Vì mọi hành vi phạm tội là biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động đều gây thiệt hại hoặc người gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm nhưng không phải mọi hành vi phạm
Trang 1CỤM 2Phần 1: NHẬN ĐỊNH
1 Căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS là mức hình phạt do Tòa án
áp dụng đối với người phạm tội.
Nhận định trên là sai
Bởi vì, căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS thì tội phạm được phân loại căn
cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội Khi xác định loại tội phạm không dựa vào mức hình phạt do Tòa án tuyên cho người, pháp nhân phạm tội mà phải dựa vào mứccao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy Ví dụ: A phạm tội theo khoản 1, Điều 123 BLHS và bị Tòa án tuyên phạt 12 năm tù Theo Điều 9 BLHS thì tội phạm do A thực hiện
là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng vì mức cao nhất của khung hình phạt ở khoản 1 Điều 123 là chung thân hoặc tử hình
2 Những tội phạm mà người thực hiện bị Tòa án tuyên phạt từ 3 năm tù trở xuống đều là tội phạm ít nghiêm trọng.
Nhận định trên là sai
Bởi vì, Tội phạm ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng hay rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng là căn cứ vào khung hình phạt mà tòa tuyên án đối với tội phạm đó chứ không căn cứ vào mức hình phạt trong bản án mà tòa án tuyên Giả sử người đó phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo Khoản 1 Điều 13 ( khung hình phạt là từ 1 đến 5 năm tù) Tòa tuyên phạt 3 năm tù Thì đây là trường hợp tội pham nghiêm trọng ( vì mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản là 5 năm tù, đối chiếu khoản 3 Điều 8 thì đó thuộc loại tội nghiêm trọng dù hình phạt mà tòa án tuyên chỉ là 3 năm tù)
Còn nếu Tòa tuyên người này 2 năm tù, phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo khoản 3 Điều
135 ( khung hình phạt từ 3 năm đến 10 năm tù ) => thì trường hợp này là tội phạm rất nhiêm trọng ( vì mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản 2 là 10 năm tù, đối chiếu k3Điều 8 thì trường hợp này thuộc loại tội rất nghiêm trọng)
Trang 23 Mọi tội phạm mà mức cao nhất là khung hình phạt do Bộ luật hình sự quy định là phạt tiền thì đều là tội phạm ít nghiêm trọng
Nhận định sai Vì khung hình phạt phạt tiền cũng có thể là hình phạt phụ cho các loại tội phạm khác Không thể khẳng định mọi tội phạm có khung hình phạt là phạt tiền là tội phạm ít nghiêm trọng
4 Trong một tội danh luôn có cả ba loại cấu thành tội phạm: cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ.
Nhận định trên là Sai (dd17)
Bởi vì, mỗi tội danh có cấu thành tội phạm cơ bản và có thể có một hoặc nhiều cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ Tức trong một tội danh thì cấu thành tăng nặng
và cấu thành giảm nhẹ có thể có hoặc không
5 Trong cấu thành tội phạm giảm nhẹ không có dấu hiệu định tội.
Ví dụ: Tội giết người (Điều 123 BLHS) là tội phạm có cấu thành vật chất Theo luật địnhcác dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội bao gồm hành vi tước tính mạng của
Trang 3người khác một cách trái pháp luật, hậu quả chết người xảy ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.-CTTP vật chất
Ví dụ: Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) là tội có CTTP hình thức Dấu hiệu trongmặt khách quan của tội này chỉ cần hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần củangười khác nhằm chiếm đoạt tài sản Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện được một trong những hành vi dù hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra hay chưa. > CTTP hình thức
7 Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội mà luật hình sự có nhiệm vụ điều chỉnh
