Bộ Giáo Dục và Đào TạoTrờng Đại học vinhKhoa ngữ văn Hoàng thị tuyết anh đặc sắc thơ cảm hoài trong văn học việt nam nửa sau thế kỷ XIX chuyên ngành: văn học việt nam hiện đại
Trang 1Bộ Giáo Dục và Đào TạoTrờng Đại học vinh
Khoa ngữ văn
Hoàng thị tuyết anh
đặc sắc thơ cảm hoài trong văn học việt nam
nửa sau thế kỷ XIX
chuyên ngành: văn học việt nam hiện đại
“Đặc sắc thơ cảm hoài trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX ” là một đề
tài khá rộng với một khoá luận tốt nghiệp, nhng nếu nghiên cứu thành công nó sẽ
đem lại những đóng góp không nhỏ
Luận văn của tôi chỉ xem xét đặc điểm thơ “cảm hoài” của một số tác giả tiêu
biểu ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX nh: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn,
Trang 2Phan Đình Phùng, Nguyễn Khuyến Tuy vậy để có đợc đặc sắc thơ “cảm hoài” của
những tác giả này không đơn giản chút nào !
Luận văn đợc thực hiện và hoàn thành dới sự hớng dẫn của thầy giáo – 2005 Tiến sĩBiện Minh Điền Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới T.S Biện Minh Điền, ngờithầy giáo đã dành nhiều thời gian và tâm huyết giúp đỡ tôi hoàn thành công trình.Xin cảm tạ cha mẹ và những ngời thân đã không quản ngại vì tôi Cảm ơn các thầycô giáo và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trên con đờng đến với khoa học
có những nét đặc thù khác hẳn so với các giai đoạn trớc đó Hiện còn rất nhiều vấn
đề về nội dung, t tởng, về hình thức ngôn ngữ, thể loại, về các khuynh hớng cũng
nh các tác giả, tác phẩm tiêu biểu, của văn học giai đoạn này đặt ra cho giớinghiên cứu phải tìm hiểu, giải quyết
Trong rất nhiều vấn đề cha đợc nghiên cứu hoặc nghiên cứu cha đầy đủ ấy, theoquan sát của chúng tôi, đặc sắc thơ “cảm hoài” trong văn học Việt Nam nửa sau thế
kỷ XIX là một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất
Trang 31.2 Thơ cảm hoài là một trong những loại thơ xuất hiện nhiều nhất trong văn học
Việt Nam trung đại Có thể nói, thơ cảm hoài trong văn học Việt Nam nửa sau thế
kỷ XIX có nhiều đặc sắc và giữ một vị trí quan trọng nhng cha đợc giới nghiên cứuchú ý, quan tâm Thơ cảm hoài trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, vì thếcần phải đợc chú ý hơn nữa
1.3 Nghiên cứu vấn đề : Đặc sắc thơ “cảm hoài” trong văn học Việt Nam nửa sau
thế kỷ XIX, đề tài còn hy vọng thiết thực góp phần phục vụ việc giảng dạy thơ “cảmhoài” ở trong nhà trờng phổ thông
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1.Trớc hết với một cái nhìn tổng quan về thơ cảm hoài trên lịch trình nghiên cứu ở
thế kỷ qua, cho đến nay, rất tiếc cha có bài viết nào về loại thơ độc đáo có ý nghĩaxã hội thẩm mỹ rộng lớn này Các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở từng bài thơhoặc chỉ nhắc đến trong một vài bài viết của mình nhằm làm nổi bật một số vấn đềkhác - ngoài cảm hoài Quả là thành tựu nghiên cứu về thơ “cảm hoài” cha tơngxứng với tầm vóc của loại thơ này
2.2 Trong tầm bao quát t liệu của bản thân, chúng tôi nhận thấy : Đặc sắc thơ
“cảm hoài” trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX là một vấn đề cha đợc đisâu nghiên cứu Có thể nói :“ Nhìn xuyên suốt lịch trình văn học trung đại ta dễnhận ra kiểu nhà thơ nổi bật nhất là kiểu nhà thơ với mạch “ngôn chí” và “cảmhoài” “Ngôn chí” và “cảm hoài”, đấy cũng là những khái niệm xuất hiện nhiềunhất trong văn học Việt Nam trung đại kể cả ở hai loại t duy “chính luận” và “thẩmmỹ” [4,67] Vì vậy, có một loại thơ “cảm hoài” – 2005 loại thơ lớn nhất - trong văn họcViệt Nam trung đại, đặc biệt ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX Thế nhng, việcnghiên cứu thơ “cảm hoài” hiện nay dờng nh vẫn còn bỏ ngỏ Một số cây bútnghiên cứu phê bình văn học đã có nhắc tới thơ cảm hoài trong một vài bài viết củamình nhng còn lẻ tẻ và chủ yếu là để làm sáng tỏ một số vấn đề nghiên cứu khác – 2005ngoài cảm hoài
2.3 Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu vấn đề này với t cách nh một
vấn đề chuyên biệt và với cái nhìn hệ thống, toàn diện
3 Đối tợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài :
3.1.Đối tợng nghiên cứu :
Nh tên đề tài đã nêu, đối tợng nghiên cứu của luận văn là : Đặc sắc thơ “cảmhoài” trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX
Trang 43.2 Giới hạn của đề tài :
3.2.1 Luận văn tìm hiểu nghiên cứu đặc sắc thơ “cảm hoài” trong văn học Việt
Nam mà ở đây chủ yếu là giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX nh tên đề tài đã đề cập
3.2.2 Nghiên cứu thơ cảm hoài trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX về văn
bản thơ, chúng tôi chọn cuốn Hợp tuyển thơ văn yêu nớc : nửa sau thế kỷ XIX do
nhiều tác giả biên soạn [15] Theo chúng tôi, đây là công trình su tầm nghiêm túc,
đáng tin cậy, tập hợp đợc khá đầy đủ các sáng tác thơ của hầu hết các tác giả tiêubiểu ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX (trong đó có loại thơ “cảm hoài”)
Tuy nhiên, khi coi đây là văn bản chính thức, chúng tôi cũng có đối chiếu với
nhiều văn bản khác nh Nguyễn Khuyến tác phẩm [7] hay Thơ Nguyễn Xuân Ôn
[17] để tham khảo sử dụng thêm thơ “cảm hoài” của các tác giả này
4 Nhiệm vụ nghiên cứu :
4.1 Luận văn trớc hết xác lập cơ sở lý luận để tìm hiểu thơ “cảm hoài” trong văn
học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, xác định thơ “cảm hoài” trong tiến trình chungcủa văn học Việt Nam trung đại, từ đó để có cơ sở thấy đợc những nét riêng độc đáocủa thơ cảm hoài trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX
4.2 Khảo sát toàn bộ thơ “cảm hoài” trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX,
xác định những đặc trng của thơ “cảm hoài” thể hiện trên phơng diện nội dung t ởng của các tác giả tiêu biểu
t-4.3 Khảo sát đặc sắc thơ “cảm hoài” trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX
trên phơng diện hình thức, thể loại, ngô ngữ
Cuối cùng rút ra một số kết luận về sự hình thành những nét đặc sắc và độc đáotrong văn học nửa sau thế kỷ XIX, khẳng định những đóng góp của loại thơ “cảmhoài” cho lịch sử văn học dân tộc
5 Phơng pháp nghiên cứu :
Đề tài nghiên cứu là : Đặc sắc thơ “cảm hoài” trong văn học Việt Nam nửa sauthế kỷ XIX Luận văn vận dụng nhiều phơng pháp khác nhau nh : thống kê, phântích, tổng hợp, so sánh, loại hình, hệ thống, để tìm hiểu nghiên cứu vấn đề
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn :
6.1.Đóng góp
6.1.1 Luận văn là công trình đầu tiên khảo sát thơ “cảm hoài” trong văn học Việt
Nam nửa sau thế kỷ XIX với một cái nhìn hệ thống toàn diện, khẳng định đây làmột mạch thơ lớn, có ý nghĩa xã hội – 2005 thẩm mỹ sâu sắc trong lịch sử văn học dântộc
Trang 56.1.2 Kết quả nghiên cứu cũng có thể đợc vận dụng vào công tác giảng dạy văn
học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX ở trờng phổ thông
6.2 Cấu trúc của luận văn :
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn đợc triển khai trong
ba chơng :
Chơng 1 : Văn học nửa sau thế kỷ XIX với mạch thơ cảm hoài trong lịch sử“ ”
văn học dân tộc, một vài tổng quan Chơng 2 : Những nội dung đặc sắc của thơ cảm hoài trong văn học nửa sau“ ”
thế kỷ XIX Chơng 3 : Đặc sắc hình thức, thể loại, ngôn ngữ thơ cảm hoài trong văn học“ ”
nửa sau thế kỷ XIX
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo
Chơng 1 : Văn học nửa sau thế kỷ XIX với mạch thơ “cảm hoài” trong lịch sử văn học dân tộc, một vài tổng quan
Trang 61.1 Khái quát quá trình vận động, phát triển của văn học trung đại Việt
Nam (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX)
1.1.1.Văn học trung đại Việt Nam thuộc loại hình văn học có hệ thống thi pháp chặt
chẽ, cũng nh văn học trung đại của bất kỳ một dân tộc nào, văn học trung đại ViệtNam cũng chịu sự chi phối của các điều kiện lịch sử, xã hội và hệ t tởng của thời
đại
Chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến, mỹ học phong kiến và truyềnthống t tởng văn hoá dân tộc, văn học trung đại Việt Nam có một hệ thống thi phápchặt chẽ, mang tính quy phạm cao từ cách cảm nhận về thế giới, về con ngời và có ýthức về cái đẹp trong cuộc sống đến hình thức ngôn ngữ thể hiện Lực lợng sáng tác
và công chúng của văn học cũng khác hẳn với lực lợng sáng tác và công chúng vănhọc thời hiện đại
Văn học trung đại Việt Nam là loại hình văn học chủ yếu do nhà s và nhà nhoviết, trong đó nhà nho vẫn là lực lợng cơ bản( loại hình tác giả nhà s xuất hiện chủyếu ở giai đoạn Lý – 2005 Trần), đợc viết bằng khối chữ vuông ( chữ Hán và chữ Nôm).Xét về mối quan hệ giao lu, ta dễ nhận thấy văn học trung đại Việt Nam chịu mốigiao lu, ảnh hởng trong khu vực với trung tâm ảnh hởng là văn hoá, văn học TrungHoa
Quá trình vận động và phát triển của văn học trung đại Việt Nam trải dài từ thế
kỉ X đến hết thế kỉ XIX Việc phân kỳ văn học trung đại Việt Nam cho đến nay
đang là vấn đề đợc giới nghiên cứu quan tâm Một số tác giả phân kỳ theo triều đại.Một số khác lại phân kỳ theo thế kỉ trên cơ sở phân tích quá trình phát triển từ thịnh
đến suy của chế độ phong kiến Việt Nam Lê Trí Viễn đề nghị phân chia thành haigiai đoạn : Thợng kỳ văn học trung đại và hạ kỳ văn học trung đại Nguyễn Lộcphân chia thành bốn giai đoạn : Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV đến nửa đầu thế kỉXVIII; từ cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, và nửa sau thế kỉ XIX Một sốtác giả khác thì chia văn học trung đại Việt Nam thành các giai đoạn: Từ thế kỉ X
đến thế kỉ XVII, từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX Quan điểm phân kì văn họcmới nhất hiện nay và mang tính khoa học hơn cả là chia văn học trung đại ViệtNam thành bốn giai đoạn: từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV, từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII,
từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX và giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX
1.1.2 ứng với mỗi loại hình văn học có một loại hình tác giả nhất định Loại hình
tác giả văn học trung đại là một loại hình độc đáo Các nhà nghiên cứu văn họctrung đại từ lâu đã chú ý đến vấn đề này Nhìn từ góc độ loại hình - thể loại sángtác, ở cách nhìn này ta có hai kiểu tác giả trong văn học trung đại Việt Nam: kiểu
Trang 7tác giả thơ và kiểu tác giả văn Kiểu tác giả vận văn, biền văn hay tản văn, có thểxem nh là dạng thức “kiêm nhiệm” của hai kiểu tác giả trên Thực ra một tác giảtrung đại thờng “ kiêm” rất nhiều thứ, nhất là ở hàng “gia” và “ đại gia” nh nhận xétcủa Ngô Thì Nhậm : “là một tác gia lành nghề thì không thể chuyên một loại nào
mà đủ Thơ, phú, ca vịnh, biện luận, kí, chí, tự, bạc, giả thích, biền ngẫu, tán Uẩnsúc ở trong tâm tâm thuật, phát lộ ra đời văn” [20,75] Tuy nhiên, phải nhận rằngkiểu tác giả thơ vẫn là kiểu tác giả cơ bản nhất, bởi kiểu tác giả thơ có trớc, phổbiến ; Giai đoạn văn học trung đại thơ ca phát triển rầm rộ và là đóng góp chính chothành tựu văn học dân tộc
Nhìn từ góc độ ý thức hệ t tởng, văn hoá, ta thấy có hai kiểu tác giả chủ yếutrong văn học trung đại Việt Nam : kiểu tác giả Thiền gia ( xuất hiện sớm nhất) vàkiểu tác giả Nho gia “ kiểu tác giả Thiền gia xuất hiện trên văn đàn trong giai đoạnvăn thơ Lý- Trần và có nhiều thành tựu nổi bật, về sau vai trò của kiểu tác giả nàyphai mờ dần Việc kiểu tác giả Thiền gia chỉ giữ đợc vai trò nổi bật trong thơ văngiai đoạn Lý – 2005 Trần cũng có nguyên do từ điều kiện văn hoá, t tởng, chính trị củathời đại Trong giai đoạn đó dù vẫn tồn tại thế Tam giáo đồng nguyên song Phậtgiáo lại đóng vai trò quốc giáo Các nhà s đợc tham gia vào triều chính và trở thànhrờng cột quốc gia Sự thăng hoa của Phật giáo ảnh hởng mạnh mẽ đến văn học Córất nhiều bài kệ ở chốn tu hành giàu rung cảm với tạo vật, với con ngời, với nhândân và cuộc sống nơi trần thế” [ 25,9] “kiểu tác giả chịu ảnh hởng của t tởng Nhogia là kiểu tác giả cơ bản nhất trong văn học trung đại Việt Nam Suốt chín thế kỉ,kiểu tác giả này vẫn luôn tồn tại và càng về sau càng giữ vị trí độc tôn, xây dựngnên những giá trị nghệ thuật đặc sắc cho nền văn học dân tộc” [25,10]
Từ kiểu tác giả Nho gia, một số nhà nghiên cứu đã phân chia thành 3 loại( cũng chỉ là tơng đối, vì không có loại nào thuần thành): nhà nho hành đạo, nhànho ẩn dật và nhà nho tài tử Còn có những cách phân loại khác, nhng xem ra cáchphân loại trên có vẻ dễ đợc chấp nhận hơn Điều quan trọng là với cách phân loạinày ( cũng sát hợp với thực tiễn sáng tác của nhà nho Việt Nam), ngời nghiên cứu
có điều kiện hơn trong nhìn nhận, khái quát những biểu hiện đa dạng, độc đáo củakiểu tác giả Nho gia Mặt khác, từ đây có thể dễ nhận rõ tính loại hình của kiểu tácgiả nho gia Việt Nam hơn, trong sự đối sánh với kiểu tác giả Nho gia của văn họcmột số nớc trong khu vực có chịu ảnh hởng của Nho giáo
Đối với nhà nho đỗ đạt, vấn đề xuất và xử tơng ứng với hai thái độ ứng xử, hành
và tàng luôn luôn đặt ra, từ đây mà ta có thể khái quát thành hai loại nhà nho hành
đạo và ẩn dật – 2005 hai loại hình đợc coi là chính thống, và có thể luôn thay đổi cho
Trang 8nhau, lắm khi diễn ra ngay trong cùng một nhà nho Cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội,bối cảnh không gian, thời gian tồn tại cho từng loại có nhiều điểm rất khác nhau Nhà nho hành đạo muốn thực hành những nguyên tắc đạo lí của Nho giáo, sẵnsàng dấn thân nhập cuộc thực hiện lí tởng “ trí quân trach dân”, mong ớc một xã hộiphong kiến mẫu mực theo mô hình Nghiêu, Thuấn Hình tợng tác giả hiện lêntrong sáng tác của họ luôn với t cách là con ngời hành động, thực tiễn, u thời mẫnthế, sẵn sàng xả thân thủ Nghĩa sáng tác của nhà nho hành đạo mang đậm màusắc đạo lí, mang tính quy phạm cao, quy phạm trên cả hai phơng diện nội dung, t t-ởng và hình thức, thể loại, ngôn ngữ
Nhà nho ẩn dật lại nh là một biểu hiện đối cực của loại nhà nho hành đạo, họphủ nhận việc “hành đạo” ( loại hành đạo “ Ngu trung”, thiếu tỉnh táo) Tác giả ẩndật (không chỉ có riêng nhà nho) trong văn học việt nam có thể kể từ Huyền Quang-Lý Đạo Tái, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàm, Nguyễn Dữ, ĐếnNgô Thế Lân, Nguyễn Thiếp,Nguyễn Khuyến Đề cao và bảo toàn danh Tiết là đặc
điểm cơ bản, chủ đạo trong ý thức, t tởng của tác giả ẩn dật Để thực hiện điều nàytrớc hết họ tìm đến một môi trờng, một không gian “vô trần”, cô tịnh, tránh mọimối liên hệ xã hội (thực ra cũng khó tránh đợc những dăng mắc của lới đời, không
ít trờng hợp phải chấp nhận bi kịch Câu chuyện s Huyền Quang và nàng ĐiểmBích, giấc mơ làm một Đào Tiềm của Yên Đổ là những bằng chứng sinh động cho
bi kịch vừa nêu) Họ coi thờng danh lợi, “ quên” cả dòng thời gian thế sự vì “ trongnúi không có lịch”, tự nhận về mình bao nhiêu thứ “ dại dột”, “ ngu hèn”, ( chỉ làmột cách nói phản ngữ) Hình tợng nhà nho giữ Tiết là hình tợng đẹp nhất trongsáng tác của tác giả ẩn dật
Khác với hai loại trên, nhà nho tài tử ra đời muộn hơn ( từ thế kỉ XVIII ) khitrong xã hội đã xuất hiện những yếu tố mới : đô thị, t tởng thị dân, con ngời, pháthiện ra mình là một thực thể tồn tại thực sự với những nhu cầu, khát vọng sống cánhân, Nhà nho tài tử , gốc, dĩ nhiên vẫn là nhà nho nhng ngày càng xa rời, nhữngquy phạm, chuẩn mực khắt khe giáo điều của đạo lí Nho giáo Giá trị cao nhất trongquan niệm về con ngời, về nhân sinh đối với họ là Tài và Tình, Tài gắn liền vớiTình, với sắc với hởng thụ Chính họ là lớp nhà nho tạo nên trào lu nhân đạo chủnghĩa độc đáo trong văn học nửa sau thế kỉ XVIII – 2005 nửa đầu thế kỉ XIX Vàonhững năm cuối cùng cuả thế kỉ XIX – 2005 đầu thế kỉ XX, với những : Dơng Khuê,Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, tác giả nhà nho tài tử lại tiếp bớc lớp trớc, chuẩn bị một
số tiền đề quan trọng, ít nhiều góp phần cho sự xuất hiện kiểu tác giả lãng mạntrong văn học Việt Nam khi chuyển đổi từ phạm trù văn học trung đại sang hiện
