1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo nghề ở trường cao đẳng kỹ thuật lý tự trọng thành phố hồ chí minh

131 846 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Quản Lý Hoạt Động Kết Hợp Giữa Nhà Trường Và Doanh Nghiệp Trong Công Tác Đào Tạo Nghề Ở Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Lý Tự Trọng Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Ngọc Phương
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Văn Tứ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Quản Lý Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 8,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KẾT HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KẾT HỢP

GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP

TRONG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO

Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG

TH ÀNH PHÔ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số : 60.14.01.14

Người thực hiện: NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN VĂN TỨ

NGHỆ AN – THÁNG 7 NĂM 2012

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tạo điều kiện của Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh và Trường Đại học Sài gòn trong thời gian học tập và nghiên cứu chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục, khóa XVIII; xin cám ơn sự tận tình trong giảng dạy của các Thầy cô giáo và sự tổ chức sắp xếp, chu đáo, khoa học của Khoa sau Đại học trường Đại học Vinh trong khóa học

Qua thời gian làm luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sự tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn của PGS TS Nguyễn Văn Tứ

Tôi cũng xin cám ơn Ban Giám Hiệu cũng như các đồng nghiệp đang công tác tại trường Cao đẳng kỹ thuật Lý Tự Trọng - Tp Hồ Chí Minh, Ban Giám Đốc của các doanh nghiệp đã động viên, giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình làm luận văn

Xin cám ơn sự động viên và chia sẻ của gia đình trong thời gian qua Chắc rằng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự nhận xét đánh giá, góp ý của Hội đồng khoa học, để bản thân hoàn chỉnh và cũng cố thêm các vấn đề mà mình nghiên cứu trong thời gian tới.

Xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Ngọc Phương

Trang 3

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Giả thuyết khoa học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

6 Phương pháp nghiên cứu

7 Đóng góp mới của luận văn

8 Cấu trúc luận văn

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc kết hợp giữa nhà trường và

doanh nghiệp trong đào tạo nghề

10

1.2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.3 Cơ sở khoa học của việc kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường

và doanh nghiệp

1.4 Một số nội dung cơ bản về việc kết hợp giữa nhà trường và

doanh nghiệp trong trong đào tạo nghề hiện nay

1.5 Một số kinh nghiệm về kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường

và doanh nghiệp sản xuất trên thế giới

Chương 2 Thực trạng hoạt động kết hợp giữa nhà trường và

doanh nghiệp trong đào tạo nghề ở Trường CĐKT Lý Tự

Trọng TP.HCM

32

2.1 Thực trạng họat động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp

trong đào tạo nghề ở Việt Nam

2.2 Thực trạng hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp

trong công tác đào tạo nghề Trường CĐKT Lý Tự Trọng TP.HCM

2.3 Đánh giá chung về thực trạng hoạt động kết hợp đào tạo nghề giữa

trường và Doanh nghiệp sản xuất

Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà

trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo tại trường

CĐKT Lý Tự Trọng Tp.HCM

95

3.1 Những vấn đề chung

3.2 Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường và

doanh nghiệp trong việc đào tạo nghề tại trường CĐKT Lý Tự Trọng

Trang 4

3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp

3.4 Thăm dò về tính cấp thiết, tính khả thi của các giải pháp đề xuất

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 Bộ GD và ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

3 Bộ LĐ-TB và XH Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

5 CĐSPKT Cao đẳng sư phạm kỹ thuật

7 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

13 HS SV Học sinh, sinh viên

16 THCN Trung học chuyên nghiệp

17 VINAS Hệ thống Kiểm định Việt Nam

(Vietnam Accreditation System)

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, đào tạo nghề ở nước ta đã có nhiều nỗ lực đổi mới

và phát triển phù hợp với chủ trương “đổi mới căn bản và toàn diện, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy

và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lí giáo dục, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu xã hội” của Đảng và chính sách của Nhà nước nhằm gắn đào

tạo nghề với thị trường, với doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu về chất lượngngày càng cao của thực tiễn Hiện nay, trong bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế,

xu thế hội nhập quốc tế và khu vực, đào tạo nghề cần phải không ngừng đổimới hơn nữa nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội Song, bên cạnh những cơ hộiphát triển và những kết quả đã đạt được, đào tạo nghề đang đứng trước nhiềuthách thức, bộc lộ những hạn chế nhất định như: chất lượng, hiệu quả đào tạonghề còn thấp, bất cập và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước; các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo hạn chế; đào tạo chưagắn với sử dụng; tình trạng thất nghiệp gây lãng phí cho nhà nước và xã hội cònkhá phổ biến Những bất cập đó đang được đặt ra bức bách, cần phải có hệthống giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để giải quyết

Theo kinh nghiệm đào tạo nghề của các nước trên thế giới và UNESCO,một trong các hướng để giải quyết vấn đề nói trên là thực hiện phương thức kếthợp đào tạo nghề tại trường và doanh nghiệp sản xuất (DNSX)

Trên thế giới, ở nhiều nước đã nghiên cứu, áp dụng việc đào tạo kết hợptại trường và DNSX Ở CHLB Đức, việc đào tạo kết hợp tại trường và DNSX làloại hình cơ bản và được áp dụng rộng rãi Điển hình là mô hình đào tạo képhay còn gọi là đào tạo song tuyến Ở Cộng hòa Pháp, đã áp dụng việc đào tạo

kết hợp tại trường và DNSX Điển hình là mô hình đào tạo “luân phiên” của Viện IFABTP (Viện đào tạo “luân phiên” về xây dựng và công trình công cộng) Tại Ôxtrâylia, hệ thống MAATS - Hệ thống đào tạo và học việc hiện đại Ôxtrâylia (Modern Australian Apprenticeship and Training System) Cũng như

Trang 7

các nước đang phát triển ở khu vực Mỹ - Latinh, vấn đề kết hợp đào tạo nghềtại trường và DNSX đã từng bước được nghiên cứu và thực hiện ở các nước

châu Á Ở Trung Quốc, quán triệt quan điểm “Ba kết hợp” (đào tạo, sản xuất và

dịch vụ) trong đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay Ở đô-nê-xia, mô hình kết hợp đào tạo nghề có tên gọi là Pendidican Sistem Ganda

In Hệ thống đào tạo song hành In In đôIn nêIn xia, "hệ thống kết hợp" (Link and

Match System) Ở Thái Lan, Chính phủ Thái Lan đã nghiên cứu và xây dựng "

Hệ thống hợp tác đào tạo nghề " (Cooperative Training System) Ở Ấn Độ, kết hợp điển hình được thể hiện ở việc Chính phủ đã thực hiện " Dự án Đường tròn Chất lượng " (Quality Circle Project)

Ở Việt Nam, việc kết hợp đào tạo tại trường và DNSX từng bước đượcnghiên cứu ở những phương diện khác nhau Sau đây là một số điển hình đángquan tâm

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tồn tại loại hình trường phổ thông học

nghề được tổ chức tập trung lại thành "trại sản xuất " [3].

Cho đến nay, đã có những công trình nghiên cứu, bài báo viết liên quan

hoặc đề cập trực tiếp về việc kết hợp đào tạo tại trường và DNSX: "Các giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa trường Trung học Kỹ thuật xây dựng

Hà Nội với các đơn vị sản xuất", "Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng ".

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về việc kết hợp đào tạo tại trường

và DNSX chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện, thiếu các giải pháp hữu hiệu, khả thi

để kết hợp đào tạo nghề trong thực tiễn

Trên thực tế, đã có một số hoạt động kết hợp đào tạo nghề, nhưng còn ởmức độ rời rạc, đơn phương

Trường Cao đẳng Kỹ thuật (CĐKT) Lý Tự Trọng Tp Hồ Chí Minh làmột trong những cơ sở đào tạo nghề có uy tín ở TP Hồ Chí Minh và khu vựcphụ cận Trong quá hoạt động, nhà trường đã không ngừng nâng cao quy mô vàchất lượng, hiệu quả đào tạo, đóng góp quan trọng trong việc cung cấp nhân lựccho sự nghiệp phát triển KT-XH Tuy nhiên, cũng như các cơ sở giáo dục ĐH-

Trang 8

CĐ và dạy nghề khác, việc liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, việc đàotạo theo nhu cầu xã hội của Trường CĐKT Lý Tự Trọng Tp Hồ Chí Minh trongthời gian qua vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập Vì vậy, tiếp tục nghiên cứuhoàn thiện phương thức kết hợp đào tạo, xây dựng các giải pháp phù hợp, khảthi để thực hiện việc kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường và DNSX trong thựctiễn của trường CĐKT Lý Tự Trọng Tp Hồ Chí Minh là vấn đề rất cần thiết gópphần nâng cao chất lượng đào tạo của trường nói riêng và chất lượng đào tạonghề nói chung trong giai đoạn hiện nay, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài nghiên

cøu: “Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh

nghiệp trong công tác đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng Thành phố Hồ Chí Minh”

-2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường vàdoanh nghiệp nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trườngCĐKT Lý Tự Trọng – TP Hồ Chí Minh

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình kết hợp nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề tạitrường CĐKT Lý Tự Trọng - TP Hồ Chí Minh

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các giải pháp quản lý hoạt động kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường vàdoanh nghiệp ở trường CĐKT Lý Tự Trọng - TP Hồ Chí Minh

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung nghiên cứu là hoạt động kết hợp đào tạo nghề kỹ thuật

giữa nhà trường và DNSX cùng ngành (tập trung vào xây dựng các giải phápquản lý thực hiện phương thức kết hợp đào tạo)

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được các giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường

và DNSX một cách phù hợp, khả thi, sẽ nâng cao chất lượng đào tạo nghề ởTrường CĐKT Lý Tự Trọng – Tp Hồ Chí Minh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 9

- Tìm hiểu cơ sở lý luận kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường và doanhnghiệp

- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc kết hợp đào tạo nghề giữa nhàtrường và doanh nghiệp ở Trường CĐKT Lý Tự Trọng

- Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động kết hợp đào tạo nghề giữa nhàtrường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo tại Trường CĐKT Lý Tự Trọng– TP Hồ Chí Minh

