Sinh viên sau khi đã tốt nghiệp vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc.Một trong những nguyên nhân quan trọng của hiện tượng này là do thiếu sự liên kếtgiữa nhà trường với doanh nghiệp
Trang 1
TRƯƠNG VIỆT KHÁNH TRANG
GIẢI PHÁP LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG
VÀ DOANH NGHIỆP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH MAY Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
KỸ THUẬT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An, tháng 7 năm 2012
Trang 2
TRƯƠNG VIỆT KHÁNH TRANG
GIẢI PHÁP LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG
VÀ DOANH NGHIỆP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH MAY Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
KỸ THUẬT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 3Tác giả chân thành kính bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Bá Minh, người thầy đã tận tình bồi dưỡng kiến thức, năng lực tư duy,
phương pháp nghiên cứu, đánh giá, giới thiệu, hướng dẫn khai thác thông tin nguồn tài liệu và trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo Sau đại học, Khoa Giáo dục, các giảng viên của Trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn trong quá trình học tập và nghiên cứu Xin cảm ơn các cơ quan, doanh nghiệp may, các trường CĐKT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Công thương, cán bộ quản
lý, cán bộ kỹ thuật các doanh nghiệp may, cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên các trường CĐKT đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện về cơ sở thực tế, đóng góp nhiều ý kiến cho nội dung nghiên cứu đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo, quý thầy cô giáo, đồng nghiệp ở Trường Cao Đẳng kỹ thuật Lý Tự Trọng đã động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi suốt thời gian học tập, nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn người thân, gia đình, bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ, động viên tác giả trong quá trình học tập và làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp, trao đổi của quý Thầy, Cô, các bạn đồng nghiệp và độc giả để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2012
Tác giả
Trương Việt Khánh Trang
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP MAY NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH MAY Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Đào tạo ngành may 11
1.2.2 Doanh nghiệp may 14
1.2.3 Trường cao đẳng kỹ thuật 14
1.2.4 Chất lượng đào tạo 16
1.2.5 Liên kết đào tạo 16
1.2.6 Giải pháp 17
1.3 Chất lượng đào tạo ngành may 17
1.3.1 Quan điểm về chất lượng đào tạo ngành may 18
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ngành may 19
1.4 Liên kết giữa Nhà trường và doanh nghiệp may trong đào tạo ngành may 25
1.4.1 Mục tiêu liên kết giữa Nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo ngành may .25
1.4.2 Các nội dung liên kết giữa Nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo ngành may 27
1.4.3 Các mức độ liên kết trong đào tạo ngành may, tương quan tổ chức giữa trường và doanh nghiệp may 31
1.4.4 Một số mô hình liên kết giữa trường dạy ngành may và doanh nghiệp phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới 32
1.4.5 Phát triển liên kết giữa trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành may 38
Trang 5NGÀNH MAY Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 41
2.1 Thực trạng hệ thống đào tạo ngành may ở các trường cao đẳng kỹ thuật trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh 41
2.1.1 Danh sách các trường cao đẳng kỹ thuật đào tạo ngành may 41
2.1.2 Quy mô đào tạo ngành may tại các trường cao đẳng kỹ thuật trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 43
2.2 Thực trạng về chất lượng đào tạo ngành may tại các trường cao đẳng kỹ thuật trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 45
2.2.1 Về mục tiêu đào tạo 45
2.2.2 Nội dung chương trình đào tạo 46
2.2.3 Phương pháp đào tạo 48
2.2.4 Số lượng và chất lượng của giảng viên và cán bộ quản lý 48
2.2.5 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo 51
2.2.6 Đánh giá chung về chất lượng đào tạo 54
2.3 Thực trạng về sự liên kết giữa trường và doanh nghiệp may nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành may 59
2.3.1 Một số điểm sáng trong liên kết đào tạo ngành may tại TP Hồ Chí Minh 59
2.3.2 Thực trạng chung về các nội dung liên kết đào tạo giữa các trường cao đẳng kỹ thuật trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và các doanh nghiệp may 61
2.4 Một số nguyên nhân hạn chế sự liên kết giữa trường đào tạo ngành may và doanh nghiệp may 69
2.4.1 Những thuận lợi 69
2.4.2 Những hạn chế 70
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 70
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP MAY NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH
Trang 63.1 Một số nguyên tắc đề xuất giải pháp 74
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 74
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 75
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện và hệ thống 75
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 75
3.2 Các giải pháp liên kết giữa trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành may 76
3.2.1 Nhóm giải pháp áp dụng cho cấp cơ sở 76
3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách khuyến khích quan hệ trường, doanh nghiệp may 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ……… 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Các yếu tố cấu thành của quá trình đào tạo 18
Sơ đồ 1.2: Các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo 25
Trang 7trong Nhà trường 34
Sơ đồ1.5: Tổ chức liên kết liên kết giữa doanh nghiệp và nhà trường thành lập tại doanh nghiệp 36
Bảng 2.1: Danh sách các trường cao đẳng kỹ thuật đào tạo ngành may trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 41
Bảng 2.2: Quy mô đào tạo chuyên ngành may hệ cao đẳng tại các trường cao đẳng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 44
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát về tính phù hợp với thực tiễn của chương trình đào tạo ngành may 47
Bảng 2.4: Số lượng giáo viên chuyên ngành May tại các trường cao đẳng kỹ thuật trên địa bàn TP HCM 48
Bảng 2.5: Kết quả đánh giá về sự đáp ứng của cơ sở vật chất so với yêu cầu của đào tạo 52
Biểu đồ 2.1: Chất lượng giáo dục trong khu vực châu Á 54
Bảng 2.6: Đánh giá của sinh viên về chất lượng đào tạo 55
Bảng 2.7: Đánh giá của cựu SV về khả năng đáp ứng yêu cầu công việc 56
Bảng 2.8: Đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của sinh viên các trường cao đẳng kỹ thuật tại TP HCM 57
Bảng 2.9: Thực trạng liên kết của Nhà trường và Doanh nghiệp 61
Bảng 2.10: Mức độ liên kết xây dựng mục tiêu và chương trình đào tạo 62
Bảng 2.11: Kết quả điều tra ý kiến của giáo viên và cán bộ quản lý trong về mối liên kết về cơ sở vật chất và tài chính cho đào tạo ngành may 64
Bảng 2.12: Kết quả khảo sát ý kiến của doanh nghiệp về mối liên kết về cơ sở vật chất và tài chính cho đào tạo của Nhà trường 64
Bảng 2.13: Mức độ liên kết về nhân sự giữa Nhà trường và doanh nghiệp 66
Bảng 2.14: Mức độ liên kết về quản lý đào tạo của Nhà trường và doanh nghiệp .68
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8Công nhân kỹ thuật
Tổ chức Thương mại Thế giới
Tổ chức lao động quốc tế (International LabourOrganization)
Nguồn nhân lực
Doanh nghiệp
Xã hội
Cao đẳngĐại học
Giáo dục đại họcQuản lý doanh nghiệp (Tổng Giám đốc)Giám đốc tài chính
Giám đốc Nhân sựTrường Đại học Kinh tế INSEAD - PhápChương trình thạc sỹ
Phòng thí nghiệm Công nghệ
Thiết kế thời trang Giáo viên
sinh viên
Trang 9Công giới
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Xu thế toàn cầu hóa và sự hội nhập sâu rộng của nền kinh tế quốc tế đã mở
ra rất nhiều cơ hội cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Tuy nhiên,điều này cũng đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi các quốc gia cần phải nỗ lực rất nhiềutrong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh Trong bối cảnh đó, điều quyết định cho sựtồn tại và phát triển của mỗi quốc gia là đào tạo được những con người có học vấncao, có chuyên môn tốt, có đạo đức, có văn hóa và biết cách làm việc hiệu quả Vìvậy, nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hiện nay là nhiệm vụquan trọng không chỉ đối với các trường đại học, trường dạy nghề mà còn là nhiệm
vụ chung của cả đất nước
Theo điều tra xã hội học, nguồn nhân lực của nước ta hiện nay đã cải thiệnhơn so với nhiều năm trước đây Tuy nhiên, chất lượng của nguồn nhân lực vốnđược xem là khâu then chốt để nâng cao tính bền vững của nền kinh tế, của pháttriển xã hội thì vẫn còn nhiều hạn chế hay nói đúng hơn là vẫn chưa đáp ứng đượcnhu cầu phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập Chính vì vậy, Chính phủ