Trang 9đại Đóng góp của kiểu tác giả nhà nho tài tử cho văn học Việt Nam trên nhiều
ph-ơng diện (t tởng, đề tài, thể loại, ngôn ngữ, phong cách) là hết sức lớn lao
1.2 Văn học nửa sau thế kỉ XIX – 2005 giai đoạn cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam :
Dẫu phân chia theo cách nào thì chúng tôi vẫn xem giai đoạn nửa sau thế kỉXIX là một giai đoạn văn học với đầy đủ ý nghĩa khoa học của khái niệm này Giai
đoạn nửa cuối thế kỉ XIX trong văn học Việt Nam, về lịch sử bắt đầu bằng sự kiệnthực dân Pháp xâm lợc nớc ta và nhân dân ta tiến hành cuộc chiến đấu chống xâm l-
ợc, kết thúc bằng sự kiện cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống xâm lợc tạm thời bịthất bại, thực dân Pháp bắt đầu công cuộc khai thác thuộc địa của chúng Về vănhọc, giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX bắt đầu bằng thơ văn yêu nớc của Nguyễn ĐìnhChiểu và kết thúc bằng thơ văn tố cáo hiện thực của Tú Xơng, Nguyễn Khuyến Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX là giai đoạn cuối cùng của thời kì thứ nhấttrong lịch sử văn học dân tộc, có thể gọi là thời kì văn học đợc sáng tác dới sự chiphối của ý thức hệ phong kiến Những quy luật của văn học trung đại trong thời kìphong kiến đến giai đoạn này vẫn còn phát huy tác dụng, mặc dù nó bị khúc xạ do
điều kiện lịch sử mới có những nét đặc thù khác với các giai đoạn trớc
1.3 Có thể nói ở bất cứ loại hình nhà nho nào, họ cũng thờng hay cảm hoài Thơ cảm hoài trong văn học Việt Nam trung đại và trong văn học“ ”
nửa sau thế kỉ XIX :
1.3.1 Khái niệm thơ “cảm hoài” và mạch thơ cảm hoài:
“ Cảm hoài” là một từ gốc Hán, nghĩa là: nỗi lòng, cảm xúc Thơ “cảm hoài” làloại thơ dùng để bày tỏ nỗi lòng của tác giả, thờng đợc các tác giả làm sau khi chíkhông thực hiện đợc “Cảm hoài” là một trong số những khái niệm xuất hiện nhiềunhất trong văn học Việt Nam trung đại, kể cả ở hai loại t duy “ chính luận” và thẩmmĩ
Theo T.S Biện Minh Điền : “Khái niệm “ngôn chí” vốn xuất phát từ mệnh đề
“thi dĩ ngôn chí” của Trung Quốc đã có từ hàng nghìn năm trớc Các nhà thơ ViệtNam dờng nh không ai mà không nói đến (hoặc bằng nghị luận, hoặc bằng cảmxúc, hình ảnh thơ) rằng: “Thơ là để nói chí” Vấn đền là “chí” đặt ở đâu nh NguyễnBỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan đã từng bàn đến Các tác giả trung đại Việt Nam
có thể đặt “chí” trớc nhiều bối cảnh, tình huống, quan hệ khác nhau, nhng nhìnchung, vẫn u tiên hơn cho việc đặt nó trớc quan hệ với nghĩa lớn, với vận mệnh đấtnớc; và vũ trụ, càn khôn luôn luôn là không gian lí tởng cho sự hiện diện của conngời “ hữu chí”; “ nam nhi chí”:
Trang 10Nam nhi tự hữu xung thiên chí,
Hu hớng Nh Lai hành xứ hành.
( Quảng Nghiêm thiền s)
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.
(Phạm Ngũ Lão)
Chí làm trai nam bắc đông tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
(Nguyễn Công Trứ)
Thử sinh dĩ phụ tang bồng chí,
Mạc tác đồ ng lão giản biên.
( Đời này đã phụ chí tang bồng,
Đừng có làm con mọt già ở nơi sách vở.)
( Nguyễn Xuân Ôn)
Có thể nói “ mô hình” thẩm mĩ Nam nhi chí với các chuẩn mực giá trị nghĩa,tiết, vẫn là “mô hình” thẩm mĩ có sức hấp dẫn, khái quát lớn trong văn học trung
đại Việt Nam, đặc biệt là văn học nhà nho” [4,67]
đến việc hình thành bài thơ cảm hoài: “ Khi chí không thực hiện đợc, các nhà thơthờng gặp nhau ở mạch thơ cảm hoài, nhất là trong thời loạn, buổi “quốc phá giavong” [ 4,67-68]
Mạch thơ cảm hoài là một mạch thơ bi tráng, đầy xúc động, trải dài từ ĐặngDung (?- 1413) đến Phan Đình Phùng (1847-1895) và không dừng lại ở đó Sang
đầu thế kỉ XX, mạch thơ “ cảm hoài” lại đợc “ sống lại” thật da diết trong thơ vănnhà chí sĩ ( lớp nhà nho đi làm cách mạng) dới nhiều tên gọi ( thi đề) : “ cảm hoài”,
“ cảm tác”, “ cảm hứng”, “ cảm ngâm”, “ cảm đề”, “ vô đề”, “ hoài cổ”, “tâm sự”, “tuyệt mệnh”
1.3.2 Thơ cảm hoài trong văn học Việt Nam trung đại trớc khi bớc vào chặng đờng
cuối cùng:
Thơ cảm hoài xuất hiện trong văn học từ rất sớm và tạo thành một mạch thơ bi
tráng, đầy xúc động Bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung ( ?-1413) có thể coi là bài
thơ mở đầu cho loại thơ này Trong khoảng 10 năm đầu, sau khi giặc Minh hoàntoàn chiếm đợc nớc ta( 1407), các cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ liên tiếp nhng đềuthất bại.Nổi bật là cuộc khởi nghĩa của Trần Giản Định và Trần Trùng Quang kéodài đến sáu năm (1408-1413) Phong trào đã có lúc ở thế áp đảo giặc, nhng cuối
Trang 11cùng vẫn bị dập tắt, mà một trong những nguyên nhân chính là thiếu một ng ời lãnh
đạo biết nhìn xa trông rộng Hai ông vua “ Hậu Trần”, linh hồn của cuộc khởinghĩa, thì tiếc rằng lại không phải là những con ngời đủ tài cán mà đất nớc trôngcậy Dù sao, cuộc khởi nghĩa cũng để lại những âm vang sâu rộng, mà một trong
những âm vang đó, về phơng diện văn học là bài thơ Cảm hoài nổi tiếng của Đặng
Dung Bài thơ nh sau:
Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca ! Thời lai đồ điếu thành công dị,
Sự khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chúa hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà!
Quốc thù vị báo hà thiên bạch,
Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma.
( Việc thế lôi thôi tuổi tác này, Mênh mông trời đất hát và say Gặp thời, đồ điếu thừa nên việc,
Lỡ vận, anh hùng luống nuốt cay.
Giúp chúa những lăm dựng cốt đất , Rửa đòng không thể kéo sông mây Quốc thù cha trả già sao vội , Dới nguyệt mài gơm đã bấy chày )
(Vân Trình dịch thơ) Đặng Dung là con của Đặng Tất, cả hai cha con đều là những chiến tớng dũngcảm, có tài và nhiệt thành yêu nớc Lúc đầu ông theo cha chiến đấu dới ngọn cờ củaGiản Định Đế Nhng rồi Giản Định nghi kị, giết Đặng Tất giữa lúc ông thắng trậnBô- cô lẫy lừng Một phần, tức giận vì cha chết oan, nhng phần khác, có lẽ nhìn rõ
sự bất tài của Giản Định, nên Đặng Dung đem quân về Thuận Hoá cùng các tớnglập Trần Quý Khoáng lên làm vua.Từ đó, ông giữ một vai trò quan trọng trong lực l-ợng của nghĩa quân Suốt bảy năm xông pha trận mạc, mấy lần ông giáp chiến vớitên tớng giặc đầu sỏ Trơng Phụ và đã có lần suýt bắt đợc y Nhng vì không có quântiếp ứng nên Phụ đánh quật lại; Đặng Dung đang thắng hoá thua, phải rút chạy vàorừng Sau lần đó, lực lợng nghĩa quân yếu hẳn rồi tháng chạp năm 1413 ông bị Tr-
ơng Phụ bắt Tháng t năm sau, ông bị giải về Yên-Kinh cùng Trần Trùng Quang và
Trang 12Nguyễn Suý Giữa đờng Trùng Quang nhảy xuống sông tự tử, Đặng Dung cũng chếttheo.
Bài thơ Cảm hoài có lẽ đợc làm vào những ngày cuối cùng của cuộc kháng
chiến, khi Đặng Dung phải ẩn náu trong rừng Bài thơ nh tổng kết những điều suy t
về cả quá trình cầm quân đánh giặc của chính tác giả ở đây nhức nhối một niềmuất hận: Tuổi tác, tháng ngày chẳng còn bao lăm mà sự nghiệp lớn vẫn cha thành.Hơn thế, tác giả còn cảm thấy rất rõ cuộc khởi nghĩa khó bề thắng lợi Tuy nhiên,ngời anh hùng chí vẫn không sờn, vẫn bao lần đem gơm báu mài dới bóng trăng.Vàmặc dù vô vọng, một câu hỏi vẫn day dứt không thôi: Việc đời bề bộn, làm thế nào? Thực ra đây là những dòng tâm sự Nhng nó đã vợt ra ngoài khuôn khổ nhữngsuy t riêng của cá nhân Đặng Dung, mà trở thành tiếng nói tiêu biểu cho một thế hệ,trong một giai đoạn lịch sử Đó là nổi uất giận, nuối tiếc của những ngời đã cốnghiến trọn đời mình cho cuộc đánh giặc cứu nớc nhng không thanh công, nh NguyễnCảnh Dị, Nguyễn Biểu, Trần Trùng Quang, Bài thơ vì vậy trở thành một tác phẩmnổi tiếng trong dòng văn học yêu nớc thời thuộc Minh và đợc Lý Tử Tấn ngợi khen:
“ không phải bậc hào kiệt không thể làm đợc” Lý Tử Tấn nhận thấy sự thống nhấtgiữa ngời anh hùng cứu nớc và nhà thơ yêu nớc trong con ngời Đặng Dung Nh vậycũng có nghĩa là bài thơ đã phản ánh đợc chân thực cuộc đời hoạt động phò vua cứunớc và khí phách anh hùng của tác giả Lời nhận xét ấy về sau đợc Lê Quý Đôn trân
trọng ghi lại khi ông biên soạn Toàn việt thi lục.
