Là bộ phận hợp thành của quá trình văn học, lí luận phê bình văn học có những tiền đề xã hội, những vấn đề lịch sử, văn hoá riêng của mình. Trong quá trình hình thành và phát triển, phê bình văn học có những quy luật vận động của sáng tác văn học. Đầu thế kỉ XX, từ những năm 30, văn học Việt Nam vận động và phát triển trong mối quan hệ tương tác vô cùng phức tạp của các khuynh hướng, trào lưu nghệ thuật. Phù hợp với hình thái tồn tại lịch sử của văn học, phê bình hiện đại buộc phải trở thành một hiện tượng xã hội đặc thù. Khác với phê bình kiểu cổ, phê bình hiện đại là một hoạt động tác động, nó vừa tác động vào công chúng bạn đọc để tạo ra dư luận đối với tác phẩm văn học, vừa tác động vào sáng tác để thúc đẩy văn học tiến lên phía trước. Chính vì thế, phê bình hiện đại không thể đứng ngoài, đứng trên, mà nhập hẳn vào quá trình văn học với tư cách là nhân tố tổ chức, định hướng cho hoạt động sáng tác Cũng bởi vậy, lịch sử phê bình hiện đại là bộ phận hợp thành quan trọng của lịch sử tiến trình văn học. Đặt biệt giai đoạn từ 1930 đến 1945 lịch sử phê bình văn học Việt Nam với những đặc điểm riêng đã góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử văn học nước nhà một cách toàn diện hơn, đầy đủ hơn.
Trang 1Lý luận - phê bình văn học Việt Nam HVTH: Đoàn Hồng Gấm
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG Lớp: Cao học Văn học Khóa 5A Môn: Lí luận - phê bình văn học Việt Nam
Họ tên: Đoàn Hồng Gấm
BÀI THU HOẠCH GIỮ KÌ
Đặc điểm lí luận phê bình văn học Việt
Nam giai đoạn 1930-1945
Trang 2I Đặt vấn đề
Là bộ phận hợp thành của quá trình văn học, lí luận phê bình văn học có những tiền
đề xã hội, những vấn đề lịch sử, văn hoá riêng của mình Trong quá trình hình thành và phát triển, phê bình văn học có những quy luật vận động của sáng tác văn học Đầu thế kỉ
XX, từ những năm 30, văn học Việt Nam vận động và phát triển trong mối quan hệ tương tác vô cùng phức tạp của các khuynh hướng, trào lưu nghệ thuật Phù hợp với hình thái tồn tại lịch sử của văn học, phê bình hiện đại buộc phải trở thành một hiện tượng xã hội đặc thù Khác với phê bình kiểu cổ, phê bình hiện đại là một hoạt động tác động, nó vừa tác động vào công chúng bạn đọc để tạo ra dư luận đối với tác phẩm văn học, vừa tác động vào sáng tác để thúc đẩy văn học tiến lên phía trước Chính vì thế, phê bình hiện đại không thể đứng ngoài, đứng trên, mà nhập hẳn vào quá trình văn học với tư cách là nhân
tố tổ chức, định hướng cho hoạt động sáng tác Cũng bởi vậy, lịch sử phê bình hiện đại là
bộ phận hợp thành quan trọng của lịch sử tiến trình văn học Đặt biệt giai đoạn từ 1930 đến 1945 lịch sử phê bình văn học Việt Nam với những đặc điểm riêng đã góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử văn học nước nhà một cách toàn diện hơn, đầy đủ hơn
II Nội dung
Cuối thế kỉ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của một đế quốc lớn mạnh và hoàn toàn xa lạ ở phương Tây Hán học bị tẩy chay, chữ Quốc ngữ được truyền bá, ý thức về truyền thống văn học dân tộc trỗi dậy Các học giả đương thời đã ra sức sưu tầm các tác phẩm văn học dân gian, khảo cứu, phiên âm, phiên dịch các văn bản chữ Nôm, chữ Hán
ra chữ quốc ngữ Thời điểm thực dân Pháp thực hiện chế độ cai trị đối với người dân Việt Nam cũng là thời điểm đánh dấu sự tiếp xúc và giao lưu Sự hình thành nền lí luận, phê bình hiện đại ở Việt Nam không tách rời sự phát triển của một nền văn chương hiện đại
