Phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình là hai trong số các phươngpháp đặc thù và cơ bản nhất của bộ môn vật lí, nhưng trong quá trình giảng dạy chương “Sóng cơ và sóng âm” thì kh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
***
NGUYỄN DŨNG MINH
THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY HỌC CHƯƠNG “SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM” VẬT LÍ 12 CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC THPT
LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC
Vinh, 2009
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: "Ưu tiên hàng đầu cho việcnâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy vàhọc, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường,phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên "
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, công nghệ thông tin ngày càng chiếm một vaitrò quan trọng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực Công nghệ thông tin có thể
hỗ trợ đắc lực cho giáo viên, học sinh, các nhà quản lý giáo dục trong việc nghiên cứuchương trình các môn học hay mô tả các sự vật hiện tượng Nhiều phần mềm sáng tạo
hỗ trợ việc tự học, tự ôn tập của học sinh, đặc biệt chú trọng phát huy tính tích cực tự lựckích thích hứng thú, niềm say mê, cũng như phát triển trí tuệ của học sinh
Nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ thông tin đối với giáo dục Bộ giáodục đã chỉ rõ: "Đối với giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làmthay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học Công nghệ thông tin là phươngtiện để tiến tới một xã hội học tập Mặt khác giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọngbậc nhất thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin thông qua nguồn nhân lực chocông nghệ thông tin Ngày 7/9/2007 Thứ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo đã kí văn bảnhướng dẫn năm học mới về CNTT trong đó có định hướng rõ:
- Khuyến khích giáo viên soạn giáo án trên máy vi tính và chia sẻ dùng chung
- Bài giảng điện tử và E - learning
- Cục CNTT chủ trì, tuyển chọn và phổ biến công cụ soạn BGĐT để phổ biến rộngrãi
Phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình là hai trong số các phươngpháp đặc thù và cơ bản nhất của bộ môn vật lí, nhưng trong quá trình giảng dạy chương
“Sóng cơ và sóng âm” thì khả năng trực quan hoá các sự vật hiện tượng gặp nhiều khókhăn vì:
- Các đối tượng nghiên cứu quá nhỏ
- Bộ thí nghiệm thực rất khó thực hiện
Nếu sử dụng máy vi tính có thể trực quan hoá được:
- Quá trình truyền sóng là quá trình truyền dao động
- Các đại lượng đặc trưng của sóng cơ, sóng âm
Trang 3- Các tính chất của sóng (sóng ngang, sóng dọc, phản xạ, giao thoa, nhiễu xạ )Ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy học đó là vấn đề rấtquan trọng Phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn với sự hỗ trợ đa dạng của công
nghệ thông tin sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học do đó tôi lựa chọn đề tài: “Thiết
kế bài giảng điện tử hỗ trợ dạy học chương Sóng cơ và sóng âm Vật lí 12 Cơ bản nhằm nâng cao chất lượng dạy học THPT”
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế bài giảng điện tử chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12 theo chươngtrình Cơ bản đồng thời đề xuất sử dụng chúng nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạyhọc vật lí THPT
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Nội dung chương trình và phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông
- Máy vi tính, các phần mềm dạy học vật lí
* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào việc thiết kế bài giảng điện tử với sự hỗ trợ của máy vitính, khai thác các thí nghiệm mô phỏng, thí nghiệm ảo trên một số phần mềm, Videoclip, nhằm nâng cao chất lượng dạy học THPT
4 Giả thuyết khoa học
Bằng việc thiết kế các bài giảng điện tử đáp ứng các tiêu chí và sử dụng chúngmột cách hợp lý sẽ tăng cường tính trực quan, kích thích hứng thú học tập của học sinh từ
đó có thể nâng cao chất lượng dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12 Cơ bản
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở của việc thiết kế bài dạy học vật lí theo hướng đổi mới
- Nghiên cứu nội dung, chương trình sách giáo khoa, sách tham khảo vật lí 12 Cơbản
- Khai thác dữ liệu (tranh ảnh, flash, video, thí nghiệm mô phỏng thí nghiệm ảo )
từ các phần mềm hay trên Internet để đưa vào BGĐT
- Thiết kế bài giảng điện tử để dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12 Cơbản
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm giả thuyết khoa học của đề tài
Trang 46 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và nhà nước, của Bộ giáo dục và đào tạo vềđổi mới phương pháp dạy học
- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học vật lí, lý luận dạy học, tâm lýhọc Cần cho việc xây dựng tiến trình dạy học
- Nghiên cứu sách giáo khoa vật lí 12 THPT, các tài liệu tham khảo
- Nghiên cứu các tài liệu về ứng dụng máy vi tính và các thiết bị đa phương tiệnvào thiết kế bài dạy học theo hướng đổi mới
6.2 Phương pháp thực nghiệm:
- Sử dụng máy vi tính để thiết kế bài dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí
12 Cơ bản
- Thực nghiệm sư phạm
- Sử dụng các phương pháp thống kê để xử lý số liệu
7 Cấu trúc luận văn
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1 Cơ sở thiết kế BGĐT trong dạy học vật lí ở trường THPT
Chương 2 Thiết kế BGĐT hỗ trợ dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 Cơ bảnChương 3 Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở
TRƯỜNG THPT 1.1 Cơ sở lý luận
Trong đào tạo trực tuyến, “Bài giảng điện tử là tập hợp những tài nguyên số dưới
hình thức các đối tượng học tập, xâu chuỗi với nhau theo một cấu trúc nội dung, định hướng theo chiến lược giáo dục của nhà thiết kế, bài giảng điện tử còn được gọi là khoá học điện tử hay cua học điện tử.
Theo PGS.TS Lê Công Triêm – Đại Học Huế “Bài giảng điện tử là một hình thức
tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học được chương trình hoá
do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra.
Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trường multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng: văn bản (text), đồ hoạ (graphics), hoạt ảnh (animation), ảnh chụp (image), âm thanh (audio) và phim video (video clip).
Đặc trưng cơ bản nhất của bài giảng điện tử là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động điều khiển của giáo viên phải multimedia hoá [26].
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, cùng vớimạng máy tính và Internet, bài giảng điện tử trở nên một thành phần trong giáo dục hiệnđại Phạm vi của bài giảng điện tử không chỉ giới hạn trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
mà mở rộng đến các lĩnh vực như quảng bá sản phẩm, dịch vụ trên web, huấn luyện đaphương tiện dùng trong doanh nghiệp, dịch vụ tư vấn, chăm sóc khách hàng, làm việccộng tác
Trang 6Việc thiết kế bài giảng điện tử có một số điểm khác so với thiết kế bài giảngtruyền thống Với bài giảng điện tử, người học được phép tự chọn một lộ trình học tậpphù hợp nhất với khả năng của mình, do vậy bài giảng điện tử có thể hỗ trợ hình thức họctập thích nghi đòi hỏi phải thiết kế một cách cẩn thận và cần những chương trình đặc biệt
để chạy được những bài giảng thiết kế kiểu này như: phần mềm quản trị học tập, trìnhđiều khiển khoá học và một số phần mềm hỗ trợ khác
Bài giảng điện tử thường cần có sự hỗ trợ của thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng
và các tính năng đa phương tiện Hiệu quả truyền đạt này dựa trên châm ngôn “trăm nghekhông bằng một thấy” Nhờ các tính năng đa phương tiện, sự buồn chán của việc đọc vănbản trên Internet được giảm thiểu, không còn giới hạn vài chục dòng trên một trang mànhình nữa vì với một đoạn hoạt hình kèm theo âm thanh giúp người học tiếp thu bài họcnhanh chóng và dễ nhớ hơn
Cần phân biệt các khái niệm sách giáo khoa điện tử, giáo trình điện tử, giáo ánđiện tử và bài giảng điện tử
Sách giáo khoa hay giáo trình điện tử là tài liệu giáo khoa, mà trong đó kiến
thức được trình bày dưới nhiều kênh thông tin khác nhau như văn bản, đồ hoạ, hình ảnhđộng, hình ảnh tĩnh, âm thanh Đặc điểm quan trọng của sách giáo khoa điện tử là kiếnthức được trình bày cùng lúc theo nhiều kênh thông tin khác nhau trọng tâm, thuận tiệncho người học tra cứu và tìm kiếm nhanh thông tin Ngày nay, sách giáo khoa điện tử còncho phép kết nối và cập nhật thêm thông tin mới từ các trang Web mà địa chỉ đã có sẵntrong sách giáo khoa điện tử
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của
giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hoá mộtcách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học Giáo
án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chấttrước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảngđiện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cáchgọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử [26]
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá BGĐT
Qua thực tiễn thiết kế các bài giảng điện tử và ứng dụng trong giảng dạy, theo chúng tôi để một BGĐT đưa vào giảng dạy thì nó phải đáp ứng các tiêu chí nhất định
1.1.2.1 Các tiêu chí về mặt khoa học
Trang 7Đây là tiêu chí quan trọng hàng đầu đối với một BGĐT Tiêu chí về mặt khoa họcthể hiện ở tính chính xác về nội dung khoa học chứa đựng trong một bài giảng Nội dungtrong bài giảng phải phù hợp với nội dung chương trình, mục tiêu đào tạo của cấp học.