Lịch sử văn học Việt Nam có những hiện tợng trùng hợp lý thú: Trong cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên ở thế kỷ XIII, Phạm Ngũ Lão có bài Thuật Hoài
và hơn một thế kỉ sau, trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, Đặng Dung lại có
bài Cảm hoài Cả hai tác giả đã trở thành bất tử vì những lời thơ bày tỏ tâm tình ấy.
Họ giống nhau và cũng rất khác nhau Điểm gặp nhau trong hai bài thơ là tấm lòng
yêu nớc son sắt và ý chí chiến đấu bền vĩ Nếu ở bài Thuật hoài nổi lên hình ảnh
ngời anh hùng đã mấy năm cầm ngang ngọn giáo mà vẫn canh cánh bên lòng món
nợ non sông cha trả, thì trong bài Cảm hoài là hình ảnh ngời tráng sĩ bao đêm mài
gơm dới trăng với niềm thao thức “Quốc thù nớc cha trả già sao vội” Còn sự khácnhau chính là ở hoàn cảnh và thời thế Có thể trách Đặng Dung sao thiếu khí thếhiên ngang và tinh thần lạc quan của Phạm Ngũ Lão; Trách ông sao quá bi quan
đem cả “ Đất trời mênh mông ném trọn vào khúc ca say” ? Song nếu hiểu kĩ cuộc
đời tác giả sẽ tìm thấy nguyên nhân đích thực dẫn đến tâm trạng chua xót ấy Mở
đầu bài thơ, tác giả nhắc đến tuổi già: Việc đời dằng dặc, biết làm thế nào khi mình
đã tuổi tác ?
Trang 13Lúc này có lẽ Đặng Dung không còn trẻ nữa, nhng có phần chắc không phải
ông đã già đến nổi không thể làm nên việc lớn Nguyên nhân của sự thất bại ở ngoàitài năng và sự nổ lực của con ngời :
Gặp thời, anh đồ tể, kẻ đi câu cũng thành công dễ dàng
Lỡ vận, ngời anh hùng nuốt nhiều tủi hận.
Có thể nói hai câu “ thực” này của bài thơ là những kết luận đã đợc rút ra từnhững kinh nghiệm thực tế đầy máu và nớc mắt Bảy năm trời cầm quân đánh giặccứu nớc, cha con Đặng Dung, và nói rộng ra, cả hàng ngũ tớng soái của nghĩa quânkhông ai bất tài Chiến thăng Bô - cô của Đặng Tất ngày 14 tháng chạp năm 1408giết hai tớng giặc, phá tan mời van quân Minh, chỉ một mình Mộc Thạch chạythoát, tởng chừng đã có thể hẹn ngày khôi phục giang sơn Nhng bỗng chốc tình thế
đổi khác chỉ vì một sự nghi kị ngu ngốc: “ Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất chuyênquyền bỏ quan, cất chức, nếu không tính sớm sau này khó lòng kiềm chế” (Đại việt
sử ký toàn th) Cách c xử thiển cận và vô lý của Giản Định mãi mãi còn khiếnnhững ngời đọc sử đời sau vừa thơng, vừa tiếc, vừa tức giận nh Đặng Minh Khiêmtrong bài thơ vịnh Đặng Tất :
“Đánh xong trận Bô- cô, nếu cứ dốc lòng nhắm mắt vào kẻ thù mà ruổi tới,
Thì cơ nghiệp họ Trần đã có thể hẹn ngày trùng hng
Tiếc thay, cây cột chống trời bị phá đổ
Khiến cho cơ đồ vừa mới nhóm đã tan thành tro bụi ”
Nếu nh Đặng Tất có chiến thắng Bô - cô thì Đặng Dung cũng có chiến tranh ởkênh Thái – 2005 dà mà sử sách còn ghi những trang đầy tự hào : “Mùa thu, tháng chín,bọn Trơng Phụ nhà Minh cùng Nguyễn Suý đánh nhau ở kênh Thái – 2005 dà QuânNam, quân Bắc đơng cầm cự nhau, Đặng Dung phục sẵn quân và voi, ban đêm
đánh úp dinh của Phụ Dung nhảy lên thuyền của Phụ, muốn bắt sông Phụ màkhông nhận ra ngời Phụ vội đi thuyền nhỏ trốn thoát Quân Minh tan vỡ đến mộtnửa Thuyền ghe khí giới đốt phá gần hết.”
Tài của Đặng Dung không thua kém Trơng Phụ, nhng một bộ phận đầu não củacuộc kháng chiến thiếu một nhân tố có bản lĩnh đủ sức sáng tạo nên sự gắn bó “trêndới một lòng”nh thời Trần Nhân Tông hoặc sức thu hút “dân chúng bốn phơng” nhcuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau đó Và đây chính là điều đã dẫn tới tình thế làm lỡthời cơ mà Đặng Dung gọi là “sự khứ”, một thực tế lịch sử mà trong những điềukiện cụ thể bấy giờ không dễ gì khắc phục đợc Cho nên, tâm trạng bi kịch nảy sinhcũng là điều đơng nhiên :
Giúp chúa, những mong chống đỡ trục đất,
Trang 14Nhng không có cách nào kéo sông Ngân để rửa giáp binh ? Sáu câu đầu của bài thơ dồn dập những bi phẫn, day dứt và uất hận Cho đến câu
thứ bảy vẫn còn là nỗi xót xa :
Quốc thù cha trả già sao vội
Xu hớng của bài thơ tởng chừng chỉ có sự bày tỏ nỗi đắng cay xuôi chiều của mộttấm lòng yêu nớc thiết tha, đã gắng hết sức mình để giành lại “trời đất mênh mông”
từ tay giặc, nhng đành nuốt hận vì việc lớn hỏng mất rồi Song không phải chỉ cóthế Nếu bảy câu trên của bài thơ diễn tả tâm trạng chìm đắm trong suy t thì đối lại,câu kết nổi bật lên hình ảnh con ngời hành động kiên nghị, không thôi hi vọng,không cam chịu thua: Đã bao phen mài gơm long tuyền dới bóng trăng Câu thơ này
là điểm sáng của bài thơ Nó đem lại cho ngời đọc niềm tin ở ý chí bất khuất củangời anh hùng trớc mọi hoà cảnh Đó cũng chính là sự khác biệt giữa ngời anh hùng
đã gắn bó cả cuộc đời mình với vận mệnh dân tộc của Đặng Dung và những kẻcũng mang danh anh hùng nhng tài năng, trí lực lại chỉ cốt phục vụ cho tham vọngbá vơng của mình nh Hạng Võ
Đặng Dung thất bại trong cuộc chiến đấu nhng bài thơ Cảm hoài của Đặng
Dung không phải là một bài thơ thua ở đó mãi mãi sáng ngời hình ảnh ngời anhhùng đã trọn đời cống hiến cho sự nghiệp cứu nớc Dù đầu bạc, dù tình thế khókhăn ngay cả lúc đã nắm chắc phần thất bại, chí vẵn không sờn ở đấy cũng toát raniềm uất hận nh một lời kêu gọi những thế hệ sau tiếp bớc Và đó chính là nhữngyếu tố làm nên giá trị bất hủ của tác phẩm Sau Đặng Dung và trớc chặng đờng cuốicùng của văn học trung đại Việt Nam, thơ “cảm hoài” còn xuất hiện nhiều trongsáng tác của: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Bà Huyện ThanhQuan,
Có thể thấy thơ “ cảm hoài” trớc khi bớc vào chặng đờng cuối cùng của văn họctrung đại Việt Nam đã trở thành một mạch thơ lớn, bi tráng và đầy xúc động
1.3.3 Thơ “cảm hoài” trong văn học nửa sau thế kỷ XIX, những cảm nhận bớc đầu.
Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX không phát triển theo một khuynh hớngduy nhất Cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp quyết liệt và phức tạp, cách nhìn vàthái độ của các tầng lớp ngời trong xã hội đối với các vấn đề thời sự đặt ra trớc mắtkhông giống nhau Văn học một sản phẩm tinh thần của xã hội, phản ánh cuộc đấutranh giai cấp trong xã hội, tất phải chia ra làm nhiều khuynh hớng (khuynh hớngvăn học yêu nớc chống Pháp, khuynh hớng văn học hiện thực- trào phúng, khuynhhớng văn học hởng lạc thoát li, khuynh hớng văn học “nô dịch” ) Nhng hầu hết các
Trang 15khuynh hớng các tác giả đều bày tỏ nỗi lòng đau đớn, xót xa của mình trớc bi kịchcủa thời đại, bi kịch lịch sử.
