Có cảm giác các nhà phê bình 1932-1945 đã cùng tham dự vào vận mệnh của một trào lu văn học vào loại độc đáo nhất trong lịch sự văn học Việt Nam hiện đại.. Cũng nh nhiều hiện tợng văn họ
Trang 1lý do (trong nhiều lý do khác) mà Nguyễn Du gửi gắm nỗi băn khoăn:không biết ba trăm năm sau có ai là ngời đọc hiểu nỗi đau của mình Do đó
với Nguyễn Du và Truyện Kiều ngời nghiên cứu hôm nay muốn tìm lại
không khí và tiếng nói tri âm, hởng ứng của nhà phê bình cùng thời chắc
chắn sẽ ngậm ngùi bởi vì Truyện Kiều ra đời, Nguyễn Du mất (1820), tới nửa thế kỷ sau đó khi Truyện Kiều đợc in ra, số bài phê bình (cả thơ và văn)
không kể đến trên đầu ngón tay
Thế mà phong trào thơ mới (1932-1945) vừa khởi động, giới phêbình đã nhập cuộc Có cảm giác các nhà phê bình 1932-1945 đã cùng tham
dự vào vận mệnh của một trào lu văn học vào loại độc đáo nhất trong lịch
sự văn học Việt Nam hiện đại Ngời nghiên cứu hiện nay thử đặt mình nhmột ngời cùng thời để cùng cảm nhận “thơ mới” nh một giá trị một đikhông lặp lại trong văn học Việt Nam
1.2 Vận mệnh của thơ mới qua các quan điểm phê bình từ 1932 đến naykhông hề phẳng lặng Cũng nh nhiều hiện tợng văn học đích thực kháctrong thế kỷ vừa qua phải chấp nhận sự không may mắn do lịch sử để lại.Trong giai đoạn 1932-1945 giá trị thơ mới đợc giới phê bình cùng thời xem
là hiện tợng của thời đại, là trào lu văn học đợc giới phê bình dành cho sựquan tâm nhiều nhất với nhiều quan điểm đánh giá khác nhau và khuynh h-ớng chung là tôn vinh ca ngợi Cha bàn đến đúng sai trong các quan điểmphê bình cùng thời nhng rõ ràng vận mệnh thơ mới là rạng rỡ ngay từ lúc nó
ra đời và tồn tại hơn 10 năm Đến giai đoạn 1945-1975 và cả đến 1985, thơmới cùng với nhiều giá trị văn học khác đành chấp nhận một sự trầm lắng,
Trang 2có khi bị bỏ quên, có khi bị oan sai do nhiều nguyên nhân lịch sử Thơ mớithuộc “bè trầm” đến 40 năm trong văn học hiện đại (1945-1985) Nhng đếnthời kỳ đổi mới (từ 1986) với việc “nhìn lại một cuộc cách mạng trong thica”, dới ánh sáng của đờng lối đổi mới dân chủ đúng đắn hơn thơ mới dầndần đợc trả lại giá trị đích thực của nó Giá trị của “Thơ mới” đợc hoànnguyên, vận mệnh của thơ mới lại bừng sáng Đánh giá thơ mới từ 1986 trở
đi rõ ràng có tính khoa học hơn thuyết phục hơn cả thành công và hạn chế
ở các giai đoạn sau năm 1945 các nhà phê bình đã không còn tâm thế cùngthời Nếu đối tợng của phê bình văn học là hiện tợng văn học đang diễn ra,thì giới phê bình sau 1945 có thể tìm thấy những tham khảo rất giá trị ở phêbình cùng thời thơ mới Quan điểm phê bình từ sau 1986 có nhiều điểm gặp
gỡ với trớc 1945 Việc trở lại với ý kiến của các nhà phê bình văn học cùngthời thơ mới là muốn khẳng định quan điểm đánh giá từ đổi mới là với thơmới không những đúng đắn, chính xác mà còn tiếp tục phát triển các quan
điểm phê bình trớc 1945 Sự tiếp nối đó đã đa thơ mới lên đúng ví trí màvận mệnh nó phải có trong lịch sử văn học Việt Nam
1.3 Thơ mới trong nhà trờng phổ thông cũng nh đại học luôn gây đợcnhiều hứng thú cho cả giáo viên lẫn học sinh Trong giảng dạy, cần thiếtgiúp học sinh đầu thế kỷ XXI trở về với tâm trạng tiếp nhận thơ mới khi nó
ra đời để khôi phục lại trạng thái hồn nhiên, chân thành, ngỡ ngàng, vô t
đón nhận một tiếng thơ mới sau nghìn năm thơ cũ Trung Đại Vận dụngnhững gì đã tìm hiểu về ý kiến phê bình thơ mới cùng thời, để giúp học sinhhiện nay đang có triệu chứng xơ cứng tâm hồn, bởi các quan hệ kinh tế thịtrờng, bởi mạng vi tính và các lối sống máy móc vô cảm, trở về với tâm lýtiếp nhận văn học hồn nhiên vô t, trở về với cái đẹp của nghệ thuật thuầnkhiết
2 Lịch sử vấn đề
Thơ mới ra đời và tồn tại đã hơn 75 năm cùng với những bớc thăngtrầm trong hàng loạt biến cố của lịch sử dân tộc Thơ mới và phong trào thơ mới 1932-1945, luôn nhận đợc sự quan tâm, tìm hiểu của đông đảo bạn
đọc, những ngời làm công tác giảng dạy và nghiên cứu Đã có rất nhiều bàiviết, nhiều công trình khảo cứu về thơ mới Nhng vấn đề thơ mới đợc nhìnnhận nh thế nào dới con mắt các nhà phê bình cùng thời thì hầu nh cha thấy
ai đề cập một cách đầy đủ và có hệ thống Do vậy đó là điều mà chúng tôimuốn hệ thống trong khóa luận này
Trang 3Khái niệm thơ mới do chính các nhà thơ mới đặt ra và ngời đầu tiên
sử dụng khái niệm này là Phan Khôi Bắt đầu năm 1932 với bài Một lối thơ
mới trình chánh giữa làng thơ, đăng trên báo Phụ nữ tân văn, Sài Gòn số
122, ngày 10- 03- 1932 Đây cũng là bớc khởi đầu cho cuộc tranh luận thơ
cũ - thơ mới, là bớc đờng đầu tiên thơ mới đấu tranh với thơ cũ trung đại đểkhẳng định vị trí của mình Thơ mới thắng lợi là điều tất yếu, nó đứng vữngtrên văn đàn bởi sự xuất hiện của hàng loạt nhà thơ có tài, số lợng nhữngbài thơ mới có giá trị ngày càng nhiều và đợc giới phê bình thời bấy giờ vàocuộc Theo thống kê có khoảng 84 bài từ những cá nhân bảo thủ đến nhữngnhà nghiên cứu cấp tiến
Phong trào thơ mới là một hiện tợng văn học hết sức phức tạp Vì thếxung quanh vấn đề này ý kiến của các nhà phê bình nghiên cứu và của dluận vẫn còn nhiều điểm cha thống nhất Trong suốt tiến trình phát triển củathơ mới, một thời kỳ với hơn 10 năm đã có rất nhiều bài viết, nhiều côngtrình đánh giá về thơ mới Mỗi công trình có một cách tiếp cận, khám pháriêng
Sau năm 1945, có nhiều công trình nghiên cứu về thơ mới, có những
công trình rất quy mô nh Phong trào thơ mới của Phan Cự Đệ mà vẫn cha
có lời nào đánh giá toàn diện, khách quan các ý kiến của các nhà phê bìnhcùng thời đối với thơ mới Phan Cự Đệ chỉ điểm qua một số công trình nổitiếng phê bình về thơ mới của Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Vũ NgọcPhan Ông phê phán nhợc điểm của họ khi cho rằng: “cả Hoài Thanh, VũNgọc Phan và Trần Thanh Mại đều quá đề cao thơ mới lãng mạn Họ không
đứng trên yêu cầu của thời đại, của quần chúng mà đánh giá một phong tràovăn học Chỗ đứng của họ trớc cách mạng tháng Tám cũng chỉ là chỗ đứngcủa các nhà thơ mới mà thôi” [3 - 12]
Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, là công trình nghiên cứu đồ sộ,
quy mô và tâm huyết nhất về phong trào thơ mới Lời cuối sách (của Từ Sơn
- con trai của Hoài Thanh), đã cho chúng ta thấy sự tâm huyết ấy “Tác giả
Thi nhân Việt Nam đã lấy hồn tôi để hiểu hồn ngời Không chỉ để hiểu mà
còn say theo hồn ngời 169 bài thơ của 46 nhà thơ có mặt trong Thi nhân
Việt Nam nh hòa với giọng bình của tác giả để hát lên bài ca sầu não, mộng
mơ, buồn sầu, đau đớn, ngơ ngác trớc cuộc đời” [1 - 379]
Nhng sau này khi nhìn nhận lại, Hoài Thanh đã tự phê phán hết sức
nghiêm khắc đứa con tinh thần của mình Trong Nói chuyện thơ kháng
chiến, lúc nhìn lại thơ lãng mạn 1932- 1945 Hoài Thanh cho rằng “Những
Trang 4vần thơ buồn tủi, bơ vơ ấy là những vần thơ có tội: nó xui ngời ta buông taycúi đầu, do đó làm yếu sức ta và làm lợi cho giặc…” [3 - 13] Đến năm” [3 - 13] Đến năm
1964, trong bài viết Một vài ý kiến về phong trào thơ mới và quyển Thi
nhân Việt Nam Hoài Thanh nhấn mạnh “Nhìn chung thơ mới chìm đắm
trong buồn rầu, điên loạn, bế tắc Đó là cha nói đến phần hiển nhiên là sa
đọa Nguy hiểm nhất là nó lại tạo ra một thứ say sa trong đó Hình nhkhông buồn rầu, không điên loạn, không bế tắc thì không hay, không sâu
Bế tắc đã biến thành một thứ lý tởng Một thứ lý tởng nh thế bao giờ cũngnguy hiểm, trong một hoàn cảnh cần phải đấu tranh quyết liệt lại càng nguyhiểm cho nên mặt chính của thơ mới, phải nói là mặt tiêu cực Ngay nhữngnhân tố tích cực cũng chìm ngập trong không khí bế tắc ấy không gỡ ra đ-ợc” [1 - 383] Khoảng 13 năm sau, đến năm 1977 Hoài Thanh lại viết thêm
bài Thêm một vài lời về quyển Thi nhân Việt Nam mà t tởng chủ yếu của
bài viết này là đề phòng cho lớp thanh niên khỏi bị nhiễm lối sống buôngxuôi trớc những yêu cầu gắt gao của giai đoạn lịch sử mới
Đó là lời tự phê bình trung thực nhng quá nghiêm khắc, quá cực đoan
không chỉ ảnh hởng tới giá trị của chính Thi nhân Việt Nam mà còn ảnh
h-ởng đến cả phong trào thơ mới Nhng đến nay hiện tợng văn học phong phú
và phức tạp này đã đợc đánh giá thấu tình đạt lý hơn Các nhà nghiên cứu,phê bình, nhà văn, nhà thơ và cả bạn đọc nữa sẽ trân trọng ghi nhận vànghiên cứu nghiêm túc các lời tâm sự, các lời tự phê phán của Hoài Thanh
Sự kiện 15 - 12 - 1992 các nhà thơ Huy Cận, Hoài Thanh, NguyễnXuân Sanh đã có ý kiến mời các nhà thơ mới còn sống về họp mặt đầu xuân
để bàn về việc kỉ niệm 60 năm phong trào thơ mới và thành lập ban liên lạccủa phong trào thơ mới Cũng trong năm này (1992) liên tiếp ba cuộc hộithảo về thơ mới diễn ra tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Những bàiviết trong cuộc hội thảo này của các nhà thơ mới cũng nh các nhà nghiên
cứu phê bình, tập hợp thanh cuốn sách “Nhìn lại một cuộc cách mạng trong
thi ca” Kể từ đây nh nhà thơ Huy Cận đã xúc động nói “Vào giờ phút này,
giờ phút đã trả lại cho thơ mới những giá trị lớn lao của nó”, thì “Một thời
đại trong thi ca”, đã hòa mình vào dòng chảy của văn học dân tộc theo đúngnghĩa của nó một cách bình đẳng tích cực
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Tìm hiểu ý kiến phê bình thơ mới cùng thời là để hiểu thơ mới theocách hiểu cùng thời Vậy đối tợng vừa là thơ mới vừa là phê bình thơ mới
Trang 5Qua thơ mới để làm rõ các ý kiến phê bình và qua ý kiến phê bình để hiểuthêm thơ mới theo cách hiểu cùng thời.
