1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những xu hướng chính của phê bình văn học việt nam trong thập niên đầu thế kỉ xxi

111 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách đề cập đến những vấn đề của nền phê bình văn học hiện đại nước nhà: lịch sử, các phương pháp của nó và những vấn đề đang được đặt ra trong lý luận phê bình hiện nay, hay như tá

Trang 1

NGUYỄN THỊ HÀ

NHỮNG XU HƯỚNG CHÍNH

CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XXI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2014

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN - 2014

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI 9

1.1 Khái niệm chung về phê bình văn học 9

1.1.1 Các định nghĩa 9

1.1.2 Đối tượng và nhiệm vụ của phê bình văn học 10

1.1.3 Phương pháp phê bình văn học 14

1.2 Khái quát về các chặng đường phát triển của phê bình văn học Việt Nam hiện đại 17

1.2.1 Phê bình văn học giai đoạn 1900 - 1932 17

1.2.2 Phê bình văn học giai đoạn 1932 - 1945 20

1.2.3 Phê bình văn học giai đoạn 1945 - 1985 23

1.2.4 Phê bình văn học giai đoạn 1986 - 2000 28

1.3 Điều kiện phát triển mới của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ XX 31

1.3.1 Sự giới thiệu rộng rãi các thành tựu lý luận văn học, phê bình văn học hiện đại của thế giới 31

1.3.2 Sự nhìn nhận sáng suốt hơn về lực cản đối với phê bình trong các giai đoạn văn học trước đây 36

1.3.3 Sự kích thích mỹ học của các sáng tác mang tính cách tân 39

Trang 4

QUAN ĐIỂM PHÊ BÌNH 44

2.1 Chấn chỉnh cách nhìn 44

2.1.1 Tính quyền uy của xu hướng phê bình chấn chỉnh cách nhìn 44

2.1.2 Điểm tựa của xu hướng phê bình chấn chỉnh cách nhìn 47

2.1.3 Tác động của xu hướng phê bình chấn chỉnh cách nhìn 50

2.2 Nhận thức lại về các thước đo cũ 54

2.2.1 Cơ sở khoa học của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ 54

2.2.2 Nội dung phong phú của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ 56

2.2.3 Sức thúc đẩy tư duy của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ 58

2.3 Môi giới cho truyền thông 59

2.3.1 Hoàn cảnh phát triển thuận lợi của xu hướng phê bình môi giới cho truyền thông 59

2.3.2 Những loại hình hoạt động của xu hướng phê bình môi giới cho truyền thông 61

2.3.3 Tính “phù phiếm” của xu hướng phê bình môi giới cho truyền thông 65

Chương 3 NHỮNG XU HƯỚNG CHÍNH CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI TỪ GÓC NHÌN ĐỐI TƯỢNG PHÊ BÌNH 69

3.1 Hướng về văn bản văn học 69

3.1.1 Quan điểm nền tảng của xu hướng phê bình hướng về văn bản văn học 69

3.1.2 Nội dung của xu hướng phê bình hướng về văn bản văn học 72

Trang 5

3.2 Hướng về tác giả 78 3.2.1 Những nhận thức có tính nền tảng của xu hướng phê bình

hướng về tác giả 78 3.2.2 Điểm mới trong cách tiếp cận đối tượng của xu hướng phê

bình hướng về tác giả 80 3.2.3 Tác dụng khôi phục diện mạo chân thực đối tượng của xu

hướng phê bình hướng về tác giả 83 3.3 Hướng về các vấn đề thời sự của văn học 87 3.3.1 Cơ sở thực tiễn của xu hướng phê bình hướng về các vấn đề

thời sự của văn học 87 3.3.2 Thực trạng thiếu bản lĩnh của chủ thể phê bình trên xu

hướng này 88 3.3.3 Sự giao tranh quan điểm trong xu hướng phê bình hướng về

các vấn đề thời sự của văn học 91

KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở Việt Nam, phê bình văn học chỉ thực sự xuất hiện cùng với quá trình hiện đại hóa văn học ở nửa đầu thế kỉ XX Trong hơn một thế kỉ văn học vừa qua, phê bình văn học đã là một bộ phận quan trọng của đời sống văn học, đặc biệt là trong giai đoạn có những sự biến đổi to lớn của xã hội và văn học như hiện nay Để nghiên cứu và đánh giá một cách khoa học, toàn diện về văn học Việt Nam trong thời kì mới từ những năm cuối thế kỉ XX đến nay, không thể thiếu công việc tìm hiểu, nghiên cứu về hoạt động phê bình văn học giai đoạn này

Phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI là sự tiếp nối hoạt động phê bình của những thời kì trước và theo khá sát đời sống văn học dân tộc hiện nay Chúng ta cần phải tiến hành công việc nghiên cứu, đánh giá một cách có

hệ thống về một giai đoạn mới của phê bình văn học dân tộc, tìm ra được những xu hướng chính trong thập niên đầu thế kỉ XXI

Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến phê bình văn học những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI Tuy nhiên, số lượng chưa nhiều và cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách bao quát, hệ thống, toàn diện về tình hình và những vấn đề của phê bình văn học trong thập niên đầu thế kỉ XXI Việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá phê bình văn học trong giai đoạn này đang đặt ra như một yêu cầu bức thiết

2 Lịch sử vấn đề

Phê bình văn học ở Việt Nam đã và đang diễn ra với nhiều hình thức phong phú, đề cập rất nhiều vấn đề của đời sống văn học và của chính phê bình, tuy không phải lúc nào cũng sôi động, nhưng nó vẫn theo khá sát đời sống văn học Khối lượng tài liệu phê bình văn học là hết sức lớn, đa dạng, lại

Trang 7

phần nhiều nằm rải rác trên báo chí, trên mạng internet, cả trong nước và ngoài nước

Trước hết, phải kể đến công trình Văn học Việt Nam thế kỉ XX (Phan

Cự Đệ - chủ biên, NXB Giáo dục, 2004) có phần VII: Lí luận phê bình văn

học thế kỉ XX do Trần Đình Sử viết Phần này bao quát diễn biến và diện mạo

của phê bình văn học Việt Nam trong suốt thế kỉ, với các chặng đường 1900-

1932, 1932- 1945, 1945-1985 và 1985- 2000 Do mục đích và nhiệm vụ bao quát trên diện rộng (cả nghiên cứu, lí luận, phê bình) và trong suốt thời gian một thế kỉ văn học với bốn giai đoạn, nên tác giả chưa có điều kiện trình bày

kĩ càng và đầy đủ diễn biến tình hình, diện mạo của phê bình văn học ở mỗi giai đoạn, nhất là chưa thể tìm hiểu kĩ về những hiện tượng quan trọng, những vấn đề của phê bình văn học ở mỗi chặng đường Nhưng cho đến nay, đây là công trình có quy mô bao quát nhất về lí luận phê bình văn học Việt Nam thế

kỉ XX, được viết một cách công phu, nghiêm túc với những nhận định xác đáng, sâu sắc

Tiếp đến, cuốn Lý luận và phê bình văn học - Đổi mới và phát triển

(Kỷ yếu Hội thảo khoa học) của Viện Văn học (Nxb Khoa học xã hội Hà Nội,

2005) tập hợp những bài viết trong Hội nghị về Tình hình phê bình văn học,

nghệ thuật do Hội đồng lý luận- phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ

chức tại Hà Nội ngày 22/ 7/ 2004 Cuốn sách đã giúp cho người đọc có một cái nhìn khá bao quát về thực trạng của lý luận văn học trong nước và những tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu, phê bình trong nước như Phan Trọng Thưởng, Trương Đăng Dung, Trần Đình Sử, Hoàng Trinh, Thành Duy, Lã Nguyên, Nguyễn Văn Long, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Đăng Điệp, Vương Trí Nhàn, Phạm Xuân Nguyên, … qua các bài viết của mình đã đi sâu bàn bạc các vấn đề về bản chất, đối tượng của phê bình văn học và bước đầu nhận

Trang 8

định thực trạng phê bình văn nghệ những năm gần đây Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa đề cập nhiều đến những xu hướng của phê bình từ góc nhìn quan điểm phê bình hay góc nhìn đối tượng phê bình

Đến với Phê bình văn học Việt Nam hiện đại (Nxb Văn học, 2011) của

Trịnh Bá Đĩnh, một công trình tập hợp những bài viết của tác giả về phê bình văn học Việt Nam trong quá khứ chưa xa và đương đại và được tác giả gọi là “hiện đại” Cuốn sách đề cập đến những vấn đề của nền phê bình văn học hiện đại nước nhà: lịch sử, các phương pháp của nó và những vấn đề đang được đặt ra trong lý luận phê bình hiện nay, hay như tác giả gọi là “phê bình văn học trong thời đại thông tin”… Công trình được chia làm ba phần với ba trọng tâm khác nhau Phần đầu, tác giả nhận diện phê bình văn học Việt Nam thế kỉ XX qua những phong cách phê bình, tập trung đánh giá lại những thành tựu và hạn chế của phê bình văn học mác-xít, giới thiệu và phân tích những phương pháp phê bình như phê bình cấu trúc luận, giải thích văn bản và so sánh văn học, phân tích tác phẩm theo cấu trúc - loại hình Phần thứ hai, tác giả tập trung phân tích các kiểu diễn ngôn phê bình

đầu thế kỉ XX, lịch sử tiếp nhận - nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều,

đặc điểm của việc tiếp nhận tư tưởng lý luận văn học nước ngoài từ năm

1955 cho đến nay Phần cuối là những suy ngẫm của tác giả về thực trạng đời sống văn học đương đại và con đường của lý luận - phê bình văn học Việt Nam tương lai Như vậy, tác giả đã khá cẩn trọng phân tích đầy đủ diện mạo, đánh giá những thành tựu và hạn chế của hoạt động phê bình văn học nước nhà, từ đó đi tới đề xuất những vấn đề hữu ích đối với hoạt động phê bình văn học đương đại Nhưng nhìn chung, trọng tâm của công trình vẫn là nghiên cứu lịch sử và phương pháp phê bình văn học Việt Nam ở thế kỉ XX

và mới chỉ bước đầu nhận diện lý luận phê bình văn học đầu thế kỉ XXI ở mức độ còn rất sơ lược

Trang 9

Trong thời gian gần đây, bạn đọc ghi nhận sự xuất hiện của cuốn Phê

bình văn học Việt Nam 1975-2005 (Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012) do