Do dung lợng của luận văn, khi nghiên cứu chúng tôi chỉ đi sâu vào thơ “cảm
hoài” của một số tác giả tiêu biểu, mặc dù thi đề Cảm hoài xuất hiện nhiều trong
thơ Hợp tuyển thơ văn yêu nớc: nửa sau thế kỉ XIX tập hợp thơ của 51 tác giả có
tên tuổi kèm với sáng tác thì hầu nh tất cả đều có thơ “cảm hoài” Tuy vậy, chúngtôi chỉ khảo sát một số tác giả đại diện cho những khuynh hớng chủ yếu Đó là cáctác giả: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng (đại diện chokhuynh hớng văn học yêu nớc), Nguyễn Khuyến ( đại diện cho khuynh hớng vănhọc hiện thực – 2005 trào phúng) Tổng số tác phẩm của các tác giả này đợc tuyển chọnvào hợp tuyển là 43 thì trong đó có tới 35 bài thuộc loại thơ “cảm hoài” Với con số
35 bài, chúng tôi thấy đợc nửa sau thế kỉ XIX là một giai đoạn văn học bi tráng,mạch thơ “cảm hoài” trong giai đoạn này chứa đựng bao điều lớn lao, cao cả, mang
ý nghĩa xã hội – 2005 thẩm mĩ rộng lớn
Trang 16Chơng 2 :
Những nội dung đặc sắc của thơ “cảm hoài”
trong văn học nửa sau thế kỉ XIX2.1 Cơ sở xã hội – 2005 thẩm mĩ của mạch thơ cảm hoài trong văn học nửa sau“ ”
thế kỉ XIX:
Dã tâm xâm chiếm nớc ta của thực dân Pháp bộc lộ từ cuối thế kỉ XVIII Nhng
âm mu xâm chiếm của Pháp nửa chừng bị dừng lại vì cuộc cách mạng t sản
1789-1794 và vì một loạt biến cố khác Mãi đến giữa thế kỉ XIX, con bạch tuộc chủ nghĩathực dân mới lại thò vòi sang các nớc phơng Đông ( trong đó có Việt Nam) Tiếngsúng bắn vào cửa biển Đà Nẵng ngày 1 tháng 9 năm 1858 của thực dân Pháp khôngnhững đã mở màn cho cuộc xâm lợc chính thức nớc ta mà còn báo hiệu nhữngchuyển biến lớn lao ( theo hớng tiêu cực ) trong lịch sử Việt Nam Việc thực dânPháp xâm lợc nớc ta là một sự kiện lịch sử rất mới, bởi đây là một kẻ thù hoàn toànkhác với những kẻ thù trớc đây đã đến xâm lợc dân tộc Thực dân Pháp lúc bấy giờ
có đủ t cách đại diện cho nền công nghiệp t sản cận đại ( ngay từ những năm 30 củathế kỉ XIX, Pháp đã đi trớc Anh trên con đờng đại công nghiệp ) Sự có mặt củachủ nghĩa thực dân trên đất nớc ta đã gây ra những đảo lộn cha từng có trong đờisống dân tộc, trên nhiều phơng diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,
Cuộc xâm lợc của thực dân Pháp đã tạo nên một sự phân hoá lớn trong trạngthái tâm lí của các giai cấp mà sự phân hoá sâu sắc nhất chính là trong hàng ngũgiai cấp phong kiến ( giai cấp thống trị cũ của xã hội) mà đứng đầu là triều đình nhàNguyễn Một không khí hoảng loạn bao trùm lấy triều đình, vua Tự Đức thì lúngtúng do dự, bầy tôi phần lớn thì sợ sệt, ham sống sợ chết và rồi cứ trợt dần mãi trêncon đờng thoả hiệp, đầu hàng và thất bại chủ nghĩa Trong triều đình hình thànhnhiều phái, có phải chủ hoà, có phái chủ chiến, có phái chờ cơ hội đợi thời, tự an ủibằng lạc lõng Có thể nói, Giai cấp phong kiến lãnh đạo mà đứng đầu là triều đìnhnhà Nguyễn ngay từ đầu đã bỏ rơi vai trò dân tộc, vị trí dân tộc của mình Triều
đình nhà Nguyễn đã “vén ống tay áo” kí hết hiệp ớc này đến hiệp ớc khác (thựcchất đó là những hàng ớc nhục nhã) Cho đến hiệp ớc Patenotre năm 1884, chúng đãdâng hoàn toàn nớc ta cho giặc Từ đây chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành.Chế độ ấy ngày một đầy rẫy những xấu xa, đồi bại, lai căng, phản dân tộc, xuấthiện những tên bồi bếp đắc lực đợc Pháp cất nhắc lên chức tổng đốc, những gái đĩ
me tây đợc phong hàm quan tỉnh, những tên đao phủ đầm đìa máy nhân dân trởthành trụ cột của triều đình, còn những ngời yêu nớc thơng nòi thì bị chém giết tù
Trang 17đày, phải chốn tránh lẫn lút Trong tình hình nh vậy, tất nhiên đạo đức Khổng,Mạnh bị tấn công và dần dần đổ vỡ, “phá sản” Quang cảnh xã hội đảo điên đầy lốlăng bỉ ổi cuối thế kỉ XIX là biểu hiện cụ thể cho sự đổ vỡ ấy.
Phải trải qua gần 40 năm thực dân Pháp mới đạt đợc ách thống trị trên đất nớc
ta Chúng lần lợt chiếm ba tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Kì Nam Kì là đất bịchiếm trớc tiên, những chính sách áp bức bóc lột cũng nh chính sách văn hoá nôdịch, thực dân đem thi hành ở đấy sớm hơn Trung và Bắc Kì, nhng nói chung nhữngbiến chuyển về kinh tế, trong nớc mới là bắt đầu Chỉ từ năm 1897 trở đi thực dânPháp bớc vào thời kì tổ chức và khai thác quy mô, quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩadới hình thức thuộc địa mới dần dần hình thành, song song với những biện phápchính trị, chính sách văn hoá nô dịch mới đợc thực dân đẩy mạnh nhằm mục đíchcũng cố nền thống trị của chúng
Trong khi giai cấp phong kiến đi vào con đờng thoả hiệp đầu hàng, thì vai tròcủa nhân dân lại sáng ngời trên vũ đài lịch sử Nhân dân Việt Nam vốn có truyềnthống yêu nớc, đợc tôi luyện qua nhiều cuộc chiến đấu chống ngoại xâm suốt hàngnghìn năm lich sử, nên rất nhạy bén về cảm quan yêu nớc, sẵn sàng có giặc là đánh,không sợ hy sinh, không tiếc xơng máu Mặc dù trong cuộc kháng chiến chốngPháp, nhân dân ta cha phải là ngời nắm quyền lãnh đạo tất cả các cuộc kháng chiếnchống Pháp nhng họ tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bền bỉ gan dạ, tiêu biểu chokhí phách, bản lĩnh của dân tộc
Tinh thần anh dũng bất khuất, tinh thần chịu thơng chịu khó của dân tộc thì
đúng là của nhân dân lao động Ngời nông dân vốn đã từng đi theo Trần QuốcTuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ ngày xa đánh đuổi ngoại xâm thì đến giai đoạn này trớcnguy cơ mất nớc, họ vì “ mến nghĩa mà làm quân chiêu mộ”, cùng những phần tử u
tú của giai cấp phong kiến đứng lên chống Pháp đến cùng Một cuộc đụng đầu lịch
sử cha từng có diễn ra : cuộc đụng đầu giữa “ rơm con cúi, lỡi dao phay, gập tầmvông” với “tàu thiếc, tàu đồng, đại bác”, “ súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ” những nghĩa quân Cần Giuộc “ đạp rào lớt tới coi giặc cũng nh không” là hiện thânsức mạnh quật khởi của dân tộc trớc cơn thử lửa ác liệt Có một hào khí Đồng Naitựa nh hào khí Đông A thủơ trớc ( thế kỉ XV), nhng “ rơm con cúi, lỡi dao phay”chọi với “ tàu thiếc, tàu đồng , đại bác”, “ lòng dân” chọi với “súng giặc”, khó màtránh khỏi bi kịch Kẻ thù đi dến đâu là gieo tang tóc đau thơng đến đó Tiến sâuvào nớc ta, tội ác của kẻ thù bày ra la liệt dới mỗi bớc đi của chúng Ngay từ nhữngngày đầu chống thực dân Pháp đánh vào Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu đã phải thốtlên một cách bàng hoàng :
Trang 18Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dát bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nớc,
Đồng Nai tranh ngói nhuộm màu mây.
(Chạy giặc)
Những cảnh đau thơng, tang tóc nh : cảnh tra tấn, tù đày, chém giết, cảnh mẹ góacon côi, cảnh nhà tan cửa nát diễn ra thờng ngày, khi Pháp đến nớc ta:
Chùa Tân Thạnh năm canh ng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nớc đổ.
Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trớc ngõ
( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc )
Ngay từ những ngày đầu xâm lợc thực dân Pháp đã gặp phải sự kháng cự quyếtliệt của nhân dân ta Khi thực dân Pháp đánh vào Đà Nẵng, trong khi triều đình cònlúng túng thì nhân dân đã tỏ rõ ý chí quyết tâm đánh giặc ở địa phơng Phạm GiaVĩnh lãnh đạo nghĩa binh sát cánh với quân đội triều đình chống lại cuộc tấn côngcủa giặc từ bán đảo Sơn Trà ở nhiều nơi tại Nam Bộ nhân dân tự đắp đê để cảnphá tàu giặc, tự đốt nhà cửa, dời đi nơi khác, bất hợp tác với giặc Phong trào khángPháp nỗ ra ở khắp nơi khi Pháp chiếm Gia Định ở Tân An có Trơng Định, ĐồngTháp Mời có Thiên Hộ Dơng
Thực dân Pháp đánh ra Miền Bắc và Miền Trung thì phong trào đánh giặc của
đây cũng không khác gì ở Nam Bộ Thực dân Pháp đánh Hà Nội, nhân dân Hà Nộichiến đấu anh dũng nh nhân dân Gia Định Trong hàng ngũ trí thức cũng đã cónhiều tấm gơng chiến đấu dũng cảm và hi sinh vì sơn hà xã tắc.Chân lí làm nên lịch
sử với tinh thần thà chết không chịu mất nớc, thà chết không chịu làm nô lệ, có thểnói cha bao giờ đợc phát huy cao độ nh lúc này Tổng đốc Nguyễn Tri Phơng bị th-
ơng nặng ở bụng nhịn ăn mà chết Tổng đốc Hoàng Diệu tự thân dẫn tớng sĩ xônglên thành cản giặc, khi thành vỡ,đã thắt cổ tự tử, không để rơi vào tay kẻ thù Chính phong trào kháng Pháp của nhân dân ta đã có sức thu hút các văn thân,
sĩ phu đứng về phía đại nghĩa của dân tộc mà kháng chiến dới danh nghĩa Cần
V-ơng và họ đã tạo nên một phong trào Cần VV-ơng bi tráng
Phong trào Cần Vơng là một phong trào chống Pháp do vua Hàm Nghi- một
ông vua yêu nớc cùng phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu, rút khỏi kinhthành Huế phát chiếu Cần Vơng Cần Vơng có nghĩa là giúp vua, theo giải thích của
Đặng Thai Mai là “mang quân đi cứu viện nhà vua” (tuy nhiên cần hiểu vua ở đây
Trang 19là vua yêu nơc) Đây thực chất là một phong trào yêu nớc chông Pháp nhng phải dớidanh nghĩa Cần Vơng do tình thế của lịch sử lúc bấy giờ
Mang trong mình những hoài bão lớn lao, giúp dân, giúp nớc, nhng trong hoàncảnh đất nớc đang “ngàn cân treo sợi tóc” thì những nhà nho yêu nớc nh NguyễnQuang Bích, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng và phần đông những sĩ phu cùngthế hệ đã “tự nguyện”, “đầu bút tòng nhung” cứu nớc hoặc trong t tởng cũng đứng
về phía phong trào kháng chiến theo tiếng gọi Cần Vơng Họ là những nhà nhotrung nghĩa mang những phẩm chất đẹp đẽ nhất của ngời trí thức Việt Nam Chính
họ, những văn thân sĩ phu này sẽ là những tác gia tiêu biểu của văn học giai đoạnnửa sau thế kỷ XIX, đặc biệt là với mạch thơ cảm hoài
Một số trí thức phong kiến khác không đủ dũng khí cầm gơm nhng họ khônghợp tác với giặc, từ quan về nhà sống thanh bạch để giữ khí tiết và làm thơ văn đểnói lên tâm trạng của mình, đã kích những cái xấu xa của xã hội Ngời tiêu biểucho lớp trí thức này là Nguyễn Khuyến Ông là một trong những tác gia tiêu biểucủa văn học nửa sau thế kỷ XIX và cũng với mạch thơ cảm hoài
Nhân dân ta yêu nớc và hết sức anh dũng, đã chứng tỏ đợc khí phách và bảnlĩnh kiên cờng, nhng thế nớc không sao cứu vãn đợc Địch thắng.Ta thua.Vận nớcnghiêng ngửa, nhân dân ly tán, non sông tang thơng Năm 1898, thực dân Pháp vềcơ bản đã bình định xong An Nam, chuẩn bị cho công cuộc khai thác thuộc địa.Nửa sau thế kỷ XIX là thời kỳ lịch sử hào hùng và bi thơng, vĩ đại và khổ nhục củadân tộc Nó nh một cuốn phim hãy còn thấm đẫm máu và nớc mắt cùng kỳ vọngcủa ông cha ta Bối cảnh ấy chi phối sâu sắc đến văn học giai đoạn này, nhất là khinhững ngời trí thức, những sĩ phu yêu nớc lại đồng thời là tác giả, lại là những ngờitrong cuộc hoặc có chứng kiến nếm trải bi kịch của dân tộc, của thời đại Vì vậy tr-
ớc vận nớc nghiêng ngửa nhân dân ly tán, non sông tang thơng họ không khỏikhông đau xót, hay cảm thấy thẹn thùng khi nhận thấy trách nhiệm lịch sử củamình cha hoàn thành ; Hoặc đau đớn thẹn thùng trớc thất bại của mình nhng họ vẫnsống vì nghĩa lớn, vẫn hành động vì nghĩa lớn, không ân hận với việc mình làm, dùthất bại nhng “trăm thất bại không bằng một thành công”, dù không thành công
“không thành công thì cũng thành nhân”
2.2 Nỗi đau khi chí lớn không thành, cơ đồ tan vỡ.
2.2.1 Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là ngời mở đầu cho giai đoạn văn học nửa
sau thế kỷ XIX, là nhà thơ tiêu biểu nhất cho dòng văn học yêu nớc chống Pháp.Ngay từ những ngày đầu, khi thực dân Pháp vừa xâm lợc nớc ta, tuy mù loà nhng
ông vẫn nhìn thấy rõ thời cuộc :nạn ngoại xâm những cuộc chạy giặc của nhân dân,
Trang 20những trang dẹp loạn, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân và sĩ phu yêu ớc Không thể tham gia cùng nghĩa quân nơi sa trờng, ông đã dùng ngoài bút củamình làm vũ khí chiến đấu :
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Với tinh thần :
Học theo ngòi bút chí công Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thu.
Và trong thực tế thì nhà văn – 2005chiến sĩ ấy đã nhận thức phản ánh chân thực vớitinh thần nghiêm túc, trách nhiệm mọi sự kiện biến cố của thời đại Năm 1859 khi
quân Pháp đánh vào Gia Định, tác giả đã viết bài thơ Chạy giặc:
Tan chợ vừa nghe tiếng súng tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay!
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dát bay
đã kết thúc bài thơ bằng một câu hỏi lớn :
Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng ?
Nỡ để dân đen mắc nạn này !
“Trang dẹp loạn”-những kẻ hởng ơn vua lộc nớc, kẻ đợc trời trao cho tráchnhiệm “chăn dân” – 2005 trốn lẫn đâu ? câu hỏi đợc đặt ra với tinh thần phê phán, ámchỉ triều đình nhà Nguyễn vô trách nhiệm với nhân dân
Khi thực dân Pháp cha xâm lợc nớc ta, viết Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu
còn say sa với lý tởng nhân nghĩa, gắn chặt với lý tởng trung quân thì càng về sautrong sáng tác của ông t tởng trung quân càng mờ nhạt Ông vô cùng thất vọng vớivơng triều Nguyễn, khi triều đình từ chổ do dự giữa đánh và hoà, đi đến chổ cắt batỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây và dâng toàn Nam Bộ cho Pháp :
Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa xuân đâu hỡi, có hay không ?
(Ngóng gió đông)
Khi phong trào chống Pháp của các sĩ phu yêu nớc bớc từ chỗ rầm rộ, dần dần
đi vào thất bại, ông ca ngợi nghĩa quân Cần Giuộc, ông thấy họ “sống đánh giặc,thác cũng đánh giặc” đồng thời “sống thờ vua thác cũng thờ vua”, nhng vua đấy chỉ
là vua trong khái niệm lý tởng Hình ảnh một đấng vua lý tởng biết chăm lo cho sơn
hà xã tắc, biết thơng yêu nhân dân bao giờ mới xuất hiện đây ? Câu hỏi tràn đầy nỗi
Trang 21lo và tinh thần trách nhiệm này nh một nỗi niềm khắc khoải cứ ám ảnh ông suốt
đời:
Chừng nào thánh đế ân soi thấu
Một trận ma nhuần rửa núi sông ?
Tội ác của giặc ngày càng chồng chất, dân tình ngày càng khốn khổ, điêu linh :
“kể mời mấy năm trời khốn khó, bị khảo, bị tù, bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết
đếm tên ; đem ba tấc hơi mọn bỏ liều, hoặc sông, hoặc biển, hoặc núi, hoặc rừng,quen lạ thảy đều rơi nớc mắt Khá thơng thay, dân sa nớc lửa bấy chầy, giặc ép dầu
mỡ hết sức ” mà vua quan cứ ngày một vắng bặt tăm hơi, trách nhiệm thuộc về ai
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai
Ai cứu đặng một phờng con đỏ ?
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Vì ai khiến da chia, khăn xé nhìn giang sơn ba tỉnh luống thêm buồn
Biết thuở nào cờ phất trống rung,
Hỡi nhật nguyệt hai vầng sao chẳng đoái ?
(Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh )
Đau xót khi thấy đất nớc bị chia cắt, giặc Pháp dày xéo trên quê hơng mà bảnthân ông không thể làm gì đợc Thơ ông chứa đựng một sự bi phẫn nhng đồng thờicũng mang nặng nỗi lòng cảm hoài u uất trớc thơì cuộc Những câu hỏi hớng ra bênngoài không tìm đợc lời giải đáp nhà thơ lại hớng vào mình Phải chứng kiến cuộckháng chiến ngày càng đi vào thất bại, chứng kiến những điều “trái tai gai mắt”diễn ra nhng không thể làm gì đợc, nhà thơ càng cảm thấy thẹn thùng với chínhmình Một thời ông ca ngợi Lục Vân Tiên, gửi gắm mọi ớc mơ trả nợ nớc non, xâydựng một xã hội phong kiến thái bình và lý tởng vào ngời anh hùng này :
Làm trai trong cõi thế gian Phò đời giúp nớc phơi gan anh hào
(Lục Vân Tiên )
Vậy mà giờ đây, ông phải hoá thân vào một Kỳ Nhân S, tự xông mắt cho mù, đểbất cộng tác với giặc, để khỏi nhìn thấy cảnh quân thù dày xéo quê hơng :
Thà cho trớc mắt mù mù,
Trang 22Chẳng thà ngồi thấy kẻ thù quân thân.
Thà cho trớc mắt vô nhân, Chẳng thà ngồi thấy sinh dân nghiêng nghèo
Thà cho trớc mắt vắng hiu, Chẳng thà thấy cảnh trời chiều phân xâm.