đã phê duyệt Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020 nhằm nâng caochất lượng nguồn nhân lực Việt Nam với chỉ số ước đạt 55% lao động có tay nghềcao, nhằm đáp ứng trước thách thức của nền kinh tế thị trường Thông qua chiếnlược này, Chính phủ kỳ vọng người lao động có đủ trình độ, nhạy cảm đối mặt vớimột thách thức rất lớn là môi trường làm việc mang tính cạnh tranh Cạnh tranh vớilao động trong nước và cạnh tranh với lao động nước ngoài, khi tham gia vào quátrình xuất khẩu lao động hay khi lao động nước ngoài trực tiếp vào làm việc tại ViệtNam
Ngành dệt may Việt nam hiện nay đang thu hút khoảng 2,5 triệu lao động
Để đáp ứng với mục tiêu phát triển của ngành, trong vòng 2 năm tới, số lao độngcủa ngành dự kiến sẽ tăng khoảng 3,5 triệu Trong khi đó, hiện nay lao động ngànhdệt may đang rất thiếu và yếu cả lao động trực tiếp, quản lý, kinh doanh và chuyên
Trang 11môn nghiệp vụ Trong các doanh nghiệp dệt may nói chung, vấn đề đào tạo nguồnnhân lực cũng chưa được quan tâm đúng mức Nếu không nhanh chóng giải bài toánnguồn nhân lực thì khả năng cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam sẽ khó có thểđảm bảo được Chính vì thế, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho ngành may
là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các trường đại học, cao đẳng và trườngdạy nghề
Hiện nay, chất lượng đào tạo ngành may chưa đáp ứng nhu cầu xã hội, vớinhiều qui mô khác nhau trên các trường đại học, cao đẳng ở thành phố Hồ ChíMinh Sinh viên sau khi đã tốt nghiệp vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc.Một trong những nguyên nhân quan trọng của hiện tượng này là do thiếu sự liên kếtgiữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo nghề Nhà trường giảng dạy ngànhmay chủ yếu dựa trên khả năng cung đào tạo của mình mà chưa quan tâm tới đườngcầu tương ứng từ các doanh nghiệp may Do đó luật cung cầu đào tạo mất cânbằng về quy mô, cơ cấu và đặc biệt là chất lượng, giảm hiệu quả đào tạo, gây ranhững lãng phí Mặt khác, các doanh nghiệp may rất mong muốn sở hữu nguồnnhân lực có kỹ năng, có chất lượng cao nhưng cũng chưa chủ động tham gia vàoquá trình liên kết đào tạo nghề
Vì vậy, để phát huy được thế mạnh của ngành may trong nền kinh tế, đồngthời để hội nhập được với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới thì vấn
đề nhà trường liên kết doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực có chất lượngcao, nhằm đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nướcđồng thời giúp cho ngành may trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Namnói chung và của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Xuất phát từ thực tế trên và từ những điều kiện nghiên cứu của bản thân, tácgiả quyết định lựa chọn đề tài “Giải pháp liên kết giữa trường và doanh nghiệp maynhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành may ở các trường cao đẳng kỹ thuật trênđịa bàn TP Hồ Chí Minh”
Trang 122 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất Giải pháp liên kết giữa trường và doanh nghiệp may nhằm nâng caochất lượng đào tạo ngành may ở các trường cao đẳng kỹ thuật trên đia bàn thànhphố Hố Chí Minh
3 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể: Công tác đào tạo sinh viên ngành may
3.2 Đối tượng: Các giải pháp liên kết giữa trường và doanh nghiệp may nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo ngành may
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Các giải pháp được đề xuất có tính khoa học, khả thi, phù hợp với thực tiễn,nếu được thực hiện có thể góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngành may ở cáctrường cao đẳng kỹ thuật đào tạo ngành may trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Làm sáng tỏ một số khái niệm cơ bản và những vấn đề lý luận liên quan đến
đề tài như: đào tạo ngành may; doanh nghiệp may; Trường cao đẳng kỹ thuật; chấtlượng đào tạo; liên kết đào tạo; giải pháp; chất lượng đào tạo ngành may; liên kếtgiữa nhà trường và doanh nghiệp may trong đào tạo ngành may
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
- Nghiên cứu thực trạng đào tạo ngành may ở các trường cao đẳng kỹ thuậttrên địa bàn thành phố Hố Chí Minh
- Nghiên cứu thực trạng liên kết giữa các trường cao đẳng kỹ thuật trên điabàn thành phố Hố Chí Minh và doanh nghiệp may nhằm nâng cao chất lượng đàotạo ngành may
- Những kết quả đạt được và nguyên nhân hạn chế trong việc liên kết giữatrường các trường cao đẳng kỹ thuật trên đia bàn thành phố Hố Chí Minh và doanhnghiệp may
Trang 135.3 Đề xuất các giải pháp liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp may trong đào tạo ngành may.
Dựa trên nền tảng cơ sở lý luận và thực tiễn của các đơn vị, tác giả đã đề xuấtmột số giải pháp liên kết giữa trường các trường cao đẳng kỹ thuật trên địa bànthành phố Hố Chí Minh và doanh nghiệp may nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
ngành may.
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích, tổng
hợp tài liệu, phương pháp hệ thống hóa các thông tin để phục vụ cho nhiệm vụnghiên cứu lý luận
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, phỏng vấn, thống
kê toán học, phân tích, tổng hợp số liệu để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu thựctiễn
7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về công tác liên
kết đào tạo giữa Nhà trường và doanh nghiệp may, nhằm nâng cao chất lượng đàotạo cho ngành may
- Về mặt thực tiễn: Từ cơ sở lý luận và việc phân tích thực tại các trường
cao đẳng kỹ thuật trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, đề tài tìm ra những giải pháp giúptăng cường sự liên kết đào tạo giữa Nhà trường và doanh nghiệp may, nhằm nângcao chất lượng đào tạo cho sinh viên ngành may trong thời gian tới
8 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chươngnhư sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về sự liên kết giữa trường và doanh nghiệp may nhằm
nâng cao chất lương đào tạo ngành may ở các trường cao đẳng kỹ thuật trên địa bànthành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Chương 2: Thực trạng về sự liên kết giữa trường và doanh nghiệp may nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành may ở các trường cao đẳng kỹ thuật trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Các giải pháp liên kết đào tạo giữa Nhà trường và doanh nghiệp may
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành may tại các trường cao đẳng kỹ thuật trênđịa bàn TP Hồ Chí Minh
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ LIÊN KẾT GIỮA TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP MAY NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH MAY Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT TRÊN ĐỊA
BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề liên kết đào tạo giữa nhà trường (đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp) và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía.Hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu, chuyển giao các thành tựu khoa học côngnghệ giữa các trường đại học và các doanh nghiệp đã, đang và sẽ ngày càng có vaitrò quan trọng trong nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và nghiên cứu khoa họccho cả nhà trường và sự phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, các nước trên thế giớiđều quan tâm thúc đẩy các hoạt động hợp tác này và thực tiễn cho thấy có nhiềukinh nghiệm quý đối với Việt Nam
Tại Mỹ, đầu tư của Chính phủ Mỹ cho Khoa học Công nghệ (KH-CN) caohơn tổng đầu tư tương tự ở các Chính phủ các nước Châu Âu và Nhật Bản cộng lại,trong khi đó, đầu tư cho KH-CN của các công ty Mỹ còn cao hơn gấp 3 lần giá trịđầu tư của Chính phủ, riêng năm 2003, Chính phủ Mỹ đầu tư 112 tỷ USD chonghiên cứu KH-CN với mục tiêu sáng chế ra những sản phẩm của tương lai, kiểmsoát những ngành thông tin liên lạc Ngân sách khoa học liên bang sẵn sàng tài trợcho cả các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu tư nhân thông qua hợp độngnghiên cứu Bất kỳ một nhà khoa học nào cũng có quyền nộp đơn xin tài trợ chonhững dự án nghiên cứu do mình đề xuất Việc tuyển chọn dự án để tài trợ sẽ đượctiến hành, nếu có từ 2 dự án đăng ký trở lên và mức độ giải ngân sẽ được gia tăng tỷ
lệ thuận với kết quả nghiên cứu thu được trên thực tiễn
Chủ trương của Chính phủ Mỹ là tạo điều kiện cho mọi công dân Mỹ đều cóthể tiếp cận với nền giáo dục và đào tạo mà họ cần Bộ Lao động Mỹ cũng tích cực
hỗ trợ trong việc huấn luyện kỹ thuật, nâng cao trình độ văn hóa cho người laođộng Nhà nước hỗ trợ đầu tư cho những công nghệ có thể tăng hiệu quả đào tạo ở
Trang 16các trường chính thống, đào tạo trong công nghiệp và tại nhà; tăng thêm đầu tư củaNhà nước cho các soạn thảo chương trình nhằm trang bị những kỹ năng cần thiết vềtoán, khoa học và kỹ thuật trong các trường phổ thông, đại học, sau đại học và dạynghề; thúc đẩy chuyển giao kinh nghiệm đào tạo trong các trường quốc phòng sangcác trường dân sự.
