Và các công trình Nhìn lại một thế kỷ văn học Viện Văn học, Văn học Việt Nam trên hành trình của thế kỷ XX của Phong Lê NxB ĐHQGHN ,1997; Lý luận và phê bình văn học của Trần Đình Sử NxB
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Phê bình văn học Việt Nam 1955-1985 có một ý nghĩa rất quan trọngtrong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại.Trong vòng ba mơinăm tồn tại và phát triển ấy, phê bình văn học bao chứa trong nó những vấn đềnóng bỏng của văn học thời chiến cũng nh thời bình, những thành tựu đã đạt đợc
và cả những bất cập mà nó vấp phải Nhận diện và khảo sát một chặng đờng dàicủa phê bình văn học để tìm ra đâu là những đóng góp đích thực của nó, đâu lànhững rào cản, cản trở sự phát triển của văn học trên một tinh thầnh khách quan,công bằng, khoa học là điều cần thiết
1.2 Phê bình văn học 1955-1985 đã khép lại một thời kỳ sôi nổi, hàohứng, đôi lúc bồng bột của văn học Việt Nam Trên tinh thần ấy, nó tạo ra tiền
đề cho sự kế thừa và phát triển của phê bình văn học những năm sau Đổi mới một thời đại hứa hẹn nhiều điều kỳ diệu mới cho văn học dân tộc
-1.3 Khảo sát phê bình văn học Việt Nam 1955-1985 góp phần soi sángnhiều vấn đề của văn học sử Kết quả nghiên cứu của công trình có thể trở thànhnhững t liệu hữu ích và thiết thực, góp một tiếng nói về sự thật lịch sử văn học,
đồng thời góp phần nhỏ bé vào quá trình nghiên cứu và giảng dạy lý luận, phêbình văn học đúng hớng hơn
Với những ý nghĩa thiết thực đó, chúng tôi chọn đề tài phê bình văn họcViệt Nam 1955-1985, dẫu biết rằng đụng đến phê bình, nhất là phê bình văn học
ở giai đoạn này là đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm dễ gây tranh cãi
2 Lịch sử vấn đề
Phê bình văn học 1955-1985 có một vị trí quan trọng trong tiến trình pháttriển của văn học Việt Nam hiện đại Chặng đờng này ghi dấu những bớc chuyểnmình hết sức có ý nghĩa của ý thức và t duy văn học dân tộc Điều đặc biệt hơnnữa, chặng đờng văn học này tiếp tục đặt ra, giải quyết và hoàn tất một quanniệm văn học có sức sống lâu dài và mang tính lịch sử, xã hội sâu sắc - đó làquan niệm văn học gắn với đời sống kháng chiến, gắn với đời sống chính trị xãhội Khi một chặng đờng lịch sử của dân tộc đã đi qua, sứ mệnh văn học đã tạm
đợc hoàn thành, một điều tất yếu là văn học phải nhìn lại, kiểm điểm lại chính nó
để thấy đợc u điểm và nhợc điểm của cuộc hành trình đã qua Một cuộc tự nhậnthức đã bắt đầu và mở ra những tìm tòi mới cho hớng đi của văn học Việt Nam từsau 1975
Có thể thấy rằng, đời sống của văn học nói chung, của phê bình văn họcnói riêng chặng đờng 1955-1985 nói riêng diễn ra rất sôi động xét ở cả bề rộng
và chiều sâu Thành quả của nó để lại đã dành đợc sự quan tâm chú ý của d luậnxã hội, của giới nghiên cứu văn học Nhiều bài viết đề cập đến chặng đờng phêbình văn học này, tuy nhiên, đó mới chỉ là những bài nhằm giới thiệu, tổng kếtmang tính chất định hớng hoặc quá khái quát mà cha đặt vấn đề khảo sát một
Trang 2cách toàn diện sự phát triển của đời sống phê bình văn học nh là một qúa trìnhvận động nội tại của nó.
Tiêu biểu cho những bài viết đó là Thử nên mấy xu hớng chính chi phối sự vận động của tiến trình văn học cách mạng 35 năm qua của Lại Nguyên Ân (Tạp chí Văn học, số 5, năm 1980); Những bớc tổng hợp mới của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa 35 năm qua của Phan C Đệ (Tạp chí Văn học, số 5, năm 1980); Những bớc tổng hợp mới trong văn học Việt Nam thế kỷ XX của Phan
Cự Đệ (Tạp chí Văn học, số 5, năm 2001); Nghĩ về văn học Việt Nam thế kỷ XX của Trịnh Đình Khôi (Tạp chí Văn học, số 10, năm 2001); Mấy suy nghĩ về văn học Việt Nam thế kỷ XX của Tố Hữu (Tạp chí Văn học, số 11, năm 2001); Thế kỷ
XX với đờng lối phát triển văn hóa, văn nghệ của Đảng cộng sản Việt Nam của Thành Duy (Tạp chí Văn học, số 9, năm 2001) Và các công trình Nhìn lại một thế kỷ văn học (Viện Văn học), Văn học Việt Nam trên hành trình của thế kỷ XX của Phong Lê( NxB ĐHQGHN ,1997); Lý luận và phê bình văn học của Trần
Đình Sử (NxBGD,2000)… Những bài viết và công trình này, nh Những bài viết và công trình này, nh tên gọi của nó,cho thấy các tác giả đã cố gắng đa ra những nét phác hoạ mang tính chất kháiquát về sự tồn tại và phát triển của cả một thế kỷ văn học Sự nhìn trên diện rộng
đó có thể cho thấy một bức tranh tổng quan của văn học Việt Nam thế kỷ XX,nhng cạnh đó, nó cha đủ sức gợi nên những chặng đờng văn học mang tính lịch
sử, cụ thể là vận động mang tính quy luật của bản thân văn học Hơn nữa nhữngbài viết và công trình này nghiêng về tổng kết, đánh giá thành quả của tronglĩnh vực vực sáng tác mà ít đề cập đến phê bình văn học Nếu có thì đó chỉ lànhững nhận định khái quát về vai trò của phê bình văn học một thế kỷ qua và sự
đóng góp của đội ngũ các nhà phê bình trong sự phát triển của văn học Ngay cả
công trình có quy mô Nhìn lại một thế kỷ văn học cũng cha đề cập đến đời sống
của phê bình văn học chặng đờng 1955-1985 một cách thoả đáng, mà đó mới chỉ
là những bài viết ngắn bàn đến những hiện tợng của đời sống phê bình ở nhữnggiai đoạn khác nhau
Mặc dù phê bình văn học 1955-1985 cha đợc nghiên cứu một cách đầy đủ,toàn diện và sâu sắc với t cách là một đối tợng mang tính chất độc lập riêng biệtnhng nó cũng đã có hình hài, diện mạo qua những cố gắng tái hiện của các nhànghiên cứu Nghĩa là ngời thực hiện đề tài này không phải bắt đầu từ mảnh đấttrống mà xuất phát từ những tiền đề, những gợi mở mang tính chất định hớngcủa các nhà lý luận, nghiên cứu và phê bình văn học Tiêu biểu cho những công
trình đó phải kể đến Văn học Việt Nam 1945-1975, tập 1, của Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trác, Trần Hữu Tá (Nxb Giáo dục, 1998); Nhìn lại 40 năm phát triển của phê bình văn học của Nguyễn Đăng Mạnh (Tạp chí Văn học, số 1 ,năm 1987); Lý luận phê bình văn học nhìn từ sau một thế kỷ của tác giả Nguyễn Hoà (Tạp chí Nhà văn ,số 4 - 2002); Hành trình của nghiên cứu - phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX của Lê Dục Tú (Tạp chí Văn học, số 7- 2002); Phơng pháp
Trang 3luận nghiên cứu và phê bình văn học trớc yêu cầu và trong quy định của lịch sử sau 1945 của Phong Lê (Tạp chí Văn học ,số 5 - 2003) … Những bài viết và công trình này, nh
Trong cuốn Văn học Việt Nam 1945-1975, các tác giả Nguyễn Đăng
Mạnh, Nguyễn Trác, Trần Hữu Tá đã quan tâm đến lý luận phê bình chặng đờng1945-1975 Trong đó, các tác giả đã có những kiến giải khá chính xác về quátrình hình thành, về bản chất của một nền lý luận phê bình kháng chiến, về sự tr-ởng thành của đội ngũ các nhà phê bình… Những bài viết và công trình này, nh Đề cập đến phê bình văn học 1956-
1975, chặng đờng mà theo các tác giả là "gắn với nhận đờng lần thứ hai của vănhọc với nhiệm vụ xây dựng nền văn học xã hội chủ nghĩa”, giai đoạn mở đầubằng cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn - Giai phẩm trên mặt trận văn nghệ,các tác giả cho rằng: "Lý lụân, phê bình từ 1955-1975 đã đặt ra và giải quyết(phải nói rằng có những vấn đề đợc đặt ra nhng cha đợc giải quyết đến nơi đếnchốn ) hàng loạt vấn đề có ý nghĩa quan trọng: vấn đề thế giới quan và phơngpháp, phong cách sáng tác,vấn đề nhân tính và giai cấp tính, vấn đề chủ nghĩahiện thực và cái gọi là chủ nghĩa hiện thực không bờ bến, vấn đề điển hình hoáhiện thực xã hội chủ nghĩa, vấn đề thể hiện cái anh hùng, vấn đề tính chất dântộc - hiện đại, vấn đề Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa tự nhiên, vấn đề "thơ mới"
và ảnh hởng của nó với thơ Tố Hữu, vấn đề thể ký và ngời thật việc thật (… Những bài viết và công trình này, nh.) cònbản thân phê bình thì có vấn đề gọi là phê bình lý trí và phê bình tình cảm, phêbình chỉ ngợi ca nay có khen và có chê, vấn đề động cơ của ngời viết và hiệu quảcủa tác phẩm, vấn đề ảnh hởng của chủ nghĩa cấu trúc… Những bài viết và công trình này, nh [40; 187- 188] Theodõi quá trình phát triển của phê bình văn học từ 1955 trở đi, các tác giả đa ra
mấy đặc điểm quan trọng: Thứ nhất, đội ngũ các nhà phê bình tăng lên rõ rệt cả
về lợng và chất Bên cạnh những nhà phê bình lớp cũ còn hình thành những cây
bút phê bình mới có tài năng và tâm huyết với nghề Thứ hai, do nhu cầu chỉ đạo
và xây dựng nền văn học chủ nghĩa, do trình độ công chúng đã cao hơn nên phêbình văn học "ngày càng đi sâu hơn vào bản chất của văn học với những đặc tr-
ng của nó từ nội dung đến hình thức, không bằng lòng với cách viết khen chê
đơn giản và độc đoán, phê bình muốn nghiên cứu, lý giải các hiện tợng văn học,
đồng thời khắc phục dần lối viết thô thiển, xã hội học dung tục, phát huy quan
điểm phê bình toàn diện, thống nhất nội dung với hình thức, t tởng với phongcách nghệ thuật Để đáp ứng đợc yêu cầu trên, cả phê bình, lý luận, lịch sử vănhọc xích lại gần nhau hơn Phê bình ý thức khai thác mạnh mẽ hơn sự hỗ trợ của
lý luận văn học và lịch sử văn học" [40; 191] Còn tác giả Nguyễn Hòa trong bài
viết Lý luận phê bình văn học, nhìn từ sau một thế kỷ (Tạp chí Nhà văn số
4-2002) đã dành sự quan tâm đến lý luận- phê bình văn học dới góc độ của mộtmôn khoa học nghiên cứu về sự phát triển của văn học Theo tác giả" phê bìnhvăn học, trong t cách là một thao tác khoa học xuất hiện ở Việt Nam chúng tacha lâu Xét trong mối trong tơng quan giữa lý luận và phê bình thì lý luận là cơ
sở, là hệ thống lý thuyết, khái niệm công cụ đợc ngời làm phê bình sử dụng đểnghiên cứu, đánh giá Song phê bình văn học do đối tợng của nó là một thực thể
Trang 4sống động nên nó không thuần tuý nghiên cứu lý thuyết khô khan, nó cần đếntrái tim mẫn cảm của ngời viết phê bình" Tác giả cũng chỉ ra thực trạng của phêbình trớc 1975: "Trong khi hoạt động sáng tác đã có chuyển biến khá tích cực,hiện thực của sự nghiệp giải phóng dân tộc đặt ra những đòi hỏi mà chỉ bằngnhững gì đã và đang có nhà văn sẽ không theo kịp sự vận động của lịch sử.Trong khi đó, lý luận, phê bình hầu nh không có bớc phát triển mới, tuy đây đótác giả cố gắng tìm kiếm công cụ nhằm bổ sung vào hệ thống lý luận Những cốgắng ấy mới chỉ dừng lại ở tình trạng tự phát, chứ cha đợc nhận thức đầy đủ".[29;77]
Gây đợc sự chú ý đối với độc giả là bài viết Hành trình của nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX của Lê Dục Tú (Tạp chí Văn học, số 7-
2002) Trong bài viết của mình, ngoài việc khái quát đời sống của phê bình vănhọc trong suốt một thế kỷ qua, tác giả đã có những đánh giá, nhận định quantrọng về đặc điểm của phê bình văn học Việt Nam chặng đờng từ 1955-1985.Tuy những nhận định của tác giả là rất khái quát nhng nó đã mở ra nhiều vấn đềthiết thức mà ngời thực hiện đề tài này sẽ lấy đó làm luận điểm cho những kiếngiải của mình Đặc biệt, gần đây Phong Lê đã có một bài viết quan trọng dới tiêu
đề Phơng pháp luận nghiên cứu và phê bình văn học trớc yêu cầu và trong quy
định của lịch sử sau 1945 (Tạp chí Văn học, số 5-2003) Có thể nhận thấy trong
bài viết sự trăn trở và sự thẳng thắn của nhà nghiên cứu khi đề cập đến bản chất
đời sống tinh thần của nghiên cứu và phê bình văn học từ 1945 đến cuối nhữngnăm 80 Theo tác giả, nền phê bình văn học ấy do mục tiêu phục vụ chính trị và
sự chi phối quá triệt để của ý thức chính trị đã hạn chế những tìm tòi, sáng tạomang tính chất tự thân của văn học Mặt khác do áp dụng phơng pháp xã hội họcmột cách máy móc trong đánh giá văn học nên dẫn đến việc hiểu lầm, hiểu sainhững cố gắng đóng góp của nhà văn
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và các bài viết nói trên đã chỉ ra
đ-ợc những đặc điềm quan trọng của phê bình văn học 1955-1985 Tuy nhiên, nómới dừng lại ở những luận điểm mà cha có một sự khảo sát phân tích và tổng kếtmột cách cụ thể Đây là chỗ trống mà ngời thực hiện đề tài này có thể đi vào tìmhiểu nó dẫu biết rằng công việc đó sẽ rất khó khăn
3 nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài Phê bình văn học Việt Nam 1955-1985, luận văn hớng tớicác nhiệm vụ cụ thể sau:
3.1 Khảo sát bức tranh chung của đời sống phê bình văn học Việt Nam1955-1985 qua từng sự kiện, chặng đờng cụ thể Trong đó dừng lại mô tả, phântích và đánh giá những cuộc tranh luận, hội nghị, hội thảo, những công trình phêbình tiêu biểu và những gơng mặt phê bình tiêu biểu nhằm tái hiện lại một cáchsinh động đời sống văn học Việt Nam giai đoạn này nói chung, phê bình văn họcnói riêng
Trang 53.2 Tìm hiểu những đóng góp của phê bình văn học 1955-1985 đối vớitiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài, đối tợng nghiên cứu củaluận văn sẽ là toàn bộ những hoạt động phê bình văn học diễn ra trong thời kỳ1955-1985 Phê bình văn học thời kỳ này đợc thể hiện ở nhiều hình thức phongphú và đa dạng Nó bao gồm những bài viết, những cuộc trao đổi giữa các cánhân và những công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu vào bản chất củagiai đoạn văn học này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát, phân tích, đánh giá Phê bình văn học Việt Nam 1955-1985 Lànhiệm vụ quan trọng của ngời thực hiện đề tài này Thế nhng, phê bình văn họcViệt Nam giai đoạn này trải dài trong vòng 30 năm, thời gian không phải là ngắn
để có thể đa ra một cái nhìn hệ thống Hơn nữa, một vấn đề mà chúng tôi gặpkhó khăn là vấn đề t liệu Vì thế đề tài của luận văn chỉ tập trung vào những vấn
đề cơ bản nhất trong sự vận động của phê bình văn học 1955-1985 Đó là nhữngchặng đờng văn học gắn với hoạt động của phê bình nh tranh luận, hội nghị, hộithảo … Những bài viết và công trình này, nh nghĩa là tập trung vào những hiện tợng nổi bật của đời sống phê bình vănhọc
5 Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phơng pháp sau :
5.1 Phơng pháp lịch sử
5.2 Phơng pháp so sánh - phân tích - tổng hợp
5.3 Phơng pháp kết hợp mô tả lịch sử và khái quát lý luận
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là một công trình tập trung nghiên cứu một cách tơng đối toàndiện và có hệ thống quá trình vận động và phát triển của phê bình văn học ViệtNam 1955-1985
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận,luận văn đợc thực hiện trong 3 chơng
Chơng 1: Quá trình phát triển của phê bình văn học Việt Nam trớc 1955 Chơng 2: Diện mạo tổng quan của phê bình văn học Việt Nam 1955 -1985 Chơng 3: Đặc điểm cơ bản của phê bình văn học Việt Nam 1955-1985
Trang 6Chơng 1 Quá trình phát triển của phê bình văn học Việt Nam trớc 1955
1.1 Về khái niệm phê bình văn học
Phê bình văn học là một trong những bộ môn khoa học về văn học, cónhiệm vụ, chức năng và quy luật hoạt động riêng, tồn tại bên cạnh các bộ môn
khác nh :lí luận văn học, lịch sử văn học Từ điển tiếng Việt (Trung tâm Từ điển
ngôn ngữ, Hà Nội, 1992) định nghĩa: "Phê bình văn học là bộ môn nghiên cứuchuyên phân tích các tác phẩm văn học nhằm mục đích đánh giá và hớng dẫnviệc sáng tác" Có thể thấy ngay rằng đó là cách định nghĩa, ngắn gọn và hàmsúc Nhng bản thân định nghĩa ấy cha lý giải đợc một cách đầy đủ, chi tiết vềthuật ngữ phê bình văn học
Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học (Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia, Hà Nội, 2003) đã đa ra một cách hiểu khá hoàn chỉnh về thuật ngữ phêbình văn học Ông cho rằng phê bình văn học là "sự phán đoán, bình phẩm, đánhgiá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèm theo sự phán đoán, bình luận,giải thích, đánh giá những hiện tợng đời sống mà tác phẩm nói tới Phê bình vănhọc đợc coi nhà một hoạt động tác động trong đời sống văn học và quá trình vănhọc, nh một loại sáng tác văn học, đồng thời còn đợc coi nh một bộ môn thuộcnghiên cứu văn học" Để có một cái nhìn khác biệt giữa phê bình văn học và các
bộ môn khác, nhà nghiên cứu đã chỉ ra: "khác với văn học sử, phê bình văn học utiên soi rọi những quá trình, những chuyển động đang xẩy ra trong văn học hiệnthời, khảo sát các sản phẩm xuất bản và báo chí, phản xạ với các hiện tợng vănhọc, với sự cảm thụ văn học của công chúng Ngay khi bàn về di sản văn học quákhứ, nhà phê bình cũng chủ yếu xuất phát từ các nhiệm vụ xã hội và thẩm mỹcủa hiện tại" "Những phán đoán của phê bình hầu nh xuất hiện đồng thời với sựxuất hiện của văn học, ban đầu với t cách là những ý kiến của các độc giả quantrọng, hiểu biết nhất, không ít trờng hợp các độc giả này cũng là ngời sáng tácvăn học… Những bài viết và công trình này, nh", đó là cái nhìn khá cơ bản khi nhà nghiên cứu đã đụng chạm đếnchức năng, nhiệm vụ, đối tợng, phạm vi hoạt động của phê bình văn học Phêbình văn học luôn hớng tới những đối tợng văn học đang diển ra trớc mắt, vì vậy
nó mang tính thời sự nóng hổi của đơì sống văn học Nhiệm vụ của nhà phê bìnhvăn học là biểu dơng, khẳng định những tác phẩm văn học có giá trị, mặt khác
đấu tranh chống lại những tác phẩm sai lầm, góp phần nâng cao tính hiệu quảcủa thực tiễn sáng tácvà định hớng thẩm mỹ đến công chúng
Phê bình văn học luôn tồn tại độc lập bên cạnh tác phẩm văn học Mộtthời, nó đợc coi nh là một thứ" ăn theo ", "nói theo" Nhng đó chỉ là những địnhkiến hẹp hòi, sự "xích mích " mang tính cá nhân đơn lẻ Phê bình văn học luônphát triển cùng với sự phát triển của quá trình sáng tác Bởi " chỉ với sự phát triểncủa văn học, mục tiêu, tính chất của phê bình văn học mới trở nên phức tạp đòi
Trang 7hỏi chính phê bình phải đợc phân nhánh, đa dạng" [1;260] Văn học luôn là sảnphẩm của một giai đoạn lịch sử nhất định Trình độ của văn học phản ánh trình
độ t duy của lịch sử, tất nhiên cũng có những tác phẩm vợt thời đại, dự cảm tơnglai, nhng đó là những trờng hợp ngoại lệ Vì vậy," sự xác định lý thuyết về phêbình văn học cần tính đến phơng diện tiến triển của lịch sử" [1; 260]
Lịch sử phát triển của văn học ở mỗi thời đại thờng ứng với một kiểu phêbình Văn học là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, có những thiết chế riêng biệt.Phê bình văn học phát triển trong bối cảnh đó của đời sống xã hội, với t cách làmột dạng thức và một bộ phận của xã hội Do vậy có thể coi " phê bình nh một