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các nhóm phươngpháp chủ yếu sau đây:

Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu các văn kiện,

tài liệu, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cụcdạy nghề về lý luận giáo dục và đào tạo nghề, các chủ trương về đào tạo nghề,đánh giá về kết hợp đào tạo nghề Phân tích tổng hợp các tài liệu trong và ngoàinước về lý luận giáo dục và đào tạo nghề, các hình thức tổ chức đào tạo nghề,phương thức kết hợp đào tạo nghề ở Việt Nam và trên thế giới

Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp điều tra để

điều tra, thu thập thông tin về thực trạng đào tạo nghề và kết hợp đào tạo nghềtại trường và DNSX, đánh giá làm cơ sở để đề xuất phương thức kết hợp và xâydựng các giải pháp thực hiện, thăm dò về tính khả thi và hiệu quả của các giảipháp quản lí đã đề xuất; phương pháp chuyên gia: trao đổi, tham khảo ý kiến,thăm dò về thực trạng đào tạo nghề, chất lượng đào tạo nghề, kết hợp đào tạonghề, tính khả thi và hợp lý của phương thức đề xuất và các giải pháp thực hiệnkết hợp đào tạo nghề; phương pháp thực nghiệm: so sánh, chứng minh tính hiệuquả, tính khả thi của việc áp dụng các giải pháp đã xây dựng để thực hiệnphương thức kết hợp đào tạo nghề đã đề xuất

Các phương pháp hỗ trợ khác: thống kê toán học, phương pháp hội đồng,

phương pháp đo đạc xử lý kết quả…

7 Đóng góp mới của luận văn

- Góp phần tổng quan, hệ thống hóa lý thuyết, xây dựng các cơ sở khoahọc của việc kết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX

Trang 10

- Đánh giá thực trạng kết hợp đào tạo nghề giữa Trường CĐKT Lý TựTrọng và DNSX nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề.

- Xây dựng các giải pháp quản lí hoạt động kết hợp đào tạo nghề tạiTrường CĐKT Lý Tự Trọng và DNSX nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghềtrong giai đoạn hiện nay

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụlục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của hoạt động kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường và doanh nghiệp

Chương 2 Thực trạng hoạt động kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường và doanh nghiệp tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng – TP Hồ Chí Minh.

Chương 3 Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo tại Trường Cao đẳng

Kỹ thuật Lý Tự Trọng - TP Hồ Chí Minh.

Trang 11

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG KẾT HỢP

ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, học đi đôi với hành, lý luận gắnliền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội, là triết lý giáo dục, là nguyên

lý cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa

Bàn về giáo dục XHCN, C Mác đã viết: “Những điều khoản của định luật công xưởng, nói chung trong toàn bộ, đối với việc giáo dục, tuy có vẻ ít ỏi thật, nhưng cũng đã tuyên bố được rằng trẻ em bắt buộc phải có trình độ sơ học mới làm được Thành công của những điều khoản đó đã chứng tỏ một cách thực tiễn: lần đầu tiên cho ta thấy rằng có thể kết hợp giáo dục và thể dục với lao động chân tay và ngược lại" (C Mác, Tư bản, Nxb Sự thật, 1960, tr 229-

231)

V I Lênin cho rằng: “Người ta không thể hình dung lý tưởng của xã hội tương lai nếu không có sự kết hợp giáo dục với lao động sản xuất của thế hệ trẻ: Giáo dục không có lao động sản xuất hay lao động sản xuất mà không có giáo dục đi đôi thì không thể đạt tới trình độ cao mà trình độ kỹ thuật hiện đại

và tình hình tri thức đòi hỏi" (Lênin, Bàn về giáo dục quốc dân, Matxcơva

1957, tr 24-25)

Ở nước ta, nguyên lý này được khẳng định trong các Nghị quyết Trungương Đảng, các văn bản chỉ đạo phát triển giáo dục – đào tạo của Nhà nước,Chính phủ, ngành, các địa phương Đây cũng là một nội dung quan trọngtrong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo

Tại Đại hội Văn hóa toàn quốc tháng 7 năm 1948, đồng chí Trường

Chinh đã khẳng định: “Biết và làm đi đôi, lý luận và hành động kết hợp " (Trường Chinh, Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt Nam, Hội Văn nghệ

Việt Nam, 1949, tr.65 - 66)

Trang 12

Cuộc cải cách giáo dục năm 1950 đã quán triệt nguyên lý kết hợp giáodục với lao động sản xuất Nguyên lý ấy được thể hiện trong nội dung vàphương pháp giảng dạy; đặc biệt là các môn khoa học có liên hệ với sản xuất Nguyên lý này được tiếp tục phát triển, cụ thể hóa trong quan điểm, chủtrương, nội dung, phương pháp của cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 (năm 1956), cảicách giáo dục lần thứ 3 (năm 1980) và công cuộc đổi mới giáo dục – đào tạo từ saunăm 1986 …

Luật Giáo dục năm 2005 (bổ sung, sửa đổi năm 2009) đã ghi rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội”.

Tiếp tục phát triển tư tưởng trên, Nghị quyết TƯ 6 (khóa IX) về giáo dục nhấn

mạnh: "Giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội " Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã chỉ rõ: ”Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, đồng thời chú trọng đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt đối với người bị thu hồi đất; nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo (Văn kiện, tr.217)

Nguyên lý này được thể chế hóa trong các văn bản pháp quy về đào tạonghề của Việt Nam Điều 9, Chương III, Quy chế trường nghề nhà nước (banhành kèm theo quyết định số 382/QĐ ngày 27/2/1993 của bộ trưởng Bộ Giáo

dục và Đào tạo) ghi: “Quá trình giáo dục và đào tạo phải quán triệt nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”.

Vấn đề kết hợp đào tạo tại trường và DNSX được nghiên cứu ở nhữngmức độ, với các hình thức tổ chức khác nhau, tùy theo những điều kiện, quanđiểm ở từng vùng, lãnh thổ và khu vực

Trên thế giới, ở nhiều nước đã nghiên cứu, áp dụng kết hợp đào tạo tạitrường và DNSX

Trang 13

Ở CHLB Đức, kết hợp đào tạo tại trường và DNSX được coi là loại hìnhđào tạo cơ bản và được áp dụng rộng rãi trong toàn quốc Điển hình là mô hình

Dual System thường được dịch là “đào tạo kép” Đây là loại hình đào tạo cơ

bản, có nhiều ưu điểm nổi trội trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạonghề và được nghiên cứu áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, môhình này cũng có một số nhược điểm đang được các nhà giáo dục CHLB Đứcnghiên cứu khắc phục và hoàn thiện Nếu áp dụng nguyên mẫu, cứng nhắc vàođào tạo nghề ở nước ta sẽ gặp những khó khăn nhất định và có thể không cótính khả thi Việc kết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX đã từng bước đượcnghiên cứu ở châu Á

Ở Trung Quốc, quán triệt quan điểm “Ba kết hợp” (Đào tạo, sản xuất và dịch vụ) Các trường dạy nghề gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch

vụ Kết hợp đào tạo phong phú và đa dạng góp phần đáng kể vào việc nâng caochất lượng đào tạo nghề

Ở Thái Lan, một trong những mục tiêu chiến lược của kế hoạch phát triểnquốc gia lần thứ 8 (1997 - 2001) và lần thứ 9 (2002 - 2006) của Thái Lan tậptrung vào phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế năng động Thực tế đàotạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu nguồn lao động kỹ thuật Để có nhân lực

kỹ thuật phục vụ tại các doanh nghiệp sản xuất, họ đã tổ chức đào tạo tại xưởngsản xuất của mình Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế trước mắt trong thờigian đến năm 1998 Đến năm 1999, Chính phủ Thái Lan đã nghiên cứu và xây

dựng "Hệ thống hợp tác đào tạo nghề " (Cooperative Training System) để giải

quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng nói trên và hướng tới pháttriển nhân lực kỹ thuật trong tương lai [36]

Ở Việt Nam, vấn đề kết hợp đào tạo tại trường và DNSX được từng bướcđược nghiên cứu ở những phương diện khác nhau

Trên thực tế, kết hợp này đã được đề cập từ những năm 60 Nhằm đápứng yêu cầu về lực lượng thanh niên vừa có trình độ văn hóa, có trình độ kỹthuật để phục vụ cho công cuộc cải cách ở nông thôn, loại hình trường phổthông học nghề được tổ chức Đặc điểm đặc trưng là dạy kiến thức văn hóa cơ

Trang 14

bản và những kiến thức kỹ thuật sơ cấp, rèn luyện trong lao động sản xuất đểhọc sinh có thể tham gia lao động ở các xí nghiệp Về hình thức tổ chức: tậptrung lại thành trại sản xuất Tuy nhiên, do những khó khăn nhất định nên loạihình này tồn tại không lâu.

Cho đến nay, đã có những công trình nghiên cứu, các bài báo khoa họcliên quan hoặc đề cập trực tiếp về vấn đề kết hợp đào tạo tại trường và DNSX

Điển hình là đề tài: "Các giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữa trường Trung học Kỹ thuật xây dựng Hà Nội với các đơn vị sản xuất" do Trường Trung

học Kỹ thuật xây dựng Hà Nội thực hiện Trong đề tài này, tác giả đã phân tích

mô hình đào tạo kép ở CHLB Đức, mô hình đào tạo " luân phiên " (Alternation)

ở Pháp và đưa ra một số giải pháp trong việc kết hợp đào tạo giữa trường Trunghọc Kỹ thuật xây dựng Hà Nội với các đơn vị sản xuất Tuy nhiên, đề tài chưa

có điều kiện để phân tích các vấn đề như: các cơ sở khoa học của kết hợp đàotạo nghề, chưa nêu được mô hình kết hợp đào tạo nghề ở các nước châu Á như:Trung Quốc, Thái Lan, mà tập trung vào mô hình đào tạo luân phiên của Việnđào tạo luân phiên về xây dựng và các công trình công cộng (IFABTP) ở Cộng

hòa Pháp Giải pháp đề ra chủ yếu tập trung vào " quan hệ giữa nhà trường và đơn vị sản xuất ", chưa đi sâu vào vấn đề kết hợp đào tạo.