- Phạm vi tài liệu:
+ Tác phẩm thơ mới: Quan tâm trực tiếp những tác phẩm đợc giớiphê bình cùng thời nhắc đến và bình luận, đồng thời cũng chú ý đến nhữngtác phẩm khác
+ Tác phẩm phê bình : Chúng ta có thể thấy phê bình thơ mới cùngthời có hàng trăm bài báo công trình (đã in sách) Trong điều kiện sinh viên
làm khóa luận chúng tôi chỉ tập trung vào ba cuốn sách (Thi nhân Việt
Nam, Nhà văn hiện đại, và một phần trong Việt Nam văn học sử yếu) Và
các bài báo đợc tập hợp trong Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam 1900
1945
– 1945 do nhóm Nguyễn Ngọc Thiện biên soạn (sẽ có thống kê ở sau).Ngoài ra có thể tham khảo một số ý kiến phê bình thơ mới ở các giai đoạnsau này để đối chiếu hoặc định hớng…” [3 - 13] Đến năm
Nội dungChơng 1: phê bình văn học và sơ lợc về phê bình văn học từ đầu thế kỷ xx đến năm 1945
Trang 61.1 Phê bình văn học trong khoa nghiên cứu văn học
1.1.1 Khái niệm
Phê bình văn học là một trong ba phân môn của ngành nghiên cứuvăn học, có đối tợng riêng, tồn tại bên cạnh các bộ môn khác là lý luận vănhọc và lịch sự văn học Những bộ môn này liên quan chặt chẽ với nhau, hỗtrợ nhau để cùng tồn tại và phát triển
Phê bình văn học là sự phán đoán, phân tích, bình phẩm, đánh giá vàgiải thích các tác phẩm văn học Thờng là các tác phẩm văn học cùng thờivới nhà phê bình, tức là các tác phẩm đơng đại Phê bình văn học vừa là mộthoạt động của nền văn học đang diễn ra, vừa là một bộ môn của khoanghiên cứu văn học Vì vậy phê bình văn học vừa có tác động rất lớn tới sựphát triển của nền văn học vừa tác động tới độc giả góp phần hình thành thịhiếu thẩm mĩ cho quảng đại quần chúng Là một môn khoa học, phê bìnhvăn học nhận thức các khuynh hớng vận động của văn học đơng đại, tìmkiếm chỗ làm bàn đạp cho văn học đi tới, khám phá những nhân tố nghệthuật có khả năng mở rộng ra một quá trình văn học mới và chỉ ra nhợc
điểm trong sáng tác so với nhu cầu của thời đại và của bản thân văn học
Phê bình văn học là khoa học nhận thức về các khuynh hớng vân
động của nền văn học đơng đại do đó nó có khả năng phán đoán con đờng
mà văn học sẽ đi tới Nó khám phá các nhân tố nghệ thuật mới mẻ Nhữngnhân tố này có khả năng mở ra quá trình mới cho văn học Phê bình văn họcvừa là nột khoa học vừa là một nghệ thuật mặc dù nó xuất hiện ngay từ thời
cổ đại với đại diện tiêu biểu là nhà triết học kiêm mỹ học Arixtop với côngtrình “Nghệ thuật thi ca”, nhng phải đến thế kỷ XX mới có bớc ngoặt thật
sự nhờ sự phát triển của các khoa học, phê bình văn học mới trở thành mộtngành khoa học độc lập
Nhng để phê bình văn học có thể thực hiện tốt nhất nhiệm vụ củamình thì cần có sự hỗ trợ của những thành viên khác trong khoa nghiên cứuvăn học đó là lịch sử văn học và lý luận văn học Ba khái niệm thành viên
có mối quan hệ mật thiết với nhau để cùng tồn tại và phát triển Lịch sử vănhọc muốn làm tốt nhiệm vụ của mình phải có quan điểm đúng, phải có sựhiểu biết chung về bản chất quy luật của văn học, lý luận văn học sẽ cungcấp Phê bình văn học cũng giúp cho lịch sử văn học trong việc nhìn nhậncác tác phẩm, tác giả cụ thể qua phản ứng của ngời đọc đơng thời Lý luậnvăn học muốn khái quát đợc đặc điểm và quy luật của văn học phải dựa vàothực tế Lịch sử văn học và phê bình văn học sẽ hỗ trợ Phê bình văn học
Trang 7phải có sự hiểu biết về đặc trng chung của văn học, lý luận văn học sẽ cungcấp Phải hiểu biết các quá trình đã qua phê bình văn học mới đánh giá
đúng hiện tại, lịch sử văn học sẽ hỗ trợ Điều đó tự nói lên rằng phê bìnhvăn học, lý luận văn học có sự liên quan gắn kết với nhau Tuy nhiên liênquan gắn kết không có nghĩa là đồng nhất với nhau tới mức đánh mất nétriêng, nét độc đáo của mỗi ngành
1.1.2 Đối tợng của phê bình văn học
Đối tợng của phê bình văn học chủ yếu là những hiện tợng văn học
đang diễn ra và cả các hiện tợng văn học đã diễn ra Trong đó đặc biệt đợcchú ý và quan tâm nhiều nhất vẫn là tác phẩm văn học Bởi văn học là mộtthế giới đầy tính nghệ thuật do tác giả dựng lên nhờ trí tởng tợng phong phúcủa mình Nhà phê bình phải xem tác phẩm văn học là thế giới có tính nghệthuật đặc thù, có sự sống riêng, xem tác phẩm là một hiện tợng thẩm mĩxuất phát từ đó mà phán đoán phân tích bình phẩm đánh giá, sao cho ngời
đọc thấy đợc cái hay cái cốt lõi, cái tinh túy của tác phẩm văn học
Mặc dù đối tợng chính của phê bình văn học là những tác phẩm vănhọc đơng đại ra đời cùng thời với nhà phê bình Nhng phê bình văn họckhông hoàn toàn bó hẹp trong phạm vi này nó đợc phép mở rộng đối tợngcủa nó tới những tác phẩm của các thời đại đã qua bởi vì nhữngc tác phẩmnày ý nghĩa của chúng, giá trị của chúng vẫn đang vận động, đang tái sảnxuất, đang đồng hành với con ngời đơng đại
1.1.3 Chức năng của phê bình văn học
Phê bình văn học có rất nhiều chức năng Nó tìm tòi, khám phá kíchthích sự sáng tạo ở các nhà văn Bên cạnh đó còn có khả năng tác động trởlại độc giả Thể hiện vai trò “cầu nối” giữa tác phẩm văn học và công chúngbạn đọc
Phê bình văn học khám phá các giá trị t tởng nghệ thuật của tác phẩmvăn học “Hiểu đợc những gì mà các nhà thơ nói, phán định đợc những cáigì hay và cái gì không hay” (Platon), “Nêu đợc cái hay tuyệt vời hoàn mỹ
mà chúng ta phải vơn tới, vừa thấu tình thấu lẽ cho sự sáng tác hơn nữa”(Xuân Diệu) ý kiến của các nhà phê bình tài năng dờng nh có ý nghĩa pháthiện, đánh giá chính xác sự đóng góp của nhà văn đối với nền văn học dântộc Chẳng hạn nh sự phát hiện của Bielinxky (1811-1848) đối với Puskin(1799-1837) trong văn học Nga, Hoài Thanh đối với trào lu thơ mới (1932-1945) trong văn học Việt Nam
Trang 8Cùng với chức năng khám phá cái hay cái đẹp của văn học Phê bìnhvăn học còn xây dựng hệ giá trị thẩm mỹ Theo Nguyễn Hng Quốc, phêbình có hai chức năng chính : “phát hiện và quy chuẩn hóa những cái đẹp”.Phê bình không chỉ phát hiện cái hay cái đẹp mà còn phân tích giúp độc giảnhận thức rõ cụ thể cái hay ấy.
Phê bình khác với thởng thức Nếu thởng thức thiên về cá nhân thìphê bình trong ý nghĩa nghiêm túc và lành mạnh của hoạt động tiếp nhận.Hoạt động này nặng về thiên chức xã hội, mang tính chất đại diện cho một
bộ phận ngời đọc, có trình độ cao về văn học nghệ thuật, có sự quan tâm amhiểu về chúng Phê bình hớng dẫn d luận bạn đọc, đồng thời đối thoại, chấtvấn, góp ý với nhà văn Để khắc phục những hạn chế và khẳng định tìm tòikhám phá những giá trị nghệ thuật đích thực của nền văn học dân tộc Mộtkhuynh hớng phê bình có thể đại diện cho khuynh thởng thức của mộtnhóm ngời đọc nào đó
1.2 Kiểu phê bình văn học thời trung đại (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX) 1.2.1 Có hay không ? phê bình văn học thời trung đại
Có ngời cho rằng văn học thời trung đại cha có lý luận và vì vậy cha
có phê bình văn học, nếu hiểu theo quan điểm này thì có nghĩa khái niệm lýluận và phê bình phải đợc hiểu một cách chặt chẽ nh là một khoa học Tức
là nó phải là phân ngành độc lập tơng đối trong khoa nghiên cứu văn học
Nó phải có nhà phê bình chuyên nghiệp, phải có hệ thống lý thuyết nguyêntắc và phơng pháp làm việc Theo nghĩa này thì quả thật thời trung đại cha
có lý luận phê bình văn học, bởi vì nó cha xuất hiện một hệ thống lý thuyếtcho ngành khoa học này ra đời
Tuy vậy, nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn thì quả thật ở thời kỳ văn họctrung đại cũng đã có xuất hiện một kiểu phê bình văn học mang tính đặcthù Đó là kiểu phê bình ngẫu hứng, kiểu phê bình tri âm tri kỉ giữa nhữngngời phê bình với tác giả Cho nên là làm phê bình thời đó có nghĩa là tìmniềm đồng cảm tri âm với ngời sáng tác Hơn thế, phê bình thời trung đạicòn là phê bình theo kiểu tầm chơng trích cú…” [3 - 13] Đến năm Đó là đặc thù của lý luậnphê bình truyền thống trong văn học trung đại Kiểu phê bình này thờngnằm rải rác trong các lời bạt, lời tựa cho một tập thơ hay một cuốn sách của
các nhà nho Ví dụ : Lời tựa trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục của Lê Quý
Đôn, lời tựa trong Trích diễm thi tập của Hoàng Đúc Lơng, hay lời tựa trong Tồn am di thảo của Phạm Nguyễn Du…” [3 - 13] Đến năm Có khi rất nhiều trờng hợpcác lời phê bình văn chơng đợc viết thành thơ Ví dụ : Bài thơ của Phạm
Trang 9Quý Thích Vịnh Truyện Kiều …” [3 - 13] Đến năm Dù dới hình thức nào thì những lời tựa, lờibạt, lời bình ấy đều mang nội dung nhận định tổng kết trên cơ sở phân tíchvăn bản nhằm giao lu, đối thoại, đánh giá, gợi mở, định hớng các tác phẩmvăn học Nhìn chung các ý kiến nh là những cảm tởng hàm súc với cảmhứng trang trọng và trân trọng.
