nhất định theo vị trí chức năng của nó
+ Các từ ngữ đều có vai trò xây dựng nên hình tượng từ Những từ ngữ
có vai trò chính yếu gọi là từ chìa khóa, là nhãn tự của tác phẩm
+ Đôi khi với những từ ngữ quen thuộc nhưng có cách diễn đạt khác lạ cũng làm cho tác phẩm hấp dẫn hẳn lên
- Về phương diện câu:
Các câu ngắn, dài,… cũng góp phần tạo nên ý nghĩa cho tác phẩm
- Về cấu tứ:
Cấu tứ của mỗi tác phẩm là yếu tố do ngôn ngữ tạo thành Một bài thơ
“sống” được là nhờ có cấu tứ mới lạ Tuy nhiên, một số tác phẩm có kết cấu truyền thống vẫn có sức hấp dẫn riêng
- Về hình tượng tác phẩm:
+ Hình tượng cảm xúc (hình tượng tâm tư) là dòng cảm xúc lớn của tác phẩm trữ tình Khi đi khám phá tác phẩm trữ tình chính là tập trung vào cảm xúc chủ đạo của tác phẩm đó
+ Hình tượng tự sự: Nhà văn lấy cảm hứng từ trong cuộc sống và trong
tư tưởng, tạo ra các loại nhân vật với những dạng mâu thuẫn, nghịch lý Bản thân những yếu tố đó phải tạo ra được những cái mới lạ
- Về tư tưởng và phong cách nhà văn:
Phong cách, tài năng của nhà văn được ẩn giấu trong tác phẩm Thông qua việc tìm hiểu tác phẩm, chúng ta sẽ khám phá được tài năng của nhà văn
Trang 32Đọc hiểu văn bản theo cấu trúc tác phẩm là khám phá tác phẩm văn học qua ba tầng:
- Đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc ngôn từ tác phẩm
Đọc hiểu tầng cấu trúc ngôn từ tác phẩm là điều quan trọng nhất để thông qua lớp hiển ngôn mà phân giải lớp hàm ngôn [22, tr.59]
Hiểu tầng cấu trúc ngôn từ của tác phẩm văn chương là tìm cách nắm vững ngày càng đầy đủ và sâu sắc mối quan hệ vật chất giữa những kí hiệu nền tảng như từ, nhóm từ, câu, đoạn, chương, phần của tác phẩm.[22, tr.67]
“Hiểu tầng cấu trúc ngôn từ là hiểu nội dung được kể và tả những gì quan
trọng trong sự lựa chọn, đánh giá của nhà văn Tầng cấu trúc ngôn từ cho phép người đọc hiểu được khung cảnh xã hội của tác phẩm với sự kiện, con người, thời gian, không gian trong những biến cố chính [22, tr.67]
Yêu cầu trước hết đối với việc nắm vững tầng cấu trúc ngôn từ là phải hiểu sự chính xác của ngôn ngữ và phương thức trình bày nghệ thuật của nhà văn Hiểu nghĩa cụ thể của đề tài, chủ đề và sự triển khai chúng, đồng thời hiểu được cái hay cái đẹp của cách dùng từ, tạo câu, hình thành nhịp điệu và giọng điệu riêng của ngôn ngữ tác phẩm.[22, tr.67]
Hiểu được tầng cấu trúc ngôn từ là bước đầu tiên để bạn đọc khám phá lớp vỏ ngôn ngữ của tác phẩm, từ đó chiếm lĩnh được các giá trị của tác phẩm
- Đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật của tác
phẩm văn chương
Hình tượng nghệ thuật làm nên tính chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm văn chương ( ) Hiểu tầng cấu trúc này, người đọc có điều kiện thâm nhập vào sự sáng tạo nghệ thuật mới mẻ trong tác phẩm một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất [22, tr.69] Tuy nhiên, hiểu tầng cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm là
công việc khó làm, phức tạp Hình tượng nghệ thuật được kiến tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật Nó cũng đa tầng, đa nghĩa và biến hóa trong vận động biểu
Trang 33đạt ý nghĩa như ngôn ngữ văn học Hình tượng nghệ thuật là một tổ hợp của những nhân tố không thể thiếu khi bàn về hình tượng
Về mặt đối tượng nhận biết, hình tượng nghệ thuật không chỉ là nhân vật văn học mà còn là toàn bộ chỉnh thể tác phẩm Hình tượng nghệ thuật là hình thức phản ánh thực tại có hiệu quả thẩm mỹ Muốn nắm vững hình tượng nghệ thuật trong đọc hiểu cần phải phân biệt được hình tượng trung tâm, hình tượng tính cách, hình tượng cảm nghĩ, hình tượng tác giả với những đặc điểm của chúng