Để đảm bảo việc nắm vững kiến thức khoa học kể cả những tư tưởng của khoa học hiệnđại cần chọn cái bản chất nhất của nội dung khoa học Các thuật ngữ khoa học như cáckhái niệm, định luật, thuyết…sử dụng trong bài giảng phải chính xác nhất quán với nộidung chương trình sách giáo khoa Trong quá trình thiết kế BGĐT cần triệt để tránh bất
kì một sự khẳng định giáo điều nào và hạn chế đến mức thấp nhất việc đưa ra những địnhnghĩa, khái niệm…chưa hoàn thiện, chưa được kiểm chứng Nội dung trong BGĐT phải
cô đọng giúp người học hiểu rõ tốt hơn nội dung dạy học, các Modul nội dung chứa đựngtrong bài giảng ấy phải nhằm thực hiện được mục đích dạy học
có phần luyện tập để giúp học sinh hình thành và rèn luyện kỹ năng, khắc sâu kiến thức
đã lĩnh hội và khả năng vận dụng vào thực tiễn
1.1.2.3 Các tiêu chí về lý luận dạy học
Một trong những yêu cầu của Bài giảng lên lớp là phối hợp hữu cơ dạy học vàgiáo dục học sinh BGĐT phải thể hiện làm sao cho học sinh hiểu được tài liệu mới, nêulên được nội dung chủ yếu trong đó và nắm vững được những cơ sở của tài liệu học tập.Trong BGĐT phải phản ánh được những yêu cầu quan trọng nhất của giáo dục học, tâm
lý học, sinh lý học, xã hội học; phải thực hiện những nhiệm vụ chung và trực tiếp của dạyhọc, giáo dục và phát triển; phải phối hợp hữu cơ hoạt động của thầy và trò, ở đây là tácđộng qua lại phức tạp giữa mục đích, nội dung và phương pháp Khi thiết kế BGĐT giáoviên cần quan tâm tới các nhân tố sau:
Trang 8Những yêu cầu của chương trình giáo khoa Chương trình dạy học xác định cái
phải đem ra nghiên cứu và cái phải tính tới khi lựa chọn tài liệu, phương pháp, phươngtiện dạy học Ngay khi tìm hiểu chủ đề giảng dạy giáo viên phải tính tới mục đích của bàidạy, nội dung của nó, phải vạch ra được những hành động để đạt tới mục đích đó, nhữngphần mềm hỗ trợ và cách thức phát hiện ra kết quả sẽ giành được khi sử dụng BGĐT
Trình độ xuất phát của học sinh Hiệu quả của mọi hoạt động dự kiến trong BGĐT
phụ thuộc vào trình độ xuất phát của học sinh về những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và sựphát triển trí tuệ, cần để thực hiện hành động đó Cần tránh tình trạng sử dụng chungBGĐT áp dụng tràn lan cho mọi đối tượng Chẳng hạn nếu một lớp học sinh đã nắmvững những kiến thức và kỹ năng cần thiết để nghiên cứu tài liệu mới, thì giáo viên cóthể bắt đầu với bài giảng của mình phù hợp với chương trình Còn nếu ngược lại thì giáoviên có thể lựa chọn cách tiếp cận ban đầu bằng ôn tập, kiểm tra bài về nhà nhằm tái hiệnnhững kiến thức và kỹ năng để tiếp nhận tri thức mới
Những đặc trưng của bài lên lớp Khi thiết kế BGĐT cần xác định mục đích, nội
dung, phương pháp, cấu trúc của bài, các tình huống dạy học.Tất cả các tình huống liênquan mật thiết với nhau Mỗi tình huống có một tổ chức bên trong xác định Do đó nhữngyêu cầu chung của một phần nào đó phải được chuyển thành những yêu cầu phù hợp vớinhững điều kiện cụ thể Trong quá trình thiết kế BGĐT phải phân tích một cách tuần tự
và xử lý từng phần một, rồi sau đó liên kết chúng lại thành một chỉnh thể tương tác
1.1.2.4 Các tiêu chí về kỹ thuật
Tính hiện đại: Khi thiết kế BGĐT cần quan tâm lựa chọn phần mềm sao cho dễ sử
dụng, hiệu quả cao, phù hợp với cấu hình máy tính, khả năng tương tác mạnh với các đốitượng khác như âm thanh, hình ảnh, Flash, video, Internet Các đoạn phim chèn vàoBGĐT phải để ở chế độ tương tác được nghĩa là người sử dụng có thể điều khiển linhhoạt như là cho phim chạy nhanh chậm hay dừng lại Nên có thêm phần sơ đồ hướng dẫn
sử dụng để giáo viên hoặc học sinh thông qua đó sử dụng một cách thuận tiện Kỹ thuậtsiêu liên kết Hyperlink phải được khai thác một cách triệt để và có hiệu quả cao Có thểthông qua đó liên kết tới các đối tượng khác như video, các thí nghiệm mô phỏng, cácbảng biểu, đồ thị hay đến các Website
Tính thẩm mỹ: BGĐT phải được thiết kế sao cho hài hoà về màu sắc và kiểu dáng.
Sự phối hợp giữa màu nền, kiểu chữ, kích cỡ chữ, màu chữ, số lượng không vượt quá 40
từ trong một Slide, các hiệu ứng chuyển cảnh, tốc độ giữa các hiệu ứng…Nên thống nhất
Trang 9trong từng bài tránh tình trạng quá lạm dụng các hiệu ứng và cách thể hiện màu sắc gâyphản cảm, phản tác dụng đưa lại hiệu quả thấp trong quá trình dạy học Không nền đồngnhất kết cấu BGĐT giống với các chương trình trò chơi trên truyền hình.
1.1.3 Vai trò và tác dụng của BGĐT trong việc đổi mới PPDH ở trường THPT.
Những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục đã được đề cập trong Nghịquyết của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (1/1993), Hộinghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (12/1996), trong Luật GiáoDục (12/1998), trong Nghị quyết của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dụcphổ thông (12/2000), trong các Chỉ thị của Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đàotạo… Tinh thần cơ bản của việc đổi mới này là: Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,sáng tạo của HS trong học tập
Đây là một trong những yêu cầu hàng đầu của việc đổi mới chương trình giáo dụcphổ thông nói chung và đã được thể hiện trong chương trình tiểu học và trung học cơ sở.Đổi mới phương pháp dạy học các môn học ở trung học phổ thông cần được đẩy mạnhtheo định hướng chung Do đặc điểm và trình độ của học sinh nên cần chú ý nhiều đếnviệc phát triển năng lực tự học, đa dạng hoá các hình thức học tập, tạo điều kiện để họcsinh được tự nghiên cứu, chủ động trong việc phát hiện và giải quyết vấn đề Chươngtrình của từng môn học đều cần chỉ ra định hướng và các yêu cầu cụ thể về đổi mớiphương pháp dạy học bộ môn [13]
Theo quan niệm mới về việc dạy học, vai trò chính của giáo viên là tổ chức vàhướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh sao cho học sinh có thể tự chiếm lĩnh đượckiến thức và kỹ năng mới Đó là vì các kiến thức và kỹ năng của mỗi con người đượchình thành thông qua hoạt động tự tìm tòi, khám phá, trao đổi giao tiếp của chính conngười đó với môi trường xung quanh Do đó trong khi thiết kế BGĐT theo tinh thần đổimới cần quan tâm xem HS hoạt động học như thế nào Các em đã thu hoạch được nhữnggiá trị gì Học sinh là diễn viên chính còn giáo viên chỉ đóng vai trò là người đạo diễn.Trong giờ học mọi học sinh làm việc tích cực, quan sát trên màn chiếu Projector, còngiáo viên trông có vẻ nhàn nhã song họ phải luôn tập trung cao độ, xử lý các thông tin vàcác tình huống phát sinh mới
Dạy học với BGĐT giúp GV tiết kiệm được nhiều thời gian hơn, giảm thời gianghi bảng, vẽ hình minh hoạ, trong các thao tác sử dụng những loại đồ dùng trực quan
Trang 10truyền thống GV có thời gian để tạo ra các hoạt động dạy học, cho học sinh tham giatrao đổi, thảo luận nhằm phát huy tính tích cực, lòng say mê học tập của các em.