Nhận định trên là Đúng
Bởi vì,
8 Mỗi tội phạm chỉ có một khách thể trực tiếp.
Nhận định sai.Vì khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể bị một loạitội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại khi có một tội phạm xảy ra có thể xâm hại tới một hoặc nhiều quan hệ xã hội
Tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp nếu bản chấp nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chỉ thể hiện đầy đủ trong tổng thể các quan hệ xã hội bị xâm hại
VD: Tội cướp tài sản hoặc tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, có hai khách thể trực tiếp là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Vì bản chất nguy hiểm cho xã hội của mỗi tội phạm này chỉ thể hiện đầy đủ trong tổng thể hai quan hệ xã hội bị xâm hại đồng thời quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân của tội cướp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản cũng là quan hệ xã hội trực tiếp bị tội phạm này xâm hại
9 Mọi tội phạm suy cho cùng đều xâm hại đến khách thể chung
Nhận định đúng Vì khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật Hình sự bảo
vệ khỏi sự xâm phạm của tội phạm Bất kẻ tội phạm nào khi được thực hiện đều đã xâm
Trang 4phạm đến các mối quan hệ đó Vì vậy suy cho cùng đều xâm phạm đến một cách thể chung là các quan hệ xã hội được pháp luật Hình sự bảo vệ
10 Một tội phạm nếu trên thực tế đã làm cho đối tượng tác động của tội phạm tốt hơn so với tình trạng ban đầu thì không bị coi là gây thiệt hại cho xã hội.
Nhận định sai Một tội phạm bình thường trên thực tế đã làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại Tuy nhiên cũng có những trường hợp một tội phạm làm cho đối tượng tác động của tội phạm tốt hơn so với trạng thái ban đầu, nhưng phần nào đó vẫn gây thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại cho xã hội.Vd: ví dụ A trộm chiếc xe máy của B Bên cạnh đó A mang về tân trang sửa chữa lại làm cho chiếc xe trở nên mới hơn, tốt hơn, đẹp hơn Nhưng hành vi trộm cắp tài sản của
A đã gây thiệt hại cho quyền sở hữu của B nên hành vi của A vẫn gây nguy hiểm cho xã hội và cấu thành tội phạm
11 Mọi hành vi phạm tội đều gây thiệt hại cho đối tượng tác động của tội phạm.
Nhận định sai Vì mọi hành vi phạm tội là biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động đều gây thiệt hại hoặc người gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm nhưng không phải mọi hành vi phạm tội đều gây thiệt hại cho đối tượng tác động của tội phạm trong nhiều trường hợp hành vi phạm tội gây thiệt hại cho khách thể nhưng không làm xấu đi tình trạng của đối tượng tác động so với trước khi bị tác động
VD: sợi dây chuyền vàng bị A đánh cắp được bảo quản và gìn giữ cẩn thận không hề gây thiệt hại gì cho sợi dây chuyền nên hành vi trộm cắp tài sản này không gây thiệt hại cho đối tượng tác động là sợi dây chuyền
12 Đối tượng tác động của tội phạm là đối tượng điều chỉnh của luật hình sự.
Nhận định sai Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tộiphạm, khi hành vi phạm tội tác động đến sẽ gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật Hình sự bảo vệ
Trang 5Còn đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là quan hệ xã hội phát sinh giữa nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm.
13 Đối tượng tác động của tội phạm luôn là đối tượng vật chất cụ thể.
Nhận định sai Vì đối tượng tác động của tội phạm có thể là con người, đối tượng vật chất hoặc hoạt động bình thường của con người (trong đó đối tượng là con người thì có thể là hành vi giết người, nếu đối tượng là vật chất thì là trộm cắp tài sản, hoạt động bình thường của con người thì là hành vi đưa hối lộ)
14 Mọi hành vi phạm tội được thực hiện đều gây thiệt hại cho khách thể.
Nhận định sai Vì khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bịtội phạm xâm hại Theo hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam những quan hệ đó là: quan
hệ về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, nềnvăn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,quyền con người các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.Tuy nhiên, không phải mọi hành vi gây thiệt hại đến các quan hệ đó đều là hành vi phạm tội Nội dung của hành vi gây thiệt hại phải đến mức “nguy hiểm đáng kể” mới bị coi là tội phạm
15 Phương tiện phạm tội của Tội đua xe trái phép (Điều 266 BLHS 2015) là xe ô tô,
xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ.