Luận án tiến sỹ: “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH” của tác giả Phan Chính Thức

đã phân tích và đưa ra vấn đề "Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất" là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo.

Song, do hướng nghiên cứu của đề tài nên tác giả chưa phân tích các cơ sở khoahọc, chỉ đề cập tới cách thức tiến hành tăng cường quan hệ của nhà trường vớicác đơn vị sản xuất một cách đơn phương, chưa đề cập phương thức kết hợpđào tạo tổng quát ở Việt Nam, chưa đưa ra các giải pháp đồng bộ để thực hiệnkết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX (do nhiệm vụ đề tài là tập trung giảiquyết các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ởThủ đô Hà Nội, nên không đi sâu vào giải quyết lý luận và thực tiễn kết hợpđào tạo nghề)

Trang 15

Đề tài nghiên cứu khoa học: "Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng" [34] Đề tài đã

nêu lên kinh nghiệm trên thế giới về gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệthống dạy nghề Điển hình là hệ đào tạo kép của Đức và hình thức đào tạo luânphiên ở Pháp, đưa ra một số mô hình tổ chức đào tạo nghề cơ bản, và đưa ramột số giải pháp để gắn đào tạo và sử dụng (trong đó có một số ý tưởng kết hợpđào tạo nghề tại trường và doanh nghiệp) Tuy nhiên, do hướng nghiên cứu của

đề tài không tập trung vào kết hợp đào tạo nghề nên chưa đề cập tới các cơ sởkhoa học của kết hợp đào tạo nghề mà tập trung giải quyết các mối quan hệ

giữa nhà trường và doanh nghiệp Trong đó, có cả quan hệ về "liên kết đào tạo",

chưa đi nghiên cứu sâu, cụ thể vấn đề kết hợp đào tạo nghề và các giải pháp đểkết hợp đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay

Đề tài nghiên cứu khoa học: "Xây dựng mô hình liên kết dạy nghề giữa nhà trường và doanh nghiệp ".[2] Đây là đề tài nghiên cứu điển hình tập trung nhất vào "mô hình liên kết " giữa nhà trường và doanh nghiệp trong giai đoạn

hiện nay Đề tài đã giải quyết được những vấn đề cơ bản đáng quan tâm liênquan đến kết hợp đào tạo nghề như: cơ sở thực tiễn để xây dựng mô hình liênkết, đánh giá các mô hình liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đề xuất các

mô hình liên kết khả thi, đề xuất một số giải pháp chung thực hiện mô hình liênkết Tuy nhiên, do giới hạn về điều kiện thời gian nên đề tài chưa đi sâu vàonghiên cứu nội dung các thành tố kết hợp, các cơ sở khoa học luận, các giảipháp đề xuất cần được bổ sung và cụ thể hơn Nên đề xuất phương thức kết hợptổng quát hơn trong mối quan hệ biện chứng và trạng thái động, linh hoạt nhằmđạt mục tiêu cao nhất

Như vậy, kết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX là vấn đề quan trọng,bức thiết nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, cần thiết phảinghiên cứu, hoàn thiện và áp dụng vào đào tạo các ngành nghề khác nhau trênph¹m vi vïng, miÒn vµ quèc gia Tuy nhiên, vấn đề này mới chỉ nghiên cứu ởmức độ vĩ mô, những nguyên tắc, định hướng chung, chưa đi vào những cơ sở,đơn vị với những đặc trưng cụ thể Với Trường CĐKT Lý Tự Trọng cũng nằm

Trang 16

trong tình trạng chung đó Vì vậy, nghiên cứu đề tài này không chỉ góp phầngiải quyết một vấn đề vướng mắc trong hoạt động đào tạo nghề của TrườngCĐKT Lý Tự Trọng nói riêng mà còn góp một tiếng nói chung trong việc nângcao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam hiện nay.

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Quản lí là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể,

là sự tác động của chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thểcon người, nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tập thể, tổ chức

hệ thống giáo dục

Mục tiêu quản lí giáo dục: là trạng thái được xác định tại một thời điểm

trong tương lai của hệ thống quản lí giáo dục bao gồm của cả đối tượng quản líhay bộ phận cấu thành của hệ thống

Các chức năng của quản lí giáo dục: các chức năng quản lí giáo dục

bao gồm như sau: Kế hoạch hóa, Tổ chức thực hiện kế hoạch, Chỉ đạo, Kiểmtra

Các nguyên tắc quản lí giáo dục: là những quy định cơ bản, phổ biến,

những quy tắc cơ bản áp dụng cho toàn bộ hệ thống quản lí giáo dục nhằm đảmbảo mục đích quản lí giáo dục để đạt mục tiêu giáo dục đã định Hệ thống cácnguyên tắc quản lí giáo dục có thể bao gồm: nguyên tắc chính trị, nguyên tắcpháp chế, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc kết hợp nhà nước và xã hội,nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích, nguyên tắc kết hợp các phương phápquản lý, nguyên tắc hiệu quả - thiết thực, nguyên tắc kết hợp quản lí theo ngành

và theo lãnh thổ

Trang 17

Các phương pháp quản lí giáo dục: phương pháp quản lí giáo dục là các

cách thức, con đường mà chủ thể quản lí tác động đến đối tượng quản lí nhằm đạtđược mục đích quản lí để đạt mục tiêu nhất định của hệ thống giáo dục

1.2.3 Nhà trường

Trong khuôn khổ luận văn này, để thuận tiện trong việc diễn đạt, kháiniệm nhà trường/ trường là danh từ chung, được sử dụng để chỉ cơ sở giáo dục -đào tạo thuộc hệ thống giáo dục Việt Nam hiện hành Các cơ sở đào tạo nghềgồm: trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề (được quy định trong Điều 36,khoản 1, mục b, Luật Giáo dục, 2005)

1.2.4 Doanh nghiệp

Khái niệm này được dùng để chỉ các đơn vị kinh doanh sản xuất sử dụngnguồn nhân lực kỹ thuật (qua đào tạo nghề) mà các cơ sở đào tạo nghề cungcấp, là doanh nghiệp công nghiệp xét về lĩnh vực hoạt động, chủ yếu là cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, xét về quy mô, là doanh nghiệp tư nhân, nhà nướchay liên doanh xét theo quan hệ pháp lí

1.2.5 Hoạt động kết hợp đào tạo nghề

Để đi tới quan niệm về kết hợp đào tạo nghề, cần tìm hiểu khái niệm đào tạonghề, phương thức được sử dụng trong khuôn khổ giải quyết vấn đề của luận án Đào tạo nghề được hiểu là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực (chú trọng năng lực thực hành) và các phẩm chất tương xứng với trình độ đào tạo: sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề

theo quy định của Luật Giáo dục và Luật Dạy nghề

Hoạt động được hiểu là một quá trình vận hành của một hiện tương tựnhiên, xã hội của con người với những mục tiêu, nội dung, phương pháp cụ thểtrong một điều kiện cụ thể nào đó Như vậy, hoạt động kết hợp là nội dung,cách thức để thực hiện sự liên kết giữa các đối tượng nào đó nhằm đạt đượcmục tiêu đã đề ra

Kết hợp là khái niệm được giải thích với nhiều nghĩa trong các từ điểntrong và ngoài nước Song, chung quy lại, các từ điển tiếng Việt giải thích rằng

Trang 18

khái niệm kết hợp có hai nghĩa: liên hiệp lại để làm một việc nào đó; làm hai

hay nhiều việc trong một thời gian

Phương thức kết hợp đào tạo được dùng trong luận văn với nghĩa là cáchthức, con đường kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp Trong phạm vinghiên cứu của luận văn, trên phương diện quản lí giáo dục và đào tạo, kháiniệm kết hợp đào tạo nghề được hiểu như sau: Kết hợp đào tạo nghề tại trường

và DNSX là phương thức đào tạo nghề trên cơ sở hợp tác, tích hợp chức năng,tiến hành tại trường và DNSX Trong đó, trường giữ vai trò chủ đạo, DNSXđịnh hướng mục tiêu, hỗ trợ quá trình đào tạo và kiểm soát chất lượng

1.2.6 Chất lượng đào tạo nghề

Hiện nay có nhiều định nghĩa, cách hiểu về chất lượng với những cáchtiếp cận khác nhau Khái niệm này cũng thay đổi theo sự phát triển của lịch sử

xã hội

Chất lượng: Theo ISO 9000 (năm 2000), định nghĩa chất lượng như sau:

Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc trưng vốn có đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm Trong phạm vi luận

văn này, khái niệm chất lượng được hiểu theo ISO 9000 (năm 2000)

Chất lượng đào tạo Cẩm nang Kiểm định chất lượng, Dự án Giáo dục

kỹ thuật và Dạy nghề Quốc gia, Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động - Thương

binh và Xã hội, năm 2002, ghi rằng " Chất lượng giáo dục là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng " Trong phạm vi của luận văn này, tác giả quan niệm rằng: Chất lượng đào tạo là đạt được mục tiêu đào tạo và đáp ứng yêu cầu của khách hàng (chủ yếu là các tổ chức, người sử dụng lao động)

Như vậy, để nâng cao chất lượng cần giải quyết đồng thời hai vấn đề sau:

- Nâng cao mức độ đạt được so với mục tiêu, các chuẩn (tri thức, kỹnăng, thái độ) đề ra trong đào tạo

- Nâng cao mức độ đạt được so với yêu cầu đặt ra của tổ chức, người sửdụng lao động Trong đó, DNSX là khách hàng được quan tâm hàng đầu

Trang 19

Tuy nhiên, hai vấn đề trên không tách rời nhau mà có phần chung cốt lõi.Trong thực tiễn, xét dưới phương diện vi mô, yêu cầu của khách hàng có thể trùng vớimục tiêu đào tạo, có thể có những thay đổi riêng cho phù hợp với yêu cầu sản xuất

