1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp trong phát triển cánh đồng lớn ở đồng bằng sông cửu long

225 143 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 225
Dung lượng 4,68 MB
File đính kèm Luận văn full.zip (3 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh nghiệm xây dựng "Mô hình liên kết sản xuất" - nơi sản sinh và thực hiện lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp và bài học rút ra cho đồng bằng sông Cửu Long 59 Chương 3: THỰC

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Mã số: 62 31 01 02

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS NGUYỄN QUỐC DŨNG

2 GS.TS CHU VĂN CẤP

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả

Trần Hoàng Hiểu

Trang 4

LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP

2.1 Lý luận về quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh

2.2 Kinh nghiệm xây dựng "Mô hình liên kết sản xuất" - nơi sản

sinh và thực hiện lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp

và bài học rút ra cho đồng bằng sông Cửu Long 59

Chương 3: THỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NÔNG

DÂN VÀ DOANH NGHIỆP TRONG PHÁT TRIỂN CÁNH

3.2 Thực trạng thực hiện lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế

giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình cánh đồng lớn ở

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT HÀI HÕA QUAN

HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP TRONG PHÁT TRIỂN CÁNH ĐỒNG LỚN Ở ĐỒNG

4.1 Quan điểm giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông

dân và doanh nghiệp trong phát triển cánh đồng lớn ở đồng bằng

4.2 Giải pháp giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông

dân và doanh nghiệp trong phát triển cánh đồng lớn ở đồng bằng

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 7 1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến

đề tài luận án và những khoảng trống luận án cần tiếp tục nghiên cứu 28

Chương 2: LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AGPPS : Công ty cổ phần bảo vệ thực vật An Giang

MHCĐL : Mô hình cánh đồng lớn

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Globalgap : Thực hành sản xuất tốt theo tiêu chuẩn toàn cầu VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm

VietGAP : Thực hành sản xuất tốt theo tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH, SƠ ĐỒ

TrangBảng 2.1: Tổng hợp lợi ích kinh tế của nông dân và doanh nghiệp

Bảng 3.1: Vùng liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ lúa - xây dựng

cánh đồng lớn tại đồng bằng sông Cửu Long năm 2014 79Bảng 3.2: Diện tích, số hộ thực hiện cánh đồng lớn năm 2016 và kế

hoạch thực hiện cánh đồng lớn giai đoạn 2017-2019 của

Bảng 3.5: Chi phí sản xuất trung bình vụ Đông Xuân 2015- 2016,

vụ Hè Thu 2016 của vùng đồng bằng sông Cửu Long qua

Bảng 3.6: Doanh thu và lợi nhuận vụ Đông Xuân 2015 - 2016, vụ

Hè Thu 2016 của vùng đồng bằng sông Cửu Long qua

Bảng 3.7: Về hiệu quả kinh tế của mô hình cánh đồng lớn vụ Đông

Xuân 2016-2017 tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang 94Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế của một số cánh đồng lớn điển hình trên

địa bàn huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang vụ Hè Thu năm 2018

95Bảng 3.9: Chênh lệch giữa giá gạo xuất khẩu và giá lúa tại ruộng

Sơ đồ 4.1: Đề xuất mô hình liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp

Trang 7

Chính vì vậy, thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung, đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL) nói riêng và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên, nôngnghiệp nước ta chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu nông nghiệp, nôngdân, nông thôn nước ta vẫn đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức lớn

Vì thế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nângcao giá trị gia tăng và phát triển hiện đại, bền vững gắn với xây dựng nông thônmới, dựa trên nền tảng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt công nghệcao và đổi mới mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp Để tái cơ cấu nông nghiệpcần xây dựng vùng sản xuất tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm TheoNghị định số 80/2002/NĐ-TTg, ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chínhsách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng và Chỉ thị24/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng vùng nguyên liệu gắn vớichế biến và tiêu thụ Quyết định 62/2013/QĐ-TTg, ngày 25/10/2013 của Thủ tướngChính phủ về chính sách phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nôngsản, xây dựng cánh đồng lớn (CĐL) Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủngày 05/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Xây dựng CĐL là nhu cầu thực tiễn, là giảipháp quan trọng và lâu dài góp phần thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nông nghiệp theohướng nâng cao giá trị gia tăng và tính bền vững như Nghị quyết 21/2011/QH13 đãkhẳng định

Trang 8

Ở ĐBSCL, việc liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản theo mô hình CĐL đãđược hình thành và phát triển từ năm 2011 đến nay Cánh đồng lớn là mô hình có sựliên kết 4 nhà: Nhà nông, nhà doanh nghiệp, có sự hỗ trợ của Nhà nước và nhà khoahọc Trong đó, mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt Môhình này đã mang lại lợi ích kinh tế (LIKT) cho cả nông dân và doanh nghiệp, tạođộng lực cho quá trình đổi mới tổ chức sản xuất theo mô hình liên kết Đặc biệt,trong sản xuất lúa ở ĐBSCL là mô hình tham gia liên kết sản xuất theo CĐL đã tạo

sự đồng thuận to lớn đối với cả nông dân và doanh nghiệp - yếu tố quyết định sựthành bại đối với quá trình hình thành và phát triển mô hình CĐL Trên thực tế, khitham gia liên kết sản xuất theo CĐL, nông dân có được những lợi ích như: có cơ hộitiếp cận thị trường, biết được mình trồng cây gì, bán cho ai, giá bao nhiêu, vào lúcnào và có thể biết hưởng lợi bao nhiêu, từ đâu, nên họ sẽ yên tâm sản xuất; nông dân

sẽ tiết kiệm được chi phí sản xuất từ đó tăng thu nhập; nhận thức và trình độ củanông dân được nâng lên Đối với doanh nghiệp có lợi ích như: thiết lập được liên kếtdọc với nông dân đa diện và sâu sát sẽ đảm bảo nguồn nguyên liệu đầy đủ và kịpthời, đáp ứng nhu cầu của thị trường; doanh nghiệp có được nguồn nguyên liệu với

độ đồng đều và chất lượng cao mua được từ nông dân trong mô hình liên kết, dẫnđến giá bán nông sản cao hơn từ đó lợi nhuận tăng lên Qua đó cho thấy, quan hệLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp là tác nhân quan trọng để phát triển mô hìnhCĐL

Tuy vậy, thực tế cho thấy quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệptrong mô hình CĐL vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn, những bất hợp lý, thua thiệtcho cả nông dân và doanh nghiệp mà nguyên nhân xuất phát từ cả phía nông dân lẫnphía doanh nghiệp, mà chủ yếu là vấn đề giải quyết hài hòa quan hệ LIKT giữanông dân và doanh nghiệp Để mô hình liên kết trong CĐL ổn định và phát triểnbền vững thì việc đảm bảo hài hòa quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệptrong liên kết sản xuất lúa theo CĐL là rất quan trọng Do đó, cần có những nghiêncứu chuyên sâu tìm giải pháp hữu hiệu nhằm giải quyết hài hòa quan hệ LIKT giữanông dân và doanh nghiệp trong phát triển CĐL Để góp phần tìm giải pháp, nghiên

cứu sinh lựa chọn vấn đề: "Quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp trong phát triển cánh đồng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long" làm đề tài

luận án Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị

Trang 9

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở luận giải lý luận và thực tiễn về LIKT và quan hệ LIKT giữanông dân và doanh nghiệp trong mô hình CĐL, luận án nghiên cứu đánh giá thựctrạng quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong quá trình phát triển môhình CĐL sản xuất lúa ở ĐBSCL thời gian qua Trên cơ sở đó, luận án đề xuất cácquan điểm và giải pháp nhằm giải quyết hài hòa quan hệ LIKT giữa nông dân vàdoanh nghiệp để thúc đẩy phát triển CĐL sản xuất lúa ở ĐBSCL đến năm 2025

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án có các nhiệm vụ sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến LIKT và quan hệ LIKTgiữa nông dân và doanh nghiệp trong phát triển CĐL

- Hệ thống hóa, làm rõ thêm lý luận về quan hệ LIKT giữa nông dân vàdoanh nghiệp trong mô hình CĐL Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn về "xây dựng

và phát triển các mô hình liên kết sản xuất tiêu thụ nông phẩm theo CĐL - nơi sảnsinh và thực hiện quan hệ LIKT tế giữa nông dân và doanh nghiệp

- Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng thực hiện LIKT và quan hệLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình CĐL sản xuất lúa ở ĐBSCL giaiđoạn 2014-2018

- Đề xuất những quan điểm và và giải pháp nhằm giải quyết hài hòa quan hệLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong phát triển CĐL sản xuất lúa ở ĐBSCL đếnnăm 2025

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan hệ LIKT giữa nông dân và doanhnghiệp trong phát triển mô hình CĐL sản xuất lúa dưới góc độ khoa học kinh tếchính trị Quan hệ LIKT được nghiên cứu dưới góc cạnh là sản phẩm hay kết quảcủa việc thực hiện các mối quan hệ liên kết kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệptrong mô hình CĐL sản xuất lúa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Trên địa bàn các tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSCL.

Trang 10

- Về thời gian: Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng được tiến hành chủ yếu

trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018 Các giải pháp được đề xuất thực hiệnđến năm 2025

4 Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn của luận án

Cở sở lý luận của luận án: Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; về LIKT trongliên kết sản xuất và tiêu thụ nông phẩm; quan điểm, chủ trương, đường lối, chínhsách của Đảng, Nhà nước đối với việc giải quyết hài hòa quan hệ LIKT giữa nôngdân và doanh nghiệp trong liên kết sản xuất giai đoạn hiện nay

Cơ sở thực tiễn của luận án: Luận án dựa trên kinh nghiệm quốc tế và một

số địa phương trong nước về xây dựng các mô hình liên kết sản xuất theo CĐL - nơisản sinh và thực hiện quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng phương pháp nghiêncứu của khoa học kinh tế chính trị - phương pháp trừu tượng hoá khoa học.Phương pháp trừu tượng hóa khoa học được sử dụng chủ yếu ở chương 2 nhằmphân tích cơ sở lý luận về LIKT và mối quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệptrong mô hình CĐL

Các phương pháp cụ thể được tác giả luận án sử dụng:

(1) Phân tích - tổng hợp, phương pháp logic kết hợp với lịch sử

Phân tích là một vấn đề cần thiết để giải thích theo phương pháp truynguyên nhằm nhận thức quá trình hình thành, phát triển các hiện tượng, quá trìnhkinh tế trong các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển Điểm kết thúc của

sự phân tích là tổng hợp, nhờ có tổng hợp mới có thể đi từ cái cụ thể, tản mạn đến

sự khái quát thành khái niệm, phạm trù lý luận Phương pháp này được sử dụng ởChương 1

- Tổng quan tnh hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án - để phân tích cơ sở

lý luận, kinh nghiệm thực tiễn về đối tượng nghiên cứu, từ đó rút ra những kết quảnghiên cứu và các vấn đề còn là "khoảng trống" cần tiếp tục nghiên cứu Phương

Trang 11

pháp này cũng được sử dụng ở Chương 2 để phân tích khung lý luận về LIKT vàmối quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình CĐL.