Từ đầu thế kỉ XX, nhất là từ những năm 30, nền phê bình văn học mang tính chuyên nghiệp bắt đầu xuất hiện và trưởng thành rất nhanh chóng Xuất hiện nhiều tên tuổi, nhiều cây bút có ảnh hưởng to lớn tới sự vận động và phát triển của tiến trình văn học Trong có sáng tác văn học là hầu như có hoạt động phê bình Từ đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam đã phá vỡ cái thế khoanh vùng, khép kín để gia nhập vào tiến trình văn học nhân loại Đây chính là quá trình liên tiếp xuất hiện những cách tân nghệ thuật khiến cho diện mạo nềnvăn học nước nhà hoàn toàn thay đổi theo hướng hiện đại hoá Tuy nhiên
Trang 3với nhiều cuộc tranh luận quan trọng hàng loạt vấn đề được giải quyết ở thế kỉ XX, bước sang thế kỉ XXI vẫn còn gây tranh cãi và tiếp tục giải quyết
Đặc điểm nổi bật nhất của giai đoạn 1932-1945 là các cuộc đấu tranh giữa văn học
cũ và văn học mới Bao trùm lên tất cả các cuộc tranh luận là để đi tới xác lập một quan niệm mới về văn học Thực tiễn sáng tác giai đoạn 1932-1945 rất phong phú, đa dạng Sáng tác mới cả về nội dung và hình thức biểu hiện Đi cùng với phong trào sáng tác là các quan niệm mới về thơ, về tiểu thuyết, về phê bình, về phóng sự cũng được bàn luận
liên tục và rất sôi nổi trên văn đàn Một số quan niệm mới về đặc trưng văn học đã được
đề cập ở giai đoạn trước, tuy nhiên đến giai đanh 1932 – 1945 người đưa ra một quan niệm văn học mới chính là Thiếu Sơn, kẻ châm ngòi cho cuộc tranh luận quan trọng nhất
của thế kỉ Trong bài Hai cái quan niệm về văn học, Thiếu sơn bác bỏ quan niệm xưa: Văn học giáo hóa; văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí Ông đề nghị phải Lấy nghệ thuật làm
cứu cánh cho nghệ thuật… Nghệ thuật là những công trình sáng tạo Văn học nước nào cũng lấy nghệ thuật làm gốc Từ góc nhìn mỹ học sáng tạo, đó là một đề xuất khoa học
rất hợp lý Văn chương, trước hết phải là nghệ thuật Nhưng khái niệm nghệ thuật phải được hiểu đúng với ý nghĩa chuẩn mực của nó
Ngoài quan niệm về đặc trưng nghệ thuật trở thành đối tượng tranh luận gay gắt của Hải Triều, Phan Văn Hùm, Bùi Công Trừng, còn xuất hiện một quan niệm về đặc trưng nghệ thuật khá mạnh mẽ, nhưng lặng lẽ hiện diện trong thơ Hàn Mặc Tử, trong các tiểu
luận và lời Tựa của ông như Nghệ thuật là gì (Sài Gòn, số ra ngày 26/ 10/ 1935), Tựa
“Thơ Điên”, Quan niệm thơ; trong bài tựa của Chế Lan Viên, trong quan niệm về chủ
nghĩa duy mĩ của Nguyễn Tuân Ý nghĩa nghệ thuật đã được Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân lí giải một cách sâu xa từ hai thuyết nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật
vị nhân sinh
Hải Triều nhà lý luận tiếp nhận tư tưởng Mác- xít, đã phê phán quyết liệt quan điểm của Thiếu Sơn Ông đề xuất Nghệ thuât phải vị nhân sinh Trong bài báo nổi tiếng
Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh, ông khẳng định: Nghệ thuật phải
vì cuộc sống xã hội và con người Theo Hải Triều, nghệ thuật trước hết phải vì cuộc
sống con người, phải đấu tranh cho dân chủ và công bằng xã hội
Cuộc tranh luận kéo dài từ 1935 đến 1939 Có thể xem đây là cuộc tranh luận rất
có ý nghĩa đối với tiến trình phát triển của ý thức VHVN Lần đầu tiên trong lịch sử LLPBVHVN có một cuộc tranh luận về bản chất của văn học kéo dài suốt 4 năm, thu
Trang 4hút sự quan tâm của các nhà trí thức, nhà văn lớn thời ấy Các vấn đề cơ bản thuộc bản chất của văn học Việt Nam hiện đại đã được các cuộc tranh luận đề cập tới Mặc dù chưa