Vậy thì phê bình văn học hiện đại khác phê bình văn học truyềnthống ở đâu ? Phê bình truyền thống thờng quan tâm đánh giá, thẩm bìnhcái hay cái đẹp của ngôn từ hình ảnh tìm câu hay từ đắt, nhãn tự, nhãn cúcủa văn bản nghệ thuật hơn là phân tích nghiên cứu toàn bộ những mối liên
hệ trong ngoài, gần xa, trực tiếp, gián tiếp hết sức phức tạp của sáng tác vănhọc Nghĩa là phê bình văn học truyền thống xem xét tác phẩm trong thế côlập, tĩnh tại nh một khu vực tự trị tách biệt với vô vàn mối liên hệ văn hóathẩm mỹ khác Khác với phê bình truyền thống, phê bình văn học hiện đạikhông mải mê tìm câu hay từ đắt bình tán, thù tạc mà vơn lên một cấp độkhác.Tìm hiểu toàn diện mối quan hệ đa chiều của sáng tác nghệ thuật:Quan hệ giữa tác phẩm với đời sống, với những vấn đề xã hội văn hóa, t t-ởng, quan hệ giữa văn bản với nhà văn, văn bản với bạn đọc…” [3 - 13] Đến nămNói nh thếkhông có nghĩa là hiện nay sự ra đời của phê bình hiện đại đã đặt dấu chấmhết đối với lối phê bình truyền thống Mà nó vẫn có mặt bên cạnh phê bìnhhiện đại và vẫn cần thiết với cuộc sống hiện đại xét theo nhiều phơng diện
Phê bình truyền thống trong văn hoc trung đại là tiền đề, là cơ sở rấtquan trọng, để bớc sang thời hiện đại cùng với một đội ngũ nhà văn chuyênnghiệp, tác phẩm văn học trở thành hàng hóa, văn học có công chúng và ng-
ời đọc rộng rãi, các ngành khoa học phát triển với ngững lý thuyết chuyênsâu Đã thúc đẩy ngành phê bình phát triển với những bớc tiến vợt bậc, đạtnhiều thành tựu vững chắc
1.2.2 Hạn chế của phê bình văn học trung đại
Nền lý luận phê bình truyền thống trong buổi đầu hình thành còn nonyếu, lại không đợc tạo điều kiện để phát triển cho nên cha gây dựng đợc sự
ảnh hởng đối với văn học Đây là phê bình văn học theo kiểu tri âm tri kỷ,cha mang tính tự giác,thiếu khách quan, thiếu nguyên tắc, xuất phát từ tìnhcảm cá nhân “ái mộ” nhau mà ngời ta hạ bút bình phẩm nhau Chính vì vậyphê bình văn học thời trung đại mang nhiều hạn chế
Thứ nhất: Phê bình thờng chỉ hớng tới một số sáng tác cụ thể, thờngtách những yếu tố nội dung hay nghệ thuật của tác phẩm để bình luận một
Trang 10cách cô lập Có nghĩa là nhà phê bình cha có ý thức về tính chỉnh thể, hệthống của tác phẩm nh một thế giới nghệ thuật toàn vẹn.
Thứ hai: Phê bình trung đại thờng thiên về bình diện ngôn ngữ củatác phẩm cũng nh có lúc tỏ ra khá tinh tế nhng nhìn chung là vụn vặt bởi vìngời ta phải bình luận theo kiểu “tầm chơng trích cú” Ngời ta nhận xét ýnghĩa của một câu văn câu thơ, khen tài năng sử dụng từ ngữ của tác giả vìvậy mà xuất hiện các thuật ngữ mang tiêu chí đánh giá nh: Thần cú, nhãn
tự…” [3 - 13] Đến năm Ngời ta quan tâm đến luật bằng- trắc, đối ngẫu, niêm vần
Thứ ba: Là đánh giá phê bình tác phẩm thờng là chủ quan, trực cảm,tri âm, do đó thiếu tiêu chí khách quan thờng hớng tới các yếu tố phiếndiện
Thứ t: Là nhà phê bình trung đại chủ yếu quan tâm đến các yếu tốtĩnh tại bất biến của sáng tác, các yếu tố này chính là các quy tắc nghệ thuậtcủa trung đại, những chuẩn mực thẩm mỹ đã đợc quy định trớc Chẳng hạnnh: Bố cục cốt truyện là yếu tố bất biến nh một quy tắc, hầu hết truyện nômcủa ta đều có cốt truyện 5 bớc chịu ảnh hởng của cốt truyện tiểu thuyết tài
tử giai nhân Trung Quốc…” [3 - 13] Đến năm
Sở dĩ có hạn chế đó là do khoa học cha phát triển, các ngành khoahọc cha tách khỏi nhau để trở thành các ngành nghiên cứu chuyên nghiệp…” [3 - 13] Đến năm
Điều này ảnh hởng không nhỏ tới lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học
Đến thời kỳ hiện đại phê bình văn học đã dần dần khắc phục đợcnhững hạn chế trên Nó đã mang tính chuyên nghiệp thực sự Cùng với sựphát triển nhanh chóng của văn học trên con đờng hiện đại hóa, lý luận phêbình văn học Việt Nam phát triển nhanh chóng, phong phú ngày càng sôi
động, trở thành một ngành chuyên biệt đáp ứng yêu cầu mới đa dạng, phứctạp của văn học Với thành tựu đạt đợc góp phần đẩy nhanh quá trình hiện
đại hóa văn học
1.3 Nhìn chung về phê bình văn học từ 1900 đến 1945
Từ đầu thế kỷ XX trở đi, văn học Việt Nam dần dần bớc vào một giai
đoạn mới, từng bớc hiện đại hóa toàn diện: Từ quan điểm thẩm mỹ đến thểtài, thể loại, từ kết cấu tác phẩm đến ngôn ngữ văn học…” [3 - 13] Đến năm Những ngời cầmbút lúc này đã ý thức rõ về nghề nghiệp làm văn của mình Tác phẩm vănhọc trở thành hàng hóa Văn học có bớc phát triển mới trên mọi phơngdiện Bên cạnh những thể loại truyền thống xuất hiện những thể loại mới
Trang 11nh: Tiểu thuyết, phóng sự, kịch nói…” [3 - 13] Đến năm Đặc biệt cùng với đó là lý luận phêbình nghiên cứu văn học
Ngành lý luận phê bình cũng trên bớc đờng hiện đại hóa Lý luận phêbình văn học đến thời hiện đại đã thành khoa học, có hệ thống khái niệm,
hệ thống lý thuyết và phơng pháp luận của nó Bên cạnh đó xuất hiện hàngloạt các nhà nghiên cứu, phê bình chuyên nghiệp và họ có uy tín đáng kểtrong đời sống văn học nh: Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, HảiTriều, Trơng Chính, Dơng Quảng Hàm…” [3 - 13] Đến năm Lý luận phê bình văn học từ 1932trở đi thực sự đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn học Cha baogiờ hoạt động lý luận phê bình lại sôi nổi nh những năm này Ngời ta thểhiện thái độ quan điểm, ngời ta bày tỏ lập trờng, tranh luận ý thức hệ lôikéo độc giả Lý luận phê bình đã tạo ra một môi trờng văn học cần thiết để
tự đổi mới mình và có ý thức tác động mạnh mẽ trong việc đổi mới các thểloại khác nh: Tiểu thuyết, thơ, kịch…” [3 - 13] Đến năm
Kiểu phê bình hiện đại này trên thực tế vẫn chịu ảnh hởng của lối phêbình truyền thống, nhng về cơ bản nó đã có bớc phát triển mang tính cáchmạng cả trong lý thuyết và trong thực tiễn Lý luận phê bình tách khỏi sángtác và trở thành bộ phận tơng đối độc lập với sáng tác Nhà phê bình có đợcmột chỗ đứng khách quan trong đời sống văn học hiện đại để nhìn các hiệntợng văn học
Quan sát kỹ hoạt động phê bình thời kỳ này ta nhận thấy rằng: Hoạt
động phê bình văn học từ những năm đầu thế kỷ, đặc biệt 20 năm đầu cómột không khí vắng vẻ đìu hiu Phải chờ đến 10 năm tiếp theo mới thấy
xuất hiện dăm ba bài phê bình trên báo chí đơng thời nh: Đông Dơng tạp
chí, Nam phong tạp chí…” [3 - 13] Đến năm của một số trí thức nh Phạm Quỳnh, Tản Đà,Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Vĩnh…” [3 - 13] Đến nămCó thể coi đây là bớc khởi động có ýnghĩa khai phá mở đờng, là bớc đệm chuẩn bị tiền đề quan trọng cho sựphát triển của phê bình văn học ở các thời kỳ tiếp sau theo hớng hiện đạihóa Dấu hiệu phân hóa thành các khuynh hớng khác nhau trong phê bìnhvăn học ở những năm này đã thể hiện tơng đối rõ
Chúng tôi có thể kể ra đây những công trình tiên biểu của thời kỳ1900-1931:
- Việt Hán văn khảo, Phan Kế Bính, 1918.
- Nam Âm thi toại, Phan Khôi, 1918.
- Bàn về tiểu thuyết, Phạm Quỳnh, 1921.
- Nam thi hợp tuyển, Nguyễn Văn Ngọc, 1927.
Trang 12Tuy nhiên phải chờ đến năm 1932 trở về sau, đây là năm đánh đấumột bớc ngoặt quan trọng, văn học có bớc phát triển mạnh mẽ trên nhiềuphơng diện Năm 1932 báo chí phát triển mạnh mẽ Tự Lực Văn Đoàn và
tờ báo Phong hóa, cơ quan ngôn luận của tổ chức này ra đời Xuất hiệnnhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự viết theo lối mới của Nhất Linh,Khái Hng, Hoàng Đạo Năm 1932 cũng là năm ra đời đánh dấu sự pháttriển mạnh mẽ của phong trào thơ mới và đặc biệt đánh dấu sự ra đời củathế hệ văn sĩ mới với cách cảm xúc mới, cách nhìn mới, cách viết mới
Sáng tác thực sự trở thành một hoạt động chuyên nghiệp với một độingũ nhà văn đông đảo, vốn xuất thân từ tầng lớp học sinh, sinh viên, trí thứctây học Đây là động lực thúc đẩy phê bình với t cách là “ ý thức văn học”,
phát triển sôi nổi rầm rộ Trong bộ Tuyển tập phê bình văn học Việt Nam
(1900-1945) gồm 5 tập do nhóm tác giả PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện chủbiên, su tầm chọn lấy 195 bài viết hoặc đầu sách của 90 tác giả Trong số
đó 30 năm đầu thế kỷ có hơn 30 bài của 17 tác giả Số còn lại là từ
1932-1945 Con số trên dẫu chỉ là tơng đối nhng có ý nghĩa về sự phát triển vớimột gia tốc nhanh của hoạt động phê bình 1932-1945 Nổi bật là các côngtrình:
- Phê bình và Cảo luận, Thiếu Sơn, 1933.