Nguyễn Văn Long chủ biên, đã dựng lại được một bức tranh toàn cảnh về ba mươi năm của phê bình văn học Việt Nam kể từ khi hòa bình, thống nhất đất nước Có thể tìm thấy ở đây những nét vẽ chi tiết về các cuộc thảo luận quan trọng của phê bình văn học, chẳng hạn cuộc thảo luận về trường ca từ những năm 70; tranh luận về văn học viết về chiến tranh, và vấn đề đánh giá nền văn học cách mạng; hoạt động thẩm định các hiện tượng văn học mới Cũng có thể đọc được trong đó những phác họa khách quan về sự tương tác giữa hoạt động phê bình và các hoạt động khác của đời sống văn học (hoạt động dịch thuật, hoạt động lý luận), hành trình lý thuyết hóa hoạt động phê bình; các thực hành phê bình thể loại, tác giả, tác phẩm qua ba giai đoạn chính; những vấn đề đặt ra trong phê bình văn xuôi, tình hình thơ và phê bình thơ Không chỉ đề cập đến phê bình văn học trong nước, điểm nổi bật và mới

mẻ của cuốn sách là phần IV: Tổng quan phê bình văn học của người Việt Nam ở nước ngoài từ 1975 đến nay Đây có lẽ là lần đầu tiên, một công trình lịch sử phê bình văn học trong nước đề cập một cách chi tiết, hệ thống

và khách quan về phê bình văn học hải ngoại, trước đó khu vực này chỉ được nhắc qua trong một số bài viết hoặc còn dè dặt trong các công trình quy mô Một điều đáng lưu ý khác ở công trình này là phần III, tác giả cũng đã nhận diện các khuynh hướng phê bình chính trong phê bình văn học từ sau1975 đến 2005 nhưng thiên về hình thức phê bình với hai bộ phận phê bình học thuật và phê bình truyền thông mà còn ít chú trọng đến quan điểm phê bình và đối tượng phê bình để nhận diện các khuynh hướng Trong khi vấn đề đặt ra với việc thực hiện đề tài này là nhận diện những xu hướng chính của phê bình trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn quan điểm phê bình và đối tượng phê bình

Trang 10

Gần đây nhất là công trình do Trịnh Bá Đĩnh chủ biên: Lịch sử lí luận

phê bình văn học Việt Nam (Nxb Khoa học Xã hội, 2013).Trong công trình

này, Trịnh Bá Đĩnh cùng các đồng nghiệp đã xây dựng cuốn sách đầu tiên nghiên cứu lí luận, phê bình văn học như một chỉnh thể độc lập, có lịch sử riêng kéo dài từ khởi đầu cho đến hôm nay Căn cứ vào thực tế nền văn học nước nhà, nhóm nghiên cứu đã không xét hai đối tượng lí luận và phê bình theo hai hướng độc lập, thường thấy trong những công trình trước đó mà viết gộp lịch sử lí luận với phê bình theo từng giai đoạn cụ thể Nhóm tác giả cũng

đã chú ý đến những sự kiện quan trọng như: các cuộc tranh luận văn học; các

sự kiện văn học, văn hóa, lịch sử có tác động mạnh đến đời sống lí luận, phê bình Cách kết cấu như vậy đảm bảo được tính hệ thống, tính cân đối, phù hợp với sự triển diễn mang tính lịch sử của đời sống lí luận, phê bình Như vậy qua công trình này, nhóm tác giả đã cho chúng ta thấy được những diện mạo khác nhau của đời sống lí luận, phê bình bao quát trong một thời gian liên tục, kéo dài từ thời kì khởi đầu cho đến hiện tại

Ngoài những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, trong thời đại công nghệ thông tin, hoạt động phê bình văn học còn có rất nhiều trên mạng Internet đáp ứng nhu cầu trao đổi, tìm hiểu của các nhà phê bình nói riêng và độc giả nói chung Có thể nói, bước sang thế kỉ XXI, đời sống phê bình văn học trên mạng phong phú, sôi động hẳn lên Trong bối cảnh báo chí văn nghệ truyền thống gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả hoạt động không như mong đợi, nhất là mảng phê bình văn học, thì sự ra đời website

http://phebinhvanhoc.com.vn/ (do Trần Thiện Khanh phụ trách chính) ngay

lập tức thu hút đông đảo bạn đọc và một số báo chí quan tâm, cộng tác, chia

sẻ Mặc dù còn non trẻ nhưng nó đã bước đầu tạo ra được những trao đổi, thảo luận quan trọng, góp phần kết nối các khu vực văn học, các chủ thể, quảng bá phổ biến nhiều tư tưởng, lý thuyết văn học hiện đại (trong đó có

Trang 11

nhiều nghiên cứu công phu, nhiều bài dịch thuật về lý thuyết có giá trị, lần đầu tiên được công bố trên website), các chân dung phê bình, các bài phê bình văn học hữu ích… có thể xem là một sự kiện đáng chú ý của đời sống phê bình văn học đầu thế kỉ XXI Bên cạnh đó, sự xuất hiện của nhiều website khác cũng góp phần tạo nên sự sôi động của đời sống phê bình văn học qua việc thu hút được hàng trăm cây bút phê bình chuyên nghiệp lẫn không

chuyên ở trong nước và cả ở nước ngoài như các trang http://www.tienve.org;

http://vannghequandoi.com.vn/; nam/phe-binh/; http://phongdiep.net/; http://vanhocquenha.vn/; v.v…Qua

http://tonvinhvanhoadoc.vn/van-hoc-viet-các bài viết trên http://tonvinhvanhoadoc.vn/van-hoc-viet-các báo, http://tonvinhvanhoadoc.vn/van-hoc-viet-các diễn đàn văn học mạng, http://tonvinhvanhoadoc.vn/van-hoc-viet-các blog cá nhân cũng góp phần cho chúng ta hình dung được diện mạo, tiến trình phát triển của nền phê bình văn học Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay Có thể nói, sự ra đời của internet thực sự là một cuộc cách mạng đối với sáng tác, xuất bản và cả phê bình văn học

Như vậy, vấn đề phê bình văn học Việt Nam đã thu hút được sự chú ý nghiên cứu của nhiều tác giả Với luận văn này, chúng tôi cũng muốn góp tiếng nói của mình vào vấn đề, nhất là để thấy rõ hơn diện mạo phê bình văn

học Việt Nam thập niên đầu thế kỉ XXI, qua đề tài: Những xu hướng chính

của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những xu hướng chính của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn quan điểm phê bình và từ góc nhìn đối tượng phê bình, gồm cả phê bình văn học trong nước và phê bình văn học của người Việt ở nước ngoài Tuy nhiên, do năng lực nghiên cứu và thời gian hạn hẹp nên người viết hướng trọng tâm nghiên cứu vào mảng phê bình văn học trong nước, mảng phê bình văn học của người Việt ở nước ngoài chỉ được đề cập ở mức độ khái quát sơ lược Chúng

Trang 12

tôi cũng tạm bỏ qua không trình bày về các xu hướng chính của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI nhìn từ phương pháp phê bình,

do đây là vấn đề hóc búa, vượt trình độ hiện có của người làm luận văn

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung xác định những xu hướng chính của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI để có thể đánh giá đúng thành tựu và hạn chế của nó trước yêu cầu đổi mới văn học, đổi mới hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích những tiền đề phát triển của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI

- Nhận diện, đánh giá những xu hướng chính của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn quan điểm phê bình

- Nhận diện, đánh giá những xu hướng chính của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn đối tượng phê bình

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

Công trình tìm hiểu một cách bao quát về các đặc điểm nổi bật của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI, tức là theo khá sát đời sống văn học hiện nay Trước đó, việc nghiên cứu, đánh giá về lĩnh vực phê

bình của một số tác giả mới chỉ dừng lại ở một vài năm đầu thế kỉ

Trang 13

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai thành 3 chương:

Chương 1 Những tiền đề phát triển của phê bình văn học Việt Nam

trong thập niên đầu thế kỷ XXI

Chương 2 Những xu hướng chính của phê bình văn học Việt Nam

trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn quan điểm phê bình

Chương 3 Những xu hướng chính của phê bình văn học Việt Nam

trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn đối tượng phê bình

Trang 14

Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI

1.1 Khái niệm chung về phê bình văn học

1.1.1 Các định nghĩa

Phê bình văn học là một trong những bộ môn chính của khoa học văn học, bên cạnh lí luận văn học và lịch sử văn học Ba bộ môn này liên quan chặt chẽ với nhau Thiếu lí luận văn học, phê bình văn học không thể có những phán đoán, khái quát sâu sắc về văn học

Nói đến văn học của một thời kỳ, không thể không nói đến phê bình văn học của thời kỳ đó, vì một nền văn học trưởng thành luôn phát triển trên hai điểm tựa: sáng tác và phê bình Tác phẩm văn học vừa là sáng tác của nhà văn vừa là kết quả tiếp nhận của người đọc Văn học vừa tồn tại trong văn bản, vừa tồn tại trong tiếp nhận và phê bình Chính hoạt động phê bình làm cho tác phẩm có một đời sống riêng trong lịch sử, có thể được cảm nhận nông sâu, hay dở… khác nhau

Có thể nói, khái niệm phê bình văn học, qua thời gian, đã có khá nhiều định nghĩa Thoạt đầu nó là những phán đoán tự nhiên do nhu cầu thưởng ngoạn tác phẩm Sau đó nó được quan niệm là một khoa học về văn học mang tính nghệ thuật cao Nó đòi hỏi nhà phê bình phải có tri thức, biết phân tích, giải thích đặc biệt là biết cảm thụ nghệ thuật mới có thể làm sáng tỏ vấn đề

Từ buổi đầu hình thành nền phê bình văn học hiện đại ở Việt Nam, khái niệm phê bình (văn học) đã được quan tâm giới thuyết, minh định Năm 1933,

Thiếu Sơn cho rằng: “nhà phê bình là kẻ đọc giùm người khác” Lê Thanh thì thấy: “Phê bình tức là giải những tình cảm của mình về một công trình, một

nhân vật, nhưng mỗi người cảm một cách, nghĩ một cách”

Trang 15

Cho đến nay, định nghĩa về phê bình văn học đã có những điều chỉnh,

bổ sung hợp lý, giúp chúng ta hình dung về bộ môn khoa học này một cách đầy đủ, toàn diện và hoàn thiện hơn

Từ điển Tiếng Việt năm 1999 định nghĩa: Phê bình văn học là “bộ môn nghiên cứu chuyên phân tích các tác phẩm văn học nhằm mục đích đánh giá

xác và toàn diện hơn cả về phê bình văn học

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh cũng từng ghi lại ấn tượng chủ quan

nhưng rất xác đáng: “Đi tìm cái Đẹp trong tự nhiên là sáng tác, đi tìm cái Đẹp

trong sáng tác là phê bình”

Như vậy, xét đến cùng, phê bình văn học chính là quá trình khám phá, phát hiện và quy phạm hóa cái Đẹp

1.1.2 Đối tượng và nhiệm vụ của phê bình văn học

Một khoa học muốn trở thành khoa học phải có một đối tượng, nhiệm

vụ và phương pháp nghiên cứu riêng Vậy, đối tượng và nhiệm vụ của phê

bình văn học là gì ?

