Trong văn học Việt Nam sau 1975, bên cạnh mảng đề tài viết về hạnhphúc đoàn tụ của dân tộc, mảng đề tài đi vào khám phá hiện thực phức tạp của đất nớc sau chiến tranh và công cuộc xây dự
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn
=== ===
nguyễn thị Duyên
khuynh hớng sử thi trong văn học Việt Nam sau 1975
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành văn học Việt Nam hiện đại
Vinh, 5/2007
= =
Trang 2Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn
=== ===
khuynh hớng sử thi trong văn học Việt Nam sau 1975
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành văn học Việt Nam hiện đại
Trang 3T«i xin ch©n thµnh c¶m ¬n !
Vinh, th¸ng 5 n¨m 2007.
Sinh viªn
NguyÔn ThÞ Duyªn
Trang 4Mục lục
Trang
A Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi đóng góp của đề tài 5
4 Nhiệm vụ của đề tài 5
5 Phơng pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc của khoá luận 6
B Phần nội dung 7
Chơng 1: Một số vấn đề lý luận về văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 và sau 1975 chi phối văn học giai đoạn này viết theo khuynh hớng sử thi 7
1.1 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 và sau 1975 chi phối văn học giai đoạn này viết theo khuynh hớng sử thi 7
1.1.1 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 7
1.1.2 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 8
1.2 Khái niệm sử thi 9
1.3 Văn học Việt Nam sau 1975 viết theo khuynh hớng sử thi 10
1.3.1 Các chặng đờng phát triển của văn học Việt Nam sau 1975 10
1.3.2 Đổi mới t duy nghệ thuật 13
1.3.3 Quan niệm nghệ thuật về con ngời của các nhà văn 15
Chơng 2: Khuynh hớng sử thi trong văn học Việt Nam sau 1975 xét trên phơng diện nội dung 19
A Trong văn xuôi 19
2.1 Đội ngũ nhà văn 19
2.2 Những biểu hiện của khuynh hớng sử thi trong văn học Việt Nam sau 1975 .22
Trang 52.2.1 Ca ngợi con ngời lý tởng, con ngời chiến sĩ 22
2.2.2 Sự kế thừa những u điểm trong cách thể hiện ngời chiến sĩ trong các tác phẩm văn học viết theo khuynh hớng sử thi trớc 1975 22
2.2.3 Văn học Việt Nam sau 1975 viết theo khuynh hớng sử thi nói nhiều đến những gian khổ, hy sinh, mất mát 26
2.2.4 Ngời lính trong văn học Việt Nam sau 1975 đợc nhìn nhận từ phơng diện đời t, đời thờng 32
B Trong thơ 38
2.1 Đội ngũ nhà thơ 38
2.2 Những biểu hiện của khuynh hớng sử thi trong thơ sau 1975 39
2.2.1 Cái tôi tiếp tục âm hởng sử thi và đối thoại với sử thi 39
2.2.2 Những đổi mới của thơ sau 1975 viết theo khuynh hớng sử thi 40
2.3 ý nghĩa nhân văn của các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh đối với thế hệ trẻ 48
Chơng 3: Khuynh hớng sử thi trong văn học Việt Nam sau 1975 xét trên phơng diện nghệ thuật 49
3.1 Sự đổi mới về mặt bút pháp 49
3.2 Kết cấu của tác phẩm 50
3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 57
3.4 Sự đổi mới về giọng điệu 61
C Phần kết luận 65
tài liệu tham khảo 67
Trang 6A phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Biết bao thế hệ u tú của dân tộc đã ngã xuống để có ngày đại thắng mùaXuân 30-4-1975 Sau mốc son lịch sử chói lọi ấy đất nớc ta đã thực sự độc lậpthống nhất Cuộc sống của toàn dân tộc và mỗi gia đình dần dần trở lại vớiquy luật chung của nó
Lịch sử dân tộc sau ngày 30-4-1975 đã sang trang mới, nhng lịch sử vănhọc lại bớc chậm hơn, vì vậy theo đà quán tính văn học viết theo khuynh hớng
sử thi và cảm hứng lãng mãn vẫn chảy theo mạch cảm hứng ấy một thời giannữa cho đến những năm đầu của thập niên 80
Chiến tranh đã kết thúc, nhng đề tài chiến tranh cách mạng và ngời línhtrong chiến tranh vẫn cha khép lại nó vẫn hằn lên trên những vết thơng của cácanh thơng binh, vẫn còn đó nỗi đau của những bà mẹ bao lần tiễn con đi, nh-
ng không có ngày đón con trở lại vì các anh đã ngã xuống vì quê hơng đất
n-ớc, bao ngời vợ trẻ và những đứa con thơ cha một lần đợc thấy mặt cha Vìvậy sứ mệnh cao cả của ngời nghệ sĩ viết về chiến tranh cha kết thúc
Trong chơng trình phác thảo văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nớc Nhà
thơ Hoàng Trung Thông nhận định: Một giai đoạn chiến đấu kết thúc rồi,
nh-ng văn học sánh-ng tác về giai đoạn đó vẫn còn mở ra mãi và cha biết đến bao giờ mới kết thúc.
Trong văn học Việt Nam sau 1975, bên cạnh mảng đề tài viết về hạnhphúc đoàn tụ của dân tộc, mảng đề tài đi vào khám phá hiện thực phức tạp của
đất nớc sau chiến tranh và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Thì đề tàichiến tranh cách mạng, đặc biệt là về cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nớc vẫn
là mảng đề tài quan trọng với nhiều gơng mặt nhà văn trẻ, nhiều thành tựu gâyxúc động lòng ngời và đạt đợc nhiều giải thởng lớn
1.1 Khuynh hớng sử thi là một trong những khuynh hớng nổi bật củanền văn học cách mạng nớc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ (1945 - 1975)
Khuynh hớng sử thi đã đa văn học Việt Nam (1945 - 1975) đạt
đến thành tựu nổi bật, xây dựng đợc những tác phẩm hoành tráng về Tổquốc, nhân dân ta trong những ngày kháng chiến gian khổ, hy sinh nhnghào hùng
Trang 7Khuynh hớng sử thi là khuynh hớng chính trong trong văn học ViệtNam (1945- 1975), nên số lợng tác phẩm viết theo khuynh hớng này rất nhiều.Với các tác phẩm tiêu biểu nh:
- Văn xuôi: "Đất nớc đứng lên" (Nguyên Ngọc); "Ngời mẹ cầmsúng"(Nguyễn Thi); "Hòn đất" (Anh Đức) …
- Thơ: "Ngời con gái Việt Nam" (Tố Hữu); "Tiểu đội xe không kính"
1.2 Văn học Việt Nam sau 1975
Do hoàn cảnh xã hội thay đổi, chiến tranh vệ quốc đã kết thúc, con ngờidần trở lại với cuộc sống đời thờng, cho nên khuynh hớng sử thi có mức độnhạt dần, nhờng chỗ cho khuynh hớng mới đời t, thế sự
Nhng theo đà quán tính văn học viết theo khuynh hớng sử thi và cảmhứng lãng mạn vẫn chảy theo đà quán tính một thời gian nữa, cho nên số lợngviết theo khuynh hớng này vẫn còn nhiều
- Văn xuôi: "Tháng Ba Tây Nguyên" (Nguyễn Khải - 1975), "TiếngGió" (Lê Minh - 1976), "Miền Cháy" (Nguyễn Minh Châu- 1977), ''Cơn GióLốc " (Khuất Quang Thuỵ - 1977), "Năm 1975 họ đã sống nh thế" (NguyễnTrí Huân - 1979), "Nắng đồng bằng" (Chu Lai - 1979), "Biển Gọi" (Hồ Phơng
- 1979), "Thời gian của ngời " (Nguyễn Khải - 1983), "Đất Trắng" (NguyễnTrọng Oánh, 1979 - 1984), "ăn mày dĩ vãng" (Chu Lai - 1979 - 1994); "Miềncháy" (1977), "Cơn giông" (1979), "Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành"(1983), “Cỏ lau” (1989) của Nguyễn Minh Châu, "Nỗi buồn chiến tranh"
Trong thơ: Xu hớng tiếp tục nói về chiến tranh qua những khúc bi tráng
về số phận dân tộc
Trong thơ viết về chiến tranh sau 1975 không chỉ đợc nhìn từ mặt trớc
mà còn đợc nhìn từ phía sau với nỗi đau riêng trĩu nặng, bao nhức nhối khólành Sự xuất hiện hàng loạt các tập trờng ca cho thấy nhu cầu tổng kết vềchiến tranh và lịch sử trong thơ với hàng loạt tác phẩm tiêu biểu:
"Câu chuyện của ngời lính binh nhì" (Lê Anh Quốc); "Bão và sau bão", "S
Đoàn" (Nguyễn Đức Mậu); " Đất nớc hình tia chớp"(Trần Mạnh Hảo); "SóngCôn Đảo" (Anh Ngọc); "Đờng tới thành phố", "Sức bền của đất" (Hữu Thỉnh);
“Điện Biên Phủ” (Trần Mạnh Hảo)…
Đặc biệt là thơ Tố Hữu viết về mùa xuân năm 1975 Và của các nhà thơ
Các tác phẩm đợc kể ở trên đều đợc viết theo cảm hứng sử thi mới
Trang 8Trong chiến tranh các nhà văn đã thai nghén, ấp ủ tác phẩm của mình,nhng do điều kiện cha cho phép, nên khi đất nớc hoà bình đã tạo điều kiệnthuận lợi cho họ viết ra tác phẩm họ vẫn đang ấp ủ.