(2) Phương pháp thống kê và so sánh, diễn dịch và quy nạp, điều tra khảo sátđược sử dụng ở Chương 3 nhằm làm rõ thực trạng thực hiện LIKT và mối quan hệLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình CĐL giai đoạn 2014-2018, từ

đó rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

(3) Phương pháp thu thập thông tin

- Thu thập dữ liệu thứ cấp: tác giả luận án thu thập tài liệu trong và ngoàinước qua các công trình khoa học đã công bố, qua số liệu thống kê của Tổng cụcThống kê Việt Nam và các tài liệu công bố chính thức liên quan đến đề tài luận án,của các cơ quan nhà nước, bộ, ngành, địa phương

- Thu thập dữ liệu sơ cấp: tọa đàm, trao đổi, hỏi ý kiến, phỏng vấn trực tiếpmột số nông dân, doanh nghiệp và cán bộ quản lý

Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 3 nhằm cung cấp cácluận cứ phân tích và rút ra kết quả đạt được cũng như những hạn chế, yếukém và nguyên nhân của thực trạng vấn đề nghiên cứu

Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp tổng kết thực tiễn về xây dựng

và phát triển CĐL và giải quyết mối quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệptrong phát triển CĐL ở ĐBSCL

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án có những đóng góp mới như:

- Thứ 1, góp phần khái quát các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan

đến LIKT nói chung và quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong CĐL nóiriêng, qua đó, chỉ ra những khoảng trống của các nghiên cứu trước đó về mối quan

hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong phát triển CĐL mà luận án cần tiếptục nghiên cứu

- Thứ 2, luận án tiếp cận vấn đề quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh

nghiệp trong mô hình CĐL sản xuất lúa dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị Vìvậy, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần hệ thống hóa và làm rõ các cơ sở lýluận, bản chất và phương thức đảm bảo hài hòa quan hệ LIKT giữa nông dân vàdoanh nghiệp trong phát triển CĐL ở ĐBSCL

Trang 12

- Thứ 3, tổng kết, đánh giá thực trạng quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh

nghiệp trong mô hình CĐL sản xuất lúa ở ĐBSCL từ năm 2014 đến năm 2018 Ởđây, luận án rút ra kết luận có tính lý luận và thực tiễn là: đảm bảo hài hòa quan hệ

LIKT là "chất kết dính" người nông dân và doanh nghiệp trong phát triển CĐL và là

nhân tố đảm bảo cho CĐL phát triển ổn định, hiệu quả, bền vững

- Thứ 4, đề xuất các quan điểm định hướng và giải pháp mang tính toàn diện

và khả thi nhằm giải quyết hài hòa quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệptrong mô hình CĐL ở ĐBSCL đến năm 2025

6 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án gồm 4 chương 08 tiết

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

độ khoa học triết học, kinh tế chính trị, xã hội học, tâm lý học

1.1.1.1 Các tác giả nước ngoài nghiên cứu về lợi ích kinh tế

* Quan niệm về lợi ích kinh tế:

A.Smith với tác phẩm: "The wealth of natons" (Của cải của các dân tộc)

[95, tr.65] cho rằng: LIKT và phân công lao động chính là hai phạm trù có mối quan

hệ gắn bó với nhau Thông qua phân công lao động, mỗi cá nhân sẽ trau dồi nghềnghiệp của mình hoàn hảo và khiến việc lao động mang lại hiệu quả cao nhất, qua

đó sẽ làm cho lợi ích cá nhân tăng lên Khi nói về vai trò của lợi ích, A.Smith chorằng: động lực thúc đẩy con người lao động để làm ra của cải vật chất cho xã hội,tạo ra sự phồn thịnh của mọi quốc gia, mọi dân tộc chính là LIKT của mỗi cá nhân,lòng ham tư lợi, vị kỷ của cá nhân, ham làm giàu Ông cũng chỉ ra mối quan hệ giữalợi ích của toàn dân tộc, quốc gia và LIKT của cá nhân Theo A.Smith, trong quátrình hoạt động kinh tế, mỗi người đều theo đuổi lợi ích cá nhân, đều nỗ lựccải thiện mức sống của mình, như thế tất yếu sẽ dẫn đến làm tăng của cải xã hội

David Ricardo (1772 - 1823) với tác phẩm: Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa, đã cho rằng: LIKT của các giai cấp khác nhau được xây

dựng trên cơ sở giá trị, tiền lương và lợi nhuận Do đó, việc tăng hay giảm tiềnlương sẽ không ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa, mà chỉ ảnh hưởng đến việc phânphối giá trị đã được tạo ra giữa công nhân và tư bản Chính vì vậy, nó sẽ ảnh hưởngđến LIKT của họ Khi giá trị vật phẩm tiêu dùng thiết yếu giảm xuống, tiền công laođộng giảm, lợi nhuận của nhà tư bản sẽ tăng lên Điều đó được thể hiện trong sốgiá trị mới được tạo ra, phần của công nhân được hưởng nhỏ hơn, còn phần củangười sử dụng lao động (hay là nhà tư bản) thì lớn hơn, đây là mối quan hệ tỷ lệnghịch về lợi ích, nếu lợi ích của người đi thuê công nhân tăng thì lợi ích củangười đi làm

Trang 14

thuê sẽ giảm và ngược lại [93] Phát hiện này của David Ricardo có ý nghĩa quantrọng đối với việc nghiên cứu quan hệ lợi ích giữa chủ và thợ trong các cơ sở sảnxuất có thuê mướn lao động.

Tác giả B.B.Radaev (1971), trong tác phẩm: LIKT trong chủ nghĩa xã hội [92],

đã phân tích làm rõ bản chất của LIKT, nhận diện hệ thống LIKT trong chủ nghĩa xãhội, tác giả đi sâu phân tích vai trò của LIKT như là động lực phát triển xã hội trongmôi trường xã hội chủ nghĩa của Liên Xô (cũ) Tác giả đã nhìn thấy mối quan hệbiện chứng giữa LIKT với lợi ích tinh thần, LIKT riêng và lợi LIKT chung của xã hội.Ông khẳng định, việc điều tiết tốt, hợp lý các mối quan hệ lợi ích sẽ tạo động lựcphát triển xã hội

Theo "Bách khoa toàn thư Liên Xô", năm 1972 [34], lợi ích được phân loạinhư sau: lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, LIKT, lợi ích chính trị; lợi ích cá nhân,lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, lợi ích giai cấp; lợi ích tiến bộ, lợi ích bảo thủ; lợi íchtrước mắt, lợi ích lâu dài; lợi ích căn bản, lợi ích không căn bản; lợi ích cấp bách,lợi ích không cấp bách; lợi ích chính đáng, lợi ích không chính đáng

* Về vai trò của lợi ích kinh tế:

Đa số các tác giả đều chỉ ra tính tích cực của lợi ích trong hoạt động của conngười D.M.Xôraép, cho rằng: lợi ích tạo nên sức mạnh động lực bởi được phản ánhtrong tư tưởng và được tiếp nhận dưới hình thức nhân tố động cơ Bản chất của sựđịnh hướng của lợi ích bao hàm trong nó, rằng cơ sở của nó nằm trong mâu thuẫngiữa nhu cầu của chủ thể và điều kiện khách quan, mà trong khuôn khổ của nhữngđiều kiện ấy những nhu cầu này không thể thực hiện Chính những mâu thuẫn

này là những lực lượng thúc đẩy tính tích cực của con người A.M.Đidcốp-xki,

cho rằng, lợi ích được nhận thức sẽ định hướng nhận thức nhu cầu và điều kiệnkhách quan, đến lượt mình, nó xác định sự tìm kiếm phương thức, con đường vàphương tiện để giải quyết những mâu thuẫn của thực tiễn

Tác giả Laprinmenco (1978) [63], trong tác phẩm: Những vấn đề lợi ích trong chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đưa ra quan niệm về lợi ích, theo đó, ông cho

rằng: "Lợi ích chính là mối quan hệ xã hội khách quan của sự tự khẳng định xã hộicủa chủ thể" Tác giả cùng phân tích và chỉ ra bản chất của lợi ích, ông cho rằng:nghiên cứu quá trình tự khẳng định bản thân trong đời sống xã hội sẽ hiểu đượcbản chất và nội dung lợi ích khách quan của chủ thể, điều này hợp lý vì hoạt động

tự khẳng định bản thân trong xã hội là nhân tố quan trọng nhất trong hoạt động cómục

Trang 15

đích của con người, vì khí con người thực hiện các hoạt động của mình sẽ bộc lộnhững đặc tính thể hiện rõ sự phù hợp của họ với vị trí và vai trò của mình trong xãhội Đó chính là nội dung của lợi ích và LIKT Như vậy, có thể khẳng định nội dungcủa LIKT là phương thức tự khẳng định xã hội của con người, thể hiện trước hết ởphương thức thoả mãn những nhu cầu vật chất (nhu cầu kinh tế) của chủ thể.

Ông cũng phân tích những đặc tính của lợi ích nói chung, LIKT nói riêng và

đã tán thành quan điểm của V.I.Lênin khi cho rằng LIKT là một hiện tượng có thực,biểu hiện của các quan hệ kinh tế khách quan Tính khách quan của lợi ích thể hiện

ở chỗ, nó xuất hiện bên ngoài các chủ thể, không phụ thuộc vào nhận thức của cácchủ thể Bên cạnh đó, LIKT cũng mang tính lịch sử cụ thể và tính giai cấp Có thểthấy, các quan điểm về LIKT của Laprinmenco trong tác phẩm này chủ yếu xuấtphát từ việc phân tích, phát triển các chỉ dẫn của Lênin về vấn đề này

Đ.I.Tresnôccôp [120] cho rằng LIKT gắn bó mật thiết với NCKT, song, LIKTkhông phải là NCKT Theo Đ.I.Tresnôccôp, lợi ích là mối quan hệ khách quan của

xã hội, hay của một con người riêng lẻ đối với điều kiện sống của xã hội và cácnhu cầu hiện có của mình, là mối quan hệ kích thích, tác động đến tập thể hay cánhân mỗi người nhằm bảo đảm điều kiện thuận lợi cho đời sống và sự phát triểncủa cá nhân hay tập thể, đấu tranh với những điều kiện cản trở sự tồn tại vàphát triển của họ Nguồn gốc ra đời của LIKT chính là từ quá trình giải quyết mốiquan hệ giữa nhu cầu của con người với điều kiện sống Chính thông qua việc giảiquyết mối quan hệ này, con người sẽ có được phương thức để tồn tại, hướng tới

sự phát triển cho cá nhân và xã hội Quan điểm này của tác giả khá đồng nhất vớimột số tác giả hiện nay khi khẳng định: LIKT là một phạm trù khách quan, nó sinh

ra từ NCKT, là phương thức để thoả mãn những nhu cầu đó

1.1.1.2 Các tác giả trong nước nghiên cứu về lợi ích, lợi ích kinh tế

Một là, các nghiên cứu về LIKT nói chung.