Thà cho trớc mắt tối sầm, Chẳng thà thấy đất lục trầm can qua
(Ng tiều y thuật vấn đáp )
Kỳ Nhân S tài năng, u ái là thế mà cuối cùng cảm thấy mình bó tay, không thểlàm gì đợc trớc thời cuộc, dờng nh hoàn toàn bất lực Bi kịch của Nguyễn ĐìnhChiểu thật não nề, chua xót khi ông hớng câu hỏi vào mình với nỗi thẹn, nỗi đau vò
xé tâm can :
Đã cam chút phận dở dang
“ Trí quân hai chữ mơ màng năm canh”
Đã cam lỗi với thơng sinh Trạch dân hai chữ luống dinh ở lòng
(Ng tiều y thuật vấn đáp )
Nếu nh trong Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã từng giơng cao ngọn cờ nhân nghĩa làm ngọn cờ chiến đấu thì trong Ng tiều y thuật vấn đáp cũng trở lại với
t tởng nhân nghĩa nhng nó không còn là ngọn cờ chiến đấu của nhà thơ nữa, mà làchổ ẩn nấp cuối cùng của ông, một con ngời yêu nớc tha thiết nhng bất lực trớc
cuộc đời Những nhân vật trong Lục Vân Tiên mang t tởng nhân nghĩa sẵn sàng cứu nạn phò nguy, còn bây giờ, những nhân vật mang t tởng nhân nghĩa trong Ng
Nhập Môn đến ông Ng, ông Tiều đều đi ở ẩn, có ngời đi ở ẩn và làm thuốc, “cứu
công hoá đức giúp bầy dân đen” Rõ ràng t tởng nhân nghĩa trong Ng tiều y thuật
vấn đáp không còn tính chiến đấu nh trớc nữa Nhng dù sao trong hoàn cảnh khác
nghiệt của bản thân và của thời thế lúc bấy giờ, mà nhà thơ vẫn cố tìm một cuộcsống có ích, chứ không phải một cuộc sống vô dụng thì điều đó thật cảm động Và
điều cảm động nữa là cho dù Nguyễn Đình Chiểu có không làm đợc việc gì ích lợicho dân cho nớc vì mù loà thì tấm lòng của nhà thơ trớc sau vẫn thuộc về dân về n-
Trang 23ớc, vẫn thuỷ chung son sắt Từ đáy lòng mình, nhà thơ vẫn mơ ớc về một ngày nào
đó đất nớc sẽ hoà bình, non sông về một cõi, nhân dân sẽ đợc sống yên vui :
Ngày nào trời đất an ngôi cũ,
Mừng thấy non sông bặt gió tây
(U Yên đất cũ )
Nguyễn Đình Chiểu giữ vai trò và vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc
Ông không chỉ là ngời mở đầu khai sáng cho dòng văn học chống thực dân phơngTây ngay từ khi chúng vừa đặt chân lên đất nớc ta mà ông còn là ngời mở đầu báohiệu cho “dòng ý thức”-t tởng độc đáo trong văn học nửa sau thế kỷ XIX
2.2.2 Các nhà văn Cần Vơng.
Mục 2.1 đã nêu qua về lớp nhà văn Cần Vơng : Phong trào Cần Vơng là mộtphong trào chống Pháp do vua Hàm Nghi – 2005 một ông vua yêu nớc cùng phái chủchiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu, rút khỏi kinh thành Huế phát chiếu Cần Vơng.Cần Vơng có nghĩa là giúp vua, theo giải thích của Đặng Thai Mai là “mang quân
đi cứu viện nhà vua” (tuy nhiên cần hiểu vua ở đây là vua yêu nớc) Đây thực chất
là một phong trào yêu nớc chống Pháp nhng phải dới danh nghĩa Cần Vơng do tìnhthế của lịch sử lúc bấy giờ
Mang trong mình những hoài bão lớn lao giúp dân, giúp nớc, nhng trong hoàncảnh vận mệnh đất nớc đang ngàn cân treo sợi tóc thì những nhà nho yêu nớc nhNguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng, và phần đông những sĩ phu cùng thế hệ đã “
tự nguyện”, “đầu bút tòng nhung” cứu nớc hoặc trong t tởng cũng đứng về phíatrong phong trào kháng chiến theo tiếng gọi Cần Vơng Họ là những nhà nho trungnghĩa mang những phẩm chất đẹp đẽ nhất của ngời trí thức Việt Nam Chính họ lại
là những tác giả tiêu biểu của mạch thơ cảm hoài giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX
Nguyễn Xuân Ôn (1825-1889) Cảm hoài vì thất bại với non sông Ngay từ
khi thực dân Pháp đánh chiếm vào cửa biển Đà Nẵng, vấn đề “ chiến” và “hoà” đãkhiến cho biết bao sĩ phu phải trăn trở luận bàn thì Nguyễn Xuân Ôn đã là mộttrong số những đại biểu xuất sắc đứng về phía “ chủ chiến”, sau đó hăng hái theotiếng gọi Cần Vơng Ông là một trong những nhà nho nhận thức sâu sắc về tráchnhiệm với xã hội nh một việc nghĩa nhất thiết phải làm Nhng có lẽ cũng cha có mộtthời kỳ nào mà trong ngời anh hùng ái quốc lại xuất hiện những nghịch lý trớ trêu
nh thời kỳ này : biết bao lãnh tụ kháng chiến không đủ sức đơng đầu với sức mạnhbạo lực của kẻ thù đã hy sinh oanh liệt để bảo vệ lý tởng, song cái lý tởng mà họ ôm
ấp, tự nguyện xã thân cũng không mở ra cho dân tộc một lối thoát nào đẹp hơn.Không chỉ một Hoàng Diệu, một Nguyễn Tri Phơng, một Nguyễn Cao tuẫn tiết, hay
Trang 24một Nguyễn Trung Trực, một Nguyễn Hữu Huân bị chém đầu, ngay đến một TrơngCông Định, một Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng kiên trì chiến đấu nhiềunăm nhng đều thất bại
Nguyễn Xuân Ôn cho rằng lý tởng của một con ngời trong xã hội phong kiếnkhông có cách nào khác là đi học, đi thi để ra làm quan Cái khác nhau giữa mộtnhà nho chân chính và một nhà nho xu thời là ở chổ ra làm quan để lo cho dân, chonớc hay để có dịp bòn rút của nhân dân Trong “thời loạn” Nguyễn Xuân Ôn vẫn ralàm quan , điều đó có thể trái với lẽ hành, tàng của nho gia nhng thể hiện tính tíchcực của một nhà nho chân chính, thấy hết trách nhiệm của mình Ông tâm sự :
Cha phải khanh phu nhục đã nhiều
Công danh chậm muộn nữa già sao
Phía Tây thơng lợng cùng quân Pháp
Phơng Bắc hoà thân với giặc Tây.
Ông nhớ tới Tổ Địch đời Đông Tấn có chí đánh giặc, đêm nằm nghe tiếng gàgáy dậy múa gơm :
Đêm trờng nhớ chuyện nghe gà gáy
Mài mãi gơm thần bóng nguyệt cao
(Thuật hoài V)
Trong con ngời ông lúc nào cũng mang một ý thức trách nhiệm thờng trực, mộtniềm hoài bão lớn lao của một ngời luôn ý thức sâu sắc về tài đức của mình và thathiết mong muốn đem tài đức đó ra phục vụ nhân dân,đất nớc Ngay từ khi còn thsinh, dùi mài kinh sử để thi đỗ ra làm quan, thi hành đạo lý của Nho gia, ngời thanhniên họ Nguyễn đã từng băn khoăn suy nghĩ về vai trò của mình trong xã hội :
Thiên địa sinh ngô hữu ý vô
Sinh ngô chung tất hậu ngô.
Quân tử thân danh đơn bút duyện
Nam nhi phận sự nhất tang hồ
Ngã niên tuy thiếu tâm nhng tráng
Phú quý nam dâm đại trợng phu.
(Bột hứng)
Trang 25(Thân danh quân tử riêng cậy bút
Phận sự nam nhi một cánh cung
Tuổi dẫu còn non hăng hái sẵn
Giàu sang khôn đắm dạ hào hùng)
Trong lòng lúc nào cũng canh cánh một tâm sự, đeo đuổi và ám ảnh ông :
Thử tâm na đắc nh tùng bách
Tự phụ phong trần nại đắc kiên
(Trung dạ khởi t)
(Lòng ta mong sánh bách tùng
Phong trần vẹn chữ kiên trung chẳng sờn)
Hay : Sao cho vẹn tiếng anh hùng
Phù vân đâu để loạn lòng nam nhi
(Trách bạn)
Nhng trong bối cảnh xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, những ớc mơ hoàibão lớn lao của Nguyễn Xuân Ôn không thể thực hiện đợc Nghèo đói, bệnh tậtkhông sá gì với một ngời cần cù tu dỡng, rèn luyện, nhng cái đau khổ nhất ở đây làmột con ngời có ý thức trách nhiệm với thời cuộc nhng đành bất lực Vì vậy trongsáng tác của ông luôn mang một nỗi đau lớn, nỗi thẹn thùng của ngời anh hùng :
Tráng tuế phơng lai hiền dĩ thệ
Thiếu niên nhất khứ hận nam phùng
Thử sinh vị liễu công danh trái
Nguyễn Xuân Ôn đã từng viết nhiều bài tấu xớ, bản điều trần cho triều đìnhtrình bày những việc cần làm để chống giặc giữ nớc, nhng tất cả đều không đợcthực hiện Hơn nữa, ông lại hết sức chăm lo việc xây đắp thành luỹ để phòng ngựnên triều đình sợ bọn Pháp gây rắc rối đã đổi ông ra làm án sát Quảng Ngãi Chánnản vì triều đình hèn nhát, ông cáo quan về làng lo tìm cách cứu nớc Năm 1885, h-ởng ứng chiếu Cần Vơng, ông mộ quân khởi nghĩa ở quê hơng (một số huyện thuộcNghệ An) lập căn cứ kháng chiến Mặc dù nghĩa quân dới sự lãnh đạo của ông
Trang 26chiến đấu dũng cảm mu trí (đã nhiều lần lập chiến công) nhng cuối cùng vẫn thấtbại.Ông bị giặc Pháp bắt giam, sau đó lâm bệnh nặng mất
Mặc dù cuộc khởi nghĩa thất bại, ngời lãnh đạo (Nguyễn Xuân Ôn) bị bắt giam
và mất sau đó nhng tên tuổi Nguyễn Xuân Ôn vẫn đợc mọi ngời dân Việt Nam nhắctới với một lòng biết ơn sâu sắc :
Mới hay thực đấng nam nhi
Tiếng thơm còn để muôn đời dài lâu
(Vè Nguyễn Xuân Ôn khởi nghĩa)
Phan Đình Phùng(1847-1895) cảm hoài vì thẹn thùng với vua, với n“ ” ớc
Trong truyền thống của trí thức Việt Nam, mỗi khúc ngoặt lịch sử là một thử thách
đối với ngời trí thức Trớc thử thách đó những ngời trí thức chân chính chỉ có sự lựachọn lấy danh dự của tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân và phẩm giá của con ngờilàm lẽ sống
Cũng giống nh Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng cũng từng phấn đấu thi cử
đỗ đạt và ra làm quan Tính ông cơng trực và khảng khái (những gì mà ông cho làkhông đúng thì kiên quyết đứng lên phản đối) Đã có lần vì cho Tôn Thất Thuyếtlàm việc phế Dục Đức, lập Hiệp Hoà là không đúng, ông đứng lên phản đối vì thế
mà bị Tôn Thất Thuyết đuổi về làng Tuy nhiên sau này, khi vua Hàm Nghi xuấtbôn kêu gọi kháng chiến, ông vẫn theo lời Tôn Thất Thuyết đứng lên mộ quânchống Pháp Mặc dù phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ,
ông vẫn duy trì cuộc chiến đấu hơn 10 năm trời Luôn nêu cao tinh thần bất khuất,một lòng một dạ cứu nớc, ông đã chiếm đợc lòng tin yêu của nghĩa quân và lòngkính mến của nhân dân Nhng điều đáng quý hơn trong những năm chiến đấu của
ông, ông đã để lại những sáng tác văn học bằng chữ Hán (tuy đến nay mới chỉ sutầm đợc một số bài) Có thể thấy trong sáng tác của ông hình tợng tác giả nh mộtnhà nho trung nghĩa Lịch sử cũng đã ghi nhận tên tuổi của ông vào hàng ngũnhững văn thân yêu nớc, đồng thời cũng ghi tên tuổi ông vào văn học trung đại việtNam với t cách là một nhà thơ ở chặng cuối cùng của văn học trung đại, trong dòngthơ văn yêu nớc
Phan Đình Phùng là ngời có chí lớn :
Bách niên tôn xã d hoài nhiệt
Nhất phiến cô trung tặc đởm hàn
(Đáp hữu nhân ký thi)
(Trăm năm xã tắc lòng nung nấu,
Một tấm cô trung khiếp vía thù )
Trang 27(Đáp thơ ngời bạn gửi đến- Khơng Hữu Dung dịch) Những vần thơ của ông chất nặng u t khi ông dự cảm đợc sự thất bại của cuộckháng chiến đang ngày một đến gần, nhận thấy mình lực bất tòng tâm, vẫn gắnggiữ gìn mối cô trung :
Hữu trí phất thành, anh hùng dĩ hỉ ;
Vị tiệp tiên tử, thiên ý vị hà ?