bộ phận lập pháp về lý thuyết cho sáng tác; nó trở thành nhân tố tổ chức quátrình văn học" [1;261] Điểm qua lịch sử phát triển của phê bình, có thể thấy phêbình văn học Việt Nam phát triển qua hai dạng thức: phê bình truyền thống vàphê bình hiện đại, ứng với hai quá trình phát triển của văn học: văn học trung đại
và văn học hiện đại
Thời kỳ văn học trung đại, có ý kiến cho rằng cha có phê bình Đó là hiểutheo nghĩa chặt chẽ của nó Nhng nếu hiểu tơng đối thì đã có kiểu phê bìnhtruyền thống Phê bình truyền thống gắn với kiểu t duy văn học thời trung đại
Nó cha có những tác phẩm phê bình riêng biệt cùng đội ngũ những nhà phê bìnhchuyên nghiệp Những bài phê bình thờng nằm dới hình thức lời tựa, lời bạt, nằmrải rác trên những bài báo lẻ tẻ Nội dung phê bình nặng về cảm tính, ngẫu hứng
và hết sức chủ quan Phê bình thờng hớng đến đối tợng là một tác phẩm cụ thểchứ cha khái quát thành một trào lu hay một thời kỳ văn học Vì những lý do đócho nên, phê bình truyền thống thờng thiếu tính khoa học, tính hệ thống vàmang đậm yếu tố chủ quan Khi phê bình thờng phân biệt thể loại, xem thờngvăn xuôi, cho nó là thứ "nôm na mách qúe" Nhầm lẫn nhân vật trong tác phẩmvới những nhân vật thực ngoài đời, dẫn đến có những đánh giá máy móc, sailầm, hạ thấp tính nghệ thuật của tác phẩm Trong phê bình thờng thiên về chủnghĩa "tầm chơng trích cú", cố tìm kiếm "nhãn tự"; "thần cú" để phê điểm, phẩmbình mang tính cao siêu Nói chung phê bình truyền thống mang nặng yếu tố
"nghị luận văn học"
Trong khi đó, ở thời kỳ văn học hiện đại, do sự phát triển của t duy và thểloại văn học, cộng thêm ảnh hởng của lý luận, phê bình phơng Tây, phê bìnhmang một diện mạo hoàn toàn mới Đầu tiên phải kể đến là đội ngũ những nhàhoạt động phê bình mang tính chuyên nghiệp cao Những thể tài thờng dùng là:bài báo, bài điểm sách, bài tổng quan văn học, tiểu luận, chân dung văn học, đốithoại phê bình văn học, bút chiến… Những bài viết và công trình này, nh Tuỳ theo tài năng và mục đích mà mộtnhà"phê bình bộc lộ những khả năng của mình bắt đầu từ một thông tin đơn giảncủa một ngời đọc về một tác phẩm mới ra mắt và kết thúc là việc đặc ra cái vấn
đề văn học và xã hội" Phê bình hiện đại đã khám phá bề sâu của tác phẩm mộtcách tinh tế, lý giải những vấn đề nội dung cũng nh hình thức của tác phẩmnhằm đạt đợc hiệu quả thẩm mỹ cao Điều đó đòi hỏi "nhà phê bình ở thời đại
Trang 8kết hợp trong mình những năng lực của nhà mỹ học và ngời nghệ sỹ với năng lực
ít nhiều của nhà đạo đức học, tâm lý học, nhà chính trị luận" [1; 261]
Nh vậy, phê bình văn học với t cách là một bộ môn khoa học về văn họcmang tính độc lập, có đời sống và quy luật hoạt động riêng, có lịch sử phát sinh
và phát triển riêng hớng đến khám phá những vấn đề mang tính quy luật, thời sựcủa văn học, nhằm bổ sung cho những khiếm khuyết trong sáng tác và góp phần
định hớng công chúng Cũng cần phải thấy rằng, lâu nay, ngời ta luôn có sựnhầm lẫn, thậm chí đồng nhất phê bình văn học và lý luận văn học Thực tế đó
đã ít nhiều làm phơng hại đến quá trình nghiên cứu văn học Trong thời đại ngàynay, khi mà khoa học có sự phân ngành rõ rệt thì rất cần thiết phải phân địnhranh giới giữa chúng nhằm trả cho từng lĩnh vực khoa học những mảnh đất dụng
võ của mình Với ý nghĩa đó, cần phải đề cập đến lý luận văn học trong sự khácbiệt cũng nh mối tơng quan với phê bình văn học
Cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn (Nxb ĐHQG
Hà Nội 2003) định nghĩa : Lý luận văn học là "Bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lý thuyết khái quát Lý luận văn học nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội, thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định phơng pháp luận
và các phơng pháp phân tích văn học" Lại Nguyên Ân đã tập hợp các vấn đề
đ-ợc nghiên cứu bởi lý luận văn học vào 3 nhóm
- Lý thuyết về đặc trng của văn học nh một hoạt động sáng tạo tinh thầncủa con ngời (tính hình tợng, tính nghệ thuật, lý tởng thẩm mỹ, các thuộc tính xãhội của văn học, các nguyên tắc đánh giá sáng tác văn học nói chung)
- Lý thuyết về cấu trúc tác phẩm văn học (đề tài, chủ đề, kết cấu, nhân vật,tính cách, cảm hứng, cốt truyện, các vấn đề phong cách học, ngôn ngữ, luật thơ,thi học lý thuyết)
- Lý thuyết về quá trình văn học (phong cách, các loại và các thể văn học,các trào lu, khuynh hớng văn học, quá trình văn học nói chung)
Mỗi quan hệ gần gũi giữa phê bình văn học và lý luận văn học là điều khôngthể phủ nhận Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng giữa ba chuyên ngành: lịch sử vănhọc, lí luận văn học và phê bình văn học " thực ra không có ranh giới thật dứtkhoát Phê bình văn học xét ở một góc độ nhất định, có thể coi là lịch sử văn học
mà đối tợng là những quá trình văn học đang diễn ra Phê bình văn học cũng cóthể là lí luận văn học, vì xét ở góc độ khác, nó lại là một thứ "mĩ học vận động"(… Những bài viết và công trình này, nh) Những thành tựu của lịch sử văn học cung cấp nhiều kinh nghiệm và trithức cho phê bình văn học, đồng thời giúp cho lí luận văn học cơ sở để rút ranhững kết luận ở cấp độ khái quát cao hơn Lí luận văn học về phía nó, cung cấpnhững khái niệm, những phạm trù, những quy luật mang ý nghĩa phổ biến nhấtlàm công cụ t duy cho cả lịch sử văn học lẫn phê bình văn học" [39 ;303] Songmỗi bộ phận lại có chức năng, nhiệm vụ và u thế riêng Trong nghiên cứu vănhọc việc không xác định đợc đờng biên giữa chúng nhiều khi làm mất đi bảnchất tự nhiên đặc trng của đối tợng nghiên cứu, xoá đi cái ranh giới rất cần sự
Trang 9khu biệt Thực tế cho thấy "việc không phân định rõ ranh giới giữa lý luận vănhọc và phê bình văn học chẳng những không mang lại hiểu quả khoa học cao,
mà còn ảnh hởng xấu đến lợi ích của khoa học văn học Trớc hết, nó làm chokhoa học văn học không phát triển một cách bình thờng vì đối tợng của lịch sửvăn học và phê bình văn học cũng bị lý luận văn học xâm phạm, trong khi lẽ ra
lý luận văn học với đối tợng và mục đích riêng, phải là chỗ dựa cho nghiên cứu
và phê bình văn học" [15;23] Trong khoa học hiện đại, việc nghiên cứu đối tợng
đòi hỏi sự kết hợp liên ngành, nó dựa trên sự triển khai, phân tích và tổng hợp
đối tợng nghiên cứu Để thực hiện đợc tính quá trình đó, các ngành khoa họcphải tiếp cận đối tợng trên hai bình diện và kinh nghiệm và lý luận Trong nghiêncứu văn học cũng vậy, thực tế nghiên cứu cho thấy việc kết hợp giữa cái cụ thể
và trừu tợng giữa cái chung và riêng sẽ bổ sung những điểm nhìn từ các phíakhác nhau đến một đối tợng chung nhất có tên gọi là văn học Điều đó có ýnghĩa rằng, mối liên hệ giữa nghiên cứu văn học, lý luận văn học, phê bình vănhọc là cần thiết Nhng nếu hiểu giữa chúng là sự hoà trộn thì thật là sai lầm Cómột thực tế ở Việt Nam "không biết từ bao giờ cụm từ lý luận - phê bình luôn đivới nhau Và đơng nhiên nhà phê bình đồng thời cũng là nhà lý luận, và nhà lýluận cũng phải là nhà phê bình Khi nói đến trình trạng yếu kém của nghiên cứu
lý luận văn học ngời ta cũng nghĩ luôn sự yếu kém đó là của phê bình văn học vàngợc lại Do đó không một ngành khoa học nào tự ý thức rõ về sự yếu kém củamình" [15;23]
Trong nghiên cứu văn học, một lĩnh vực nghệ thuật vốn đòi hỏi sự khámphá tinh tế và nhạy cảm đến cao độ, việc phân định những đối tợng, phạm vi,chức năng ở các lĩnh vực nghiên cứu nh phê bình văn học và lý luận văn học làmột việc làm hết sức cần thiết, bởi vì ngoài sự nợng tựa, hỗ trợ lẫn nhau chúngcòn có những hoạt động đặc thù mang tính chuyên sâu, lấp dần những khoảngtrống và sự bất cập trong nghiên cứu văn học mà lâu nay văn học vốn cha đợcnhìn nhận nh một khoa học văn học
Xuất phát từ thực tiễn lý thuyết trên, luận văn chú ý phân tích, đánh giánhững vấn đề của phê bình văn học 1955-1985 dựa trên những khả năng và quyluật hoạt động riêng của nó Điều đó cũng có nghĩa rằng, trong quá trình thựchiện đề tài ngời viết rất có ý thức trong viêc phân định giữa phê bình văn học và
lý luận văn học Tuy nhiên khi bàn đến phê bình văn học thiết nghĩ không thểkhông đề cập đến lý luận văn học nh là sự hỗ trợ cần thiết để soi sáng những vấn
đề của phê bình văn học Vả lại, trong thực tế có những hiện tợng phân biệt rạchròi giữa lý luần và phê bình không phải dễ
1.2 Quá trình phát triển của phê bình văn học Việt Nam trớc 1955 1.2.1 Giai đoạn 1900 đến 1930
Thế kỷ XX đánh dấu bớc chuyển mình quan trọng của văn học Việt Nam
Có thể khẳng định rằng văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ đã phá vỡnhững quan niệm truyền thống mang tính "ngng đọng" và mở ra một thời kỳ
Trang 10mới, thời kỳ hiện đại hoá văn học Phơng tây đã thổi vào đời sống xã hội ViệtNam một luồng gió mới, trong đó văn học, một bộ môn rất nhạy cảm của xã hội
đã chịu ảnh hởng sâu sắc Cùng với những đổi thay trong quan niệm là sự xuấthiện những thể loại văn học mới, đội ngũ những nhà văn mang t tởng Tây học… Những bài viết và công trình này, nhMột nền văn học bắt đầu bớc vào quá trình hiện đại hoá với biết bao triển vọng,bên cạnh đó cũng có không ít thử thách
Phê bình văn học giai đoạn 1900-1930 cũng bớc đầu xác lập đợc vị trí, vaitrò trong việc góp phần tạo dựng diện mạo của một nền văn học mới Nhng vớibản chất của một nền văn học đang trong tình trạng thay da, đổi thịt, phê bìnhvăn học giai đoạn này dờng nh cũng chỉ trong tình trạng khởi động chứ cha cónhững hoạt động thực sự sôi nổi Nói một cách thật cụ thể, thời kỳ này, phê bìnhvăn học cha xác lập một cách rõ ràng là một bộ môn khoa học có tính độc lập
mà nó chỉ mang "đờng hớng của phê bình văn học", nghĩa là đây chỉ mới là bớcchuẩn bị, là thời kỳ mở đờng Nhng dẫu sao, sự xuất hiện của phê bình văn học
là một tín hiệu đáng mừng vì nó sẽ tạo những nguồn động lực mạnh mẽ trongquá trình sáng tác
Điểm qua quá trình hoạt động của phê bình văn học thời kỳ này có thể thấy:
Từ năm 1900-1920 hoạt động phê bình trên sách báo của nớc ta hầu nh ở trongtình trạng tha thớt Hai mơi năm là khoảng thời gian không ngắn, nhng thực tế,văn học tồn tại dới sự kiểm duyệt khắt gao của chính quyền thực dân thì thực tếsáng tác quả cha đủ mạnh để quấy động sự hoạt động của phê bình Bài đầu tiênmang đờng hớng phê bình xuất hiện năm 1904 của Đông Kinh Nghĩa thục với
nhan đề Văn minh tân học sách Phải đợi đến những năm 1920-1930, những bài phê bình mới dần xuất hiện trên các mặt báo "Đông Dơng tạp chí", "Nam phong tạp chí"; "Phụ nữ tân văn"; "Hữu thanh"; Tiểu thuyết thứ bảy" Đó là những bài
mang tính chất phê bình, khảo cứu rõ rệt hơn
Tiêu biểu gồm các bài Nghề hát hội của ta và nghề diễn kịch của ngời Châu Âu của Nguyễn Văn Vĩnh, Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính; Tâm lý Thuý Kiều, Thế nào gọi là kịch, Văn học Pháp, Bàn về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh, Lời khuyên học trò của Nguyễn Bá Học, Văn tiêu khiển và văn biện thuyết của Hoàng Tích Chu, Nam thi hợp tuyển và tục ngữ phong giao của Nguyễn Văn Ngọc, Bàn về quốc văn của Ngô Đức Kế Ngoài ra còn có các bài
của Nguyễn Đỗ Mục, Dơng Bá Trạc, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Nguyễn Văn Tố,Nguyễn Hữu Tiến… Những bài viết và công trình này, nh Nhìn chung, những bài phê bình trên mới dừng lại ở nhữnglời giới thiệu sách, những bài giảng văn cổ, kim, những trang khảo cứu kèm theolời "lạm bình", những bài viết giới thiệu và bình luận tác phẩm, tác giả văn họcPhơng Tây (chủ yếu là văn học Pháp)… Những bài viết và công trình này, nh xuất hiện lẻ tẻ trên báo chí chứ cha cómột công trình phê bình mang tính quy mô dài hơi theo đúng nghĩa của nó.Trong cách phê bình thờng nặng nề chủ quan, cảm tính, còn có tính chẫt hỗn hợpvừa chọn văn, vừa phê điểm văn chơng Vì thế, phê bình gần với thứ "văn họcnghị luận" Với những tính chất nh trên không thể nói những tác giả đó là nhà
Trang 11phê bình thực sự Hay nói chính xác, đội ngũ các nhà phê bình chuyên nghiệpvẫn cha thực sự xuất hiện
Phê bình văn học giai đoạn 1900-1930 cha thực sự tạo đợc một không khísôi nổi trong đời sống văn học những năm đầu thế kỷ Nhng với những gì nó đãlàm đợc thì có thể coi đây là sự định hớng, một sự nhận dạng để tạo những tiền
đề cho sự phát triển của phê bình văn học những giai đoạn tiếp sau
1.2.2 Giai đoạn 1930-1945
Giai đoạn này, văn học Việt Nam đã đạt đợc những hành tựu rực rỡ vàthực sự đi vào quỹ đạo hiện đại hoá Các xu hớng văn học hình thành nhiều thểloại mới, xuất hiện đội ngũ đông đảo các nhà văn mang tính chuyên nghiệp… Những bài viết và công trình này, nhNgoài ra, bạn đọc còn chứng kiến sự ra đời và phát triển của một thể loại màthiếu nó bức tranh văn học của thế kỷ sẽ thiếu đi một phần quan trọng Thể loại
đó là phê bình văn học Đây là giai đoạn mang tính đột khởi của phê bình vănhọc Nếu nh ở giai đoạn 1900 - 1930, phê bình văn học chỉ mang tính chất "đờnghớng phê bình" thì nay đã trở thành một thể loại độc lập, có quy luật mang tính
đặc thù, không còn trong tình trạng đồng nhất với "thể văn nghị luận" nói chunghay công việc của nhà biên soạn văn học sử hay hợp tuyển nữa Phê bình văn họcthời kỳ này có tính chất chuyên ngành rõ rệt và trở thành một hiện tợng xã hội
độc đáo Với sự thay đổi trong quan niệm văn học và đặc biệt, do nhu cầu tiếpnhận văn học đòi hỏi ở một trình độ cao, phê bình ngày càng trở nên cần thiết vàquen thuộc trong đời sống văn học
Từ năm 1930-1945, đời sống xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi hệ trọng
Ch-a bCh-ao giờ trong đời sống tinh thần củCh-a dân tộc Việt NCh-am lại dậy lên nhiều cảmxúc lớn lao đến thế Đảng cộng sản Đông Dơng đợc thành lập (ngày 03/2/1930).Cách mạng tháng Tám thắng lợi năm 1945 Văn học vận động trong lòng củalịch sử đất nớc, mang theo cái hơi thở nóng hổi của thời đại, vì vậy nó cũng âmthầm "vặn mình", "chuyển mình" để thực hiện những nhiệm vụ cao cả Đặc biệt,vào giai đoạn 1936-1939, thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dơng, trong đời sốngvăn hoá dân tộc, hoạt động báo chí bùng nổ một cách mạnh mẽ Cả 3 kỳ: Bắc -Trung - Nam có trên 150 tờ báo các loại Cùng với sự phát triển của văn học, phêbình văn học phát triển một cách mạnh mẽ, hình thành các trờng phái khác nhau.Giai đoạn 1930-1945 nổ ra rất nhiều cuộc tranh luận nghệ thuật, tiêu biểu có 3cuộc gây đợc tiếng vang: Cuộc tranh luận nghệ thuật giữa Ngô Đức Kế, HuỳnhThúc Kháng và Phạm Quỳnh về Truyện Kiều; cuộc tranh luận "thơ mới" và "thơcũ", cuộc tranh luận nghệ thuật 1935-1939 Trong đó cuộc tranh luận nghệ thuật1935-1939 là tiêu biểu nhất
1.2.2.1 Cuộc tranh luận về Truyện Kiều
Cuộc tranh luận này bắt đầu từ sự bất đồng quan điểm giữa Ngô Đức Kế,Huỳnh Thúc Kháng và Phạm Quỳnh khi đánh giá Truyện Kiều vào năm 1924.Phạm Quỳnh khẳng định và đề cao giá trị của Truyện Kiều Ông cho rằng: "Vănchơng mình chỉ độc có một quyển, vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là thánh th
Trang 12phúc âm của cả một dân tộc", Truyện Kiều là "quốc tuý","quốc hồn", "quốchoa", là cái "văn tự của giống nòi Việt Nam đã trớc bạ với non sông đất nớc này"[13;178] Phạm Quỳnh đã tỏ ra một chiều khi quá đề cao giá trị của Truyện Kiều
mà không chú ý đến hạn chế của tác phẩm Vì thế quan điểm của ông nặng vềcảm tính và có phần sai lầm Ngô Đức Kế đã phản bác lại, cho đó chỉ là "conong học nói, xằng xiên bậy bạ, rồ dại điên cuồng, tà thuyết mê dâm… Những bài viết và công trình này, nh" [13;263].Trái ngợc với Phạm Quỳnh, ông đã phủ nhận một cách quyết liệt giá trị củaTruyện Kiều Ông cho đó chỉ là thứ văn chơng "ngâm vịnh chơi bời, chỉ có giátrị "tiêu khiển"
Sau bài phản bác của Ngô Đức Kế là một không khí im lặng Cho đếnnhững năm 30 vấn đề đợc lật lại Ngời lên tiếng là Phạm Quỳnh.Trong câu
chuyện Phiệt học, ông đề cập chuyện nhà họ Ngô công kích ông về Truyện
Kiều Lý do ông Ngô công kích chỉ là "câu chuyện cá nhân, câu chuyện quyềnlợi, không quan hệ đến học vấn, t tởng gì cả", là chuyện "hàng thịt nguýt hàngcá", "mang lòng ác cảm", "đạo đức hơng nguyện" [13; 265]
Ngay lập tức Huỳnh Thúc Kháng cho đăng bài Chánh học cùng tà thuyết
có phải là vấn đề quan hệ chung không (chiêu tuyết những lời bài bác cho một
nhà chí sĩ mới qua đời), đăng trên tờ Tiếng Dân, ngày 17/9/1930 Huỳnh ThúcKháng một mặt khẳng định tính đúng đắn và giá trị bài viết của Ngô Đức Kế,mặt khác, phê phán Phạm Quỳnh chỉ vì "cái mối thù riêng hiềm vặt" đối vớichuyện công kích trớc đây còn "chất chứa trong lòng" nay nhân chuyện ôngPhan Khôi khêu mối mà kéo ra để "nhạo báng" theo lối "nặc oán" thì thực "áctâm'
Có thể thấy rằng cả Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng đều xuất phát từ
lễ giáo phong kiến trong việc xem xét, đánh giá Trớc những đánh giá trái ngợc
nhau đó, Lu Trọng L đã có bài Mấy lời chiêu tuyết cho Vơng Thuý Kiều (góp vào
cuộc tranh luận về Truyện Kiều) đăng ở báo Phụ nữ thời đàm , số 13, ngày10/12/1933 Ông phản đối Huỳnh Thúc Kháng khi xếp Thuý Kiều vào "phờngtrăng gió", "đĩ đơng thời”, “ dơ lịch sử"… Những bài viết và công trình này, nh Theo ông, đánh giá Thuý Kiều cần cócái nhìn độ lợng, bởi dù Kiều có nhơ nhuốc về thể xác nhng tinh thần nàng vẫntrong sạch Muốn xét thân thế Kiều phải thoát hẳn chỗ đứng trong những lễ giáonghiêm khắc, chật hẹp của Nho giáo Bên cạnh đó, Lu Trọng L đã thấy đợcnhững giá trị nghệ thuật của truyện Kiều, xem đó là "khúc nhạc êm đềm, thánhthót" giúp cho tâm hồn con ngời đợc thêm vẻ "điều hoà và êm dịu"… Những bài viết và công trình này, nh
1.2.2.2 Cuộc tranh luận Thơ mới/ Thơ cũ
Cuộc tranh luận này kéo dài mời năm, từ năm 1932 đến năm 1942 Khởi
điểm là bài của Phan Khôi với nhan đề Một lối thơ trình chánh giữa làng thơ
( Phụ nữ Tân Văn, Sài Gòn, số 122, ngày 10/3/1932) và khép lại với bài mang
tính tổng kết của Hoài Thanh, Hoài Chân Một thời đại trong thi ca (Huế, 1942).