1.3 Khuynh hớng sử thi sau 1975 có nhiều điểm đổi mới
ở các tác phẩm viết sau 1975 các nhà văn vẫn thể hiện đợc vẻ đẹp hàohùng của dân tộc, nói nhiều đến chiến công của quân và dân ta trong khángchiến Thêm vào đó cách phản ánh chiến tranh và ngời lính cũng khác trớc
1975 đó là chiến tranh đợc các nhà văn phản ánh đúng nh sự thật mà nó diễn
ra, có cả vinh quang và thất bại, các nhà văn quan tâm đến từng số phận cánhân trong sự khốc liệt của chiến tranh
1.4 Nghiên cứu đề tài này để hiểu rõ và đầy đủ hơn về khái niệm sử thi,phân biệt từng chặng đờng phát triển của văn học Việt Nam viết theo khuynhhớng sử thi trong thời chiến cũng nh thời bình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài này vừa mang tính lý luận vì nó liên quan đến khái niệm khuynhhớng sử thi trong văn học Việt Nam sau 1975, vừa liên quan đến văn học sửthể hiện qua các tác phẩm của văn học Việt Nam sau 1975
Liên quan đến vấn đề này đã có rất nhiều công trình đề cập đến nh:
* Về khái niệm sử thi
- Giáo trình văn học Việt Nam (Nguyễn Đăng Mạnh - Nguyễn HoànhKhung - Tập 6 NXB GD, 2006)
- Văn học Việt Nam thời đại mới (Nguyễn Văn Long, 2004)
- Một phần hai thế kỷ thơ 1945 - 2000 (Vũ Tuấn Anh - NXB GD, 2005)
- Cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam (Lê Lu Anh - NXB GD, 2002)
- 40 năm văn học Việt Nam hiện đại (Phong Lê - NXB GD, 2005).Nhìn chung trong các bài viết đều có những phát hiện độc đáo vềkhuynh hớng sử thi trong văn học Việt Nam
Về khái niệm sử thi mỗi bài viết có sự lý giải, cắt nghĩa theo cách củamình Nhng nhìn chung ý kiến của họ đều thống nhất với khái niệm sử thi
trong: Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc
Phi - NXB GD, 2004)
Trang 9Sử thi là tác phẩm tự sự dài, xuất hiện sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ca ngợi sự nghiệp anh hùng có tính chất toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh của lịch sử.
Trong lịch sử văn học cách mạng hiện đại của chúng ta cha bao giờ thểloaị trờng ca nở rộ nh sau 1975 Đây là một hiện tợng văn học đợc giới nghiêncứu quan tâm nên đã có rất nhiều bài viết:
- Lại Nguyên Ân: Mấy suy nghĩ về trờng ca (Tạp chí văn học số 4-1975).
- Thiếu Mai: Thanh Thảo Thơ và trờng ca (Tạp chí văn học số 2-1980).
- Nguyễn Trọng Tạo - Vơng Trọng - Trần Mạnh Hảo (Tạp chí văn nghệ
Quân đội - tháng 11/ 1980)
Hầu hết các bài viết đều thống nhất cho rằng:
Các trờng ca đã dựng lại những bình diện quan trọng nhất của cuộc
đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, mà trớc hết là những bình diệnthuộc đời sống tinh thần, t tởng, tình cảm và hành động của những ng ờilính trẻ giữa chiến trờng bom đạn của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu n -ớc
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi đóng góp của khoá luận
Tên đề tài này một phần đã nói lên phạm vi và đối tợng nghiên cứu, bởivậy thực hiện đề tài này chúng tôi muốn góp phần làm rõ hơn khuynh hớng sửthi trong văn học
Văn học Việt Nam viết theo khuynh hớng sử thi có rất nhiều tác phẩm,
do thời gian có hạn nên trong đề tài chúng tôi chỉ chọn một số tác phẩm tiêubiểu
+ Trong văn xuôi:
- "Miền cháy" (1977), "Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành" (1983),
"Bức tranh" (1983), "Cỏ lau" (1983) của Nguyễn Minh Châu
- "Đất trắng" (1979-1984 - Nguyễn Trọng Oánh)
- "ăn mày dĩ vãng" (1991 - Chu Lai)
- "Nỗi buồn chiến tranh" (1987 - Bảo Ninh)
+ Trong thơ:
- Thơ Tố Hữu viết về mùa mùa xuân 1977
- Trờng ca: - "Câu chuyện ngời lính binh nhì" (Lê Anh Quốc); "Sóng Côn
Đảo" (Anh Ngọc); "Những ngời đi tới biển" (Thanh Thảo); "Đờng tới thànhphố", "Sức bền của đất" (Hữu Thỉnh); "Đất nớc hình tia chớp" (Trần Mạnh Hảo);
"S Đoàn" (Nguyễn Đức Mậu); Điện Biên Phủ (Trần Mạnh Hảo)…
Trang 104 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu để hiểu rõ hơn về khuynh hớng sử thi trong văn học ViệtNam 1945 - 1975 và sau 1975 Đồng thời so sánh để tìm ra điểm giống vàkhác nhau trong các tác phẩm viết theo khuynh hớng sử thi trớc và sau 1975,
và tìm hiểu một số vấn đề lý luận về văn học Việt Nam sau 1975 viết theokhuynh hớng sử thi, đồng thời xét khuynh hớng sử thi qua hai phơng diện nộidung và nghệ thuật
- Phơng pháp so sánh: cảm hứng sử thi là một trong ba đặc điểm chínhcủa văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 Sau 1975 theo đà quán tính nóvẫn đợc các nhà văn vận dụng để sáng tác Tuy còn mang cảm quan nghệthuật cũ, nhng nó vẫn có nhiều điểm khác với sử thi trớc 1975 Bởi vậy khi sosánh với sử thi trớc 1975 sẽ thấy rõ nét riêng của sử thi sau 1975 trong cái nềnchung của văn học mang khuynh hớng sử thi
6 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khoá luận gồm 3chơng:
1945 - 1975 và sau 1975 chi phối văn học giai đoạn này viết theo khuynh hớng sử thi
trên phơng diện nội dung
trên phơng diện nghệ thuật.
B Phần nội dung
Chơng 1
Trang 11Một số vấn đề lý luận về văn học Việt Nam giai đoạn
1945 - 1975 và sau 1975 chi phối Văn học CáC giai đoạn này
viết theo khuynh hớng sử thi
1.1 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 và sau 1975 chi phối văn học các giai đoạn này viết theo khuynh hớng sử thi
1.1.1 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975
Dân tộc Việt Nam có lòng yêu nớc nồng nàn, mỗi khi đất nớc có giặcngoại xâm thì truyền thống ấy đợc nhân lên và kết thành sức mạnh của toàndân tộc Cha bao giờ trong lịch sử độc lập tự do của dân tộc lại phải đánh đổibằng nhiều xơng máu, mất mát, hy sinh nhiều nh hai cuộc kháng chiến chốngPháp và chống Mỹ Dù trải qua nhiều đau thơng mất mát nhng đó cũng chính
là những năm tháng hào hùng nhất trong lịch sử 4000 năm dựng nớc và giữ
n-ớc của dân tộc Việt Nam Cả nn-ớc hành quân ra trận, lớp cha trn-ớc lớp con sautrở thành đồng chí chung câu quân hành, họ ra đi với tâm trạng vui phơi phới -
đờng ra trận mùa này đẹp lắm - với niềm tin chiến thắng
Văn học cách mạng ra đời trong hoàn cảnh đất nớc có chiến tranh, vàluôn theo sát bớc đờng của lịch sử đấu tranh của dân tộc, do vậy một đặc điểmlớn quan trọng và nổi bật nhất của văn học trong giai đoạn này đó là khuynhhớng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Đây là những năm tháng hào hùng, nhng đồng thời cũng là những nămtháng đau thơng gian khổ Yêu cầu đặt ra là mọi ngời phải sát cánh bên nhau,tạo thành sức mạnh đè bẹp ý chí, quyết tâm xâm lợc của kẻ thù Cả dân tộc
đứng lên kháng chiến với niềm tin tất thắng Sức mạnh và niềm tin ấy càng
đ-ợc nhân lên khi có sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ, biết kết hợp sứcmạng dân tộc với sức mạnh của thời đại Vì thế đây chính là cội nguồn làmnảy sinh khuynh hớng sử thi trong các sáng tác văn học giai đoạn này
Từ khi Đảng thành lập đã rất quan tâm đến văn nghệ, xem vănnghệ là một mặt trận, và các văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy
Từ năm 1943 Đảng ta đã có đề cơng văn hoá do đồng chí Trờng Chinhsoạn thảo nhằm định hớng lôi kéo các văn nghệ sỹ tham gia vào sựnghiệp cách mạng
1.1.2 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau 1975
Lịch sử dân tộc Việt Nam sang một trang mới với sự kiện chiến thắngcủa chiến dịch Hồ Chí Minh vào ngày 30- 4 - 1975 Ba mơi năm trờng kỳkháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ ác liệt, đau thơng, anh dũng của toàndân tộc đã kết thúc thắng lợi Toàn dân tộc vui trong niềm vui chung hoà bình
Trang 12thống nhất Nhng ngay sau đó cuộc sống của toàn dân tộc và mỗi gia đình dầntrở lại với những quy luật của nó Con ngời trở về với muôn mặt đời thờng,phải đối mặt với bao nhiêu vất vả khó khăn, và đầy biến động, đổi thay củathời kỳ hậu chiến Cả dân tộc vừa phải bắt tay vào khôi phục kinh tế, thu dọn
đống hoang tàn đổ nát của chiến tranh để lại vừa phải gánh chịu nỗi đau, sựmất mát của những ngời thân Điều này đã ảnh hởng không nhỏ đến t tởng vànhận thức của các văn nghệ sỹ về hiện thực cuộc sống xã hội khác trớc Đây làmột tiền đề thúc đẩy sự thay đổi và cách tân của văn học Việt Nam sau 1975
Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), trong đại hội này Đảng ta kêu gọitoàn Đảng, toàn dân ta đổi mới t duy, nhìn thẳng vào sự thật của đất nớc vàcuộc sống của nhân dân Đây là thời kỳ Đảng ta đa xác định đúng đắn hớng đicủa đất nớc ta trong thời kỳ mới Có một sự thay đổi nhanh chóng và diệu kỳcủa cả một dân tộc ta trong thời kỳ mở cửa, thời kỳ kinh tế thị trờng, xoá bỏchế độ quan liêu bao cấp cũ Mọi mặt của đất nớc đều có bớc tiến nhảy vọt:chính trị ổn định, kinh tế tăng trởng nhanh, đời sống nhân dân cả nớc đợcnâng lên, văn hoá xã hội vì thế cũng đợc phát triển mạnh mẽ và có sự đổi mới
Một sự kiện rất quan trọng nữa là trong hai ngày (6 - 7/10/1987), đồngchí Nguyễn Văn Linh là Tổng bí th Đảng cộng sản Việt Nam, tuy rất bận rộnvới những công việc cần làm ngay của Đảng và nhà nớc, nhng đồng chí vẫndành quỹ thời gian ít ỏi của mình, để ngồi nghe ý kiến phát biểu của các vănnghệ sỹ tiêu biểu trong cả nớc Sau khi nghe những lời tâm sự, những khókhăn thắc mắc của các văn nghệ sỹ, cố Tổng bí th đã phát biểu và khuyếnkhích các văn nghệ sỹ, cần thay đổi t duy nghệ thuật, nhìn thẳng vào hiện thựccuộc sống và có quyền nói thẳng, nói thật mọi vấn đề trong cuộc sống, miễn làcác nhà văn phải đứng trên lập trờng và lợi ích của toàn Đảng và toàn dân khiphản ánh những vấn đề của hiện thực
Đợc sự quan tâm và khuyến khích của Đảng các văn nghệ sỹ đã vôcùng phấn khởi và tự tin hơn vào những điều mình đã suy nghĩ và mạnh dạn
đổi mới t duy và cách viết của mình
Đứng về phía tâm lý của dộc giả mà xét chúng ta thấy trong hoàn cảnh
đất nớc hoà bình, nhu cầu, thị hiếu thẩm mĩ đã thay đổi Công chúng đòi hỏimỗi một nhà văn phải đáp ứng sự tìm hiểu hiện thực cuộc sống của đất nớcmột cách toàn diện, chứ không phải một chiều, một mặt nh văn học 1945 -
1975 trớc đây Điều này đòi hỏi các nhà văn buộc phải thay đổi cách viết, nếu
nh không muốn bị độc giả quên lãng, và bị thời gian phủ mờ tác phẩm
Trang 13Sử thi là một loại tác phẩm tự sự dài, xuất hiện sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc, nhằm ngợi ca sự nghiệp anh hùng, có tính chất toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh của lịch sử.