(Khốc Cao Thắng )
(Có chí không thành anh hùng đã khuất
Cha thắng đa chết, ý trời ra sao ?
Trong câu đối khóc Cao Thắng (ngời tuỳ tớng lỗi lạc của ông) cũng mang lờitâm sự của ông :
Công cầu tất thành, anh hùng đã khuất.
Sự nan dự liệu, cứ yên kim dĩ thiểu t nhân
(Khốc Cao Thắng)
(Công muốn lập nên, gõ mái giặc ngoan thề quét sạch
Việc khôn tính trớc, lên yên ngời ấy vắng từ đây).
Lúc sắp mất, ông nhìn lại t tởng và hành động của mình, đối diện với chínhmình mà vẫn không khỏi không bộc lộ tâm sự đau xót, bi quan và những dự cảm vềthất bại :
Nhung trờng phụng mệnh thập canh đông,
Vũ lợc y nhiên vị tấu công
Cùng lộ ngao thiên nan trạch nhạn,
Phỉ đồ biến địa thợng đồn phong.
Cửu trùng xa giá quan sơn ngoại,
Tứ hải nhân dân thuỷ hoả trung.
(Lâm chung tác)
(Nhung trờng vâng mệnh đã mời đông,
Vũ lợc còn cha lập đợc công
Dân đói kêu trời xao xác nhạn ,
Quân gian chật đất rộn vàng ong.
Trang 28đó hiểu đợc tâm sự chung của ông cả một tầng lớp sĩ phu yêu nớc chống Pháp giai
đoạn nửa sau thế kỷ XIX
Cho dù cuối cùng “chí” thất bại nhng nổi đau, nổi thẹn của ông mãi mãi đợcnhân dân trân trọng Hình ảnh Phan Đình Phùng là hình ảnh bi hùng của ngời nghĩa
sĩ, những ngời chiến bại trong văn học nhà nho nửa cuối thế kỉ XIX
Dẫu đau đớn, thẹn thùng trớc thất bại của mình nhng các nhà văn Cần Vơng vẫn sống vì nghĩa lớn, vẫn không ân hận với việc mình làm, dù không thành công nhng không thành công thì cũng thành nhân “ ” Nh phần trớc đãnhắc tới phong trào Cần Vơng: làm nên phong trào này là những nhà nho trungnghĩa mang những phẩm chất đẹp đẽ nhất của ngời trí thức Việt Nam Trong cuộc
đời hành nghĩa cũng nh trong sáng tác, họ luôn nêu cao vai trò trách nhiệm của ngờitrí thức trớc các yêu cầu của lịch sử Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan
Đình Phùng là những đại biểu xuất sắc ngày từ đầu đã đứng về phía “chủ chiến”,sau đó hăng hái đi theo tiếng gọi Cần Vơng chống Pháp Là thủ lĩnh của các cuộckhởi nghĩa nhân dân, từng cùng nhân dân kiên trì chiến đấu nhiều năm đều thất bại
họ không không khỏi không bộc lộ tâm sự – 2005 nỗi đau đớn, nỗi thẹn thùng; nhng ýchí giết giặc cứu nớc trong họ vẫn vang lên đanh thép, t tởng sẵn sàng hi sinh vìnghĩa lớn vẫn là t tởng trung tâm, thờng trực trong lòng ngời chí sĩ yêu nớc
T tởng sẵn sang hi sinh vì nghĩa lớn là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân
ta Trớc kia Nguyễn Trãi đã từng đề cao t tởng ấy, ngày nay các văn thân sĩ phu yêunớc cũng nêu cao nó.Chiến đấu chống Pháp là một đại nghĩa của cả dân tộc Mà,
đại nghĩa thì phải làm Hồ Huân Nghiệp nói “ kiến nghĩa ninh cam bất dũng vi”( thấy việc nghĩa mà không làm là không dũng cảm) Nguyễn Đình Chiểu nói:
Vì nớc tấm thân đã gửi, còn mất cũng cam,
Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên h nào ngại.
Rất nhiều nhà thơ khác cũng nói nh vậy! Dứt khoát, đanh thép nhất là Lãnh Cồ
Ông phát biểu cái chân lí ấy hết sức mộc mạc, giản dị:
ở nớc phải lo giữ nớc, không nên giơng mắt ngồi nhìn;
Có thân thì quyết hiến thân, đâu nỡ co vòi chịu nhát.
Trang 29Trong chiến đấu, hy sinh mất mất mát là chuyện thờng Nhất là vào giai đoạnnày (nửa cuối thế kỉ XIX), thế của ta yếu hơn rất nhiều so với địch, thì chết chóc, hysinh lại càng lớn Các nhà thơ yêu nớc thấy cần phải có một cách nhìn đúng đắn vềvấn đề sống chết để nâng cao quyết tâm chiến đấu Trong văn học Việt Nam nhữnggiai đoạn trớc dờng nh vấn đề sống chết cha bao giờ đặt ra một cách cụ thể, thiếtthực và giải quyết theo một quan niệm đẹp đẽ nh giai đoạn này Những ngời chiến
đấu chống giặc không phải là kẻ coi thờng cuộc sống và tính mệnh của bản thân,nhng hơn ai hết, họ sẵn sàng hi sinh cuộc sống và tính mệnh của bản thân cho cuộcsống của nhân dân, của dân tộc.Một quan niệm thờng trở đi trở lại trong văn họcyêu nớc giai đoạn này là “ thà chết vinh còn hơn sống nhục”
Nguyễn Cao đã phát biểu t tởng đó:
Sinh nhi luân khuyển dơng chi di vực,
Hà nh tử nhi đồng hồ thiên địa chi diễu minh.
( Tự phận ca)
( Sống mà chìm đắm trong vòng dê chó,
Thà chết đi cùng trời đất đi về)
Một nhà thơ điếu Nguyễn Hữu Huân cũng phát biểu t tởng đó:
“ Đãn đắc tử , kinh hồ lỗ phách,
Bất cam sinh, đoạn tớng quân đầu”
( Thà chết, làm cho giặc cớp kinh hồn,
Chứ không chịu sống để rồi làm vị tớng quân bị chém đầu).
Nguyễn Đình Chiểu cũng phát biểu t tởng đó:
“ Sống làm chi theo đạo quân tà đạo, quăng vùa hơng, xô bàn độc nghĩ lại thêm
buồn Sống làm chi theo lính mã tà chia rợu lạt, gặm bánh mì nghe càng thêm hổ Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh Còn hơn mà chịu chữ đầu đầu Tây ở với man di rất khổ ”
Đặc biệt những suy nghĩ về sự sống chết thể hiện hết sức cảm động trong nhữngbài thơ tuyệt mệnh Hầu nh ngời yêu nớc nào biết làm thơ, trớc lúc hy sinh đều cóthơ tuyệt mệnh để lại Trong tiếng nói cuối cùng của những con ngời sắp giã từcuộc đời ấy, tuyệt nhiên không thấy có bóng dáng một t tởng ham sống sợ chết nàocả Trong một số bài thơ tuyệt mệnh của họ thỉnh thoảng có chút ngậm ngùi thìtuyệt nhiên đó không phải là cai ngậm ngùi vì bản thân họ bị hy sinh, mà ngậmngùi vì thấy họ chết đi giữa lúc nhân dân, xã tắc vẫn còn chìm trong máu lửa
Lê Trung Đình viết : Thử thân hà túc tích,
Xã tắc ái kỳ khu