Sự xuất hiện của Thơ mới ở những năm 1932-1933 là một hiện tợng trong đờisống văn học Bởi nó đem lại một luồng gió mới lạ, tơi tắn, thay vì ngời ta cứ
Trang 13phải chấp nhận một lối thơ cũ xáo mòn, già nua, nhạt nhạt sinh khí Thơ cũ vớinhững gơng mặt quen thuộc: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Chất Hằng Dơng TựQuán, Vân Bằng, Thơng Sơn, Nguyễn Văn Hanh, Nguyễn Đức Tiến… Những bài viết và công trình này, nh phản đối
sự có mặt của Thơ mới và ra sức dùng lý lẽ để biện hộ chống đỡ nhằm kéo dàituổi thọ của mình Phái Thơ cũ "ca đi hát lại những câu xáo cũ nghìn xa" (LuTrọng L) phải bác Thơ mới một cách thoá mạ, ác ý: "Thơ mới thật ra chẳng mới
tý nào", "nhạt nhẽo vô duyên" (Chất Hằng Dơng Tự Quán) Không chấp nhậnThơ cũ và những bài xích khó chịu từ phía Thơ cũ, các nhà Thơ mới, tiên phong
là Phan Khôi, Lu Trọng L, Thế Lữ, Nguyễn Thị Manh Manh… Những bài viết và công trình này, nh công khai bày tỏ
quan điểm của họ và cổ xuý cho Thơ mới Trong bài Một lối th trình chánh giữa làng thơ, Phan Khôi cho rằng: "Lối Thơ cũ của ta đã hết chỗ hay rồi, chẳng khác
một đế đô mà vơng khí tiêu trầm (… Những bài viết và công trình này, nh) tôi cầm chắc việc đề xớng của tôi sẽ thấtbại lần nữa, nhng chúng tôi tin rằng sau nầy có ngời làm nh tôi và thành công"[57; 54] Sau bài báo của Phan Khôi là một cuộc tranh luận quyết liệt giữa nhữngngời ủng hộ Thơ mới và những ngời bảo vệ Thơ cũ Cho đến giữa năm 1936, Thơmới hoàn toàn giành đợc thắng lợi trớc Thơ cũ Thời gian này trên tờ Hà Nội báoliên tục xuất hiện các bài viết của Lê Tràng Kiều, khẳng định thành tựu của Thơmới, của các tác giả Thơ mới Cho đến khi Hoài Thanh và Hoài Chân tổng kết
phong trào Thơ mới trong bài Một thời đại trong thi ca, khẳng định sự thành
công của Thơ mới trên ba phơng diện: Thơ mới là một cuộc cách mạng trong thơ
ca, Thơ mới nở rộ về phong cách sáng tạo, sự thể hiện cái tôi cá nhân của Thơmới là một bớc phát triển của thơ ca trữ tình Việt Nam trên phơng thức biểu hiệntrữ tình, đã khép lại cuộc tranh luận đầy sôi động này
ý nghĩa của cuộc tranh luận này nh đánh giá của những ngời đại diện cho
"thời thơ mới", đó là "một cuộc cách mạng trong thi ca " Cuộc tranh luận cho
thấy dấu hiệu đổi mới và sự phát triển của t duy lý luận về văn chơng nghệ thuật
ở ta Bên cạnh những bài viết "đề cập trực tiếp đến đặc trng và bản chất của thơ
ca thì ta có thể thấy lộ ra những phơng pháp nghiên cứu đi sâu vào đặc thù củavăn chơng nghệ thuật ẩn sau những bài phê bình ở dây, những quan điểm sángtác, đặc trng thẩm mỹ của văn chơng nghệ thuật và sự vận động phát triển củavăn học đã thực tiễn "chng cất" trở thành một thứ lý thuyết hết sức sinh động,mềm mại và dễ hiểu" [57;38]
1.2.2.3 Cuộc tranh luận nghệ thuật 1935-1939
Đây là cuộc tranh luận đặc biệt sôi nổi, tạo đợc tiếng vang và ghi một dấu
ấn quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam Bởi cuộc tranh luận đã đặt ranhững vấn đề học thuật thuộc về bản chất của văn học, để từ đó lẩy ra nhiều vấn
đề còn mắc mớ cần giải quyết trong quá trình tiếp nhận văn học Cuộc tranh luận
đã thu hút đông đảo các nhà phê bình tham gia, một bên là Hải Triều, HảiThanh, Hải Vân, Hồ Xanh, Bùi Công Trờng, Lâm Mộng Quang… Những bài viết và công trình này, nh đại diện chophái "vị nhân sinh", và bên kia là Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lu Trọng L, Lê TràngKiều, Thiều Quang… Những bài viết và công trình này, nh.đại diện cho phái "vị nghệ thuật" Cái mốc làm ngòi nổ
Trang 14cho cuộc tranh luận là bài báo của Thiếu Sơn, Hai cái quan niệm về văn học ,đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy số 38, 16/2/1935 Trong bài viết của
mình ,Thiếu Sơn bác lại hai cái quan niệm về văn học của Nguyễn Bá Học và
Phạm Quỳnh Số là trong bài Lời khuyên học trò của Nguyễn Bá Học (Đăng trên
tờ Nam Phong, số 24, 6/1919), Nguyễn Bá Học cho rằng mục đích của văn
ch-ơng phải "Biết chép sự thực", đạt đợc cái hay vì tình cảm hay vì lý Xuất phát từquan điểm đó, ông phân biệt hai loại văn chơng Loại “văn chơng hữu dụng” baogồm: tiểu thuyết, ký sự ,diễn thuyết Còn loại "không đáng một đồng kẽm" bao
gồm: thơ, phú, ca dao Trong lời tựa bộ Nam Phong tùng th, xuất bản năm 1929,
Phạm Quỳnh cho rằng chỉ có loại sách giáo khoa, truyền bá sự học là đáng coitrọng, còn thơ văn, tiểu thuyết, suy cũng có mặt bổ ích của nó nhng chỉ là loại
"văn chơng chơi"… Những bài viết và công trình này, nh Đứng trên lập trờng nghệ thuật vị nghệ thuật thuần tuý,Thiếu Sơn không đồng tình với quan niệm về văn học của hai ông vừa nêu trên.Thiếu sơn cho rằng, đó là những quan điểm thủ cựu, chịu ảnh hởng nặng nề củanho học, coi văn chơng nặng về phản ánh luân lý, đạo đức của xã hội; khôngthấy đợc những nét đẹp trong việc sáng tạo nghệ thuật… Những bài viết và công trình này, nh Thiếu Sơn đề cao việcsáng tạo văn chơng "lấy nghệ thuật làm gốc", "quý ở sự trau dồi cái đẹp" mà loạihình có công năng biểu hiện sự rung cảm tinh tế và tính hiệu quả thẩm mỹ là thơ
ca và tiểu thuyết Những thể văn khác nh khảo cứu, nghị luận, phê bình, theo ông
có ít tính văn chơng và không có giá trị, sẽ sớm vị lãng quên Mục đích củaThiếu Sơn là "bác ba chữ văn chơng chơi” và không muốn để ngời trong nớc cònphân bịêt văn chơng có ích với văn chơng hữu dụng nữa… Những bài viết và công trình này, nh
Những quan niệm về văn chơng nh thế cho thấy những xu hớng đánh giávăn học ngày một phong phú và có phần phức tạp Quan niệm văn học truyềnthống không còn ở thế bất di, bất dịch mà bắt đầu bị lung lay Trong khi đó dầnxuất hiện những quan niệm theo khuynh hớng t sản Phơng tây coi gốc của vănhọc nằm trong cái hay thuộc nghệ thuật, biểu hiện nơi chủ thể sáng tạo Phảichăng đấy là cuộc đấu tranh để xác lập ý thức văn học hiện đại Việt Nam nhữngnăm đầu thế kỷ? Có thể hiểu đợc tinh thần của Thiếu Sơn là sự cố gắng phác hoạquan niệm văn học hiện đại nhằm đạt đến "quan niệm phóng khoáng về mỹ thuật
và văn chơng" Văn chơng, theo ông, không chỉ chăm chú vào một việc là phơngtiện phụng sự lợi ích dân tộc mà hớng đến cái đẹp mang tính nghệ thuật Vì thế
sẽ không ngạc nhiên khi ông phê phán cụ Huỳnh Thúc Kháng "hẹp hòi", "cốchấp", "bất công" khi đánh giá truyện Kiều là "dâm th" có hại cho luân thờng
đạo lý của xã hội Theo ông, một tác phẩm văn chơng vĩ đại nh truyện Kiều, khi
đánh giá cần phải nhìn thấy "cái giá trị văn chơng và mỹ thuật của nó"
Tiếp theo bài Hai cái quan niệm về văn học nói trên, Thiếu Sơn tiếp tục viết Nghệ thuật với đời ngời (Tiểu thuyết thứ bảy, số 41, ngày 9 /3/1935) và Văn học bình dân (Tiểu thuyết thứ bảy số 43 ngày 23/3/1935) Thiếu Sơn đi sâu trình
bày tính độc lập khách quan, vô t, không vụ lợi của văn chơng Văn chơng cóquy luật hoạt động và giúp ích cho đời theo một cách rất riêng Nó "phê bình
Trang 15những cảnh sắc thiên nhiên, những hình ảnh xã hội, những bí ẩn tâm giới, nhữngnỗi éo le của ngời đời" Ngời đọc bị lôi cuốn đi theo "chủ nghĩa tìm kiếm và phêbình cái đẹp", thoát ra khỏi những ràng buộc của luân lý xã hội, chính trị, tôngiáo để "quên đợc những nỗi nhỏ nhen, ti tiện ở cõi đời"
Trong quan niệm của mình về văn chơng, một điều đáng chú ý là ThiếuSơn không phủ nhận tầm quan trọng trong việc diễn tả cuộc sống và tâm t củangời bình dân Điều ông không tán thành là việc quá thiên lệch về phía ngời bìnhdân, quá đề cao văn học viết về ngời bình dân mà phủ nhận, hạ thấp văn học viết
về các đối tợng khác, nh thế sẽ bó hẹp phạm vi hoạt động của văn học, văn học
sẽ thụ động trong những tuân chỉ cứng nhắc Theo ông, mục đích tối thợng củavăn chơng là "chỉ phụng sự nghệ thuật" một cách thuần tuý
Thẳng thắn mà nhìn nhận, những bài viết của Thiếu Sơn đã tạo đợc nhữngdấu ấn mang đậm cá tính Trong thực trạng tiếp nhận văn học lúc đó quả lànhững ý kiến của Thiếu Sơn đã mang đến một âm hởng lạ, gieo vào lòng ngời
đọc những cảm giác mới Nhng do quá đề cao tinh thần nghệ thuật thuần tuý,thoát ly khỏi đời sống, Thiếu Sơn đã rơi vào lập trờng duy tâm chủ quan Chỗ hởnày lập tức bị Hải Triều, một nhà duy vật theo khuynh hớng mác xít, phê phánmột cách triệt để Hải Triều vận dụng phép biện chứng duy vật để nhìn nhận mốiquan hệ gắn bó giữa văn học nghệ thuật và đời sống xã hội Ông từng phát biểu:
"Văn học là cái biểu hiện của nhân sinh", "là cái sự vật của xã hội, cho nên cũngphải tuỳ theo cái cơ bản của xã hội mà biến đổi, mà mất còn", "bàn luận đến vấn
đề văn học phải nhìn vào giữa xã hội, chứ đừng nhìn bông lông… Những bài viết và công trình này, nh" [59; 275]Nay, những quan điểm của Thiếu Sơn có ảnh hởng khá sâu rộng đến công chúng,
Hải Triều đã viết một bài dài với nhan đề Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh (đăng trên báo Đời mới, ngày 24/3 và 7/4/1935) nhằm đối lập
với quan điểm của Thiếu Sơn Hải Triều cho rằng: "Cái phát nguyên của nghệthuật là ở trong xã hội mà cái cứu cánh của nó cũng ở trong xã hội" Ông bác cáigọi là "giá trị", "hữu ích", "có công với xã hội" của những tác phẩm do phái nghệthuật vị nghệ thuật sinh ra, bởi nghệ thuật ấy là "nghệ thuật của thiểu số" ngời ăntrên ngồi trốc tự đắc và tự mãn với cuộc sống nhàn dỗi, đầy đủ của mình, "khôngbao giờ diễn đạt nổi cái tình cảm, cái ý chí, cái nguyện vọng của một đại quần
chúng xã hội" [59; 176 - 177] Không dừng lại ở đó, trong hai bài viết Nhân xem quyển Kép T Bền của Nguyễn Công Hoan, nhà văn có nhiều hy vọng (Tiểu thuyết thứ bảy số 60 , ngày 20/7/1935) và bài Kép T Bền một tác phẩm thuộc về cái trào lu nghệ thuật vị nhân sinh ở nớc ta (Tiểu thuyết thứ bảy, số 68,
20/7/1935), Hải Triều ca ngợi thành công của tác phẩm ở góc độ "phản ánh xãhội" Ông đánh giá cao tác phẩm ở giá trị "tả thực" của nó Sự sâu sắc của ngòibút Nguyễn Công Hoan là ở chỗ nhà văn có con mắt quan sát tỉ mỉ những vấn đềnổi cộm của đời sống, sự bất công của xã hội, những cảnh đời ngang trái… Những bài viết và công trình này, nh Ôngyêu cầu văn chơng phải biết gắn chặt với hiện thực, nhà văn phải ghi chép mộtcách trung thành hiện thực xã hội Nhân đó, ông tiếp tục phê phán quan điểm
Trang 16“vị nghệ thuật” của Thiếu Sơn và phản đối khuynh hớng văn học lãng mạn, cho
đó là thứ văn chơng "bi quan", "kinh khiếp", "bế tắc" dẫn tới chủ nghĩa hoàinghi Lập tức quan điểm của ông bị Hoài Thanh bác bỏ
Bài viết của Hoài Thanh với nhan đề Văn chơng là văn chơng (báo Trờng
An, số 48, ngày 15/8/1935) đã tạo một không khí tranh luận cực kỳ sôi nổi lúcbấy giờ, cuốn hút nhiều cây bút phê bình vào cuộc Quan điểm của Hoài Thanhthể hiện dứt khoát ngay ở tiêu đề bài viết Theo ông, nghệ thuật " tìm những cáihay, cái đẹp, cái lạ trong cảnh trí thiên nhiên và trong tâm linh ngời ta, rồi mợncâu văn, tiếng hát, tiếng lá, bức tranh, làm cho ngời ta cùng nghe, cùng thấy,cùng cảm, đó là nhiệm vụ tối cao của nghệ thuật… Những bài viết và công trình này, nh", "nghệ thuật phải cố sứcgiúp ngời ta phản động lại với hoàn cảnh cùng bẩm thụ tự nhiên" [59, 182] Theo
ông, nhà văn cần phải biết vợt qua những thành kiến, phép tắc, khuôn khổ, biếthòa hợp và rung động trong lòng trớc cái đẹp của tự nhiên Đối với văn chơng,việc tìm kiếm và khám phá cái đẹp là nhiệm vụ tối thợng Điều đó đòi hỏi ở ngờinghệ sỹ không chỉ tài năng mà còn ở những trạng thái tình cảm, sự rung độngsâu sắc trớc cái đẹp hoàn mỹ của thiên nhiên, của tình cảm con ngời Văn chơng
có một sức quyến rũ lạ lùng ,bởi ở đó dồn nén bao nhiêu là tinh túy nghệ thuật
và niềm nhiệt huyết ,đam mê sáng tạo của nhà văn Nó kết tinh thành "vật quý",
"chân tớng lộng lẫy" của muôn đời Văn chơng làm cho cuộc sống còn ngời bớtphần chai sạn, xua đi bao nhọc nhằn, vất vả, khiến tâm hồn con ngời lãngmạn ,yêu đời hơn
Với quan điểm về nghệ thuật của mình, Hoài Thanh muốn bứt khỏi tínhgiai cấp, vợt qua những hệ luỵ thờng ngày của đời sống áo cơm Bởi đơn giản,nghệ thuật theo ông gắn với cái đẹp Mà những điều đó lại là những bùa mê, đacon ngời đến những tháp ngà, trốn tránh hiện trực trong con mắt của nhiều ngờitheo quan điểm duy vật mác xít nh Hải Triều và các chiến hữu của ông
Cuộc tranh luận giữa hai phái "nghệ thuật vị nghệ thuật "và "nghệ thuật vịnhân sinh" rồi cũng đi đến hồi kết thúc Phần thắng cũng không nghiêng hẳn vềbên nào bởi mỗi bên đều có những lý riêng của họ Đứng ở góc dộ xã hội lúc đóthì dễ dàng chấp nhận quan điểm của phái "vị nhân sinh", nhng cũng không thểbác bỏ tinh thần nghệ thuật của phái "vị nghệ thuật", bởi cái đẹp bao giờ và lúcnào cũng cần thiết Đóng góp của cuộc tranh luận là đều hớng đến cuộc sống củacon ngời với một tinh thần và trách nhiệm cao cả Vì cuộc sống ngoài phần vậtchất còn cần đến yếu tố tinh thần Với ý nghĩa ấy, cuộc tranh luận nghệ thuật1935-1939 đã góp phần tích cực vào việc hình thành ý thức văn học Việt Namhiện đại