Các yếu tố tác động, đảm bảo chất lượng đào tạo nghề: Các yếu tố đảm

bảo chất lượng đào tạo nghề bao gồm các yếu tố cơ bản cấu thành hệ thống quátrình đào tạo nghề: mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo; tổ chức và quản líquá trình đào tạo; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí; tuyển sinh - việc làm; cơ

sở vật chất - tài chính phục vụ đào tạo; kiểm tra - đánh giá và cấp văn bằng tốtnghiệp

1.2.7 Giải pháp

Theo từ điển Tiếng Việt, giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn đề

cụ thể nào đó Như vậy nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác độngnhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhấtđịnh Tựu chung lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng thíchhợp, càng tối ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt

ra Tuy nhiên để có được những giải pháp như vậy cần phải dựa trên những cơ

sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy

Giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệptrong công tác đào tạo nghề chính là những cách thức tác động vào mối quan hệgiữa hai đơn vị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề, đáp ứng đượcmục tiêu đào tạo và sản xuất của cả nhà trường và doanh nghiệp

1.3 Cơ sở nền tảng của hoạt động kết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX

Kết hợp nhà trường và doanh nghiệp sản xuất để thực hiện đào tạo nghềcho học sinh là xu thế của phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH đấtnước Hoạt động kết hợp đào tạo nói trên dựa trên một số nền tảng có tính chất

lý luận sau đây:

1.3.1 Cơ sở triết học

Theo phép biện chứng duy vật Mác - Lênin, các sự vật hiện tượng trongthế giới không có cái nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể

Trang 20

thống nhất, trong đó các sự vật, hiện tượng tồn tại bằng cách tác động lẫn nhau,ràng buộc nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau Như vậy, trong sự tồn tạiphát triển của kinh tế xã hội, cơ sở đào tạo nghề và các DNSX luôn luôn tácđộng lẫn nhau, ràng buộc nhau, quy định nhau

Để có sản phẩm qua đào tạo có chất lượng phục vụ sản xuất, DNSX phảiđặt ra yêu cầu, định hướng chất lượng của đội ngũ CNKT, mục tiêu cho đào tạonghề Để kiểm soát đảm bảo việc đào tạo nghề cung cấp sản phẩm đúng yêucầu, DNSX cần tham gia phát triển nội dung chương trình đào tạo, tham gia vàoquá trình đào tạo và đánh giá kết quả đào tạo

Mặt khác, DNSX được thụ hưởng kết quả đào tạo thì cần phải hỗ trợ cácnguồn lực cho đào tạo nghề

1.3.2 Cơ sở kinh tế học

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã hình thànhthị trường lao động kỹ thuật Trong đó, cung cấp sản phẩm lao động kỹ thuật(CNKT) là các cơ sở đào tạo - yếu tố cung Khách hàng là học sinh, người sửdụng sản phẩm đào tạo nghề, chủ yếu doanh nghiệp sản xuất sử dụng lao động

kỹ thuật (sau đây gọi chung là khách hàng) - yếu tố cầu

Cầu là số lượng hàng hóa mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ởcác mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định

Cung là số lượng hàng hóa mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong thời gian nhất định.

Trang 21

Nhiệm vụ của đào tạo nghề, đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sảnxuất có năng lực thực hành tương xứng với trình độ đào tạo Vì vậy, dạy họcsản xuất đóng vai trò cốt yếu trong chương trình đào tạo, quyết định cơ bản việcnắm vững kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp Nội dung dạy học thực tập sản xuấtphải xây dựng từ yêu cầu phát triển của sản xuất Nội dung dạy học sản xuấtđược thể hiện bằng các chương trình giảng dạy Nói chung, cấu trúc chươngtrình dạy thực tập sản xuất cơ bản như ở bảng sau.

Bảng 1 Cấu trúc chương trình dạy thực tập sản xuất.

T

Hình thức tổ chức

1 Làm quen với các loại hoạt động và

các thao tác làm việc

Xưởng thực tập tạitrường và xưởng củađơn vị sản xuất

Lớp

2 Học sinh thực hiện các nguyên

công cơ bản và tổ hợp nguyên

công

Xưởng thực tập tạitrường

1.3.4 Cơ sở quản lý chất lượng giáo dục

Quản lí giáo dục và quản lí trường học bao gồm nhiều thành phần, trong

đó quản lí chất lượng giáo dục và đào tạo luôn được quan tâm hàng đầu do chấtlượng là mục tiêu của quản lí, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển củagiáo dục và đào tạo nói chung, của cơ sở đào tạo nói riêng Hiện nay phươngthức quản lí chất lượng chủ đạo là: quản lí chất lượng tổng thể Quản lí chất

Trang 22

lượng tổng thể có 5 yếu tố cơ bản: giao tiếp; giao thoa văn hóa; quản lí tập thểtham gia; tập trung vào khách hàng và cải tiến liên tục.

Vì vậy, áp dụng quản lí chất lượng tổng thể vào đào tạo nghề đòi hỏi hợp

tác chặt chẽ với khách hàng và kết quả đó tác động nâng cao chất lượng đào

tạo Điều này dẫn tới việc hình thành vấn đề kết hợp đào tạo nghề tại trường vàDNSX

1.4 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường và DNSX

1.4.1 Mục tiêu của hoạt động kết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX Mục tiêu của việc kết hợp đào tạo nghề gồm: mục tiêu chiến lược, mục

tiêu cạnh tranh và mục tiêu nội tại

Mục tiêu chiến lược: giải quyết tốt hơn vấn đề cung - cầu nhân lực kỹ thuật,

góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và giảm lãng phí xã hội trong đào tạo nghề

Mục tiêu cạnh tranh: tác động đến sự phát triển của các bên hợp tác, nâng

cao lợi thế cạnh tranh hơn các cơ sở khác

Mục tiêu nội tại:

Đối với cơ sở đào tạo nghề có một số mục tiêu như nâng cao chất lượng

và hiệu quả đào tạo nghề; tăng cường các nguồn lực cho đào tạo nghề; truyềnđạt kinh nghiệm việc làm, sản xuất thực tiễn, kỷ luật lao động, tác phong côngnghiệp cho người học ngay trong quá trình đào tạo nghề; cập nhật công nghệsản xuất tiên tiến trong đào tạo nghề, giải quyết việc làm tốt hơn cho học sinhtốt nghiệp; hoạch định kế hoạch chiến lược có hiệu quả hơn; liên tục cải tiến nộidung, chương trình giảng dạy cho phù hợp với thực tiễn yêu cầu của thị trườnglao động kỹ thuật

Đối với DNSX có một số mục tiêu sau: có cơ hội tham gia định hướng mụctiêu đào tạo; chủ động hơn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ laođộng kỹ thuật; có cơ hội tuyển chọn được đội ngũ lao động kỹ thuật đảm bảo chấtlượng theo yêu cầu của DNSX, giá thành đào tạo rẻ hơn; DNSX có điều kiện đào tạolại để đổi mới và nâng cao trình độ cho công nhân khi có nhu cầu

Trang 23

1.4.2 Nguyên lý của hoạt động kết hợp đào tạo tại trường và DNSX.

Kết hợp đào tạo tại trường và DNSX được thiết lập dựa trên cơ sở sau:

Đào tạo nghề là một hệ thống con cấu thành trong hệ thống kinh tế - xã hội.Đào tạo nghề phải được kế hoạch hóa trong kế hoạch tổng thể phát triển của nềnkinh tế - xã hội, được cả xã hội có trách nhiệm Đào tạo nghề có nhiệm vụ phục vụ,đáp ứng các yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với nhu cầu thực tiễnthông qua việc cung cấp đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề đáp ứng yêu cầu pháttriển của nền sản xuất công nghiệp, đặc biệt là các DNSX

Ngược lại, nhà nước và xã hội đặc biệt là DNSX, giới sản xuất sử dụngsản phẩm đào tạo nghề có quyền và trách nhiệm trở lại với sự phát triển của đàotạo nghề Trách nhiệm được thể hiện cụ thể ở những định hướng cơ bản, đưa racác yêu cầu về quy mô và chất lượng, mục tiêu nội dung chương trình đào tạo, hỗtrợ các nguồn lực, tham gia quá trình đào tạo và kiểm soát chất lượng đào tạo

1.4.3 Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động kết hợp đào tạo tại trường và DNSX.

Kết hợp đào tạo tại trường và DNSX phải dựa trên một số nguyên tắc nhấtđịnh: nâng cao chất lượng đào tạo nghề; theo hướng yêu cầu của DNSX và thịtrường lao động kỹ thuật; đảm bảo sự công bằng và sở hữu trong đào tạo nghề;tăng cường quản lí và chịu trách nhiệm của DNSX đối với đào tạo nghề; làm chogiá thành đào tạo rẻ hơn

1.4.4 Các phương pháp tổ chức hoạt động kết hợp đào tạo nghề

Một số phương pháp chung:

Với cách tiếp cận về kết hợp đào tạo nghề theo các nội dung, có thể phânchia ra các phương pháp kết hợp cục bộ (một số nội dung) và kết hợp toàn phần(tất cả các nội dung); theo tuần tự thời gian kết hợp đào tạo theo từng khóa đàotạo, các phương pháp kết hợp có thể được phân thành kết hợp liên tục và kết hợpgián đoạn; theo chủ thể kết hợp, có thể phân chia thành các phương pháp kết hợpsong phương và kết hợp đa phương; theo thời gian kết hợp giữa các chủ thể, cóthể chia ra các phương pháp kết hợp dài hạn (định kỳ hằng năm) và kết hợp ngắnhạn (theo từng khóa học); phương pháp kết hợp tập trung hoặc phân tán

Trang 24

Các phương pháp kết hợp phân theo các nội dung kết hợp: phương pháp

kết hợp tuyển sinh và việc làm; phương pháp kết hợp phát triển chương trìnhđào tạo; phương pháp kết hợp tuyển sinh, việc làm và tài chính; phương phápkết hợp CSVC, trang thiết bị; phương pháp kết hợp tuyển sinh, việc làm, pháttriển chương trình và các nguồn lực; phương pháp kết hợp tuyển sinh, việc làm,phát triển chương trình, các nguồn lực và tham gia quá trình đào tạo

Gåm c¸c bíc sau:

Sơ đồ 2 Quy trình kết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX.