Với ưu thế mạnh của CNTT Máy vi tính cho phép thiết kế các BGĐT, có môphỏng các quá trình vật lí phức tạp, các thí nghiệm diễn ra với tốc độ quá nhanh, hay quáchậm, hoặc sự vật hiện tượng quá bé hay quá lớn, những thí nghiệm nguy hiểm Ngoài ratrong quá trình lên lớp GV có thể sử dụng các màu sắc khác nhau để đánh dấu phân biệtnhững nội dung quan trọng, những đoạn phim hay hiệu ứng âm thanh gây sự chú ý Khithiết kế BGĐT GV đã chuẩn bị kịch bản một cách công phu từ các hoạt động của thầycủa trò, trước trong và sau khi trình chiếu bài giảng do đó giúp GV trình bày bài giảngmột cách lôgic, có điều kiện dẫn dắt học sinh đi sâu vào từng nội dung cụ thể
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy của thầy phải đi đôi với việc đổi mới phương pháp học
ở trò Trong các tiết học đổi mới GV phải tạo điều kiện bằng việc tổ chức cho HS cáchoạt động nhận thức, tập cho HS tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập
Dạy học với BGĐT theo hình thức học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất
là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, cần xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cánhân để hoàn thiện nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ các thành viên phảihoạt động một cách tích cực, tự lực, có chính kiến của mình qua đó tính cách năng lựccủa mỗi thành viên được bộc lộ Kiến thức được tiếp cận theo nhiều chiều, với nhiềuquan điểm của các thành viên trong nhóm từ đó học sinh có cái nhìn toàn diện hơn, sâusắc hơn vấn đề đang nghiên cứu
Xã hội ngày càng phát triển với sự bùng nổ của CNTT, khoa học kỹ thuật và côngnghệ, lượng kiến thức cập nhật ngày càng nhiều Song chúng ta không thể nhồi nhét tất
cả tri thức cho trẻ mà phải dạy cho trẻ phương pháp tự học, tự chiếm lĩnh tri thức Dạyhọc với BGĐT đã góp phần hình thành khả năng đó ở học sinh Ngoài các bài giảng đượcthiết kế một cách công phu, tỉ mỉ của giáo viên ở trên lớp Ở nhà các em có thể tự mìnhkhám phá, học hỏi, tìm tòi kiến thức qua mạng internet, các Website dạy học, các phòngthí nghiệm ảo, các thư viện tư liệu đã được số hoá, các BGĐT của cộng đồng giáo viênchia sẻ trên mạng, hay các lớp học trực tuyến, các diễn đàn khả năng tự học, tự nghiêncứu là một yêu cầu tất yếu để trở thành một con người toàn diện trong xã hội hiện nay
Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GV phảihướng dẫn HS phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan vớiđiều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự
Trang 11đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời, là năng lực rất cần cho sự thành đạt trongcuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS [13]
Học tập với BGĐT học sinh được đánh giá một cách khách quan, BGĐT có thểđưa ra lời khen ngợi tạo hứng thú trong học tập, còn nếu học sinh chưa hoàn thành nhiệm
vụ được giao BGĐT sẽ đưa ra động viên kịp thời
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực tế của việc thiết kế BGĐT ở các trường THPT
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm đưa nước ta theo kịp nhịp
độ phát triển của thế giới trong xu hướng hợp tác và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu đòihỏi thế hệ trẻ phải sử dụng thành thạo các ứng dụng của công nghệ thông tin vào lĩnh vựccông tác của mình trong tương tương lai
Những thành công rất đáng khích lệ của việc ứng dụng CNTT vào quá trình giáodục – đào tạo ở các nước trên thế giới là nguồn cổ vũ to lớn, tạo niềm tin, cho các bài họcquý giá đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam chúng ta
Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước về việc đẩy mạnh ứngdụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá đã chỉ rõ trọng tâm củangành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy nhanh ứng dụng CNTT trongcông tác giáo dục và đào tạo
Năm học 2008-2009 được xác định là "Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin, đổi mới quản lý tài chính và triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Hiện nay các trường phổ thông có trang bị phòng máy, phòng đa chức năng, thưviện nối mạng internet Ngoài ra một số trường còn đầu tư mua sắm một số thiết bịchuyên dụng như máy quay phim, chụp ảnh, máy quét hình và một số thiết bị khác, tạo
cơ sở hạ tầng CNTT cho giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình
Dạy học với sự hỗ trợ của máy vi tính mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mớicác phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cậnkiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng
có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Còn các hình thức dạy học như dạy học theonhóm, dạy học cá nhân, dạy học đồng loạt có nhiều đổi mới với sự hỗ trợ của CNTT vàtruyền thông Như việc lập các Website, các thư viện ảo, các BGĐT, bài giảng trực tuyến,giáo trình điện tử các kho tài nguyên trên mạng internet tạo điều kiện để cá nhân tự lực
Trang 12làm việc, học tập qua mạng Nhằm phát triển năng lực sáng tạo của học sinh chuyển từquan niệm lấy giáo viên làm trung tâm sang lấy học sinh làm trung tâm.
Với sự phát triển ngày càng vượt bậc về CNTT, công nghệ phần mềm ra đời đãtạo điều kiện cho ngành giáo dục nói chung và các giáo viên nói riêng có điều kiện say
mê sáng tạo thiết kế các mô hình, thí nghiệm ảo, các bài giảng điện tử, góp phần nâng caohiệu quả dạy học của mình Những khả năng mới mẻ và ưu việt của công nghệ thông tin
và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập,cách tư duy
Để thiết kế BGĐT hỗ trợ quá trình dạy học đạt hiệu quả cao giáo viên thường căn
cứ vào các yếu tố sau:
Căn cứ vào cơ sở vật chất của nhà trường.
Cơ sở vật chất là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình triển khai các tiết họcđổi mới có sử dụng CNTT Ngoài những trang thiết bị thông thường các trường học, cơ
sở giáo dục còn phải trang bị thêm các phòng học bộ môn đạt chuẩn, các phòng thínghiệm thực hành, phòng đa chức năng có kết nối mạng Do đó tuỳ vào tình hình thực tếcủa các trường phổ thông mà giáo viên soạn thảo, thiết kế các tiết học đổi mới đạt hiểuquả cao Có thể phân các trường hợp sau:
Lớp học thông thường giáo viên chỉ sử dụng một máy tính và hệ thống chiếu(Projector) Đây là trường hợp thông thường hay gặp hiện nay của các giáo viên phổthông khi thiết kế BGĐT Trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể tuỳ vào điều kiện cụthể mà triển khai các phương pháp học tập như phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy họckiến tạo…Hình thức học tập lớp bài và hiệu quả đạt được trong trường hợp này là rất cao.Máy vi tính giúp trực quan hoá các thí nghiệm khó, các hiện tượng xẩy ra nhanh, cáchình ảnh minh hoạ, vẽ đồ thị, tính toán và xử lý số liệu
Lớp học có nhiều hơn một máy tính trong đó giáo viên một máy tính có kết nối hệthống chiếu và internet còn một máy tính nữa dành cho học sinh Hình thức học tập làhoạt động nhóm Một số nhóm làm việc với máy tính, một số nghiên cứu tài liệu sáchgiáo khoa, một số làm các bài tập vận dụng Dạy học theo hình thức hợp tác giúp cácthành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xâydựng tri thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõtrình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài
Trang 13học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là tiếp nhận thụ động từ giáoviên.
Lớp học trong phòng máy vi tính với đầy đủ trang thiết bị từ số lượng máy tính, cómạng internet, mạng cụ bộ, có các phần mềm được cài đặt trên các máy tính và một sốthiết bị hỗ trợ khác Giáo viên trong trường hợp này đóng vai trò là người định hướng,hướng dẫn học sinh Căn cứ vào điều kiện thực tế mà cuối giờ học giáo viên cho cácnhóm báo cáo kết quả
Lớp học ảo, lớp học trên mạng, các BGĐT, nguồn thông tin tư liệu, được chuyểntải lên các Website Hình thức học tập này tuy hiện nay chưa phổ biến song trong tươnglai sẽ là điều kiện tốt để nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho
người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cơ hội cho
lòng họ ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập đượcnhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động trong quá trình
dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn
đề tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học
cả trong tiết có sự hướng dẫn của GV [13]
Căn cứ vào tính năng của các phần mềm dạy học
Khi đã xác định chủ đề cần ứng dụng CNTT, sẽ có nhiều PMDH có thể sử dụngphục vụ tiết dạy học này GV cần căn cứ vào ưu nhược điểm của từng PMDH và đốichiếu với các yêu cầu của tiết học cụ thể mà quyết định lựa chọn PMDH tốt nhất hiện có.Việc chọn PMDH chưa thích hợp cũng ảnh hưởng lớn tới chất lượng dạy học Hiện tạitrên thị trường có rất nhiều loại phần mềm có thể khai thác ứng dụng vào quá trình dạyhọc Chẳng hạn như phần mềm mô phỏng các thí nghiệm ảo (Macromedia8.0), phầnmềm thiết kế dưới dạng trò chơi, phần mềm soạn thảo các bài tập thực hành, phần mềmđóng gói các giáo trình điện tử…Không có một phần mềm nào là vạn năng, mỗi mộtphần mềm đều có những thế mạnh riêng và có những hạn chế nhất định Giáo viên cầnkhai thác sử dụng và phối kết hợp giữa các phần mềm dạy học để tạo ra một tiến trìnhdạy học đạt hiệu quả cao
1.2.2 Một số phần mềm hỗ trợ thiết kế BGĐT
Phần mềm dạy học là một trong những chương trình ứng dụng, được xây dựng hỗtrợ cho GV và HS trong quá trình dạy học Sự xuất hiện của các phần mềm dạy học được
Trang 14phát triển mạnh qua nhiều giai đoạn Có rất nhiều quan điểm khác nhau làm cơ sở choviệc thiết kế các phần mềm dạy học.