Những vấn đề thuộc về bản chất của văn học nh chức năng và nhiệm vụcủa văn học đợc đa ra bàn luận một cách dân chủ, cởi mở với những điểm nhìnkhác nhau Đó là một dấu hiệu đáng mừng bởi nó cho thấy diện tiếp xúc, khảnăng phản ánh, sáng tạo của văn học nghệ thuật là vô cùng phong phú ở điểmnhìn ngày hôm nay, có thể thấy những hạn chế của cuộc tranh luận xét về trình
Trang 17độ t duy, ý thức văn học Do bớc đầu tiếp thu ảnh hởng của lý luận phơng Tâyhiện đại, cả hai phía cố gắng áp dụng lý giải những t tởng của mình nên khôngtránh khỏi sự chắp vá, khập khiểng và sơ lợc Nhng cả hai bên đều biết tập trungvào những vấn đề cơ bản nhất có tính chất dẫn luận, nhập môn về văn học và đờisống hiện thực, nhà văn và tác phẩm, chức năng của văn học, nội dung và hìnhthức của tác phẩm văn chơng, công chúng văn học và cách tiếp nhận văn chơng,kiểu sáng tác và bút pháp … Những bài viết và công trình này, nhTinh thần của họ mang tính chất khai khá nh nhữngchiến sỹ quả cảm trên mặt trận văn nghệ, dù rằng quan điểm của họ đôi khi cònchủ quan, hình thức, phiến diện Cái đúng, cái sai của cuộc tranh luận đến naychúng ta có thể hiểu đợc, nhng điều cơ bản nhất rút ra từ cuộc tranh luận là nótạo ra những tiền đề cần thiết, đặt những viên gạch đầu tiên cho phê bình văn họcViệt Nam những năm tiếp sau
Bên cạnh những cuộc tranh luận nghệ thuật nêu trên sẽ là thiếu sót lớn nếu
nh không đề cập đến những công trình phê bình văn học, những tác phẩm, tácgiả đã tạo ra sự đột khởi và ghi dấu ấn vào lịch sử văn học nói chung, phê bình
văn học nói riêng Đó là những tác phẩm: Việt Nam văn hoá sử cơng của Đào Duy Anh, Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn, Dới mắt tôi của Trơng Chính, Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, và một số bài phê bình
của Lê Tràng Kiều, Trơng Tửu… Những bài viết và công trình này, nh Có thể nói rằng, những công trình nghệ thuậtnày đã khai phá những vấn đề cơ bản thuộc về bản chất của văn học, mạnh dạn
đề xuất ý kiến đánh giá về phong cách nhà văn, có ý thức khái quát thành tựucủa những thời kỳ văn học Những bài phê bình đó đã thoát khỏi phê bình cảmtính, nặng về "tầm chơng trích cú" Bằng lối t duy hiện đại và ý thức khoa họccao, họ đã vận dụng những phơng pháp khoa học Phơng Tây làm điểm tựa chonhững lập luận, quan điểm của mình Cho nên, những lý giải đó đã dần mất đitính chủ quan, cảm tính và có sức thuyết phục ngời đọc Trong những công trình
trên, tiêu biểu phải kể đến ba công trình: Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan và Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh -
Hoài Chân
Trong Phê bình và cảo luận, Thiếu Sơn đã bộc lộ những t duy nghệ thuật
độc đáo khi ông nhận định về phong cách của những bạn văn cùng thời nhNguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Tản Đà, Trần Trọng Kim, Hồ Biểu Chánh, TamLang, Vũ Đình Chính… Những bài viết và công trình này, nh Ông thực sự đã “khai mở một lối đi mới trong thể loạiphê bình văn học viết bằng chữ Quốc ngữ ở Việt Nam Qua sự thẩm bình của
ông, dờng nh ngời ta đã thấy một thế hệ nhà văn kiểu mới đã xuất hiện và đăngquang trên thi đàn Và điều đó cũng có nghĩa là văn chơng dân tộc đang hứa hẹn
một tơng lai tốt đẹp" [50; 67] Với cuốn Phê bình và Cảo luận, dờng nh đây là
lần đầu tiên phê bình với t cách là một hoạt động văn học có tính xã hội đặc thù,
đã khẳng định một cách chắc chắn sự có mặt của mình trong đời sóng văn học
n-ớc nhà Ngời ta thấy qua công trình bản lĩnh, chính kiến, những ý kiến nhận xét
Trang 18tinh tế, sắc sảo, những đánh giá thấu tình đạt lý của Thiếu Sơn về các nhà vănbấy giờ, ví nh ông đánh giá về Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Huỳnh Thúc Kháng,Tản Đà… Những bài viết và công trình này, nh Ông luôn có ý thức phát hiện và đề cao những đóng góp mới mẻ vềvăn chơng trên cả hai phơng diện nội dung và kỹ thuật Nhng vì lấy cảm giác và
ấn tợng làm điểm tựa nên những ý kiến của Thiếu Sơn về văn học nghệ thuật đôikhi còn chủ quan, phiếm diện Ông cho rằng: "Ngời nào muốn sống với văn ch-
ơng trớc hết phải biết giải phóng cho linh hồn, phải biết thoát ly đợc hết thảynhững thành kiến về luân lý, xã hội, về chính trị, tôn giáo mà chỉ biết có nghệthuật mà thôi" Nhng nhìn chung, quan điểm của Thiếu Sơn đã dựa trên khả năng
về t duy và lý luận ở một sự cố gắng đáng trân trọng Phê bình và Cảo luận là
một tác phẩm nghệ thuật tỏ rõ sự am hiểu của ông về văn hoá, lịch sử dân tộc
Ông xứng đáng là "bậc tiền bối" đợc thế hệ sau học hỏi và nghiên cứu
Bên cạnh Thiếu Sơn là Hoài Thanh và Hoài Chân với Thi nhân Việt Nam Trớc khi viết Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh đã đợc biết đến khi là một trong
hai chủ soái của cuộc tranh luận "nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị
nhân sinh" Nhng chỉ đến Thi nhân Việt Nam, ông mới thực sự nổi tiếng và tạo
lập cho mình một chỗ đứng chắc chắn trong đời sống văn học Việt Nam Về cuối
đời nằm trên giờng bệnh, ông tâm sự với con mình là Từ Sơn: "cha viết văn đã 50năm nay, nhng công việc cha thích nhất là dạy học và bình thơ, bình văn hay, vôluận là của ai Cha biết văn chơng của cha cũng vậy vậy thôi Nếu không có cuốn
Thi nhân Việt Nam thì không chắc gì ngời ta đã công nhận cha thực sự là một
nhà văn [53; 1399] Có thể hiểu rằng, ông rất tâm đắc với "đứa con tinh thần"của mình và biết đợc d luận đánh giá rất cao Đây là tác phẩm dồn nén tất cả
niềm say mê sáng tạo nghệ thuật của Thi nhân Việt Nam ông, bởi đối tợng là thơ
mới, mà ông là ngời yêu và ủng hộ thơ mới một cách cuồng nhiệt Hoài Thanhvốn có sở trờng phê bình thơ, có tâm hồn nghệ sỹ và có một quan điểm rất rõràng về văn chơng Ông từng phát biểu rằng: "Muốn gì thì gì văn chơng trớc hếtphải là văn chơng đã" và "tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật, tìm cái đẹp
trong nghệ thuật là phê bình" Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, ông đã thể hiện rõ
các quan điểm về nghệ thuật, về phê bình của mình Ông ca ngợi và khẳng địnhtài năng và cá tính sáng tạo độc đáo của các nhà thơ, trân trọng sự cách tân, sựsáng tạo của tác phẩm văn chơng nghệ thuật Với khả năng cảm thụ văn chơngmột cách tinh tế, nhạy cảm, những trang viết của ông mang đậm chất hào hoa, ý
tứ gợi cảm, lẩy ra những những nhận xét vô cùng chính xác và thú vị về tính
nghệ thuật của tác phẩm văn chơng Trong Thi nhân Việt Nam, ngời ta không chỉ
đợc hởng thụ cái hay, cái đẹp đích thực của văn chơng mà còn cảm nhận đợc cáiduyên dáng, đặc sắc, hóm hỉnh và tài hoa của ngời viết phê bình Bằng vốn hiểubiết sâu rộng và một năng lực cảm thụ văn chơng tinh tế, nhà phê bình đã cho tathấy đợc thơ mới - một thể loại văn học mới xuất hiện, đã có giá trị nh thế nào
trong đời sống văn học Nhờ có Thi nhân Việt Nam, các nhà thơ mới có quyền tự
hào về vai trò và địa vị của mình trong dòng chảy của thơ ca dân tộc” [50; 67]
Trang 19Hoài thanh là ngời có t duy trực cảm tinh nhạy, điều đó bộc lộ ở những rung
động mang đậm tính nghệ sỹ Nhng với bài mở đầu cuốn thi nhân Việt Nam,
Một thời đại trong thơ ca, ông lại tỏ ra có năng lực t duy khoa học sắc sảo Vì
thế, cuốn sách tăng thêm sức thuyết phục bởi ngoài sự tài hoa tinh tế của ngờibình còn là sự sâu sắc của một nhà lý luận có quan điểm lịch sử, có cái nhìn khái
quát, khoa học Có thể nói, Thi nhân Việt Nam là một tác phẩm phê bình xuất
sắc của Hoài Thanh, công trình này đã chịu đợc sự thử thách khắc nghiệt củathời gian và đến nay vẫn còn nguyên giá trị Đây là cuốn sách hay nhất viết vềthơ mới Với nó, Hoài Thanh xứng đáng là nhà phê bình u tú nhất của thời đạimình
Nhắc đến phê bình văn học giai đoạn này, không thể bỏ qua cuốn Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan Nhà văn hiện đại là cuốn sách phê bình nhằm
mục đích tổng kết văn học Việt Nam hơn 40 năm từ đầu thế kỷ XX (từ 1942) Bộ sách gồm 5 quyền, 1460 trang, viết về 78 nhà văn Việt Nam hiện đại
1900-Đây là công trình khá đồ sộ, là một cái mốc quan trọng đánh dấu sự lên ngôi củaphê bình văn học Đóng góp của Vũ Ngọc Phan là ông đã đa ra những kiến giảiriêng đối với từng nhà văn, từng tác phẩm, có một tầm nhìn bao quát để từ đóxếp họ vào trào lu nào, khuynh hớng nào Công việc đó đòi hỏi một sự cẩn trọng
và chính xác cao độ Bởi khuynh hớng t tởng của những nhà văn là rất phức tạp
và không dễ gì nắm bắt đợc Điều đó buộc nhà nghiên cứu phải tiếp cận tác giả ởnhiều góc độ khác nhau chứ không thể căn cứ vào những hiện tợng bề ngoài.Công việc đó với Vũ Ngọc Phan có vẻ quá sức, nên không ngạc nhiên khi ta thấytiêu chí phân loại của ông cha thực sự thuyết phục, những nhận xét của ông chathực chính xác (nh trờng hợp nhận định về Nhất Linh, Lan Khai… Những bài viết và công trình này, nh) Điều đáng
khâm phục ở ông là thái độ làm việc nghiêm túc, công bằng và chân thành Nhà văn hiện đại "có thể cha phải là công trình mang tính chất lí luận tầm cỡ nhng là
kho t liệu quý giá về toàn cảnh bức tranh của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ
XX mà nhiều thế hệ sau này đã coi nó là cuốn sách cẩm nang" [50; 67-68]
Với những gì đã đề cập ở trên, phê bình văn học 1930-1945 thực sự đãdiễn ra rất sôi động Phê bình văn học đã tách ra khỏi văn nghị luận nói chung để
tự khẳng định là một bộ môn độc lập có đời sống và cá tính riêng Đối t ợng chủyếu của phê bình văn học thời kỳ này là tác phẩm sáng tác, trong khi đối tợngchủ yếu của phê bình văn học 1900-1930 là loại sách biên khảo Tiêu chí đánhgiá văn học không còn hạn hẹp nh trớc mà rất phong phú (tiêu chí nhiệm vụ xãhôị ,tiêu chí giá trị văn chơng nghệ thuật , tiêu chí sở thích cá nhân , tiêu chí đạo
đức… Những bài viết và công trình này, nh) Đặc biệt có sự xuất hiện của phê bình văn học mác xít, đại diện là HảiTriều Trong hoạt động phê bình ,đã coi trọng cá tính sáng tạo, phong cách củanhà văn với phơng pháp đánh giá rất đa dạng: phơng pháp ấn tợng chủ nghĩa, ph-
ơng pháp khoa học… Những bài viết và công trình này, nh Giai đoạn này xuất hiện nhiều tác giả phê bình văn họcchuyên nghiệp nh Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan với nhiều công trình
Trang 20phê bình mang tính chất tổng kết một giai đoạn văn học Có thể nói, đây là thời
kỳ của nhiều cuộc phê bình văn học mang tính chất luận chiến
1.2.3 Giai đoạn 1946-1954
Chặng đầu của quá trình hiện đại hoá văn học kết thúc vào năm 1945 Vănhọc Việt Nam bớc vào thời kỳ mới với biết bao vận hội và thử thách mới Từnăm 1946-1954, điều kiện lịch sử xã hội có nhiều chuyển biến quan trọng Tơngứng với một thiết chế kinh tế, chính trị, xã hội mới, cùng với sáng tác văn học,phê bình văn học cũng bớc sang một giai đoạn mới Đây là thời kỳ văn học nghệ
thuật phát triển theo định hớng của Đề cơng văn hoá Việt Nam 1943 với 3 phơng châm: Dân tộc, khoa học, đại chúng Điều đó đợc cụ thể hoá bằng sự lãnh đạo
của Đảng trên mặt trặn văn nghệ nhằm hớng văn học nghệ thuật đi vào đời sốngcủa cách mạng và kháng chiến Với những đòi hỏi của lịch sử, xã hội, cha baogiờ vấn đề viết lại đợc đặt ra một cách cấp thiết nh thế Vốn quen với cái nhìn,cách nghĩ cũ, sự thay đổi chóng vánh để theo kịp thời đại mới không khỏi khiếncho các văn nghệ sỹ ngỡ ngàng Khó khăn lớn nhất của họ là làm cách nào để
định hình quan điểm sáng tác mới, trong khi những cách nghĩ cũ vẫn còn thâmcăn cố để trong tâm hồn Vì vậy, vấn đề "nhận đờng", lập trờng, quan điểm đợc
đặt ra một cách nhức nhối gay gắt với biết bao giằng xé, khổ đau trong con ngờinghệ sỹ Điều đó đòi hỏi các nhà văn có một sự chuyển hớng và "lột xác" vềnhân sinh quan và thế giới quan với những câu hỏi bức bối "Viết cho ai?", "viết
về cái gì?", và nhất là "viết nh thế nào?" để vừa phục vụ những yêu cầu trớc mắtcủa cách mạng mà vẫn thể hiện cá tính sáng tạo và bản lĩnh của ngời nghệ sỹ
Trớc thực tế đó, Phê bình văn học nhập cuộc bằng hai bài : Tiểu luận Nhận đờng của Nguyễn Đình Thi và Tranh tuyên truyền và hội hoạ của Tô Ngọc Vân vào
năm 1947 Quá trình nhận đờng kết thúc bằng Hội nghị tranh luận văn nghệ ViệtBắc vào tháng 9/1949 Bớc vào những năm 50, đời sống kháng chiến đặt ranhững vấn đề mang tính thời sự Hoài Thanh đã đứng trên lập trờng và quan
điểm của ngời nghệ sỹ để nhìn nhận ,đánh giá vấn đề Theo ông, thơ ca mangtrong nó tính thời sự, tính đại chúng, tính giai cấp, tính chính tri, và tựu
chung ,thơ ca vì mục đích chiến đấu Điều đó đợc thể hiện sinh động trong Nói chuyện thơ kháng chiến (1951) Đồng quan điểm đó, Xuân Diệu cho ra đời Tiếng thơ (1951)
1.2.3.1 Tiểu luận Nhận đờng của Nguyễn Đình Thi
Với khẩu hiệu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra: “kháng chiến bằng văn hoá, văn hoá của kháng chiến", nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của văn nghệ sĩ
là phải thắp lửa đầu ngọn bút để thổi bùng ngọn lửa cách mạng Nhiệm vụ đókhông hề dễ dàng chút nào Nhiệt tình cách mạng thì họ có thể có thừa, thế nhng