Về mặt đặc trưng, hình tượng nghệ thuật luôn di động trong mối quan hệ với những yếu tố khác của tác phẩm làm cho hình tượng sống động, cụ thể, cảm tính và đầy đặn hơn bởi tính khái quát hóa nghệ thuật của nó Nhà văn chỉ có thể bộc lộ được cá tính sáng tạo của mình khi phát hiện ra cái mới làm nên bản chất đời sống xã hội và biết truyền đạt cách cảm thụ, đánh giá bản chất ấy theo cách riêng, làm cho người đọc cảm nhận, lĩnh hội được
Muốn đọc hiểu tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật của tác phẩm phải
có cái nhìn sâu sắc về hệ thống ngôn từ [22, tr.73] Người đọc phải so sánh đối chiếu những hình ảnh có liên quan với nhau để xác định hình tượng trung tâm của tác phẩm [22, tr.74] Hình tượng nghệ thuật được thể hiện đầy đủ và
sáng tỏ trong tầng cấu trúc ngôn từ nghệ thuật và được người đọc thấu hiểu,
bổ sung nhờ hành động đọc sáng tạo trên cơ sở đọc chính xác Hình tượng nghệ thuật được xây dựng bởi những thủ pháp nghệ thuật, bởi hình thức sáng tạo cụ thể của từ ngữ, câu văn, giọng điệu, nhịp điệu để tạo hình tượng và để biểu hiện chính nó Hình tượng nghệ thuật được xem là cấp độ hình thức mới
để biểu đạt và làm sáng tỏ nội dung tư tưởng tác phẩm
- Đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc tư tưởng và ý nghĩa nhân sinh
của tác phẩm
Muốn đọc hiểu tầng cấu trúc tư tưởng và ý nghĩa nhân sinh của tác phẩm văn chương, người đọc cần suy nghĩ và tìm ra mối liên hệ giữa đề tài và chủ
Trang 34đề, giữa chủ đề và tư tưởng Với tư cách người đọc, người ta cần phân biệt đề tài là phạm vi hiện thực được phản ánh Chủ đề của tác phẩm văn chương là
sự quan tâm về vấn đề quan trọng nhà văn muốn đề cập đến và làm sáng tỏ khả năng con người phản ứng ra sao trước tình huống, hoàn cảnh xã hội lịch
sử có ảnh hưởng đến số phận con người và vận mệnh đất nước
Đọc hiểu tầng cấu trúc ngôn ngữ của tác phẩm văn chương là nắm vững hình thức tái tạo hiện thực được nhà văn lựa chọn như thật của đời sống Đi qua nó, người đọc đến với tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật của tác phẩm Đây là tầng biểu hiện tình cảm thẩm mỹ được hư cấu mà thành Do đó, phân tích tầng cấu trúc hình tượng này không nên dừng lại ở bề mặt diễn biến nội dung mà phải chú trọng làm sáng tỏ kết cấu nội tại thông qua các mối liên hệ hữu cơ giữa nhân vật và sự kiện, giữa tình huống với chi tiết nghệ thuật và điểm sáng thẩm mỹ, giữa cảnh và tình, giữa bộ phận và toàn thể, giữa hiển ngôn và hàm ngôn, giữa cái nói ra và sự im lặng giữa lời, giữa thời gian, không gian và nhịp điệu, giữa âm hưởng và giọng điệu…
Cấu trúc hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương đối với người đọc là kết quả của sự liên hệ mật thiết và hoàn thiện thường xuyên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm thẩm mỹ, loại kinh nghiệm không phải chờ đợi thông qua tác phẩm mới có được mà đã tồn tại phổ biến, cục bộ, rải rác, thoáng chốc và chưa hoàn chỉnh trong đời sống hằng ngày Thế giới hình tượng đã tổng hợp những vui, buồn, sướng, khổ trong cuộc sống hằng ngày thành hiện thực khác chưa hề có, để thỏa mãn nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần
Tầng cấu trúc tư tưởng thẩm mỹ của tác phẩm văn chương có quan hệ
về cấp độ với tầng cấu trúc ngôn từ và tầng cấu trúc hình tượng nhưng lại vượt qua và lớn hơn về nghĩa so với hai tầng cấu trúc trước đó, tác động sâu
xa đến tâm hồn con người Tầng cấu trúc tư tưởng thẩm mỹ của tác phẩm văn chương đã vượt qua được tính hạn định của tầng cấu trúc ngôn từ và tầng cấu trúc hình tượng trong việc miêu tả hiện tượng đời sống