Tại Trung quốc, để tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu chuyển giao côngnghệ phù hợp nguyên tắc thị trường, đồng thời với việc cắt giảm bao cấp tài chính
từ ngân sách cho các cơ quan nghiên cứu, Trung quốc khuyến khích thành lập cácquỹ đầu tư với vốn góp từ 3 nguồn: 10% từ các trường đại học; 30% từ các nhànghiên cứu/nhà giáo, trong đó 2/3 đóng góp bằng tri thức công nghệ và 1/3 từ đónggóp đầu tư của các cá nhân; 60% từ ngân sách nhà nước và tài trợ của các công ty.Khi dự án thành công, lợi nhuận được chia đều theo tỷ lệ góp vốn Cho đến nay, đểtài trợ cho các nghiên cứu cơ bản, Trung quốc đã có quỹ khoa học tự nhiên quốc giavới số vốn hơn 600 triệu nhân dân tệ Ngoài ra, còn có hơn 50 quỹ khoa học khácvới tổng số vốn hơn 250 triệu nhân dân tệ, do các Bộ và chính quyền địa phươngthành lập Các quỹ này tập trung tài trợ cho các dự án có tầm quan trọng chiến lượctrong phát triển KHCN và được lồng ghép với phát triển kinh tế có mục tiêu trung
và dài hạn, nhằm tăng giá trị thực tế của các nghiên cứu khoa học cơ bản.
Kinh nghiệm quan trọng trong việc tổ chức và thúc đẩy hợp tác khoa học vàcông nghệ giữa các trường đại học và doanh nghiệp, cũng như phát triển thị trườngcông nghệ ở Trung quốc là việc thành lập các trung tâm (chợ cố định) chuyên phục
vụ trao đổi, chuyển giao công nghệ, tạo ra một môi trường thông thoáng cho cácdoanh nghiệp có thể tìm được những dự án phù hợp để đầu tư Các viện, trường đạihọc có thể tìm được nhiều nguồn tài chính nhiều cho công việc nghiên cứu của họ
Tại Italia, hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp diễn ra chủ yếudưới 2 hình thức: Thực hiện các hợp đồng chuyển giao công nghệ; Các doanhnghiệp tuyển mộ các nhà khoa học của các trường đại học vào làm việc tại cácdoanh nghiệp theo thời hạn
Trang 17Từ những năm 1960, Chính phủ Italia đã hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ(DNVVN) thực hiện các hợp đồng nghiên cứu hỗ trợ thành lập các cơ quan chuyểngiao công nghệ Năm 1977, Chính phủ Italia đã đưa ra một loạt biện pháp mới nhằmthúc đẩy đổi mới công nghệ trong các DNVVN, tập trung vào việc khuyến khíchcác DNVVN tuyển mộ các nhà khoa học có trình độ tiến sĩ và những người đượcgiải thưởng vào thực hiện các hoạt động nghiên cứu trong doanh nghiệp, với thờihạn làm việc tối thiểu là 2 năm và mức lương lên tới hàng chục ngàn USD/năm.Gần đây, Chính phủ Italia có một số cải cách giao nhiều quyền tự chủ để các cơquan nghiên cứu và các trường đại học được độc lập hơn trên phương diện quy chế,
tổ chức và tài trợ vốn, từ đó tạo động lực khuyến khích các trường đại học đóng vaitrò chủ động hơn trong chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp Tại Italia, córất nhiều cơ quan địa phương và khu vực (bao gồm các phòng thương mại và côngnghiệp cũng như các hội liên hiệp ngành) có thể hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đặcbiệt là cho các DNVVN Cũng như các nước công nghiệp phát triển khác, Italiacũng xây dựng một số công viên KH-CN và thực hiện chuyển giao công nghệ quacác công ty chuyên trách, mà thành viên sáng lập của chúng thường là từ các trườngđại học và các cơ quan nghiên cứu khác
Tại Pháp, Chính phủ rất quan tâm đến sự hợp tác giữa các trường đại học vàdoanh nghiệp Nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên doanh nghiệp
và mở rộng trao đổi nhân sự giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanhnghiệp là một trong những ưu tiên của sự hợp tác này Luật Đổi mới năm 1999, cácnhà nghiên cứu được nhà nước tuyển dụng có thể tham gia nghiên cứu tại các công
ty vệ tinh Trong 6 tháng đầu năm đó, họ có thể giữ nguyên vị trí công tác nếu họthành lập doanh nghiệp và quản lý nó Sau đó, họ có thể làm cố vấn và duy trìquyền lợi tài chính của mình tại các doanh nghiệp này nếu muốn Pháp đã thành lậpcác trung tâm đổi mới và chuyển giao công nghệ (CRITT) thực hiện chức năngnhững “trung tâm nguồn lực công nghệ” (CRT) trong chuyển giao công nghệ theohợp đồng cho ngành và doanh nghiệp Từ đầu những năm 1990, Pháp đã phát triểnmạng lưới phổ biến công nghệ (RDT) nhằm thúc đẩy hợp tác, phối hợp tốt hơn giữa
Trang 18các chủ thể chuyển giao công nghệ nhà nước và bán công, đặc biệt là DNVVN ởcấp độ vùng Một số trường đại học đã tách riêng các cơ sở nghiên cứu theo các hợpđồng nghiên cứu hoặc thành lập các trung tâm ươm công nghệ để hỗ trợ cho cơ sởphụ hay vệ tinh của các công ty mới.
Tại Anh, tỷ lệ vốn tài trợ nghiên cứu từ các doanh nghiệp (so với tổng số vốnhoạt động nghiên cứu khoa học) trong các trường đại học chiếm khoảng 11%, trongkhi tỷ lệ này ở Thụy điển là 4% và ở Đức là 8% Sự tham gia tài trợ của ngành trongcác trường đại học khác nhau khá lớn Năm 1997, chỉ 7 trường đại học đã nhậnđược 1/3 nguồn vốn tài trợ cho nghiên cứu từ các ngành Các trường đại học đa số
có văn phòng liên lạc nghiên cứu Mục đích của các văn phòng liên lạc nghiên cứunày là hỗ trợ chuyển giao công nghệ giữa các viện và ngành Các văn phòng đề xuấtđàm phán về các điều khoản tài chính và điều khoản khác, các điều kiện hợp đồngnghiên cứu, tư vấn và các dịch vụ khác Các trường đại học cũng có lợi từ hoạt độngcủa các văn phòng liên lạc nghiên cứu thông qua tư vấn về việc thương mại hóaquyền sở hữu trí tuệ và thẩm định chuyên môn
Trong những năm 1995-1997, hơn một nửa có sở giáo dục đại học tại Anh cócông ty (sở hữu toàn bộ hay một phần) để khai thác các kết quả nghiên cứu Nhiềutrường đại học đã tham gia vào các “công viên khoa học” với nhiều mục tiêu như:tạo doanh thu, nắm bắt nhiều hơn quyền sở hữu trí tuệ bị rò rỉ từ các trường đại học,thu hút các công ty là khách hàng tiềm năng của mình đóng vai trò tái sinh kinh tếđịa phương Tuy nhiên, do thiếu sự tham gia thực sự của các trường đại học trongchuyển giao công nghệ, nhiều “công viên khoa học” không có khả năng duy trì các
cơ sở hỗ trợ tại chỗ nhằm kích hoạt hay hỗ trợ phát triển công nghệ
Tại Việt Nam, những năm gần đây các trường Đại học, cao đẳng và dạy nghề
đã ít nhiều quan tâm đến vấn đề liên kết đào tạo với doanh nghiệp Một số trườngđại học, cao đẳng ở TPHCM, Hà Nội, Đà Nẵng cũng đã tiến hành các hoạt độngcam kết với một số doanh nghiệp trong và ngoài nước về hỗ trợ đào tạo, thực tập tốtnghiệp, tuyển dụng sinh viên ra trường Bộ Giáo dục & Đào tạo đang thực hiệncuộc vận động “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn và không đáp ứng nhu cầu
Trang 19sử dụng của xã hội” thì vấn đề liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệpcàng trở nên cấp thiết Chính vì thế cũng đã có rất nhiều công trình khoa học củanhiều tác giả khác nhau nghiên cứu về vấn đề liên kết đào tạo giữa Nhà trường vàDoanh nghiệp.