để định hớng đợc ngòi bút viết ra sao thì quả là điều họ gặp nhiều bỡ ngỡ Khókhăn, nhng không phải không làm đợc Thế là họ lao mình vào quá trình tìm đ-ờng Một năm trăn trở, vật vã tìm đờng sáng tác, Nguyễn Đình Thi đã nghiền
ngẫm viết tiểu luận Nhận đờng Bài tiểu luận đầy mồ hôi và nớc mắt này đợc
Trang 21ông viết vào ngày 31/12/1947, với tinh thần tổng kết một năm đầy gian khổ tìm
đờng "phụng sự kháng chiến" của các văn nghệ sỹ Lúc bấy giờ, không riêng gì
Nguyễn Đình Thi, những bạn viết cùng thời ông cũng mang nỗi niềm bức xúc,day dứt, đau khổ xen lẫn lo sợ về sự nghiệp sáng tác Làm thế nào để nghệ thuật,
"phụng sự kháng chiến" một cách hiệu quả nhất, thực hiện nhiệm vụ chính trịcứu nớc từ đôi cánh của mình Trong khi thực tế phô bày rằng sự hài hoà giữa ýthức nghệ thuật và nhiệm vụ chính trị ở các văn nghệ sỹ là cha ăn nhập cùngnhau Nói nh Chế Lan Viên sau này "cái phần công dân trong con ngời họ rấttích cực, vào sinh ra tử cùng dân tộc, nhng cái phần nghệ sỹ trong họ còn đứngtách ra, tụt lại sau, nghiền ngầm, tìm tòi" Nguyễn Đình Thi bộc bạch: "Mỗidòng chữ, mỗi nét bút nặng bao nhiêu máu của của chiến sỹ, bao nhiêu mồ hôicủa những bàn tay cày cấy, bao nhiêu khó nhọc của ngời đàn bà, bao nhiêu cămhờn của ngời chồng, ngời vợ, và bao nhiêu hạnh phúc mà đáng lẽ con cái chúng
ta đợc hởng Chúng ta đã nghe trách nhiệm trĩu nặng trên vai khi cầm đến bút.Nhng nhìn vào trong chúng ta, những tình cảm, ý nghĩ đã thực đến một nhịp vớicảm xúc dân tộc, của nhân dân lao động đang kháng chiến hay cha? Chungquanh các bạn hữu chúng ta có một hai tiếng băn khoăn: Có lẽ nghệ thuật đaulòng mà chỉ đa đợc lên cho kháng chiến những cuốn sách có trình độ ấn trĩ Saolại thế? [52; 53] Dòng thác cách mạng của cuộc kháng chiến chống Pháp cuộnchảy một cách mãnh liệt Cả dân tộc dốc toàn bộ sức lực để tìm lại chân lý đã bịthực dân Pháp đánh cắp Mối công dân đều trở thành những chiến sỹ quả cảmtrên mặt trận tranh đấu chống giặc ngoại xâm Trong đó, các văn nghệ sỹ -những ngời đợc Đảng giao phó nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận văn hoá nghệthuật, một trận tuyến thầm lặng nhng không kém phần quyết liệt và cam go
Điều đó thôi thúc văn nghệ sĩ một tinh thân xung phong quả cảm Họ ý thức rằngcần phải "nổi trống kèn, gió bão trên từng trang giấy" để diệt thù Những nỗi bức
xúc về câu hỏi viết thế nào? viết cái gì? vẫn cha có lời giải đáp Đã thế cái con
ngời cá nhân nhiều lúc lại cựa mình sống dậy Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệpcủa số đông, đòi hỏi sự cống hiến hết mình, quên mình của tất cả mọi ngời,không thể sống ích kỷ một mình đợc
Là nhà văn đi tiên phong trong phê bình văn học thời kỳ này, Nguyễn
Đình Thi thấu hiểu đợc những tâm sự đó: "Đặt bút nhìn lại những sáng tác mớixong chúng ta mới thấy đợc sự vùng về, yếu ớt, không thổi lên đợc gió bão củacuộc chiến đấu Nhiều anh em chúng ta muốn vứt bút làm một công việc kháchiệu nghiệm hơn" [52; 44-45] Mục đích sáng tác văn học theo Nguyễn Đình Thi
là phải "thổi lên đợc gió bão của cuộc chiến tranh”, nghĩa là ông đặt trách nhiệmcao cả của ngời cầm bút và nêu lên yêu cầu cao về khả năng động viên tuyêntruyền và tính xung phong của văn học Thực tế sáng tác của các nhà văn rõràng cha thể đáp ứng đợc điều đó Vậy, phải làm gì, làm nh thế nào để bảo đảmtính sáng tạo nghệ thuật và phục vụ chính trị, đáp ứng đúng những yêu của thời
đại Câu hỏi đó đã bỏ ngõ và khiến các văn nghệ sỹ day dứt đến nao lòng Tiểu
Trang 22luận Nhận đờng của Nguyễn Đình Thi đã làm bật lên vấn đề thời sự của văn học
Việt Nam sau 1945, nó ghi dấu ấn lịch sử chuyển mình của một nền văn họcmới Đó là vấn đề nhạy cảm khi lịch sử sang trang, tất yếu sẽ dẫn đến nhữngthay đổi Vấn đề là sự thích ứng và khả năng sáng tạo, thể hiện trách nhiệm vàbản lĩnh sáng tạo của ngời nghệ sỹ sẽ đi đến đâu Hiểu nh thế ,tinh thần "nhận đ-ờng” của Nguyễn Đình Thi vẫn có giá trị cho ngày hôm nay và cả ngày mai
1.2.3.2 Cuộc tranh luận xung quanh bài viết Tranh tuyên truyền và
hội hoạ của Tô Ngọc Vân
Đứng trớc thực trạng bế tắc trong đờng hớng sáng tác của văn nghệ sỹ, Tô
Ngọc Vân đã viết bài Tranh tuyên truyền và hội hoạ Bài của ông đợc đăng trên
Tạp chí Tự do số 1 tháng 7-1947 Bài toán yêu cầu sự kết hợp giữa nghệ thuật vàphục vụ chính trị đang là vấn đề hóc búa Trong khi các văn nghệ sỹ đang cốgắng mày mò để tìm ra sự cân bằng, hài hoà giữa chúng thì Tô Ngọc Vân khẳng
định rằng giữa chúng không cùng một mệnh đề Theo ý ông, cần phải tách bạch,phải phân biệt rạch ròi hai phạm trù trên, nếu cứ cố hợp nó lại thì sẽ chẳng đi đến
đâu mà chỉ tổ làm rối thêm vấn đề, dẫn đến làm lệch quan điểm sáng tác TôNgọc Vân cho rằng, nghệ thuật và tuyên truyền không thể đi cùng chung một đ-ờng đợc: "Tranh tuyên truyền không phải là hội hoạ vì nó biểu lộ một dụng ýchính trị, nêu lên những khẩu hiệu chính trị, vạch ra con đờng chính trị cho quầnchúng theo, phơi bày những cảnh tợng để gây ở họ một thái độ chính trị"[62;183] Theo ông, hội hoạ có quy luật và tính năng nghệ thuật riêng biệt của
nó, không thể đem nó để gán ghép một cách chủ quan Nh thế sẽ phá hỏng chứcnăng nhạy cảm của hội hoạ Hội hoạ đích thực phải là những tác phẩm nghệthuật "biểu hiện một tâm hồn cá nhân, một thái độ của ngời đối với sự vật, kể lểtình cảm của ngời hơn là lý luận về một vấn đề nào đó" [62; 183] Ông muốnkhẳng định rằng nghệ thuật phải mang cá tính sáng tạo của ngời nghệ sỹ, nó phải
là sự biểu hiện, tự bộc lộ của nghệ sĩ trớc sự vật khách quan, đó là khả năng thiênbẩm bất biến của nghệ thuật Từ quan điểm đó, ông đi đến kết luận: "Hội hoạ cógiá trị vĩnh cửu, còn tranh tuyên truyền chỉ có giá trị nhất thời [62; 183] Nhvậy, trong ý thức của mình, Tô Ngọc Vân luôn luôn phân biệt một cách rạch ròigiữa nghệ thuật với tuyên truyền, giữa văn nghệ và chính trị Nếu chính trị thiên
về tuyên truyền giải thích những chủ trơng, chính sách mang tính xã hội thì vănnghệ phải "biểu hiện một tâm hồn cá nhân" thể hiện rõ t chất nghệ sỹ của ngờisáng tạo nghệ thuật Dù rằng thời điểm đó Tô Ngọc Vân vẫn khẳng định độc lậpdân tộc cao hơn giá trị nghệ thuật, thế nhng quan điểm phân biệt của ông vẫnluôn nhất quán
Trong không khí sục sôi tinh thần kháng Pháp cứu nớc lúc đó, khi mà tất
cả tâm lực,trí lực của dân tộc dồn cho cuộc chiến với phơng châm: Dân tộc, khoa học, đại chúng, thì quan điểm của Ngọc Vân bị xem là lệch lạc và ngay lập
tức ông bị phê phán một cách triệt để Không đồng tình với ý kiến của Tô Ngọc
Vân, Đặng Thai Mai trong bài Vài ý nghĩ về nghệ thuật (báo Cứu quốc tháng
Trang 238/1948) cho rằng: "khi nhà nghệ sỹ không tuyên truyền cho một t tởng này thìcũng truyền cho một t tởng khác Giá trị chân chính của nghệ thuật đứng về ph-
ơng diện chính trị, xã hội mà nói là ở chỗ nó phụng sự một mục đích tiếnbộ,chính trị quang minh Đứng về phơng diện nghệ thuật mà nói nó phải đi đếnchỗ độc đáo, phải thể hiện cái tinh vi, sắc xảo của cá tính, đồng thời với cái phổbiến của điển hình” [62;184] Theo ông, để làm tốt công tác tuyên truyền, ngờinghệ sỹ phải có tinh thần dân tộc cao cả, hiểu đợc những chủ trơng, chính sáchcủa Đảng, bởi vì" nếu khi nhận một chỉ thị mà ngời nghệ sỹ không đi đến chỗnhận định rõ rệt, tin tởng bền bỉ, yêu cầu thiết tha của tâm hồn, của cá tính thìcông việc tuyên truyền của họ thành công thế nào đợc ?".Và ông đi đến kết luận:
“Nghệ thuật không đi đôi với tuyên truyền là một quan niệm nông nổi" [62;183].Không chỉ riêng Đặng Thai Mai, nhiều nhà phê bình đã đứng trên lập trờng"vănnghệ phụng sự kháng chiến" để bộc lộ quan điểm của mình Tiêu biểu là NamCao khi ông cho rằng"bất cứ một tác phẩm nào cổ hay kim ,đông hay Tây cũngtuyên truyền một thứ gì dù tác giả muốn hay không, vô tình hay hữu ý Điều ấyrất tự nhiên Mục đích của nghệ thuật là tuyên truyền Một tác phẩm nghệ thuậtthành công khi nào nó làm cho ngời thởng thức cảm thông với ngời sáng tác Ng-
ời này làm cho ngời kia rung động những cái rung động của mình, yêu ghétnhững cái yêu ghét của mình Nh thế là tuyên truyền rồi" [62;187] Trớc sự bác
bỏ của Đặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân đã phản ứng lại một cách gay gắt Ông chorằng ý kiến của nhà họ "Đặng" kia là "lầm lạc" Tô Ngọc Vân viết: "Không biếtnhà họ Đặng khi chính mình sáng tác thì thế nào! chứ riêng mình tôi, mổi bứctranh xong là kèm theo bất mãn và có khi thất vọng Tác phẩm còn ở trong ócmình sao đẹp và to thế", "bọn nghệ sỹ chúng tôi mỗi bức tranh là một cố gắng
Cứ thế mà đi, cha hề tởng tợng mình đã "đến", quan niệm sáng tác là lẽ sống củamình, là sự cần sống của mình, còn chuyện "huy chơng"phỏng có trọng lợng gì"
Có thể thấy rằng giữa Tô Ngọc Vân và Đặng Thai Mai đã không thốngnhất về khái niệm tuyên truyền theo hai nghĩa: rộng và hẹp Với quan điểm "hộihọa có giá trị vĩnh cửu còn tuyên truyền chỉ có giá trị tức thời", Tô Ngọc Vân đãhiểu tuyên truyền ở nghĩa hẹp của nó, đó là sự tuyên truyền theo lối tranh cổ
động, báo tờng, bám sát chi tiết, sự việc hằng ngày Nh thế , nó chỉ có ý nghĩanhất thời và chẳng để lại d vị Còn Đặng Thai Mai thì hiểu tuyên truyền theonghĩa rộng với khả năng giáo dục và cảm hoá, tác động của nó, làm cho " ngờikia rung động cái rung động của mình, yêu ghét những cái yêu ghét của mình".Vì vậy tuyên truyền nh là sứ mệnh muôn đời của nghệ thuật
Trong thời điểm lúc bấy giờ, cuộc tranh luận giữa Tô NgọcVân và ĐặngThai Mai trở thành một "điểm nóng” Để xua đi không khí hoài nghi, bi quangiữa nghệ thuật và phục chính trị, hớng văn nghệ đi vào quỹ đạo của cách mạng
và kháng chiến, tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ hai( tháng 7/1948), trong
bài Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam, Trờng Chinh đã đề cập đến những vấn
đề cụ thể cần phải nắm bắt một cách thấu triệt của nghệ thuật Đứng trên lập
Trang 24tr-ờng, quan điểm mác xít,Trờng Chinh đã tạo lập những xác quyết mang tínhthuyết phục cao, góp một tiếng nói quan trọng giải quyết sự bất đồng quan điểmtrong cuộc tranh luận Về vấn đề giữa nghệ thuật và tuyên truyền,Trờng Chinhviết :" Có bạn cho rằng nghệ thuật là nghệ thuật, tuyên truyền là tuyên truyền ,hai cái không thể lẫn lộn với nhau, tác phẩm tuyên truyền chỉ có giá trị nhất thờiphục vụ lợi ích hằng ngày và thiển cận; tác phẩm tuyên truyền thờng làm vội vã,không phải là nghệ thuật hiểu đúng theo ý nghĩa của nó; nghệ thuật là thuần tuý,siêu thoát, vĩnh cửu, vợt lên trên mọi chuyện hằng ngày Có bạn lại cho rằngtuyên truyền và nghệ thuật là một, không có nghệ thuật nào là không phải nghệthuật tuyên truyền… Những bài viết và công trình này, nh Hai ý kiến trên đều có chỗ không đúng Nghệ thuật vàtuyên truyền không hoàn toàn khác nhau, nhng cũng không hoàn toàn giốngnhau, tuyên truyền cũng là một thứ nghệ thuật Nghệ thuật và tuyên truyền làmột phần trong nghệ thuật nói chung và bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào cũng có
ít nhiều tính chất tuyên truyền [9;113] Trong ý kiến của mình Trờng Chinh đãchỉ rõ tính độc lập cũng nh mối quan hệ không thể tách rời của nghệ thuật vàtuyên truyền, giữa chúng luôn có sự giao thoa, cộng hởng lẫn nhau, nhng khôngphải là một Ông viết :" Nhng nói thế không phải có thể kết luận rằng nghệ thuật
và tuyên truyền chỉ là một Tuyên truyền cao tới một mức nào đó thì tuyêntruyền trở thành nghệ thuật Nghệ thuật thiết thực tới một mức nào đó thì nghệthuật có tính chất rõ rệt là tuyên truyền Cho nên, có thể có những ngời tuyêntruyền không phải hoặc cha phải là nghệ sỹ, nhng không thể có những nghệ sỹhoàn toàn không phải là ngời tuyên truyền [9;113] Đồng thời Trờng Chinh cũngtán thành "những tác phẩm văn nghệ làm kịp thời để dùng ngay tức khắc, cũng
có những tác phẩm làm kĩ và lâu để cho tác phẩm nghệ thuật đợc trau dồi vànâng cao hơn… Những bài viết và công trình này, nh muốn sáng tác kĩ và lâu bền tác phẩm nghệ thuật của mình đợc
"vĩnh cửu", xin cứ làm Một điều chắc chắn là nếu văn nghệ sĩ trung thành vớithời đại, đi sát cuộc chiến đấu của dân tộc và đời sống của nhân dân, thì tácphẩm của họ, nghệ thuật càng cao càng có ý nghĩa tuyên truyền mạnh" [9; 114].Những lập luận của Trờng Chinh xem ra khó có thể bác bỏ đợc, nhng lúc đó TôNgọc Vân cha chịu lùi, nghĩa là ông vẫn theo đuổi quan điểm của mình Cho đếnlớp học tập "chỉnh huấn" năm 1953, ông mới tự nhận những khiếm khuyết vàkiểm điểm lại con đờng nghệ thuật của mình
Có thể nói, cuộc tranh luận xung quanh bài viết của Tô Ngọc Vân về nghệthuật và tuyên truyền có một ý nghĩa quan trọng Về phơng diện quan điểm củaTô Ngọc Vân, đó là những ý kiến thẳng thắn, dũng cảm, nó phá tung ra đợcnhững dè dặt, ấm ức muốn nói mà rất khó nói của ngời nghệ sỹ muốn theo đuổicon đờng nghệ thuật cho đúng nghĩa của nó Dù thế, trong hoàn cảnh lịch sử lúcbấy giờ thì những quan điểm của ông khó có thể đợc chấp nhận Còn về quan