Trang 35Không chỉ dừng lại ở việc đọc hiểu văn bản văn học theo cấu trúc ba tầng của văn bản văn học, đọc hiểu văn bản hiện nay còn nhấn mạnh đến vai trò tích cực của độc giả, của bạn đọc trong việc cắt nghĩa, lí giải tác phẩm Xác định vai trò chủ thể của người đọc trong tiếp nhận văn học nói chung, đọc hiểu và dạy học đọc hiểu Ngữ văn nói riêng tạo ra tính dân chủ trong môi trường giáo dục học đường Đó là vị thế bình đẳng của các chủ thể tham gia vào quá trình dạy học Người đọc được tham gia và có quyền tạo ra một “trường đối thoại”, tương tác Đó là quá trình tích cực đối thoại với văn bản xung quanh thông điệp nghệ thuật được gửi đến Là quá trình đối thoại với giáo viên, đối thoại với bạn bè, đối thoại với những độc giả khác Đó cũng
là quá trình đối thoại với chính mình, tự khám phá, tự nhận thức, tự hoàn thiện nhân cách Bởi không ai có thể đọc hộ một tác phẩm văn chương, không thể cảm nhận hộ và cũng không thể xúc động thay Từ việc xác định vai trò chủ thể của người đọc trong giờ học văn, người giáo viên mới có cơ sở quan sát, định hướng, thu nhận phản hồi, điều khiển và điều chỉnh quá trình học tập
để người học phát huy được sự năng động, tích cực của mình
Một số bước quan trọng của đọc hiểu văn bản từ góc độ độc giả tích cực như:
- Huy động và bổ sung tri thức, trải nghiệm đọc hiểu nền
Từ kiến thức nền của mỗi cá nhân, độc giả gợi dậy những yếu tố ít nhiều
có liên quan đến chủ đề, nhân vật, bối cảnh, hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, các sáng tác gần gũi cùng thời… Nguồn tri thức này tùy thuộc vào hiểu biết và sự tích lũy của mỗi cá nhân Đó có thể là một trải nghiệm gần gũi gợi nhớ đến nội dung văn bản Đó cũng có thể là các kiến thức lịch sử, địa lý, văn hóa, phong tục…, kiến thức về thể loại văn học
Thông thường, việc hoạt hóa tri thức, trải nghiệm xảy ra ở quá trình trước khi đọc Tuy nhiên, trong và sau khi đọc, bước vào cắt nghĩa văn bản, trong trường hợp cần thiết độc giả cũng sẽ tích cực huy động kiến thức để tạo
Trang 36kết nối, suy luận… nhằm đạt đến mục đích cốt lõi của việc đọc – hiểu là hiểu văn bản
- Xác định mục tiêu đọc
Mục tiêu đọc cần được xác định rõ ràng Trong nhà trường, mục tiêu khái quát của việc đọc văn là để học: học tri thức về văn chương, về đời sống, hình thành nền tảng kiến thức phổ thông vững chắc, hình thành nhân cách người học Khi đi vào từng bài cụ thể, mục tiêu khái quát đó sẽ được cụ thể hóa cho phù hợp
Mục tiêu đọc giúp độc giả lựa chọn chiến thuật đọc và sự phối hợp chiến thuật hiệu quả, hình thành thói quen đọc có ý thức
- Giải mã văn bản
Đây là khâu độc giả tiếp xúc với từng con chữ, câu văn, câu thơ,… giải
mã để hiểu và cảm nhận được nội dung, cái hay, cái đẹp của văn bản Bước qua giải mã ngôn từ, độc giả mới có thể hiểu, chiếm lĩnh được văn bản
- Tạo kết nối trong và sau quá trình đọc văn bản
Đọc là quá trình tương tác giữa cá nhân độc giả và văn bản Văn bản tồn tại trong nhiều mối quan hệ phức tạp đa chiều Có quan hệ hướng nội, có quan
hệ hướng ngoại Tính tích cực, chủ động của độc giả được thể hiện ở việc họ
đã tham gia như thế nào vào văn bản ấy, kết nối nó với các chiều quan hệ khác nhau, nhờ đó, văn bản, từ một yếu tố bên ngoài sẽ bước vào đời sống tâm hồn bên trong độc giả Độc giả có kĩ năng thường so sánh điều họ biết, cái họ đã trải nghiệm với cái tác giả đang viết
- Dự đoán
Quá trình đọc là quá trình độc giả liên tục đưa ra những dự đoán dựa trên