Theo quan niệm “cổ điển”, máy vi tính cùng với các phần mềm tương ứng đượcxem là phương tiện dạy học mới, hiện đại được sử dụng bên cạnh các phương tiện dạyhọc truyền thống khác đã có từ trước đến nay nhằm hỗ trợ cho GV và HS trong quá trìnhdạy học Các phần mềm đó có thể dùng để mô phỏng, minh hoạ, hỗ trợ các thí nghiệm,
hỗ trợ ôn tập, kiểm tra kiến thức, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Việc mô phỏng, hay minh hoạ chỉ được sử dụng trong một khoảng thời gian nhấtđịnh của giờ học ở lớp Nhờ có sự phối hợp chặt chẽ, hợp lý của kỹ thuật đồ hoạ, kỹ thuật
âm thanh mà các hình ảnh mô phỏng hay minh hoạ trở nên sinh động, hấp dẫn cuốn hút
HS vào học tập
Theo quan niệm “vi thế giới”, các phần mềm dạy học không dừng lại ở mức độ hỗtrợ theo lối cổ điển mà cái quan trọng hơn là tạo ra một phương pháp học tập mới trongmôi trường học tập mới – môi trường “vi thế giới” các đối tượng (các vật thể, các quanniệm, các mệnh đề, các toán tử ) Người học thông qua “vi thế giới” để nhận thức đốitượng và thông qua sự tìm hiểu các đối tượng mà khám phá ra mối quan hệ giữa chúng,tức là tiếp nhận thêm những tri thức mới Quá trình tiếp nhận thêm tri thức mới đó là quátrình hấp dẫn, tự giác theo nhu cầu nhận thức của mỗi cá nhân chứ không hề bị áp đặttrong quá trình nhận thức
Quan điểm thứ ba là tiến hành xây dựng các hệ tác giả Phần mềm hệ tác giả, làmột sản phẩm tổng hợp của nhiều chuyên gia tin học, các nhà thiết kế, các hoạ sĩ, các nhà
sư phạm có kinh nghiệm nhằm mục đích sử dụng máy vi tính thành công cụ đắc lực cho
GV trong quá trình dạy học Phần mềm hệ tác giả cho phép GV phát huy tính tích cựcnăng lực sáng tạo của mình trong việc xây dựng các bài học với sự hỗ trợ của máy vitính, đồng thời giúp HS nâng cao hiểu biết, khả năng tư duy, phán đoán và rèn luyệntrong quá trình tự học, tự nghiên cứu Quan điểm “hệ chuyên gia” xuất hiện vào đầunhững năm 90 của thế kỷ trước Đó là ý tưởng để xây dựng các phần mềm hệ chuyên giatrên cơ sở những thành tựu nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo trong tin học Các phần mềmloại này gọi là các công cụ xây dựng các hệ tri thức Công cụ xây dựng các hệ tri thức tạo
ra các phần mềm dạy học mới về chất
Trang 15Quan niệm thiết kế BGĐT cũng chính là thiết kế các phần mềm dạy học cho từngtiết học và đối tượng cụ thể do GV thực hiện trên các công cụ trình diễn như PowerPoint,Frontpage…[19].
Một số phần mềm công cụ thường được giáo viên sử dụng để thiết kế BGĐT.
Phần mềm công cụ là phần mềm được dùng làm phương tiện để tạo ra các phầnmềm khác
Phần mềm công cụ chung là các phần mềm công cụ không mang đặc thù của bất
kỳ môn học nào Các phần mềm này về nguyên tắc có thể tạo ra nội dung theo mọichuyên ngành và môn học Phần mềm công cụ chung có rất nhiều như Photoshop, Adobe,Macromedia Flash, SnagIt, Video Studio, Office 2003, Office XP, đặc biệt là MicrosoftPowerPoint, Microsoft FrontPage
Phần mềm công cụ đặc thù của môn học là các phần mềm công cụ chuyên dùng đểthiết kế các mô phỏng hoặc thiết kế bài giảng đặc thù riêng cho một môn học hoặc mộtchuyên ngành nhất định Như Cabri Geometry (môn toán), Crocodile Physics (môn vậtlí)
1.3 Qui trình thiết kế BGĐT
1.3.1 Phân tích nội dung bài dạy, soạn giáo án
Không phải chủ đề dạy học nào cũng cần tới bài giảng điện tử Chủ đề dạy họcthích hợp là những chủ đề có thể dùng bài giảng điện tử để hỗ trợ dạy học và tạo ra hiệuquả dạy học tốt hơn khi sử dụng các thiết bị dạy học truyền thống Trong mỗi chủ đề dạyhọc GV phải lựa chọn các kiến thức cơ bản của bài dạy học có thể gắn với việc sắp xếplại cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các phần kiến thức, từ đó nhằmlàm nổi bật trọng tâm, trọng điểm của bài Việc làm này thực sự cần thiết nó giúp cho quátrình tiếp thu của học sinh đạt kết quả tốt hơn, đồng thời giúp giáo viên tránh được hiệntượng quá ôm đồm về nội dung hoặc quá tóm lược nội dung SGK
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, không có một SGK nào có thể ngay lậptức cập nhật những tiến bộ, phát minh trên thế giới Vì vậy, GV có thể lựa chọn nhữngphần kiến thức cần mở rộng qua các phương tiện thông tin rất phong phú và đa dạng hiệnnay cho HS hoặc hướng dẫn HS phương pháp để HS tự tìm tòi, khám phá [22]
Công việc cần làm đầu tiên của người giáo viên GV cần nghiên cứu kỹ nội dungbài qua SGK, SGV, các sách tham khảo để xác định được:
+ Những yêu cầu về mặt kiến thức và kỹ năng cần đạt được qua tiết dạy
Trang 16+ Trọng tâm của bài dạy.