(Từ điển thuật ngữ văn học - Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi - NXB GD, 2004)
Văn học mang khuynh hớng sử thi
Văn học mang khuynh hớng sử thi đề cập đến những vấn đề có ý nghĩalịch sử trọng đại Kể lại những sự kiện lịch sử vẻ vang nhất, trọng đại nhất vàhào hùng nhất trong lịch sử của dân tộc mình Tuy nhiên sử thi không nhấtthiết phải miêu tả các xung đột quân sự, các anh hùng chiến trận, mà còn thểhiện tinh thần, trí tuệ bộ tộc, và thời đại lịch sử - nhng dù ca ngợi cái gì thìnhững vấn đề đó nhất thiết phải mang tính toàn dân, nó phải có ý nghĩa quyết
định đến đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc và nhân dân
Văn học sử thi đợc miêu tả với quy mô rộng lớn, toàn bộ đời sống nhândân từ sinh hoạt đạo đức, phong tục đến tín ngỡng Mọi phơng diện của đờisống nhân dân từ lớn nhất đến nhỏ nhất đều đợc thể hiện cùng với các sự kiện
đợc miêu tả
Nhân vật chính trong văn học sử thi thờng tiêu biểu cho lý tởng, sứcmạnh và khát vọng của cộng đồng, đó là sự kết tinh đầy đủ sức mạnh vànhững phẩm chất cao quý của cộng đồng
Về mặt nghệ thuật sử thi thờng mang những đặc điểm nh: ngôn ngữtrang trọng, tràn đầy những định ngữ, những ẩn dụ, những so sánh, với lốimiêu tả tỉ mỉ, cụ thể, với âm điệu chậm rãi theo lối trì hoãn sử thi
1.3 Văn học Việt Nam sau năm 1975 viết theo khuynh hớng sử thi
1.3.1 Các chặng đờng phát triển của văn học Việt Nam sau năm 1975
Văn học Việt Nam sau 1975 đến nay đã phát triển qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: từ 1975 đến đầu những năm 1980.
Thời kì từ 1975 đến đầu những năm 80 có thể nói là thời kì giao thờigiữa văn học 1945 - 1975 và sau 1975 Đây là thời kỳ văn học tuy có một sốbiến đổi nh mở rộng đề tài, đề cập đến nhiều vấn đề hơn, nhng về cơ bản nóvẫn có những đặc điểm giống với văn học 1945 - 1975 vì sao vậy? Lịch sử dântộc đã sang một trang mới vào ngày 30-4-1975, nhng văn học lại không sangtrang đồng bộ với lịch sử đợc, hay nói đúng hơn: nó không sang trang ngay đ-
ợc vào thời điểm ấy
Trang 14Dòng văn học sử thi còn chảy theo quán tính một thời gian nữa đến đầu
những năm 80 Lí luận phản ánh của Mác đã từng chỉ rõ: ý thức bao giờ cũng
chậm hơn khi ít, khi nhiều Các tác phẩm văn xuôi nh: “Tháng ba ở Tây
Nguyên” (Nguyễn Khải); “ Năm 75 họ đã sống nh thế ” (Nguyễn Trí Huân);
“Trong cơn gió lốc” (Khuất Quang Thuỵ); “Miền Cháy” (Nguyễn MinhChâu); “Nắng đồng bằng” (Chu Lai) vẫn đợc viết theo cảm hứng sử thi cũ(vẫn nói nhiều đến cái hào hùng, vĩ đại, nói nhiều về thắng lợi, ít nói đến mấtmát đau thơng)
- Về thơ ca, ngời đọc cảm nhận đợc niềm vui, lòng tự hào của các nhàthơ qua các bài viết về chiến thắng vĩ đại của dân tộc, khi chúng ta vừa chiếnthắng đợc đế quốc Mỹ
Hầu nh nhà thơ nào cũng có một hai bài thơ nói về niềm vui của mìnhkhi đất nớc đợc thống nhất, quê hơng đợc giải phóng Tố Hữu sau “Nớc nonngàn dặm”, “Việt Nam máu và hoa”, năm 1975 viết liền hai bài thơ vui:
“Toàn thắng về ta”, “Vui thế hôm nay” Đây cũng là thời kỳ nở rộ của thể loạitrờng ca, các nhà thơ đã có điều kiện thời gian để suy nghĩ và dựng lại lịch sửdân tộc qua các trờng ca: “Đờng tới thành phố”, “Sức bền của đất” (HữuThỉnh); “Đất nớc hình tia chớp” (Trần Mạnh Hảo); “Những ngời đi tới biển”(Thanh Thảo); “S đoàn” (Nguyễn Đức Mậu); “Sóng Côn Đảo” (Anh Ngọc); "Câu chuyện của ngời lính binh nhì" (Lê Anh Quốc)
Tâm lý choáng ngợp và niềm vui tột độ của toàn dân tộc sau một thờigian lắng dịu lại Hiện thực cuộc sống khó khăn, vất vả của cả dân tộc thờihậu chiến đã ảnh hởng đến mọi ngời dân Công chúng đòi hỏi văn nghệ sỹphải có cách viết khác trớc Sự đổi mới cảm xúc nghệ thuật và cách viết củacác nhà văn do đó gần nh là một tất yếu sống còn, gần nh là của chính họ Nhà
văn Nguyên Ngọc đã phân tích điều này rất có lý: Sau 1975 bỗng dng xuất
hiện một tình trạng rất lạ: sự lạnh nhạt hẳn đi trong quan hệ giữa công chúng
và sáng tác Ngời đọc mới hôm qua còn mặn mà là thế, bỗng dng bây giờ quay lng lại với anh Họ không thèm đọc anh nữa Sách anh viết ra hăm hở, dầy cộp nằm mốc trên các quầy Ngời ta bỏ anh ngời ta đi đọc sách Tây và
đọc … Nguyễn Du Nguyễn Du
Chế Lan Viên than phiền: Sách thì nhiều mà không có tác phẩm, Nguyên Ngọc nhận xét thêm: Có một khoảng chân không văn học thật sự, nh-
ng may anh lại có ý kiến thêm: nhng tôi đợc biết không có khoảng chân không
tuyệt đối trong thực tế, vẫn có những hạt vật chất tuy loãng, ít, vận động trong
đó.