- Duy tâm hay duy vật, Hải Triều, 1935.
- Việt Nam văn hóa sử cơng, Đào Duy Anh, 1938.
- Dới mắt tôi, Trơng Chính, 1939.
- Hàn Mặc Tử, Trần Thanh Mại, 1941.
- Theo dòng, Thạch Lam, 1941.
- Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, 1942.
- Việt Nam văn học sử yếu, Dơng Quảng Hàm, 1942.
- Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan, 1942-1943.
- Việt Nam cổ văn học sử, Nguyễn Đổng Chi, 1942.
- Văn học khái luận, Đặng Thai Mai, 1944.
Phê bình văn học 1932-1945 đã mang những tính chất cơ bản củamột nền phê bình hiện đại T duy phân tích, lý luận đợc thể hiện rõ nét, cáckhái niệm phạm trù mang tính chất công cụ đợc dùng để tiếp cận tác giảtác phẩm cùng với những tiêu chí đánh giá văn học rất phong phú…” [3 - 13] Đến năm
Nhìn chung lý luận phê bình thời kỳ này phát triển sôi nổi, các nhàphê bình quan tâm hầu hết đến các phơng diện của nền văn học, chẳng hạn:Thị hiếu của ngời đọc, cuộc đời và nhân cách đạo đức của nhà văn, sự phát
Trang 13triển của thể loại, mối quan hệ giữa đổi mới, cách tân, học tập văn học
ph-ơng Tây với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, những quan niệm mới mẻcủa văn học…” [3 - 13] Đến năm Về đổi mới văn học chuẩn bị cho hiện đại hóa văn học dântộc, phê bình văn học thời kỳ này rất có ý thức chú ý tới đặc trng chiếm lĩnhthể hiện cuộc sống của văn học nghệ thuật qua việc đánh giá cao cá tínhphong cách sáng tạo của nhà văn Sự phong phú còn đợc thể hiện ở cáckhuynh hớng phê bình Phê bình mác xít xuất hiện bên các khuynh hớngphê bình khác, với các tên tuổi nh: Hải Triều, Đặng Thai Mai, Bùi CôngTrừng…” [3 - 13] Đến năm Nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác và t tởng văn nghệ cách mạng:Văn học là vũ khí phục vụ cho sự nghiệp cứu nớc, cứu dân, có sứ mệnh cảitạo xã hội, nghệ thuật gắn liền với cuộc đời
Giới phê bình thời kỳ này, tuy là bàn đến rất nhiều vấn đề nhng tựuchung lại ta thấy có một số hiện tợng văn học đợc giới phê bình quan tâm
nhiều nhất nh sau: Thứ nhất là Truyện Kiều của Nguyễn Du là nhà văn và
tác phẩm trung đại đợc giới phê bình bàn nhiều nhất, từ 1900-1945 trongtuyển tập phê bình văn học Việt Nam, các tác giả đã đa ra 9 đơn vị tiêubiểu, tuy nhiên trong thực tế còn rất nhiều Thứ hai tác phẩm văn học đơng
thời đợc giới phê bình chú ý nhiều nhất đó là tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng
Ngọc Phách Theo thống kê cha đầy đủ có khoảng hơn 30 bài Thứ ba, nhàvăn đơng thời đợc giới phê bình quan tâm nhiều nhất là Tản Đà- NguyễnKhắc Hiếu Từ năm 1920- 1945 có 65 bài phê bình về Tản Đà, riêng năm
1939 năm Tản Đà mất có 32 bài Thứ t, trào lu văn học đợc giới phê bìnhchú ý nhiều nhất, đó là phong trào thơ Mới, cũng là vấn đề chính mà chúngtôi quan tâm
Thời kỳ 1932 - 1945 còn là thời kỳ của nhiều cuộc tranh luận vănhọc Tranh luận thơ mới- thơ cũ (1932 - 1942); Cuộc tranh luận nghệ thuật
vị nghệ thuật - Nghệ thuật vị nhân sinh kéo dài trong 4 năm (1935 - 1939);Tranh luận về dâm hay không dâm trong các sáng tác của Vũ Trọng Phụng(1936 - 1939); Tranh luận về Truyện Kiều…” [3 - 13] Đến năm Đó là môi trờng tốt của hoạt
động phê bình văn học Đây là giai đoạn giao thời của nền văn học dân tộc,rồi bớc lên thời kỳ đầu tiên của văn học hiện đại, cho nên những vấn đềtranh luận thực sự thiết thân với sự phát triển của nền văn học còn non trẻcủa dân tộc Bên cạnh đó trình độ lý luận, lập trờng xã hội, động cơ t tởngcủa các nhà phê bình liên quan trực tiếp đến kết quả của các cuộc tranhluận Và xu hớng chung là kết quả tích cực, tạo động lực cho sự phát triểncủa văn học
Trang 14Có thể nói rằng nghiên cứu lý luận phê bình có vai trò rất quan trọngtrong đời sống văn học của thời đại Nó nh một động lực vừa thúc đẩy vừa
định hớng cho sáng tác, giúp vào việc uốn nắn những khuynh hớng nghệthuật thiếu lành mạnh Ngoài ra chính các cuộc tranh luận cũng giúp nhàvăn một cách nhìn, một quan điểm mới đối với nghệ thuật Lý luận phêbình còn có vai trò lớn đối với ngời đọc Trong hoàn cảnh mà một dân tộctrình độ học vấn cha cao thì vai trò của lý luận phê bình càng nổi bật Lýluận phê bình giúp công chúng hình thành những khuynh hớng thẩm mỹlành mạnh, hớng ngời đọc đến những tác giả tác phẩm tiến bộ Mặt khác lýluận phê bình còn giúp ngời đọc điều chỉnh những khuynh hớng thẩm mỹlạc hậu
Phê bình góp phần đem những “đứa con tinh thần” của tác giả đếngần với độc giả hơn Hoạt động này còn cung cấp cho những ngời quan tâm
đến sự phát triển của nền văn học nớc nhà những t liệu quý báu và đánh dấucho sự ra đời của những khuynh hớng phê bình trong văn học Việt Nam mà
từ trớc đến nay cha hề có
Chơng 2 những ý kiến phê bình chung về phong trào thơ mới
2.1 Thơ mới trong cuộc đấu tranh với thơ cũ qua ý kiến của các nhà
Trang 15phê bình
Một hiện tợng văn học mới xuất hiện, ở thời kì phôi thai cha thể đứngvững ngay đợc Tất yếu có sự đấu tranh và kế thừa từ truyền thống thơ mới
ra đời cũng không tách khỏi quy luật đó
Khi cái cũ đã dần mất đi vai trò và vị trí của nó, tâm hồn t tởng conngời đã mạnh dạn bớc qua một thời đại mới Thì tất yếu họ sẽ phải đi tìmcho mình một nơi trú ngụ mới, một hình thức thể hiện mới để bày tỏ tấmlòng, suy nghĩ của mình để cảm xúc đợc thăng hoa Và thơ mới đợc ra đời
là để đáp ứng cái nhu cầu đổi mới đó của con ngời của thời đại Trong bài
khảo luận: Một thời đại trong thi ca thuộc phần đầu của Thi nhân Việt
Nam, Hoài Thanh đã nhận định “đi tìm nguồn gốc thơ mới mà chỉ nói xa
xôi thế công việc nhà viết sử cũng khí dễ dàng Ta hãy tìm những nguyênnhân gần gũi hơn cùng những triệu chứng của phong trào thơ mới” [1 - 16]
Ông chỉ ra: đã lâu ngời mình làm thơ hầu hết chỉ làm ngững bài tám câu,mỗi câu bảy chữ để phục vụ cho thơ cũ Nhng đáng kể nhất ngày 10 - 3 -
1932 cuộc cách mệnh thi ca đã nhóm dậy Trên tờ Phụ nữ tân văn số 162
ông Phan Khôi cho trình làng bài Tình già của ông sáng tác với tựa đề kèm
theo là: Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ để hợp thức hóa đứa consơ sanh của mình Đó là một lối thơ “Đem ý thật có trong tâm khảm mìnhtả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết và tạmmệnh danh là thơ mới” [1 - 20]
“Thơ mới” do ông Phan Khôi đề xớng, tiếp theo ông Lu Trọng L làngời hởng ứng đầu tiên Ông đã dùng nhiều lý lẽ để bênh vực thơ mới, mới
đầu họ dùng tờ Phụ nữ tân văn làm nơi chiêu mộ đồng minh, sau lại chuyển qua tờ Phong hóa, làm cơ quan tuyên truyền cho thơ mới Phong trào thơ mới ngày một lớn mạnh Tờ Phong hóa lên tiếng bênh vực thơ mới đả kích
thơ cũ
- Lực lợng xung đột giữa hai phe:
+ Phe thơ cũ đứng đầu là Tản Đà rồi đến Huỳnh Thúc Kháng,Văn Bằng, Thái Phỉ, Nguyễn Văn Hanh, Hoàng Duy Từ, Trơng Sơn, PhiVân, Tờng Vân…” [3 - 13] Đến năm và nhiều tạp chí sẵn sàng hỗ trợ nh: Tin văn, Tiếng Dân,
Trang 16- Trong cuộc cạnh tranh với thơ cũ trung đại, phe thơ mới ban đầu có
vẻ thất thế ở thời kì “ phôi thai” (1932 - 1933) Phái thơ cũ thóa mạ thơ mớibằng những lời lẽ hàm hồ ác ý “ thơ mới thật ra chẳng mới chút nào”, “ nhạtnhẽo vô duyên” Nhng với đội ngũ sáng tác ngày càng đông, những bài thơmới có giá trị càng nhiều Thời kì 1934 - 1936 u thế của thơ mới dần dần đ-
ợc khẳng định, với hàng loạt tác phẩm ra đời nh:
1934: Yêu đơng (Phạm Huy Thông).
Anh với em (Lan Sơn).
1935: Mấy vần thơ (Thế lữ).
Ngày xa (Nguyễn Nhợc Pháp) Bâng khuâng (Phan Văn Dật) Cô gái xuân (Đông Hồ)
1936: Gái quê (Hàn Mặc Tử).