Trang 16

Theo định nghĩa trong cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003) thì: “Phê bình văn học là sự

phán đoán, bình phẩm, đánh giá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm nói tới…” [5, 259] Như thế, đối tượng của phê bình văn học phải là tác phẩm văn

học - nói cách khác, đối tượng của phê bình văn học phải là văn bản

Khi bàn về đối tượng của phê bình văn học, Đỗ Lai Thúy đã chỉ rõ: “Đối

tượng của phê bình văn học là gì ? Theo tôi, đó là tác phẩm Tác phẩm là yếu

tố trung tâm của hệ thống văn học, là điểm nút mà tác giả, truyền thống, hiện thực, độc giả đến giao hội Tác giả chỉ trở thành tác giả khi anh ta sáng tạo ra tác phẩm của mình Độc giả, cũng vậy, chỉ trở thành độc giả khi đọc và đánh giá tác phẩm Còn truyền thống và hiện thực là những điều kiện bên ngoài của

sự tồn tại của tác phẩm Bởi vậy, người ta có thể phê bình một tác giả, một hiện tượng văn học, thậm chí một thời đại văn học, nhưng cơ sở của tất cả các phê bình trên vẫn là phê bình tác phẩm Bởi, tác phẩm “bầu” lên nhà văn, gây thành hiện tượng, tạo ra những thời đại văn chương Như vậy, tác phẩm vừa là

ga đi mà cũng là ga đến của phê bình văn học” [60]

Nhưng, đối tượng của phê bình văn học, có phải chỉ là tác phẩm và hiện tượng văn học đương đại hay còn bao gồm cả những tác phẩm trong quá khứ

? Hiện tồn tại hai quan niệm về đối tượng của phê bình văn học:

Quan niệm thứ nhất cho rằng đối tượng của phê bình văn học là những

hiện tượng văn học đương đại Mục Phê bình văn học trong sách Từ điển

thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc

Phi đã diễn giải: “Là một môn khoa học, phê bình văn học nhận thức các

khuynh hướng vận động của văn học đương đại” [19, 210] Cứ theo quan

niệm trên, những hiện tượng văn học quá khứ thường không được xem là đối tượng của phê bình văn học, hoặc nếu có thì chỉ là thứ yếu Họ cho rằng văn học quá khứ, đặc biệt là những tác phẩm đạt tới trình độ cổ điển, giá trị của nó

Trang 17

đã ổn định, mặc nhiên được thừa nhận, hà cớ gì lại trở thành đối tượng của

phê bình văn học

Tương tự, một thời gian dài, trong không ít sách lí luận văn học, khi phân biệt phê bình văn học với lịch sử văn học, người ta thường khẳng định phê bình văn học hướng tới văn học đương đại, còn lịch sử văn học hướng về tác phẩm quá khứ Nhưng theo R.Wellek, đối tượng của phê bình văn học là hiện tượng văn học cụ thể, đối tượng của lịch sử văn học là tác phẩm, tác giả trong dòng thời gian, đối tượng của lí luận văn học là tổng thể các hiện tượng văn học

Quan niệm thứ hai, đối tượng của phê bình văn học là toàn bộ những

hiện tượng văn học đã và đang diễn ra, có ý nghĩa đối với con người đương đại Còn nếu các nhà phê bình thường quan tâm hơn tới các hiện tượng văn học đương đại thì đấy cũng là nhu cầu tự nhiên chú ý tới tiếng nói nghệ thuật của thời đại mình Đồng quan niệm này, GS.TS Trần Đình Sử khi bàn về đối tượng của phê bình văn học cũng đã có những luận giải thuyết phục Trên cơ sở phân biệt cách tiếp cận của phê bình văn học với lí luận văn học và lịch sử văn học,

tác giả xác định đối tượng của phê bình là tác phẩm cụ thể: “Phê bình văn học

nghiên cứu tác phẩm văn học cụ thể Lí luận văn học - nghiên cứu văn học trong tổng thể; lịch sử văn học - nghiên cứu văn học trong trật tự thời gian Như thế bất cứ việc nghiên cứu thẩm định tác phẩm cụ thể nào nói chung đều thuộc lĩnh vực phê bình” [32, 21] Theo tác giả, cơ sở của việc xác định đối tượng của phê

bình là sự tiếp nhận của độc giả, mà “Trong mỗi thời đại, người đọc tiếp nhận

tác phẩm văn học của mọi thời, chứ không riêng gì tác phẩm đương đại (…) phê bình tác phẩm văn học quá khứ là khám phá cái có ý nghĩa đương đại trong văn học truyền thống và đưa chúng vào cuộc sống đương đại”

Trước tình hình có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất và đối

tượng của phê bình văn học, PGS.TS Thành Duy, trong bài viết Có một

Trang 18

hướng tiếp cận với bản chất và đối tượng của phê bình văn học theo nghĩa rộng đã cho rằng cần có một quan niệm rộng về vấn đề này: “Có thể hiểu một cách khái quát về bản chất của phê bình văn học là sự tổng hợp của mọi hình thức phê bình nhằm tìm hiểu và đánh giá những giá trị thẩm mĩ của tác phẩm

do nhà văn sáng tạo ra, trên cơ sở tiếp cận với thị hiếu bạn đọc nhằm hướng dẫn dư luận công chúng hướng tới cái chân thiện mĩ đích thực ngày càng gần với ánh sáng văn hóa vì phát triển và trong phát triển của xã hội loài người Còn đối tượng của phê bình, đương nhiên là tác phẩm nhưng không chỉ bó hẹp ở tác phẩm mà phải hiểu rộng cả tác giả và thế giới hiện thực mà tác giả phản ánh hoặc thế giới tâm linh mà tác giả có cảm xúc” [69, 905]

Như vậy, quan niệm thứ hai về đối tượng của phê bình văn học dễ được chấp nhận hơn

Còn nhiệm vụ của phê bình văn học là gì ? Nhìn chung, phê bình văn học có nhiệm vụ:

Thứ nhất, phê bình văn học khám phá các giá trị tư tưởng - nghệ thuật

của một hiện tượng văn học cụ thể bao gồm tác phẩm, nhà văn và cả lý luận, phê bình xuất phát từ một quan niệm lý luận nhất định; chỉ ra ưu điểm và khuyết điểm của tác phẩm; chỉ ra chỗ giống và khác của tác phẩm đó so với

tác phẩm trước nó và đồng thời với nó, “hiểu được cái gì mà các nhà thơ nói,

nhận định được những cái gì hay và cái gì không hay trong những trước tác của họ” (Platon), “nêu được cái hay tuyệt vời, hoàn mỹ mà chúng ta phải vươn tới, vừa thấu tình thấu lẽ cho sự sáng tác hơn nữa” (Xuân Diệu)

Khi Khổng Tử chọn lựa 305 bài ca dao ông cho là xuất sắc hoặc tiêu biểu nhất từ vô số những bài ca dao đang được lưu hành trong dân gian thuở

ấy vào một tập sách gọi là Kinh Thi, ông thực hiện nhiệm vụ thứ nhất của phê bình, tức là “phát hiện cái đẹp” (Nguyễn Hưng Quốc) Cũng như vậy, khi

Hoài Thanh chọn lấy 167 bài trong số hàng vạn bài của 45 tác giả trong số

Trang 19

hàng trăm tác giả phong trào Thơ mới đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam, nghĩa

là Hoài Thanh - Hoài Chân thực hiện nhiệm vụ thứ nhất của phê bình

Thứ hai, phê bình phát hiện và thẩm định sự hình thành, tiến triển và

suy thoái của một xu hướng, một trào lưu văn học… Từ đó, góp phần quan trọng cho việc định hướng quá trình tiếp nhận, đồng thời thúc đẩy quá trình sáng tác của một tác giả, một trào lưu, một khuynh hướng

Bản chất của phê bình văn học là hoạt động tác động Do đó, mục tiêu sau cùng, mục tiêu cao nhất mà phê bình văn học cần đạt được là tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ, mang tính định hướng về những quan niệm, tiêu chí thẩm định giá trị thẩm mĩ cho đời sống văn học đương thời, cả trong tiếp nhận và sáng tác

1.1.3 Phương pháp phê bình văn học

Chúng ta đã biết, phê bình văn học vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Là một khoa học, tất yếu, nó sẽ có phương pháp riêng Tuy nhiên, không phải phê bình nào cũng có hoặc thể hiện rõ phương pháp mà thường chỉ trong phê bình học thuật Phương pháp phê bình là cách thức nhà phê bình vận dụng các lí thuyết văn chương, cách tiếp cận văn chương của các trường phái (chủ nghĩa) như là công cụ đi vào tác phẩm, tác giả, xu hướng, trào lưu Phê bình văn học Việt Nam, cùng với Thơ mới, tiểu thuyết và kịch nói, là con

đẻ của sự gặp gỡ của văn hóa Đông - Tây, Việt Nam - Pháp Nói vậy, không phải trước khi người Tây đặt chân xứ này, văn học Việt Nam không có phê bình Có, nhưng chỉ có các bài tựa, luận, những bài thơ bàn về thơ… Nhiều bài trong đó có thể gọi là tuyệt bút, kỳ bút, nhưng dẫu sao đấy chỉ là những phát biểu, cảm nhận, chưa phải là phê bình văn học thực sự, như một hoạt động chuyên môn Bởi vậy, có thể gọi đó là phê điểm trung đại để phân biệt với phê bình hiện đại, chỉ xuất hiện ở đầu thế kỉ XX

Ở Việt Nam, từ đầu thế kỉ XX đã có nhiều phương pháp nghiên cứu phê bình văn học được sử dụng thông dụng như phương pháp phê bình tiểu

Trang 20

sử, phương pháp phê bình trực giác, phương pháp phê bình ấn tượng, phương pháp phê bình xã hội học, phương pháp phê bình văn hóa - lịch sử, … Đến những thập niên cuối của thế kỉ này, thời đổi mới, dưới ánh sáng của hệ thống

lý thuyết với nhiều quan điểm khoa học phong phú, cởi mở trong học thuật, phương pháp nghiên cứu phê bình văn học phát triển theo hướng đa dạng hơn,

bổ sung thêm những phương pháp mới để cùng với những phương pháp vốn

có tạo ra một đa nguyên văn hóa - thẩm mỹ, mở thêm những chân trời mới cho sự tiếp nhận tác phẩm văn học Đó là các phương pháp như: thi pháp học, phân tâm học, tự sự học, văn học so sánh, tiếp cận văn hóa học v.v… Điểm đáng lưu ý là nhờ tiếp cận lý thuyết mới, một số phương pháp phê bình trước đây đã ít nhiều xuất hiện ở Việt Nam nhưng chưa có điều kiện phát triển nay bắt đầu được “hồi sinh” và có những chuyển biến khác so với trước Trong những khuynh hướng nghiên cứu xuất hiện ở thời kì đổi mới có những khuynh hướng mang tính chất mũi nhọn, mở đường cho sự phát triển của nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam trong một giai đoạn mới - đó là những khuynh hướng ứng dụng lý thuyết thi pháp học, phân tâm học, tự sự học và văn học so sánh…