Đề tài của tác giả Hoàng Xuân Trường, năm 2009 nghiên cứu “Một số giảipháp kết hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượngđào tạo nghề ở Nghệ An” đã nghiên cứu tình hình thực tế của việc kết hợp đào tạovới các doanh nghiệp của các trường dạy nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An, đồng thờiđưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này
Đề tài “ Nâng cao chất lượng đào tạo nghề bằng biện pháp tăng cường sựliên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp” tác giả đã đi sâu phân tích thựctrạng về chất lượng đào tạo và sự liên kết giữa các trường và doanh nghiệp tại cáctrường dạy nghề thuộc dự án kỹ thuật và dạy nghề Qua đó, tác giả cũng đề xuất 2nhóm giải pháp liên kết giữa Nhà trường và nhằm nâng cao chất lượng đào tạonghề, bao gồm nhóm giải pháp áp dụng cho cấp cơ sở (nhà trường, doanh nghiệp,người học) và nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách khuyến khích quan hệtrường ngành
Trong luận án tiến sỹ của tác giả Trần Khắc Hoàn đã phân tích và đưa ra vấnđề”Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất” là một trongnhững giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo Song, do hướng nghiên cứu của đề tàinên tác giả phân tích các cơ sở khoa học, đề cập đến các cách tiến hành tăng cườngquan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sản xuất, đề cập phương thức kết hợp đàotạo tổng quát ở Việt nam, và đưa ra các giải pháp đồng bộ để thực hiện kết hợp đàotạo nghề tại trường và DNSX (do nhiệm vụ đề tài là tập trung giải quyết các giảipháp nâng cao chất lượng đào tạo CNKT xây dựng ở thủ đô Hà Nội, nên không đisâu vào giải quyết lý luận và thực tiễn kết hợp đào tạo nghề)
Nghiên cứu “ Gắn đào tạo sử dụng, nhà trường với doanh nghiêp” của tiến sỹTrần Anh Tài, năm 2009 đã nêu lên thực trạng mối quan hệ giữa Nhà trường vớidoanh nghiệp đồng thời đưa ra các giải pháp gắn kết đào tạo với sử dụng, nhà
Trang 20trường với xã hội Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả phân tích về mối quan hệ giữadoanh nghiệp với các trường đại học, chưa đề cập đến các trường cao đẳng kỹ thuật
và các trường dạy nghề
Nghiên cứu “Phát triển mô hình liên kết bền vững giữa cơ sở đạo tạo và cácdoanh nghiệp dệt may trong xu hướng hội nhập WTO” của tác giả Nguyễn Thị BíchThu, trường Đại học Đà Nẵng đã đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình liênkết bền vững giữa các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp dệt may Tuy nhiên cácgiải pháp chưa được phân tích sâu về nội dung và cách thức thực hiện
Trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu nói trên, tác giả bao quát toàn diện vềcác khía cạnh của vấn đề liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp, từ đótác giả hy vọng có thể đề xuất những giải pháp mang tính hiệu quả và tính khả thicao
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đào tạo ngành may
Đào tạo ngành may là một hình thức đào tạo chuyên ngành dạy nghề maycông nghiệp, là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độnghề nghiệp cần thiết cho người học ngành may công nghiệp, để người học lĩnh hộinhững kiến thức, kỹ năng ngành may một cách có hệ thống, chuẩn bị cho người đóthích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc tại doanhnghiệp may, sinh viên có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoànmay thành tốt nghiệp chuyên ngành may
Đào tạo ngành may có thể quan niệm như đào tạo nghề nói chung đào tạochuyên ngành nói riêng, có thể định nghĩa như sau:
Tack Soo Chung (1982): đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển nănglực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận côngviệc dược áp dụng đối với những người lao động và những đối tượng sắp trở thànhngười lao động
Trang 21William Mc Gehee (1979): Đào tạo nghề là những quy trình mà những công
ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho kết quả hành vi đóng góp vàomục đích và các mục tiêu của doanh nghiệp
Max Forter(1979) cũng đưa ra khái niệm đào tạo nghề phải đáp ứng việchoàn thành 4 điều kiện: Gợi ra những giải pháp ở người học; phát triển tri thức, kỹnăng và thái độ; tạo ra sự thay đổi trong hành vi; đạt được những mục tiêu chuyênbiệt
ILO định nghĩa: đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹnăng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệpđược giao
Đào tạo nghề là một quá trình sư phạm có mục đích, có nội dung và phươngpháp, nhằm trang bị cho người học những kiến thúc, kỹ năng và thái độ cần thiết để
họ có cơ hội tìm được việc làm và có năng lực hành nghề ở những vị trí lao độngtheo yêu cầu của sản xuất Kết thúc khóa đào tạo, sinh viên được cấp bằng hoặcchứng chỉ để có thể hành nghề
Năng lực hành nghề (competency) của họ bao gồm 3 yếu tố: kiến thức(Knowledge), kỹ năng(Skill) và thái độ(Attitide) mà mỗi nghề đòi hỏi người phải có
để có thể hành nghề
Kiến thức là những hiểu biết về các khái niệm, định nghĩa, nguyên lý, quytắc, phương pháp, sự kiện về công cụ lao động, đối tượng lao động, quy trình côngnghệ, sản phẩm lao động và những hiểu biết khác cần thiết cho việc hành nghề.Những kiến thức này có được do quá trình học nghề và trong kinh nghiệm lao độngsản xuất của bản thân
Kỹ năng là sự thể hiện khả năng thực hiện thành thạo các công việc của nghềtheo yêu cầu của sản xuất, của thị trường lao động
Thái độ nghề nghiệp là những phẩm chất đạo đức trong lao động như tínhtrung thực, tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật, tính tập thể, tác phong công nghiệp
và các phẩm chất cần thiết khác để người CNKT có thể lao động có chất lượng vàhiệu quả
Trang 22Đào tạo ngành may cũng là đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệhữu cơ với nhau Giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành đểcác học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhấtđịnh về ngành may Sinh viên tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành
để đạt được một trình độ nhất định, đào tạo nghề cho sinh viên là giáo dục kỹ thuậtsản xuất vững vàng nghề nghiệp chuyên môn ngành may
Mục tiêu đào tạo nhân lực kỹ thuật ngành trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ
có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâmnghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiệncho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làmhoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước
Như vậy, nội dung của đào tạo ngành may bao gồm: trang bị các kiến thức
lý thuyết cho học viên một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tácphong làm việc cho sinh viên trong phạm vi ngành may nhằm giúp họ có thể làmtrong lĩnh vực ngành may nhất định, đào tạo các kỹ thuật viên trình độ cao đẳngngành công nghệ may có đủ năng lực, phẩm chất, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp
để có thể đảm nhận công việc ở các cương vị khác nhau tại các doanh nghiệp mayhoặc cơ sở đào tạo nghề cũng như có khả năng tổ chức quản lý sản xuất những cơ
sở sản xuất vừa và nhỏ của ngành may và các công việc sản xuất may công nghiệptrên toàn bộ dây chuyền sản xuất, thiết lập quy trình sản xuất sản phẩm may trênchuyền, quản lý chuyền, kiểm tra chất lượng sản phẩm may, sử dụng thành thạo cácmáy may trên chuyền, thiết kế sản phẩm may và thực hiện các bước công nghệ chođến kiểm tra chất lượng sản phẩm
Mặc dù số lượng sinh viên qua đào tạo đông như thế nhưng ngành may vẫnđang thiếu trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao Điều này đòi hỏi các trườngcũng như các doanh nghiệp trong ngành may phải quan tâm hơn nữa đến vấn đềnâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Trang 231.2.2 Doanh nghiệp may
Doanh nghiệp may tại Việt Nam là những doanh nghiệp hoạt động theo luậtdoanh nghiệp, là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động sảnxuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ bằng phương pháp quy tụ cácphương tiện tài chính, vật chất và con người, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của ngườitiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp mộtcách hợp lý các mục tiêu xã hội
Những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bao gồm một tập hợp các bộ phậnđược tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các bộ phận tậphợp trong doanh nghiệp bao gồm nhiều phân hệ sau như: sản xuất, thương mại, tổchức-hành chính, nhân sự, tiếp thị, hậu cần Như vậy, một trong những yếu tố cấuthành hệ thống trong hoạt động của doanh nghiệp là nguồn nhân lực trong tổ chức
Để có được NNL này, doanh nghiệp cần thu hút lực lượng lao động từ bên ngoài
XH và các nhà trường Chính vì thế DN trở thành nơi “tiêu thụ sản phẩm” của các
nhà trường, là “khách hàng” mà các cơ sở đào tạo phải hướng tới để phục vụ Sản
phẩm may mặc là các loại quần áo: áo sơ mi, áo jacket, quần kaki, quần bò, quần
âu, quần áo bảo hộ lao động, đồng phục công sở, đồng phục học sinh Sản phẩmcủa các doanh nghiệp may Việt nam không những chỉ phục vụ nhu cầu trong nước
mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp maycòn kinh doanh các thiết bị, phụ kiện và nguyên vật liệu phục vụ trong ngành dệtmay
1.2.3 Trường cao đẳng kỹ thuật
Trường cao đẳng là trường thuộc bậc học cao, trên trung học, nhưng thườngthấp hơn đại học Sinh viên phải tham gia kỳ thi tuyển sinh trực tiếp vào cao đẳnghoặc điểm thi vào đại học thấp hơn điểm quy định nhưng lại đủ để vào cao đẳng thìđăng ký vào học cao đẳng
Vị trí của trường CĐ trong hệ thống GDĐH : Quyết định số
47/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy hoạch mạng lưới các