sự tổ chức liên kết thông tin theo hướng hồi cố để tiệm tiến trong văn bản và dựa vào kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thẩm mỹ Trước khi đọc, độc giả dựa trên sự tham khảo khung để đưa ra dự đoán ban đầu về nội dung và nghệ thuật tác phẩm Trong khi đọc, độc giả sẽ có câu trả lời cho những dự đoán của
Trang 37mình Vấn đề không phải độc giả có dự đoán đúng hay không mà ở chỗ người đọc đã tham gia rất tích cực vào quá trình đọc, đồng sáng tạo với nhà văn Muốn dự đoán được, độc giả phải kích hoạt tư duy, trí tuệ cảm xúc của mình, nhập thân vào thế giới nghệ thuật trong tác phẩm Muốn vậy, họ phải biết hình dung, tưởng tượng
- Hình dung, tưởng tượng
Đây được xem là một công cụ hữu hiệu mà độc giả có kĩ năng tiến hành trong hoạt động đọc hiểu văn bản Cấu trúc ngôn từ là một hiện hữu vật chất
mà độc giả tiếp xúc ở chặng đường đầu tiên Phía sau hệ thống câu chữ là thế giới hình tượng được khắc họa sống động mà chìa khóa mở cánh cửa ấy không gì khác là hình dung, tưởng tượng Đọc là quá trình nhập thân, sống cùng tác phẩm Hình dung, tưởng tượng làm đầy đặn nhân vật lên, cho chúng dáng dấp, hình hài, bước ra từ tác phẩm và giao tiếp với độc giả Thậm chí nhân vật còn tiếp tục đời sống khi tác phẩm đã khép lại
- Suy luận, cắt nghĩa
Suy luận, cắt nghĩa thực ra là giải thích có suy nghĩ của độc giả trong và sau quá trình đọc văn bản Đây là cơ sở để bạn đọc đọc được những điều nhà văn không trực tiếp thể hiện trong văn bản, nhưng thông qua văn bản, nhà văn muốn độc giả chiếm lĩnh được
Để suy luận, độc giả phải dựa vào kiến thức về ngôn ngữ, về đặc trưng thể loại, cấu trúc văn bản, về đặc điểm thời đại tác phẩm ra đời, về các trải nghiệm đời sống, trải nghiệm thẩm mỹ của bản thân Để cắt nghĩa phải dựa trên suy luận và đặc biệt cần đến kinh nghiệm thẩm mỹ, trải nghiệm nghệ thuật Suy luận có thể xuất hiện ở mọi cấp độ: từ ngữ, câu chữ, hình ảnh, hành động… Cắt nghĩa thường rơi vào những điểm sáng nghệ thuật, mở ra thông điệp chỉnh thể toàn vẹn, sinh động, mở đường cho sự thăng hoa trong cảm thụ, thưởng thức, bình giá, nhất là ở các văn bản văn chương Những sự cắt nghĩa sáng tạo mang lại niềm thích thú lớn lao cho độc giả
Trang 38ra sao đối với văn chương và đối với đời sống cá nhân người đọc, tạo cơ sở cho sự đánh giá, vận dụng Không có tổng hợp, mọi sự phân tích có nguy cơ trở nên tản mạn, vụn vặt, thậm chí là suy diễn Tuy nhiên, sự tổng hợp thực sự sắc sảo, có ý nghĩa và có sự thuyết phục cao phải bắt đầu từ việc phân tích sắc sảo, thấu đáo, tường tận Độc giả cũng có thể vận dụng những điều mình đọc được vào cuộc sống Tri thức về văn bản trở thành tri thức nền để họ tự mở cánh cửa đọc cho bản thân
- Giám sát việc hiểu của bản thân
Đọc hiểu văn bản không dừng lại ở việc chuyển các chữ viết thành hệ thống tín hiệu âm thanh Nó là một quá trình nhận thức phức tạp để có thể đạt đến mục đích xây dựng ý nghĩa của văn bản đang đọc Một trong những yếu
tố thể hiện rõ nét sự tích cực, chủ động và đánh giá sự phát triển của bạn đọc nói chung, bạn đọc học sinh trong nhà trường nói riêng, là khả năng tự giám sát việc hiểu của bản thân mình trong quá trình đọc hiểu văn bản
Khả năng tự giám sát của độc giả trong việc đọc hiểu văn bản chính là
Trang 39việc người đọc biết đặt ra và tự trả lời các câu hỏi: Tôi có thực sự hiểu điều tôi đang đọc không? Điều tôi hiểu về văn bản có thực sự đúng đắn hay không? Thông điệp mà tôi kiến tạo từ văn bản có chạm tới chiều sâu văn của tác phẩm văn chương hay không? Nếu tôi không hiểu về điều tôi đang đọc thì
có cần thay đổi chiến thuật như thế nào cho phù hợp để đi tiếp quá trình này?