Ở nước ta, nghiên cứu về LIKT được nhiều tác giả quan tâm trong nhữngnăm 1980 bắt nguồn từ những tư tưởng đột phá về kinh tế trong Nghị quyếtHội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IV(8/1979) với quan điểm "làm cho sản xuất bung ra"… khắc phục sai lầm, khuyếtđiểm trong quản lý kinh tế; trong cải tạo XHCN, tạo ra động lực cho sản xuất, chú ýkết hợp 3 LIKT - xã hội, tập thể và cá nhân người lao động, quan tâm hơn đến lợiích thiết thân của người lao động

Trang 16

Các tác giả trong nước đều nghiên cứu về quan niệm, bản chất của LIKT, cáchình thức LIKT và vai trò động lực của LIKT trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiêncứu của các tác giả nước ngoài, mà trực tiếp nhất là các quan điểm của C.Mác,Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, các nhà nghiên cứu trong nước có chung quan điểm chorằng:

- Cơ sở của LIKT là nhu cầu vật chất kinh tế khi đã được xác định về mặt xãhội (tức là nhu cầu vật chất có khả năng thanh toán)

- Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức biểu hiệncủa quan hệ sản xuất mà trước hết là quan hệ sở hữu

- Lợi ích kinh tế là một phạm trù mang tính chất giai cấp Trong xã hội, dođịa vị của các giai cấp khác nhau nên NCKT và LIKT cũng hoàn toàn khác nhau Đồngthời, LIKT mang tính chất lịch sử rõ rệt Trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ pháttriển của nền kinh tế - xã hội khác nhau, nhu cầu của con người luôn vận động vàthay đổi Chính yếu tố nhu cầu thay đổi, tác động làm LIKT luôn biến đổi cho phùhợp với sự thay đổi của nhu cầu

- Lợi ích kinh tế đóng vai trò là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

Có thể đề cập đến một số công trình tiêu biểu đề cập đến các vấn đề lý luậnnêu ở trên:

Tập thể tác giả cuốn "Bàn về LIKT" (1982) cho rằng "Lợi ích kinh tế là hình

thức biểu hiện của những quan hệ kinh tế, quan hệ giữa người với người trong sảnxuất" "Lợi ích kinh tế dưới chế độ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện dưới hình thứclợi ích của xã hội, lợi ích của tập thể, lợi ích của cá nhân người lao động" [102,tr.9] "Lợi ích kinh tế của xã hội là lợi ích của nhân dân lao động trên phạm vi cảnước, lợi ích của tất cả các tập đoàn, các thành viên của xã hội xã hội chủ nghĩa Lợiích kinh tế của xã hội nảy sinh trên cơ sở nhân dân lao động làm chủ tập thể về tưliệu sản xuất, về lao động, đất đai, về tài nguyên thiên nhiên" [102, tr.11] "Lợi íchkinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức biểu hiện trước hết của quan

hệ sản xuất, nó không tuỳ thuộc vào ý chí, lòng ham muốn của con người" [102,tr.62] và cho rằng, LIKT là cái biểu hiện của các quan hệ kinh tế dưới hình thứcnhững động cơ, mục đích, những nhân tố kích thích khách quan thúc đẩy hoạtđộng lao động của con người… LIKT gắn chặt với nhu cầu kinh tế, vì có nhu cầu kinh

tế mới có LIKT tương ứng Tuy nhiên, sẽ là không đúng nếu đồng nhất LIKT với nhucầu kinh tế… Bởi vì, LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, nó phát sinh và tồntại trên cơ sở của một quan hệ sản xuất nhất định, không phụ thuộc vào ý muốncon

Trang 17

người Cũng như bất cứ một phạm trù kinh tế nào khác, LIKT tồn tại không tuỳthuộc ở chỗ người ta có nhận thức được nó hay không, mà do địa vị của họ trong

hệ thống sản xuất - xã hội quyết định Vì vậy, LIKT tồn tại khách quan Nhưng LIKTmuốn thực hiện được phải thông qua con người, thông qua hoạt động có ý thứccủa con người Người ta cũng không thể thực hiện được lợi ích của cá nhân nếutách khỏi quan hệ sản xuất Nhưng đồng thời, quan hệ sản xuất không tự động dẫnđến LIKT, nó chỉ tạo ra khả năng khách quan để thực hiện LIKT mà thôi Theo tácgiả Lê Xuân Tùng: "LIKT được thể hiện trong cả bốn khâu của quá trình tái sản xuất:sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Lợi ích kinh tế bao giờ cũng mang tínhvật chất và được biểu hiện cuối cùng trong các giá trị sử dụng, dưới hình thứcnhững tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Tính vật chất, đó là tiêu chuẩn để phânbiệt LIKT với các lợi ích khác như lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần, lợi ích tâm lý,

Tuy nhiên, cũng theo tác giả Lê Xuân Tùng: "Ở đâu có hoạt động sản xuất kinh doanh, ở đó có LIKT Do đó, các cơ quan hành chính, phục vụ, hoạt độngkhông có tính chất kinh tế trực tiếp, nói chung không phải là chủ thể mang LIKT (vídụ: trường học, bệnh viện, thư viện, nhà văn hoá, câu lạc bộ, các cơ quanhành chính, đoàn thể )

-Trong cuốn "Bàn về LIKT'', các tác giả cho rằng, "LIKT là một phạm trùkinh tế khách quan, là hình thức biểu hiện trước hết của quan hệ sản xuất,

nó không tuỳ thuộc vào ý chí, lòng ham muốn của con người… LIKT bao giờ cũngphản ánh một quan hệ sản xuất nhất định Không có động cơ kinh tế nào đứng

ngoài quan hệ sản xuất" [102, tr.62] Như vậy, theo tác giả Vũ Hữu Ngoạn, LIKT

có cơ sở từ nhu cầu kinh tế, LIKT mang tính khách quan không phụ thuộc vào ýmuốn chủ quan của con người, LIKT phụ thuộc vào quan hệ sản xuất nhất định,lợi ích mang bản chất xã hội

Tác giả Nguyễn Đức Bách đã phân biệt nhu cầu và LIKT với nhu cầu và lợi íchvật chất nói chung Về nhu cầu và LIKT, tác giả cho rằng: "nhu cầu kinh tế biểu thịnhững quan hệ kinh tế trực tiếp của chủ thể với những điều kiện, những sảnphẩm vật chất có tác dụng duy trì, phát triển sản xuất và đời sống của chủ thểtrong một nền sản xuất xã hội nhất định; LIKT biểu thị quan hệ kinh tế giữa các chủthể trước những nhu cầu kinh tế được phản ánh trong ý thức của các chủ thể thànhđộng cơ, mục đích chỉ đạo hành động nhằm thoả mãn một cách tối ưu các nhu cầukinh tế của họ trong một nền sản xuất xã hội nhất định" [3, tr.7]

Trang 18

Trong Luận án Tiến sĩ Kinh tế LIKT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (những hình thức kết hợp và phát triển chúng trong lĩnh vực kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam) năm 1984, tác giả Chu Văn Cấp đã đề cập đến các LIKT trong

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tác giả cho rằng, trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, "các LIKT là không đồng nhất và phức tạp, mỗi thành phần kinh tế cónhững LIKT tương ứng", như "lợi ích giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể,tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa", "lợi ích toàn dân, lợi ích tập thể và cá nhânngười lao động", "lợi ích của các nhà tư bản tư nhân, của những người sản xuấtnhỏ cá thể, tồn tại cùng với hệ thống các lợi ích xã hội chủ nghĩa của thời kỳ quáđộ" [18, tr.9] Tác giả Chu Văn Cấp cũng đưa ra nhiều hình thức thể hiện sự kết hợpcác LIKT trong thời kỳ quá độ, trong đó nhấn mạnh tới các hình thức: "kế hoạchhoá nền kinh tế quốc dân, tổ chức lao động và sản xuất, quản lý, kích thích vậtchất" [15, tr.8] Tác giả cũng chỉ ra rằng, chỉ có sự kết hợp hài hoà các LIKT mớitạo được động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Nguyễn Linh Khiếu (1999), Lợi ích động lực phát triển xã hội [61] Trong

tác phẩm này, ông đã tổng kết lại nhiều nghiên cứu khác nhau về lợi ích trong nước

và ngoài nước Ông đã đưa ra một cách tiếp cận mới về khái niệm lợi ích, theo đó:

"Lợi ích chỉ có ý nghĩa là lợi ích trong các quan hệ lợi ích cụ thể Ngoài quan hệ lợiích nó không còn là lợi ích nữa mà chỉ là cái có lợi hay có ích đối với các chủ thể ởmột hoàn cảnh nhất định Trong trường hợp này, nó cũng giống như các đối tượngthoả mãn nhu cầu hoặc chính là các đối tượng thoả mãn nhu cầu"

Tác giả cũng nêu ra khái niệm quan hệ LIKT như một khái niệm tiền đề đểgiải thích khái niệm lợi ích Ông cho rằng: "Quan hệ lợi ích là mối quan hệ kháchquan giữa các chủ thể có cùng nhu cầu và cùng đối tượng thoả mãn nhu cầu nhưnhau trong việc thực hiện nhu cầu ấy" Quan hệ lợi ích chỉ nảy sinh trong nhữnghoàn cảnh xã hội nhất định và quan hệ lợi ích chỉ nảy sinh khi những nhu cầu trởnên không trực tiếp thực hiện được

Tác giả còn đi sâu phân tích các mối quan hệ biện chứng như: Quan hệ giữalợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; giữa lợi ích chung và lợi ích riêng; giữa lợi íchtrước mắt và lợi ích lâu dài Các mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích tiêu biểuvới tư cách là động lực của xã hội nêu trên đã được tác giả biện giải rất rành mạch

và thuyết phục Chẳng hạn, khi phân tích mối quan hệ giữa lợi ích vật chất và lợiích tinh thần, ông khẳng định: "Xét đến cùng thì các lợi ích vật chất đóng vai trò

Trang 19

quyết định và là tiền đề, là cơ sở để thực hiện các lợi ích tinh thần Và thực hiệnđược các lợi ích tinh thần sẽ tạo ra những khả năng mới trong sự nảy sinh cũngnhư làm xuất hiện những phương thức thực hiện lợi ích vật chất mới" Về bảnchất, vai trò của lợi ích chung và lợi ích riêng, tác giả đã đi sâu phân tích và chỉ rõvai trò, động lực trực tiếp của lợi ích riêng trong việc thúc đẩy cá nhân hoạt động,

nó chính là nhân tố quyết định con người tích cực tham gia hoạt động xã hội, vìvậy nó là cơ sở để thực hiện lợi ích chung Trái lại, khi lợi ích chung của tất cả mọithành viên trong xã hội được thực hiện sẽ đóng vai trò là điều kiện và định hướngcho lợi ích riêng, cho nên, chỉ khi tạo lập được mối quan hệ hài hoà giữa lợi íchchung và lợi ích riêng mới có thể tạo ra sự phát triển của mỗi cá nhân và của cả xãhội Tác giả cũng tổng kết lại quá trình sử dụng vai trò, động lực của lợi ích trongthực tiễn cách mạng Việt Nam Tác phẩm này là một công trình khoa học vừamang tính lý luận quan trọng về lợi ích nói chung vừa nghiên cứu về LIKT nói riêng