điểm của Đặng Thai Mai, dù cũng cha thuyết phục và sau này đã đợc TrờngChinh chỉ rõ và bổ sung, nhng quan điểm của ông là hớng văn nghệ phục vụnhiệm vụ chính trị cao cả, một xu thế phát triển chung của ý thức văn học thời
Trang 25bấy giờ nên dễ dàng đợc chấp nhận Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ hai(tháng 7/1948) đã có những định hớng quan trọng, đa ra những chỉ đạo kịp thời.Qua đó, thông qua cuộc tranh luận, đã phần nào gỡ dần những lúng lúng trongsáng tác Nhng cũng phải đến năm 1949, với Hội nghị tranh luận văn nghệ ViệtBắc thì những chuyển biến của ý thức văn học mới đợc khai toả
1.2.3.3 Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc 1949
Trớc những bức xúc về vấn đề "nhận đờng", cha bao giờ đời sống của phêbình văn học lại xuất hiện nhiều cuộc hội nghị tranh luận nh thế Hội nghị Vănnghệ toàn quốc (tháng 7/1948); Hội nghị Văn nghệ bộ đội (tháng 7/1949), Hộinghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (tháng 9/1949), Hội nghị tranh luận sân khấu(1950) Trong đó Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (tháng 9/1949) có một ýnghĩa đặc biệt quan trọng Tại cuộc hội nghị này, những vấn đề quan trọng củavăn nghệ đợc đa ra bàn luận và đạt đợc sự thống nhất cao, chấm dứt tình trạng
mò mẫm tìm đờng trong sáng tác Hội nghị diễn ra từ 25-28 tháng 9/1949, gồm
đầy đủ các văn nghệ sĩ đại diện cho các ngành nghệ thuật về họp mặt Tại đây,trong một không khí khá dân chủ, cởi mở, những cuộc tranh luận, trao đổi vềnhững ách tắc trong sáng tác đợc thẳng thắn nêu ra Nội dung cơ bản của nhữngcuộc tranh luận, trao đổi đề cập đến những vấn đề thuộc bản chất, chức năng,nhiệm vụ của văn nghệ trong đời sống kháng chiến Từ đó xác lập một cách dứtkhoát lập trờng giai cấp và quan điểm văn nghệ mới, về chủ nghĩa hiện thực xãhội chủ nghĩa, sự cần thiết của những chuyến đi thực tế, bàn về kịch, âm nhạc,hội hoạ… Những bài viết và công trình này, nh Nổi bật trong cuộc hội nghị là ba cuộc phê bình: Phê bình Độc tấu của Thanh Tịnh, phê bình Đờng vui của Nguyễn Tuân, đặc biệt cuộc phê bình thơ Nguyễn Đình Thi ở hai cuộc phê bình đầu, phê bình Độc tấu của Thanh Tịnh và phê bình Đờng vui của Nguyễn Tuân, ý kiến của hội nghị tập trung đánh
giá những thành công bớc dầu của hai tác giả trong việc hớng văn nghệ theo đờisống kháng chiến, nhng tiếng nói chỉ đạo của hội nghị là chỉ ra những non nớt,
"khiếm khuyết" của hai tác giả (đặc biệt là Nguyễn Tuân) vì cha thực sự hoàmình vào đời sống kháng chiến Sáng tác còn cha rõ ràng về t tởng, nặng phần
"chủ quan, cầu kỳ, thiếu trong sáng… Những bài viết và công trình này, nh"
Sau hai cuộc phê bình đầu, hội nghị trở nên sôi nổi bớc vào phê bình thơNguyễn Đình Thi Xuân Diệu là ngời đần tiên trình bày những nhận xét củamình về thơ Nguyễn Đình Thi: "Nói đến thơ Anh Thi, không phải nói đến vấn đềthơ không vần, cũng không phải chuyện những câu thơ dài, ngắn tự do Hai đặc
điểm ấy của anh Thi còn là việc phụ Nhiều ngời không thích thơ của anh Thi làvì anh cha đạt, cha thành công Cái "điệu của anh Thi cha rõ" Xuân Diệu chorằng, thơ Nguyễn Đình Thi "Hình thức với nội dung là một Mỗi câu thơ là một
ít xác đựng một ít hồn thơ Hồn thơ anh Thi cha ổn, nên câu thơ có chỗ lệch lạc".[51; 215] Tiếp đó, Xuân diệu đa ra nhận xét về nội dung và hình thức thơNguyễn Đình Thi Về nội dung “các đoạn thơ trong tứ thơ không dính nhau,phạm cái điều mà tôi gọi là đầu Ngô mình Sở… Những bài viết và công trình này, nh Thơ anh Thi từng bộ phận thì
Trang 26hay, và có những câu rất hay Những đoạn, những câu ấy, chắp lại với nhau thìkhông thành ra hay Nh môi đẹp, mắt đẹp, mũi đẹp mà không thành mặt đẹp vì làmôi, mắt, mũi của nhiều ngời [52; 215-216] Theo Xuân Diệu "Thơ anh Thi tínhcách trí óc nhiều, tình cảm ít… Những bài viết và công trình này, nh Vì tính cảm cha chín muồi, nên bài Sáng mát trong … Những bài viết và công trình này, nh không có cái cốt chính của bài thơ Cái cha chín rõ nhất trong bài Đờng núi - những nét thơ rất đẹp những chỗ này một nét, chỗ kia một nét tán loạn nh
trong một bức tranh siêu thực" [52; 216] Về hình thức, Xuân Diệu nhận xét
"Câu thơ của anh Thi đúc quá Anh Thi rất kiệm lời Đó là một u điểm Nhng lạikiệm quá Không chỉ không có chữ thừa, mà chữ đệm cũng không có… Những bài viết và công trình này, nh Nhng
đúc quá độc giả không theo kịp đợc thì không còn là thơ nữa Đúc quá hoá khócảm xúc” [52; 216] Xuân Diệu chỉ ra tầm quan trọng của vần trong thơ, đặc biệt
nó reo vào lòng công chúng, khiến công chúng dễ thuộc, dễ nhớ Mà cái đó thơNguyễn Đình Thi lại không có Thơ Nguyễn Đình Thi còn không có chấm câu,vì thế nó trở nên xa lạ và khó đến với quần chúng Cùng quan điểm phê phán thơNguyễn Đình Thi, Thanh Tịnh phát biểu: "Tôi đã hỏi ý kiến quần chúng về thơAnh Thi, những anh bộ đội tôi quen biết, họ nói không thích vì thơ anh Thi trụctrặc, khó đọc Tôi tự hỏi không biết có phải vì thiếu vần không Tôi đánh liều đặtvần vào Thơ anh Lần này họ thích hơn Lên một tầng khác: Tri thức họ khôngthích - Tôi lại nói Đó là anh Thi làm nhạc, họ hỏi vặn: có nhạc ch a? [52; 219].Ngô Tất Tố khẳng định: "Nói đến thơ anh Thi cần phải giải quyết vấn đề vần haykhông vần Nh anh Diệu đã nói, thơ rung cảm và truyền cảm Nếu xúc cảm thôi,
mà không tuyên truyền thì mất nửa công dụng Thơ không vần ngời ta khôngthuộc, mất công dụng tuyên truyền, thơ là có vần, thơ không có vần hãy cho nómột cái tên khác" Ngô Tất Tố quả quyết: "Tôi đề nghị thơ không vần thì đừnggọi là thơ" [52; 220] Cùng chung âm hởng phê phán, Thế Lữ tiếp lời: "Thơ anhThi có dáng điệu kiêu căng, im lặng, không ghi rõ những điều mình rung động,yên trí rằng ngời ta phải tìm đến hiểu mình để rung động Tôi ví thơ Anh thi vớingời đạo sĩ nói lên những lời chỉ có ngời tu luyện nh mình mới hiểu đợc (… Những bài viết và công trình này, nh) Nh-
ng anh Thi để vào đây, những điều chỉ có riêng anh rung cảm (… Những bài viết và công trình này, nh) anh Thi đãreo rắc lối thơ của anh trong làng thơ" [52;221] Thế Lữ khẳng định: "Thơ anhThi nguy hiểm, và còn là một cái nguy cơ Các nghệ sĩ hay bám vào hình ảnhmới lạ, miễn là nó long lanh để đa tâm hồn mình vào đấy (… Những bài viết và công trình này, nh) Thơ anh Thi cótính cách quý phái, cao đạo" [52; 223]
Xuân Trờng thì cho rằng cái mà mọi ngời không thích thơ của Nguyễn
Đình Thi không phải vì hình thức mà cảm xúc thơ anh Thi cũ (… Những bài viết và công trình này, nh) cá nhân anhThi không ăn khớp với kháng chiến Cho nên nó đầu Ngô mình Sở và trúc đắc,khó vào lòng ngời ta" [52; 221] Nguyễn Huy Tởng nhận xét: "… Những bài viết và công trình này, nh nhng cái cănbản khiến cho ngời đọc thơ anh cảm thấy thơ già, nguyên nhân chính là anh xalìa quần chúng Anh vật lộn với anh nhiều; nhng thơ của anh chỉ phản ánh mộtphần nào tâm hồn của anh, chứ không nói tiếng nói của đại chúng" [52; 222]
Trang 27Xuân Thuỷ đa ra nhận xét của mình: Thơ anh Thi "trục trặc khó ngâm.
Đọc khó hiểu" Nguyên nhân là vì "anh không sống nhiều với quần chúng Anhcha quen cho rằng ngời ta sẽ hiểu thơ anh Xuân Thuỷ kết luận: "Trong thời kỳnày, cần phải phục vụ quần chúng, thì không nên dùng lối thơ mà quần chúngkhông hiểu Nên phổ biến lối thơ dễ nhớ, mà quần chúng có thể cảm thông vớithi sỹ đợc [52; 224 - 225] Âm hởng chủ đạo trong cuộc tranh luận này là phêphán thơ Nguyễn Đình Thi Các ý kiến có đề cập đến mặt đợc trong thơ Nguyễn
Đình Thi, nhng nó chỉ tồn tại dới dạng tiềm năng Còn phần nhiều ý kiến chỉ ranhững hạn chế của thơ Nguyễn Đình Thi Riêng có Nguyên Hồng lệch ra khỏi ýkiến của số đông và khảng khái bảo vệ thơ Nguyễn Đình Thi: "Tôi phản đối tấtcả những ý kiến nói thơ anh Thi là cuộc thí nghiệm Tôi nói đó là một sự cầndùng, một sự tất yếu (… Những bài viết và công trình này, nh) Tôi phản đối ý anh Diệu nói thơ anh Thi là đầu Ngômình Sở Thơ có thể làm đợc nh thế (… Những bài viết và công trình này, nh) Dân tộc ta rất nhiều bản năng Thơ điqua rất nhiều rung cảm khác nhau trong một bài ý riêng tôi, thì anh Thi rấtthành công, ngay bây giờ đã thành công rồi Anh Thi tiêu biểu cho tâm hồn rộngrãi, rải rác Tôi tin sẽ có những bài thơ kỳ diệu của dân tộc trong loại thơ đó"[52; 221]
Qua những ý kiến phê bình thơ ông, Nguyễn Đình Thi bộc bạch: "Tôi
đồng ý phần lớn những lời phê bình (… Những bài viết và công trình này, nh.) Tôi không trả lời lại một lời phê bìnhnào, mà dựa vào ý kiến của anh chị em, lấy tinh thần của hội nghị làm một cuộc
tự phê bình" Vói ý kiến phê bình của Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi thẳng thắnthừa nhận: "Anh Diệu nói là thơ của tôi già Gần đúng Vì thơ của tôi không phải
là những bài thơ vui Đó là những vần thơ đau đớn Lúc tôi làm nó, tôi cũng đãnghĩ rằng trong lúc này, có nên đa ra cái đau đớn đó không? Có Vì cuộc khángchiến của ta có bao nhiêu cái đau đớn, những đau đớn chính đáng; miễn là cái
đau thơng ấy không phải là cái đau thơng đi xuống (… Những bài viết và công trình này, nh) nhng nội dung ấy kháchquan mà xét thì nó không đúng với cuộc kháng chiến bây giờ, cái đau đớn củacuộc kháng chiến không giống nh cái đau đớn trong thơ tôi ở nhiều chỗ củacuộc kháng chiến, còn đau đớn hơn nhiều, nhng cái đau đớn không nh thế [52;226] Nguyễn Đình Thi không đồng ý với ý kiến rằng thơ ông là một cuộc "thínghiệm" mà nó là một thành công hay thất bại thì đúng hơn Hay nói đó là mộtcuộc tìm tòi thơ nhng có chỗ cha đợc thoả mãn [52;225] Về vấn đề vần haykhông vần, Nguyễn Đình Thi cho rằng: "Vần hay không vần, câu dài hay câungắn, cái đó đã thờng lắm rồi" Ông cũng nhận thấy "vần là một lợi thế đắc lựccho sự truyền cảm" Thế nhng " không phải hết vần là hết thơ Khi làm thơ, thái
độ của ngời làm là ghi cho đúng cảm xúc Nếu cảm xúc gặp đợc vần thì hay
Nh-ng gặp khi nó gò bó, hãy vợt lên nó đã Hình thức Nh-nghệ thuật phải tự thân nó ra.Khi gạt luật bên ngoài đi phải có luật bên trong rất mạnh [52;227] Nguyễn ĐìnhThi ấp ủ " những câu thơ nh lời nói thờng mà đến một độ cảm xúc mãnh liệt (… Những bài viết và công trình này, nh)những hình ảnh thơ mới bây giờ, tôi tởng tợng nó cần phải khoẻ, gân guốc, xù xì,
Trang 28chất phác, trung đúc, tự nhiên, (… Những bài viết và công trình này, nh) ngời dùng những điệu đều đặn mà nói đợcnội dung mới phải là thiên tài [52;227 - 228]
Hội nghị tranh luận Việt Bắc, mà đặc biệt cuộc tranh luận về thơ Nguyễn
Đình Thi có tác động rất quan trọng trong việc định hớng sáng tác của các vănnghệ sĩ Hội nghị này đã khẳng định lập trờng, quan điểm sáng tác theo định h-
ớng mà Đề cơng văn hoá Việt Nam 1943 đề ra với 3 phơng châm: Dân tộc khoa học - đại chúng Hội nghị đã hớng văn nghệ theo đời sống của cách mạng
-và kháng chiến, chấm dứt tình trạng mò mẫm trong việc tìm đờng sáng tác củavăn nghệ sĩ Kể từ đây, những vấn đề thuộc về "cá nhân" tạm đợc gạt sang mộtbên, thay vào đó là đời sống cách mạng với biết bao nguồn cảm hứng sáng tạomới đang chờ trớc mắt Về phía cá nhân những ngời nghệ sĩ, mặc dù phải trảiqua không ít khó khăn gian khổ, những hy sinh mất mát, nhng đợc hoà mình vàodòng thác lũ cách mạng, họ cảm nhận đợc lòng tự hào dân tộc Niềm vui tràodâng ngập tràn, họ nguyện đem tất cả bầu nhiệt huyết cách mạng để đánh đuổigiặc thù, xây dựng đất nớc hoà bình, no ấm Những chuyến đi xuyên rừng đầychông gai, muỗi và vắt, những ngày vợt núi đá cheo leo, hiểm trở… Những bài viết và công trình này, nh khó khănnhng lòng họ không hề sờn, bởi trái tim họ đang bừng dậy nh những hồi trốngthúc giục ra trận Họ thực sự là những chiến sỹ tiên phong trên mặt trận văn nghệ
- một trận tuyến thầm lặng đầy cam go, thử thách
Từ điểm nhìn ngày hôm nay, xét văn học trong tiến trình hiện đại hoá, cóthể thấy rằng do những yêu cầu bức thiết của lịch sử, văn học cách mạng ViệtNam nghiêng nhiều về mặt chính trị, xã hội, cha chú ý đến việc tìm tòi sáng tạohình thức nghệ thuật Văn học phục vụ quần chúng nhân dân nên phải đơn giản,
dễ hiểu Một sự sáng tạo theo "thiên hớng cá nhân, phong cách cá nhân" làkhông cần thiết và có thể bị coi là lạc lõng Điều đó phần nào đã làm chậm tiếntrình hiện đại hoá văn học dân tộc, kìm hãm sự phát triển về hình thức của vănhọc Trờng hợp phê bình thơ Nguyễn Đình Thi có thể minh chứng cho nhữnghạn chế đó
1.2.3.4 Nói chuyện thơ kháng chiến (1951) của Hoài Thanh
Hoài Thanh là cái tên quá quen thuộc trong đội ngũ các nhà phê bình vănhọc Việt Nam hiện đại Giới nghiên cứu văn học và độc giả đã biết đến nhữngchủ kiến nghệ thuật mang đậm cá tính của ông khi ông tham gia vào cuộc tranhluận nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh (1935-1939) Đến khi
ông cùng Hoài Chân viết cuốn Thi nhân Việt Nam (1942) tổng kết phong trào
Thơ mới (1932-1945) thì thực sự tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của ông mới
đạt đến độ chín mùi Vợt qua sự thử thách nghiệt ngã của thời gian, cho đến nay,
Thi nhân Việt Nam vẫn đợc xem là tác phẩm phê bình xuất sắc nhất về thơ mới.