Lê Tràng Kiều đã hào hứng khẳng định những thành tựu vững chắccủa thơ Mới Bằng những lời lẽ trên Hà Nội báo năm 1936 “ Cuộc cáchmạng về thi ca ấy ngày nay đã yên lặng nh mặt nớc hồ thu, không ai phủnhận những thành tựu của thơ mới đợc nữa…” [3 - 13] Đến nămthời gian đã định đoạt đợc cáigiá trị của thơ mới” [14 - 412] Năm 1936 có thể coi nh thơ mới đã thắngthế trong cuộc tranh luận với thơ cũ trung đại Lê Tràng Kiều đề nghị nênxóa 2 chữ “thơ mới” vì 2 chữ “ thơ mới” là biểu hiện của cuộc cách mạng đ-
ơng bồng bột Cuộc cách mệnh về thi ca ấy ngày nay đã toàn thắng Bởi vì “nguy nhất cho những ngời bênh vực thơ cũ là trong tám, chín năm luôn thơmới sản xuất ra nhiều nhà thơ có danh, nhiều bài thơ có giá trị mà họ gần
nh không sáng tạo ra đợc một chút gì có thể gọi là thơ” [1 - 26] Từ bấy giờlịch sử chỉ ghi nhận những áng thơ hay mà thôi không còn chia mới - cũnữa Lu Trọng L nở một nụ cời kiêu hãnh làm thơ sách họa chế giễu cácnhà thơ cũ:
Đôi lời nhắn nhủ bạn làng nho Thơ thẩn, thẩn thơ khéo thẫn thờ Nắn nót miễn sao nên bốn vế Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.
Trên Hà Nội báo, hàng loạt bài thơ họa lại, châm biếm thơ cũ với cái t thế
của ngời chiến thắng
Từ giữa năm 1936 trở về sau cuộc tranh luận giữa thơ mới - thơ cũ rẽsang hớng khác Thơ mới giành thắng lợi áp đảo trớc thơ cũ Thơ mớikhông còn lạ lùng nữa nó đã quen với tất cả chúng ta Thời gian này trên
Trang 17Hà Nội báo mà Lê Tràng Kiều là chủ bút với 11 bài từ số 14 ngày 8 4
-1936 đến số 30 ngày 27 - 9 - -1936 ông hào hứng khẳng định những thànhtựu vững chắc của thơ mới ở phơng diện phong trào và một số tác giả cụ thểnh: Thái Can, Vũ Đình Liên, Nguyễn Nhợc Pháp, Đông Hồ, Nguyễn Vĩ,Thế Lữ, Lu Trọng L…” [3 - 13] Đến năm
Trớc sự tấn công ồ ạt của thơ mới, phái thơ cũ cũng phản ứng lại khámạnh mẽ Nguyễn Văn Hanh diễn thuyết bênh vực thơ cũ; Tản Đà, TháiPhỉ, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Cơng Phụng…” [3 - 13] Đến năm viết bài công kích thơ mới
Năm 1935 hai ông Tờng Vân và Phi Vân xuất bản tập thơ cũ Những bông
hoa trái mùa ở Vinh Nhng cái lý của phái thơ cũ xem chừng đã yếu đuối
và rất mong manh Ngay cả Tản Đà trớc đây đã quả quyết rằng: lối “thơ
mới” (biểu hiện ở bài Tình già), không có gì là mới cả Nhng đến năm
1936, trong Văn thơ nớc ta nay về sau, Tản Đà lại cho “thơ mới” ra đời là
hợp lý và cần thiết Tản Đà không bác bỏ thơ cũ Nhng ông rất hợp lý khicho rằng: các thể thơ cũ vẫn nghèo nàn
Một thời đại thi ca đã khép lại, giá trị của thơ mới đợc giới phê bình
và bạn đọc thừa nhận thơ mới phát triển mạnh mẽ, trong khi các nhà thơ cũngâm vịnh phong hoa tuyết nguyệt hầu nh không sáng tạo đợc gì có giá trị
Những tập Một tấm lòng (1939) và Mùa cổ điển (1941) của Quách Tấn
cũng không thể nào cứu vạn đợc một mùa thơ đã suy tàn và hết sinh khí Vảlại, ngay trong những tập thơ cũ của Quách Tấn, ngời ta đã thấy những nétbâng khuâng xao động của một tâm hồn mới Đến khi nhà thơ mới Chế Lan
Viên đề tựa Mùa cổ điển – 1945 một tập thơ cũ, đã kết thúc một cuộc tranh đấu
gắt gao với thơ cũ
Trong bối cảnh ấy, Hoài Thanh đã tổng kết lại một thời đại đấu tranhvừa chẵn mời năm Với lối t duy sắc sảo, nhạy bén khép lại cuộc tranh luận
đầy sôi động với bài Một thời đại trong thi ca Đã cho chúng ta thấy thơ
mới thắng thế vì nó phù hợp với sự phát triển tất yếu của trào lu mới về t ởng cũng nh văn học Thơ mới thắng thế khá nhanh chóng vì ngay từ bớc
t-đầu nhiều tác giả nh Thế Lữ, Huy Thông, Lu Trọng L đã sáng tác đợcnhững bài thơ có giá trị làm cơ sở bênh vực cho thơ mới Phong trào thơmới đã đem lại cho thi đàn một không khí hết sức mới mẻ và sôi nổi Nhiềutài năng lần lợt xuất hiện với phong cách sáng tạo riêng Một số bài thơ t-
ơng đối có giá trị, đã đợc lớp công chúng mới đặc biệt là thanh niên họcsinh thành thị a thích Qua những thành tựu nói trên nhà phê bình HoàiThanh quả quyết rằng “Cha bao giờ ngời ta thấy xuất hiện cùng một làn
Trang 18một hồn thơ rộng mở nh Thế Lữ, mơ màng nh Lu Trọng L, hùng tráng nhHuy Thông, trong sáng nh Nguyễn Nhợc Pháp, ảo não nh Huy Cận, quêmùa nh Nguyễn Bính, kỳ dị nh Chế Lan Viên…” [3 - 13] Đến năm và thiết tha, rạo rực, bănkhoăn nh Xuân Diệu” [1 - 29].
Thành công của phong trào thơ mới, đợc hai tác giả khẳng định làmột cuộc cách mạng về thơ ca, là một cuộc thí nghiệm táo bạo để định giánhững khuôn phép xa “Phong trào thơ mới đã vứt đi nhiều khuôn phép xasong cũng nhiều khuôn phép nhờ đó sẽ thêm bền vững” [1 - 43] Thơ mới
đua nở về phong cách sáng tạo
Có thể nói, xa nay không có cuộc chiến nào là không có kết thúc.Nhng mọi kết thúc không nhất thiết phải giống nhau Có những cuộc chiếnkhi kết thúc hai bên còn nuôi hận, có những cuộc chiến tàn phai trong bẽbàng im lặng Nhng cuộc bút chiến giữa hai nền thơ cũ và thơ mới ở ViệtNam thoát ra ngoài thông lệ ấy, nó kết thúc bằng tình yêu tha thiết của dântộc, bằng tình thơng của lớp ngời giữa hai thế hệ, bằng nguồn thông cảmcủa những đứa con cùng chung bầu sữa mẹ Bằng sự thắng lợi của phái thơmới nhng trong tình cảm thân thơng giữa hai phe Sau cuộc bút chiến không
ai còn để ý đến thơ cũ - thơ mới, mà chỉ để ý đến thơ hay Thật vậy, thơkhông phân biệt thơ cũ - thơ mới, mà chỉ có thơ hay thơ dở mà thôi Đó lànguyên nhân để Hoài Thanh đa ra nguyên tắc xác định tinh thần thơ mớicần phải: Nhìn trên đại thể và sánh bài hay với bài hay
Các nhà phê bình cùng thời thơ mới vào lúc đó đã có một cái nhìn lạirất công bằng Nếu trớc kia, phái thơ mới đa Tản Đà ra làm tiêu biểu chophái thơ cũ, đổ xô vào mạt sát châm biếm Thì từ năm 1938 trở đi, Tản Đà
đợc xem nh vị thánh sống của làng thơ Hoài Thanh đã trân trọng đặt Tản
Đà lên đầu cuốn Thi nhân Việt Nam và khẳng định Tản Đà là ngời “Dạo
những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đơng sắp sửa” [1 12] Họ chia nhau viết về Tản Đà ca tụng thơ Tản Đà Chẳng hạn nh:
Xuân Diệu viết: Công của thi sĩ Tản Đà.
- Lu Trọng L: Bây giờ khi nắp quan tài đã đậy lại.
- Trơng Tửu: Sự thai nghén một thiên tài- Tản Đà- Nguyễn Khắc
Hiếu.