trường CĐ-ĐH giai đoạn 2001-2010 nêu rõ : “ Hệ thống trường Đại học, Cao đẳng
Trang 24bao gồm : các Đại học quốc gia, các Đại học khu vực, các trường Đại học trọng điểm, các Học viện, các trường Đại học, các trường Cao đẳng, các trường Đại học
mở và các trường CĐ cộng đồng”, như vậy trường CĐ được thừa nhận có vị trí
tương đương như các trường ĐH truyền thống
Mục tiêu đào tạo của các trường CĐ, ĐH truyền thống theo Điều 39, LuậtGiáo dục 2005 là: “ Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thứcphục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng vớitrình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đàotạo trình độ CĐ giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơbản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộcchuyên ngành được đào tạo”
Vậy mục tiêu chung trường CĐ hướng vào trang bị cả lý thuyết và thực hành(trong đó lý thuyết là chủ yếu) cho người học, đào tạo nguồn nhân lực có trình độhướng đến phục vụ cho toàn xã hội, gắn với một vùng rộng lớn (một vùng kinh tế -
xã hội) hay với nhiều vùng kinh tế - xã hội, hoặc cả nước
Thời lượng chương trình cao đẳng thông thường kéo dài 3 năm Tuy nhiên,một số trường cao đẳng có thể kéo dài đến 3,5 năm hoặc để phù hợp với chuyênngành học
Theo từ điển American Heritage Dictionary of the English Language: “Kỹthuật là sự ứng dụng của các nguyên tắc toán và khoa học khác vào thực tế để thiết
kế, chế tạo và vận hành các cấu trúc, máy móc, quá trình, hệ thống một cách kinh tế
Trang 25Như vậy, có thể định nghĩa: “Trường cao đẳng kỹ thuật là các trường đào tạo
hệ cao đẳng, đào tạo các ngành nghề là các nguyên tắc toán và khoa học khác vàothực tế để thiết kế, chế tạo và vận hành các cấu trúc, máy móc, quá trình, hệ thốngmột cách kinh tế và hiệu quả
1.2.4 Chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo thường được đánh giá với nhiều phạm vi khác nhau: Chấtlượng của sản phẩm đào tạo (học sinh/sinh viên tốt nghiệp), chất lượng của các cơ
sở đào tạo và chất lượng của cả hệ thống đào tạo Trong đề tài này, chỉ đề cập đếnchất lượng của sản phẩm đào tạo
Trong một nghiên cứu khá nổi tiếng của Harvey và Green (1993) nhằm tổngkết những quan điểm chung của các nhà giáo dục, chất lượng đào tạo được địnhnghĩa như tập hợp của các thuộc tính khác nhau như sau: chất lượng là sự vượt trội(hay sự xuất sắc), chất lượng là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện không có sai sót),chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu của người được đào tạo),chất lượng là sự đánh giá về đồng tiền (trên khía cạnh đánh giá để đầu tư), và chấtlượng là sự chuyển đổi (từ trạng thái này sang trạng thái khác)
Ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, những định nghĩa về chất lượng đàotạo hầu như được hiểu theo khía cạnh “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” Tuynhiên, sự phù hợp với mục tiêu được hiểu rất khác nhau giữa các quốc gia tùy vàođặc điểm văn hóa, hệ thống quản lý giáo dục đào tạo và tình hình kinh tế xã hội củacác nước
Căn cứ vào những khái niệm về chất lượng nêu trên, với quan niệm tiếp cậnthị trường, chất lượng đào tạo có thể được hiểu theo quan niệm tương đối với khái
niệm sau đây:” Chất lượng đào tạo là mức độ đạt được so với mục tiêu đào tạo
được đề ra nhằm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng”
1.2.5 Liên kết đào tạo
Liên kết đào tạo là sự hợp tác, phối hợp giữa cơ sở đào tạo và các cơ sở sảnxuất để cùng nhau thực hiện những công việc nào đó của quá trình đào tạo nhằmgóp phần phát triển sự nghiệp đào tạo nhân lực cho đất nước đồng thời mang lại lợi
Trang 26ích cho mỗi bên Liên kết đào tạo là sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiệncác chương trình đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng,đại học.
Đơn vị chủ trì đào tạo là các trường tổ chức quá trình đào tạo bao gồm: tuyểnsinh, thực hiện chương trình, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, công nhận kết quả
và cấp bằng tốt nghiệp
Đơn vị phối hợp đào tạo là chủ thể trực tiếp tham gia liên kết đào tạo với vaitrò hợp tác, hỗ trợ các điều kiện thực hiện liên kết đào tạo
Mục đích của hoạt động liên kết đào tạo là:
-Thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội; huy động tiềm năng củacác trường nhằm đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho địa phương
-Tạo cơ hội học tập cho nhiều người trên cơ sở đảm bảo chất lượng, hiệu quảgiáo dục, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng và xã hội hoá giáo dục
Giải pháp là việc đưa ra những cách thức, những công việc cần thực hiện đểgiải quyết một vấn đề khó khăn hay những tồn đọng đang gặp phải nhằm đạt đượccác kết quả tốt đẹp hơn
1.3 Chất lượng đào tạo ngành may
1.3.1 Quan điểm về chất lượng đào tạo ngành may
Quan điểm nguồn lực ở phương Tây cho rằng chất lượng đào tạo nghề phụthuộc đầu vào của hệ thống đào tạo Khi có các yếu tố đầu vào có chất lượng như:cán bộ quản lý giỏi, giáo viên giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ, học sinh giỏi … thì chất
Trang 27lượng đào tạo nghề được nâng cao, cũng có quan điểm cho rằng chất lượng đào tạonghề được đánh giá bằng sản phẩm của quá trình đào tạo (đầu ra), tức là bằng mức
độ hoàn thành của học viên tốt nghiệp Một số quan điểm khác lại khẳng định chấtlượng đào tạo nghề được quyết định bởi các quá trình hoạt động bên trong, đặc biệt
là hệ thống thông tin và hệ thống các quyết định tối ưu
Theo Giáo sư tiến sĩ Đặng Quốc Bảo: Chất lượng là kết quả cuối cùng, đạt
được bởi sự tác động tích cực của các yếu tố cấu thành của quá trình đào tạo, đượckhái quát theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Các yếu tố cấu thành của quá trình đào tào
-Q: chất lượng đào tạo
-MT:mục tiêu đào tạo
-PP, PT: phương pháp, phương tiện phục vụ đào tạo
-GV, CBQL: Giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo
-HV: học viên
-ND: nội dung đào tạo
-CSVC,TC: cơ sở vật chất, tài chính phục vụ đào tạo
CSVC,TC
Trang 281.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ngành may
1.3.2.1 Các yếu tố bên trong
- Mục tiêu đào tạo của Nhà trường
Điều 29, Luật giáo dục Việt Nam sửa đổi năm 2012 có quy định về mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp như sau:
“Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức,
kỹ năng nghệ nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp,
ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho ngườilao động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, cũng
Đối với ngành may, để xây dựng được mục tiêu đào tạo phù hợp, Nhà trườngcũng cần phải tìm hiểu mục tiêu và chiến lược phát triển của ngành may trong tươnglai Từ những mục tiêu đó, Nhà trường sẽ cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ đào tạo đốivới từng đối tượng: giáo viên, sinh viên, cán bộ quản lý của Nhà trường Việc thựchiện mục tiêu cũng cần phải được rà soát, kiểm tra thường xuyên và có sự bổ sung,điều chỉnh khi cần thiết
- Nội dung chương trình, giáo trình và phương pháp đào tạo
Điều 30, luật Giáo dục Việt Nam sửa đổi năm 2012 quy định cụ thể về nộidung, phương pháp giáo dục nghề nghiệp nói chung như sau:
Trang 29(1) Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung vào đào tạo năng lực nghềnghiệp, coi trọng giáo dục đào tạo, rèn luyện sức khỏe, nâng cao trình độ học vấntheo yêu cầu đào tạo
(2) Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp với giảng dạy lý thuyếtvới rèn luyện kỹ năng thực hành, bảo đảm sau khi tốt nghiệp người học có khả nănghành nghề
(3) Nội dung, phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải được thể hiện thànhchương trình giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các Bộ chuyên ngành quy định chươngtrình khung về giáo dục cao đẳng kỹ thuật gồm cơ cấu, nội dung, số môn học, thờilượng các môn học, tỷ lệ thời gian giữa lý thuyết và thực hành, thực tập đối với từngngành, nghề đào tạo Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng kỹ thuật xácđịnh chương trình giáo dục của trường mình
Cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề quy định về nguyên tắc xây dựng và
tổ chức thực hiện chương trình dạy nghề
Áp dụng đối với đào tạo ngành may tại các trường cao đẳng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, những nội dung này được thể hiện như sau:
Chương trình đào tạo: quyết định rất lớn đối với chất lượng đào tạo Một
chương trình đào tạo được xây dựng khoa học, có gắn cơ sở lý luận với thực tế sẽgiúp sinh viên khi ra trường có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc Ngược lại,nếu chương trình đào tạo được xây dựng theo kiểu ngẫu hứng, không nghiên cứukhảo sát, không gắn với thực tế sẽ chỉ đào tạo ra những thế hệ người lao độngkhông có kỹ năng làm việc Đối với ngành dệt may, khi công nghệ và các xu hướngcủa ngành may luôn thay đổi theo nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng thì nhàtrường cũng cần phải cập nhật thường xuyên đề xây dựng những chương trình đàotạo
Điều 6 Tiêu chuẩn 3: tiêu chuẩn đánh giá chương trình đào tạo trường cao
đẳng (Ban hành kèm quyết định số: 66/2007/QĐ – BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm
2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào Tạo)
Trang 30(1) Chương trình giào dục của trường cao đẳng được xây dựng trên cơ sởchương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dụcđược xây dựng với sự tham gia của các giáo viên, cán bộ quản lý, đại diện các tổchức, hội nghề nghiệp và các nhà tuyển dụng lao động theo quy định.