+ Chia bài dạy thành các hoạt động học tập tương ứng
+ GV xác định và thu thập các tài liệu có liên quan đến nội dung bài giảng,nhằm bổ sung và mở rộng kiến thức, nâng cao đến hiệu quả của tiết dạy và phù hợp vớitrình độ nhận thức của HS
+ Các thiết bị dạy học hỗ trợ kèm theo
Ví dụ:
- Khi dạy học các khái niệm, hiện tượng khoa học trừu tượng, các định luật, cácthuyết vật lý, trong đó học sinh khó hình dung khái niệm khoa học, có thể dùng môphỏng để thể hiện khái niệm trên một cách trực quan hơn Như các khái niệm “Sóng cơ”,
“Sóng âm”… hay quá trình truyền sóng, phản xạ sóng…
- Khi cần giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nào đó Có thể thiết kế bài dạy học dướidạng các bài ngoại khoá, các trò chơi ô chữ, các bài tập trắc nghiệm…Trong trường hợpnày có thể phải sử dụng các phần mềm mô phỏng thích hợp
- Xây dựng các PMDH thí nghiệm ảo hỗ trợ các thí nghiệm thật trong điều kiệnkhông thể thực hiện thí nghiệm đó (do điều kiện thiếu trang thiết bị thí nghiệm, hoặc donhu cầu ôn lại các bước thí nghiệm khi ôn tập, các thí nghiệm nguy hiểm, các thí nghiệmquá nhanh không quan sát được, các thí quá chậm không thể tiến hành một cách tự nhiêntrong khuôn khổ tiết học…)
- Tổ chức kiểm tra đánh giá tự động trên máy Lúc này, cần tổ chức xây dựng ngânhàng đề, từ đó có thể lựa chọn ngẫu nhiên để lập thành các bộ đề khác nhau Có thể sửdụng các phần mềm trộn đề thi để có những ngân hàng đề như ý muốn phù hợp với nộidung dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh
Lựa chọn kiến thức cơ bản, phù hợp với chủ đề dạy học là công việc khó, phứctạp Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố đó là: đối tượng nghiên cứu của bộ môn, nhiệm vụdạy học của bộ môn, chương trình chuẩn của Bộ, SGK và trình độ nhận thức của họcsinh Việc lựa chọn đúng sẽ giúp GV định hướng xây dựng thư viện tư liệu, những hìnhảnh, đoạn âm thanh, video clip, flash…đưa vào trong thiết kế BGĐT nhằm nâng cao chấtlượng dạy học
Trang 171.3.2 Xây dựng kịch bản sư phạm cho việc thiết kế bài giảng trên máy
Sau khi thực hiện các bước trên, GV phải hình dung được toàn bộ nội dung cũngnhư những hoạt động sư phạm trên lớp của toàn bộ tiết dạy và xác định được phần nào,nội dung nào của bài cần sự hỗ trợ của MVT để tiết học đó đạt hiệu quả cao hơn
GV cần dự kiến việc thể hiện nội dung bài giảng hoặc một phần nào đó của bàigiảng bằng các khái niệm và hệ thống khái niệm, các hiện tượng …hay các phần tiểu kếtluận một đề mục, hệ thống hoá, khái quát hoá một nội dung
Việc đưa nội dung đó vào máy vi tính được thể hiện dưới dạng nào, là một hìnhảnh hay một bản vẽ, một đoạn âm thanh, một đoạn Video, Flash hay mô phỏng một quátrình nào đó…Đồng thời xem xét tư liệu mà mình phải tìm kiếm, chuẩn bị có phù hợphay không
GV dự kiến các hoạt động trong một tiết học, thời gian, nhịp độ học tập Các tìnhhuống nảy sinh trong quá trình dạy học Cấu trúc của bài như sau:
Tên bài học
Hoạt động 1(tên hoạt động 1)
Nội dung 1 Hoạt động 2 (tên hoạt động 2)
Nội dung 2 Hoạt động n (tên hoạt động n)
Nội dung n
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc hình thức của BGĐTỨng với các bài học GV chia các hoạt động khác nhau nhưng trong mỗi hoạt độngphải tính tới thời gian thể hiện, nội dung cần trình bày, hình ảnh, âm thanh, các môphỏng… minh hoạ kèm theo
1.3.3 Thể hiện kịch bản trên máy vi tính
Dựa trên kịch bản sư phạm GV thu thập đầy đủ các thông tin cần thiết dùng choviệc thiết kế BGĐT Tư liệu ở đây có thể bao gồm:
Thư viện tranh ảnh, hình vẽ
Trong quá trình thu thập thông tin có thể chụp ảnh từ SGK, từ các sự vật hiệntượng liên quan trong cuộc sống, hay tải từ internet GV có thể sử dụng một số phần mềm
Bµi kiÓm tra Tãm t¾t- Ghi Nhí
Bµi tËp Minh ho¹
Trang 18hỗ trợ xử lý ảnh như Photoshop, Macromedia…để xử lý các hình ảnh sao cho phù hợpvới ý đồ dạy học.
Thư viện video clip, flash
Đây là dạng tư liệu động Bên cạnh những hình ảnh còn có âm thanh trung thựcnên HS tham gia học tập rất tích cực và hứng thú Trong thư viện tư liệu hỗ trợ thiết kếBGĐT của GV không thể thiếu nguồn video clip Video clip có vai trò quan trọng trongviệc tạo động cơ hứng thú học tập của học sinh và hỗ trợ tối ưu cho một số giai đoạn củaquá trình dạy học như dùng để tạo tình huống học tập, nêu sự kiện khởi đầu và có thểgiúp học sinh đưa ra dự đoán về các hiện tượng vật lí một cách dễ dàng Hình ảnh, âmthanh trong video clip đến với HS trực quan sinh động, gần gũi với thực tiễn, dễ nhậnthức Video clip với tốc độ chuyển động nhanh có thể cung cấp một lượng thông tinchính và phụ gấp nhiều lần so với lời giảng của GV trong giờ lên lớp Với sự hỗ trợ đadạng của MVT có thể sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần hoặc chia nhỏ từng đoạn thông tin,phân tích các hoạt cảnh trong video clip Những khả năng này tạo điều kiện cho GV trongviệc phối kết hợp các PP, hình thức DH phát huy được tính tích cực của HS nhằm nângcao hiệu quả dạy học
Nguồn video clip và flash GV có thể tải từ mạng internet hoặc tự xây dựng làm tưliệu cho riêng mình Thường thì khi tải từ internet GV không được như ý muốn, có thểđược xây dựng trên một số phần mềm khác nhau nên việc tương thích giữa các phầnmềm đôi lúc bị hạn chế hoặc kịch bản của các video clip hay các flash này khác với kịchbản của bài dạy học Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi giới thiệu một số bước đểxây dựng video clip phục vụ cho việc thiết kế BGĐT
Bước 1: Lựa chọn nội dung thích hợp, nội dung ở đây có thể là một đoạn thínghiệm được thực hiện ở phòng thí nghiệm hay một cảnh quay một hiện tượng thực tếliên quan tới nội dung dạy học
Bước 2: Xây dựng kịch bản, GV nên xây dựng cho mình một kịch bản trước khitiến hành quay video clip
Bước 3: Tiến hành quay theo kịch bản đã định Không nhất thiết phải quay toàn bộnội dung một cách liên tục mà có thể từng cảnh quay riêng nhằm phù hợp với tình huốngdạy học được chuẩn bị trong khi tiến hành xây dựng BGĐT
Trang 19Bước 4: Xử lý, hoàn thiện video clip Sau khi tiến hành quay theo kịch bản GVđưa tư liệu vào MVT kết hợp với một số phần mềm như Video studio 9.0, Photoshop7.0 chỉnh sửa để có được một video clip đúng với ý đồ kịch bản dạy học.
- Tích hợp các dữ liệu trong từng pha dạy học, lập trình tạo các hiệu ứng trong cáctương tác ở các pha dạy học Quá trình tích hợp dữ liệu trong từng pha dạy học, thiết lậpcác hiệu ứng cần lưu ý một số vấn đề sau:
Về bố trí bài giảng điện tử: Cách bố trí trang Slide tác động đến sự chú ý của
người học Các thành phần của Slide gồm: Các lề, sự sắp xếp các thành phần của Slide,kiểu chữ và các đặc tính của chữ, màu sắc Trong một bài giảng có nhiều Slide, nên có sựthống nhất cho tất cả các Slide, cấu trúc của Slide phải rõ ràng, dễ xem, các trang cầnphải thống nhất và hài hoà với nhau, cách bố trí của Slide phải gây được sự chú ý nhưngkhông được lạm dụng màu sắc dễ làm phân tán người học
Về phần sắp xếp văn bản trong Slide: Đoạn văn viết trong Slide phải cô đọng Các
nghiên cứu cho thấy rằng tốc độ đọc trên màn hình chậm hơn 30% so với đọc trên giấy
do vậy lời văn dài dễ gây chán nản cho người đọc Phần văn viết không được chiếm quá30% của trang Slide Thông thường, các đoạn văn bản trên Slide là những nội dung côđọng nhất, có tính chất định hướng tiến trình dạy học và là những kết luận quan trọngcuối cùng Khi giảng dạy, người GV phải có những giải thích, lý giải thêm để giúp họcsinh có thêm những cứ liệu khoa học để có thể tự lực giải quyết vấn đề cần chiếm lĩnh[20]
Đưa các dạng dữ liệu khác nhau vào bài giảng: Máy vi tính có ưu điểm nổi trội so
với phương tiện dạy học truyền thống ở khả năng đưa các tư liệu như hình ảnh, âm thanh,
đồ thị, bảng biểu, video clip…làm tăng tính trực quan cho HS, gây hứng thú tạo động cơhọc tập và chiếm lĩnh tri thức của HS Trong những trường hợp như thí nghiệm thật khólàm hay làm được nhưng nguy hiểm, hay đối tượng mô tả là quá nhỏ hoặc quá lớn thì vaitrò của thí nghiệm ảo được phát huy một cách tối đa Tuy nhiên việc đưa các dạng dữ liệunày vào bài giảng sẽ làm tăng dung lượng của file trình diễn, tạo ra nhiều mối liên kếtcũng sẽ ít nhiều ảnh hưởng tới tính liên tục của bài giảng Điều này đòi hỏi GV chuẩn bịmột cách rất công phu, lựa chọn tư liệu một cách hợp lý phù hợp với nội dung giảng dạy
Sử dụng các siêu liên kết: Chức năng siêu liên kết cho phép kết nối bài giảng với
các trang thông tin hỗ trợ dưới dạng văn bản, bảng tính, đồ hoạ Khi kết nối vào Website
Trang 20trên internet thì bài giảng điện tử sẽ được mở rộng, sẽ khai thác được những ưu điểm củainternet trong dạy học.