Trang 15Điều này đúng với cả văn học và với từng nhà văn trong thời kỳ giaothời này Nh vậy tính giao thời của văn học Việt Nam sau 1975 ở giai đoạn 1thể hiện ở chỗ:
- Vẫn có cái d thừa, cái đuôi kéo dài của thời kỳ văn học trớc, tạm gọi làvăn học của thời kỳ 30 năm có chiến tranh tiếp tục kéo dài theo đà quán tính
- Và lại có sự manh nha và đang hình thành, đang vận động của một tduy nghệ thuật mới, một cách viết mới
Lấy trờng hợp Nguyễn Minh Châu làm ví dụ: Hình nh ông cảm thấychẳng còn gì để nói nữa, nhng đồng thời cứ phải viết theo một nhu cầu bứcbách để khẳng định mình còn đang viết Sau khi kéo dài một đoạn d thừa
“Miền cháy”, “Những ngời đi từ trong rừng ra”, ông bắt đầu manh nha nhữngtruyện ngắn mới, thuộc giai đoạn mới của ông Đó là một sự khởi đầu của một
t duy nghệ thuật khác của Nguyễn Minh Châu, với các tác phẩm “Ngời đàn bàtrên chuyến tàu tốc hành”, “Bến quê”, “Mẹ con chị Hằng”, “Mảnh đất tìnhyêu”, “Khách ở quê ra”
- Giai đoạn 2: Đầu những năm 80 nay:
Văn học Việt Nam sau 1975 thực sự có những bớc chuyển và phát triểnmạnh mẽ, phải kể từ đầu những năm 80, do nhu cầu của thời đại, có sự độngviên khuyến khích của toàn Đảng, toàn dân Trớc hết là sự đổi mới của cácnhà văn vốn đã có sáng tác khá vững vàng ở giai đoạn trớc Ngời ta thấy trongvăn xuôi của Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyễn QuangSáng, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Lê Lựu, Chu Lai…
Về thơ có các nhà thơ Nguyễn Nhật ánh, Lê Thị Kim, Lê Thị Mây, NguyễnThị Hồng Ngát, D Thị Hoàn, Đỗ Trung Quân, Hoàng Trần Cơng, Bùi ChíVinh, Đỗ Minh Tuấn, Trơng Nam Hng, Nguyễn Quang Thiều, Phùng Khắc
Tiếp đó là sự xuất hiện hàng loạt các cây bút trẻ đã làm thay đổi hẳndiện mạo văn học chúng ta về văn xuôi Trớc hết là Nguyễn Huy Thiệp, PhạmThị Hoài, Nguyễn Trung Lập, Tạ Duy Anh, Dơng Thu Hơng, Đoàn Lê, Trần
Tiếp xúc với các trang viết của các nhà văn này, ngời ta có thể chê trách
điều này, điều kia, thảo luận lại nhiều vấn đề, nhng không thể không thừanhận những đổi mới mà họ đã đem đến cho văn học giai đoạn này
1.3.2 Đổi mới t duy nghệ thuật
Văn học Việt Nam sau 1975 đã chuyển dần từ t duy sử thi sang t duytiểu thuyết T duy sử thi hớng ngòi bút của các nhà văn nghiêng về phản ánh
Trang 16những sự kiện lịch sử trọng đại có tính chất toàn dân T duy tiểu thuyết hớngcác nhà văn nghiêng về phản ánh những khía cạnh đời t, đời thờng, đời sốngcá nhân phức tạp Văn học bây giờ thực sự muốn nêu lên những vấn đề có ýnghĩa nhân sinh rộng lớn, không chỉ dừng lại ở vấn đề chiến đấu và xây dựng
nh văn học 1945 - 1975 tất nhiên đề tài chiến đấu và xây dựng văn học sau
1975 vẫn đề cập nhng nhà văn viết khác trớc
Ai cũng biết, văn học 1945 - 1975 đợc viết chủ yếu theo khuynh hớng
sử thi và cảm hứng lãng mạn Nó đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh mà lịch sử,cách mạng giao phó là tìm hiểu khám phá, ngợi ca những nét đẹp của chủnghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta trong chiến đấu và xây dựng.Riêng mảng đề tài chiến tranh cách mạng nó “xứng đáng đứng vào hàng ngũtiên phong của nền văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngàynay” (báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng tại Đại hội Đảng toànquốc lần thứ IV)
Văn học Việt Nam 1945 - 1975 phát triển trong hoàn cảnh 30 năm đấtnớc có chiến tranh.Với hoàn cảnh ấy, việc phản ánh cuộc sống và thể hiện conngời của văn học lúc này cha thật toàn diện Do yêu cầu của cách mạng,nhiệm vụ cổ vũ động viên nhân dân ta đến với chiến trờng, công trờng nênnhiều mặt của cuộc sống và có những sự thật còn phải đề cập đến một cách dèdặt Văn học Việt Nam 25 năm cuối thế kỷ XX bổ sung những mặt khuyếtthiếu của văn học 1945 - 1975 Với t duy tiểu thuyết thì mọi vấn đề cuộc sống
đều là đề tài của văn học Bên cạnh những tác phẩm biểu dơng, ca ngợi nhữngnét đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu và xây dựng vănhọc sau 1975 còn phản ánh những mặt tiêu cực nội bộ trong xã hội, những tổnthất nặng nề do chiến tranh mang lại, cái đau buồn hay cái bi trong cuộc sống,chuyện đời t, đời thờng, chuyện tình yêu, tình dục, tâm t nguyện vọng củatừng cá nhân con ngời
Đánh giá về hiện tợng đổi mới này, nhà văn Nguyên Ngọc đã viết:
Hành trình văn học ta mấy năm qua đang cố gắng rút ra khỏi đề tài số phận chung của cả khối cộng đồng và đi đến hiện thực xã hội ngỗn ngang với nhiều tính chất tả thực vội vã rồi tiếp tục đi vào thế giới bên trong từng con ngời, cuộc hành hơng vô tận, cuộc kiếm tìm khó nhọc bên trong thế giới riêng từng con ngời - hành trình ấy không phải là một hành trình thu hẹp dần phạm vi quan tâm của văn học Ngợc lại đó lại là hành trình mở ra, ngày càng rộng hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn của văn học (Tạp chí văn học số 4 - 1991)
Trang 17Thật ra đổi mới t duy tiểu thuyết không phải không có trong văn họcgiai đoạn trớc Trong văn xuôi 1930 - 1945 mà biểu hiện rõ nhất trong vănxuôi hiện thực phê phán, t duy tiểu thuyết đã chiếm một vị trí đáng kể (truyện
văn học 1945 - 1975 đề cập đến những vấn đề lớn lao, trọng đại của dân tộcnên t duy sử thi chiếm u thế
Văn học Việt Nam sau 1975 đã chuyển dần từ t duy sử thi sang t duytiểu thuyết T duy sử thi hớng ngòi bút của các nhà văn nghiêng về phản ánhnhững sự kiện lịch sử trọng đại có tính toàn dân T duy tiểu thuyết hớng cácnhà văn nghiêng về phản ánh những khía cạnh đời t, đời thờng, đời sống cánhân phức tạp T duy tiểu thuyết đã đa lại sắc diện mới cho văn học sau 1975,không phải chỉ ở những mảng đề tài mới đợc đề cập mà ngay cả ở mảng đề tàivốn quen thuộc nh sản xuất chiến đấu trớc đây
Văn học bây giờ thực sự muốn nêu lên những vấn đề có nghĩa nhân sinhrộng lớn, không chỉ dừng lại ở vấn đề chiến đấu và xây dựng Tất nhiên đề tàichiến đấu và xây dựng trong văn học sau 1975 vẫn đợc đề cập theo một kiểukhác mang cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về chiến tranh Nó không chỉ cócái hào hùng, cái vĩ đại, thắng lợi mà nó còn có cả sự đau thơng mất mát, sựchiêm nghiệm và đặc biệt là đời sống nội tâm với những diễn biến tâm lý phứctạp Họ chiến đấu không phải chỉ vì cộng đồng mà còn vì cá nhân họ Khixung trận họ không chỉ biết cầm súng xông lên, mà còn nghĩ đến vợ, đến mẹ,
đến gia đình mình
1.3.3 Quan niệm nghệ thuật về con ngời của các nhà văn
Văn học là một sáng tạo nghệ thuật Nhiệm vụ của các nhà văn là sángtạo ra những con ngời trong tác phẩm Họ tất yếu phải hình dung con ngời trênphơng diện nghệ thuật Chính trên sự hình dung đó mà các nhà văn đã làm racái mới cho nghệ thuật Quan niệm nghệ thuật về con ngời là khái niệm chỉphạm vi sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con ngời của nhà văn
Đối tợng chủ yếu của văn học 1945 - 1975 là con ngời mới, là nhữngcon ngời anh hùng, con ngời chỉ có tính giai cấp Họ là những mẫu hình lý t-ởng của thời kỳ vinh quang, những con ngời của sự nghiệp chung xả thân vìnghĩa lớn Họ đại diện cho vẻ đẹp của đất nớc, họ đẹp một cách hoàn thiện,hoàn mĩ ít có nhân vật chính diện nào lại có sự dằn vặt, cô đơn, đau đớn trong
sự tính toán thiệt hơn, mất còn
Trang 18Văn học Việt Nam 1945 - 1975 cũng cho ngời đọc biết đến hai tuyếnnhân vật Nhng con ngời đợc miêu tả có sự rạch ròi, dứt khoát giữa cái cao cả
và cái thấp hèn, giữa cái lạc hậu và cái tiên tiến, giữa cái thiện và cái ác
Còn con ngời trong văn học sau 1975 là tất cả mọi tầng lớp, mọi giaicấp trong xã hội, nghĩa là không có sự phân biệt, không có sự u ái đối với bất
cứ ngời nào Nếu không nắm đợc điều này thì chúng ta sẽ rất ngỡ ngàng vàkhông hiểu đợc các nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Chu Lai,Nguyễn Huy Thiệp
Nhìn chung con ngời trong văn học 1945- 1975 ít đợc thể hiện về thếgiới nội tâm Tâm hồn tính cách của nhân vật trong văn học 1945- 1975 chủyếu đợc thể hiện qua chân dung, lời nói hành động của nhân vật
Nhất là các tác phẩm viết về đề tài chiến đấu, trờng hợp nh Mỵ, A Phủtrong “Vợ chồng A Phủ ” (Tô Hoài); Lợng trong “Th nhà” (Hồ Phơng); Núptrong “Đất nớc đứng lên” (Nguyên Ngọc) Đó là những hiện tợng đột xuất,hiếm hoi của các nhà văn trong việc thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật
Ngợc lại con ngời trong văn học sau 1975 đợc thể hiện và khai thác khá
kỹ về thế giới nội tâm bí ẩn, phức tạp, phong phú Mỗi nhân vật là một cá tínhvăn học độc đáo, không giống với nhân vật nào trớc đó Vì các nhà văn quantâm nhiều đến số phận đời t, đời thờng, nên họ có điều kiện đi sâu khám phádiễn biến phức tạp của thế giới nội tâm nhân vật Bi kịch của mẹ Êm trong
“Miền cháy” (Nguyễn Minh Châu) là mẹ phải nuôi nấng, chăm bẵm, yêu
th-ơng đứa con của kẻ đã giết chết con trai mình Nhng sau khi biết sự thật, giữa
mẹ Êm và đứa trẻ, tác giả đã mô tả logic diễn biến tâm trạng của mẹ Bà mẹ
thấy đau đớn lắm, bà vội vã đi giật lùi, không cho nó sờ mó vào ngời mình Trong bóng hoàng hôn nhập nhoạng sắp tối hẳn, một đôi mắt lạ lùng và giá lạnh chòng chọc nhìn vào nó … Nguyễn Du Mẹ Êm giơ tay ra … Nguyễn Du mẹ sực tỉnh … Nguyễn Du Rồi tuân theo bản tính hàng ngày, sau một phút ngập ngừng, bà cúi xuống ôm lấy đứa
bé, niềm thơng yêu và nỗi căm ghét của đời mình, bà ép vào ngực [1, 483].