Sự nỗ lực ứng dụng lý thuyết hiện đại tiếp thu của thế giới để đổi mới phương pháp nghiên cứu thể hiện rõ trong những công trình nghiên cứu phê bình văn học mang tính học thuật có tính chất khai mở Phan Ngọc là một

trong những tác giả tiên phong, công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du

trong Truyện Kiều (Nxb Lao động, Hà Nội 1985, tái bản 2009) của ông đã áp

dụng lý thuyết phong cách học và lý thuyết tâm lý học của cả phương Đông

và phương Tây để nghiên cứu Truyện Kiều Nguyên tắc chi phối phương pháp

nghiên cứu của Phan Ngọc là luôn dùng cách đối lập để tìm ra sự khác nhau

giữa Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện và truyện Nôm (cốt truyện, tư

tưởng chủ đạo, lối phân tích tâm lý…) Sự linh hoạt sáng tạo trong ứng dụng nghiên cứu phong cách học của Phan Ngọc đã khiến công trình nghiên cứu

Trang 21

của ông có nhiều phát hiện đặc sắc, độc đáo về Truyện Kiều ở phương diện

kiến trúc ngôn ngữ, ngữ pháp thơ, đưa ra những kết luận mà so với cách tiếp cận truyền thống có nhiều mới lạ Ngoài ra, Phan Ngọc còn đóng góp cho phê

bình phong cách học công trình có giá trị: Thử xét văn hóa, văn học bằng

ngôn ngữ (Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000) Năm 1985, cuốn Ngôn ngữ thơ

(Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội) của Nguyễn Phan Cảnh cũng được xuất bản Đây là nghiên cứu đầu tiên của một nhà ngữ học ở Việt Nam viết về đặc trưng thi pháp của ngôn ngữ thơ theo quan điểm của chủ

nghĩa cấu trúc Tiếp đó, Trần Đình Sử ra mắt Thi pháp thơ Tố Hữu (1987); Hoàng Trinh áp dụng lý thuyết ký hiệu học để nghiên cứu thơ: Từ ký hiệu đến

thi pháp học (1992); Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn đã

áp dụng lý thuyết văn hóa học để nghiên cứu các hiện tượng văn học trung đại

Việt Nam; Đỗ Đức Hiểu có Thi pháp hiện đại (2000); Nguyễn Xuân Kính có

Thi pháp ca dao (1993); Đỗ Lai Thúy xuất bản Mắt thơ (1992), Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (1999; 2009), Bút pháp của ham muốn (2009)

Nguyễn Văn Dân áp dụng “phương pháp ngưỡng tâm lý” dựa trên lý thuyết tiếp nhận và lý thuyết ngưỡng tâm - sinh lý để nghiên cứu sự tiếp nhận đối với văn học hiện đại của Việt Nam và của thế giới Vào những năm đầu thế kỉ XXI đến nay nghiên cứu văn học dưới lý thuyết tự sự học cũng đã được nhiều nhà khoa học nước ta quan tâm chú ý Tập hợp nhiều bài viết xung quanh hai

tập Tự sự học, một số vấn đề lý luận và lịch sử (2004, 2008) do Trần Đình Sử

chủ biên đã chứng tỏ điều này Bên cạnh đó còn xuất hiện những nghiên cứu ứng dụng lý thuyết văn học so sánh nhằm khám phá mối liên hệ văn học giữa các dân tộc trên thế giới

Nhìn chung việc tiếp thu, ứng dụng các lý thuyết, cách tiếp cận văn chương của các trường phái nước ngoài vào Việt Nam như là công cụ để đi vào tìm hiểu tác phẩm, tác giả, xu hướng, trào lưu,… hiện nay còn nhiều vấn

Trang 22

đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu, giải quyết triệt để hơn bởi chưa có được

sự thống nhất về một hệ thống lý luận - phê bình phù hợp với đặc điểm văn hóa nước ta Nhiều trường phái lý thuyết vẫn đang trong quá trình được xem xét để có thể đánh giá thống nhất về giá trị cũng như luận giải về tính cần thiết và tính khả dụng của chúng đối với văn học Việt Nam

Tuy vậy, nhìn lại quá trình vận động của nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam hơn một thế kỉ qua với việc vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu phê bình đã thực sự đem đến cho nền văn học nước nhà nói chung và lí luận phê bình nói riêng một diện mạo phong phú, bền vững qua nhiều chặng đường phát triển

1.2 Khái quát về các chặng đường phát triển của phê bình văn học Việt Nam hiện đại

1.2.1 Phê bình văn học giai đoạn 1900 - 1932

Ba thập kỉ đầu của thế kỉ XX, từ 1900-1932 là giai đoạn hình thành của phê bình văn học, cũng có thể gọi đây là giai đoạn “chuẩn bị”, “khởi động” có

ý nghĩa khai phá, mở đường

Lịch sử phê bình văn học Việt Nam có thể nói bắt đầu từ Đông Dương

tạp chí (1913) Tờ Đông Dương tạp chí (1913-1918) do Snâyđe (người Pháp)

cộng tác với Nguyễn Văn Vĩnh sáng lập Kế đó năm 1917, Nam Phong tạp

chí (1917-1934) do Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác sáng lập, góp phần thúc

đẩy hoạt động phê bình với những bài “phê bình theo lối mới của văn học

Thái Tây” thể hiện qua các mục Bình phẩm sách mới (Đông Dương tạp chí)

và Văn học bình luận (Nam Phong tạp chí) Thời kì này mọi hoạt động phê

bình trên báo chí ở nước ta hầu như còn ở trong tình trạng thưa thớt, vắng vẻ Các tác phẩm phê bình xuất hiện nhưng nhìn chung đều rất sơ lược, phương thức nhận định còn giữ lối bình thơ văn cổ ngày trước

Đầu thế kỉ XX là thời kì khởi đầu cho việc nghiên cứu lịch sử văn hóa, văn học nước nhà Dương Quảng Hàm, Phan Kế Bính, Bùi Kỷ… là những

Trang 23

người có nhiều đóng góp Đầu thế kỉ XX cũng là thời kì mà các di sản văn học tiếng Việt (ca dao, dân ca, tục ngữ, phú Nôm, truyện Nôm…) được giới thiệu, sưu tầm rầm rộ Trên cơ sở hình thành ý thức dân tộc về thể loại, về tác giả, về văn hóa xuất hiện nhu cầu bình phẩm, đánh giá, tức nhu cầu phê bình văn học Như vậy, nhu cầu nghiên cứu lịch sử văn hóa, văn nghệ nước nhà là một trong những nội dung làm nên diện mạo của phê bình văn học 1900-

1932 Các bài viết của các sĩ phu Đông Kinh nghĩa thục, của Phan Bội Châu,

Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, các nhà báo- nhà văn Phan Kế Bính, Phan Khôi, Tản Đà, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Ngọc… có ý nghĩa khơi dậy tinh thần độc lập tự chủ của dân tộc Lần đầu tiên, các di sản văn chương tiếng Việt được đánh giá cao Những bài viết của họ giúp cho đồng bào trong nước thấy rõ trước khi Pháp sang “khai hóa”, Việt Nam đã có một nền văn hóa, văn học giàu bản sắc, rất đáng tự hào Văn học bằng chữ Nôm suốt một thời kì dài bị coi là “nôm na mách qué”, không được coi là văn học, bị lu mờ trước chính sách đề cao văn học chữ Hán của nhà nước phong kiến nay được sống lại, sống dậy

Tuy nhiên, những bài phê bình hồi đó, nhìn chung vẫn nghiêng về lối phê bình truyền thống điểm bình, yếu về năng lực tổng hợp và thiếu những

khái quát sâu: Việt Hán văn khảo (1918) của Phan Kế Bính, Nam âm thi thoại (1918) của Phan Khôi, Nam thi hợp tuyển (1927) của Nguyễn Văn Ngọc, Sự

nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ (1928) của Lê

Thước,… Nội dung chứa đựng bên trong các bài viết hay đầu sách có tên “thi

thoại”, “hợp tuyển”, kiểu như Nam âm thi thoại, Nam thi hợp tuyển, Việt Hán

văn khảo vừa là bình văn, vừa là khảo cứu, vừa là lí luận

Nhưng lối điểm bình góp phần làm cho phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX mang bản sắc dân tộc Và đây cũng là một lí do giải thích vì sao lối phê bình trực cảm của phương Tây khi “nhập tịch” vào Việt Nam rất thuận lợi

Trang 24

Bên cạnh lối phê bình truyền thống đã xuất hiện những bài phê bình

theo khuynh hướng hiện đại Trường hợp bài Truyện Kiều (1919) của Phạm Quỳnh là một ví dụ Tác giả này tiếp cận đối tượng từ nhiều góc độ: Cội rễ

Truyện Kiều (xem xét tác phẩm trong mối liên hệ với Kim Vân Kiều truyện

của Thanh Tâm Tài Nhân), Lịch sử tác giả (xem xét tác phẩm trong mối liên

hệ với chủ thể sáng tạo), Văn chương Truyện Kiều, tâm lí nhân vật Kiều (xem xét các yếu tố của bản thân tác phẩm) Nhiều bài phê bình Truyện Kiều cuả

Vũ Đình Long và một số tác giả khác chuyển sang phương pháp mới, vào thập kỉ thứ ba thế kỉ XX, tạo đà để những năm 30 trở về sau, khuynh hướng phê bình hiện đại dần dần khẳng định vị trí vững chắc của nó trong đời sống văn học

Trong số những nhà phê bình văn học trong ba mươi năm đầu thế kỉ, Phạm Quỳnh là cây bút tiêu biểu Cùng với Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh thuộc thế hệ những nhà phê bình đầu thế kỉ XX, thế hệ khai phá, mở đường Phạm Quỳnh bàn luận về nhiều lĩnh vực văn hóa, khoa học của phương Đông và phương Tây, nghiên cứu, dịch thuật, giới thiệu văn hóa, văn học Pháp: giới thiệu Baudelaire, Pierre Loti, Anatone France, Voltaire, Rousseau… cho công chúng Việt Nam; quảng bá, giới thiệu văn học Việt, tiếng Việt cho người Pháp Phạm Quỳnh sớm quan tâm đến văn học bình dân, tìm hiểu lí luận về tiểu thuyết, thơ, kịch Tuy nhiên, nói cho công bằng, Phạm Quỳnh là một người truyền bá văn hóa Pháp-Việt hơn là một nhà phê bình Trong các bài phê bình, Phạm Quỳnh thường đề cao khía cạnh đạo lí, nhấn mạnh học thuật hơn là khía cạnh thẩm

mĩ Là một trong những người sớm có ý thức vận dụng phương pháp phê bình văn học của phương Tây vào phê bình văn học Việt Nam, Phạm Quỳnh cũng

là người có ý thức “xây dựng cho nước nhà một nền “quốc học” đích đáng, không Tây mà không Nho, có cái tính cách đặc biệt, tiêu biểu được cho cái