Sự giám sát không chỉ quan tâm đến những điều được hiểu đúng, hiểu sâu mà cũng rất cần tự nhận thức về điều ngộ nhận, sai lầm, hời hợt của bản thân Đạt đến mức độ này, người đọc thực sự trở thành độc giả độc lập, phát triển, không bị “phụ thuộc” hoàn toàn vào văn bản của tác giả hay định kiến, những cách hiểu của người đi trước
Đọc hiểu văn bản theo góc độ cấu trúc tác phẩm hay độc giả tích cực đều phải xuất phát từ giải mã ngôn từ đến hiểu hình tượng nghệ thuật và lí giải được những thông điệp mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm văn chương Để đọc hiểu
và lí giải văn bản, người đọc đều phải huy động những kiến thức nền và chủ động trong nhận thức, khám phá, lí giải tác phẩm Đọc hiểu theo góc độ độc giả tích cực coi trọng vai trò chủ động, tích cực của người đọc, người đọc có kiến thức, kĩ năng, biết vận dụng thành thạo các chiến thuật đọc hiểu để tìm hiểu văn bản Việc rèn luyện để trở thành bạn đọc tích cực không chỉ cần thiết cho việc học trong nhà trường mà còn rất cần thiết cho việc đọc và học suốt đời
1.1.2.2 Văn học kết nối với đời sống
a Khái niệm kết nối văn học với đời sống
Trên các phương tiện truyền thông và trong đời sống, chúng ta bắt gặp rất nhiều những cụm từ như “kết nối yêu thương”, “trường học kết nối”, “kết nối mạng”, “kết nối các máy tính với điện thoại”, Vậy “kết nối” là gì?
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên), “kết nối” được hiểu là: “Làm cho các phần rời nhau nối liền, gắn liền lại với nhau Mối hàn kết
nối kém bị bong Sử dụng máy tính cá nhân kết nối với các mạng thông tin trong nước” [32, tr.487]
Trang 40Có thể hiểu kết nối là sự gắn kết, nối liền những yếu tố tách rời nhau, độc lập với nhau để tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh, có giá trị, có ý nghĩa hơn so với giá trị của những yếu tố tách rời
Vậy thế nào là kết nối văn học với đời sống?
Chúng ta nhận thấy giữa văn học và đời sống là có khoảng cách Khoảng cách này như thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố Chúng ta khi tiếp cận tác phẩm văn học cần có ý thức về khoảng cách này Khoảng cách này đòi hỏi cần phải được tôn trọng để văn học được đúng là văn học, không thể đồng nhất văn học với cuộc đời, mặc dù văn học được xuất phát từ cuộc đời Chúng
ta cũng cần kết nối văn học với cuộc đời để văn học gắn bó hơn với cuộc sống con người và con người tìm thấy trong văn học nguồn tư liệu quý giá cho việc hoàn thiện nhân cách của mình Biết bao bài học ý nghĩa đã được mở ra từ trang văn Biết bao người đã tìm thấy niềm tin, tình yêu, lý tưởng sống mà văn học mang lại
Trong khuôn khổ luận văn này của chúng tôi, “kết nối văn học với đời sống” được hiểu như là một cách tiếp cận tác phẩm văn học bên cạnh rất nhiều cách tiếp cận tác phẩm văn học khác Trong cách tiếp cận này, chúng tôi chú trọng đến mối quan hệ giữa tác phẩm văn học với thực tiễn sáng tạo của nhà văn và thực tiễn tiếp nhận của người đọc Ở mỗi điểm nhìn khác nhau, chúng ta sẽ có những cách hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm và góp phần bồi dưỡng những tình cảm cao đẹp cho người tiếp nhận
b Phạm vi đời sống cần kết nối
- Kết nối với đời sống mà từ đó tác phẩm được ra đời
Đời sống mà tác phẩm được ra đời bao gồm các yếu tố thuộc về thời đại, hoàn cảnh lịch sử xã hội, văn hóa, gia đình và bản thân con người của nhà văn
Có thể nói, dù muốn hay không thì mỗi nhà văn đều thuộc về một thời đại nhất định, được hít thở bầu không khí của thời đại đó và ít nhiều, các sáng