Hay nhân vật Quảng trong “Cỏ lau” (Nguyễn Minh Châu) cũng có cuộcsống đầy bi kịch Chiến tranh và khoảng cách khắc nghiệt của nó đã cớp đi sựthuỷ chung của ngời vợ thứ nhất Và cũng chính từ sự éo le của chiến tranh đã
đem đến cho ông ngời vợ thứ hai, dù sống gần trọn đời với Thai, ông vẫnkhông thể chinh phục đợc trái tim vốn đã dành trọn cho ngời chồng trớc(Lực) Một ngời vợ phản bội, một đứa con h hỏng, sống bên ông chỉ có cáibóng của ngời vợ thứ hai - bà là ngời ông yêu thơng, kính trọng, vừa hờn giậnkhổ sở vì ghen tuông, và lúc nào cũng nơm nớp lo sợ một sự tan vỡ, lúc nào
Trang 19cũng mang một mặc cảm khổ sở vì ghen tuông, một mặc cảm khốn khổ củamột kẻ bị căm ghét vì đã chiếm mất vị trí đáng ra thuộc ngời khác.
Quan niệm nghệ thuật về con ngời ở các nhà văn tuy có nhiều điểmkhác nhau rõ rệt, nhng giữa các nhà văn trong cùng thời đại lại có những điểmtơng đồng, đánh dấu trình độ chiếm lĩnh con ngời trong từng giai đoạn lịch sử
- Trong văn xuôi: văn học sau 1975 tự bổ sung những điều mà vănhọc 1945- 1975 cha đề cập đến hoặc có đề cập đến nhng đề cập một cách
Con ngời trong văn học sau 1975 đợc quan niệm một cách toàn diện,
đúng nh nó tồn tại trong thực tế Con ngời trong mọi quan hệ phong phú, phứctạp: Con ngời trong quan hệ với xã hội, quan hệ lịch sử, và quan hệ đời t, đờithờng, họ đẹp trong chất thép và cả trong sự yếu mềm
Quan hệ giữa nhà văn với độc giả là quan hệ bình đẳng hơn, ngời đọc
đ-ợc thực sự tôn trọng Nhà văn có quyền phát biểu những quan điểm riêng t củamình
Cách nhìn nhận đánh giá văn học quá khứ thoả đáng hơn, bởi vậy vănhọc sau 1975 phát triển phong phú đa dạng nhng cũng phức tạp hơn
Sau 1975 văn xuôi viết về đề tài đời t thế sự đạo đức đợc đặc biệt chú ý,trớc 1975 mảng đề tài này bị bỏ quên nhờng chỗ cho khuynh hớng sử thi vàcảm hứng lãng mạn nên đề tài này trở thành vị trí thứ yếu
Thời kỳ này các nhà văn quan niệm: mọi vấn đề liên quan đến con ngời
đều đợc các nhà văn quan tâm và đa vào trong văn học Từ những vấn đề lớn
nh lý tởng sống, đấu tranh giải phóng đất nớc, xây dựng xã hội xã hội chủnghĩa, đến những vấn đề nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống đời thờng đều đợc cácnhà văn quan tâm
Chẳng hạn nh tập truyện ngắn “ánh trăng” là tập truyện ngắn đợc giảicủa báo văn nghệ năm 1991 của nhiều tác giả Tập này có 12 truyện, trong đóchỉ có 1 truyện viết về chiến tranh, còn lại 11 truyện viết về đời t thế sự
- ở đề tài nông thôn và ngời nông dân: đây là đề tài rất quen thuộc gầngũi trong văn học Sau 1975 các nhà văn của chúng ta vẫn chú ý đến mảng đềtài này, nhng vấn đề đặt ra ở đây có phần khác trớc, các nhà văn không có cáinhìn đơn giản một chiều về ngời nông dân cũng nh nông thôn Các tác giả đã
Trang 20đa đến cho ngời đọc cái nhìn về nông thôn, nông dân phức tạp, gay cấn, chứkhông phơi phới đi lên nh thời kỳ 1945 - 1975 nữa.
Trong các tác phẩm viết về nông thôn và nông dân mang hai cảm hứng:khẳng định và phê phán Những bớc tiến về đời sống vật chất và tinh thần đợcnâng lên nhanh chóng bộ mặt của nông thôn ngày càng đổi mới, rất đáng phấnkhởi Nó đợc các nhà văn khẳng định một cách mạnh mẽ, nhng đồng thời cáctác phẩm này cũng chỉ ra cái cha hoàn thiện của nông thôn
- Về đề tài chiến tranh cách mạng trong văn học cách mạng sau 1975
Đây là đề tài quen thuộc, đề tài trung tâm của văn học 1945- 1975 Sau 1975
đề tài này vẫn đợc các nhà văn quan tâm, nhng t duy tiểu thuyết đã mang lạicho các nhà văn khi viết về chiến tranh một giọng điệu khác, một cách thểhiện mới
ở mảng đề tài nào cũng có rất nhiều tác giả và nhiều tác phẩm tiêu biểu
- Thành tựu của thơ ca sau 1975: Tuy cha có những thành tựu đáng kể
nh những năm chống Mỹ và cha có nhiều đóng góp thực sự nổi bật nh vănxuôi, kịch sau 1975 Nhng thơ giai đoạn sau 1975 đã có sự vận động và đổimới Có thể kể tên 5 nhà thơ tiêu biểu cho giai đoạn này, đi đầu trong côngcuộc đổi mới: Lê Thị Kim, Lê Thị Mây, Đoàn Thị Lam Luyến, Lâm Thị MỹDạ, Lê Thị Hoàn
Trong thơ có sự phân hoá: Cái “tôi” sử thi và âm hởng sử thi; cái “tôi”gắn liền với những vấn đề nhân sinh thế sự; cái “tôi” cá nhân; cái “tôi” trở vềvới truyền thống và giá trị nhân bản: Cái “tôi” sáng tạo và có phần cực đoan
Trang 21Chơng 2 khuynh hớng sử thi trong văn học việt nam sau 1975
xét trên phơng diện nội dung
A Trong văn xuôi
2.1 Đội ngũ nhà văn
Xã hội Việt Nam sau ngày 30-4-1975 đã sang trang mới, văn học đ ợc
sự động viên khuyến khích của toàn xã hội cũng thực sự có bớc chuyển biến,phát triển mạnh mẽ, đa văn học Việt Nam hội nhập và theo kịp sự phát triểncủa thời đại Có đợc thành tựu ấy là nhờ vào công lao không nhỏ của các nhàvăn
Đội ngũ các nhà văn trong giai đoạn này đông đảo, tạo nên một dòngvăn học mới, gồm 4 thế hệ trong một sự chuyển giọng, bắt nhịp vào một giai
đoạn mới của văn học dân tộc
- Thế hệ thứ nhất: Các nhà văn đã từng sống, chiến đấu và viết qua haigiai đoạn trớc và sau 1975
Các nhà thơ cách mạng tiêu biểu: Tố Hữu, Sóng Hồng, Lê Đức Thọ,
Các nhà thơ lãng mạn: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
- Thế hệ thứ hai: Các nhà thơ trởng thành trong kháng chiến chốngPháp: Hoàng Trung Thông, Minh Huệ, Trần Hữu Thung, Quang Dũng,
riêng và dần lắng xuống trong cảm hứng sáng tạo của mình
Các nhà thơ trong kháng chiến chống Pháp có sự trở lại: Hoàng Cầm,
Lê Đạt, Trần Dần
- Thế hệ thứ ba: Các nhà văn thời kỳ chống Mỹ, xây dựng chủ nghĩa xãhội ở miền Bắc: Giang Nam, Thanh Hải nhng đã có sự phân hoá, họ cha bắtnhịp đợc cuộc sống mới nên cha nổi tiếng Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ…tiếp tục khẳng định đợc thế mạnh của mình
Thế hệ các nhà văn thời kỳ chống Mỹ rất hăng hái đi đầu trong côngcuộc đổi mới văn học: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng,
khẳng định tài năng hơn nữa trong các tác phẩm của mình
- Thế hệ thứ t: Các nhà văn, nhà thơ trẻ xuất hiện rầm rộ sau 1975 Họ
đã làm thay đổi hẳn diện mạo của văn học
Trang 22+ Về thơ: Nguyễn Thị Hồng Ngát, D Thị Hoàn, Lê Thị Kim, Đoàn ThịLam Luyến, Nguyễn Quang Thiều, Đỗ Trung Quân, Phùng Khắc Bắc, VănDuy…
+ Về văn xuôi: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn
Họ có thuận lợi: Sinh ra trong thời kỳ hoà bình, đợc học tập, tự do sángtác nên họ tiến bộ nhanh chóng Mặc dù vậy không có nhà thơ, nhà văn trẻnào sau 1975 vợt lên các thế hệ trớc
Trớc đây do yêu cầu của cách mạng của thời đại nên Đảng yêu cầu, mỗinhà văn đồng thời phải là một ngời chiến sĩ
Năm 1951 tại Đại hội của các văn nghệ sĩ Bác Hồ đã đánh giá cao vaitrò của văn nghệ sỹ, đồng thời cũng chỉ ra trách nhiệm của mỗi nhà văn:
Văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận và các anh chị, em là chiến sĩ trên mặt trận ấy
Nhà thơ Chế Lan Viên viết:
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến sỹ
Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi.