Trang 25

tinh thần, cố hữu của nòi giống”, nghĩa là xây dựng một nền học vấn giàu bản sắc Việt

Tóm lại, phê bình văn học ba mươi năm đầu thế kỉ XX là một giai đoạn phê bình mang tính quá độ chuyển từ phương thức tư duy, phân tích văn học theo lối bình điểm phương Đông sang lối tư duy, phân tích văn học theo lối phương Tây bằng một ngôn ngữ hoàn toàn mới: chữ quốc ngữ

Các trí thức Nho học đã có ý thức vận dụng kĩ thuật và phương pháp phê bình văn học phương Tây nhưng sự vận dụng chưa thật nhuần nhuyễn, vả lại sự tiếp thu chủ yếu vẫn là phương pháp và tinh thần duy lí hơn là thị hiếu thẩm mĩ, cho nên những bài phê bình thường là sản phẩm lí trí khô khan, thiếu sức hấp dẫn

1.2.2 Phê bình văn học giai đoạn 1932 - 1945

Từ đầu những năm 30 thế kỉ XX, khi văn học Việt Nam bắt đầu bước vào quỹ đạo văn học hiện đại, phê bình văn học với tư cách là một thể loại độc lập của khoa học văn học đã được ý thức qua những bài viết của Thiếu

Sơn trên báo Phụ nữ tân văn, các năm 1931, 1932 Từ đây, phê bình theo

nghĩa hiện đại mới thực sự khẳng định được sự có mặt của mình trong đời sống văn học nước nhà, bằng những hoạt động sôi nổi, náo nhiệt, bằng sự xuất hiện hàng loạt cây bút phê bình chuyên nghiệp, bằng những cuốn sách phê bình, và hàng trăm, hàng ngàn bài phê bình lẻ in trên các báo đương thời

Từ 1932 đến 1945, phê bình văn học đề cập tới tất cả các thể loại văn học: thơ, kịch, tiểu thuyết, nghiên cứu Hoạt động lí luận- phê bình được triển khai trên mọi hình thức: diễn thuyết, tranh luận, báo chí; bao quát đối tượng từ phạm vi nhỏ tới những vấn đề mang tầm khái quát, từ phê bình một tác phẩm tới một giai đoạn văn học Nghĩa là phê bình đã có sự trưởng thành, phát triển rầm rộ, ngoạn mục, sôi động trên cơ sở hoàn thiện và có nhiều thành tựu của các phong trào sáng tác: thơ, truyện, kịch… Số người tham gia vào lĩnh vực

Trang 26

phê bình thật đông đảo, đáng kể có Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Hải Triều, Trương Chính, Đặng Thai Mai, Phan Khôi, Trần Thanh Mại, Đào Duy Anh, Trương Tửu, Lê Thanh, Kiều Thanh Quế,… Và rất nhiều tờ báo có hẳn chuyên mục đọc sách, phê bình văn học- chuyên đăng tải, in ấn các bài

phê bình văn học như: Tiểu thuyết thứ bảy, Phụ nữ tân văn, Trung Bắc chủ

nhật, Ngày nay, Phong hóa,Tao Đàn, Tràng An, Tin văn, Hà Nội, Nghề mới, Tiếng dân,…Bên cạnh đó là sự ra đời của một số cuốn sách phê bình thực sự,

do các nhà xuất bản có tiếng thời bấy giờ khuyến khích in ấn và phát hành

Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn là tác phẩm đầu tiên về phê

bình văn học thuộc loại chân dung nhân vật Trước đó, Lê Thước tuy viết về Nguyễn Công Trứ nhưng cái mới của Thiếu Sơn là viết về những người cùng thời với ông

Trần Thanh Mại là tác giả sử dụng phương pháp phê bình tiểu sử khách

quan của Sainte Beuve đầu tiên ở Việt Nam Qua hai tác phẩm Trông dòng

sông Vị (1935) và Hàn Mặc Tử, thân thế và thi văn (1941), ông đã phân tích

cử chỉ, tính tình, giai thoại, các giai đoạn cuộc đời, và cả những chuyện nhỏ nhặt trong đời sống của nhà thơ để tìm hiểu thơ của họ

Đào Duy Anh trong Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943) đề cập đến các

yếu tố về tác giả, thân thế, dòng họ, quê quán là những điều trước đó chưa được các nhà phê bình sử dụng để giải thích tác phẩm

Hải Triều là người đầu tiên cổ súy cho chủ nghĩa tả thực trong văn

chương, được biết đến từ cuộc bút chiến Nghệ thuật vị nghệ thuật hay vị nhân

sinh Ông đã sử dụng phương pháp lí luận duy vật sử quan để đưa ra quan

điểm văn học mác-xít

Tuy ngành phê bình ở nước ta vào thời điểm này còn quá mới mẻ, nhưng Trương Tửu (tức Nguyễn Bách Khoa) đã biết sử dụng các phương pháp khoa học Tây phương để cắt nghĩa các hiện tượng văn học Trong

Trang 27

Nguyễn Du và Truyện Kiều (1943), Trương Tửu sử dụng phương pháp xã hội

học và phân tâm học của Freud nghiên cứu huyết thống, đẳng cấp, cá tính, nhân sinh quan, di truyền về sinh lí, tâm lí của Nguyễn Du để giải thích tư

tưởng yếm thế, thuyết nhân quả, thiên mệnh, tài mệnh tương đố trong Truyện

Kiều Tuy nhiên, vì suy diễn theo chủ quan nên các tác phẩm phê bình của

ông gây nhiều tranh cãi

Thi nhân Việt Nam (1941) của Hoài Thanh và Hoài Chân viết về 45 nhà

thơ, là một tác phẩm phê bình bằng cảm quan, chú trọng đến thi cảm, âm điệu, đến hồn thơ của nhà thơ Ông chủ trương chỉ viết về những cái hay, cái đẹp nên chỉ có khen, không chê Không phân tích giải thích, ông phê bình thơ bằng trực giác, bằng sự nhạy cảm và bằng khiếu thẩm mĩ thưởng thức của ông

Trong bộ Nhà văn hiện đại (1942), Vũ Ngọc Phan xét giá trị tác phẩm

thuần túy về phương diện văn chương và về kĩ thuật làm văn Ông sử dụng phương pháp cổ điển có tính cách thuần túy kĩ thuật, chú trọng vào việc phê phán câu văn viết đúng hay sai, sự quan sát của tác giả tinh vi hay hời hợt, cốt truyện hay hoặc dở, lối mô tả, tự sự, đối thoại, hoặc cách cấu kết khéo léo hay vụng về… Ông dùng những lời phê phán của các nhà phê bình nổi tiếng Tây phương để áp dụng vào những nhận xét của ông Tóm lại, ông phê bình tác phẩm theo quy tắc ngữ văn hơn là một người đi tìm cái đẹp, khám phá các công trình sáng tạo Tuy vậy, ông là nhà phê bình có ý thức vững chắc và trung thành với nhiệm vụ cùng phương pháp phê bình Ông đã phê bình các sáng tác văn học đúng theo tiêu chuẩn của ông

Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan cùng với Thi nhân Việt Nam của

Hoài Thanh và Hoài Chân là hai phác họa rộng lớn và bao quát bức tranh văn học từ khi có chữ quốc ngữ tới đầu thập niên 1940 Đây là hai công trình quý giá cho những nhà nghiên cứu văn học, nhất là cho ngành phê bình văn học Việt Nam

Trang 28

Tóm lại, phê bình văn học 1932-1945 đã hội đủ những tính chất cơ bản của một nền phê bình văn học hiện đại, với một thể loại riêng, một lĩnh vực hoạt động đặc thù Các vấn đề về quan niệm và phương pháp phê bình được đặt ra Phê bình văn học tận dụng mọi điều kiện từ sách vở, báo chí đến diễn thuyết, tranh luận để triển khai hoạt động phê bình Ở nước ta lúc bấy giờ thực sự đã có một nền phê bình phát triển với một diện mạo phong phú và một gia tốc đáng kinh ngạc

1.2.3 Phê bình văn học giai đoạn 1945 - 1985

Cách mạng tháng Tám thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời mở ra một thời kì mới cho văn học và văn nghệ sĩ Nền văn học mới của một dân tộc vừa giành được độc lập do Đảng lãnh đạo, là sản phẩm và thành quả cuộc đấu tranh của nhân dân, mà nhân vật trung tâm là công, nông, binh, trí thức Phê bình theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lê nin giờ đây được công khai xác lập nhằm định hướng sự phát triển nền văn học với nội dung dân chủ mới và tính chất dân tộc

Trong giai đoạn 1945-1954, đất nước có chiến tranh, chiến trường phân cách, điều kiện dành cho văn học nghệ thuật nói chung, phê bình văn học nói riêng hoàn toàn không thuận lợi từ khâu in ấn, xuất bản, báo chí Ngay cả thời gian vật chất mà công chúng dành cho văn học cũng rất ít Việc giao lưu với thế giới bên ngoài dường như bị cô lập, tách biệt Tuy nhiên, nền phê bình cách mạng non trẻ vẫn từng bước phát triển hiện diện cùng sáng tác Những khẩu

hiệu Văn nghệ là vũ khí; Văn nghệ sĩ là chiến sĩ; Văn nghệ phụng sự kháng

chiến, phụng sự nhân dân… được tôn vinh, đề cao Một nền văn nghệ dân chủ

mới được xây dựng theo các phương châm dân tộc, khoa học, đại chúng

Trong lĩnh vực phê bình văn học, các nhà phê bình đã hướng vào việc phổ cập văn nghệ cách mạng vào trong nhân dân và hướng ra cho thế giới biết Phê bình đã chú ý phát hiện, bồi dưỡng các tài năng văn nghệ từ trong

Trang 29

môi trường quần chúng Phê bình 1945-1954 đặt trọng tâm chú ý vào định hướng xây dựng nền văn nghệ nhân dân với một quyết tâm cao: xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ đông đảo đi theo cách mạng, khắc phục những biểu hiện sai trái của bản thân, mau chóng hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân Phê bình thời kì 1945-1954 đã góp phần đưa tuyệt đại đa số văn nghệ sĩ vào cách mạng, dứt bỏ bệnh xa dân và các quan niệm nghệ thuật cũ, đặt nền móng cơ bản cho một nền sáng tác phục vụ công, nông, binh, đồng thời mở đầu cho một chủ trương đúng của Đảng: nghệ sĩ phải đi vào cuộc sống, góp phần khẳng định những thành tựu đầu mùa của văn học kháng chiến

Tính dân chủ, cởi mở trong phê bình được duy trì Thông qua một số hội nghị, khuyến khích tranh luận trong hội nghị và trên báo chí, một số khía cạnh bức xúc trong đời sống văn nghệ đã được làm sáng tỏ Có thể kể đến

một số hội nghị sau: Hội nghị văn nghệ toàn quốc (từ 23 đến 25/7/1948), Hội

nghị văn nghệ bộ đội - đánh dấu sự khởi đầu phong trào văn nghệ sĩ đầu quân

(từ 9 đến 14/4/1949), Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (từ 25 đến 28/9/1949), Hội nghị tranh luận sân khấu (1950), Hội nghị cán bộ văn nghệ

Nam Bộ (1951),… Bên cạnh các cuộc tranh luận trên bàn hội nghị còn phải kể

đến các cuộc tranh luận trên báo chí: tranh luận giữa Đặng Thai Mai và Tô Ngọc Vân về tranh tuyên truyền và hội họa; giữa Hà Xuân Trường, Nguyễn

Đình Thi và Tô Ngọc Vân về Học hay không học ?