1.4.7 Các nội dung cơ bản trong hoạt động kết hợp đào tạo tại trường

và DNSX nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề.

1.4.7.1 Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo

Xác định mục tiêu.

Đánh giá chất lượng và Kiểm định chất lượng đào tạo.

Phát triển chương trình đào tạo

Lập kế hoạch kết hợp đào tạo

Đánh giá kết hợp đào tạo.

Thực hiện kết hợp đào tạo

Bố trí các nguồn lực

Trang 25

Khi thực hiện kết hợp đào tạo thì mục tiêu, nội dung, chương trình đượcxây dựng sát hơn với yêu cầu thực tiễn của những người sử dụng lao động, củagiới sản xuất công nghiệp - nơi mà HS - SV tốt nghiệp sẽ làm việc Đây là bướcđổi mới trong đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng Đào tạo những cái

mà xã hội cần, chứ không phải đào tạo những cái mà mình có

Tuy nhiên, khi xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo phảiđảm bảo các yếu tố: đảm bảo sự quản lí, điều phối và sử dụng của nhà nước;yêu cầu thực tiễn của sản xuất, thị trường lao động kỹ thuật

Việc xây dựng mục tiêu, nội dung, chương trình sát hơn với yêu cầu thựctiễn của nền sản xuất hiện đại làm cho chất lượng đào tạo nghề được đánh giá làcao hơn

1.4.7.2 Tổ chức thực hiện đào tạo

Khi tiến hành thực hiện kết hợp đào tạo nghề, cả hai phía (DNSX và cơ

sở đào tạo) đều có quyền và trách nhiệm tham gia tổ chức và quản lí quá trìnhđào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Trường có vai trò chủ động và chủđạo, DNSX tham gia với vai trò hỗ trợ và kiểm soát quá trình đào tạo

Tóm lại: Kết hợp đào tạo nghề tăng cường các điều kiện đảm bảo chấtlượng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề Nghiên cứu, hoàn thiện loạihình nói trên và áp dụng vào thực tiễn đào tạo nghề là việc làm thiết yếu, bứcbách ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

1.4.7.3 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

Đội ngũ giáo viên là yếu tố cơ bản có tính chất quyết định sự đảm bảo vànâng cao chất lượng đào tạo Đội ngũ giáo viên trong các trường đào tạo nghềgồm: giáo viên giảng dạy lý thuyết và giáo viên hướng dẫn thực hành (thựchành cơ bản và thực tập sản xuất)

Đa số đội ngũ giáo viên ở các cơ sở đào tạo nghề được đào tạo cơ bản,đạt chuẩn theo quy định của nhà nước đề ra Song, kinh nghiệm sản xuất trựctiếp và việc làm thì chưa bằng những người thợ bậc cao, cán bộ kỹ thuật tại các

cơ sở sản xuất

Trang 26

Khi tiến hành kết hợp đào tạo (theo phương thức nói trên), đội ngũ giáoviên cho đào tạo nghề được tăng lên về quy mô và chất lượng, đặc biệt là độingũ giáo viên hướng dẫn thực hành.

Đội ngũ quản lí đào tạo ở các cơ sở đào tạo là giáo viên được cử làm lãnhđạo ở cấp trường, phòng, khoa, bộ môn

Khi tiến hành kết hợp đào tạo, đội ngũ cán bộ quản lí được bổ sung từphía DNSX Đội ngũ này rất hữu ích cho việc tổ chức, quản lí quá trình đào tạonghề Đặc biệt là các khâu tuyển sinh, thực tập sản xuất, việc làm, tham gia pháttriển chương trình đào tạo sát với yêu cầu thực tiễn sản xuất

Như vậy có thể khẳng định: Khi tiến hành kết hợp đào tạo (theo phương

thức nói trên), đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí được tăng thêm về số lượng

và chất lượng

= &

1.4.7.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo

Cơ sở vật chất (trường, xưởng, ) là một trong những yếu tố cơ bản đảmbảo chất lượng đào tạo nghề Nếu thiếu cơ sở vật chất thì không thể tiến hànhđào tạo nghề có chất lượng

Tiêu chuẩn đánh giá theo mô hình chất lượng ILO 500 cho 125 điểm /tổng 500 điểm để đánh giá về CSVC, thiết bị, thư viện Trong khi đó, điểmdành cho đánh giá đội ngũ giáo viên là: 85 điểm / 500 điểm

Khi tiến hành kết hợp đào tạo thì CSVC phục vụ đào tạo sẽ tăng lên:khuôn viên, nhà xưởng, thiết bị

Trang thiết bị đào tạo nghề (thiết bị dùng chung và thiết bị chuyên môn)

là tất cả các chủng loại thiết bị, trang bị, mô hình học cụ, đồ dùng, phương tiệndạy học dùng cho dạy lý thuyết và thực hành tại cơ sở đào tạo nghề

Đội ngũ giáo viên

& Cán bộ quản lí

(Kết hợp đào tạo)

Đội ngũ giáo viên

& Cán bộ quản lí(Cơ sở đào tạo)

Đội ngũ Cán bộ

kỹ thuật và quản lí(DNSX tham gia)

Trang 27

Thiết bị dạy học có thể được phân loại như sau: thiết bị phục vụ giảngdạy lý thuyết; thiết bị phục vụ hướng dẫn thực hành cơ bản; thiết bị phục vụthực tập sản xuất.

Đặc thù cơ bản của thiết bị dạy học phục vụ đào tạo nghề vừa là phương tiện giảng dạy, vừa là đối tượng của nhận thức.

Trang thiết bị đào tạo nghề hiện nay thiếu về số lượng, kém về chấtlượng và lạc hậu Trong khi đó, mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo đòi hỏiphải không ngừng đổi mới đáp ứng nền sản xuất hiện đại, tiên tiến

Để giải quyết tình trạng khó khăn về thiết bị nói trên, một trong các giảipháp cơ bản, khả thi là kết hợp đào tạo với DNSX

Khi kết hợp đào tạo với DNSX, thiết bị phục vụ đào tạo nghề được cậpnhật, tăng lên về số lượng, chất lượng cũng được cải thiện Đồng thời, đưa HS -

SV tiếp cận với thực tế thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại đang vận hànhtrong thực tiễn

Đây là một trong những giải pháp tỏ ra rất được quan tâm trong tìnhtrạng hiện nay

CSVC - thiết bị = CSVC - thiết bị & CSVC - thiết bị

(Kết hợp đào tạoK) (Trường) (DNSX đóng góp)

1.4.7.5 Tài chính, cơ chế chính sách phục vụ đào tạo

Tài chính phục vụ đào tạo nghề gồm ngân sách nhà nước, học phí, cácnguồn thu và hỗ trợ khác

Tài chính cho đào tạo nghề ở các trường hiện nay chủ yếu là ngân sáchnhà nước cấp Ngân sách nhà nước cấp rất hạn chế và ở mức thấp so với khuvực và quốc tế Đây là vấn đề quan trọng trong việc thực hiện đảm bảo và nângcao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước

Khi tiến hành kết hợp đào tạo, DNSX sẽ đầu tư và đóng góp một phần tài chínhcho đào tạo đội ngũ công nhân (mà họ sẽ sử dụng) để phát triển nguồn nhân lực

Việc DNSX đầu tư cho các cơ sở đào tạo nghề đã được quy định và thực

tế đã tiến hành ở nhiều nước trên thế giới Đặc biệt là các nước có nền côngnghiệp phát triển

Trang 28

Ở Việt Nam, có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu đề nghị về việcDNSX phải đầu tư cho cơ sở đào tạo ra đội ngũ nhân lực mà họ sử dụng Nhưngnhà nước vẫn chưa có chính sách - cơ chế đủ mạnh để DNSX thực hiện vấn đềnói trên.

Tóm lại: Thực hiện kết hợp đào tạo sẽ làm tăng nguồn tài lực cho đào tạo

nghề Đây cũng chính là giải pháp hữu ích, huy động nguồn lực cho đào tạo,thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước

Tài chính = Tài Chính & Tài Chính

(Kết hợp đào tạo) (Trường) (DNSX đóng góp)

1.4.7.6 Đánh giá - công nhận tốt nghiệp

Đánh giá kết quả học tập của HS - SV là khâu cơ bản, quan trọng trongcông tác đánh giá kết quả đào tạo

Kết quả đánh giá nói trên là kết quả của quá trình đào tạo, là thước đotrình độ của HSSV, là cơ sở để cấp văn bằng chứng chỉ

Tuy nhiên, hiện còn tồn tại một số vấn đề đặt ra là: Tiêu chuẩn đánh giánhư thế nào? Nội dung, phương pháp đánh giá? Sự công nhận kết quả của xã

hội (đánh giá ngoài)? Thực tế đã xẩy ra tình trạng “mặt bằng " đánh giá chưa

đồng nhất Hội thảo khoa học về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinhviên, Trường ĐHSP Kỹ thuật Vinh, năm 2004 cho thấy:

Còn tình trạng một trường đào tạo nghề cùng đào tạo cho các lớp học ởcác tỉnh khác nhau Các lớp này có cùng trình độ, chương trình đào tạo, phươngpháp đánh giá như nhau Nhưng mặt bằng kết quả lại khác nhau

Tiêu chuẩn đánh giá còn chậm đổi mới Vẫn còn tình trạng áp dụng tiêuchuẩn nghề của những năm 60 để kiểm tra kỹ năng thực hành hiện nay

Mặc dù những tình trạng bất cập nói trên không phải là phổ quát, nhưngđứng về phương diện quản lí, phải suy nghĩ, tìm ra lời giải hữu hiệu để nângcao chất lượng đào tạo nghề

Thực hiện kết hợp đào tạo nghề, sẽ có ảnh hưởng tích cực, là một trongcác giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá Cụ thể: mục tiêu đánh giá sẽ sáthơn với yêu cầu của nền sản xuất hiện đại; chuẩn đánh giá sẽ được cải tiến sát

Trang 29

hơn với yêu cầu của DNSX; tiến tới cân bằng giữa đánh giá trong và đánh giángoài; việc đánh giá sẽ khách quan hơn; kết quả đánh giá và công nhận tốtnghiệp được các DNSX công nhận.