- Nguyễn Triệu Luật: ảnh hởng Tản Đà với nhà văn lớp sau…” [3 - 13] Đến năm
Nh vậy thơ mới thắng, không phải vì những bài báo diễn thuyết lắmkhi đanh thép nẩy lửa của Phan Khôi, Lu Trọng L, Nguyễn Thị Kiêm…” [3 - 13] Đến năm màchính là những thi phẩm mới có chất lợng thẩm mĩ cao, đầy hấp dẫn của
Trang 19các nhà thơ, đợc các nhà phê bình cùng thời giới thiệu và đánh giá cao và
đ-a chúng vào bạn đọc Xét đến cùng, đó là chiến thắng tất yếu củđ-a xu thếmới, của thời đại mới Đổi mới để phát triển là yêu cầu sống còn của thơ canói riêng và của toàn bộ văn nghệ Việt Nam nói chung, đã đợc đặt ra từnhững thập kỷ trớc Đến thời điểm này nó trở nên hết sức gay gắt bức xúc.Thực chất là yêu cầu giải phóng của cái tôi cá nhân cá thể khỏi hệ thốngnghệ thuật mang tính quy phạm phi ngã của thơ trung đại, đang trở thành
“cái ngục giam hãm tình tứ” bóp ngẹt cái “tôi” Vì vậy không có gì lạ là lựclợng đứng ra đảm nhận và đi đầu trong cuộc đổi mới thơ ca, đó là lớp thanhniên tây học rất trẻ cả nhà thơ và nhà phê bình thơ
Cuộc tranh luận thơ mới - thơ cũ, cho thấy dấu hiệu đổi mới và sựphát triển của t duy lý luận văn học nớc ta 45 năm đầu thế kỷ trớc Có thểnói, cuộc tranh luận này có ý nghĩa khởi đầu cho quá trình đổi mới văn họcViệt Nam những thời kỳ tiếp sau ở thế kỷ XX
2.2 Các nhà phê bình bàn về vai trò, vị trí của thơ mới
Sau cuộc cạnh tranh với thơ cũ trung đại, thơ mới thắng thế và đãkhẳng định đợc vị trí xứng đáng của mình Dới con mắt tinh tờng nhạy bén,các nhà phê bình đã nhận ra sự thắng lợi này và đa ra những ý kiến rất xác
đáng Lu Trọng L trong bài viết Phong trào thơ mới đã nhận ra phong trào
thơ mới ra đời đó là “một sự hiển nhiên, dù muốn dù không nó cũng cứngày một bành trớng” [13 - 11] Ông khẳng định đó là quy luật tất yếu, bởinhìn vào thực tế: Ta đợc tiếp xúc với văn hóa Âu Tây, với những thực trạngmới lạ, không phải tìm ta cũng có những tình cảm mà ông cha ta không có
“Các cụ ta a màu đỏ choét, ta lại a màu xanh nhạt…” [3 - 13] Đến năm Các cụ bâng khuâng vìtiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà đúng ngọ Nhìn một cô gáixinh xắn, ngây thơ các cụ coi nh đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho là mát
mẻ nh đứng trớc một cánh đồng xanh ngắt Cái ái tình của các cụ chỉ là sựhôn nhân, nhng đối với ta thì trăm hình muôn trạng, cái tình say đắm, cáitình thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình chân thật, cái tình
ảo mộng, cái tình ngây thơ, cái tình già dặn, cái tình trong giây phút, cáitình ngàn thu” [13 - 14]
Cùng với suy nghĩ của Lu Trọng L, Vũ Ngọc Phan trong bài Nguồn
mới cho thơ cũng nhìn ra bối cảnh ra đời tất yếu của thơ mới “cuộc đời
chúng ta đã đổi mới, những ý nghĩ của chúng ta ngày nay không còn giốngnhững ý nghĩ của ông cha ta nữa Vậy điều cốt yếu là chúng ta cần phảihiểu thấy những cái cố hữu của chúng ta và những cái học ở ngoài đa lại để
Trang 20tìm lấy những cái có thể thích hợp với ta, nâng cao bản ngã của ta mà vẫnkhông làm cho ta mất bản sắc” [14 - 350, 351] Vũ Ngọc Phan cũng khẳng
định và chỉ ra nguyên nhân sâu xa của một nền thi ca cũ “Từ ngày ngời ViệtNam biết dùng ngòi bút sắt, biết cắt tóc, để răng trắng và biết dùng nhữngthứ của Tây phơng là ngày thi ca Việt Nam có những nguồn nmới, những tứmới Sinh hoạt thay đổi, nguồn hứng và sự diễn tả t tởng cùng tính tình cũngthay đổi theo Rồi do đó ta có những thơ mà ngày nay ta gọi là thơ mới” [10
- 629] Có thể nói “Sự gặp gỡ phơng Tây là cuộc biến thiên lớn nhất tronglịch sử Việt Nam từ mấy mơi thế kỷ” [1 - 15] “Chúng ta ở nhà tây, đội mũtây, đi giày tây, mặc áo tây Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa,
xe đạp…” [3 - 13] Đến năm Nói làm sao cho xiết những điều thay đổi về vật chất phơng Tây
đã đa đến cho chúng ta” [1 - 16]
Chính nguyên nhân sâu xa từ lịch sử đó là cái gốc rễ nguồn cội đểthơ mới ra đời, đứng vững và dần dần khẳng định vị trí của mình trên văn
đàn Nhà phê bình Lê Tràng Kiều- ngời có đóng góp lớn trong việc bênhvực cổ vũ cho sự ra đời và thắng lợi của thơ mới, qua những bài luận chiếnsắc sảo từ khi phong trào thơ này còn trứng nớc, phôi thai Không nhữngvậy Lê Tràng Kiều còn say sa bình phẩm, giới thiệu với ý thức ca ngợi Thơmới của Thái Can, Nguyễn Nhợc Pháp, Đông Hồ, Nguyễn Vỹ, Thế Lữ, ChếLan Viên, Xuân Diệu, Lu Trọng L và có những phát hiện sâu về phong cáchsáng tạo ở từng tác giả
Ngay khi thơ mới ra đời và thắng lợi, Lê Tràng Kiều đã quả quyếtrằng “Một cơ quan văn học mà không nhìn nhận giá trị của thơ mới, là mộtcơ quan văn học không xứng đáng đại biểu cho nền văn học một nớc nhà; vìkhông nhìn nhận giá trị của thơ mới - tôi cần phải nói cả quyết thêm điềunày nữa - tức là không hiểu gì về thơ mới cả” [13 - 363] “Nếu họ thật quả
là có nhận thấy có giá trị của nhiều bài thơ mới thì một cái kết quả tốt đẹp
nh thế, tất nhiên đã chứng một cách hùng hồn, một công phu dồi dào, mộtphơng tiện rạch ròi, và thơ mới có một cái lẽ sống rất chính đáng vậy” [13 -364]
Lê Tràng Kiều đã dẫn ra những đại biểu rất xứng đáng của nền thi ca
mới, với nhiều tác phẩm đã ra đời: Tiếng thu, Bao la sầu, Một chiều thu.
Không phải là di sản của một gia đình nào, một phái nào, mà là sản phẩmcủa cả dân tộc đáng cho mọi ngời biết đến ngợi ca
Ngay cả phái thơ cũ mặc dù luôn đấu tranh quyết liệt để giữ vị trí củamình thì “ Thử hỏi từ khi có phong trào thơ mới ở Bắc Kỳ này, trong phái
Trang 21thơ cũ bị ngời ta đa ra công kích, có ai dám đờng hoàng viết lên báo, lênsách một bài cỏn con để tự bào chữa cho mình; có ai dám đờng hoàng bàitrừ thơ mới mà theo các ông là một cái dịch đáng sợ” [13 - 366] Ông TháiPhỉ bảo vệ thơ cũ thì “ ông Thái Phỉ chỉ là tiếng của cả một đội tàn quânliểng xiểng cố thu tàn lực để đánh một trận cuối cùng” [13 - 367].
Đến Hoài Thanh, vốn rất say mê thơ mới ngay từ khi thơ mới vừa ra
đời, bình thơ mới hầu nh là cái vui duy nhất của Hoài Thanh thời bấy giờ.Hoài Thanh đã sớm chọn cho mình nghề phê bình văn học đặc biệt là bìnhthơ và gắn bó với nghề đó đến cuối đời với một phong cách phê bình riêng.không lẫn với bất kỳ ai Ngời ta gọi ông là nhà phê bình ấn tợng Trong bài
tổng kết: Một thời đại trong thi ca Hoài Thanh cũng đã quả quyết rằng:
“Trong lịch sử thi ca Việt Nam cha bao giờ có một thời đại phong phú nhthời đại này” [1 - 29] “Thơ Việt Nam đã diễn lại trong 10 năm cái lịch sử
100 năm của thơ pháp từ lãng mạn đến thi sơn, tợng trng và những nhà thơsau tợng trng” [1 - 32]
Các nhà phê bình lúc ấy đã nhận ra sự lớn mạnh và sự ảnh hởng củathơ mới trong nền văn học nớc ta Thơ mới đã góp phần đã phá những hủtục cổ xa của ta, góp phần tạo ra một luồng t tởng mới, nói đến chủ nghĩa cánhân nhằm đề cao hạnh phúc quyền lợi của cá nhân Về mặt văn chơng, thơmới đã đóng góp tích cực vào nền quốc văn của ta Trớc đây các cụ viết vănbằng chữ Nho, có ý khinh miệt nền quốc văn còn phôi thai của nớc nhà, các
cụ thờng theo lối từ chơng và khi sáng tác những tác phẩm phần lớn ảnh ởng đến ngời có tớc phẩm hoặc dòng tộc vua chúa mà ít nghĩ đến nhữngcon ngời có tâm hồn cao quý hoặc tầng lớp dân giã Trái lại qua quốc văn
h-và với thơ mới, các thi sĩ tân học đã thực sự biết quan sát h-và mô tả cảnh vậtxác thực biết để ý đến tình cảm sinh hoạt của ngời bình dân “ Các nhà làmthơ mới cho rằng: lối thơ cũ thờng ngâm vịnh những đề mục cổ, dãi bàynhững tình ý sáo, thành ra thơ nhiều khi chỉ có xác mà không có hồn Nêncác nhà ấy muốn đem các đề mục mới và hết thảy các cảnh vật Các tìnhcảm nên thơ mà diễn đạt ra…” [3 - 13] Đến năm” [6 - 453] Phong trào thơ mới thịnh hành đãgóp phần làm phong phú chữ quốc ngữ của ta Vì thế vai trò của thơ mớicòn là môi trờng văn hóa đa nền Quốc âm Việt Nam đến thịnh hành
Có thể khẳng định, trong bối cảnh đơng thời những ý kiến của cácnhà phê bình đợc công khai trên văn đàn ấy là rất chính xác và hợp lý Đó
là một động lực rất quan trọng thúc đẩy văn học phát triển Và chúng tôi
Trang 22hoàn toàn tán đồng với những ý kiến ấy Đơng nhiên có nhiều ý kiến ngàynay vẫn còn nguyên giá trị
Nh vậy ngay khi phong trào thơ mới ra đời, các nhà phê bình đã nhậnthấy thơ mới có một chỗ đứng nhất định trong xã hội, và nó dần dần khẳng
định đợc vị trí của mình Trong vòng cha đầy 15 năm, phong trào thơ mới
đã đi trọn con đờng vận mệnh của nó Xuất hiện nh “một cuộc cách mạngtrong thi ca” mời mấy năm “Thơ mới” còn đợc coi là “ một thời đại trong
thi ca” (lời tác giả Thi nhân Việt Nam), và là một thời đại đặc biệt phong
phú, với một loạt thi sĩ có bản sắc độc đáo Thơ mới là chặng mở đầu quantrọng của thơ ca hiện đại Việt nam
2.3 Các nhà phê bình bàn về thể loại của thơ mới
Khái niệm thể loại văn học theo từ điển thuật ngữ văn học là “Dạng
thức của tác phẩm văn học, đợc hình thành và tồn tại tơng đối ổn định trongquá trình phát triển lịch sử văn học Thể hiện ở sự giống nhau ở cách thức tổchức tác phẩm về đặc điểm của các loại hiện tợng với đời sống đợc miêu tả
và về tính chất của nối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tợng đới sốngấy” [11 - 299]
Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hớng pháttriển bền vững, vĩnh hằng của văn học, và các thể loại văn học tồn tại để gìngiữ, đổi mới thờng xuyên các khuynh hớng ấy Do đó mà thể loại văn họcluôn luôn vừa mới vừa cũ Nh vậy trong quá trình hình thành, tồn tại và pháttriển thể loại văn học vừa ổn định vừa biến đổi ổn định không phải sự đứngyên khô cứng mà chỉ ở dạng định hình khẳng định thành tựu Còn biến đổi
là liên tục, là động lực của sự phát triển đổi mới văn học
Hệ thống thể loại cùng sự vận động và biến đổi của nó trong quátrình văn học là một phơng diện quan trọng trong bộc lộ quan niệm văn học
và đặc điểm t duy nghệ thuật của mỗi thời đại Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳvăn học là một chỉnh thể thẩm mỹ thống nhất trong đó có sự liên kết và tác
động lẫn nhau giữa các thể loại Quan sát toàn bộ hệ thống, ta sẽ thấy cấutrúc thể loại của mỗi giai đoạn văn học luôn có những nét khác biệt so vớigiai đoạn trớc và sau nó Có những thể loại tàn tạ hoặc mất vị trí vốn có, cónhững thể loại mới ra đời Mỗi giai đoạn văn học thờng có một hệ thống thểloại với t cách những mô hình nghệ thuật thẩm mỹ của ngời đọc…” [3 - 13] Đến năm
Trong văn học trung đại Việt Nam, hệ thống thể loại không nhiều, ờng biên giới giữa chúng khá nhòe mờ Sự mờ nhòe này không phải do vấn
đ-đề tơng tác giữa các thể loại diễn ra mạnh mẽ mà do quan niệm, phạm vi
Trang 23văn chơng cha rõ ràng Trong điều kiện văn, sử, triết bất phân, vấn đề phânloại văn học rất khó khăn Hơn nữa hệ thống thể loại của văn học trung đạirất phức tạp bởi dùng song ngữ Thơ thì có nhiều hình thức, loại hình (cóloại dùng cả chữ Hán và chữ Việt) nh lục bát, song thất lục bát, Đờng luật,ngâm khúc, vãn, hát nói, văn xuôi thì chỉ có văn xuôi chữ Hán và cũng còntha thớt, nên hầu nh sự tác động giữa các thể loại không rõ Trong thời kỳnày biểu hiện rõ nhất là sự tác động của các chức năng ngoài văn học.