Tất cả mọi hoạt động nói trên nhằm mục tiêu xây dựng một nền văn nghệ mới, củng cố lòng tin của văn nghệ sĩ ở chặng “nhận đường” lần thứ nhất Các giải thưởng văn nghệ 1951-1952, 1954-1955 và Đại hội liên hoan văn công toàn quốc vào cuối năm 1954 có một phần đóng góp của hoạt động phê bình

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, văn học hướng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam Đây

Trang 30

là cuộc “nhận đường” lần thứ hai của văn học nghệ thuật và văn nghệ sĩ, một cuộc “nhận đường” xem ra còn quyết liệt hơn cuộc “nhận đường” trước đó, 1945-1954 Nếu cuộc “nhận đường” trước đó là để giác ngộ về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thì cuộc “nhận đường” lần này là sự nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp chống Mỹ cứu nước với những yêu cầu quyết liệt, trong bối cảnh đất nước chia cắt hai miền với hai chế độ chính trị riêng biệt Văn học miền Bắc phát triển dưới chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa do Đảng lao động lãnh đạo Ở miền Nam, tại các đô thị, chính quyền thân Mỹ, duy trì chế độ trong sự đối lập với miền Bắc Các khu căn cứ

và vùng nông thôn lại do mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam kiểm soát

Phê bình văn học trong bối cảnh đó phát triển theo hai hướng Ở miền Bắc và vùng giải phóng, phê bình phát triển theo định hướng đường lối văn nghệ Mác- Lê nin Phê bình được giao phó nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng, góp phần khẳng định thành tựu quan trọng của văn học và đóng góp của các nhà văn, nhà thơ trong việc phản ánh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà

Qua các cuộc đấu tranh tư tưởng trên mặt trận văn nghệ vào những năm

1956, 1957, 1958, 1964 mà Nhân văn giai phẩm là một trong nhiều “vụ việc” nổi bật Thông qua việc phê bình tập thơ Việt Bắc (nửa đầu năm 1955), qua

việc phê phán những tác phẩm bị coi là “lệch lạc” về tư tưởng hoặc thiếu tính

đảng: Phở (1957) của Nguyễn Tuân, Mạch nước ngầm (1960) của Nguyên Ngọc, Con nai đen (1961) của Nguyễn Đình Thi, Đêm không ngủ (1961) của

Vũ Thư Hiên, Mở hầm (1961) của Nguyễn Đậu, Những người thợ mỏ (1961) của Võ Huy Tâm, Sương tan (1963) của Hoàng Tiến, Vào đời (1963) của Hà Minh Tuân, Cái gốc (1968) của Nguyễn Thành Long, Cửa mở (1970) của Việt Phương, Vòng trắng (1974) của Phạm Tiến Duật, Sẹo đất (1974) của

Trang 31

Ngô Văn Phú, Cây táo ông Lành (1974) của Hoàng Cát… Công việc cảnh

giới về chính trị, tư tưởng rất được quan tâm trong yêu cầu đảm bảo cho văn học phát triển đúng hướng, lành mạnh theo cách nói, cách nghĩ một thời

Qua việc đề cao thơ Tố Hữu, trao đổi các tác phẩm viết về hợp tác hóa

nông nghiệp (Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm của Đào Vũ), phê bình tiểu thuyết

Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, biểu dương tác phẩm Xung đột của Nguyễn

Khải, Bão biển của Chu Văn, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu,

Vùng trời của Hữu Mai, Hòn Đất của Anh Đức, Sống như Anh của Trần Đình

Vân, Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận, Truyện và kí của Nguyễn Thi, truyện

ngắn của Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, thơ Lê Anh Xuân, trường ca Thu Bồn… có ý nghĩa khẳng định thành tựu của văn học cách mạng Nhiều công

trình phê bình có giá trị: Phê bình và tiểu luận, 3 tập (1960, 1965, 1971) của Hoài Thanh; Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Dao có mài mới sắc (1963), Đi trên đường lớn (1968), Và cây đời mãi mãi xanh tươi (1971)… của Xuân Diệu; Phê bình văn học (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971) của Chế

Lan Viên…

Trong các vùng đô thị miền Nam, khuynh hướng cơ bản vẫn là tìm về cội nguồn dân tộc: tìm về những giá trị nhân văn trong những tác phẩm như

Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm; các giá trị nhân văn ở các văn nhân, thi sĩ như

Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, Lê Văn Trương, Võ Hồng,… hoặc tiếp nhận các trào lưu phê bình hiện đại phương Tây góp phần hiện đại hóa phê bình văn học nước nhà Những đóng góp ấy gắn liền với tên tuổi của các nhà phê bình, các nhà văn đồng thời cũng là những nhà phê bình: Vũ Hạnh, Lữ Phương, Đông Hồ, Quách Tấn, Vũ Bằng, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Nguiễn Ngu Í, Bùi Giáng,…

Mười năm sau ngày đất nước thống nhất (1975-1985), hoạt động phê bình vẫn theo quán tính đã có, vẫn là sự tiếp nối công việc mà phê bình văn

Trang 32

học giai đoạn trước đó đã làm, nghĩa là chủ yếu thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chính trị tư tưởng Trước hết, điểm nóng của phê bình văn học thời kì này vẫn

là cuộc thảo luận về trường ca Từ những năm 1970, bạn đọc đã chứng kiến

sự xuất hiện ngày càng nhiều các tác phẩm trường ca như: Theo chân Bác,

Nước non ngàn dặm (Tố Hữu), Vách đá Hồ Chí Minh (Thu Bồn), Núi rừng

mở cánh (Liên Nam), Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm),… Giới

phê bình văn học đã quan tâm đặc biệt đến hiện tượng này cả về phương diện đặc trưng, định danh thể loại,… và cả về phương diện thẩm định giá trị của

từng tác phẩm Những bài viết đáng chú ý của Lại Nguyên Ân (Mấy suy nghĩ

về thể loại trường ca, đăng trên Tạp chí Văn học, 4/1975), Nguyễn Văn Long

(Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường khát vọng, đăng trên tạp chí Văn nghệ

Quân đội, 4/1975), Đào Thái Tôn (Đọc “Những người đi tới biển” nghĩ về trường ca, đăng trên báo Văn nghệ, 18/2/1978),… đã thực sự khơi dòng cho

hàng loạt bài viết về trường ca trên các báo chí trong những năm 1980-1985 Những khác biệt trong nhận thức về đặc trưng, giá trị, ý nghĩa của trường ca

đã tạo nên không khí thảo luận, bàn bạc sôi nổi, lôi cuốn được dư luận đương

thời Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã tổ chức những cuộc trao đổi ý kiến, tổ

chức hội thảo về trường ca và đăng tải nhiều kì trên tạp chí các số 11, 12/1980; 1, 2/1981 Rõ ràng, vấn đề trường ca đã trở thành một trung tâm chú

ý trong văn giới suốt nhiều năm trời

Bên cạnh đó, trong hoạt động phê bình văn học ở những thập niên cuối của chặng này còn phải kể đến cuộc tranh luận về văn học viết về chiến tranh

và đánh giá nền văn học cách mạng giai đoạn vừa qua Ở các bài viết ra đời trong những năm 1975-1978, hầu như các tác giả đều bày tỏ thái độ nâng niu trân trọng những tác phẩm viết về chiến tranh, các nhận xét đánh giá đều khẳng định những thành tựu đã đạt được đồng thời cũng chỉ ra cả những hạn chế, nhược điểm Nhiều bài viết xuất hiện trên diễn đàn đã thực sự trở thành

Trang 33

cuộc trao đổi ý kiến rộng rãi trong văn giới liên tục được đăng trên Tạp chí

Văn nghệ Quân đội: Mấy suy nghĩ về đề tài chống Mĩ cứu nước và sáng tác văn học trong giai đoạn mới của Lê Bá Súy, Đinh Xuân Dũng (số 4/1976), Viết về đề tài chiến tranh sau chiến tranh của Nguyễn Đình Tiên (số 9/1976), Nhìn lại một chặng đường của tiểu thuyết của Nguyễn Văn Long (số 6/1977), Góp bàn về sáng tác đề tài chiến tranh và quân đội của Ngô Thảo (số

9/1978), Viết về chiến tranh của Nguyễn Minh Châu (số 11/1978),… Hàng

loạt tác phẩm văn xuôi ra đời thời kì này đã tạo được tiếng vang và được giới

phê bình quan tâm đặc biệt: Kí sự miền đất lửa (1978) của Nguyễn Sinh và

Vũ Kì Lân, Cha và con và…(1979) của Nguyễn Khải, Đất trắng (1979) của Nguyễn Trọng Oánh, Đứng trước biển (1982) của Nguyễn Mạnh Tuấn, Người

đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) của Nguyễn Minh Châu,… Qua hoạt

động phê bình, giới phê bình cũng đã khẳng định được những giá trị thẩm mĩ mới trong các sáng tác của các nhà văn thời kì này

Tuy nhiên, do chịu sự chi phối triệt để của mục tiêu phục vụ chính trị

mà phê bình văn học 1945-1985 còn nặng về phương diện tư tưởng chính trị

mà ít quan tâm đến tác phẩm nghệ thuật và ngôn từ của tác phẩm Do đó, nó cần phải đổi mới ở giai đoạn tiếp sau, cùng với sự đổi mới đất nước trên nhiều lĩnh vực

1.2.4 Phê bình văn học giai đoạn 1986 - 2000

Hơn mười năm sau cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc, đời sống kinh tế, xã hội nước ta bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém: kinh tế trì trệ, đình đốn, đời sống nhân dân thiếu thốn, xã hội thời bao cấp không còn phù hợp, quần chúng giảm sút lòng tin đối với Đảng, chế độ Sự đổi mới xã hội, vì vậy, rõ ràng là rất cần thiết và khẩn thiết Sự kiện đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đã tác động sâu sắc tới mọi lĩnh vực đời sống Văn học nghệ thuật không nằm ngoài sự tác động kia Yêu