Cũng nh bao văn nghệ sĩ khác, cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến toànquốc đã làm dậy lên ở ông niềm lạc quan, yêu đời, say mê lý tởng cách mạng V-
ợt qua bao khó khăn, bở ngỡ của những ngày đầu cách mạng, Hoài Thanh hăm
hở vác ba lô đi vào chiến trờng với một niềm tin yêu vào con đờng giải phóng
Trang 29dân tộc Là con ngời sinh ra để làm nghệ thuật, có thiên hớng nghệ thuật bẩmsinh, Hoài Thanh mang nặng cái duyên nợ với nghiệp văn chơng Nay, niềm say
mê ấy đã "bén duyên" với cách mạng Một sự gặp gỡ quá đổi lớn lao, bất ngờ đãlàm thay đổi nhân sinh quan và thế giới quan trong con ngời nghệ sĩ ở ông Mốiduyên đầu với thơ ca kháng chiến đã giúp ông trở thành ngời nghệ sĩ mới, hát canhững ca khúc cách mạng say mê, nhiệt thành Hoài Thanh đã cổ vũ mạnh mẽcho nền văn nghệ mới, nghiêm khắc kiểm điểm lại quan điểm nghệ thuật cũ củamình Ông đã đứng hẳn trên lập trờng và quan điểm nghệ sĩ mới để nhìn nhận,
đánh giá vấn đề, xuất phát từ yêu cầu của lịch sử, xã hội Những vấn đề ông quantâm nh tính thời sự, tính giai cấp, tính chính trị, tính đại chúng… Những bài viết và công trình này, nh và đó cũng là
nội dung mà thơ ca có nhiệm vụ phản ánh Trên tinh thần đó, Nói chuyện thơ kháng chiến là thành quả từ những trăn trở, nhiệt huyết của ông nhằm biến thơ ca
cách mạng thành một nền thơ chiến đấu Đây là chuyên luận thơ ông viết năm
1951 Tính độ lùi thời gian về năm 1945, ông có khoảng 6 năm nghiền ngẫm vềmột nền thơ đang hình thành và phát triển, thời gian đó là quá ngắn để ông cóthể nhận định một cách khách quan, chính xác Nhng vốn là một cây bút phêbình tầm cỡ, cộng thêm niềm đam mê thơ ca kháng chiến, tác phẩm của ông đã
có ảnh hởng không nhỏ đến thực tiễn sáng tạo thơ ca và sự tiếp nhận của côngchúng văn học Hoàn cảnh lịch sử lúc đó đặt ra những vấn đề cấp thiết Vấn đềtìm đờng giải phóng dân tộc vừa nh những lời nhắn nhủ thầm kín đến lơng tricủa văn nghệ sĩ, đồng thời nh một hiệu lệnh dứt khoát, thể hiện trách nhiệm vàtinh thần dân tộc cao cả của họ Trong bối cảnh kháng chiến, thơ có một vai tròquan trọng, bởi khả năng truyền bá và tác động rộng rãi của nó đến công chúng,
mà chủ yêu là tầng lớp nhân dân lao động - lực lợng chính của cách mạng Quanniệm thế nào là thơ hay, Hoài Thanh cho rằng: "Trong hoàn cảnh của ta bây giờ,nói đợc cảm xúc của ngời dân kháng chiến là hay, và cảm xúc ấy càng gắn liềnvới quyền lợi thiết thực của nhân dân, càng thúc đẩy đợc hành động dựng nớc,
đánh giặc của nhân dân lại càng hay" [54; 148 - 1948] Nhãn quan thơ của ông
đã thay đổi, thơ hay không còn là "chân tớng lộng lẫy" hay "vật quý tự thân" nữa
mà điều thiết thực của thơ phải gắn liền với kháng chiến, vì mục đích cao cả
đánh giặc cứu nớc Trong Nói chuyện thơ kháng chiến, Hoài Thanh chỉ rõ: "Nội
dung của thơ ca kháng chiến là tình yêu nớc, và không có gì ngoài những phơngdiện khác nhau của tình yêu nớc" [54; 147] Những phơng diện của lòng yêu nớcthể hiện rất phong phú Đó là lòng "căm giận", "vui chiến đấu và chiến thắng",
"hăng hái tăng gia sản xuất… Những bài viết và công trình này, nh" để thực hiện tốt điều này, ngời làm thơ phải thựchiện tốt "chủ trơng của đoàn thể, chính sách của chính phủ vạch công tác cho ta"[54; 6] Đó là t tởng và đích đi đến quan trọng của thơ kháng chiến, là chuẩnmực mới của phê bình để lý giải cái hay, cái đẹp của thơ ca hiện thời
So với Thi nhân Việt Nam, thao tác khoa học trong Nói chuyện thơ kháng chiến vẫn là nhất quán Ông đánh giá vấn đề vẫn dựa trên cơ sở xã hội, đội ngũ
sáng tác, nội dung, hình thức… Những bài viết và công trình này, nh Nhng cái khác biệt của Hoài Thanh trong Nói
Trang 30chuyện thơ kháng chiến là ông làm một cuộc cách mạng thay đổi "điểm nhìn"
nghệ thuật trong việc tiếp cận nghiên cứu thơ kháng chiến Trớc đây ông chorằng điểm xuất phát nghiên cứu thơ là sự vận động nội tâm chủ quan của ngờinghệ sỹ, thì nay nó phải do phong trào ca hát của quần chúng quy định, do lòngyêu nớc và chí căm thù giặc, do công tác "đoàn thể và chính phủ" thôi thúc HoàiThanh nhiệt tình cổ vũ phong trào thơ quần chúng, thứ thơ của cán bộ chính trị,cán bộ quân sự, anh công nhân, anh bình dân học vụ, anh đội viên binh nhì, cácchị phụ nữ, các em thiếu nhi… Những bài viết và công trình này, nh Đó là những ngời "lặng lẽ đi trên các nẻo đờngkháng chiến làm thơ" Thơ của họ là những điều rất đáng quý và trân trọng ở chỗ
nó đã nói đợc tâm hồn của đại quần chúng nhân dân lao động bằng những ngônngữ thô tục, bình dị, những vần thơ đã bắt vào mạch" đại chúng hoá" của dântộc Theo Hoài Thanh, sứ mệnh cao cả của thơ nói riêng, văn học nói chung làphụng sự nhiệm vụ cao cả cách mạng Cũng vì thế những vấn đề nóng bỏng củacuộc kháng chiến thờng là xuất phát điểm cho những đánh giá, lý giải của công
về bản chất, nhiệm vụ, chức năng của thơ Ông đồng ý quan điểm văn nghệ gắnvới tuyên truyền và đó là hai mặt không thể tách rời
Với sự thay đổi trong việc nhìn nhận, đánh giá thơ kháng chiến nh vậy,ngời ta không bị bất ngờ khi Hoài Thanh đã làm một cuộc kiểm điểm lại mình
bằng một cuộc nhìn lại thơ cũ 1932-1945 ở phần đầu trong Nói chuyện thơ kháng chiến, ông đã làm một cuộc phê bình hết sức quyết liệt phong trào thơ mới, thời kỳ văn học mà ông đã khẳng định là Có một thời đại trong thi ca Thi nhân Việt Nam là công trình nghệ thuật thể hiện niềm đam mê cháy bỏng của
Hoài Thanh về thơ mới ở đó tinh anh nghệ thuật của ông đã phát tiết đến độthăng hoa Nếu không có nó vị vì thế của ông hẳn sẽ không đờng hoàng nh thế đ-
ợc Nay, bối cảnh lịch sử tác động đã làm "lung lay" con mắt nghệ sỹ xa kia, đa
ông trở thành ngời nghệ sỹ mới Từ chỗ đứng mới, quan niệm mới, Hoài Thanhnhìn về thời đã qua; về thơ cũ và ông không khỏi cảm thấy "xấu hổ" Vì chính
ông cũng là ngời trong cuộc Có thể trong bối cảnh lúc đó, ở một khía cạnh nhất
định thì sự "nhìn lại" là cần thiết Nhng cách mà Hoài Thanh đánh giá lại thơmới đã vợt ra ngoài khuôn khổ, thậm chí ông đã quá đà, cực đoan buộc tội thơ
mới, trên đờng trợt đó, ông phủ định luôn cả Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh
cho rằng thơ mới là mối nguy hiểm cho thơ ca kháng chiến, "những vần thơ buồntủi, bơ vơ ấy là những vần thơ có tội, nó xúi ngời ta buông tay, cúi đầu, do đólàm yếu sức ta và làm lợi cho giặc Sự thật khách quan là thế" [54; 10] Thơ mớimang trong bản thân nó những "đạo rớt, "mộng rớt", "buồn rớt", “nhắm rớt “và
“ngắm rớt” Nó là những cái còn sót lại và làm "di hại", cản trở bớc tiến của thơ
ca kháng chiến Ông viết :"Xét về phơng diện khách quan thì ngày trớc hay bâygiờ những câu thơ buồn nản hay mơ mộng vẩn vơ cũng đều là đồng minh chogiặc Giặc có thể xây dựng cơ đồ của chúng trên phần bạc nhợc của con ngời.Chúng ta không dám làm ngời thì chúng nó mới có khả năng làm giặc" [54; 10].Những rơi rớt của thơ cũ đã ảnh hởng đến văn nghệ sỹ khi mà "con ngời công tác
Trang 31muốn trở về hạ giới, còn sáng tác vẫn bám ở trên cao kia" [54; 16] Những cáibuồn có trong thơ kháng chiến là nguyên nhân của "chủ nghĩa cá nhân, trong cáitôi nhỏ bé, lẻ loi của con ngời t sản cũ [54; 31] Muốn loại bỏ nó theo HoàiThanh phải triệt để "cách mạng hoá t tởng, quần chúng hoá sinh hoạt"
Trong quan điểm mới của Hoài Thanh, cái tôi của ngời nghệ sỹ gắn liềnvới tính giai cấp, trong cái tôi đã bao hàm cái ta "Nếu ta xem cái tôi là bề mặtcủa cuộc sống thì cái tôi chung, cái tôi giai cấp sẽ là bề sâu" [54; 7]
Hoà mình vào đời sống kháng chiến, Hoài Thanh đã thấy hết đợc ý nghĩalớn lao của nó Vì vậy hơn ai hết, ông ý thức một cách sâu sắc quan điểm vănhọc phụng sự kháng chiến, vì đại chúng công nông binh Nhng vì quá nồng nhiệtkhẳng định và ủng hộ thơ kháng chiến, ông đã có phần cực đoan khi đánh phủnhận những thành quả của một thời kỳ văn học nh Thơ mới
1.2.3.5.Tiếng Thơ (1951) của Xuân Diệu
Nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam trớc 1945, với t cách là “nhà thơ mới nhấttrong những nhà thơ mới” (Hoài Thanh), năm 1944 Xuân Diệu đã đến với Cáchmạng và sớm có mặt trong Hội Văn hoá Cứu quốc Từ đây, sự nghiệp văn chơngcủa ông gắn liền với sự nghiêp cách mạng của Đảng Với niềm tin yêu vào nềnvăn học kháng chiến, Xuân Diệu đã quyết tâm từ bỏ quan điển nghệ thuật cũ, b -
ớc đi Dới ánh sao vàng, nồng nhiệt ủng hộ chế độ mới và nền văn học mới.
Không chỉ là nhà thơ cách mạng, ông còn là nhà lí luận, phê bình cổ vũ một cáchnhiệt thành phong trào thơ ca kháng chiến Xuân Diệu cho rằng thơ phải gắn bómáu thịt với quần chúng nhân dân, phải có tác dụng tuyên truyền cổ vũ khángchiến Để đạt đợc yêu cầu ấy, thơ phải dễ hiểu, giản dị Muốn thế, cách tốt nhấtlúc này là trở về với hình thức phô diễn của văn học bình dân Cách nhìn của
ông đợc biểu hiện rõ ở bài thuyết trình về thơ Nguyễn Đình Thi trong Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc tháng 9/1949 và hàng loạt bài viết khác đọc trên
Đài tiếng nói Viêt Nam ngày ấy và đợc in lại trong tập tiểu luận Tiếng thơ Ông
cho rằng tiếng thơ kháng chiến là “tiếng đời”, bởi vì “những ngời làm thơ do thời
đại ca hát ở trong họ, chúng ta làm thơ vì cái đẹp ngày càng nhiều Vì gió cáchmạng nổi dậy bốn phơng thổi cái ức của nô lệ, quét cái bẩn của bóc lột vì nớcmắt giác ngộ đã rửa mắt ta thêm biếc”[19;7] Xác định làm thơ là để ca hát cuộc
đời mới, ông luôn bám sát sự sống mới hằng ngày từng chiến dịch để biểu dơng
thơ: Tiếng thơ hai năm kháng chiến, Tiếng thơ xuân, Thơ bộ đội, Thơ hò tiếp vận Ông lấy xuất phát điểm từ các sự kiện đời sống hằng ngày cho việc phê bình,
giới thiệu thơ kháng chiến Mặt khác, ông đề cao tính giai cấp, tính quần chúngcủa thơ, bởi vì thơ hay là do “một giai cấp trẻ làm ra” Ông nói: “Thấy cái đời nóphơi phới nó lên, lòng mình nh nảy mầm mọc nụ Mình mới hiểu thế nào là giaicấp trẻ, thế nào là cuộc đời mới ”[19 ;29] ý thức sâu sắc về giai cấp nh vậy,
ông đi vào tìm hiểu cuộc sống công, nông, binh Bởi họ để lại trong ông rấtnhiều tình, “ cái tình thời đại, gồm những tình súng đạn, tình đồng chí, tình quândân, tình nớc tình làng và cả tình yêu nữa”[19 ;32] Đi với kháng chiến, Xuân
Trang 32Diệu tắm mình trong niềm say mê hát ca của văn nghệ quần chúng, đó là những
“lời văn, tiếng hát, và nhất là cái không khí tng bừng đã thúc giục cho mọi ngời
để văn nghệ luôn luôn vang lên ở trong tôi”[19 ;192]
Tập tiểu luận Tiếng thơ thực sự là “tiếng đời, tiếng của kháng chiến” Xuân Diệu
đã hoà mình vào phong trào ca hát của quần chúng để phê bình, phân tích, khẳng
định một nền thơ kháng chiến Tuy thế, do ông quá hào hứng, sôi nổi trong đánhgiá thơ kháng chiến, nên không tránh khỏi sự cực đoan, một chiều
Nhìn lại quá trình phát triển của phê bình văn học Việt Nam trớc 1955 quatừng chặng đờng phát triển cụ thể có thể rút ra đợc những nhận xét nh sau:
- Đây là quá trình mà phê bình văn học Việt Nam đã có những bớc tiếnkhá dài và vững chắc trên con đờng hiện đại hoá nền văn học dân tộc Trongkhoảng năm thập kỷ, phê bình văn học hiện đại Việt Nam từ giai đoạn hìnhthành đến giai đoạn trởng thành, thực sự trở thành một hoạt động chuyên nghiệp,
có một tác động sâu sắc trong viêc định hớng sáng tác và tiếp nhận của côngchúng Đội ngũ các nhà phê bình hoạt động chuyên nghiệp hình thành Họ cókhả năng vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm của các trờng phái phê bình vănhọc Phơng Tây: Chủ nghĩa ấn tợng, chủ nghĩa thực chứng, phơng pháp tiểu sửhọc, phơng pháp xã hội học, khuynh hớng khảo cứu khoa học và lối phê bìnhnghệ sĩ… Những bài viết và công trình này, nh đem lại những cái nhìn đa diện, sâu sắc trong việc nghiên cứu, phêbình văn học
- Đây thực sự là chặng đờng đầy sôi động của phê bình văn học Phê bìnhvăn học hình thành nhiều xu hớng với những quan điểm khác nhau, tiêu chí khácnhau Nhng dù khác nhau về quan điểm đánh giá, họ vẫn gặp gỡ nhau ở một
điểm là khẳng định những thành tựu của nền văn học hiện đại (trờng hợp HoàiThanh và Hải Triều rất đối lập về quan điểm nhng lại cổ vũ, khẳng định thành
công của tác phẩm Kép T Bền của Nguyễn Công Hoan… Những bài viết và công trình này, nh) Lịch sử xã hội cónhững thay đổi quan trọng kéo theo sự thay đổi về ý thức của ngời cầm bút.Trong phê bình, điều này thể hiện rõ ở những quan niệm về văn chơng Sự nổitrội của xu hớng quan niệm văn học trớc hết phải phản ánh xã hội, phục vụ cáchmạng và kháng chiến so với xu hớng coi văn chơng trớc hết phải là văn chơng làmột bằng chứng về sự tác động của hoàn cảnh lịch sử đối với văn học
- Phê bình văn học Việt Nam trớc 1955 tuy cha phát triển thành một hệthống và đạt đến chiều sâu, nhng đã đặt ra nhiều vấn đề cơ bản thuộc về bản chấtcủa văn học hiện đại nh: nhiệm vụ và chức năng của văn học; nội dung và hìnhthức của tác phẩm… Những bài viết và công trình này, nh Phê bình văn học trớc 1955 đã tạo nên những nền tảng vữngchắc làm tiền đề cho sự phát triển của phê bình văn học Việt Nam ở những giai
đoạn sau, góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc
Trang 33Chơng 2
Diện mạo tổng quan của phê bình văn học Việt Nam 1955-1985 2.1 Những tiền đề xã hội, thẩm mỹ của phê bình văn học Việt Nam 1955-1985
2.1.1 Tiền đề xã hội
Cách mạng tháng Tám thành công là một sự kiện trọng đại lịch dân tộcViệt Nam Từ trong đêm tối của chế độ nô lệ, ngời dân Việt Nam đã đàng hoàngbớc ra ánh sáng làm chủ vận mệnh và tơng lại của mình Biết bao niềm tự hàongời sáng trên khuôn mặt tràn ngập hạnh phúc xen lẫn những dòng nớc mắt xúc
động của quốc dân đồng bào Việt Nam trên quảng trờng Ba Đình, lắng nghe HồChủ tịch đọc bản Tuyên ngôn khai sinh ra nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.Mùa thu tháng Tám càng đẹp hơn trong sự hồi sinh diệu kỳ của dân tộc ViệtNam Từ mọi nẻo đờng đất nớc, toàn thể ngời dân Việt Nam lòng tràn đầy hânhoan, náo nức chào đón buổi bình minh của thời kỳ lịch sử mới
Ngày độc lập dân tộc đợc chờ đợi quá lâu Bao mồ hôi xơng máu đã phải
đổ xuống cùng biết bao chiến công hiển hách vẻ vang của con ngời Việt Nam đãlàm nên lịch sử Bản lĩnh và ý chí, khát vọng của dân tộc Việt Nam đã đợc thửlửa, tôi luyện trong khó khăn gian khổ Giờ phút vinh quang của dân tộc cũng làlúc lòng tự hào, ý thức và trách nhiệm công dân của ngời Việt Nam trỗi dậy mộtcách mãnh liệt Họ đặt niềm tin yêu hết thảy vào cách mạng Việt Nam Là mộtphần trong đời sống xã hội, văn học Việt Nam hoà quyện vào niềm vui bất tuyệt
ấy, nó tìm thấy trong xã hội những nguồn cảm hứng mới về đất nớc, về nhândân
Cha lâu sau ngày độc lập, đầu năm 1946 với bản tính một tên đế quốc khátmau, thực dân Pháp trở lại nổ súng xâm lợc Nam Bộ rắp tâm cớp nớc ta một lầnnữa Một trang sử mới lại mở ra cho dân tộc Việt Nam Độc lập đã giành đợc vềtay, nhiệm vụ của toàn dân là phải quyết gĩ bằng mọi giá "tài sản" thiêng liêng
ấy Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ nh một hiệu lệnh thôi thúctoàn dân lên đờng kháng chiến Cuộc kháng chiến chống Pháp vĩ đại đợc tiến
hành dới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản với chủ trơng: "Kháng chiến bằng văn hoá, văn hoá của kháng chiến" Quy mô của cuộc kháng chiến đòi sự tập hợp
sức mạnh của toàn dân Nhân dân lao động trở thành động lực chính của cáchmạng Họ nhanh chóng trở thành nguồn cảm hứng của quá trình sáng tạo nghệthuật, đồng thời là đối tợng hớng tới phục vụ của các nhà văn Chín năm khángchiến với biết bao gian khổ, hy sinh Nhng với sự đồng cam cộng khổ của Đảng
và nhân dân, cuộc chiến rồi cũng đến hồi kết thúc Đời sống văn học với bao trăntrở chuyển mình cho kịp bớc đi của dân tộc đã góp phần quan trọng váo sứ mệnhgiải phóng dân tộc Năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi vang dội địacầu đặt một dấu son chói lọi trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam Thựcdân Pháp cút khỏi Việt Nam Miền Bắc bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ
Trang 34nghĩa xã hội với biết bao phấn chấn, hồ hởi Trong khi đó miền Nam tiếp tục quátrình đấu tranh chống Mĩ thống nhất đất nớc Văn học nói chung, phê bình vănhọc nói riêng đã hoàn tất quá trình phát triển và trởng thành trong 9 năm khángchiến Sứ mệnh lịch sử mà Đảng giao phó, văn học kháng chiến đã tạm hoànthành Giờ đây, nó đang chuẩn bị bớc sang thời kỳ mới
và công chúng thởng thức văn học
Phê bình văn học từ 1930-1954 đã hình thành đội ngũ đông đảo các nhàhoạt động phê bình chuyên nghiệp Họ là một phần vô cùng quan trọng, quyết
định tính đa dạng cũng nh mức độ sâu sắc của đời sống phê bình Bên cạnhnhững nhà văn, nhà thơ làm công việc sáng tác kiêm nhiệm phê bình, đã hìnhthành đội ngũ các nhà phê bình chuyên biệt Điều đó tạo nên ở họ những khảnăng và sở trờng khác nhau, đem đến sự phong phú trong phong cách phê bìnhvăn học Có thể nói rằng, các thế hệ nhà phê bình là những cuộc chạy tiếp sức
mà ở thế hệ sau, do có sự kế thừa và phát triển nên đạt đến một trình độ cao hơn Những gơng mặt phê bình ấy gắn chặt với từng thời kỳ văn học Có thể kể tênnhững gơng mặt tiêu biểu của phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến
1945, họ là những Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều Nhữngcông trình phê bình của họ ở một mức độ khác nhau, đã đóng góp quan trọngvào lịch sử văn học dân tộc Từ năm 1945-1954, bên cạnh những cây bút phêbình lớp trớc nh Hoài Thanh, Hải Triều, xuất hiện những gơng mặt phê bình vănhọc kháng chiến Đó là Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu… Những bài viết và công trình này, nh Họ đều
là những cây bút có ý thức trách nhiệm cao Thời kỳ này, xuất hiện nhiều cuộctranh luận nghệ thuật với những khuynh hớng, quan điểm khác nhau Điều đóphản ánh tính dân chủ, cởi mở trong đời sống văn học, cho thấy những đổi thaycủa bối cảnh lịch sử, xã hội tất yếu dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận củavăn nghệ sỹ về những vấn đề tồn tại trớc mắt Khi những cuộc tranh luận tạmlắng xuống thì lập tức xuất hiện những công trình phê bình mà ở bề sâu của nó
Trang 35thể hiện sự nghiền ngẫm, tìm tòi của nhà phê bình về hớng đi của văn học Cáccuộc tranh luận có quy mô tập trung vào những vấn đề cơ bản của văn học Tại
đây, hình thành hai xu hớng văn học cơ bản: Xu hớng thứ nhất coi văn chơng
tr-ớc hết phải là văn chơng Thứ hai, quan niệm văn học phải phản ánh xã hội, gắnchặt với đời sống cách mạng và kháng chiến Tiêu biêủ cho những cuộc tranhluận này phải kể đến cuộc tranh luận nghệ thuật 1935 - 1939 giữa Thiếu Sơn vàHải Triều về vấn đề "nghệ thuật vị nghệ thuật" hay "nghệ thuật vị nhân sinh",Hội nghị tranh luận tại Việt Bắc năm 1949… Những bài viết và công trình này, nh Các công trình phê bình nh Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Nhận đ- ờng của Nguyễn Đình Thi, Nói chuyện thơ kháng chiến của Hoài Thanh, Tiếng thơ của Xuân Diệu… Những bài viết và công trình này, nh Đáng chú ý là ở giai đoạn 1945-1954, sự tác động củahoàn cảnh lịch sử đã hớng phê bình văn học vào đời sống cách mạng và kháng
chiến theo 3 mục tiêu mà Đề cơng văn hoá Việt Nam 1943 đề ra là: Khoa học, dân tộc, đại chúng Với những đóng góp và hạn chế của nó, phê bình văn học tr-
ớc 1955 đã đặt ra nhiều vấn đề quan trọng làm tiền đề cho sự phát triển của phêbình những năm sau đó
2.2 Quá trình vận động và phát triển của phê bình văn học Việt Nam 1955-1985
2.2.1 Chặng đờng 1955-1964
Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi mở ra một thời kỳ mới cho xã hộiViệt Nam Miền Bắc đợc hoàn toàn giải phóng và bớc vào thời kỳ quá độ xâydựng chủ nghĩa xã hội Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đã đợc hoàn thành vànay chuyển sang cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Là một bộ phận nhạy cảmcủa xã hội, văn nghệ cũng có những bớc chuyển mình để thích ứng với hoàncảnh xã hội mới Từ nhiệm vụ phục vụ đời sống kháng chiến và cải cách ruộng
đất, văn nghệ chuyển sang tiếp nhận sứ mệnh lịch sử mới, cổ động cho cuộc cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và hớng mục tiêu lâu dài phục vụ cuộc đấutranh giải phóng đất nớc Nếu nh chặng đờng 1945 - 1954 đợc coi là quá trình
"nhận đờng" lần thứ nhất của văn học Việt Nam thì chặng đờng 1955-1964 thực
sự bắt đầu vào cuộc "nhận đờng" lần thứ hai với những cảm xúc không kém phầnbòi hồi, lo âu và quyết liệt Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi nhng hậuquả chiến tranh đề lại là một bài toán nan giải để đi đến hớng giải quyết Thựctrạng xã hội ngổn ngang, bề bộn đặt ra nhiều vấn đề bức xúc cho toàn xã hội.Xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc bức thiết không thể chậm trễ, nh ng bắt
đầu từ đâu, dới những hình thức nào là những điều trăn trở của Đảng và nhândân Nhận thức đợc những khó khăn ấy, giới cầm bút đã có sự điều chỉnh về thếgiới quan để vận dụng vào thực tiễn sáng tác Sự điều chỉnh đó nhằm làm sâu sắc
thêm những nguyên tắc t tởng mà Đề cơng văn hoá Việt Nam 1943 và Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam 1948 đã đề ra Từ đó áp dụng một cách linh
hoạt và việc nhìn nhận, đánh giá những vấn đề mới nảy sinh của xã hội
Trang 36Xuất phát từ những mục tiêu chính trị, xã hội đó, phê bình văn học
1955-1964 có nhiều việc phải làm và thực tế đã chứng minh sự bận rộn trong vòngquay lịch sử của nó Phê bình văn học giai đoạn này xáo động lên bằng hội nghị
đánh giá lại tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu và cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn -Giai phẩm trên mặt trận văn nghệ.