Sang thế kỷ XX, quá trình hiện đại hóa văn học đã làm cho văn họcViệt Nam thay đổi một cách cơ bản Các yếu tố nội sinh, ngoại nhập cùng
sự tơng tác giữa các thể loại văn học diễn ra gay gắt, mạnh mẽ nhằm đa vănhọc sớm hội nhập văn học thế giới Đặc biệt văn học Việt Nam 1930 -1945tuy thời gian ngắn nhng có đời sống thể loại vừa “hoàn chỉnh” vừa “năng
động” Theo Vũ Tuấn Anh trong Văn học Việt Nam nhận thức và thẩm
định: “Giai đoạn văn học này tồn tại với t cách và quy mô của một hệ thống
văn học hoàn chỉnh và đạt đến những thành tựu văn học đỉnh cao” Đây làgiai đoạn văn học có ý nghĩa chuyển tiếp từ phạm trù văn học trung đạinhanh chóng bớc sang nền văn học hiện đại nên tốc độ vận động rất lớn.Vừa có sự vận động tơng tác giữa các thể loại, vừa có sự vận động mạnh mẽtrong bản thân mỗi thể loại Và trào lu văn học đang phát triển sôi nổi lúcbấy giờ, đợc giới phê bình chú ý nhiều nhất cũng không nằm ngoài quy luậtnày
Phong trào thơ mới ngay từ khi hình thành, với sự mới lạ đặc biệt ởhình thức thể loại, khác hẳn với thể thơ cũ trung đại đã trở thành đề tài hấpdẫn của các nhà phê bình cùng thời
Thơ mới có nguồn gốc từ đâu? Sự thật thơ mới đã du nhập vào nớc ta
từ khi chữ quốc ngữ đang trên đà củng cố đến phát triển “Do phát nguyên
từ lối thơ của ngời Pháp Các nhà làm thơ mới thấy rằng thơ Pháp trừ mấylối định thể (Pòemesàforne Fies) nh sonet, ballade, rondeau là đã ấn địnhsẵn số câu và cách hiệp vần không có hạn định số câu số chữ, không cóniêm luật, không theo phép đối và có nhiều cách gieo vần nên cũng đemcác thể cách ấy ứng dụng trong thơ ta” [6 - 444] Theo Dơng Quảng Hàm:Mầm mống lối thơ mới đầu tiên là một bài dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine
(Con ve sầu và con kiến) của Nguyễn Văn Vĩnh đăng ở Đông dơng tạp chí
1914 số 40 vì bài ấy không theo thể cách của lối thơ cũ Đó là bài thơkhông niêm không luật, không hạn chữ, hạn câu Nguyên bản dịch đó nhsau:
Trang 24Con ve sầu kêu ve ve Suốt mùa hè
Đến kỳ gió bấc thổi Nguồn cơn thật bối rối Một miếng cũng chẳng còn Ruồi bọ không một con Vác miệng chịu khúm núm Sang chị kiến hàng xóm Xin cùng chị cho vay Răm ba hạt qua ngày…
Dơng Quảng Hàm đã cho chúng ta biết lai lịch của lối thơ mới, và có
thể nói rằng bản dịch bài thơ ngụ ngôn Con ve sầu và con kiến nh là một
khởi đầu của một thể thơ mới trong nền văn học của nớc ta Và đến năm
1932 ông Phan Khôi khởi xớng lên vấn đề thơ mới trên Phụ nữ tân văn.
Tuy lối thơ ấy đã có từ trớc đó và cụ Phan Khôi không phải là ngời khai
sáng thể chế thơ mới, cụ chỉ xớng lại thể cách qua bài thơ Tình già Nhng
các nhà phê bình nghiên cứu văn học vẫn xem bài thơ này của Phan Khôi
nh là một biểu tợng mở đờng cho thể cách thơ mới ngự trị trong nền vănhọc sử nớc ta Bài thơ ấy chúng tôi có thể dẫn ra đây một số câu nh sau:
Hai mơi bốn năm xa, Một đêm vừa gió lại vừa ma Dới ngọn đèn mờ, hai gian nhà nhỏ, Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
Khi đem bài Tình già ra “trình làng” trớc d luận, Phan Khôi lập tức
chê trách lối thơ đơng thời - thơ cũ cả về nội dung lẫn hình thức là sáo mòn,lặp lại ngời xa con hình thức thì chật hẹp, “lối thơ cũ của ta, ngũ ngôn haythất ngôn, tuyệt cú hay luật thi thì nó câu thúc quá …” [3 - 13] Đến năm hễ bị câu thúc thì nómất cái chơn đi, không mất hết cũng mất già nửa phần”
Sau bài thơ mới Tình già đợc trình làng công khai trên văn đàn.Các
nhà phê bình cũng đã vào cuộc để nhìn nhận thơ mới Vậy thơ mới là gì?
Đầu tiên nó đợc hiểu “là lối thơ không theo qui củ của lối thơ cũ nghĩa làkhông hạn số câu, số chữ không theo niêm luật, chỉ cần có vần và điệu”
Trang 25[6 - 443].
Nguyễn Hữu Tiến cũng viết bài: Thơ mới và thơ cũ trên tạp chí Nam
Phong số 193 năm 1934 cho lối thơ này là: “phóng theo lối thơ tây mà làm
ra Trong lối thơ này cứ hai ba câu một vần Vần cũng đứng dới gót câu nhvần của thơ thất ngôn, ngũ ngôn Thơ không có cú pháp nhất định, câu dàicâu ngắn Tùy ý, trong hai câu cùng vần mà vế dài vế ngắn cũng đợc.Không có niêm luật, âm điệu gì cả, cứ nh câu nói thờng, miễn là có vần đôicủa hai câu một là đợc” [13 - 74] Ông cho rằng: Thơ mới không có cúpháp, không có âm điệu mà thành phạm vào một cái bệnh rất nặng khóchữa và khó đọc, khó nhớ Bởi vì “Một là mới có hai câu đã đổi vần, hai làcâu thơ đã không hạn chữ lại không có điệu bộ lên xuống cho có một cáimẫu đại khái cho ngời ta nhìn nhận ra” [13 - 78] Từ đó ông đối sánh vớithơ xa “là những lời nói êm đẹp có vần, ghép vào một đoạn cho dễ đọc dễnhớ Ngời ta dùng nó để tả mạc ra những cảnh, những tình mà ngời ta đãcảm thấy Tả mạc đó để mà ngâm nga hát xớng cho đợc di dỡng tính tình”[13 - 77] Vì vậy Nguyễn Hữu Tiến cho rằng thơ Tây có nhiều chỗ cho ngời
ta phải bắt chớc, bắt chớc để mà bồi bổ chỗ khuyết điểm cho thơ ta “Nhngchỉ có thể bắt chớc đợc ở phần tinh thần, tức là những cách tả tình tả cảnhcao thợng mà phổ thông dễ cảm ngời Còn khuôn mẫu thì thơ cũ của ta đã
có nhiều, không cần gì phải mô phỏng cả đến khuôn mẫu của thơ Tây nữa”[13 - 78] Trong thơ cũ ta có những thể loại của ta: Lục bát, song thất lụcbát, ca trù ca lý, lục bát biến thể…” [3 - 13] Đến nămThơ Tàu thì có: Ngũ thất ngôn cổ thể vàngũ thất ngôn Đờng luật Duy chỉ có lối thơ Đờng luật khó làm mà ít cảm
Từ đó Nguyễn Hữu Tiến đi đến kết luận “Nếu có tài mà đem nhữngcách tả mạc của thơ Tây, mà mở rộng những khuôn mẫu cũ trên ấy cho sinhsắc hơn ra, thế tức là thơ mới” [13 - 81] Nh vậy cái nhìn về thơ mới đã đợc
mở rộng ra, không chỉ là lối thơ phá bỏ luật lệ của lối thơ cũ nữa, mà lối thơ
ấy còn mang những ý mới, lời mới, tình cảm mới
Vũ Ngọc Phan trong công trình của mình cũng cho rằng: “Bài Tình
già của Phan Khôi chỉ là một bài thơ làm theo thể mới trớc nhất, làm theo
thể tự do không bó buộc bởi một luật nào Nhng các thi gia hiện đại chảdùng nhiều thể lục bát, thể thất ngôn và thể ngũ ngôn trờng thiên…” [3 - 13] Đến năm Nhữngbài ấy ngời ta gọi là thơ mới vì rất mới, không giống những thơ cùng mộtthể ấy của Trần Kế Xơng và Nguyễn Khuyến chút nào…” [3 - 13] Đến năm Vậy cái chữ mới
mà ngời ta tặng cho thơ bây giờ có lẽ để chỉ vào ý và lời thì đúng hơn là chỉvào thể” [10 - 629] Điều này đã đợc Vũ Ngọc Phan chứng minh qua sự mới
Trang 26mẻ của các nhà thơ mới trong ý, trong lời: Ngay từ Tản Đà, Trần TuấnKhải, Tơng Phố ngời ta đã thấy những ý khác hẳn với ý thi nhân thủa xa đó
là ý thê lơng, man mác, buồn vớ vẩn Xa khóc chồng, khóc bạn, nhớ quê
h-ơng…” [3 - 13] Đến năm Nhng Tản Đà đã bắt đầu nhớ ngời tình không quen biết, và phải đến:Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận…” [3 - 13] Đến năm những ý, những tứ ấy mới đ-
ợc diễn ra một cách thật sâu sắc, thiết tha và rộng rãi
Từ sự nhìn nhận phong trào thơ mới một cách toàn diện, Hoài Thanhtrong bài tổng kết của mình đã nhận ra rằng: “khi nói lối thơ mới chỉ là nóicho tiện, chứ thực ra thơ mới cũng nhiều lối Bởi không nhận rõ điều ấy nên
có đôi ngời tởng thơ mới tức là thơ tự do Đã đành theo cách định nghĩa củangời đề xớng ra nó thì chính nó là thơ tự do, nhng trong mời năm hàng vạnngời đã dùng danh từ thơ mới để chỉ rất nhiều bài thơ khác xa lối thơ tự
do…” [3 - 13] Đến năm cho nên phải hiểu theo nghĩa thông thờng, không thể hiểu theo cách
định nghĩa của ông Phan Khôi” [1 - 42].Từ đó Hoài thanh đã đa ra nhận xétrất chính xác: “Thơ tự do chỉ là một phần nhỏ trong thơ mới Phong trào thơmới trớc hết là một cuộc thí nghiệm táo bạo để định lại giá trị khuôn phép
xa” [1 - 42] Và kết quả: thể Đờng luật vừa động đến là tan Trong Thi nhân
Việt Nam Hoài Thanh cho rằng những thể thơ thất ngôn (7 tiếng), ngũ ngôn
(5 tiếng), 8 tiếng là những thể thơ phát triển của thơ mới “Thất ngôn và ngũngôn rất thịnh, không hẳn là cổ phong, cổ phong ngày xa đã thúc lại thành
Đờng luật Thất ngôn và ngũ ngôn bây giờ lại do Đờng luật giãn và nới racho nên êm tai hơn, cũng có lẽ vì lí nó a vần bằng hơn vần trắc” [1 - 42]
Đến sau này khi thống kê lại Hà Minh Đức trong công trình Thơ ca