Nhà thơ Sóng Hồng thì quan niệm:
Dùng cán bút làm xoay đòn chế độ
Mỗi vần thơ bom đạn phá cờng quyền.
Nhng sau đại thắng mùa xuân 1975 con ngời trở lại với cuộc sống đờithờng, bên cạnh niềm vui chiến thắng con ngời còn phải đối mặt với bao nhiêukhó khăn thời kỳ hậu chiến và thời buổi kinh tế thị trờng, khi viết văn đã trởthành một nghề để sống thì lựa chọn của các nhà văn càng khó khăn hơn Họvừa phải viết các tác phẩm có ý nghĩa, có giá trị văn học, nhng lại phải phùhợp với thị hiếu thẩm mỹ của độc giả
Bởi vậy sau 1975 mỗi nhà văn còn phải là một nhà t tởng, một nhà hoạt
động xã hội Để không chỉ soi sáng mà còn khơi gợi những suy nghĩ cho độcgiả Để cùng bàn bạc đối thoại với mọi ngời trên tất cả các vấn đề của cuộcsống Nhà văn không còn là ngời ban bố, phát truyền các chân lý nh trớc nữa
Văn học sau 1975 xuất hiện nhiều lối viết khác trớc đây Trong khihoàn cảnh xã hội đã thay đổi văn học không phải phục vụ chính trị nh thời kỳtrớc nữa, thị hiếu thẩm mĩ của độc giả đã thay đổi đòi hỏi các nhà văn khôngthể viết theo cảm quan nghệ thuật cũ đợc nữa
Bởi vậy một số nhà văn đã tự đổi mới trong t duy sáng tạo, với baochiêm nghiệm về dự cảm về xã hội, thời cuộc, về thân phận con ngời trong xã
Trang 23quá khứ rất gần, nó vẫn in đậm hình ảnh về sự tàn khốc, nhng anh hùng bấtkhuất Trở lại cuộc sống thời bình tiếng súng đã chấm dứt, nhng nỗi đau và sốphận của mỗi ngời lính và gia đình họ thì lại mới bắt đầu với bao bi kịch tráingang Nhng không thể viết về chiến tranh bằng kiểu sử thi cũ đợc, nên cácnhà văn đã tìm tòi, sáng tạo để viết về chiến tranh vẫn theo khuynh hớng sửthi Nhng cái nhìn về chiến tranh không đơn giản một chiều nh trớc nữa, mà
nó phức tạp hơn, chiến tranh đợc nhìn từ nhiều chiều nên nó đầy đủ các mặt vàtoàn diện hơn
Khi những biến động xã hội luôn luôn tác động đến cuộc sống, số phận con ngời đổi thay, những vấn đề thế sự và nhân sinh luôn đặt ra những câu hỏi giày vò lơng tâm mỗi ngời, thì ngời viết phải có suy nghĩ và thái độ thích hợp (GS Hà Minh Đức).
Sau chiến tranh đất nớc thay đổi trên mọi phơng diện, để đáp ứng yêucầu của hiện thực và theo kịp thời đại, đòi hỏi văn học phải có sự đổi mới
Điều này mang tính phát triển phù hợp với quy luật khách quan
Chiến tranh đã trở thành quá khứ nhng đặc trng thể loại sử thi vẫn chophép nó kể lại những sự kiện của quá khứ đã lùi sâu vào dĩ vãng nhng trong ýthức của nhân dân và dân tộc chúng ta vẫn giữ mối quan hệ mật thiết với đờisống hiện tại, vẫn đợc xem là niềm tự hào vẻ vang hay bài học lịch sử lớn laocủa dân tộc
2.2 Những biểu hiện của khuynh hớng sử thi trong văn học Việt Nam sau 1975
2.2.1 Ca ngợi con ngời lý tởng, con ngời chiến sĩ
T duy tiểu thuyết chỉ mang lại cho văn xuôi nói chung và văn xuôi viết
về đề tài chiến tranh những sắc diện mới Tuy nhiên trong các tác phẩm vănxuôi mà đề tài này đề cập đến nh: “Miền cháy'', "Ngời đàn bà trên chuyến tàutốc hành", "Bức tranh", "Cỏ lau" (Nguyễn Minh Châu); "Đất trắng" (NguyễnTrọng Oánh); "ăn mày dĩ vãng" (Chu Lai); "Nỗi buồn chiến tranh " (BảoNinh) ở những tác phẩm này các nhà văn vẫn thể hiện đợc cái vĩ đại, hàohùng của dân tộc, những chiến công to lớn của quân và dân ta
Văn học năm năm sau chiến tranh hầu nh vẫn nghiêng về mạch chảytruyền thống Một thời kỳ văn học kế thừa, chuyển tiếp Giai đoạn này hầu hếtcác nhà văn chuyên viết về chiến tranh Vẫn giữ nguyên cảm hứng sử thi khiviết về chiến tranh
Trong “Đất trắng”, Nguyễn Trọng Oánh miêu tả lại cuộc chiến đấu anhdũng của Trung đoàn 16 Trong “Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”
Trang 24(Nguyễn Minh Châu) là những chiến công của trung đoàn K… ới sự chỉ huy Dtài tình của trung đoàn trởng Hoà, đánh trận nào cũng thắng lợi khiến choquân địch chỉ nghe đến tên anh và trung đoàn của anh cũng đủ khiếp sợ.Trong “Cơn giông” (Nguyễn Minh Châu) là cuộc chiến đấu là cuộc chiến đấucủa quân dân ta ở phía Tây Nam
2.2.2 Sự kế thừa những u điểm trong cách thể hiện ngời chiến sĩ ở các tác phẩm văn học viết theo khuynh hớng sử thi trớc 1975
Vẫn là cách thể hiện ngời chiến sĩ Việt Nam anh hùng, con ngời đẹpnhất, là tấm gơng sáng mẫu mực với vẻ đẹp tiêu biểu cho lý tởng cộng đồng
Đó là Hoà trong “Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” (Nguyễn MinhChâu), anh là sinh viên năm thứ 2 khoa chế tạo máy trờng Đại học Bách Khoa.Vốn rất say mê học hành nên anh học rất giỏi, nhng trong hoàn cảnh đất nớc
bị kẻ thù xâm lợc, anh không nh các thanh niên khác vẫn tiếp tục con đờng
học tập, anh đã có quyết định khác bạn bè anh đã xếp sách vở một cách nhẹ
nhõm [1, 179] để ra nhập vào quân đội, anh là một trung đoàn trởng trẻ tuổi,
trong môi trờng quân đội anh đã trởng thành bằng chính tài năng khoa học đã
đợc chuyển thành tài năng quân sự Là ngời chỉ huy có tài, nên rất nhiều trận
đánh thắng của trung đoàn mà anh là ngời góp phân quyết định Trong tâmniệm của đồng đội anh là ngời anh hùng, với bọn giặc hễ nghe thấy tên anh vàtên trung đoàn của anh chúng đều khiếp sợ Nhân vật chính của tác phẩm làQuỳ một nữ quân nhân xinh đẹp, là cô gái có lý tởng sống cao đẹp Tốt nghiệplớp 10 vì học giỏi Quỳ đợc gọi đi hoc ở nớc ngoài, nhng cũng giống nh Hoàtrớc hoàn cảnh đất nớc có chiến tranh, không ngại khó khăn gian khổ Quỳ tìnhnguyện khoác ba lô vào Trờng Sơn, vào những cánh rừng luôn phải chịu cảnh
bom rơi, đạn nổ ở Trờng Sơn, Quỳ đã làm đủ mọi công việc nh diễn văn
công, đánh máy, cấp dỡng, intilô, giao liên dẫn đờng, y tá, chụp ảnh, viết báo, vác súng đi lùng biệt kích, gác nghĩa trang liệt sỹ, và thâm chí một hồi còn là chỉ huy cả môt đại đội lái xe toàn nữ [1, 166] Một cô gái trẻ thông minh, giàu
nghị lực, và rất dũng cảm và đầy sức sống đã làm đợc mọi công việc nặng nềnguy hiểm mà một cô gái khó có thể mà đảm đơng tại chiến trờng lửa đạn.Vậy mà Quỳ luôn hoàn thành xuất sắc mọi công việc đợc giao dù khó khănvất vả đến đâu Quỳ đã vợt qua mất mát, đau khổ để sống rất đẹp bởi vậy Quỳtiêu biểu cho vẻ đẹp và lý tởng của cộng đồng Không những đẹp trong chiến
đấu, mà trong cuộc sống chị sống rất tự nhiên thoải mái, tận tâm với mọi công
việc và hết lòng với mọi ngời [1,169] Bởi vậy chị đợc rất nhiều ngời xem là Một thánh nhân [1, 169]
Trang 25Hoặc là trong truyện ngắn “Bức tranh” (Nguyễn Minh Châu), tác giả đãmiêu tả một con ngời có đầy đủ phẩm chất vốn có của môt ngời lính anhhùng Anh còn là một ngời con rất hiếu thảo với ngời mẹ già ở hậu phơng Dùchiến tranh gian khổ, ác liệt là vậy nhng anh vẫn thơng và lo cho mẹ Anh biết
mẹ không những nhớ thơng, mong ngóng mà còn phấp phỏng lo âu vì trongchiến tranh biết đâu mẹ tiễn anh đi, nhng không có ngày đợc đón anh trở lại.Vì vậy anh nhờ ông hoạ sĩ mà anh tin cẩn và hết lòng giúp đỡ ông vẽ tranh,thồ tranh, chăm sóc ông lúc ông bị sốt rét đa cho mẹ anh tấm hình của anh nhlời nhắn gửi, nhất định con sẽ trở về Dù chỉ là một ngời lính trẻ nhng chúng takhâm phục anh bởi đức tính độ lợng, bao dung Anh không giận và ghét bỏngời hoạ sĩ mà anh đợc phân công phải giúp đỡ anh vẽ tranh về Trờng Sơn, bởivì ông ta đã không vẽ giúp anh một bức ảnh chân dung của mình Nhng anhvẫn nhiệt tình, cẩn thận khi thồ tranh cho ngời hoạ sỹ ấy, anh còn mang hộ balô và dìu ông họa sỹ qua suối, lấy dầu bóp chân cho hoạ sỹ Và đẹp nhất làhình ảnh ngời lính trẻ giữa rừng đêm đầy biệt kích và thú dữ đã mắc võng và