Nguyễn Linh Khiếu (2002), với tác phẩm: Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi ích [62] Tác giả đi sâu phân tích cụ thể hơn về vai trò của LIKT trong phát triển kinh

tế - xã hội của Việt Nam Ông khẳng định: "Quan hệ kinh tế của một xã hội biểu hiệntập trung nhất của các quan hệ lợi ích" Trên cơ sở nghiên cứu các mối quan hệkinh tế thể hiện cụ thể các quan hệ LIKT, ông cho rằng: Trong nền kinh tế xã hội củaViệt Nam hiện nay có những xu hướng vận động cụ thể như: Kinh tế nhà nước vậnđộng theo xu hướng mà Đảng và Nhà nước ta mong muốn, đó là đảm bảo đúng

"định hướng xã hội chủ nghĩa"; kinh tế tập thể vận động theo cơ chế thị trường;kinh tế tư bản nhà nước và tư bản tư nhân vận động theo xu hướng phát triển tưbản chủ nghĩa; kinh tế cá thể, tiểu chủ vận động theo hướng kinh tế tư nhân.Tương ứng với mỗi xu hướng vận động lại có một hệ thống LIKT riêng Các xuhướng vận động này theo nhiều hướng khác nhau, với thực trạng kinh tế xã hộihiện nay, thấy rằng tất cả các xu hướng đều đưa nền kinh tế nước ta ngày mộtphát triển Đó là một sự vận động theo hướng tổng lực các thành phần kinh tế,trong đó, các thành phần kinh tế vận động theo xu hướng xã hội chủ nghĩa đangđóng vai trò chủ đạo

Hai là, một số tác giả cũng đã nghiên cứu đến lợi ích của nông dân và những vấn đề liên quan đến lợi ích của họ

Vương Đình Cường [24] đã đề cập đến vai trò của nông dân, nông dân tậpthể ở nước ta: là chủ thể chính trong phát triển nông nghiệp nước ta để cung cấplương thực, thực phẩm cho đời sống xã hội, cung cấp nguyên liệu, là thị trườngtiêu

Trang 20

thụ hàng công nghiệp Nông dân trong mọi thời kỳ cách mạng, họ là lực lượng chính tạo dựng sự ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn

Lợi ích của nông dân trong thời kỳ trước đổi mới và những năm đầu của đổimới, bao gồm: thu nhập từ kinh tế tập thể - kinh tế hợp tác theo ngày công.Thu nhập từ kết quả ''vượt" khoán sản phẩm của hợp tác xã và thu nhập từ hoạtđộng của kinh tế hộ nông dân (sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ởnông thôn)

Tác giả Đặng Quang Định [38], cho rằng:

(1) Ở nước ta hiện nay giai cấp nông dân là giai cấp của những người laođộng nông nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngưnghiệp) làm ngành nghề chủ yếu Đây là giai cấp có số lượng lớn nhất, chiếmkhoảng 70% dân cư, tập trung chủ yếu ở nông thôn, năm 2006, cả nước có 10,46triệu hộ làm nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

(2) Những năm gần đây, nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam cónhiều thay đổi to lớn Thu nhập và đời sống nông dân ngày được nâng lên,tnh trạng đói nghèo giảm đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng đượcnâng cao nông dân ngày càng có đóng góp quan trọng vào công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

(3) Hiện nay, LIKT chủ yếu của nông dân nước ta gồm:

Thứ 1, thu nhập từ sản xuất kinh doanh nông, lâm, thuỷ sản Đây là nguồnthu nhập chủ yếu của nông dân hiện nay Năm 2006, có 76% số hộ nông dân thamgia hoạt động tạo thu nhập từ nguồn này và số hộ có nguồn thu nhập chính từnông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 79,15%

Thứ 2, thu nhập từ mua, bán, cho thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng đất Thứ 3, thu nhập từ sản xuất kinh doanh, công nghiệp, xây dựng Năm 2006,

số hộ có thu nhập chính từ nguồn này là 6,1%

Thứ 4, thu nhập từ dịch vụ Năm 2006 số hộ có thu nhập chính từ nguồnnày chiếm 11,25%

Thứ 5, thu nhập từ các nguồn khác Năm 2006, có tới 3,7% số hộ nông dân

có thu nhập từ nguồn này (sản xuất ngành nghề thủ công)

Ngoài ra, một bộ phận nông dân cũng được trợ cấp từ nhà nước thôngqua các chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách đào tạo lao động, chính sách ansinh xã hội Các chính sách trên trở thành cách thức phân phối lại cho nông dândưới dạng phúc lợi xã hội qua đó nhằm điều chỉnh quan hệ lợi ích trong xã hội

Trang 21

(4) Tác giả Đặng Quang Định còn đề cập đến các hình thức thể hiện sự thốngnhất LIKT giữa công nhân, nông dân và trí thức là:

- Phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản Đây là lĩnh vực,ngành sản xuất thể hiện rõ nhất sự thống nhất LIKT của công nhân, nông dân và tríthức

- Mô hình hợp tác, liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoahọc và nhà nông) trong lĩnh vực nông nghiệp Tác giả đã đưa 2 mô hình hợp tác,liên kết có tính điển hình là: Mô hình Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn và Hợptác xã nông nghiệp Duy Sơn 2, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

Ngoài những mô hình tiêu biểu trên, tác giả Đặng Quang Định còn đề cậpđến hình thức liên kết; hợp tác đa dạng để cùng thực hiện lợi ích của công nhân;

nông dân và trí thức là Hợp đồng mướn kỹ sư của nông dân xã Hoà Ân, huyện Cầu

Kè, tỉnh Trà Vinh Đây là sự liên kết, hợp tác hiệu quả.

Cùng với việc nêu ra các hình thức thể hiện sự thống nhất LIKT giữa côngnhân, nông dân và trí thức, tác giả Đặng Quang Định cũng nêu ra một số biểu hiệnthiếu thống nhất LIKT của 3 chủ thể này Đó là:

- Tình hình tranh chấp việc làm trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp,đặc biệt là tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm của cả công nhân, nông dân và tríthức

- Tình trạng tranh chấp, vi phạm một số LIKT trong việc thu hồi đất củanông dân để phát triển công nghiệp và dịch vụ; những tranh chấp giữa nông dân vàdoanh nghiệp ở một số nơi; sự chênh lệch về thu nhập và thụ hưởng phúc lợi xãhội giữa các tầng lớp xã hội (sự chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nôngthôn, giữa các tầng lớp trong xã hội; so với công nhân và trí thức thì mức độ thụhưởng các chế độ, chính sách từ an sinh xã hội của nông dân thấp)

Những phân tích của tác giả Đặng Quang Định về những vấn đề liên quanđến quan hệ lợi ích giữa công nhân, nông dân và trí thức ở nước ta hiện nay, thực

sự là sâu sắc, có giá trị tham khảo tốt

Tác giả Vũ Văn Phúc, Nguyễn Thị Minh Châu [86] đã đi vào phân tích một nộidung của LIKT của nông dân là sự hỗ trợ của Nhà nước đối với nông dân

- Trước hết, các tác giả đã nêu quan niệm về chính sách hỗ trợ nông dân củaNhà nước, là "chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước là tổng thể các quan điểm,chủ trương, đường lối, phương pháp và công cụ của Nhà nước sử dụng để tácđộng vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nhằm thực hiện các mụctiêu mà nhà nước mong muốn ở nông dân" [86, tr.34-35]

Trang 22

- Mục tiêu của chính sách hỗ trợ nông dân bao gồm cả khía cạnh kinh tế (tạođiều kiện cho nông dân thực thi nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại, trên cơ sở đó

có thu nhập và đời sống tốt hơn), khía cạnh xã hội - mục tiêu xã hội -(góp phần xoáđói, giảm nghèo, giảm độ chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn; xâydựng nông thôn mới); khía cạnh, chính trị - mục tiêu chính trị - xây dựng giai cấpnông dân vững mạnh, là chỗ dựa và là hậu thuẫn của Đảng Cộng sản và Nhà nướcXHCN, thắt chặt tình đoàn kết công - nông - trí thức trong quá trình đi lên CNXH[86, tr.35-36]

- Nội dung của chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước, bao gồm: (1) hỗtrợ nông dân xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; (2) tạo điều kiện

để nông dân tiếp cận các nguồn lực thuận lợi, an toàn, chi phí thấp; (3) tạo điềukiện để nông dân có sức mạnh thoả thuận trên thị trường tiêu thụ nông sản; (4)giúp nông dân ổn định thu nhập khi nông dân gặp khó khăn; (5) hỗ trợ pháp lý, kỹthuật và xã hội cho nông dân

Những nội dung hỗ trợ nông dân được thực hiện bằng các công cụ và cơchế tác động dưới đây: Miễn giảm thuế và trợ cấp thu nhập trực tiếp; khuyếnnông, khuyến ngư, khuyến công; đầu tư của Nhà nước để xây dựng cơ sở hạ tầngnông nghiệp, nông thôn; chính sách đất đai, thực chất là chế độ quản lý đất nôngnghiệp có lợi cho nông dân; xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanhhiệu quả ở nông thôn; hỗ trợ tổ chức Hiệp hội ngành nghề và củng cố Hội nôngdân; hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp và giúp nông dân tạo việc làm; tổ chức, quản lýthị trường nông sản, vật tư nông nghiệp; cung cấp dịch vụ công ở nông thôn

Đặc biệt là cuốn sách đã dành nhiều trang để đánh giá quá trình triển khaichính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước ta trong thời gian qua Và từ đó nêu racác giải pháp tiếp tục đổi mới chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước trong thờigian tới Những phân tích về nội dung chính sách hỗ trợ nông dân và công cụ và cơchế tác động của chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước ta, có giá trị tham khảotốt cho NCS khi đi tìm giải pháp gia tăng LIKT của nông dân trong mô hình CĐL

Đỗ Huy Hà (2013), Giải quyết quan hệ LIKT trong quá trình đô thị hoá ở nước ta hiện nay [40] Tác giả nghiên cứu về quá trình đô thị hóa, chỉ ra rằng việc

thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp đưa đến tình trạng người nông dân bị mấtmột phần lớn hoặc toàn bộ đất sản xuất dẫn đến khó khăn tìm nghề kiếm sống vì

họ chỉ quen với sản xuất nông nghiệp, trình độ văn hoá thấp và sự thay đổi cáchsống, lề thói, phong tục tập quán, kéo theo nhiều hệ luỵ… Trong luận án, tác giảđưa ra khái

Trang 23

niệm về LIKT Theo đó: LIKT là những quan hệ kinh tế phản ánh những nhu cầu,động cơ khách quan về sự hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các hoạtđộng kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định Tác giả đãnghiên cứu những kết quả tích cực trong xử lý quan hệ LIKT; những hạn chế, khókhăn về việc xử lý các quan hệ LIKT phát sinh trong quá trình đô thị hoá ở HàNội Từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết mối quan hệ LIKTtrong quá trình đô thị hoá, để giải quyết hài hoà các quan hệ về LIKT giữa các chủthể.