(2) Chương trình giáo dục có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, đượcthiết kế một cách hệ thống, đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của đàotạo cao đẳng và đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực của thị trường lao động
(3) Các học phần, môn học trong chương trình giáo dục có đủ đề cương chitiết, tập bài giảng hoặc giáo trình, tài liệu tham khảo đáp ứng mục tiêu của họcphần, môn học
(4) Chương trình giáo dục được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên cơ sởtham khảo các chương trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi từ các nhà tuyểndụng lao động, người tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằmđáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và củangành
(5) Chương trình đào tạo giáo dục được thiết kế theo hướng đảm bảo liênthông với các chương trình đào tạo và chương trình giáo dục khác
(6) Chương trình giáo dục được định kỳ đánh giá và thực hiện cải tiến chấtlượng dựa trên kết quả đánh giá
Giáo trình đào tạo: để chương trình đào tạo đạt chất lượng tốt, phù hợp với
nhu cầu thực tế thì giáo trình đào tạo cũng phải thường xuyên được cập nhật Tronggiáo trình, ngoài các lý thuyết cơ bản về ngành may như: Thiết kế trang phục, Côngnghệ sản xuất, Quản lý chất lượng sản phẩm, lập kế hoạch tổ chức sản xuất sinhviên cần được đào tạo về những xu hướng và những công nghệ sản xuất mới nhất.Ngoài ra, khi xây dựng giáo trình, Nhà trường cũng nên tham khảo ý kiến chuyêngia của ngành may hoặc các doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho giáo trình bám sát vớithực tế
Phương pháp đào tạo: Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay người ta hay
nhắc đến khái niệm “đổi mới phương pháp đào tạo” Trên thực tế, có nội dung đào
Trang 31tạo tốt mà phương pháp đào tạo không tốt cũng làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quảđào tạo Đối với ngành may, phương pháp đào tạo tốt nhất là phải kết hợp lý thuyếtvới thực hành, sinh viên phải rèn luyện nhiều kỹ năng thực hành, và tham gia sảnxuất thực tế.
- Trình độ của giảng viên và cán bộ quản lý
Điều 14, Luật Giáo dục sửa đổi có quy định rõ vai trò của giáo viên tronggiáo dục nói chung như sau:
+ Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục + Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học
+ Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách bảo đảmcác điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ củamình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trong nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học
Như vậy, để thực hiện được đúng vai trò đó thì đòi hỏi mỗi nhà giáo phải cótrình độ và kỹ năng nhất định
Trình độ của giảng viên ảnh hưởng trực tiếp đến việc soạn thảo các nội dungbài giảng và phương pháp giảng dạy Nếu giảng viên có kiến thức tốt, có nhiều kinhnghiệm sẽ biết cách truyền đạt hiệu quả nhất đến sinh viên Vì thế, các giảng viêncũng luôn luôn phải được đào tạo và tự đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn,cập nhật thường xuyên những kiến thức mới để truyền đạt cho sinh viên
Trình độ của cán bộ quản lý đào tạo cũng tác động trực tiếp đến kết quả vàchất lượng đào tạo Người quản lý có trình độ tốt sẽ không chỉ xây dựng được kếhoạch đào tạo hợp lý mà còn có khả năng tổ chức thực hiện và giám sát đào tạo tốt.Quá trình đào tạo như thế mới đạt được những mục tiêu mà Nhà trường đã đặt ra
- Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
Cơ sở vật chất là những phương tiện hỗ trợ đắc lực cho việc nâng cao chấtlượng đào tạo Một Nhà trường có cơ sở vật chất tốt, phòng học khang trang, cótrang bị máy chiếu, máy tính và các dụng cụ thực hành tốt chắc chắn sẽ mang lạihiệu quả đào tạo cao
Trang 32Điều 11 Tiêu chuẩn 8: tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường caođẳng (Ban hành kèm theo Quyết định số: 66/2007/QĐ – BGDĐT) thư viện, trangthiết bị học tập và cơ sở vật chất khác.