GV xử lý, chuyển các tư liệu nội dung trên thành phần mềm dạy học trên máy vitính Trong trường hợp còn hạn chế về trình độ tin học thì bước này cần tham khảo thêmnhững người có trình độ tin học MVT là phương tiện hỗ trợ nên việc thiết kế trên máyphải đảm bảo các tiêu chí như đã trình bày ở trên
1.3.4 Xem xét, điều chỉnh, thể hiện thử (dạy thử)
Giai đoạn này GV cần kiểm tra lại toàn bộ chương trình, thử lại các tương táccùng các hiệu ứng Trong quá trình thiết kế với kịch bản đã có thì sẽ không tránh đựợcnhững thay đổi, bổ sung thông tin cho bài giảng do đó việc kiểm tra lần cuối các hiệuứng, các mối liên kết tới các file dữ liệu để đảm bảo khi trình diễn không có những saisót
Giáo viên nên tổ chức thử nghiệm với lớp học cụ thể, tiết học cụ thể Các tiết họcvới bài giảng điện tử này được thực hiện với điều kiện đã dự kiến cách sử dụng thíchhợp Việc đánh giá hiệu quả của các tiết học này sẽ là cơ sở quan trọng nhất để bổ sungthêm thông tin và sửa lại kịch bản hợp lý hơn
Trong trường hợp không có điều kiện dạy thử thì GV nên chạy thử trên MVT(chạy thử từng phần và toàn bộ các slide để điều chỉnh những sai sót có thể xẩy ra trongquá trình thiết kế)
Sau khi điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện lại lần cuối nên ghi vào một file trên đĩa
CD hoặc ổ cứng của máy vi tính
Ý đồ sư phạm của từng phần bài giảng, từng Slide, các đường link, các chú thíchtrong được thiết kế trên máy tính
Phương pháp giảng dạy, việc kết hợp với phương pháp khác, phương tiện khác(nếu có)
Phần việc của GV của HS, sự phối kết hợp của GV và HS
Trang 211.4 Sử dụng BGĐT trong dạy học vật lí ở trường THPT
Việc xây dựng bài giảng điện tử trên máy vi tính cho phép lưu trữ các bài giảngđiện tử theo từng năm học, theo từng khối lớp, phân loại và cập nhật sửa chữa, bổ sungmột cách linh động, nhanh gọn
Học sinh có thể thông qua quan sát, mô phỏng do máy tính tạo ra và được tiếp xúcvới thực tiễn đã được đơn giản hoá thông qua môi trường ảo trước khi làm việc với nhiềuđối tượng thật, tiết kiệm thời gian thực hiện của giáo viên, góp phần khắc phục nhữnghạn chế do thiếu thốn các thiết bị dạy học ở một số phần, môn như hiện nay
Sử dụng bài giảng điện tử hợp lý sẽ giúp học sinh quan sát được những đoạn phimthí nghiệm mà trên thực tế không thể quan sát trực tiếp được Như đối với hệ qui chiếu vĩ
mô, các quá trình vật lý biến đổi quá nhanh, quá chậm, hay đối với những thí nghiệm màtrên thực tế không thể làm được
Trong một số trường hợp giáo viên có thể dùng máy chiếu, bàn phím mà khôngcần đến bảng, phấn Bên cạnh đó sự phát triển của công nghệ thông tin giúp giáo viênmột nguồn tư liệu dồi dào, phong phú
BGĐT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập của học sinh, đòi hỏi giáoviên phải say mê tìm tòi vững vàng trong chuyên môn và dành nhiều thời gian thu thập
dữ liệu
Giáo viên phải cân nhắc khi soạn kịch bản không phải bài học nào cũng kịch bản
đó Ở đây khác với kịch bản phim Kịch bản dạy học là một trong những yếu tố quyếtđịnh đến thành công của quá trình dạy học
Tổ chức tình huống học tập với bài giảng điện tử:
Tổ chức tình huống học tập thực chất là tạo ra hoàn cảnh để học sinh tự ý thứcđược vấn đề cần giải quyết, có nhu cầu hứng thú giải quyết vấn đề, biết mình phải làm gìvới sự trợ giúp của máy vi tính
Cần thiết kế BGĐT thành chuỗi các tình huống học tập liên tiếp, được sắp xếptheo một trình tự hợp lý của sự phát triển vấn đề nghiên cứu, nhằm đưa học sinh tiến dầnđến từ chỗ chưa biết đến biết, từ biết không đầy đủ đến biết đầy đủ và nâng cao năng lực
tự giải quyết vấn đề của học sinh Hiện nay với sự hỗ trợ của máy vi tính qua nhữnghình ảnh thực tế, những đoạn phim thật, ảo nhằm trực quan hoá vấn đề cần nghiên cứu
Trang 22cho học sinh Nhờ đó giáo viên có thể dễ dàng làm nảy sinh tình huống học tập và họcsinh để nhận thức được vấn đề cần giải quyết.
Giáo viên sử dụng bài giảng điện tử mô tả hoàn cảnh cụ thể mà học sinh đã gặphoặc chưa gặp trong thực tế, có thể biểu diễn thí nghiệm, sử dụng các đoạn phim thật, ảo,các hình ảnh làm nảy sinh vấn đề nghiên cứu
Có thể giáo viên yêu cầu học sinh về nhà sưu tập, từ các tư liệu khác nhưinternet, sau đó tổ chức các nhóm cho học sinh báo cáo, mô tả, trong trường hợp nàybài giảng điện tử giúp học sinh dễ dàng mô tả hiện tượng, hoàn cảnh liên quan đến vấn đềnghiên cứu
Giáo viên sử dụng các đoạn phim, ảnh động, tĩnh yêu cầu học sinh dự đoán sơ bộhiện tượng xẩy ra dựa vào những tri thức và phương pháp đã học từ trước Bài giảng điện
tử trong trường hợp này sẽ giúp học sinh trực quan và dễ chuyển tải những hiểu biết củamình
1.5 Kết luận chương 1
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong chương 1 có thể được tóm tắt như sau:
Đề tài đã tiếp tục khẳng định tính khả thi của việc ứng dụng CNTT vào việc pháttriển các phương tiện dạy học vật lí hiện đại Ứng dụng CNTT vào dạy học đã góp phầnđổi mới phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp học của học sinh Nhằm pháthuy tính tích cực, tự lực trong học tập của học sinh Dạy học với sự hỗ trợ của CNTT đãtạo ra môi trường học tập có tính tương tác cao, sinh động và hấp dẫn
Đề tài đã tìm hiểu, bổ sung và hoàn thiện một số khái niệm mới như khái niệmBGĐT, Giáo trình điện tử, bài giảng trực tuyến Đặc biệt bước đầu xây dựng và hoànthiện các tiêu chí đánh giá BGĐT, đưa ra quy trình thiết kế BGĐT Những vấn đề nàycòn rất mới còn có nhiều ý kiến khác nhau và cần được tiếp tục bổ sung và hoàn thiệntrong quá trình ứng dụng vào thực tế
BGĐT được thực hiện trên phương tiện dạy học hiện đại làm tăng tính trực quan,sinh động, giúp học sinh có thể thu nhận tri thức từ nhiều kênh thông tin khác nhau
Thông qua việc tìm hiểu các GV trực tiếp dạy học để đánh giá thực trạng việc thiết
kế BGĐT theo hướng đổi mới PPDH ở các trường THPT trên địa bàn
Nghiên cứu việc tổ chức các tình huống học tập với BGĐT Cần thiết kế BGĐTthành chuỗi các tình huống liên tiếp, được sắp xếp theo một trình tự hợp lý của sự pháttriển vấn đề nghiên cứu
Trang 23Dạy học với BGĐT giúp giáo viên có thời gian khắc sâu tri thức, tăng cường dạyhọc theo hình thức hợp tác theo nhóm nhỏ, dạy học dự án Ngoài ra với sự kết nốiinternet giáo viên có thể cập nhật thông tin nhanh chóng đưa đến yếu tố hấp dẫn, mới lạtrong quá trình giảng dạy.
Chương 2 THIẾT KẾ BGĐT HỖ TRỢ DẠY HỌC CHƯƠNG “SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM”
Trang 24Theo đó, từ năm học 2008 -2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ triển khai trên phạm vi toànquốc CT-SGK lớp 12 mới THPT [15].