Trần Thị Lan (2002), Quan hệ LIKT trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội [64] Luận án Tiến sĩ Kinh tế

trình bày thực trạng giải quyết các quan hệ các mối quan hệ LIKT giữa các chủ thểkinh tế, nảy sinh trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các khu công nghiệp

và khu đô thị mới ở Hà Nội và nêu các giải pháp để giải quyết hài hoà các LIKT

1.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ liên kết, chuỗi giá trị và lợi ích kinh tế trong phát triển cánh đồng lớn

1.1.2.1 Các nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về quan hệ liên kết và chuỗi giá trị

Theo Eaton, C and Shepperd (2001), Contract farming: Partnerships for Growth [127]: có 07 hình thức liên kết giữa nông dân với thị trường: i) liên kết giữa

nông dân với thương lái; ii) liên kết giữa nông dân với người bán lẻ; iii) liên kếtthông qua đại diện nông dân; iv) liên kết thông qua HTX; v) liên kết giữa nông dân

và nhà chế biến; vi) liên kết giữa nông dân và nhà xuất khẩu; vii) liên kết theo hợpđồng Như vậy, liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong CĐL là một hình thứcliên kết, gắn người nông dân với thị trường tiêu thụ

Trong nghiên cứu của Rozhan Abu Dardak (2015) [130], Cooperatve Movement in the Supply Chain of Agricultural Products: Way Forwards, International Seminar on Improving Food Marketng Efficiency-the Role of Agricultural Cooperatives, tác giả cho rằng những người nông dân có quy mô ruộng

đất dưới 1ha ở Malaysia phải tham gia chuỗi cung ứng dài hơn với nhiều tác nhântrung gian làm cho người tiêu dùng phải chi trả với giá cao để mua sản phẩm, thìngười nông dân sản xuất ra sản phẩm lại chỉ được nhận một mức giá bán thấp.Qua nghiên cứu này, tác giả nhận thấy rằng việc liên kết trực tiếp giữa nôngdân và doanh nghiệp được tổ chức tốt sẽ làm giảm bớt các khâu trung gian trongchuỗi, qua đó có thể giúp người nông dân được lợi nhiều hơn từ giá bán sản phẩm.Nghiên cứu

Trang 24

cũng khẳng định tính bền vững của hợp tác trong chuỗi cung ứng phần lớnphụ thuộc vào mức độ tham gia của các chủ thể trong chuỗi Tương tự, sự tintưởng giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sẽ giúp các bên tham gia chia sẻ quyềnlực và đó chính là yếu tố tác động để tăng cường mối quan hệ trong hệ thốngchuỗi.

Các tác giả Yiching Song, Gubo Qi, Yanyan Zhang & Ronnie Vernooy (2014) [134], "Farmer cooperatves in China: diverse pathways to sustainable rural development" trên cơ sở dữ liệu khảo sát quốc gia Trung Quốc và nghiên cứu hai

HTX điển hình của Trung Quốc đã đưa ra nhận định: HTX nông nghiệp tạo điều kiệntốt hơn cho hợp tác kinh tế và tiếp cận thị trường, giúp tăng khả năng cạnh tranh,giảm chi phí giao dịch và chi phí đầu tư, tăng giá bán nông sản qua đó tăng thunhập cho người nông dân ở Trung Quốc Dưới góc độ xã hội, liên kết ngang thôngqua HTX thể hiện tính bền chặt vững chắc, giảm rủi ro cho các hoạt động kinh

tế và tăng mức độ công nghiệp hóa cho quản lí nông nghiệp

Trong các nghiên cứu về chuỗi giá trị hàng nông sản và phát triển chuỗi giá trị hàng nông sản trước hết cần kể đến nghiên cứu của Jonh Humphrey (2005) [130]: Shaping Value Chains Development: Global Value Chains in Agribusiness, Federal Ministry for Economic Coperation and Development - Các chuỗi giá trị toàn cầu trong Kinh doanh Nông nghiệp, Bộ Hợp tác và Phát triển Kinh tế Liên bang Theo Jonh Humphrey, các phương pháp tiếp cận theo chuỗi giá trị đã được

phát triển theo thời gian và được sử dụng như một công cụ phân tích chính trongnghiên cứu thị trường hàng nông sản quốc tế Phân tích chuỗi giá trị hàng nôngsản là phân tích việc tổ chức các hoạt động kinh tế cũng như các tác nhân thamgia từ sản xuất đến thị trường, xác định cơ cấu sản xuất, thương mại và tiêu thụ

sản phẩm Ba thành tố chính của phân tích chuỗi giá trị được xác định là: (i), quan

hệ đầu vào - đầu ra và những yếu tố địa kinh tế; (ii), khuôn khổ thể chế và cơ cấu quản trị và (iii), phương thức chia sẻ lợi ích giữa các tác nhân tham gia chuỗi

giá trị

Trong nghiên cứu này, một phương diện thứ tư - quan hệ giữa các nhà vậnhành chuỗi và các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ - cũng được đề cập đến do phân tíchchuỗi giá trị cũng có thể được sử dụng như một công cụ để nghiên cứu liên kếttheo chiều dọc Vì những ''nhà'' này có tiềm lực để thực hiện kiểu hợp đồng nàynên họ được coi là công ty đầu mối trong chuỗi giá trị - và chính những người bánquy mô nhỏ phải tự điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu của các công ty đầu mối

Trang 25

Nghiên cứu của Jonh Humphrey có giá trị tham khảo tốt cho việc phân tích vai tròcủa các chủ

Trang 26

thể trong phát triển chuỗi giá trị dựa vào ba thành tố chính và mối quan hệ giữa các nhà vận hành chuỗi trong mối liên kết dọc.

1.1.2.2 Các nghiên cứu của các tác giả trong nước

- Thứ 1, các nghiên cứu về mô hình cánh đồng lớn:

"Cánh đồng lớn" là mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp, phổ biến làtrong sản xuất lúa Mô hình này được manh nha vào cuối năm 2009 đầu năm 2010tại tỉnh An Giang Những hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình này

đã tạo ra sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học Môhình này đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức và các nhàkhoa học dưới nhiều góc độ khác nhau Nhiều công trình đã được công bố dướidạng các ấn phẩm khoa học khác nhau Các tác giả đã nghiên cứu làm rõ mô hìnhCĐL ở ĐBSCL(ĐBSCL) trong lĩnh vực canh tác lúa dưới các khía cạnh: quan niệmCĐL, tính tất yếu và mục tiêu phát triển CĐL, vai trò, hiệu quả của mô hình CĐL, cácgiải pháp nhằm phát triển bền vững mô hình CĐL

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này:

Vũ Trọng Bình và Đặng Đức Chiến [5], Cánh đồng mẫu lớn: Lý luận và tếp cận thực tễn trên thế giới và Việt Nam Các tác giả bài viết cho rằng: Cánh đồng

mẫu lớn (CĐML) là khái niệm ở Việt Nam ban đầu được hiểu là làm mẫu nhữngCĐL, do vậy, nếu nhân rộng ra nên gọi là "cánh đồng mẫu lớn" Việc xây dựng cánhđồng mẫu lớn thực chất được thực hiện ở Việt Nam qua nhiều thời kỳ, kể từ hợptác hoá nông nghiệp đến nay Quan niệm về "cánh đồng mẫu lớn" của các tác giảnày là "những cánh đồng có thể một hay nhiều chủ, nhưng có cùng quy trình sảnxuất, cùng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, cung ứng đồng đều và ổn định về số lượng

và chất lượng theo yêu cầu thị trường dưới một thương hiệu nhất định" Trên cánhđồng mẫu lớn diễn ra các mối quan hệ liên kết giữa nông dân với nông dân, giữanông dân với nhà doanh nghiệp, nhà nước và nhà khoa học Nông dân là chủ thểchính trong cánh đồng mẫu lớn Các tác giả cũng đề cập đến một số trường hợp xâydựng CĐL ở nước ngoài như: sản xuất rượu nho ở Pháp; trồng rau ở Philippines;sản xuất lúa ở Malaysia và chỉ ra một số nguyên tắc dẫn đến thành công của các môhình trên

Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung [27], Cánh đồng mẫu lớn trong nông nghiệp: một số vấn đề lý luận và thực tễn phát triển Các tác giả đã tập trung làm rõ khái

niệm cánh đồng mẫu lớn; phân tích tính tất yếu và vai trò của cánh đồng mẫu lớn,các điều kiện phát triển cánh đồng mẫu lớn Bài viết cũng phân tích, đánh giá

Trang 27

thực trạng phát triển và hiệu quả của mô hình này trong sản xuất nông nghiệp.Qua đó, các tác giả đã chỉ ra một số khó khăn, hạn chế của mô hình và đề xuất cácgiải pháp phát triển thời gian tới.

Trần Văn Hiếu [44], Cánh đồng mẫu lớn" - Mô hình liên kết "Bốn nhà" bướcđầu có hiệu quả ở ĐBSCL Bài viết bước đầu đã đánh giá hiệu quả từ mô hình liênkết 4 nhà trong sản xuất lúa ở ĐBSCL Bài viết đã chỉ ra những khó khăn, tháchthức, đồi hỏi cả Nhà nước, hộ nông dân cũng như các doanh nghiệp tham giavào mô hình phải cùng nhau giải quyết, đồng thời đề xuất các giải pháp để nhânrộng mô hình này thời gian tới

Chu Văn Cấp và Lê Xuân Tạo (2013), "Cánh đồng mẫu lớn" ở ĐBSCL- mô hìnhsản xuất hiệu quả" [19] Bài viết đã đề cập đến mô hình "cánh đồng mẫu lớn" là

mô hình liên kết 4 nhà (doanh nghiệp, nhà nước, khoa học và nhà nông) thâmcanh lúa hiệu quả, bền vững theo hướng thực hành sản xuất tốt (GAP) "Cánh đồngmẫu lớn" giúp giải quyết bài toàn đưa nông hộ nhỏ ra CĐL, qua đó nâng cao hiệuquả toàn bộ chuỗi giá trị lúa gạo Các tác giả đã phân tích những thành công, khókhăn, hạn chế trong việc triển khai mô hình "cánh đồng mẫu lớn" ở ĐBSCL thờigian từ 2011-2013 Phân tích và chỉ ra sự cần thiết phải nhân rộng và nâng cao chấtlượng của mô hình "cánh đồng mẫu lớn" với một số giải pháp cụ thể

Kỷ yếu Hội thảo khoa học với chủ đề Nâng cao hiệu quả các cánh đồng lớn trong xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo do Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang (Sở Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật

An Giang) tổ chức vào tháng 4/2016 Các bài viết của Hội thảo tập trung làm rõnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về "cánh đồng lớn", hiệu quả của mô hình CĐL,những vấn đề đặt ra trong xây dựng mô hình CĐL hiện nay, đề xuất các giải phápphát triển bền vững mô hình CĐL trong xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo

Kỷ yếu Hội thảo khoa học với chủ đề Vai trò của cánh đồng mẫu lớn trong xây dựng nông thôn mới do Uỷ ban nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần

Thơ tổ chức ngày 25/10/2013 Các bài viết của Hội thảo tập trung làm rõ nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn về "cánh đồng mẫu lớn", đặc biệt nhấn mạnh vai trò của

"cánh đồng mẫu lớn" trong xây dựng nông thôn mới Một số bài viết cũng đã đềcập và có đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các cánh đồng mẫulớn tại thành phố Cần Thơ, trong đó nhấn tập trung phần lớn cho đánh giá hiệu quả

về kinh tế

Nguyễn Quốc Dũng (2016) [33], Hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của