= &

1.4.7.7 Tuyển sinh và giới thiệu, bố trí việc làm

Công tác tuyển sinh của các cơ sở đào tạo nghề thường gặp khó khăn hơncác trường đại học do nhiều lý do khác nhau Trong đó có một số nguyên nhânchủ yếu như: nhận thức xã hội về nghề lao động kỹ thuật (công nhân kỹ thuật)còn hạn chế, đặc biệt là phụ huynh, học sinh; phân luồng học sinh còn yếu,công tác hướng nghiệp bất cập nên số lượng học sinh vào học học nghề thấp;một số học sinh vào học nghề không theo nguyện vọng của bản thân

Đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới hiện nay - phát triển kinh tế thị trường

có sự điều tiết của nhà nước, nếu cơ sở đào tạo nghề không chủ động, sáng tạođổi mới công tác tuyển sinh thì sẽ gặp những khó khăn nhất định Điều này gâyảnh hưởng xấu đến việc đảm bảo, nâng cao chất lượng đào tạo nghề đáp ứngyêu cầu về nguồn nhân lực kỹ thuật

Thực hiện việc kết hợp đào tạo nghề sẽ góp phần giải quyết những khókhăn nói trên

Các cơ sở DNSX sẽ trợ giúp trong công tác tuyển sinh, chọn được đúng ngườihọc nghề theo nguyện vọng, năng lực cá nhân (tăng thêm số lượng đầu vào)

Việc làm cho học sinh tốt nghiệp là vấn đề quan trọng, trăn trở của khôngnhững Ngành giáo dục mà của toàn xã hội, đặc biệt là bản thân học sinh

Kết hợp đào tạo nghề theo mô hình nói trên sẽ góp phần giải quyết tìnhtrạng khó khăn nói trên Sản phẩm đào tạo sẽ có địa chỉ sử dụng, đáp ứng nhu

cầu của thị trường lao động (Xem sơ đồ sau)

Đại diện Doanhnghiệpđánh giá,công nhậntốt nghiệp

Trang 30

Đào tạo, Tuyển Thị trường

đào tạo lại, dụng

bồi dưỡng LĐKT

Tuyển sinh Tốt nghiệp

Sơ đồ: 3 Tuyển sinh và việc làm theo phương thức kết hợp đào tạo nghề.

1.5 Một số kinh nghiệm về kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường và DNSX trên thế giới

1.5.1 Phân loại các phương thức đào tạo nghề

Cho đến nay, có nhiều cách phân loại các phương thức đào tạo nghề khácnhau theo các căn cứ, tiêu chí khác nhau như: căn cứ theo vai trò quản lí củanhà nước về đào tạo nghề, căn cứ theo quy mô đào tạo, căn cứ theo cấp độ kếthợp đào tạo, căn cứ theo tuần tự kết hợp đào tạo, căn cứ theo địa điểm đào tạo,căn cứ theo tổ chức đào tạo Sau đây là một số cách phân chia phổ biến của một

số nhà nghiên cứu về tổ chức đào tạo nghề trong và ngoài nước:

Hegelhemer (CHLB Đức) nghiên cứu các phương thức đào tạo nghề ở 7

nước châu Âu và đưa ra 3 loại cơ bản gồm: đào tạo theo hệ thống kép, đào tạotại trường, đào tạo theo hệ thống hỗn hợp

Nhà nghiên cứu đào tạo nghề người Đức Zedler cho rằng đào tạo nghề có

4 phương thức cơ bản, gồm: đào tạo theo hệ thống kép, đào tạo tại trường, đàotạo theo hệ thống hỗn hợp, đào tạo tại nơi làm việc

Wolf Dietrich Grienert (CHLB Đức) cho rằng nên chỉ chia ra 3 dạng cơ bản là: đào tạo nghề theo mô hình thị trường (Market Model), đào tạo nghề theo

DNSX

Cơ sở đào tạo

Trang 31

mô hình hành chính (Bureaucratic Model), đào tạo nghề theo mô hình thị trường do nhà nước kiểm soát (Government Controlled Market).

1.5.2 Một số phương thức kết hợp đào tạo nghề trên thế giới

Phương thức kết hợp đào tạo điển hình tại Đức Tên gọi theo tiếng

Đức là “ Duales System” (Hệ thống Song hành, Hệ thống kép, Hệ thống Đôi)

Về việc xây dựng mục tiêu nội dung chương trình: chương trình đào tạo lýthuyết được các Bang xây dựng theo căn cứ vào chương trình khung thống nhấttoàn liên bang (các Bộ trưởng Văn hóa, Khoa học và Giáo dục các Bang họp lại

để thống nhất chương trình khung theo định kỳ 5 năm /lần), gồm ba khối kiếnthức: các môn giáo dục đại cương, các môn kỹ thuật cơ sở, các môn chuyênngành Chương trình đào tạo thực hành do các Hiệp hội Nghề, Phòng Côngnghiệp xây dựng căn cứ theo chương trình khung thống nhất toàn liên bang, cóđịnh hướng theo yêu cầu phát triển công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp

Cơ sở vật chất sư phạm - trang thiết bị thực hành: đào tạo được tiến hành

cả ở trường dạy nghề và DNSX, nên cơ sở vật chất - trang thiết bị đào tạo gồm

cả của nhà trường và của DNSX đóng góp, luôn đáp ứng yêu cầu, cập nhậtcông nghệ mới, rút ngắn thời gian học việc (học lý thuyết tại trường, thực hànhtại doanh nghiệp)

Cán bộ giáo viên (CBGV) gồm cả CBGV của trường và cán bộ kỹ thuậtcủa DNSX tham gia đào tạo Trong đó, CBGV nhà trường dạy các môn lýthuyết, cán bộ kỹ thuật (biên chế của DNSX, không do ngành GD & ĐT quảnlí) dạy thực hành

Về mặt tài chính: ngoài các nguồn tài chính của trường, DNSX đóng gópmột khoản hỗ trợ (ở CHLB Đức chi phí cho đào tạo nghề 25.000 DM / HS/năm Hằng năm các xí nghiệp chi hơn 30 tỷ DM cho đào tạo nghề (gấp khoảng

173 lần tổng NSNN cấp cho ĐTN ở Việt Nam năm 2003)

Đánh giá tốt nghiệp: Theo nhà giáo dục người Đức Waterkamp, kết quảbài thi thực hành mới quyết định việc tốt nghiệp, còn bài thi lý thuyết chỉ có giátrị tham khảo Các phòng Công nghiệp có trách nhiệm ra đề thi thực hành

Trang 32

Vấn đề việc làm của học sinh sau khi tốt nghiệp: đa số có việc làm tại cácDNSX theo hợp đồng đào tạo.

Hiện nay, hệ thống đào tạo kép ở Đức đang phải đối mặt với những tháchthức, khó khăn như: cán bộ kỹ thuật ở các DNSX ngày càng cho rằng họ khôngphải vào DNSX để giảng dạy; khó khăn khi học sinh bắt đầu thực tập sản xuất

vì không qua thực hành cơ bản, việc chuyển đổi nghề khó khăn, học sinh không

có điều kiện học lên cao nữa theo yêu cầu của phát triển kỹ thuật - công nghệtrên toàn thế giới Những khó khăn này cũng là khó khăn điển hình chung chocác nước trên thế giới khi áp dụng phương thức đào tạo này vào đào tạo nghề.Tuy nhiên, ưu điểm nổi trội của phương thức này vẫn được UNESCO đánh giácao và định hướng cho các nước tiến hành cải tiến để áp dụng vào đào tạo nghề

Phương thức kết hợp đào tạo điển hình ở In -đô-nê-xia.

Phương thức này có tên gọi tiếng Anh là " Link and Match System" (L&M); tạm dịch là " Hệ thống kết hợp In -đô-nê-xia" Bối cảnh ra đời như sau:

Một số nét đáng quan tâm của L & M là: tiến hành đào tạo đồng thời tổchức bởi trường dạy nghề và DNSX công nghiệp; mục tiêu là đào tạo ra đội ngũlao động chất lượng cao theo yêu cầu của sản xuất công nghiệp, nâng cao hiệuquả của đào tạo nghề, coi kinh nghiệm việc làm như là một cấu phần của quátrình đào tạo; các thành tố của hệ kết hợp gồm trang thiết bị, phát triển chươngtrình, giáo viên giảng dạy; về địa điểm học tập, dạy - học lý các môn lý thuyếttại trường, thực hành tại trường hoặc tại công ty, dạy học thực tập sản xuất tạicông ty; hội đồng đánh giá gồm trường và đại diện công ty

Trên đây là một số kinh nghiệm về kết hợp đào tạo điển hình của một số nước trênthế giới Những hình thức tổ chức đó có giá trị khoa học thực tiễn cao cho việc nghiêncứu và vận dụng những ưu điểm vào hoàn cảnh nước ta Tuy nhiên, việc áp dụng vàođào tạo nghề ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cần phải sáng tạo, đưa ra một phươngthức kết hợp vừa tổng quát mang tính khoa học cao, vừa linh hoạt phù hợp với từngđiều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay

Kết luận chương 1

Trang 33

Trong chương này, luận văn đã nêu tổng quan về vấn đề nghiên cứu; làm

rõ các khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài; sơ lược về quản lí; phân tích các

cơ sở khoa học của kết hợp đào tạo nghề; nêu ra một số lý luận về kết hợp đào tạonghề tại trường và DNSX; những tiêu chí và những yêu cầu, nội dung cơ bản củahoạt động kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường và doanh nghiệp; những tác độngtích cực của kết hợp đào tạo tới việc tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng,nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề; tổng hợp một số kinh nghiệm kếthợp đào tạo nghề tại trường và DNSX và phân tích một số phương thức kết hợpđào tạo nghề điển hình trên thế giới