Việt Nam hình thức và thể loại cũng cùng chung ý kiến đó Ông đã thống
kê 168 bài thơ mới Hoài Thanh và Hoài Chân chọn lọc đa vào Thi nhân
Việt Nam của 46 nhà thơ đợc phân bố thể loại nh sau:
Hợp thể
và tự doSố
bài
Có điều đặc biệt tuy không chiếm số lợng lớn, nhng thể thơ văn xuôi
đã tạo dấu ấn đặc biệt trong thơ mới và đặt đợc nền móng vững chắc chotiến trình thơ hiện đại Thể thơ văn xuôi ra đời cũng chứng tỏ sự tơng tác
Trang 27mạnh mẽ giữa các thể loại văn học Trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh
có nhận xét đáng đợc chúng ta phải lu ý “phong trào thơ mới lúc bột phát
có thể xem nh là một cuộc xâm lăng của văn xuôi Văn xuôi tràn vào địahạt thơ, phá cách tan tành” [1 - 36] Sự tơng tác các thể loại cũng đợc Vũ
Ngọc Phan nói đến trong Nhà văn hiện đại Cụ thể hơn là ý kiến nhận xét của ông về Phấn thông vàng của Xuân Diệu, “Xuân Diệu ở đâu cũng mang theo một luồn thơ bát ngát và mơ màng, Trong quyển Phấn thông vàng mà
Xuân Diệu gọi là một tập tiểu thuyết ngắn, tôi chỉ thấy rặt thơ là thơ Khôngphải thơ bằng những câu có vần có điệu, không phải ở những lời đẽo gọt,
mà thơ ở lối diễn tính tình cùng t tởng, ở những cảnh vật cỏn con mà tác giả
vẽ nên những nét tỉ mỉ, khi ảm đạm lúc xinh tơi tùy theo cái hứng của tácgiả” [10 - 706] Rồi ý kiến nhận xét về Thế lữ “Có điều này ta nên để ý làthơ và tiểu thuyết của Thế Lữ rất liên lạc với nhau” [10 - 687]
Nh vậy có thể nói sang thế kỷ XX quá trình hiện đại hóa văn học đãlàm cho Văn học Việt Nam thay đổi một cách cơ bản Các yếu tố nội sinh,ngoại nhập cùng sự tơng tác giữa các thể loại văn học diễn ra mạnh mẽnhằm đa văn học sớm hội nhập với văn học thế giới Dấu ấn thâm nhập củavăn xuôi vào thơ cha rõ nét trong văn học trung đại, nay bắt đầu lộ rõ trongcác sáng tác của thơ mới Đặc biệt đa đến sự ra đời của thể thơ văn xuôi Thể thơ văn xuôi là hình thức tự do hóa các thể thơ truyền thống,mạch câu chảy tràn ra không theo sự ràng buộc của nhịp điệu, niêm luậtnào Bởi vậy nó chuyên chở đợc cảm xúc mãnh liệt, nhiều chiều của kiểunhà thơ hiện đại Nó đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con ngời cá nhân đô thịkiểu phơng Tây, khát vọng vợt thoát ra ngoài sự kìm tỏa của quy phạm h-ớng tới sáng tạo tự do tợng trng siêu thực Tuy số lợng tác phẩm ít nhng sựthể nghiệm này thật đáng quý Đã có những tác phẩm kinh điển mà về sau
đợc nhắc tới nhiều lần, có thể kể đến: Chơi giữa mùa trăng của Hàn Mặc
Tử, Bông hồng của Huy Thông, Giọt ma rơi của Nguyễn Xuân Sanh Sự ra
đời của thể thơ văn xuôi trong thơ mới 1932 -1945 là nền tảng quan trọng
để thời kỳ sau 1945 thể thơ văn xuôi khẳng định và có nhiều thànhtựu.Chính những nhà thơ mới thời kỳ sau này nh Chế Lan Viên, Huy Cận
đã sáng tác những bài thơ văn xuôi có giá trị, về sau bắt buộc mọi ngời phảithừa nhận, xem những thể nghiệm trớc đây không còn ngông cuồng kỳ quáinữa
Nh vậy qua ý kiến của nhiều nhà phê bình từ Phan Khôi, NguyễnHữu Tiến, Dơng Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh…” [3 - 13] Đến năm Đã cấp cho ta
Trang 28một cái nhìn toàn diện về chân dung thể loại thơ mới Tuy thơ giống nhauvì có vần, điệu, số câu, số chữ…” [3 - 13] Đến nămNhng thơ vẫn có những điểm khác rất đặcbiệt Thơ cũ đại để là lối thơ Đờng luật, có những lệ chặt chẽ về số câu, sốchữ, cách gieo vần bằng - trắc và phép đối, niêm luật thật gò bó khắt khe
đến nỗi các nho sĩ chuyên làm thơ Đờng cũng lắm khi than rằng khó quá vìluật lệ nghiêm khắc có hại cho thi hứng, khiến tình ý khó diễn đạt Cho nêncác nhà thơ muốn phá bỏ các luật lệ nghiêm ngặt ấy để tự do diễn đạt tình
ý Thơ mới là lối thơ không giới hạn số câu, số chữ, niêm luật hay đối chỉcần có vần và điệu mà thôi Ví dụ nh trong bài thơ Đờng luật thất ngôn bát
cú Tôn phu nhân qui Thục của Tôn Thọ Tờng:
Cật ngựa thanh gơm vẹn chữ tòng Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông Lìa ngô bịn dịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mảnh má hồng Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn Thà mất lòng anh đợc bụng chồng
Số câu bài thơ Đờng trên bắt buộc phải là 8, số chữ phải là 7 chữ,không thể hơn hoặc kém Ngoài ra còn ràng buộc bởi niêm., luật, đối và có
bố cục nhất định
Với lối thơ mới thật đơn giản, nó không bị quy định bởi những yêu tố
trên trong bài Sơng rơi của Nguyễn Vỹ dới đây cho ta thấy rõ sự khác biệt
đó:
Sơng rơi Nặng trĩu Trên cành dơng liễu…
Nhng hơi Gió bấc
Trang 29Lạnh lùng Hiu hắt…
Tóm lại theo các nhà phê bình cùng thời thơ mới không chỉ đơnthuần làm theo thể tự do mà còn là những bài thơ chứa đựng trong đó ýmới, lời mới tình cảm mới Phản ánh tâm t tình cảm của con ngời trớc thời
đại mới Các tác giả phê bình lúc ấy đã cho chúng ta thấy rõ chân dung khátoàn diện của thể loại thơ mới Công lao của giới phê bình đồng thời rất lớn
và còn có tác dụng đối với tiến trình đổi mới văn học nói chung và đổi mớithơ nói riêng trong các thời kỳ tiếp theo của văn học dân tộc Tuy vậy nếu
đứng ở trình độ và xu hớng lý luận hiện đại ngày nay, thì giới phê bình vănhọc 32 - 45 có lẽ cha đủ thời gian và môi trờng văn hóa để đi sâu hơn vàocấu trúc bên trong của thể loại thơ mới Công việc nay sẽ đợc giới lý luậnphê bình sau này (nhất là từ năm 1986 trở đi) đáp ứng đầy đủ hơn
2.4 Các nhà phê bình bàn về điệu thơ của thơ mới
Phong trào thơ mới khi ra đời đã đem lại luồng ánh sáng mới trên thi
đàn Nó thể hiện mình bằng những hình thức mới lạ không chỉ ở thể loại màcòn mang trong mình một âm điệu mới
Theo Dơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu “Điệu thơ
tức là nói đến cách sắp đặt và phân phối các tiếng trong câu thơ, sao cho âmthanh và tiết tấu đợc êm ái dễ nghe và hợp với tình ý trong câu Chính cái
điệu ấy khi dịu dàng khi mạnh mẽ, khi mau khi khoan làm cho bài thơ có
sự điều hòa nh một khúc âm nhạc” [6 - 448] Cho nên các nhà thơ Tây
ph-ơng, rất chú trọng đến âm điệu của một bài thơ Họ cho rằng điệu là mộtphần tử cốt yếu của bài thơ hay, nói cách khác hơn đó là điểm lõi tạo nêngiá trị của bài thơ Và thơ chính vì có điệu mới có sự khác biệt với văn xuôi
Trong cuộc cạnh tranh thơ mới - thơ cũ, những ngời phản đối thơ mới
đều cho rằng: Thơ mới là một thứ thơ không niêm không luật, đọc lên nghe
“lủng củng ca” Rồi họ kết luận thơ mà không có âm điệu là thơ bỏ đi
Nh-ng thực chất thơ mới đâu phải nh lời họ nói là khôNh-ng có âm điệu Lê TràNh-ngKiều qua bài viết của mình cho chúng ta thấy rằng: Thơ mới có âm điệu
“Nhng là một thứ âm điệu riêng, khác hẳn âm điệu của thơ Đờng, của lụcbát, của song thất lục bát, âm điệu của một thứ tiếng rất là dồi dào, vàhuyền diệu, ai bảo rằng ngoài điệu Đờng luật, lục bát, song thất lục bátkhông còn có nhiều điệu khác nữa những điệu vô danh mà hữu thực, lại rấthợp với sự tiết tấu thiên nhiên của thanh âm…” [3 - 13] Đến năm” [13 - 390]
Trang 30Để làm sáng tỏ điều đó Lê Tràng Kiều đã chứng minh cho chúng tathấy qua một nhà thơ mới rất chú trọng về âm điệu đó là: Lu Trọng L, qua
những sáng tác của ông chẳng hạn nh bài Bên thành:
Bên thành con chim non Hót nỉ non
Giục lòng em bồn chồn Buổi hoàng hôn
Em trách gì con chim non?
Em oán gì con chim non?
Em chỉ hận Sao em ngớ ngẩn
Đã để tình lang em lận đận Chốn xa xôi…
Đinh Gia Trinh cũng cho rằng: “có những giây liên lạc rõ rệt giữa thơ
và âm nhạc Nhạc điệu là hồn của thơ Nhng âm nhạc và thơ không hẳngiống nhau trong ảnh hởng đối với tâm hồn” [15 - 46] Từ đó ông chỉ ra
“Mục đích của nghệ sĩ trong mỗi ngành nghệ thuật, là làm hiện cái nhạc ởtrời đất Không có nhạc là không có gì hết Bài thơ chỉ còn là lời kể lể, bứctranh là những màu trơ trẽn, bản đàn là những tiếng vu vơ…” [3 - 13] Đến năm Riêng thơ:phải hội đợc ý nhạc mới tìm thấy đợc một đờng diễn tả thật nhịp nhàng,những giọng văn thích đáng, mới tạo ra đợc một điều huyền diệu, thực hiện
êm đềm, những tiếng có âm thanh mạnh mẽ để diễn những tình cảm mãnhliệt” [6 - 448] Ví dụ: Mấy câu thơ sau diễn tả oai lực dũng mạnh của con