2.2.1.1 Hội nghị đánh giá lại tập thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu
Tố Hữu là nhà thơ u tú nhất trong dòng thơ ca cách mạng Việt Nam Thơ
ông đã có sự gặp gỡ đầy duyên nợ với lý tởng cách mạng ngay những ngày đầucủa cuộc kháng chiến chống Pháp Kể từ ấy, cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của
ông gắn chặt với cách mạng Cũng vì thế, ông đã xác định đợc cho mình mộtphong cách thơ rõ ràng, phong cách trữ trình - chính trị Tố Hữu đã làm mộtcuộc hành trình bằng thơ xuyên suốt đời sống cách mạng Việt Nam Những tập
thơ Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa thể hiện từng bớc trởng thành của nhà thơ trong quá trình đến với cách mạng Trong đó, Việc Bắc là tập
thơ đợc đánh giá rất cao Đây là tập thơ gồm những bài thơ sáng tác trong thời
kỳ kháng chiến từ sau Thu đông thắng lợi 1947, và một số bài sáng tác sau ngàyhoà bình 1954 Tập thơ đã tạo lập đợc cuộc sống riêng của nó và có ảnh hởngkhông nhỏ đến việc hình thành diện mạo nền thơ ca kháng chiến Bớc vào cuộcsống mới sau ngày hoà bình, những vấn đề thuộc ý thức, quan điểm, lập trờngsáng tác của văn nghệ sỹ đợc nhìn nhận lại, và tập thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu đ-
ợc đem ra bàn luận nhằm làm sáng thêm định hớng cho nền văn nghệ cách mạngxã hội chủ nghĩa Nội dung chính của cuộc hội thảo là đánh giá lại tập thơ ViệcBắc Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định những thành công của tập thơ, các nhàphê bình đã chỉ ra những rơi rớt, hạn chế về t tởng trong việc thể hiện đời sống
kháng chiến Trong bài viết Đọc tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu (Đăng trên báo
Nhân dân, số 329, 24/1/1955) Hà Xuân Trờng đã có những đánh giá về sự thành
công của tập thơ Viêt Bắc: "Có thể nói chủ đề bao trùm tập thơ Việt Bắc là tinh
thần thiết tha yêu nớc, chí khí phấn đấu kiên quyết bảo vệ Tổ quốc của nhân dân
ta Hình ảnh tiêu biểu cho tinh thần đó là Hồ Chủ tịch (… Những bài viết và công trình này, nh) Tố Hữu đã để cả tâmhồn, tất cả tình cảm đằm thắm nhất của mình để diễn tả những hình ảnh yêu kính
và quý mến nhất ấy của thời đại chúng ta" [30; 493] Thành công của Tỗ Hữutrong tập thơ Việt Bắc là đã xây dựng sinh động hình tợng những con ngời cáchmạng bình dị bằng nguồn cảm xúc chân thành, thơng mến Trong tập thơ ViệtBắc, "ngoài hình ảnh anh bộ đội, những hình ảnh bà mẹ, em thiếu nhi, chị phụnữ cũng nói lên đầy tình thơng mến của nhà thơ Nhng Tố Hữu tha thiết yêu anh
bộ đội, Tố Hữu không muốn tình yêu ấy bị chia sẻ, Tố Hữu muốn đặt tất cảnhững hình ảnh trong một cảm xúc chung đối với ngời chiến sỹ Những bà mẹtrong thơ Tố Hữu là bà mẹ của chiến sĩ, giản dị nh cánh đồng quê, yêu tha thiếtcon và lại giàu lòng yêu nớc Em thiếu nhi trong thơ Tố Hữu là chiến sĩ nhỏ tuổi,tâm hồn em hồn nhiên, những tâm hồn thấm sâu lòng yêu nớc Những chị phụ nữtrong thơ Tố Hữu là những chị dân công dù con bế, con bồng "em cũng theo
Trang 37chồng đi phá đờng quan"… Những bài viết và công trình này, nh Có những lúc tình cảm của Tố Hữu đi ra ngoài biêngiới, nhớ tới em bé Triều Tiên, nhân dân Triều Tiên anh dũng chiến đấu [30;495] Theo Hà Xuân Trờng, sức mạnh ở ngòi bút thơ Tố Hữu là ông đã xây dựngsống động hình ảnh vị Lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh, "Ngời là biểu hiện tậptrung những đức tính cao quý của dân tộc" Điều làm ngời đọc thông cảm vớihình ảnh những con ngời yêu quý của nhân dân ta trong thơ Tố Hữu là nhữnghình ảnh ấy "gắn chặt chẽ với đất nớc, dân tộc, quê hơng Đây chính là phần màthơ Tố Hữu hấp dẫn bạn đọc nhiều nhất, nâng cao tình cảm của chúng ta nhiềunhất Và đây cũng là phần sáng tơi nhất trong tập thơ Việt Bắc" [30; 496] Lànhà thơ chiến sĩ cách mạng, Tố Hữu đã xây dựng cho mình nguyên tắc sáng tạonghệ thuật riêng Ông "đa tình yêu vào trong thơ để nói lên lòng yêu chân thành
đối với Tổ quốc, đất nớc Tình yêu đối với Tố Hữu cũng nh đối với tất cả nhữngngời chiến sỹ cách mạng không phải là mục đích, mà nó là động cơ cách mạng".Nhà nghiên cứu đi đến kết luận: "Bộ đội, cán bộ, nhân dân thích đọc thơ Tố Hữu,nhớ thơ Tố Hữu, vì thơ Tố Hữu đã nói lên khá mãnh liệt tình yêu quê h ơng, yêu
đất nớc, yêu Tổ quốc, khêu gợi lòng chúng ta sức tin tởng ở chúng ta, ở nhữngcon ngời lao động đã chiến đấu, sản xuất và đang xây dựng, bồi dỡng thêm tinhthần lạc quan cách mạng của chúng ta, của nhân dân ta, vì thơ Tố Hữu đã hun
đúc thêm chí căm thù, nâng cao chí khí chiến đấu của chúng ta quyết tâm bảo vệquê hơng đất nớc" [30; 499]
Tuy nhiên, theo Hà Xuân Trờng điều hạn chế trong tập thơ Việt Bắc là ởchỗ Tố Hữu cha dành cho nông dân lao động ở hậu phơng, ngời công nhân trêncác ngành hoạt động một vị trí thoả đáng trong khi họ là nhân tố quan trọngtrong cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến Đọc tập thơ Việt Bắc "chúng
ta vẫn còn cha thoả mãn Ca tụng ngời chiến sĩ bộ đội nghĩa là Tố Hữu đã cangợi ngời nông dân, tình cảm, sức mạnh của ngời chiến sỹ trong thơ Tố Hữu làtình cảm, sức mạnh của ngời nông dân, những bà mẹ, những ngời chị, ngời vợtrong thơ Tố Hữu là những ngời nông dân lao động, nhng chúng ta muốn nhữngngời nông dân lao động ở hậu phơng có mặt trong thơ Tố Hữu" Những bài thơcủa Tố Hữu đã nói lên đợc t tởng của giai cấp công nhân, đờng lối chỉ đạo của
Đảng, ca tụng Hồ Chủ Tịch, nhng "chúng ta muốn hình ảnh Đảng tiên phong củadân tộc, ngời công nhân đợc nêu cụ thể hơn, đầy đủ hơn Chúng ta hiểu rằng TốHữu cha nói lên hộ lòng biết ơn, sức tin tởng của hàng chục triệu con ngời Đảngviên và quần chúng đối với Đảng tiên phong của giai cấp công nhân, Tố Hữu chaghi lại cho chúng ta hình ảnh ngời công nhân trên các ngành hoạt động luônluôn nêu cao chí khí phấn đấu, khắc phục khó khăn, cha ghi lại cho chúng tahình ảnh ngời nông dân đã vơn mình dậy đánh đổ thế lực của giai cấp địa chủ"[30; 500] Hà Xuân Trờng cho rằng thơ Tố Hữu đã thể hiện đợc đời sống tìnhcảm dân tộc với muôn hình, muôn vẻ nhng ở một số bài thơ tình cảm ấy cha thật
đậm đà
Trang 38Với cảm quan của nhà thơ làm công tác phê bình Xuân Diệu có cách nhậnxét rất riêng về tập thơ "Việt Bắc", ông cho rằng: "Mới nhìn qua, đó chỉ là bìasách sáng tơi, trang nhã giữa bao nhiêu bìa sách khác, nhng tập sách gọn gàngkia quả là đánh dấu một việc quan trọng của văn học Việt Nam hiện nay" Bằngnhững trải nghiệm của ngời làm thơ, đánh giá lại tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu,Xuân Diệu thận trọng đặt ra yêu cầu: "Chúng ta cần đọc đi đọc lại, xem kỹ, thảoluận, phê bình để hoàn toàn tiếp lĩnh sự cống hiến của Tố Hữu vào cái vốnchung, để nâng niu xứng đáng những tâm huyết của ngời làm thơ, bởi ngời ấycho ta hơn cả sự sống của ngời ấy, cho ta nguồn tinh chất ngày đêm lọc ra từ tâmhồn, từ óc, từ trái tim, mạch máu của ngời làm thơ" [30; 502] Đánh giá thànhcông của tập thơ Việt Bắc Xuân Diệu viết: "Tập thơ của Tố Hữu ra đời sau tổngkhởi nghĩa (1946) tập hợp mời năm thơ cách mạng (1937-1946), đã là tiếng thơtiến bộ nhất của thời gian ấy; Tố Hữu đã giơng lá cờ chiến đấu của thơ, tô thắmcho nó và giữ thắm cho nó trong suốt một thời kỳ nghiêng chèo tối tăm, để đa nótung bay dới mặt trời rực rỡ của cách mạng tháng Tám” [30; 503] Đóng góp củathơ Tố Hữu trong chín năm kháng chiến chống Pháp quả thực thật lớn lao.Những vần thơ chứa đầy tình cảm và dũng khí cách mạng đã có sức tác động tolớn đến tinh thần dân tộc, đem đến chiến thắng Điện Biên Phủ chân động địacầu Bớc mạnh của lịch sử ấy "đã nhìn thấy Tố Hữu thật xứng đáng là nhà thơcủa thời đaị Nh một cánh buồm kỳ diệu giơng lên với gió lớn bọc lấy gió lớntrong thân mình và rớn lên mạnh mẽ, tài thơ của Tố Hữu theo tiếng gọi kíchthích của lịch sử, cũng từ chỗ tiệm tiến vợt lên, nở ra, rộng toả chín thơm" [30;505] Là nhà thơ luôn theo sát hơi thở của cách mạng, Tố Hữu thổi vào thơ củamình tính thời sự nóng bỏng qua các sự kiện, các nhân vật anh hùng Tố Hữuquyết không phải là một bộ máy tốt dễ bắt vần, mà là sự sáng tạo tơi mới luôn,bằng tâm lực và tâm trí Hoa trái ngày nay thơm tốt, nhng rễ thì đã mọc sâu từhai mơi năm Rễ nuôi bằng t tởng, lập trờng của chiến sỹ, rễ sống bằng tơ lòngmạch huyết của thi nhân Tố Hữu chính là nhà thơ của thời đại" [30; 506]
Thành công của thơ Tố Hữu là đã nói lên đợc tích cách quần chúng Đánh
giá bài Bầm ơi, Xuân Diệu viết: "Ngời ta tự hỏi: Sao ngời thi sỹ có thể hiểu biết
sự vật, hiểu biết lòng ngời đến nh vậy Đó là những câu thơ chảy nớc mắt, cái
n-ớc mắt không bi thảm, mà là nn-ớc mắt sung sớng của tâm hồn, khi đợc nghệ thuật
đụng đến chỗ cao sâu Cả bài thơ nằm vào lòng ngời và ở luôn trong đó nh mộtdòng suối ngọt, một nguồn an ủi Bài Bầm ơi thật xứng đáng với tình mẹ conmuôn đời" [30; 508] Thơ Tố Hữu lôi cuốn ngời đọc bởi tình "thơng mến" vớingời, với cảnh "Tình thơng mến đặc biệt trong thơ Tố Hữu là một sự cảm hòavới ngời, với cảnh; một lòng thân yêu, yên ấm với chung quanh (… Những bài viết và công trình này, nh) là ngời bạnchí thân của ngời, của cảnh (… Những bài viết và công trình này, nh) thơ Tố Hữu không say mê mà ngọt ngào, khôngxôn xao mà thấm thía" [30; 509] Cái niềm thơng mến đó là "do sự công tácquần chúng lâu năm bồi dỡng; nó là hơng vị của thơ Tố Hữu, nó toát lên thơmtho, dịu ngọt; nó là đạo đức của cách mạng" [30; 511] Bên cạnh sự khẳng định
Trang 39mạnh mẽ giá trị tập thơ Việt Bắc, Xuân Diệu chỉ ra những nhợc điểm của tậpthơ Thứ nhất, "Thơ Tố Hữu thiếu hẳn một mảng lớn: Nặng về tình cảm xã hội,
mà hầu nh không nói đến tình cảm cá nhân (… Những bài viết và công trình này, nh) ngời cán bộ trong Tố Hữu baotrùm lên con ngời thờng" [30; 516] Theo Xuân Diệu, tình cảm cá nhân thể hiện
ở tình yêu, mà tình yêu là tình cảm thiết tha sâu sắc nhất của con ngời, nó làmãnh lực giục ngời ta chiến đấu Xuân Diệu viết tiếp: "Không nói đến tình yêu,
Tố Hữu cũng ít nói đến những tình cảm của cá nhân mình Tố Hữu chỉ nói đến,khi tình cảm cá nhân đó mang một tính chất xã hội rõ rệt hay có tính cách lànhững tình cảm tập thể" Để tránh sự hiểu nhầm ý "tình cảm cá nhân" XuânDiệu nhấn mạnh: "Theo ý tôi, thơ là tiếng hát của những tâm hồn và của mối mộttâm hồn; những tình cảm từng cá nhân, khi đã đúng hớng tiến bộ của toàn xãhội, cần đợc diễn tả vào sâu đến khía cạnh đặc biệt, vì những tình cảm đó đềutiềm tàng một ý nghĩa xã hội" [30; 517] Từ những điều trên thơ Tố Hữu nảysinh nhợc điểm thứ hai Theo Xuân Diệu đó là sự “nặng về tổng hợp" Xuân Diệucho rằng "tổng hợp" tuy có u điểm ở khả năng bao quát, rộng xa những nét lớncủa lịch sử, thế nhng nó còn là nguy cơ Sự tổng hợp không nên thành nếp củahồn thơ, vì hơn tất cả mọi ngành nghệ thuật nào, thơ phải thật cá thể và cụ thể",thơ phải thể hiện "nỗi niềm của mỗi một con ngời, của mỗi cá nhân trong quầnchúng" [30; 518]
Trong bài Góp ý kiến về tập thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu (in trên báo Văn
nghệ, số 75, ngày 20/6/1955), Tú Mỡ đã ngợi ca những thành tựu của tập thơViệt Bắc ở tính chất lãng mạn cách mạng Ông nhận xét: "Có ngời bảo rằngchính trị làm khô khan con ngời cho nên thơ kháng chiến thiếu tính chất lãngmạn là hồn của thơ Tập thơ Việt Bắc đã chứng tỏ rất hùng hồn rằng tởng nh vậy
là sai, và thơ Tố Hữu là tiêu biểu nhất về lãng mạn cách mạng, lãng mạn ở thơkháng chiến Một đặc biệt của thơ Tố Hữu là rất giàu tình cảm, tình cảm ấychính là tình cảm của nhân dân" [30; 540] Tú Mỡ cũng đồng ý quan điểm chorằng: "Cái rơi rớt của lãng mạn tiểu t sản còn toát ra một thứ buồn rời rợi trongmột vài bài thơ" và "tập thơ Việt Bắc cha phản ánh đầy đủ tất cả mọi mặt củacuộc kháng chiến anh dũng của quân dân ta" Vì Tố Hữu "cha đợc sống thực sátvới quần chúng công nông binh" [30; 545] Nhng Tú Mỡ cho rằng cái buồn, sầucủa Tố Hữu "chỉ là thoáng qua chốc lát" [30; 542] Tập thơ Việt Bắc "đã nói lên
đợc những nét điển hình và những khía cạnh tiêu biểu tình cảm của những ngờikháng chiến (… Những bài viết và công trình này, nh) Tố Hữu là ngời tiêu biểu nhất, và nó có thể coi là một nhà thơlãng mạn cách mạng của thời đại" [30; 545]
Phần lớn những ý kiến phê bình tập thơ Việt Bắc là khách quan Các nhàphê bình bên cạnh sự khẳng định thành công của tập thơ còn chỉ ra những hạnchế của Tố Hữu trong những vấn đề thuộc t tởng Các ý kiến đều đã "nâng niu",
"cân nhắc", "định giá" nh lời Xuân Diệu yêu cầu, phản ánh tơng đối chính xác vềvai trò ,giá trị của tập thơ Riêng có Hoàng Cầm, một nhà thơ trẻ, đã phê phán rất