Trang 28

mô hình ''cánh đồng mẫu lớn'' ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Lý luận Chính trị,

Hà Nội Cuốn sách đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quảkinh tế, xã hội và môi trường của mô hình "Cánh đồng lớn" Đưa ra các khái niệm,chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng cùng hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế,hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường của mô hình CĐL Nghiên cứu kinh nghiệmthế giới và trong nước về phát triển mô hình CĐL và rút ra 6 bài học kinh nghiệm

có thể vận dụng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của môhình CĐL ở ĐBSCL Đi sâu phân tích hiệu quả của mô hình CĐL trên 3 phương diện:hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Tác giả cuốn sách cũngnêu lên 5 vấn đề thuộc về tồn tại, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, xã hội

và môi trường của mô hình CĐL ở ĐBSCL Đồng thời, phân tích, chỉ rõ các nguyênnhân khách quan và chủ quan của hạn chế, tồn tại cần có giải pháp khắc phục

để nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình CĐL ở ĐBSCL Tácgiả đã phân tích những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội

và môi trường của mô hình CĐL ở ĐBSCL Cuốn sách đã đưa ra những dự báo vềthuận lợi, khó khăn trong phát triển mô hình CĐL ở ĐBSCL thời gian tới Qua đó, đềxuất phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môitrường của mô hình CĐL ở ĐBSCL

Kỷ yếu Hội thảo khoa học với chủ đề Cánh đồng lớn do Văn phòng Ban chỉ

đạo Trung ương chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tổ chứctại thành phố Cần Thơ tháng 4 năm 2014 Các bài viết của Hội thảo đã đề cậpnhiều vấn đề liên quan đến mô hình CĐL như: lý luận và tiếp cận thực tiễn CĐLtrên thế giới và Việt Nam; liên kết sản xuất lúa theo cánh đồng lớn vùngĐBSCL; giải pháp sau thu hoạch trong CĐL để phát triển bền vững sản xuất lúa ởĐBSCL v.v… Các bài viết cũng đề cập và phân tích những hiệu quả của mô hìnhnày mang lại, trong đó có đề cập đến một số hiệu quả về kinh tế, xã hội và môitrường của mô hình CĐL

Nguyễn Phú Son (2018), Nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội của mô hình cánh đồng lúa lớn tại đồng bằng sông Cửu Long [96] Thông qua khảo sát 180 hộ sản

xuất lúa trong mô hình CĐL và 180 hộ sản xuất lúa không tham gia mô hình CĐL ởcác tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, tác giả đã đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hộicủa mô hình CĐL so với ngoài mô hình CĐL Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hộsản xuất lúa trong mô hình CĐL đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả qui môtrong

Trang 29

cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu đều cao và cao hơn so với các hộ sản xuất lúa ngoài

mô hình Tuy nhiên, cả hai nhóm hộ đều chưa đạt hiệu quả chi phí tối ưu, trong đónhìn chung các hộ trong mô hình vẫn có hiệu quả hơn, mặc dù không chênh lệchnhiều lắm Điều này cho thấy các hộ nông dân tham gia mô hình CĐL vẫn còn dư địa

để gia tăng hiệu quả sản xuất nếu như họ cải thiện kỹ thuật sử dụng các yếu tố đầuvào, cũng như năng động hơn trong khâu tiêu thụ sản phẩm đầu ra Ngoài ra, kếtquả nghiên cứu cũng đã xác định được có 3 yếu tác động có ý nghĩa đến hiệu quảchi phí của các hộ sản xuất lúa như: năng lực liên kết với các nhà cung cấp đầu vàotheo hướng hộ nào có mối liên kết này sẽ đạt được hiệu quả càng cao; nguồn giống

sử dụng (mua từ các cơ sở sản xuất giống chuyên nghiệp hay tự để giống) theohướng hộ nào tự để lúa lại để làm giống sẽ đạt được hiệu quả chi phí càng thấp vàkhả năng tự trang bị máy bơm của nông hộ theo hướng hộ nào có khả năng tựtrang bị máy bơm để phục vụ cho sản xuất sẽ đạt được hiệu quả chi phí cao hơn.Tác giả cho rằng ngoài những lợi ích được mang lại cho nông hộ tham gia vàoCĐL, hoạt động của CĐL cũng đã mang lại những hiệu quả về mặt xã hội và môitrường rõ nét đối với vùng sản xuất Đặc biệt đã củng cố và phát triển thêm mốiliên kết ngang giữa các nông dân với nhau trong CĐL Đồng thời cũng đã thúc đẩycho mối liên kết dọc được bền vững hơn giữa nông dân và doanh nghiệp tham gialiên kết Ngoài ra, việc tham gia vào CĐL giúp cho các hộ nông dân giảm lượngphân bón và thuốc bảo vệ thực vật cũng đã làm cho môi trường sống ở vùngnông thôn tốt hơn và cũng đã làm cho nguồn tài nguyên đất được cải thiện hơn.Tác giả đã đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của CĐL sảnxuất lúa Những giải pháp này bao gồm: mở rộng thêm các CĐL đi đôi với việc nângcao chất lượng liên kết giữa các doanh nghiệp và các hộ tham gia trong CĐL thôngqua hình thức HTX hoặc THT; Tăng cường các hoạt động kêu gọi các doanh nghiệpđầu tư vào CĐL; đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trìnhsản xuất; Nâng cao nhận thức liên kết của các hộ nông dân trong CĐL; nâng caonăng lực sản xuất kinh doanh cho hộ sản xuất lúa tham gia CĐL; tăng cường đầu tư

cơ sở hạ tầng và phát triển ngành nghề nông thôn; tăng cường liên kết giữa các hộsản xuất trong CĐL với những nhà cung cấp và doanh nghiệp vật tư đầu vào và mởrộng, nâng cao chất lượng liên kết dọc với người mua

- Thứ 2, các nghiên cứu về liên kết kinh tế - cơ sở quan hệ lợi ích kinh tế trong mô hình cánh đồng lớn.

Trang 30

Mô hình CĐL là sự cụ thể hoá chủ trương xây dựng vùng sản xuất hàng hoátập trung gắn với tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng theo Quyếtđịnh

80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ Ở những mô hìnhCĐL thường có mối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp theo hợp đồng Hìnhthức liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp rất đa dạng tùy theo điều kiện thực

tế và sự sáng tạo của từng địa phương

Liên kết kinh tế "4 nhà" trong mô hình CĐL sẽ phát huy sức mạnh tổng hợpcủa các nhà, tận dụng tốt nhất tiềm năng, lợi thế so sánh trong sản xuất nôngnghiệp, tăng giá trị sản phẩm, sử dụng tốt nguồn lực: đất đai, lao động thúc đẩyphát triển khoa học - kỹ thuật, gắn khoa học - công nghệ với sản xuất nông nghiệp

và đời sống nông dân Mỗi bên tham gia liên kết trong mô hình CĐL đều thực hiệntốt vai trò, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình thì sẽ tạo ra sự thống nhất LIKT giữa cácnhà, nhất là nhà nông và nhà doanh nghiệp

Những vấn đề lý luận nêu trên được thể hiện ở một số công trình nghiêncứu có tính tiêu biểu dưới đây:

Trần Văn Hiếu (2005), Liên kết kinh tế giữa các hộ nông dân với doanh nghiệp nhà nước - qua khảo sát mô hình nông trường sông Hậu, Công ty Mê Kông

và Công ty Mía đường Cần Thơ, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh [43]

Trần Văn Hiếu (2013), "Cánh đồng mẫu lớn" - mô hình liên kết "bốn nhà"

bước đầu có hiệu quả ở ĐBSCL" [44].

Bài viết đã phân tích khá rõ sự ra đời và phát triển mô hình CĐL ở ĐBSCLtrong những năm 2010-2013 Trong mô hình CĐL, thường có mối liên kết giữa nôngdân và doanh nghiệp với sự đa dạng các hình thức liên kết, như: nông dân liên kếtvới doanh nghiệp để nhận phân bón, thuốc trừ sâu từ doanh nghiệp; nông dân liênkết với doanh nghiệp thu mua lúa, hoặc liên kết "khép kín" các khâu từ cung ứngđầu vào đến bao tiêu đầu ra cho nông dân Tác giả bài báo đã đánh giá các môhình CĐL ở vùng ĐBSCL bước đầu mang lại những kết quả tích cực như: (i) Mô hìnhCĐL đã gắn kết "4 nhà" với nhau, điều mà trong sản xuất nông nghiệp trước đâykhông thể thực hiện được; (ii) CĐL đã dần hình thành người nông dân mới biếtsản xuất lúa theo đơn đặt hàng, theo nhu cầu tiêu thụ, xuất khẩu; (iii) Xây dựng môhình CĐL là con đường ngắn nhất tiến tới hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớnthông qua liên kết "4 nhà", rút ngắn sự chênh lệch về năng suất giữa các hộ, các

Trang 31

thửa ruộng, các vùng sản xuất (iv) đảm bảo nguồn hàng xuất khẩu cho các doanhnghiệp,

Trang 32

Tác giả bài báo cũng nêu lên những khó khăn, thách thức đòi hỏi doanhnghiệp, nông dân, nhà nước tham gia mô hình CĐL cùng nhau giải quyết Đồngthời nêu ra các giải pháp để tiếp tục phát triển mô hình CĐL ở ĐBSCL trong thờigian tiếp sau.

Bài viết "Liên kết 4 nhà" - xu hướng tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại'',

theo baominhbinh.org.vn, đã cho rằng: Trong thời mở cửa và hội nhập, sản xuất

nông nghiệp rất cần sự liên kết 4 nhà gồm: nhà nông - nhà nước - nhà khoa học vànhà doanh nghiệp Mỗi nhà có vai trò của mình trong chuỗi liên kết 4 nhà, trong đó,nông dân là nhân vật trung tâm, nhà doanh nghiệp là "đầu tàu" là động cơ của mốiliên kết, nhà khoa học có vai trò quan trọng trong việc tạo "đầu vào" có chất lượngcao, giảm giá thành nhờ công nghệ , Nhà nước là nhạc trưởng có vai trò tạo hànhlang pháp lý phù hợp, lành mạnh đảm bảo cho sự liên kết 3 nhà còn lại chặt chẽ

và hiệu quả

Như vậy, xu thế phát triển tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại và bềnvững là xây dựng thành công mô hình liên kết "4 nhà" Bởi suy cho cùng, nếuliên kết chặt chẽ tất cả các bên đều có lợi

Bài viết "Các mô hình liên kết sản xuất lúa - Nền tảng phát triển "Cánh đồng

mẫu lớn" ở An Giang" của tác giả Đoàn Ngọc Phả đăng trên Tạp chí Cộng sản điện

tử ngày 19/9/2013 Tác giả đã phân tích sự liên kết sản xuất lúa của một số mô hình

như: liên kết sản xuất lúa Nhật; mô hình lên kết sản xuất theo kiểu xây dựng vùngnguyên liệu của Công ty xuất nhập khẩu An Giang (Angimex); mô hình sản xuất lúatheo tiêu chuẩn GLOBAL GAP; mô hình liên kết của Công ty bảo vệ thực vật AnGiang Khái quát quá trình hình thành và phát triển mô hình CĐL ở An Giang, đánhgiá hiệu quả của mô hình và đề xuất giải pháp tăng cường liên kết phát triển môhình CĐL