2.1 Vị trí - mục tiêu của chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12 Cơ bản
2.1.1 Quan điểm phát triển chương trình
Đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục THPT với quan điểm phát triển chương trìnhmôn vật lí như sau:
+ Các kiến thức được lựa chọn để đưa vào chương trình chủ yếu là những kiếnthức của Vật lí học cổ điển Đó là những kiến thức phổ thông và cơ bản, cần thiết choviệc nhận thức đúng các hiện tượng tự nhiên, cho cuộc sống hàng ngày và cho việc laođộng trong nhiều ngành kỹ thuật
Tuy nhiên, cần lựa chọn để đưa vào chương trình một số kiến thức của Vật lí họchiện đại liên quan tới nhiều dụng cụ và thiết bị kỹ thuật hiện đang được sử dụng phổ biếntrong cuộc sống và sản xuất
+ Nội dung kiến thức của chương trình môn Vật lí cần được trình bày một cáchtinh giản và thời lượng dành cho việc dạy và học môn này phải phù hợp với khả năng tiếpthu của học sinh
Khối lượng kiến thức và kỹ năng của mỗi tiết học cần được lựa chọn phù hợp vớiviệc thực hiện các nhiệm vụ của dạy học vật lí, đặc biệt là việc tổ chức các hoạt động họctập tích cực, tự lực và đa dạng của học sinh
+ Các kiến thức của chương trình Vật lí được cấu trúc theo hệ thống xoáy ốc,trong đó kiến thức của cùng một phân môn cần được lựa chọn và phân chia để dạy và học
ở nhiều lớp khác nhau nhưng đảm bảo không trùng lặp, mà luôn có sự kế thừa và pháttriển từ các lớp dưới lên các lớp trên, từ cấp học dưới lên cấp học trên và có sự phối hợpchặt chẽ với các môn học khác Ở lớp 6 và 7, các kiến thức được trình bày chủ yếu theocách khảo sát hiện tượng luận Từ lớp 8 trở lên, ngoài cách khảo sát hiện tượng luận, cáckiến thức còn được trình bày theo quan điểm năng lượng và theo cơ chế vi mô [15]
2.1.2 Vị trí - mục tiêu của chương “Sóng cơ và sóng âm” sách Vật lí 12 Cơ bản
Trong chương trình Vật lí 12 Cơ bản có 8 chương và 41 bài học, 4 bài đọc thêm,trong đó có 38 bài lý thuyết và 3 bài thực hành
Chương “Sóng cơ và sóng âm” mở đầu cho các kiến thức về “sóng” tiếp theo như:Sóng điện từ, sóng ánh sáng…
Trang 25Sơ đồ 2.1.Vị trí của chương “Sóng cơ và sóng âm” trong cấu trúc chương trình VLPTMục tiêu chính của chương:
Mục tiêu kiến thức:
+ Hiểu được các khái niệm, đại lượng đặc trưng của sóng
Khái niệm sóng cơ, sóng âm, siêu âm, hạ âmCác đặc trưng của sóng hình sin: Biên độ sóng, Chu kỳ (hoặc tần số) củasóng, Tốc độ truyền sóng, Bước sóng, Năng lượng sóng
Các đặc trưng của sóng âm: Tần số âm, Cường độ âm, mức cường độ âm,
đồ thị dao động của âm, Độ cao, độ to, âm sắc và mối liên hệ giữa các đặc trưng
+ Hiểu được hiện tượng giao thoa sóng và hiện tượng sóng dừng
2.2 Nội dung - cấu trúc lôgic của chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 Cơ bản
2.2.1 Nội dung - cấu trúc lôgíc của chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 Cơ bản
THPT CƠ L 10 NHIỆT L10 ĐIỆN TỪ L11
QUANG L11
SÓNGÁ
NH SÁNG
TỪ VI
MÔ ĐẾN
VĨ MÔ
SÓNG
CƠ VÀ SÓNG ÂM
Trang 26Chương “Sóng cơ và sóng âm” các kiến thức chủ yếu là kiến thức định tính Nộidung của chương rất cô đọng và trừu tượng Chương gồm hai nội dung chính:
Nội dung chính thứ nhất chủ yếu nghiên cứu về sóng cơ, các đặc trưng của sóng
cơ và hiện tượng giao thoa
Sơ đồ 2.2 Lôgíc nội dung chính thứ nhất
Nội dung chính thứ hai giới thiệu về Sóng âm
Sơ đồ 2.3 Lôgíc nội dung chính thứ hai
2.2.2 Chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 Cơ bản.
Năm học 2008- 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thay sách giáo khoa lớp
12 Bộ môn vật lí lớp 12 thực hiện theo hướng dẫn sau:
(áp dụng cho chương trình Cơ bản)
Âm thanh Siêu
trưng Vật lý
Đặc trưng sinh lý
Hạ
âm
Trang 27- Nêu được cường độ âm và mức cường độ
âm là gì, đơn vị đo mức cường độ âm
- Nêu được ví dụ minh họa cho khái niệm
âm sắc Trình bày được sơ lược về âm cơbản, các họa âm
- Nêu được các đặc trưng sinh lí (độ cao,
độ to, âm sắc) và các đặc trưng vật lí (tần
số, mức cường độ âm và các họa âm) củaâm
- Mô tả được hiện tượng giao thoa của haisóng mặt nước và nêu được các điều kiện
để có sự giao thoa của hai sóng
- Mô tả được hiện tượng sóng dừng trênmột sợi dây và nêu được điều kiện để cósóng dừng khi đó
- Nêu được tác dụng của hộp cộng hưởngâm
Kĩ năng
- Viết được phương trình sóng
- Giải được bài toán đơn giản về giao thoa
I
I dB
Không yêu cầu HSdùng phương trìnhsóng để giải thích hiệntượng sóng dừng
Trang 282.3 Tìm hiểu thực tế việc thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ dạy học chương “Sóng cơ
và sóng âm” Vật lí 12 Cơ bản
2.3.1 Nội dung tìm hiểu
* Tìm hiểu về mức độ quan tâm của GV về vấn đề thiết kế và sử dụng bài giảngđiện tử trong dạy học nói chung
* Tìm hiểu về mức độ quan tâm của GV Vật lí về vấn đề sử dụng CNTT trong dạyhọc
* Tìm hiểu thực tế dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12 Cơ bản
* Tìm hiểu những khó khăn khi dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” bằngphương pháp dạy học truyền thống
* Một số đề xuất nguyên nhân của những khó khăn khi dạy học bằng phương pháptruyền thống từ đó làm cơ sở để thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ dạy học chương “Sóng
cơ và sóng âm ”
2.3.2 Phương pháp tìm hiểu
Điều tra, tìm hiểu thông tin từ các giáo viên đứng lớp qua các hình thức như : traođổi trực tiếp, dự giờ, phiếu thăm dò ý kiến
2.3.3 Kết quả điều tra tìm hiểu
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài bằng các phương pháp như dùngphiếu trắc nghiệm và trao đổi trực tiếp với một số GV ở các trường lân cận trong địa bàntĩnh Nghệ An kết quả cho thấy tình trạng như sau :
* Tổng số phiếu phát ra : 72 , Tổng số phiếu thu vào : 72
* Số trường điều tra tìm hiểu : 8 trường THPT
Hà Huy Tập, Lê Viết Thuật, Lê Quý Đôn, Nguyễn Trường Tộ, Quỳ Hợp I, DTNTQuế Phong, DTNT Kỳ Sơn, DTNT Tỉnh
* Số giáo viên trực tiếp tìm hiểu là 12 người ở một số trường Nghệ An
* Số giáo viên được dự giờ : 4
Phiếu số 1 :
KHI HỌC CÁC BÀI HỌC THUỘC CHƯƠNG “SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM”HỌC SINH THƯỜNG GẶP PHẢI MỘT SỐ KHÓ KHĂN SAU
( Đề nghị quý thầy(cô) đánh dấu (x) chọn nếu thầy(cô) cho là phù hợp)
Các khó khăn Số giáo viên chọn
Trang 29Khó hình thành khái niệm Sóng cơ, sóng ngang, sóng
dọc
30
Sự lan truyền của sóng cơ 65
Khả năng tưởng tượng không gian bị hạn chế, sóng
Sự lan truyền của sóng âm, môi trường truyền sóng âm 63
Vân dụng phương trình sóng để tìm các điểm cực đại,
cực tiểu trong vân giao thoa
60
Nguyên nhân của những khó khăn trênNguyên nhân Số GV chọnNội dung chương trình học quá nặng 40
Phương pháp dạy học chưa phù hợp 68
Không có điều kiện làm thí nghiệm (gần như không thể
thực hiện được một thí nghiệm nào)
71
Học sinh không thực sự tập trung học 7
Phiếu số 2 : ĐIỀU TRA VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG CNTT VÀO THIẾT KẾ BÀI
DẠY HỌC
(Đề nghị quý thầy (cô) vui lòng đánh dấu (x) vào ô nội dung mà quý thầy (cô) cho là phù
hợp)
Câu 1 : Hiện nay việc sử dụng CNTT vào dạy học ở trường
Thầy (cô) là :
rất phổ biếnbình thườngphổ biếnkhông chú trọng
Câu 1 :
9/7250/7212/721/72
Trang 30Câu 2 : Mức độ quan tâm của GV về việc sử dụng máy vi
tính trong dạy học
rất hứng thú
có quan tâmkhông quan tâmbình thườngCâu 3 : Trong khi thiết kế BGĐT khó khăn Thầy (cô)
thế nào ?