ôm súng thức cả đêm ngồi canh cho ông hoạ sỹ ngủ, là những chi tiết nghệthuật làm bừng sáng lên chân dung ngời chiến sỹ: Giàu đức hy sinh và tình th-
ơng đối với đồng đội, đồng chí của mình Hơn thế ở anh còn giàu lòng vị tha.Ngời hoạ sĩ ấy đã không mang th và bức ảnh mà anh nhờ đến cho mẹ anh, bàtởng anh đã hy sinh nên đã khóc đến loà cả mắt Trong một lần tình cờ ônghọa sĩ ấy đi cắt tóc đã vào đúng quán của anh, gặp lại ngời đã thất hứa vớimình nhng anh không hề trách cứ ngời hoạ sĩ ấy, bởi vì anh là ngời bao dung
vị tha
Hoặc là Lực trong “Cỏ lau” (Nguyễn Minh Châu) cũng là một ngời anhhùng, ngời đã từng quên mình hy sinh hạnh phúc cá nhân vì cuộc chiến đấu.Không những thế anh còn cao thợng trong tình yêu trong ứng xử Khi trở vềbiết Thai ngời vợ yêu quý của anh đã lấy Quảng anh sẵn sàng hy sinh hạnhphúc của mình và nhờng cho đồng đội Và chúng ta không thể nào quên hình
ảnh của Thai, đó là một ngời phụ nữ nhẫn nại, dịu dàng, chung thuỷ, tính cách
đó của Thai tơng phản với cả những ồn ã, xô bồ, với sự ác liệt của chiến tranh
ý thức về thiên chức của ngời phụ nữ phát ra từ nhân vật này trở thành sự cắtnghĩa về sự dẻo dai, bất khuất của con ngời Việt Nam trớc sự huỷ diệt của kẻthù
Trong “Cỏ lau”, Thai vừa có nét dịu dàng, xinh đẹp của cô Nết, côXiêm, vừa có tính cách mạnh mẽ của Quỳ Xây dựng nhân vật Thai, NguyễnMinh Châu muốn hội tụ lại nơi chi những nét trội trong tính cách, số phận của
Trang 26các nhân vật nữ trớc đó Vào những ngày hạnh phúc bên ngời chồng mới cới,Nguyễn Minh Châu đã cho ngời đọc tiên cảm về một số phận không may khiThai xuất hiện nơi vùng núi có tên là Đợi “bốn phía đầy những hòn vọng phuvới đầy đủ hình dáng” Tám năm xa cách, Thai vừa tham gia công tác xã hội,vừa bị tù đầy, vừa chăm sóc bố chồng, lại tự tay chôn cất em chồng, rồi chôncất cả chồng! Bi kịch càng đợc đẩy lên cao hơn khi ngời chồng cũ của Thai trở
về, ngời mà hai bốn năm qua ngày nào Thai cũng thơng nhớ Nguyễn Minh
Châu đặt chị vào trờng tình của hai ngời đàn ông Một ngời Hai t năm nay gần
nh không yêu một ai, một ngời cảm thấy khổ sở, nhục nhã vì không đợc vợ
yêu nhng lại càng yêu, càng quý vợ hơn, vì anh ta đã nhiều thấy ở Thai tính
cách Thờ chồng có thể hóa đá Với một tính cách khá tiêu biểu vừa dịu dàng,
mãnh liệt và kiên quyết, Thai là sự hội tụ, sụ kết tinh các phẩm chất đàn bà cótrong khắp các nhân vật nữ ở các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh cáchmạng Bởi vậy dù rất yêu Lực nhng Thai vẫn chọn con đờng trở về với ngờichồng mới, ngời mà hai t năm nay Thai không hề yêu để giữ trọn đạo làm vợ,làm mẹ
Trong “Miền cháy” (Nguyễn Minh Châu) Hiển đợc miêu tả với nhữnggiá trị chuẩn mực của trớc 1975 ở Hiển hội tụ kết tinh một vẻ đẹp thuầnkhiết: Hiển là ngời tốt, điều đó thể hiện trong mọi hành động của anh, do quáchuẩn mực, khuôn thớc nên anh do dự khi đến với Cúc Cả Cúc cũng vậy, Cúcchạy trốn tình yêu để gạt bỏ mặc cảm mắc lỗi- mà điều đó thực ra không hề
tồn tại Cúc xử sự nh vậy để giữ gìn mẫu mực bởi vậy Cúc là ngời phụ nữ tiết
hạnh Cúc không sống cho riêng mình mà cho lý tởng của cộng đồng Cúc vàHiển không dám đến với nhau vì họ sợ làm tổn thơng ngời đã hy sinh, ngời
đồng chí, đồng đội của họ
Hiển đợc mọi ngời xem là thánh nhân và Lan đã phải thốt lên một kho
vàng! Anh nh một kho báu chứa những câu giải đáp của tuổi trẻ [1,49] Còn
với Cúc ta nh gặp hình ảnh của ngời phụ nữ trong văn học 1945-1975 ở Cúc
của cộng đồng, hy sinh hạnh phúc cá nhân vì cộng đồng Cúc nhận thấy giữa
mình và mảnh đất mình đang ngồi bên cạnh mình vừa ràng buộc với nhau bởi sợi dây vô hình, bền vững và thiêng liêng Đồng thời cô nhận thấy một niềm hạnh phúc to lớn đến độ đau đớn tột cùng chính là tơng lai của xóm làng này,
đất nớc này … Nguyễn Du
Trong “Miền cháy” (Nguyễn Minh Châu), kết thúc tác phẩm là cuộcgặp mặt của mẹ Êm với kẻ thù đã giết chết con mình Nhng mẹ đã vợt lên nỗi
Trang 27đau và sự thù hận riêng để giữ chính nghĩa lớn của cách mạng tránh cho đất
n-ớc những đau khổ nặng nề mới Bà trao lại đứa trẻ cho cha nó
“Bằng bàn tay run rẩy … Nguyễn Du
Đó chính là truyền thống nhân đạo bao dung của dân tộc ta
2.2.3 Văn học Việt Nam sau 1975 viết theo khuynh hớng sử thi nói nhiều đến những gian khổ, hy sinh, mất mát
Viết về đề tài chiến tranh, đề tài quen thuộc nhng không bao giờ cũ, bởivì mỗi thời đại, trong mỗi thời khắc lịch sử khác nhau, với những lối t duykhác nhau, sẽ có cái nhìn khác nhau về cuộc chiến tranh đã qua Các nhà vănthể hiện cuộc chiến tranh sau 1975 khi đất nớc đã hoà bình câu chuyện chiếntranh đợc lật lại nó sẽ có thêm sự chiêm nghiệm, khám phá và phát hiện mớimẻ
Bởi vậy trong các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh cách mạng sau
1975 đã phản ánh cuộc chiến tranh và những ngời lính khác trớc
Nếu nh ở mảng đề tài này trớc đây, điều đợc các nhà văn quan tâm chú
ý là những chiến công, lòng dũng cảm, tinh thần xả thân vì lý tởng, thì bây giờkhông chỉ là những điều đó mà còn chú ý đến mô tả toàn diện các khía cạnhcủa cuộc chiến tranh, cái đợc, cái mất mà nhân dân ta nhận đợc ở 30 nămchiến đấu với kẻ thù Nói cụ thể hơn, chiến tranh đợc các nhà văn phản ánh
đúng nh sự thật nó đã xẩy ra nh thế nào?
Trong tiểu thuyết “Đất trắng” Nguyễn Trọng Oánh mô tả hoạt động củatrung đoàn 16, sau cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 Đây là một đơn vịtừng chiến đấu rất oanh liệt, kiên cờng Giờ đây họ có nhiệm vụ đảm nhận
cuộc chiến đấu quyết liệt trong sự bao vây tứ phía của kẻ thù, ở một địa bàn bé
nh lòng bàn tay ở đây ngời đọc thấy đợc sự dữ dội của cuộc chiến đấu giữa ta
và địch, những thiệt hại nặng nề của ta Cả một trung đoàn hy sinh gần hết,chỉ còn lại 10 ngời Nhân vật Tám Hàn chính uỷ của Trung đoàn thấy đồng
đội hy sinh quá nhiều đã chạy sang hàng ngũ địch Từ một ngời lính dũng cảmnhng trớc sự lựa chọn giữa sự sống và cái chết anh ta đã chọn sự sống bằngcách phản bội Sự tha hoá, biến chất đã len lỏi đến cả những cán bộ cao cấp cỡTrung tá nh Tám Hàn
Việc miêu tả một cán bộ cao cấp cỡ Trung tá nh Tám Hàn mà phản bộiquả là một điều mới lạ trong văn học, và nó cũng thể hiện sự táo bạo của tácgiả Thông qua hình tợng Tám Hàn, tác giả muốn khẳng định tính chất quyếtliệt của chiến tranh Những cảnh huống căng thẳng ngột ngạt, những khó khăn
Trang 28thử thách Nhng việc mô tả quá trình tha hoá của Tám Hàn không làm ngời tanhụt chí, vì anh ta chỉ là một hiện tợng riêng lẻ, nên tinh thần chung vẫn làkiên định lập trờng t tởng chiến ở đây khát vọng sống đã vợt quá cái ngỡngcho phép, nhân vật cha biết đặt mình trong sự hy sinh cho dân tộc Sự phản bộimột phần phản ánh sự tàn khốc của chiến tranh, nhng đó cũng là kết cục tấtyếu của t tởng vụ lợi, bạc nhợc, đớn hèn của những ngời chỉ biết hởng thụ.