Võ Hữu Phước [87], Nghiên cứu ứng dụng mô hình "liên kết bốn nhà" vào thực tễn sản xuất nông nghiệp nông thôn tỉnh Trà Vinh, Luận án Tiến sĩ kinh tế

phát triển, Học viện Khoa học xã hội Tác giả luận án đi sâu làm rõ mô hình liên kếtbốn nhà trong đó có liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp Tác giả phân tích thựctrạng liên kết bốn nhà trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Trà Vinh và đềxuất các giải pháp thực hiện tót các mối liên kết bốn nhà trong sản xuất nôngnghiệp trên địa bàn tỉnh Trà Vinh Trong quá trình phân tích mối quan hệ liên kếtbốn nhà, tác giả cũng đề cập nhiều đến mối quan hệ liên kết kinh tế giữa nông dân

và doanh nghiệp trong sản xuất nông nghiệp

Trang 33

Hồ Quế Hậu [41], Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam Tác giả cuốn sách đã trình bày khá rõ sự cần thiết và xu

hướng phát triển các liên kết kinh tế, sản xuất trong nông nghiệp trên thế giới cũngnhư ở Việt Nam Cuốn sách đã giới thiệu các mô hình liên kết kinh tế, sản xuất ởViệt Nam, trong đó nổi bật là Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn Đây là mộtcông ty xác lập được quan hệ chặt chẽ giữa 4 nhà: nhà nước, nhà khoa học, nhàdoanh nghiệp và nhà nông, đặc biệt là quan hệ liên kết giữa nhà nông và doanhnghiệp Quan hệ liên kết này đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của Công ty trongnhiều năm qua Công ty đã tạo ra sự gắn kết giữa Công ty với vùng nguyên liệu;gắn kết tổ chức hợp tác ổn định, bền vững với sản xuất nông nghiệp, nông thôn vànông dân dưới sự hỗ trợ đắc lực của các nhà khoa học, nhà nước Nhờnhững phương thức liên kết chặt chẽ, thực chất, hiệu quả, công ty đã tạo ra sựchuyển biến to lớn đối với đời sống của nông dân và công nhân lao động của Công

ty Công ty làm ăn có lãi, tạo được hàng vạn việc làm cho người lao động; côngnhân và nông dân ngày càng có thu nhập cao, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nôngthôn

Cuốn sách đã nêu ra các giải pháp để củng cố hoàn thiện các quan hệ liênkết kinh tế, sản xuất giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ViệtNam, trong đó, nhấn mạnh đến giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất làhợp đồng kinh tế tiêu thụ sản phẩm; phân vai rõ trách nhiệm của các tác nhântrong chuỗi liên kết, giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích của các bên tham gialiên kết

Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Phúc Thọ [20] trong bài viết "Giải pháp tăngcường liên kết nhà doanh nghiệp và nhà nông trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩmnông nghiệp" đã khẳng định: mô hình "4 nhà" (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học,nhà doanh nghiệp) là mối liên kết có thể phát huy được sức mạnh tổng hợp củacác nhà, tận dụng có hiệu quả, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương Tuy nhiêngiữa "4 nhà" vẫn hoạt động chưa ăn khớp, đặc biệt là giữa nhà doanh nghiệp vànhà nông vẫn thiếu bền vững, chỉ mang tính thời vụ, ngắn hạn, chưa đặt trọn niềmtin vào nhau Tác giả bài báo đã khuyến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động của việc sản xuất và tiêu thụ nông sản qua liên kết "4 nhà"

Chi Mai, "Liên kết trong sản xuất: Xu thế phát triển tất yếu của nông nghiệphiện đại: tìm chất kết dính" [78] Bài báo khẳng định là: trong kinh tế thị trườngcạnh tranh cần phải có sản phẩm với khối lượng lớn, chất lượng tốt, giá cả cạnh

Trang 34

tranh nông dân cá thể không làm được điều này Nông dân phải tổ chứcđược

Trang 35

"hành động tập thể" theo quy trình sản xuất chung trên CĐL dựa trên cơ sở liênkết "4 nhà" (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông), trong đó chủyếu là nhà nông và nhà doanh nghiệp.

Đi tìm "chất kết dính" trong mối liên kết ấy, bài báo dẫn ý kiến của cácchuyên gia là: "doanh nghiệp phải đầu tư đảm bảo đầu vào sản xuất và đầu ra ",

"mấu chốt của thành công là thay đổi vị thế của nông dân" "Đặt lợi ích của nôngdân trên trên lợi ích của công ty là cách hiệu quả nhất để nông dân gắn bó lâudài với doanh nghiệp" "Phải làm cho nông dân "mắt thấy", "tai nghe" và phải đặtmục tiêu lợi nhuận của nông dân lên hàng đầu" Theo Nguyễn Đăng Nghĩa, Viện

Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam, Liên kết "4 nhà" để đáp ứng các điều kiện cần và đủ xây dựng nền nông nghiệp hiện đại Các điều kiện cần, gồm: có sự

nhận thức và chỉ đạo thống nhất của các cấp lãnh đạo từ Chính phủ, các bộ ngànhđến các địa phương Cần có liên kết "4 nhà" mà doanh nghiệp là hạt nhân và chính

là mắt xích quan trọng nhất trong chuõi liên kết; cần tuyên truyền, vận động,giải thích cho nông dân về lợi ích khi tham gia chuỗi liên kết sản xuất Cần có cácdoanh nghiệp đủ tầm, đủ năng lực và tâm huyết để tham gia vào mô hình liên kết

và rất cần sự đóng góp công sức, trí tuệ, kinh nghiệm của các nhà khoa học Các điều kiện đủ, gồm: phải có đủ diện tích sản xuất nông nghiệp theo tiêu chí CĐL.

Phải có đủ "4 nhà" cùng thực hiện liên kết nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các hợpđồng sản xuất Trong đó, chủ yếu là nhà doanh nghiệp và nhà nông cùng thực hiệntrong 1 dự án có sự hỗ trợ về cơ chế chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ ứngdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho năng suất cao, chất lượng tốt, giá thànhsản phẩm hạ của nhà khoa học Bên cạnh đó phải có đủ máy móc, kho bãi phục

vụ chăm sóc, thu hoạch phù hợp với quy mô diện tích, sản lượng của từng cánhđồng liên kết

- Thứ 3, nghiên cứu hàng nông sản Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Năm 2010, tác giả Đinh Văn Thành cùng nhóm các nhà khoa học Viện

Nghiên cứu Bộ Thương mại đã công bố cuốn sách: ''Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam''

[104] Mục tiêu nghiên cứu được xác định là ''năng lực tham gia của hàng nông sảnvào chuỗi giá trị toàn cầu…'' nên sau khi hệ thống hóa các vấn đề lý luận: các đặcđiểm của chuỗi giá trị nông sản toàn cầu, các mô hình chuỗi giá trị nông sản vàkhung khổ phân tích chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu, các tác giả đã tập trung

Trang 36

phân tích và đánh giá thực trạng năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu củamột số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam Cụ thể, năng lực thamgia của chuỗi giá trị gạo, cà phê, cao su thiên nhiên, hạt tiêu, hạt điều, quả nhiệtđới, hoa tươi và sản phẩm thịt Do hướng tiếp cận nghiên cứu của các tác giả lànhằm làm rõ năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của từng mặt hàng, nên kếtquả khảo sát hướng vào mức độ tham gia các khâu: R&D, sản xuất, chế biến, phânphối và dịch vụ với thang đánh giá gồm 5 bậc: rất tốt, tốt, khá, trung bình và kém.Mặc dù nghiên cứu này chưa nêu được khái niệm chuỗi giá trị nông sản, chuỗi giátrị nông sản toàn cầu và làm rõ vai trò của từng tác nhân trong từng chuỗi nôngsản, nhưng theo tác giả, đây là một công trình nghiên cứu công phu, có giá trị thamkhảo tốt, nhất là ở phương pháp tiếp cận nghiên cứu năng lực tham gia của cácchuỗi nông sản Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu Đặc biệt, từ việc phân tích đặcđiểm của chuỗi giá trị nông sản,

tác giả đã có cơ sở khoa học khi đưa ra mô hình chuỗi giá trị hàng nông

sản

Giá trị gia tăng Giá trị gia tăng

R&D Thiết kế Sản xuất Phân phối Marketing Hình 1.1: Mô hình chuỗi giá trị hàng nông sản

Nguồn: Đinh Văn Thành (2010), Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản

vào chuỗi giá trị toàn cầu [104, tr.31].

Cùng chủ đề trên, trong nghiên cứu Xây dựng và phát triển thương hiệu cho nông sản Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu - Đề tài cấp Nhà nước

KX.01.16/06-10, 2009, tác giả Nguyễn Quốc Thịnh [105] đã khái quát và đưa ra ba

mô hình cơ bản trong chuỗi giá trị toàn cầu đối với hàng nông sản Việt Nam nhưsau:

Một là, mô hình chuỗi giá trị hàng nông sản do nhà sản xuất triển khai và

quản lý Chuỗi giá trị này được hình thành trên cơ sở những người sản xuất tự liênkết với nhau, sau đó sẽ thu hút sự tham gia của các bên cung ứng vật tư, giống,chế biến, vận chuyển, các nhà xuất khẩu và cuối cùng là các nhà phân phối, bán lẻ

Trang 37

Vai trò điều hành chuỗi loại này thường là một hiệp hội hay một liên minh của cácnhà

Trang 38

sản xuất Lợi thế của chỉ dẫn địa lý sẽ được khai thác tối đa để trở thành

thương hiệu cho nông sản - yếu tố then chốt để cạnh tranh

Hai là, chuỗi giá trị hàng nông sản do người bán lẻ quản lý Sự tham gia của

nông sản vào mô hình này thường ở dạng đã chế biến hoàn chỉnh hoặc các loại rauquả tươi, nông sản tươi sống Để tham gia vào chuỗi giá trị này, quy trình sản xuất

và chất lượng nông sản phải tuân thủ những quy định rất nghiêm ngặt của nhàbán lẻ Lợi thế cơ bản khi tham gia vào chuỗi do nhà bán lẻ quản lý là các nôngsản sẽ có cơ hội gia tăng hình ảnh thương hiệu của mình tại các thị trường nướcngoài và từ đó có thể triển khai hệ thống của riêng những doanh nghiệp sảnxuất và phân phối trực tiếp hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng

Ba là, chuỗi giá trị hàng nông sản do nhà cung ứng quản lý Trong trường

hợp này, hầu hết các nông sản đều phải mang thương hiệu của nhà cung ứng Một

tỷ lệ rất lớn nông sản Việt Nam đang tham gia chuỗi theo mô hình này, vì thế chúng

ta buộc phải xuất khẩu nông sản dưới dạng thô hoặc sơ chế và người tiêu dùngnước ngoài ít hoặc thậm chí không biết được đó là những nông sản được sản xuấttại Việt Nam Quyền lợi của nhà sản xuất thường bị chèn ép tối đa trong trườnghợp này nếu quản lý chuỗi là các nhà nhập khẩu, người chế biến lại là bên nướcngoài

Qua việc khảo sát, phân tích thực trạng ba mô hình trên, nghiên cứucủa PGS, TS Nguyễn Quốc Thịnh đã đề cập ở chừng mực nhất định vai trò của bachủ thể trong phát triển chuỗi giá trị nông sản, đó là người sản xuất, người bán lẻ

và người cung ứng Nghiên cứu này có giá trị tham khảo tốt về mặt số liệu vàphương pháp phân tích cho luận án

1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến đề tài luận án

Những điểm thống nhất qua các nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước:

- Khái niệm về mô hình cánh đồng lớn, sự cần thiết phải hình thành và pháttriển mô hình CĐL ở ĐBSCL, mục tiêu phát triển CĐL

- Phát triển CĐL nhất thiết phải xây dựng và phát triển các mối quan hệ liênkết "4 nhà" (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông), trong đóthường và chủ yếu là liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp thông qua hợpđồng

Trang 39

Sự liên kết trực tiếp sẽ làm cho chuỗi ngắn lại và qua đó các chủ thể nông dân vàdoanh nghiệp sẽ đạt được LIKT cao hơn.