Thường xuyênThỉnh thoảngKhông quan tâmKhông biếtCâu 5 : Ngoài việc soạn giảng trên máy vi tính Thầy (cô)
có biết sử dụng các thiết bị khác như : camera, máy ảnh kỉ
thuật số, máy chiếu projecter, máy scane
thành thạokhông biếtbiết không nhiềutuyệt đối khôngCâu 6 : Ngoài việc sử dụng phần mềm Powerpoint để thiết
kế BGĐT Thầy (cô) còn có thể sử dụng được phần mềm :
photoshop, videostudio, macromedia, album 3-D, không ?
thành thạokhông thành thạokhông biết
không
Câu 2 :
15/7251/720/726/72Câu 3 :
0/725/7240/7227/72Câu 4 :
22/7245/725/720/72Câu 5 :
16/7230/7221/725/72Câu 6 :
12/7240/7214/726/72
Trang 31Câu 7 : Khi dạy học với BGĐT Thầy (cô) có sử dụng thêm
bảng phụ và phấn viết không ?
Hoàn toàn không
Có, nhưng không thường xuyên
Sử dụng đồng thời
Ý kiến khácCâu 8 : Thầy (cô) thường sử dụng BGĐT trong dạy học
vào thời điểm nào ?
Đặt vấn đềTrong quá trình giải quyết vấn đềTổng kết bài học
Cả ba ý kiến trênCâu 9 : Các đề xuất của Thầy (cô) với cấp có thẩm quyền
về việc tăng cường sử dụng máy vi tính vào dạy học :
Tổ chức các đợt tập huấn cho GV về sử
dụng MVT
Mua sắm xây dựng bổ sung thêm các cơ
sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu
Hỗ trợ giáo viên thêm về chế độ (kinh phí
4/72
68/72Câu 9 :
15/7220/72
37/72Câu 10 :
Căn cứ vào kết quả điều tra tìm hiểu ở trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau :Tình hình ứng dụng CNTT vào dạy học bước đầu triển khai trên phạm vi rộng,giáo viên hăng hái thi đua soạn giảng trên máy vi tính, đặc biệt là các tiết dạy khó, cónhiều thí nghiệm nguy hiểm hoặc diễn ra trong các môi trường lý tưởng, các tiết dạy thaogiảng
Đa số GV đều quan tâm đến việc ứng dụng máy vi tính trong dạy học hiện naynhưng vẫn chưa mạnh dạn thiết kế các bài học cụ thể của chính mình GV còn chưa yêntâm vào kết quả thu được qua cách dạy với sự hỗ trợ của BGĐT với các phương pháp dạyhọc truyền thống
Trang 32Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số giáo viên ngại khó hoặc hiểu sai về BGĐT haymột số khác quá lạm dụng BGĐT, áp dụng một cách tràn lan, bài học nào cũng đưa họcsinh lên phòng máy chiếu dẫn tới một số bộ phận học sinh “sợ” học với BGĐT.
Đối với chương “Sóng cơ và sóng âm” vật lí 12 Cơ bản phần lớn các giáo viên vẫnđang sử dụng phương pháp thuyết giảng thông thường, nguyên nhân của vấn đề này:
- Chương trình SGK vừa ban hành vào giữa tháng 8/2008 nên việc tìm tòi tư liệu,thiết bị thí nghiệm để đưa vào bài giảng gặp không ít khó khăn
- Chương trình mới, quan điểm tiếp cận mới và khả năng tìm kiếm tư liệu hạn chếdẫn tới đại đa số chưa kịp triển khai, thiết kế được các bài học một cách hiệu quả
- Nội dung chương trình, một số kiến thức của chương rất cô đọng và trừu tượngnên việc mô phỏng, xây dựng các thí nghiệm ảo đòi hỏi nhiều thời gian và trình độ tinhọc của GV
- Thiết bị thí nghiệm rất hiếm
2.3.4 Nguyên nhân của những khó khăn và hướng khắc phục
* Những khó khăn
Thông qua trao đổi trực tiếp với một số GV có kinh nghiệm giảng dạy thìsóng cơ, sự truyền sóng cơ, sóng âm, họa âm… là những khái niệm trừu tượng HS tươngđối khó hiểu, khó vận dụng để giải thích các hiện tượng, các tình huống liên quan
Đối tượng nghiên cứu quá nhỏ, tốc độ biến thiên nhanh nên HS đa phầnchấp nhận nhớ công thức, kết quả
Do điều kiện khách quan : cơ sở vật chất, phòng thực hành, thời gian họctập,…và đặc biệt hầu như rất ít các thiết bị thí nghiệm nên hạn chế tính tích cực, tự lực,khả năng trực quan của học sinh trong học tập
* Nguyên nhân của những khó khăn
GV sử dụng phương pháp dạy học chưa phù hợp Quá trình soạn giảngchưa đầu tư đúng mức, một số ngại đổi mới phương pháp
Nội dung chương trình vật lí 12 Cơ bản hiện nay khá nặng trong khi đó thờilượng cho mỗi tiết học vẫn không đổi
Đối với HS, một bộ phận không nhỏ chịu ảnh hưởng của cách học thụđộng Nhiều vấn đề, câu hỏi của GV đặt ra trong giờ học HS biết nhưng không tham giatích cực trả lời
* Đề xuất hướng khắc phục
Trang 33GV nên sưu tầm các tư liệu hình ảnh, phim thí nghiệm, thí nghiệm môphỏng…nhằm thiết kế các BGĐT hỗ trợ các phương pháp dạy học truyền thống
GV và HS trao đổi thêm thông tin, kiến thức qua thư điện tử, tạo sự tươngtác hai chiều, giúp HS nắm vững kiến thức hơn
GV có thể thiết kế trang Web nhằm củng cố kiến thức, cung cấp thêm thông tin, thông qua trang Web rèn luyện khả năng tự học của HS Thông qua liên kết vớicác trang Web khác, GV hướng dẫn HS khai thác thông tin trên mạng internet
2.4 Tiến trình dạy học từng bài cụ thể của chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí
12 Cơ bản
2.4.1 BÀI SÓNG CƠ VÀ SỰ TRUYỀN SÓNG CƠ
I MỤC TIÊU
1 Kiến thức:
- Phát biểu được định nghĩa của sóng cơ
- Phát biểu được định nghĩa các khái niệm liên quan với sóng: sóng dọc, sóng ngang,tốc độ truyền sóng, tần số, chu kì, bước sóng, pha
- Nêu được các đặc trưng của sóng là biên độ, chu kì hay tần số, bước sóng và nănglượng sóng
2 Kĩ năng:
- Viết được phương trình sóng
- Giải được các bài tập đơn giản về sóng cơ
- Tự làm được thí nghiệm về sự truyền sóng trên một sợi dây
3 Thái độ:
- Yêu thích môn học, nghiêm túc trong học tập
- Hào hứng trong các tiết học có sử dụng CNTT, tích cực xây dựng bài
II CHUẨN BỊ
1 Giáo viên: Các thí nghiệm, hình ảnh mô tả về sóng ngang, sóng dọc và sự truyền
của sóng
Trang 342 Học sinh: Ôn lại các bài về dao động điều hoà.
III HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1 Ổn định tổ chức:
2 Kiểm tra bài cũ:
3 Bài mới
Hoạt động 1 ( phút): Tìm hiểu về sóng cơ
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Trình chiếu
- Mô tả thí nghiệm và
tiến hành thí nghiệm
(kích chuột vào liên kết
với thí nghiệm 1)
- Khi O dao động ta trông
thấy gì trên mặt nước?
Điều đó chứng tỏ gì?
(Dao động lan truyền qua
nước gọi là sóng, nước là
môi trường truyền sóng)
Thí nghiệm 2: Quan sát
- HS quan sát kết quả thínghiệm
Thí nghiệm sóng nước
M
S O
Trang 35 Sóng truyền theo cácphương khác nhau vớicùng một tốc độ v.
Trên lò xo cũng có sónglan truyền
Suy nghĩ và trả lời
Hoạt động 2 ( phút): Tìm hiểu về sự truyền sóng cơ.
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Trình chiếu