Nhận định sai Xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe có gắn động cơ không phải là
phương tiện phạm tội vì nó là đối tượng tác động của tội phạm Đối tượng tác động của tội phạm khác công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm Đối tượng tác động của tội phạm
là đối tượng chịu sự tác độn của hành vi phạm tội, còn công cụ phương tiện phạm tội là những công cụ, phương tiện được người phạm tội sử dụng vào việc phạm tội, để tác độngđến đối tượng tác động của tội phạm Công cụ, phương tiện của tội phạm có tác dụng hỗ trợ cho việc phạm tội thuận lợi
Trang 616 Mọi xử sự của con người gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội đều được coi là hành vi khách quan của tội phạm.
Nhận định sai Vì, để một hành vi được xem là hành vi khách quan của tội phạm thì phải hội tụ đủ các điều kiện sau:
Hành vi khách quan của tội phạm phải có tính nguy hiểm cho xã hội tức phải gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội do Luật Hình sự bảo vệ
Hành vi khách quan của tội phạm phải là hoạt động có ý thức và ý chí của con người
Hành vi khách quan của tội phạm phải là hành vi trái pháp Luật Hình sự tức nhữnghành vi bị Luật Hình sự cấm và quy định hành vi đó là tội phạm
17 Tội liên tục là trường hợp phạm tội nhiều lần
Nhận định sai Vì:
Tội liên tục là tội phạm được hình thành từ một loạt hành vi nguy hiểm cho
xã hội cùng loại, xảy ra kế tiếp nhau và có tính liên tục, mà các hành vi đó cócùng một mục đích chung, thống nhất, cùng xâm hại đến một khách thể và trong sự tổng hợp của những hành vi đó thì cấu thành một tội phạm độc lập
Còn phạm tội nhiều lần là người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng hoặc nhiều đối tượng khác, xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp và chưa bị xét xử Khi xét xử, các hành vi đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử hoặc bị xử lý bằng các hình thức khác (đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra )
18 Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu luôn được qui định trong cấu thành tội phạm
cơ bản.
Trang 7Nhận định sai Vì theo luật hình sự Việt Nam hiện hành thì cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu có tính chất đặc trưng chung cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự Có hai nhóm dấu hiệu cấu thành tội phạm là:
Nhóm các dấu hiệu không bắt buộc của cấu thành tội phạm: chỉ có ở những tội phạm cụ thể được quy định trông luật hính sự chứ không bắt buột có ở mọi tội phạm bao
Hậu quả của tội phạm
Động cơ, mục đích của tội phạm
Dấu hiệu đặc biệt của chủ thể đặc biệt
Nhóm các dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm: gồm có:
Khách thể của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm
hệ nhân quả:
Trang 8 Hành vi được coi là nguyên nhân phải là hành vi trái pháp luật hình sự và xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian
Giữa nguyên nhân và hậu quả phải có mối quan hệ nội tại và tất yếu
20 Người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được qui định trong BLHS thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.Đ19
Nhận định sai Vì Căn cứ vào Điều 21 BLHS 2015 quy định: “Người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” Theo đó, người mắc bệnh tâm thần chỉ là điều kiện cần để loại trừ trách
nhiệm hình sự Chỉ khi nào một người đang mắc bệnh tâm thần dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (điều kiện đủ) thì mới được xem là không có năng lực TNHS
21 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Nhận định đúng Vì Tại Khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017 có quy định:
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các tội sau:
Tội giết người;
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
Tội hiếp dâm
Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Tội cưỡng dâm
Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Trang 9 Tội mua bán người
Tội mua bán người dưới 16 tuổi
Tội cướp tài sản
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội cưỡng đoạt tài sản
Tội cướp giật tài sản
Tội trộm cắp tài sản
Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
Tội sản xuất trái phép chất ma túy
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội vận chuyển trái phép chất ma túy
Tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội chiếm đoạt chất ma túy
Tội tổ chức đua xe trái
Tội đua xe trái phép
Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác
Trang 10 Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản
Tội khủng bố
Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia
Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
=> Căn cứ các qui định trên thì ta có thể khẳng định rằng người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng
22 Người 15 tuổi thực hiện hành vi được quy định tại Khoản 2 Điều 128 BLHS thì không phải chịu trách nhiệm hình sự
Nhận định đúng Vì theo Khoản 2, Điều 12 của BLHS 2015 quy định về tuổi chịu
trách nhiệm hình sự thì: “ Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây ” Trong khi đó, Điều 128 quy định tội vô ý làm chết người mà tại
Khoản 2, Điều 12 không quy định về tội vô ý làm chết người Chủ thể của tội vô ý làm chết người là chủ thể thường Nghĩa là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đểu có thể là chủ thể của tội vô ý làm chết người Căn
cứ theo các quy định của pháp luật thì chủ thể của tội vô ý làm chết người phải có độ tuổi
từ đủ 16 trở lên
23 Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với người bị hại.