- Tham gia vào mối liên kết trong mô hình CĐL thì cả doanh nghiệp và nôngdân đều có LIKT và các lợi ích khác tùy theo vị thế của họ trong chuỗi liên kết

Tuy vậy, xã hội còn có nhiều đánh giá khác nhau, phức tạp, trái chiều Chẳng hạn:

+ Cánh đồng mẫu lớn chưa lớn! thiếu những ưu đãi cụ thể, việc tổchức liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo liên tục bị trục trặc

+ Nông dân nghĩ rằng, mô hình CĐL chỉ có lợi nhiều cho doanh nghiệp mà

có rất ít lợi cho nông dân, đặc biệt là giá lúa, nông dân thiệt "kép"

+ Còn nhiều vướng mắc trong xây dựng CĐL: việc đảm bảo đầu ra cho nôngdân còn nhiều bất cập, nên nông dân chưa an tâm Chưa tạo được sự khác biệt

về hiệu quả kinh tế, đảm bảo giá cả và đầu ra Việc triển khai mô hình ở cáckhâu: quy hoạch, tổ chức sản xuất, liên kết đầu ra và đầu vào ở nhiều CĐL cònkém hiệu quả v.v

Vì vậy, triển khai mô hình CĐL một cách rộng rãi và có hiệu quả cần thựchiện nhiều biện pháp để xây dựng các mối liên kết "4 nhà" chủ yếu là giữa nôngdân và doanh nghiệp sao cho thiết thực, hiệu quả và bền vững, trên cơ sở đó

mà đảm bảo tính thống nhất và hài hòa về LIKT giữa các bên tham gia quan hệliên kết trong mô hình CĐL

1.2.2 Những khoảng trống luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đề tài luận án cho thấy,đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về mô hình CĐL và quan hệ liên kết sảnxuất - tiêu thụ giữa nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất nông nghiệp nóichung và sản xuất lúa nói riêng Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình khoa học nào

nghiên cứu về Quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong phát triển CĐL ở ĐBSCL dưới góc độ kinh tế chính trị Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là góp

phần lấp "khoảng trống" mà các nghiên cứu trước đây không hoặc chưa đề cập

đến, đó là: Thứ 1, quan hệ LIKT của nông dân và doanh nghiệp trong mô hình CĐL là

gì?

và cơ sở khách quan của mối quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trongphát triển CĐL là gì? Có phải sự hài hòa trong quan hệ LIKT giữa nông dân và doanhnghiệp trong mô hình CĐL là nhân tố quyết định sự phát triển của CĐL không?

Thứ 2, các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh

nghiệp trong mô hình CĐL là gì? Hình thức biểu hiện và cơ chế thực hiện nhằm

Trang 40

đảm bảo hài hòa quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong phát triểnCĐL là gì?

Thứ 3, đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế, yếu kém trong

thực hiện quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình CĐL ở ĐBSCLthời gian qua trong bối cảnh (hội nhập, biến đổi khí hậu, thực hiện tái cơ cấunông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm nôngnghiệp) cần được làm sáng tỏ thêm

Thứ 4, trong bối cảnh phát triển mới (hội nhập sâu rộng, biến đổi khí hậu,

tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành trồng trọt,…) thì xu thế phát triển CĐL và cácquan hệ liên kết, hợp tác giữa nông dân và doanh nghiệp trong CĐL diễn ra như thếnào? Và làm thế nào để giải quyết tốt, đảm bảo hài hòa trong quan hệ LIKT giữanông dân và doanh nghiệp trong phát triển CĐL ở ĐBSCL đến năm 2025

Ngày đăng: 31/12/2019, 08:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hà Anh (2019), ''Phát huy tiềm năng, thế mạnh vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long'', tại trang h ttp://d a ng c ongsan.vn / kin h -te / pha t -huy- tem- nang-the- m an h -vu n g- d ong-nam- b o-va-d o ng- b ang-song- c uu-lon g - 531821.h t ml , [truy cập ngày 14/08/2019] Sách, tạp chí
Tiêu đề: h ttp://d a ng c ongsan.vn / kin h -te / pha t -huy-tem- nang-the- m an h -vu n g- d ong-nam- b o-va-d o ng- b ang-song- c uu-lon g -531821.h t ml
Tác giả: Hà Anh
Năm: 2019
3. Nguyễn Đức Bách (1988), Quan hệ lợi ích kinh tế của xã hội, của tập thể và cá nhân người lao động trong chặng đường đầu tên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tóm tắt Luận án Phó tiến sĩ Triết học, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ lợi ích kinh tế của xã hội, của tập thể vàcá nhân người lao động trong chặng đường đầu tên của thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Bách
Năm: 1988
4. Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ (2018), Hội nghị Tổng kết năm 2017 và 15 năm hoạt động của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ diễn ra ngày 05/02/2018 tại thành phố Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Tổng kết năm 2017 và 15 nămhoạt động của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ diễn ra ngày 05/02/2018 tại thànhphố Cần Thơ
Tác giả: Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ
Năm: 2018
5. Vũ Trọng Bình, Đặng Đức Chiến (2012), "Cánh đồng lớn: Lý luận và tiếp cận trên thế giới và Việt Nam", Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng lớn: Lý luận và tiếp cậntrên thế giới và Việt Nam
Tác giả: Vũ Trọng Bình, Đặng Đức Chiến
Năm: 2012
6. Bộ Chính trị (2012), Kết luận số 28/KL-TW ngày 14/8/2012 về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh - quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2011-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 28/KL-TW ngày 14/8/2012 về phương hướng,nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh - quốcphòng vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2011-2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2012
7. Bộ Công Thương (2010), Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, Nxb Công thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sảnvào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Công Thương
Nhà XB: Nxb Côngthương
Năm: 2010
8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Hội nghị Đánh giá giữa kỳ kế hoạch 5 năm giai đoạn 2016-2020 và xây dựng kế hoạch năm 2019 vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Đánh giá giữa kỳ kế hoạch 5 năm giaiđoạn 2016-2020 và xây dựng kế hoạch năm 2019 vùng Đông Nam Bộ vàvùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2019
9. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), Quyết định số 77/2002/QĐ- BNNPTNT ngày 28/8/2002 về hướng dẫn về mẫu hợp đồng têu thụ nông sản hàng hóa thực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 77/2002/QĐ-BNNPTNT ngày 28/8/2002 về hướng dẫn về mẫu hợp đồng têu thụ nông sảnhàng hóa thực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủtướng Chính phủ
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2002
10. Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), Tiêu chí xây dựng cánh đồng mẫu lớn, Nxb Nông nghiệp, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chí xây dựng cánh đồngmẫu lớn
Tác giả: Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2011
11. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Quyết định số 639/QĐ-BNN- KH về phê duyệt quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 639/QĐ-BNN-KH về phê duyệt quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông CửuLong đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2014
12. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016), Quyết định số 1898/QĐ- BNN-TT ngày 23/5/2016 về phê duyệt đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1898/QĐ-BNN-TT ngày 23/5/2016 về phê duyệt đề án Tái cơ cấu ngành lúa gạo ViệtNam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2016
13. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2018), Báo cáo rà soát tái cơ cấu trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2014-2017 và điều chỉnh kế hoạch cơ cấu lại ngành trồng trọt giai đoạn 2018-2020, định hướng năm 2030, tháng 6/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát tái cơ cấutrong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2014-2017 và điều chỉnh kế hoạch cơ cấulại ngành trồng trọt giai đoạn 2018-2020, định hướng năm 2030, tháng6/2018
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2018
15. ''Cánh đồng mẫu lớn - Xu thế phát triển của nền nông nghiệp hiện đại'', tại trangh tt p : / /b a ov e t h uc v a t co n g d on g .i n f o /e n /n o d e /3 2 6 0 9, [truy cập ngày 12/7/2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: h tt p : / /b a ov e t h uc v a t co n g d on g .i n f o /e n /n o d e /3 2 6 0 9
16. ''Cánh đồng mẫu lớn giải quyết hài hoà bài toán lợi nhuận trong chuỗi sảnxuất lúa'', tại tranghtt p: / /www.ca n thoib. o rg.vn / Database / Conten t /475 . pd f , [truy cập ngày 05/4/2019] Sách, tạp chí
Tiêu đề: ht" t p: / /www.ca n thoib. o rg.vn / Database / Conten t /475 . pd f
17. ''Cần khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất cánh đồng lớn gắn với tiêu thụ hiệu quả'', tại trang emoit r uong.o r g , [truy cập ngày 24/02/2018] Sách, tạp chí
Tiêu đề: emoit r uong.o r g
18. Chu Văn Cấp (1984), Lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Những hình thức kết hợp và phát triển chúng trong lĩnh vực kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Kinh tế chính trị, bản dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt, đặt tại thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội: Những hình thức kết hợp và phát triển chúng trong lĩnh vực kinh tế xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Chu Văn Cấp
Năm: 1984
19. Chu Văn Cấp, Lê Xuân Tạo (2013), "Cánh đồng mẫu lớn ở đồng bằng sông Cửu Long - mô hình sản xuất hiệu quả", Tạp chí Cộng sản, (số chuyên đề cơ sở), số 79, 7/2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng mẫu lớn ở đồng bằng sôngCửu Long - mô hình sản xuất hiệu quả
Tác giả: Chu Văn Cấp, Lê Xuân Tạo
Năm: 2013
20. Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Phúc Thọ (2013), "Giải pháp tăng cường liên kết nhà doanh nghiệp và nhà nông trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (187), tháng 1/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tăng cường liênkết nhà doanh nghiệp và nhà nông trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nôngnghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Phúc Thọ
Năm: 2013
14. ''Cánh đồng mẫu lớn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long - Bước đột phá trong nông nghiệp", tại trang http://wc a g.mard.g o v.vn/pa g es/ n ews_detai l . aspx? Ne w sid=1 9 35 5 , [truy cập ngày 15/6/2018] Khác
21. Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh An Giang (2018), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch cánh đồng lớn lúa, nếp năm 2017, An Giang, ngày 13 tháng 4 năm Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w