Trang 34

cầu đổi mới đáp ứng nhu cầu xã hội của văn học, trong đó có phê bình văn học đã trở nên cấp thiết Ngày 28/11/1987, Bộ chính trị ra Nghị quyết 05 về

“Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học nghệ thuật và văn

hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới” như một tiền đề quan trọng cho sự đổi mới trong phê

bình văn học nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung Nếu như ở khu vực sáng tác, yếu tố yêu cầu đổi mới cho phép các nhà văn có điều kiện phát triển tài năng sáng tạo của mình và cho ra đời một loạt tác phẩm với một cái nhìn mới về hiện thực và con người thì trong phê bình văn học cũng vậy Từ cuối thập niên 80 đến những năm 90 của thế kỉ XX là thời kì của khá nhiều cuộc tranh luận Các cuộc tranh luận xung quanh các vấn đề lý luận văn nghệ cơ

bản (Khái niệm phản ánh hiện thực Những ý kiến của Mác, Ăng- ghen,

Lê-nin về phản ánh hiện thực Phản ánh và sáng tạo Vai trò chủ quan của nhà văn trong sáng tạo văn học nghệ thuật Về thuật ngữ hiện thực xã hội chủ nghĩa…) trên các báo chí trung ương và địa phương Các cuộc thảo luận về

văn xuôi và thơ (năm 1992, do báo Văn nghệ và Viện Văn học tổ chức) đã thu

hút một lực lượng đông đảo các cây bút nghiên cứu, phê bình và sáng tác tham gia với tinh thần của “lễ hội các-na-van” không chỉ thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống phê bình văn học mà còn kích thích sáng tạo và góp phần định hướng cho sáng tác Qua những cuộc tranh luận này, nhiều tư tưởng khoa học mới đã được đề xuất, nhiều vấn đề học thuật trước đây được nhận thức lại là một đóng góp cho tiếng nói dân chủ Ở những năm cuối thập

kỉ 90 của thế kỉ XX, cũng có những ý kiến cho rằng phê bình văn học đang đứng trước những thử thách, bởi nó đang rơi vào tình trạng của một “phiên chợ chiều tẻ nhạt” Có thể ở một thời điểm nào đó không ít những bài phê bình đơn điệu tẻ nhạt, không có bản sắc và tư tưởng, thậm chí vi phạm văn hóa tranh luận Nhưng nhìn chung lại đời sống phê bình văn học mười lăm

Trang 35

năm sau đổi mới đã có sự trưởng thành vượt bậc Sự trưởng thành đó không chỉ thể hiện ở số lượng ngày càng đông đảo các cây bút tham gia phê bình mà quan trọng hơn là sự đổi mới trong phương pháp phê bình Yêu cầu của thời đại và sự phát triển của bản thân sáng tác cho thấy một kiểu phê bình chủ quan, ấn tượng, cảm giác và chỉ tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà văn và xã hội, tác phẩm và cuộc sống như trước đây là chưa đủ Phương pháp phê bình hiện đại còn phải quan tâm đến thi pháp của nhà văn, cấu trúc nội tại của tác phẩm và khâu tiếp nhận của người đọc Trước kia, khi đánh giá tác phẩm, nhà phê bình chú trọng đến tiêu chí chính trị - xã hội thì giờ đây họ đặt tiêu chí văn học lên hàng đầu Trên tinh thần đổi mới tư duy, các nhà nghiên cứu phê bình đã nhìn nhận và đánh giá lại một số hiện tượng văn học quá khứ

như Thơ mới, Tự lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử… để thấy

được những đóng góp xứng đáng cũng như những hạn chế không thể tránh khỏi của các trào lưu và tác giả này Hàng loạt công trình nghiên cứu ra đời trong thập kỉ 90 của thế kỉ XX đã vận dụng các phương pháp thi pháp học,

mô hình, cấu trúc, so sánh, kí hiệu học…như: Suy nghĩ mới về Nhật kí trong

tù (Nhiều tác giả), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (Nhiều tác giả), Nghĩ tiếp về Nam Cao (Nhiều tác giả), Thạch Lam văn chương và cái đẹp

(Nhiều tác giả), Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học (Nhiều tác giả), Ký

hiệu nghĩa và phê bình văn học (Hoàng Trinh), Đi tìm chân lý nghệ thuật và khảo luận văn chương (Hà Minh Đức), Thi pháp thơ Tố Hữu và những thế giới nghệ thuật thơ (Trần Đình Sử), Nhìn lại nửa thế kỉ lí luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Phương Lựu), Nhà văn, tư tưởng và phong cách

(Nguyễn Đăng Mạnh), Văn học và công cuộc đổi mới (Phong Lê), Đổi mới

phê bình văn học (Đỗ Đức Hiểu), Tài năng và người thưởng thức (Đặng Anh

Đào), Từ văn bản đến tác phẩm (Trương Đăng Dung), Mấy vấn đề trong văn

học Việt Nam hiện đại (Lê Thị Đức Hạnh), Văn học Việt Nam hiện đại- nhận

Trang 36

thức và thẩm định (Vũ Tuấn Anh), Những kiếp hoa dại (Vương Trí Nhàn), Con mắt thơ (Đỗ Lai Thúy), Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945-1975

(Vũ Văn Sỹ), Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (Lê

Thị Dục Tú),…Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến hàng trăm tập chuyên luận, luận án tiến sĩ về văn học dân gian, văn học cổ cận đại và văn học hiện đại ở các viện nghiên cứu, các trường đại học cho ta thấy được diện mạo mới cũng như thành tựu của ngành nghiên cứu phê bình văn học thời kì này

Nhìn chung lại, phê bình văn học giai đoạn 1986- 2000 vẫn nhịp bước đồng hành với cả tiến trình văn học đổi mới Nó không yếu kém, lạc hậu so với văn học như một số người quan niệm Những thành tựu đổi mới về lí luận, nghiên cứu, phê bình văn học thời kì này là không nhỏ và rất đáng trân trọng

1.3 Điều kiện phát triển mới của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ XX

1.3.1 Sự giới thiệu rộng rãi các thành tựu lý luận văn học, phê bình văn học hiện đại của thế giới

Từ đầu thế kỉ XX, khi phê bình văn học Việt Nam được “khai sinh” và ngày càng phát triển sôi động hơn trong đời sống văn học dân tộc, người ta đã không thể phủ nhận vai trò của sự giao lưu quốc tế giữa Việt Nam với các nước trên thế giới Đặc biệt là sự nở rộ các trào lưu, trường phái phê bình hiện đại trong thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI

Chúng ta đã biết phần lớn các nhà phê bình Việt Nam ngay từ những giai đoạn đầu thế kỉ XX đều được đào tạo từ các trường Tây Họ từng được tiếp xúc với nền văn hóa, văn học phương Tây trong nhà trường và chịu ảnh hưởng khá sâu sắc những lí luận phê bình hiện đại của nước ngoài Nếu như

Hoài Thanh đã từng khẳng định: “Mỗi nhà thơ Việt hình như mang nặng trên

đầu năm bảy nhà thơ Pháp”, thì cũng có thể nói một câu tương tự như vậy đối

với các nhà phê bình Việt Nam hiện đại đầu thế kỉ này Đối với họ, những lí

Trang 37

thuyết phê bình hiện đại của phương Tây không có gì xa lạ Họ đã từng nhắc đến tên những chủ soái của các trường phái phê bình hiện đại với sự am hiểu sâu sắc cùng với sự kế thừa có chọn lọc của bản thân mình về các phương pháp phê bình đó, sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của xã hội Việt Nam

Vũ Ngọc Phan từng khẳng định, mình đã dựa vào “một lí thuyết” phê bình của phương Tây và vì thế “công việc phê bình mới vững vàng được” Hoài

Thanh trong bài tổng kết Một thời đại trong thi ca đã hơn 16 lần nhắc đến các

tên tuổi nhà thơ nhà phê bình Pháp nổi tiếng như Baudelaire, Lanson, Valéry, Lamartine, Musset,… Sau này, trong một số bài nghiên cứu của mình về sự ảnh hưởng của nền văn học Pháp, của phê bình Pháp đối với nền văn học và phê bình Việt Nam giai đoạn trước 1945, các nhà nghiên cứu, phê bình Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Nhân, Phùng Văn Tửu, Phan Ngọc…đã nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng sâu sắc của văn học Pháp nói chung, của phê bình Pháp nói riêng đối với văn học và phê bình Việt Nam thời kì này Hoàng Nhân đã chỉ rõ từng trường hợp các nhà phê bình Việt Nam trước 1945 chịu ảnh hưởng của các khuynh hướng phê bình Pháp, chẳng hạn: phương pháp phê bình của Lanson ảnh hưởng đến nhiều giáo sư giảng dạy văn học và nhiều nhà phê bình trước cách mạng tháng Tám như Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Trương Chính; các nhà văn Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên một thời

đã ít nhiều tiếp nhận ảnh hưởng của khuynh hướng phê bình trực cảm… Như thế, đối với các nhà phê bình Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, những cái tên như Baudelaire, Lamrtine, Saintine Beuve, H.Taine, Lanson, Brunetiere…cùng với các phương pháp phê bình: khoa học, ấn tượng, trực cảm, xã hội học…đã trở thành hết sức quen thuộc, đã trở thành những bậc thầy, những phương pháp thường xuyên được vận dụng trong các tác phẩm phê bình của họ

Từ sau năm 1945, phê bình văn học đi vào giai đoạn phát triển Phê bình theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin giờ đây được công khai xác lập

Trang 38

nhằm định hướng sự phát triển nền văn học dân tộc với nội dung dân chủ và tính chất dân tộc Trong thời kì đất nước có chiến tranh, điều kiện dành cho văn học nghệ thuật nói chung, phê bình văn học nói riêng hoàn toàn không thuận lợi từ khâu in ấn, xuất bản, báo chí Việc giao lưu với thế giới bên ngoài dường như bị cô lập, tách biệt Ở miền Bắc, trong giai đoạn 1954-1975, do chỉ tiếp nhận văn hóa của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa với hệ tư tưởng duy nhất là mỹ học Mác - Lê nin nên đã tạo ra một nền lý luận - phê bình thống nhất, đơn thanh Đó là khuynh hướng phê bình xã hội học vốn có tiền