(1) Thư viện có đủ tài liệu, sách, báo, tạp chí để tham khảo và học tập theoyêu cầu của chương trình giáo dục theo quy định Tổ chức phục vụ đáp ứng nhu cầuhọc tập của người học
(2) Có đủ các phòng học và diện tích lớp học cho việc dạy và học; có đủ cácphòng thực hành, thí nghiệm và trang thiết bị theo yêu cầu của chương trình giáodục
(3) Có đủ phòng làm việc cho các cán bộ, giảng viên và nhân viên cơ hữutheo quy định
(4) Có phòng máy tính được nối mạng đáp ứng nhu cầu học tập của ngườihọc; có biện pháp hỗ trợ người học tiếp cận với công nghệ thông tin
(5) Có ký túc xá, đảm bảo đủ diện tích nhà ở và sinh hoạt cho sinh viên nộitrú và có các dịch vụ phụ vụ người học theo quy định
(6) Có trang thiết bị và sân bãi cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thểdục thể thao, đảm bảo diện tích khu thể dục thể thao theo quy định
(7) Có quy hoạch tổng thể về sử dụng và phát triển cơ sở vật chất củatrường
(8) Có biện pháp bảo vệ tài sản, trật tự, an toàn, an ninh cho cán bộ quản lý,giảng viên, nhân viên và người học
- Ý thức học tập của sinh viên
Ý thức và thái độ học tập của sinh viên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kếtquả đào tạo Khi sinh viên ý thức được tầm quan trọng của việc học, họ sẽ chăm chỉtìm hiểu, nghiên cứu các kiến thức đã học và chăm chỉ thực hành Còn đối vớinhững sinh viên học mang tính đối phó, họ hầu như không lĩnh hội được kiến thức
và cũng không có ý thức rèn luyện và càng ngày họ càng tụt hậu với những kiếnthức mới Chính vì thế, việc tuyên truyền để nâng cao ý thức học tập của sinh viên
là một hình thức để nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 331.3.2.2 Các yếu tố bên ngoài
- Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội
Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay sẽ đặt ra nhữngthách thức cho Việt nam nói chung và ngành may nói riêng về vấn đề chất lượngnguồn nhân lực Điều đó đòi hỏi nhà nước phải đề ra những chiến lược đầu tư choviệc phát triển nguồn nhân lực cho ngành may Đó là cơ hội tốt để công tác đào tạongành may tại các trường được đầu tư trang bị về tài chính cũng như cơ sở vật chất,tạo điều kiện cho các trường có đủ năng lực để nâng cao chất lượng đào tạo
- Chiến lược phát triển của ngành may
Chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may đến năm 2015, định hướngphát triển đến năm 2020 đã được thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã đưa ra quanđiểm: “Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng cho sự phát triển bềnvững của ngành dệt may Việt nam; Trong đó, chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, cán
bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề nhằm tạo ra đội ngũ doanh nhân giỏi, cán bộ,công nhân lành nghề, chuyên sâu” Để thực hiện mục tiêu đó, chiến lược đã đưa ranhiều giải pháp về công tác nhân sự trong đó có giải pháp: “Cũng cố và mở rộng hệthống đào tạo chuyên ngành dệt may, xây dựng trường đại học dệt may và thờitrang để tạo cơ sở vật chất cho việc triển khai các lớp đào tạo” Như vậy, chiến lượcphát triển ngành may đã rất chú trọng vào yếu tố con người Đây là điều kiện thuậnlợi để công tác đào tạo ngành may được quan tâm và nâng cao về chất lượng
Trang 34Khái quát các yếu tố theo sơ đồ sau:
Điều kiện môi trường
Đào tạo
Thông tin phản hồi
Sơ đồ 1.2: Các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo
1.4 Liên kết giữa Nhà trường và doanh nghiệp may trong đào tạo ngành may
1.4.1 Mục tiêu liên kết giữa Nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo ngành may
Trong hợp tác, yếu tố quyết định thành công là các bên phải cùng có lợi ích(Win-Win) Nếu mỗi bên theo đuổi mục tiêu lợi ích riêng của mình mà không tínhđến lợi ích thoả đáng của bên kia thì rất khó hợp tác được với nhau Các bên phảinhìn nhận rất rõ là “khách hàng” của nhau thì mới có được các “ứng xử” theonguyên tắc cùng có lợi
Hợp tác giữa Nhà trường và doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực đàotạo nói riêng còn khá mới mẻ ở nước ta Do đó, sự hiểu biết lẫn nhau để thực hiệnnguyên tắc cùng có lợi còn rất hạn chế Các doanh nghiệp là tổ chức lợi nhuậnnên họ rất quan tâm đến chi phí và lợi ích Họ không thể bỏ thời gian, tiền bạc đểhợp tác với nhà trường nếu thấy không đem lại lợi ích thiết thực
Lợi ích lớn nhất mang lại từ hợp tác của doanh nghiệp với trường đại học,cao đẳng là có được nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển Các doanh
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Trang 35nghiệp thay vì phải tìm kiếm lao động trên thị trường tự do, mất thời gian và chiphí để đào tạo lại, các doanh nghiệp “đặt hàng” với trường đại học, cao đẳng đểđào tạo ra những cán bộ, chuyên gia đáp ứng được nhu cầu phát triển của mình.Như vậy, trường đại học, cao đẳng sẽ đem lại lợi ích rất lớn, tạo nguồn “tài sản”quí giá trong tương lai cho các doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp còn nhậnđược lợi ích từ các trường trong việc tiếp cận trực tiếp với các giải pháp phát triểndoanh nghiệp, phát minh, sáng chế và các dịch vụ tư vấn.
Gắn kết đào tạo theo nhu cầu phát triển của doanh nghiệp cũng mang lạinhiều lợi ích cho nhà trường Trước hết, sản phẩm đầu ra đã có nơi đặt hàng, nhờ
đó nắm bắt được cụ thể yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, phẩm chấtnghề nghiệp, số lượng, qui mô cần phải đào tạo Các thông tin này có vai trò cực
kỳ quan trọng trong việc thiết kế nội dung các chương trình đạo tạo và tuyểnchọn, phát triển đội ngũ giảng viên Mặt khác, nhờ có đơn đặt hàng, nhà trường cóđược nguồn kinh phí dồi dào, tăng cường cơ sở vật chất Những lợi ích này sẽgiúp nhà trường có được thương hiệu mạnh, thu hút đầu vào giỏi, nhiều đơn đặthàng, nhận được nhiều tài trợ (đặc biệt là tài trợ của các cựu sinh viên thành đạt)
Nhà trường gắn kết đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp sẽ mang lại lợiích to lớn cho tất cả các bên Sự gắn kết này đã và đang được nhà trường và doanhnghiệp ở nhiều nước khai thác triệt để
Mục tiêu của việc kết hợp đào tạo nghề gồm: mục tiêu chiến lược, mục tiêucạnh tranh và mục tiêu nội tại
Mục tiêu chiến lược: giảm một phần tỉ lệ thất nghiệp và giảm lãng phí xã
hội trong đào tạo nghề, giải quyết vấn đề cân bằng cung – cầu nhân lực kỹ thuật
Mục tiêu cạnh tranh: nâng cao lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ, tác động đến sự
phát triển của các doanh nghiệp và nhà trường
Mục tiêu nội tại: Nhà trường sẽ nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
nghề, liên tục cải tiến nội dung, chương trình giảng dạy cho phù hợp với thực tiễnyêu cầu của thị trường lao động kỹ thuật, truyền đạt kinh nghiệm việc làm, tăngcường các nguồn lực cho đào tạo, sản xuất thực tiễn, rèn luyện tác phong công
Trang 36nghiệp, kỷ luật lao động cho người học ngay trong quá trình đào tạo nghề, cập nhậtcông nghệ sản xuất hiện đại trong đào tạo nghề, tạo cơ hội việc làm tốt hơn cho sinhviên tốt nghiệp, hoạch định kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường có hiệu quảhơn.
Doanh nghiệp có cơ hội tham gia định hướng mục tiêu đào tạo, chủ động hơntrong công tác đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ lao động kỹ thuật, có cơ hộituyển chọn được đội ngũ lao động kỹ thuật đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, giảmchi phí đào tạo, Doanh nghiệp có nhu cầu, điều kiện nâng cao trình độ, hay đào tạolại để đổi mới công nghệ sản xuất cho nhân lực lao động
1.4.2 Các nội dung liên kết giữa Nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo ngành may
1.4.2.1 Liên kết về thiết kế và xây dựng chương trình đào tạo
Nội dung chương trình đào tạo có vai trò là điều kiện tiên quyết đảm bảothành công của đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp Tuỳ theo từng vị trícông việc trong doanh nghiệp sẽ thiết kế nội dung chương trình về kiến thức, kỹnăng, nghiệp vụ và những phẩm chất nghề nghiệp cần thiết Các doanh nghiệp cầntham gia trực tiếp vào việc xây dựng, cải tiến chương trình đào tạo thông qua cungcấp thông tin, phản biện nội dung chương trình Trong nhóm xây dựng, cải tiếnchương trình đào tạo cần có một số thành viên của doanh nghiệp, trong đó đặcbiệt là những người quản lý các bộ phận tác nghiệp Tuy nhiên, cũng cần phải lưu
ý rằng, ngoài đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp, nhà trường còn phải đảmbảo tính tiên tiến, hiện đại của chương trình đào tạo mà các doanh nghiệp chưabiết đến hoặc ít quan tâm và quan trọng hơn là việc đào tạo ra những con người cókhả năng tự học để học suốt đời Đây chính là điểm khác biệt quan trọng giữađào tạo cao đẳng và đào tạo nghề
Khi có được các chương trình đào tạo đạt chuẩn thì việc xây dựng học liệukhông quá khó khăn Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng học liệu là thamgia hoặc cung cấp thông tin để viết các nghiên cứu tình huống (case stuty) Kinhnghiệm thành công và thất bại của các cá nhân trong từng vị trí công việc sẽ là
Trang 37những bài học vô cùng quý giá cho những sinh viên, học viên Nhà trường rất cầncác nghiên cứu tình huống sống động từ thực tiễn của doanh nghiệp và hoàn toàn
có thể tham gia được việc này Doanh nghiệp càng đầu tư đúc kết rút nhữngkinh nghiệm thành công, thất bại của những người đi trước bao nhiêu đểtham khảo cho những người đi sau thì càng tăng được giá trị và giảm bớt nhữngtổn thất cho mình trong tương lai Điều này đã được các nhà lãnh đạo, quản lýdoanh nghiệp (CEO) nổi tiếng trên thế giới đúc kết qua nhiều cuốn sách về lãnhđạo, quản trị nhân sự
1.4.2.2 Liên kết về tài chính và cơ sở vật chất
Công nghệ đào tạo có được thực hiện tốt hay không phụ thuộc quan trọngvào nguồn tài chính Chất lượng đào tạo tốt phụ thuộc vào nguồn tài chính tốt.Nguồn tài chính của phần lớn các đại học, cao đẳng ở nước hiện nay vẫn phụthuộc vào ngân sách nhà nước và một phần nhỏ vốn tự có từ học phí Cả hai nguồnvốn này, về cơ bản mới chỉ đủ cho nhà trường duy trì các hoạt động thườngxuyên thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao Kinh nghiệm thành công của nhiềuđại học lớn trên thế giới cho thấy, muốn có “nguồn tài chính khoẻ” cần phải dựavào doanh nghiệp và tài trợ Các doanh nghiệp có thể hỗ trợ đại học thông qua cáchoạt động cung cấp học bổng cho sinh viên, trả học phí dưới dạng tài trợ cho đạihọc để đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho doanh nghiệp, cung cấp tài chínhcho đại học thông qua việc ký các hợp đồng nghiên cứu, tư vấn và đầu tư mạohiểm (phát minh, sáng chế, ý tưởng mới…) Mặt khác, các doanh nghiệp có thểđóng góp tài chính với đại học để thành lập các công ty, vườn ươm doanhnghiệp, khu công nghệ cao… Các đại học, doanh nghiệp ở thành phố Kawasaki(Nhật Bản) rất thành công trong mô hình gắn kết đại học và doanh nghiệp.Doanh nghiệp, đại học, chính quyền thành phố cùng góp vốn để xây dựng các vườnươm doanh nghiệp, khu công nghệ cao
Đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp còn được thể hiện rất rõ qua việctăng cường năng lực về cơ sở vật chất cho đại học Các đại học, cao đẳng ở nước
ta đang gặp khó khăn rất lớn về thiếu trầm trọng giảng đường, phòng thí nghiệm
Trang 38và thiết bị dạy học Các doanh nghiệp có thể hỗ trợ giải quyết một phần khó khănnày thông qua việc hiến tặng giảng đường, phòng thí nghiệm, thiết bị dạy học vàđào tạo tại doanh nghiệp (sử dụng cơ sở vật chất của doanh nghiệp) Nhờ đó, sinhviên có cơ hội được làm quen với môi trường doanh nghiệp, các thiết bị, côngnghệ sản xuất của doanh nghiệp Đồng thời, các doanh nghiệp cũng có cơ hội đểlựa chọn, hướng nghiệp cho những sinh viên, học viên có năng lực tốt phục vụ chodoanh nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp.