Đó chính là những cơ sở lý luận để chúng tôi làm căn cứ di vào khảo sát,đánh giá thực trạng hoạt động kết hợp đào tạo nghề hiện nay cũng như đề xuất cácgiải pháp có hiệu quả trong lĩnh vực này giữa nhà trường và doanh nghiệp, sẽ đượctrình bày ở chương 2 và chương 3

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KẾT HỢP

GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ

Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG TP HỒ CHÍ MINH

2.1 Thực trạng hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc đào tạo nghề ở Việt Nam

2.1.1 Thực trạng hoạt động đào tạo nghề trong các trường nghề ở Việt Nam

Các trường đào tạo nghề hiện nay ở Việt Nam thực hiện đào tạo theo chỉtiêu nhà nước giao, theo mục tiêu, nội dung chương trình có sẵn; đào tạo theokhả năng vốn có của cơ sở, chưa thực sự quan tâm đến những vấn đề như: họcsinh thực sự có nhu cầu đích thực hay không; việc làm của người học sau khitốt nghiệp; làm thế nào để đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật của thị trường.Giáo viên dạy nghề được đào tạo từ các trường với nhiều trình độ khác nhau, đadạng, không đồng nhất Đây là một trong những khó khăn của đội ngũ giáo viêndạy nghề

Số lượng giáo viên dạy nghề ở các cơ sở đào tạo nghề tăng dần từ 5.849 người năm

1998 lên 7.056 người năm 2003 So với định mức trung bình 15 học sinh /1giáo viên thì số lượng đội ngũ giáo viên hiện nay chỉ đáp ứng được 70% yêu cầu.

“Trình độ giáo viên thực hành nhìn chung còn thấp Trong số giáo viên dạy thực hành đã xác định bậc thợ ở các trường chỉ mới đạt 44% Một bộ phận không nhỏ giáo viên thực hành thiếu kinh nghiệm sản xuất thực tế, khả năng tiếp cận với kỹ thuật tiên tiến và công nghệ mới, hiện đại còn hạn chế.” [1]

Nói chung đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí trong các trường đào tạo nghề:năng lực sản xuất còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuấthiện đại tiên tiến vốn đang phát triển rất phong phú Trong quá trình tổ chứcđào tạo nghề, chỉ có giáo viên dạy nghề của cơ sở đào tạo nghề hướng dẫn thực

Trang 35

tập sản xuất Hầu như chưa có người ngoài cơ sở đào tạo nghề tham gia giảngdạy Cán bộ quản lí các hoạt động đào tạo các cơ sở đào tạo nghề chỉ là nhữngcán bộ trong trường, chưa có sự tham gia của cán bộ từ phía DNSX.

Ngân sách cho đào tạo nghề cũng nằm trong tình trạng eo hẹp Tỷ lệ ngânsách chi cho đào tạo nghề như hiện nay là chưa đáp ứng được điều kiện cần chứchưa nói đến đủ để giải quyết các tính chất nói chung căn bản như xây dựngchương trình, nâng cấp chất lượng giáo viên, cơ sở vật chất và trang thiết bịphục vụ công tác giảng dạy và học tập ở các trường nghề

Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học ở các cơ sở đào tạo nghề cònthiếu thốn về số lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Đặc biệt là trang thiết

bị dạy học, “điều kiện thực hành ở các trường dạy nghề, THCN, cao đẳng, đại học còn rất thiếu” (Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần sáu BCHTƯ khóa IX) Trong nhiều năm qua, các cơ sở đào tạo nghề đều phải tự mua sắm cơ sở

vật chất, trang thiết bị bằng Ngân sách nhà nước, vốn tự có, hoặc được viện trợđầu tư từ các tổ chức quốc tế DNSX không đầu tư cơ sở vật chất - trang thiết bịcho các cơ sở đào tạo nghề (họ cho rằng đó là việc của các cơ sở đào tạo nghề).Tuy nhiên, gần đây có một số trường chủ động liên hệ với các DNSX để họcsinh thực tập sản xuất Song, số trường và số lần thực tập rất ít

Chương trình và tài liệu dạy học ở các cơ sở đào tạo nghề trong toàn hệthống đã quá lạc hậu, thiếu thốn, cũ kỹ, thiếu cập nhật Hầu hết được biên soạntheo những tiêu chuẩn cấp bậc thợ do Tổng cục Dạy nghề biên soạn trước đây

từ những năm 70 thế kỷ trước

Một số cơ sở đào tạo nghề đã và đang cố gắng biên soạn Nhưng chấtlượng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đang ngày càng cao về chấtlượng, đa dạng về loại hình

Một số cơ sở đào tạo nghề được hỗ trợ của các Tổ chức Quốc tế trongviệc biên soạn nội dung chương trình, giáo trình giảng dạy đã cơ bản đáp ứngđược yêu cầu hiện tại Song, để đáp ứng yêu cầu dài hạn, cần liên tục cải tiến,đổi mới, cập nhật tri thức và công nghệ hiện đại Về đầu sách, tài liệu tham

Trang 36

khảo phục vụ giảng dạy thiếu về số lượng và chủng loại, kém về chất lượng, lạchậu về thông tin, một số sách rách nát không thể sử dụng được

Về công tác tuyển sinh hàng năm được các cơ sở đào tạo nghề tổ chứchầu như đơn phương, không có sự trợ giúp của doanh nghiệp Ngoại trừ một số

cơ quan hợp đồng với trường để đào tạo cán bộ kỹ thuật

2.1.2 Thực trạng hoạt động đào tạo nghề ở các doanh nghiệp

Để đội ngũ lao động kỹ thuật có thể làm việc và thích ứng với tác phonglao động công nghiệp, tiếp cận, sử dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, các doanhnghiệp sản xuất phải chủ động tổ chức các hoạt động đào tạo khác nhau

Doanh nghiệp nhà nước chủ yếu dựa vào các trường, trung tâm dạy nghề

để tuyển lao động kỹ thuật cho mình Doanh nghiệp tư nhân có đầu tư tổ chứchoạt động đào tạo, nhưng chủ yếu là đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng tay nghề tạicác doanh nghiệp

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, do yêu cầu của sản xuất thựctiễn và công nghệ hiện đại, tổ chức các hoạt động đào tạo như: đào tạo mới chongười được tuyển nhưng trái nghề đào tạo hoặc đào tạo bổ sung, đào tạo cậpnhật, nâng cao cho những học sinh tốt nghiệp các trường nghề, tổ chức doanhnghiệp, đào tạo ở nước ngoài cho những người có khả năng, triển vọng nghềnghiệp phục vụ cho chiến lược phát triển lâu dài của doanh nghiệp

Tuy nhiên, các doanh nghiệp khi tiến hành đào tạo nghề cũng gặp một sốkhó khăn nhất định: giáo viên, chương giáo trình, phương pháp giảng dạy, tổchức quản lý đào tạo

2.1.3 Thực trạng hoạt động kết hợp đào tạo nghề giữa trường và DNSX ở nước ta hiện nay

Ở Việt Nam, nhìn chung sự kết hợp đào tạo nghề tại trường và doanhnghiệp sản xuất còn yếu và hạn chế do những nguyên nhân chủ quan và kháchquan khác nhau

Tuy nhiên, vấn đề này đã và đang từng bước được nghiên cứu và áp dụngphần nào ở những khía cạnh khác nhau theo từng điều kiện và quan điểm khácnhau Một số cơ sở đào tạo nghề đã ban đầu nghiên cứu áp dụng một số bình

Trang 37

diện kết hợp đào tạo nghề tại trường và DNSX, điển hình là: Trường Công nhânxây dựng số 2 Hà Nội, Trường trung học Công nghiệp nhẹ thành phố Hồ ChíMinh, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh, Trường Kỹ thuật và Công nghệ

Hà Nội, Trường cao đẳng nghề Việt Đức, trường cao đẳng nghề Việt Hàn,Trung tâm dạy nghề Việt Nhất - Liên hiệp Khoa học và Kỹ thuật Nghệ An Tuynhiên, việc nghiên cứu hình thức đào tạo kết hợp tại trường dạy nghề và DNSXcòn chưa hoàn thiện, chưa đồng bộ và áp dụng vào quá trình đào tạo thực tiễncòn ở mức độ rời rạc, đơn phương và chỉ thực hiện một số khía cạnh kết hợp ởmột số ngành nghề

Các hoạt động tiêu biểu được coi là kết hợp đào tạo là một số trường đàotạo theo yêu cầu từ các DNSX (đào tạo theo đơn đặt hàng), một số tổng công tylớn thành lập trường đào tạo riêng, nhà trường có xưởng sản xuất (số này rất ít

và hầu như không phát huy được tác dụng kể cả các trường dạy nghề được hỗtrợ của Tổ chức Hỗ trợ và Phát triển Đức), một số trường liên kết đưa học sinh

đi thực tập ở các cơ sở DNSX, nhưng học sinh bị coi là lao động phụ

2.2 Thực trạng hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng, TP Hồ Chí Minh

2.2.1 Giới thiệu khái quát về Trường CĐKT Lý Tự Trọng, TP Hồ Chí Minh

Trường CĐKT Lý Tự Trọng thành phố Hồ Chí Minh tiền thân là trườngDạy nghề Trung học Lý Tự Trọng, được thành lập từ tháng 2 năm 1986 Tháng3/1995, trường được đổi tên là trường Trung học Nghề Lý Tự Trọng Tháng 3năm 1999, trường đổi tên thành trường Trung học Kỹ thuật Lý Tự Trọng thànhphố Hồ Chí Minh Ngày 3 tháng 2 năm 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban

hành quyết định thành lập Trường CĐKT Lý Tự Trọng thành phố Hồ Chí Minh.