Trong “Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” Nguyễn Minh Châu kể
con mắt ngời chỉ huy, một trận nh vậy mà thơng vong cha đầy chục là ít, rất ít
[1,175] Nhng trong số cha đầy chục ngời là ít, rất ít lại có Hoà một trung
đoàn trởng trẻ tuổi mu trí, dũng cảm, có năng lực Sự hy sinh của Hoà khôngchỉ là nỗi đau cho gia đình, mà cho cả dân tộc khi mất đi một con ngời u tú
Và ngời đau khổ hơn cả là Quỳ, Hoà hy sinh khiến cho Quỳ đau khổquá vì vậy cô đã mắc bệnh mộng du Khi nhìn thấy bức tợng ngàn tay ngànmắt ngồi trên toà sen trong chùa, khi ngắm bức tợng ấy Quỳ đã khám phá ra
một điều trở thành quy luật của cuộc sống: Hoá ra cuộc sống từ bao đời đã là
nh thế, con ngời là sự kết tinh của tinh hoa: hoá ra thời nào cũng có những con ngời nh anh ấy: tập trung trí tuệ và tài năng trác tuyệt của nhân dân và mang trong mình tất cả những khát vọng cháy bỏng của nhân dân [1,188].
Sự khốc liệt của chiến tranh còn đợc các nhà văn miêu tả ở số lợng bom
đạn Mỹ đã ném xuống đất nớc chúng ta Với bảy triệu tấn bom trong “Miềncháy” (Nguyễn Minh Châu) cho chúng ta thấy sự tàn phá của bom đạn xuốngmiền đất ấy là quá lớn, khiến đất đai của chúng ta thành miền đất của cõi chết
đất cháy
Trong cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” nhân vật Kiên đã có
sự nhìn nhận và đánh giá cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta đầy
đủ hơn và thoả đáng hơn Kiên đã định nghĩa chiến tranh là những ngày
đau thơng nhng huy hoàng; những ngày bất hạnh nhng chan chứa tình ngời.
Nói đến chiến tranh Kiên nhớ tới: biết bao đồng đội thơng yêu, ruột
thịt … Nguyễn Du những ng ời lính đã làm sáng danh đất nớc này và làm nên vẻ đẹp tinh thần của cuộc kháng chiến Nhng Kiên cũng không thể nào quên đợc bộ mặt gớm guốc của chiến tranh, với những móng vuốt của nó … Nguyễn Du những sự thật trần trụi, bất nhân nhất của nó … Nguyễn Du bất kỳ ai đã phải trải qua đều mãi mãi bị ám
ảnh, mãi mãi mất khả năng sống bình thờng, mãi mãi khôgn thể tự tha thứ cho mình [3, 227].
Trang 29ở một đoạn khác Bảo Ninh lại viết chiến tranh là sự che chở đùm bọc,
đợc cứu rỗi trong tình đồng đội, bác ái nhng đồng thời cũng là gánh nặng bạo lực mà con sâu cái kiến của ngời lính phải cõng trên lng đời đời, kiếp kiếp [3,
227]
Nhân vật Kiên cũng tâm sự trong chiến tranh chính nghĩa thắng, lòng
nhân thắng nhng cái ác, sự chết chóc, bạo lực phi nhân cũng thắng, những tổ thất, những mất mát có thể bù đắp, các vết thơng sẽ lành, đau khổ sẽ hoá thạch, nhng nỗi buồn về cuộc chiến tranh thì sẽ ngày cáng thấm thía hơn, sẽ không bao giờ nguôi [3,231]
Trong cuốn tiểu thuyết nhan nhản những lời nói ngợc nh chiến tranh là
những niềm vui buồn thảm, sắc diện đau đớn say cuồng tột độ cùng hạnh phúc
tâm trạng về sự thiêng liêng đau khổ của nguời lính chống Mỹ vừa đợc ghi
nhớ vĩnh hằng vừa không ngừng đợc lãng quên [3,48]
Chiến tranh đợc nhìn nhận từ mặt trái của nó vô cùng khủng khiếp và
đáng nguyền rủa chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn
khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông và đàn bà, là thế giới thảm sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con ngời [3,33]
Bộ mặt gớm guốc tàn bạo của chiến tranh đợc Bảo Ninh miêu tả trongtác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” đó là khi Kiên trở lại cửa chuông Gọi hồn đểtìm hài cốt đồng đội, Kiên nhớ lại trận đánh thất bại nặng nề của quân ta vào
cuối mùa khô năm 1969 Đó là Mùa khô cực kỳ cùng khốn của toàn cõi B3,
tiểu đoàn 27 độc lập, cái tiểu đoàn bất hạnh mà anh là một trong những may mắn đợc sống, đã bị bao vây rồi bị tiêu diệt mất hoàn toàn phiên hiệu [3,6].
Kiên nhận định: Một trận đánh ghê rợn, độc ác, bạo tàn [3,6].
Chiến tranh đợc Bảo Ninh miêu tả không còn giống với cách miêu tả vềchiến tranh ở các tác phẩm trớc 1975 Mà bây giờ các nhà văn đã dám nói lên
sự thật về cuộc chiến tranh đó Các đại đội đã tan tác đang cố co cụm lại bị
đánh tan tác Tất cả bị na-pan tróc khỏi công sự, hoá cuồng, không lính không quan gì nữa rùng rùng lao chạy trong lới đạn dày đặc, chết dúi, ngã dụi vào biển lửa Trên đầu trực thăng rà rạp các ngọn cây và gần nh thúc họng
đại liên vào gáy từng ngời một mà bắn [3,6]
Trớc cảnh lính của ta chết quá nhiều ngời chỉ huy trong cơn hoảng loạn,không biết làm cách nào khác để cổ vũ, trấn an tinh thần đồng đội nên anh đã
chọn cái chết Thà chết không hàng … Nguyễn Du Anh em, thà chết … Nguyễn Du - Tiểu đoàn tr ởng gào to, nh điên, mặt tái dại, hốt hoảng hoa súng ngắn lên, và ngay trớc mặt Kiên, anh ta tự đọp vào đầu, phọt óc ra khỏi tai Kiên líu lỡi kêu ố ố trong
Trang 30họng Bọn Mỹ xông tới, tiểu liên kẹp bên sờn Đạn dày đặc tủa tới nh đàn ong lửa [3,7].
Trong văn học giai đoạn 1945 - 1975 cha bao giờ chúng ta thấy các nhà
văn miêu tả cảnh chiến trờng nh trong “Nỗi buồn chiến tranh” Những ngày sau
đó quạ bay rợp trời, và sau khi bọn Mỹ rút thì ma ập xuống, lụt rừng Bãi chiến trờng biến thành đầm lầy, mặt nớc màu nâu thẫm nổi váng đỏ lòm Trên mặt n-
ớc lềnh bềnh xác ngời sấp ngửa, xác muôn thú cháy thui, trơng sình trôi lẫn với cành lá và những thân cây to nhỏ nh bị pháo băm [3,8]
Nếu nh trong văn học 1945 - 1975 khi nói đến đại thắng 30-4-1975chúng ta sẽ chỉ thấy những cảnh cờ hoa rợp đờng, cảnh đoàn tụ của toàn dântộc Thì trong các tác phẩm văn học viết theo khuynh hớng sử thi sau 1975chúng ta sẽ đợc nhìn nhận về ngày Đại thắng 30-4-1975 một cách toàn diệnhơn, không chỉ có niềm vui mà đằng sau đó là cảnh
Bọn tăng chúng tôi nói thật là rất ngợp xác chết Xích xe còn kẹt khối những mẫu thịt ngời, phải có sông suối mà lội hẳn xuống thì vỏ xe mới hết thối [3,113].
Đó là cảnh trung đoàn của Kiên đánh vào ty cảnh sát Buôn Mê Thuật,sau cảnh dồn dập nã đạn Kiên đã bắn một cô gái để trả thù cho Oanh, đồng
đội của mình Những đầu đạn cỡ 7,6 ly quật đôm đốp vào nền đá hoa dới lng
tấm thân vận đồ trắng đã đỏ lòm Kiên ôm bụng ngồi thụp xuống cạnh bốn cái xác run bần bật, oẹ khan [3, 115]
Sau những cảnh bắn giết nh vậy Kiên tự hỏi mình Nhân tính, tình ngời!
… Nguyễn Du [3, 115]
Đối lập với cảnh cờ hoa, và niềm hân hoan vui chiến thắng là cảnh
Suốt đêm, anh lang thang trong phi cảng xem lính tráng vét đồ cổ nhập hội“ ”
ăn nhậu đập phá Cuộc hoan lạc ồ ạt song ít vui, đúng hơn là tuyệt nhiên chẳng vui một chút nào Bàn ghế bị xô đổ, đập nát, chẻ băm ra, ngổn ngang, lổng chổng Giấy má tiền bạc tung toé bay Ly cốc bình tách bằng sứ, thủy tinh bị đập vụn Chai vỡ từng két, xối tràn suối rợu tới đẫm lên các tấm thảm.
Và tiểu liên, súng lục đua nhau nã vung vít lên trần, bắn rụng các đèn chùm.
Ai nấy thả sức uống Sau khớt Phần đông dở khóc, dở cời Có tay rống lên rồi nức nở và sặc nấc nh dậy cơn tâm thần Hoà bình ập tới phũ phàng, choáng váng đất trời và siêu đổ lòng ngời, gây bàng hoàng, gây đau đớn nhiều hơn là mừng vui [3, 115]
Trong cuốn tiểu thuyết này của Bảo Ninh có những trang ngập máu
máu tung xối, chảy toé, ồng ộc, nhoe nhoét, máu đẫm hôi hổi, rới đẫm bờ dốc thoải, bãi chiến trờng biến thành đầm lầy, mặt nơc màu nâu thẫm nổi váng