đề phát triển từ những năm kháng chiến chống Pháp Khuynh hướng này coi trọng nội dung phản ánh của tác phẩm văn học, ít quan tâm hoặc không quan tâm đến giá trị nghệ thuật của tác phẩm, đến phong cách và cá tính sáng tạo của nhà văn Và điều dễ nhận thấy trong lý luận - phê bình văn học ở miền Bắc lúc này là không tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây được thể hiện qua các trường phái lý luận - phê bình hiện đại như: chủ nghĩa hiện sinh, hiện tượng luận, cấu trúc luận, thi pháp học, phong cách học, mỹ học tiếp nhận,… Thậm chí, do quan niệm ấu trĩ và hẹp hòi, trong giai đoạn này, các trường phái lý luận - phê bình văn học phi mác- xít trong đó có lý luận - phê bình văn học phương Tây đều bị cho là “suy đồi, phản động” Từ đó dẫn đến tình trạng

kỳ thị, xem thường lý luận - phê bình phương Tây và độc tôn vai trò của mỹ học mác- xít trong lý luận- phê bình làm cho đời sống lý luận - phê bình trở nên đơn điệu, nghèo nàn Nhưng khác với miền Bắc, xã hội miền Nam giai đoạn 1954-1975 tích hợp nhiều nền văn hóa, trong đó có văn hóa phương Tây

và văn hóa Mỹ Với chủ trương mở cửa du nhập văn hóa nước ngoài một cách

tự do, nhiều trường phái triết học, mỹ học, lý luận - phê bình văn học phương Tây đã tràn vào miền Nam và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống lý luận - phê bình văn học Vì vậy, bức tranh lý luận- phê bình văn học ở miền Nam đã xuất hiện nhiều trường phái lý luận- phê bình văn học ảnh hưởng từ văn hóa

Trang 39

phương Tây như: phân tâm học; chủ nghĩa hiện sinh; mỹ học tiếp nhận; cấu

trúc luận; hiện tượng luận; thi pháp học… cũng là điều tất yếu Với việc ứng

dụng lý thuyết của các trường phái lý luận - phê bình văn học phương Tây hiện đại vào tìm hiểu nhiều hiện tượng văn học, các nhà lý luận - phê bình văn học miền Nam đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí góp phần tạo ra những giá trị mới cho nhiều tác phẩm văn học của dân tộc vốn chỉ được nhìn nhận qua hệ quy chiếu của triết học và mỹ học phương Đông

Như thế, hoạt động phê bình trong suốt một thời kỳ khá dài ở hai miền

Bắc -Nam có những đặc điểm riêng và nhìn chung “phê bình văn học như một

dòng sông hiền hòa không có thác bờ dữ dội” Nhưng “phê bình văn học đã làm tròn nhiệm vụ của nó: đi sát tác phẩm để biểu dương kịp thời những cố gắng mà các sáng tác đã đạt được như tính chiến đấu, tính thời sự và chủ nghĩa anh hùng cách mạng” [68, 665]

Nhưng từ sau 1975, đặc biệt bắt đầu từ thời kỳ đổi mới, đất nước mở cửa, tiếp nhận văn hóa phương Tây thì phê bình văn học Việt Nam đã có sự tiếp nhận rộng rãi hơn lý luận phê bình của văn học hiện đại thế giới cho nên

lý luận về phê bình văn học nước nhà được bổ sung thêm nhiều nhận thức khác trước Phê bình văn học đã được coi như một hoạt động tác động đời sống văn học và quá trình văn học, như một loại sáng tác văn học, đồng thời còn được coi như một bộ môn thuộc văn học Các lý thuyết: ký hiệu học, thi pháp học, văn học so sánh, phân tâm học, chủ nghĩa cấu trúc, mỹ học tiếp nhận, tự sự học,… được lần lượt giới thiệu vào Việt Nam đã bước đầu làm thay đổi nền phê bình Việt Nam Tiêu biểu phải kể đến những công trình đã

được dịch ở nước ta như: Lý luận về thi pháp tiểu thuyết của M.Bakhtin do Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu (1992); Những vấn đề về thi pháp

Dostoievski của M.Bakhtin do Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí

Nhàn dịch (1993); Tiểu luận Nghệ thuật tiểu thuyết và Những di chúc bị phản

Trang 40

bội của Milan Kundera do Nguyên Ngọc dịch, Nxb Văn hóa Thông tin và

Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2001; Cấu trúc văn bản nghệ thuật

của Iu.M.Lotman do Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch… Bên cạnh đó, phải kể đến các công trình được viết bởi các tác giả Việt Nam nhưng có nội dung giới thiệu khái quát - tổng hợp các loại lý thuyết phê

bình hiện đại của phương Tây Đó là: Lí luận phê bình văn học phương Tây

thế kỉ XX của Phương Lựu, Nxb Văn học, 2001; Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại của Đặng Anh Đào, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2001; Tiểu thuyết Pháp hiện đại những tìm tòi đổi mới của Phùng Văn Tửu, Nxb Khoa học Xã hội, 2002; Chủ nghĩa cấu trúc và văn học do Trịnh Bá

Đĩnh biên soạn, Nxb Văn học và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 2002… Hơn nữa, khi mạng Internet được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam sự tiếp xúc với các lý thuyết phê bình bên ngoài không còn phụ thuộc quá nhiều vào tình trạng xuất bản sách báo trong nước Sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, sự bùng nổ thông tin khiến văn hóa đọc có phần suy giảm, nhưng chúng

ta cũng không thể phủ nhận Internet đã giúp những người quan tâm đến văn chương được tiếp cận với một kênh thông tin đa chiều, cập nhật được những vấn đề thời sự, có được những diễn đàn để công khai phát biểu những quan niệm, chính kiến riêng Nếu như ở thời kì trước, kênh phát - nhận của đời sống lí luận, phê bình văn học ở Việt Nam chủ yếu là qua sách in và báo viết thì đến thời kì này, các trang web, diễn đàn, blog… đã khiến cho đối tượng tham gia vào đời sống lí luận phê bình văn học ngày càng được mở rộng hơn, không còn bó hẹp riêng trong giới phê bình chuyên nghiệp Có thể nói, từ các nhà phê bình văn học đến cả bạn đọc đều có thể tiếp cận được với những lý thuyết mới, các tiêu chí mới để đánh giá một hiện tượng văn học

Nhìn lại hành trình đổi mới, tìm tòi khám phá của lý luận phê bình văn học Việt Nam có thể thấy rằng hệ thống lý luận phê bình đã thực sự được bổ

Ngày đăng: 09/09/2021, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thụy Anh (2003), “Giải pháp nào cho phê bình văn học ?”, http://vannghedanang.org.vn/nonnuoc/chitiet.php?id=1364&so=67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nào cho phê bình văn học ?”
Tác giả: Hoàng Thụy Anh
Năm: 2003
2. Hoàng Thụy Anh (2010), “Những va chạm hai mặt- xét từ cảm thức thơ hậu hiện đại”, http://www.bichkhe.org/home.php?cat_id=147&id=1560 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những va chạm hai mặt- xét từ cảm thức thơ hậu hiện đại”
Tác giả: Hoàng Thụy Anh
Năm: 2010
3. Trần Hoài Anh (2014), “Ảnh hưởng văn hóa phương Tây tới lý luận phê bình văn học trong nước”, http://toquoc.vn/sites/vi-vn/details/50/van-chuong-va-du-luan/125317/anh-huong-van-hoa-phuong-tay-toi-ly-luan-phe-binh-van-hoc-trong-nuoc-2.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng văn hóa phương Tây tới lý luận phê bình văn học trong nước”
Tác giả: Trần Hoài Anh
Năm: 2014
4. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
5. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
7. Lê Huy Bắc (2013), Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013
8. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
9. Dương Trọng Dật (2013), “Hoạt động lý luận, phê bình - thực trạng và giải pháp”,http://www.tapchicuaviet.com.vn/DuLieu/index.asp?main=ndd&TL=VHTD&ID=8625 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động lý luận, phê bình - thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Dương Trọng Dật
Năm: 2013
10. Lê Tiến Dũng (2009), “Nhà phê bình và chiếc roi ngựa”, http://www.khoavanhocngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=184:nha-phe-binh-va-chic-roi- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà phê bình và chiếc roi ngựa”
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 2009
11. Đoàn Ánh Dương (2013), Không gian văn học đương đại, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian văn học đương đại
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2013
12. Phan Cự Đệ (Chủ biên), Trần Đình Sử, Đinh Văn Đức, Mã Giang Lân, Phan Trọng Thưởng, Bùi Việt Thắng, Hà Văn Đức, Bích Thu, Lê Dục Tú (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ (Chủ biên), Trần Đình Sử, Đinh Văn Đức, Mã Giang Lân, Phan Trọng Thưởng, Bùi Việt Thắng, Hà Văn Đức, Bích Thu, Lê Dục Tú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
13. Nguyễn Khoa Điềm (2007), “Về tình hình phê bình văn học, nghệ thuật ở nước ta những năm gần đây”, http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/ve-tinh-hinh-phe-binh-van-hoc-nghe-thuat-o-nuoc-ta-nhung-nam-gan-day-2140850.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tình hình phê bình văn học, nghệ thuật ở nước ta những năm gần đây”, "http://giaitri.vnexpress.net/tin-
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Năm: 2007
14. Nguyễn Đăng Điệp (Chủ biên), Đoàn Ánh Dương, Đỗ Hải Ninh (2012), Lịch sử và văn hóa cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh, Nxb Phụ nữ - Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và văn hóa cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp (Chủ biên), Đoàn Ánh Dương, Đỗ Hải Ninh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ - Viện Văn học
Năm: 2012
15. Trịnh Bá Đĩnh (2011), Phê bình văn học Việt Nam hiện đại, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2011
16. Trịnh Bá Đĩnh (2011), “Tiếp cận văn học Việt Nam từ các lý thuyết phương Tây”, http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nhan-thuc/2063-trinh-ba-dinh-tiep-can-van-hoc-viet-nam-tu-cac-ly-thuyet-phuong-tay.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học Việt Nam từ các lý thuyết phương Tây”, "http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Năm: 2011
17. Trịnh Bá Đĩnh (2013), Lịch sử lí luận, phê bình văn học Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử lí luận, phê bình văn học Việt Nam
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2013
18. Văn Giá (2013), “Phác thảo bức tranh thời sự văn học”, http://maivanphan.vn/MaiVanPhan/32/398/845/1369/KHO-LUU-TRU/Phac-thao-buc-tranh-thoi-su-van-hoc--phe-binh----Van-Gia.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo bức tranh thời sự văn học”, "http://maivanphan.vn/MaiVanPhan/32/398/845/1369/KHO-LUU-
Tác giả: Văn Giá
Năm: 2013
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Nguyễn Chí Hoan (2009), Bút ký một người đọc sách, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút ký một người đọc sách
Tác giả: Nguyễn Chí Hoan
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2009
21. Cao Hồng (2012), “Lý luận văn học Việt Nam 25 năm đổi mới”, http://nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/nghien-cuu-phe-binh/cao-hong-ly-luan-van-hoc-25-nam-doi-moi.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học Việt Nam 25 năm đổi mới”
Tác giả: Cao Hồng
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w