Đất nước đổi mới, mở cửa đã tạo ra những cơ hội mới, đồng thời cũngtạo ra những thách thức to lớn đối với ngành giáo dục đào tạo nói chung và Nhàtrường nói riêng Phương châm phấn đấu của tập thể cán bộ - giáo viên – nhânviên của trường là "đoàn kết - xây dựng - phát triển" Nhà trường đã kiên trì vàtích cực thực hiện quá trình đào tạo nhân lực kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu cung

Trang 38

cấp nguồn lao động đã qua đào tạo cho sự phát triển của thành phố Hiện nay,tính đến thời điểm 31 tháng 5 năm 2012, trường có 07 phòng chức năng, 04trung tâm, 08 khoa và tổ trực thuộc, 01 cơ sở dạy Tin học – Bồi dưỡng văn hóa,

01 trường Trung học phổ thông, 01 trạm Y tế Trong tổng số 374 cán bộ, giảngviên, nhân viên của trường, có 01 tiến sỹ, 39 thạc sỹ, 289 kỹ sư và cử nhân(chưa kể gần 100 giảng viên – giáo viên thỉnh giảng) 100% giảng viên củatrường đạt trình độ chuẩn về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm theo quy địnhcủa Bộ Giáo dục và Đào tạo, 60% giảng viên ứng dụng hiệu quả công nghệthông tin trong công tác giảng dạy, 10% giảng viên có khả năng giảng dạy mônchuyên ngành bằng Tiếng Anh

Trường đang thực hiện đào tạo các bậc học: Cao đẳng Kỹ thuật chính quy,Cao đẳng Kỹ thuật liên thông, Trung cấp Kỹ thuật chính quy, bồi dưỡng nângbậc thợ, đào tạo các hóa học nghề ngắn hạn, đào tạo bậc Trung học phổ thông

và Giáo dục thường xuyên Năm 2005, khi mới thành lập trường Cao đẳng,trường chỉ tuyển sinh 2 ngành bậc Cao đẳng kỹ thuật là Công nghệ Kỹ thuật Cơkhí và Công nghệ Kỹ thuật Điện Hiện nay, đối với bậc Cao đẳng, trường đangđào tạo 8 chuyên ngành: Công nghệ Kỹ thuật Cơ khí, Công nghệ Kỹ thuật Điện,Công nghệ Kỹ thuật Điện tử, Công nghệ Kỹ thuật Nhiệt – Lạnh, Công nghệ Kỹthuật Ô tô, Công nghệ thông tin - Phần mềm, Công nghệ thông tin - Mạng,Công nghệ May Đối với bậc Trung cấp chuyên nghiệp, có 12 chuyên ngànhđào tạo: Cơ khí chế tạo, Công nghệ thông tin, Điện công nghiệp, Tiện, Nguộisửa chữa, Phay bào, Gò Hàn, Điện xí nghiệp, Điện lạnh, Điện tử, Sửa chữa Ô

tô, Kỹ thuật Nữ công

Hiện tại, Nhà trường tuyển mới hàng năm trên 1500 sinh viên cao đẳng,

850 học sinh trung cấp chuyên nghiệp và trên 2000 học sinh trung học phổthông, quy mô học sinh sinh viên hàng năm hiện nay của trường ở các hệ đàotạo chính quy trên 8.000 người (chưa kể thường xuyên có hơn 1.000 học viênđào tạo tại các lớp dạy nghề ngắn hạn tại trường và liên kết đào tạo tại các xínghiệp) Trong hơn 26 năm qua, nhà trường đã đào tạo được gần 30.000 laođộng kỹ thuật bậc Công nhân kỹ thuật, Trung cấp và Cao đẳng kỹ thuật cho

Trang 39

thành phố Hồ Chí Minh và địa phương lân cận, số học sinh sinh viên tốt nghiệphàng năm hiện nay khoảng 2.400 em.

Vị thế và uy tín của Nhà trường trong xã hội ngày càng được nâng cao.Trong những năm gần đây, hơn 70% học sinh sinh viên khối chuyên nghiệp tốtnghiệp ra trường có việc làm sau 6 tháng, 85% có việc làm sau 1 năm, 10% họctiếp lên các bậc học cao hơn Với lưu lượng HSSV như trên, để giải quyết thựctập tốt nghiệp và việc làm cho HSSV sau khi tốt nghiệp, trong những năm quanhà trường đã liên kết với hơn 500 đơn vị doanh nghiệp đóng trên địa bàn thànhphố và các tỉnh lân cận (Bình Dương, Long An, Đồng Nai, Tây Ninh), không đểHSSV phải tự liên hệ nơi thực tập Trường thường xuyên phối hợp với các công

ty bố trí cho các em tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của đơn vị.Trường quản lý chặt chẽ quá trình thực tập tốt nghiệp của HSSV, nâng cao chấtlượng đào tạo và thực tập tốt nghiệp thống qua các hội thảo chuyên đề vớidoanh nghiệp, qua các “Phiếu tham khảo ý kiến” của các doanh nghiệp, nhàtrường đã tích cực hiệu chỉnh kế hoạch chương trình đào tạo cho phù hợp vớinhu cầu xã hội

Hơn 26 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, cho dù gặp nhiều khókhăn qua các giai đoạn khác nhau, nhưng tập thể cán bộ lãnh đạo, nhà giáo,nhân viên cùng các thế hệ HSSV của trường vẫn khắc phục mọi khó khăn, bền

bỉ thực hiện tốt phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, nhân rộng điển hình tiêntiến, nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị là góp phần đào tạo nguồnnhân lực cho thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Đông Nam bộ Để ghi nhận sựđóng góp của nhà trường đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng

và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý cho trường: Huân chươngLao động hạng Ba (1999), Cờ thi đua xuất sắc dẫn đầu ngành giáo dục chuyênnghiệp cả nước (1999), Huân chương Lao động hạng Nhì (2004) Liên tụcnhiều năm liền trường được tặng Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cờthi đua và Bằng khen của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh công nhậntrường tiên tiến xuất sắc, Đảng bộ vững mạnh xuất sắc; Bằng khen của Tổngliên đoàn lao động Việt Nam và Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 40

tặng thưởng Công đoàn Trường đạt Công đoàn vững mạnh; Cờ thi đua và Bằngkhen của Trung ương Đoàn và Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh tặngthưởng Đoàn thanh niên của trường có phong trào thi đua xuất sắc Về cá nhân,nhiều cán bộ quản lý và nhà giáo được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen,hơn 70 cá nhân nhận Bằng khen của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ ChíMinh, hơn 60 cá nhân đã được tặng thưởng huy chương “Vì sự nghiệp Giáodục”, 07 giảng viên – giáo viên đạt giải cao trong các kỳ Hội thi giáo viên giỏingành trung cấp chuyên nghiệp cấp toàn quốc, 20 giảng viên – giáo viên đạtgiải cao trong các kỳ Hội thi giáo viên giỏi ngành trung cấp chuyên nghiệp cấpthành phố, nhiều cá nhân đã được công nhận là chiến sĩ thi đua cấp Bộ, cấpThành phố Hàng năm bình quân có gần 100 cá nhân đạt chiến sĩ thi đua và giáoviên giỏi cấp cơ sở.

2.2.2 Thực trạng đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng

-Tp Hồ Chí Minh

* Trung cấp chuyên nghiệp: 9 ngành, bao gồm ngành Điện tử công

nghiệp; Điện công nghiệp và dân dụng; Điện lạnh; Cơ khí chế tạo Tiện; Cơ khíchế tạo Phay; Sửa chữa ôtô; Kỹ thuật May; Tin học Công nghệ Phần mềm; Tinhọc Mạng máy tính

* Cao đẳng: 6 ngành, bao gồm ngành Công nghệ Kỹ thuật Điện, Điện tử

( gồm 2 chuyên ngành: Công nghệ Kỹ thuật Điện Công nghệ Kỹ thuật Điệntử); ngành Công nghệ Kỹ thuật Nhiệt; Công nghệ Kỹ thuật Cơ khí; Công nghệ

Kỹ thuật Ô tô; Công nghệ May; Công nghệ thông tin (gồm 2 chuyên ngành:Công nghệ Phần mềm, Mạng máy tính)

* Đánh giá chung về thực trạng công tác đào tạo (phụ lục: bảng 1, bảng

2, bảng 3, bảng 4)

- Tích cực: Nội dung, chương trình đào tạo bám sát khung chương trìnhchung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đáp ứng được nhu cầu của quátrình phát triển giáo dục các cấp Học sinh - sinh viên tốt nghiệp ra trường đảmbảo về trình độ kiến thức, kĩ năng nghiệp vụ, có khả năng thích ứng nhanh thị

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.  Quan hệ cung - cầu trong thị trường lao động kỹ thuật. - Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo nghề ở trường cao đẳng kỹ thuật lý tự trọng thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 1. Quan hệ cung - cầu trong thị trường lao động kỹ thuật (Trang 20)
Bảng 1. Cấu trúc chương trình dạy thực tập sản xuất. - Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo nghề ở trường cao đẳng kỹ thuật lý tự trọng thành phố hồ chí minh
Bảng 1. Cấu trúc chương trình dạy thực tập sản xuất (Trang 21)
Bảng 1:  Quy mô đào tạo khối chuyên nghiệp Bậc đào - Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo nghề ở trường cao đẳng kỹ thuật lý tự trọng thành phố hồ chí minh
Bảng 1 Quy mô đào tạo khối chuyên nghiệp Bậc đào (Trang 97)
Bảng   3  :  Kết quả đào tạo khối chuyên nghiệp Năm - Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo nghề ở trường cao đẳng kỹ thuật lý tự trọng thành phố hồ chí minh
ng 3 : Kết quả đào tạo khối chuyên nghiệp Năm (Trang 97)
Bảng   2  :  Số lượng tuyển sinh khối chuyên nghiệp hàng năm Bậc đào - Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo nghề ở trường cao đẳng kỹ thuật lý tự trọng thành phố hồ chí minh
ng 2 : Số lượng tuyển sinh khối chuyên nghiệp hàng năm Bậc đào (Trang 97)
Bảng   4  :  Số lượng học sinh sinh viên khối chuyên nghiệp tốt nghiệp  hàng năm - Một số giải pháp quản lý hoạt động kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong công tác đào tạo nghề ở trường cao đẳng kỹ thuật lý tự trọng thành phố hồ chí minh
ng 4 : Số lượng học sinh sinh viên khối chuyên nghiệp tốt nghiệp hàng năm (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w