1.4.2.3 Liên kết về nhân sự
Đội ngũ giảng viên là thành tố then chốt trong công nghệ đào tạo và quyếtđịnh sự thành công của đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp Căn cứ vào nộidung, yêu cầu của chương trình đào tạo, các giảng viên phải xây dựng, điềuchỉnh, bổ sung những kiến thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp mà doanhnghiệp cần chứ không phải là dựa vào những thứ có sẵn hoặc ý muốn chủ quancủa giảng viên Phương pháp dạy học, thực tập của sinh viên cũng phải thay đổitheo hướng phục vụ người học, đảm bảo được sự linh hoạt và bám sát thực tế.Yêu cầu này đã buộc các giảng viên và sinh viên phải đi khảo sát, gắn bó vớidoanh nghiệp Mặt khác, với phương thức đào tạo gắn kết này, các doanh nghiệp
có nhiều cơ hội và trách nhiệm trong việc báo cáo thực tiễn (guest speaker),trực tiếp tham gia hướng dẫn thực tập, khoá luận, luận văn tốt nghiệp của sinhviên, học viên
Ngòai ra, Nhà trường cũng có thể mời các chuyên gia tại doanh nghiệp đếntrực tiếp đào tạo Hình thức này giúp cho các sinh viên có thể được tiếp cận vớinhững kiến thức thực tế trong môi trường công việc Ngược lại, các sinh viên tốtnghiệp xuất sắc lại là nguồn cung ứng lao động tốt nhất để đáp ứng nhu cầu củadoanh nghiệp Như vậy, việc liên kết về vấn đề nhân sự rõ ràng mang lại không ítlợi ích cho cả hai bên
1.4.2.4 Liên kết về quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo là thành tố cuối cùng, nhưng đóng vai trò đặc biệtquan trọng, quyết định thành công hoặc thất bại việc vận hành công nghệ đào tạo
Trang 39gắn với nhu cầu của doanh nghiệp Nội dung này bao gồm các qui định có liênquan đến tất cả các nội dung của qui trình đào tạo Đối với đào tạo theo nhucầu của doanh nghiệp, các qui định tuyển sinh và qui mô đào tạo cần phải căn
cứ vào yêu cầu (kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ, phẩm chất nghề nghiệp) của từng
vị trí công việc và nhu cầu phát triển nhân lực của doanh nghiệp hơn là dựa vàocác qui định chung hoặc chỉ tiêu được phân bổ hàng năm Qui định chất lượnggiảng viên, tiền lương, đãi ngộ cũng phải căn cứ vào chất lượng công việc, mức
độ đóng góp của cán bộ chứ không phải chỉ là dựa vào bằng cấp, thâm niên côngtác Về mức học phí được thu dựa trên nguyên tắc thị trường Doanh nghiệp vànhà trường cùng trao đổi về các qui định, phương thức quản lý để thống nhất tronghợp đồng đào tạo
1.4.2.5 Liên kết về thông tin
Ngoài việc xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động, Nhà trườngcần thiết lập mối quan hệ chặt chẽ và thường xuyên với các doanh nghiệp để cónhững thông tin về nhu cầu nhân lực của họ cả về số lượng lẫn chất lượng Ngoài
ra, việc liên kết thông tin với doanh nghiệp giúp cho Nhà trường biết được nhu cầu
về số lượng và chất lượng của lao động ngành may, từ đó xây dựng các kế hoạchđào tạo và tổ chức được các chương trình đào tạo cũng như tuyển sinh phù hợp vớinhu cầu của sản xuất, của thị trường lao động
Việc liên kết thông tin giữa nhà trường và doanh nghiệp còn cung cấp thôngtin cho nhà trường về sự phù hợp của các chương trình đào tạo, những nội dung cầncải tiến, bổ sung hoặc cần thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất
Đối với sinh viên, việc liên kết thông tin giúp họ có định hướng tốt hơn và cónhiều cơ hội tìm được việc làm hơn khi tốt nghiệp ra trường
Về phía doanh nghiệp, liên kết thông tin giúp doanh nghiệp biết được nhữngthông tin đầy đủ về khả năng đào tạo của Nhà trường, hỗ trợ doanh nghiệp có nhiều
cơ hội tuyển dụng được những nhân viên phù hợp với yêu cầu của mình
Trang 401.4.3 Các mức độ liên kết trong đào tạo ngành may, tương quan tổ chức giữa trường và doanh nghiệp may
Sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề rất đa dạng,
có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau tuỳ theo yêu cầu và điềukiện của các bên tham gia liên kết với mục tiêu sự hợp tác liên kết này sẽ mang lạilợi ích cho cả hai bên, có thể chia sự liên kết này thành các mức độ như sau tùythuộc vào yêu cầu và khả năng của mỗi bên:
- Liên kết toàn diện: thường chỉ có ở các mô hình tổ chức doanh nghiệp nằm
trong trường hoặc trường nằm trong doanh nghiệp Đối với các mô hình tổ chức độclập giữa trường và doanh nghiệp thì khó đạt được mức độ liên kết toàn diện songtrên thực tế chỉ có một số trường thiết lập được hợp đồng liên kết toàn diện vàthường xuyên Liên kết toàn diện có sự tham gia phối hợp của phía nhà trường cùngvới doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực của quá trình đào tạo nghề Doanh nghiệp sẽgóp phần đầu tư trang thiết bị, tổ chức các phân xưởng đào tạo để nhà trường vàdoanh nghiệp cùng sử dụng, cử kỹ sư và các công nhân lành nghề cùng tham giavào việc giảng dạy, xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, tham gia vớinhà trường từ khâu hướng nghiệp học sinh phổ thông chọn nghề phù hợp để học,tham gia đào tạo đánh giá kết quả học tập của học sinh, giới thiệu việc làm cho sinhviên…
- Liên kết từng phần: là sự liên kết chỉ được thực hiện trong một số lĩnh vực
của quá trình đào tạo nghề Ví dụ, doanh nghiệp hàng năm nhận sinh viên củatrường vào thực tập sản xuất, thực tập tốt nghiệp…
Với mức độ liên kết từng phần, có thể chia ra làm hai loại là liên kết thườngxuyên và liên kết rời rạc Liên kết thường xuyên là hai bên duy trì sự liên kết mộtcách liên tục, đều đặn trong thời gian dài ở một số nội dung nhất định Liên kết rờirạc là sự liên kết không đều đặn, mang tính thời điểm và chỉ thực hiện khi các bên
có nhu cầu và điều kiện