Trang 11Nhận định sai Theo định nghĩa về lỗi thì: Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra
24 Xử sự của một người được coi là không có lỗi nếu gây thiệt hại cho xã hội trong trường hợp không có tự do ý chí.
Nhận định sai Vì xử sự của một người trong trường hợp không có tự do ý chí gây thiệt hại cho xã hội vẫn có thể chịu trách nhiệm hình sự với các hình thức giảm nhẹ được quy định tại Điều 51
25 Nhận thức được hậu quả cho xã hội tất yếu xảy ra là nội dung của lỗi cố ý gián tiếp.
Nhận định sai Vì: cơ sở pháp lý theo Khoản 2 Điều 10 BLDS 2015 thì lỗi cố ý gián
tiếp được hiểu “Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.”
Về mặt ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra, tức hậu quả xảy ra không phù hợp với mục đích phạm tội Tuy nhiên để thực hiện mục đích này, người phạmtội để mặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình có thể gây ra
26 Người bị cưỡng bức thân thể thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về xử sự gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong BLDS.
Nhận định sai Vì người bị cưỡng bức thân thể vẫn có thể chịu trách nhiệm hình sự về
xử sự gây ra thiệt hại cho xã hội Căn cứ vào điểm k, Khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 thì:
“Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức” chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS
Cơ sở pháp lý: điểm k Khoản 1 Điều 51 BLHS 2015
27: Người bị cưỡng bức về tinh thần thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về xử
sự gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong BLHS
Trang 12Nhận định sai Vì người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội trong trường hợp bị cưỡng chế về tinh thần bị coi là có lỗi vì không phải mọi trường hợp cưỡng bức về tinh thần đều loại trừ khả năng ý chí do vậy vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự vì còn khả năng ý chí và sẽ được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm k Khoản 1, Điều 51 BLHS 2015.
Cơ sở pháp lý: điểm k, Khoản 1 Điều 51 BLDS 2015
28 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là tiền đề để xác định lỗi của người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nhận định đúng Vì chỉ khi một người đạt đến độ tuổi nhất định thì người này mới cókhả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân Từ đó vấn đề “lỗi” mới được đặt
ra nếu người này đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
29 Trong mọi trường hợp sai lầm về pháp luật, người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nhận định sai Vì sai lầm pháp luật được chia làm hai nhóm: Sai lầm không thực hiệntội phạm và sai lầm thực hiện tội phạm
Sai lầm không thực hiện tội phạm: Chủ thể thực hiện hành vi hiểu lầm rằng hành
vi của mình là phạm tội, nhưng thực tế luật không quy định đó là tội phạm Khôngphải chịu trách nhiệm hình sự
Sai lầm thực hiện tội phạm: Chủ thể thực hiện hành vi hiểu lầm rằng hành vi vủa mình là không phạm tội, nhưng thực tế luật quy định đó là tội phạm Vẫn chịu trách nhiệm hình sự với hành vi phạm tội người đó thực hiện