đi tới tận cùng, nhưng những vấn đề thuộc bản chất của văn học Việt Nam hiện đại đã được các cuộc tranh luận xới lên, để những giai đoạn sau LLPBVHVN tiếp tục luận bàn trong những hoàn cảnh lịch sử - xã hội mới (Nó được tiếp tục tranh luận trong đời sống văn học kháng chiến 1945-1954 và kéo dài trong đời sống văn học Việt Nam sau 1954 cho đến hiện nay)
Bên cạnh quan niệm mới về đặc trưng văn học do Thiếu Sơn, Hoài Thanh đưa ra, còn có quan niệm mới về bản chất xã hội, lịch sử của văn học mà Hải Triều là đại diện Ông xem văn học là sản phẩm của đời sống xã hội, phản ánh, vận động phát triển cùng với sự vận động, phát triển của xã hội Như vậy, xét về mặt khách quan, hai quan niệm
“vị nghệ thuật” và “vị nhân sinh” tuy có mặt đối lập nhau, nhưng cũng có mặt bổ sung cho nhau để tạo thành một quan niệm hoàn chỉnh, toàn diện Tuy nhiên, do thực tế đấu tranh ý thức hệ đương thời, hai quan điểm trên đã trở thành đối địch, loại trừ nhau làm cho tình trạng phiến diện của quan niệm văn học còn kéo dài
Ngoài cuộc tranh luận nói trên, lí luận phê bình văn học ở giai đoạn này còn xuất hiện quan niệm mới về văn học được thể hiện khá rõ trong các tiểu luận và các lời tựa cho tác phẩm văn học khi xuất bản Tựa cho tập thơ Điên (Hàn Mặc Tử) của Chế Lan
Viên đã luận giải về thơ rất nổi tiếng Đăc biệt nhất là cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài
Thanh - Hoài Chân đã trở thành mẫu mực của phê bình văn học Việt Nam hiện đại Cho
đến nay, hình như chưa có công trìnhphê bình văn học Việt Nam nào vượt qua Thi nhân
Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân.
Dù quan niệm của cả hai bên vẫn còn bộc lộ nhiều điểm phiến diện hoặc thô sơ, song nó đã tạo ra hai quan niệm mới về văn học trong giai đoạn 1932 - 1945, gắn bó với hai dòng văn học chủ yếu của giai đoạn này: Thơ Mới, Tự lực văn đoàn và văn học hiện thực cùng văn học Cách mạng
Năm 1943, xuất hiện văn kiện Đề cương văn hóa Việt Nam Tuy rất vắn tắt nhung là
văn kiện đánh dấu một thời điểm rất quan trọng trong lịch sử phát triển tư tưởng văn hóa
Từ đây tư tưởng học thuật, văn nghệ Việt Nam đặt dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản với các nguyên tắc lớn: dân tộc hóa, quần chúng hóa, khoa học hóa, đấu tranh cho
Trang 5chủ nghĩa duy vật, cho chủ nghĩa tả thực xã hội chủ nghĩa, cho một nền văn hóa có tính dân tộc về hình thức và dân chủ mới về nội dung
Nhìn lại các cuộc tranh luận văn nghệ, ta có thể khẳng định diện mạo nền lí luận phê bình giai đoạn này không thể không nhắc đến các cuộc tranh luận Từ đầu những năm 30
đã xuất hiện những cuộc tranh luận quan trọng về học thuật, lôi cuốn sự tham gia của nhiều cây bút lí luận, có tiếng vang rộng rãi và thu hút sự quan tâm của người đọc Có thể
kể đến những cuộc tranh luận lớn trong thập kỉ này như: Tranh luận về “Truyện Kiều”,
Quốc học, Duy tâm hau duy vật, Thơ mới - Thơ cũ, Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật dị nhân sinh, bà Tranh luận về vấn đề “dâm hay không dâm” trong tác phẩm của
Vũ Trọng Phụng Có thể nói, các cuộc tranh luận này đã phản ánh sự đối thoại, đấu tranh
công khai giữa các khuynh hướng tư tưởng, mỹ học: thủ cựu tiên tiến, nô dịch và vọng ngoại - yêu nước, tư sản - vô sản và quan trọng hơn nó đề cập đến nhiều vấn đề cốt yếu thuộc bản chất của văn chương Cũng chính từ các cuộc tranh luận này, nền lí luận, phê bình nước nhà đã xuất hiện những tác gia và tác phẩm tiêu biểu; ghi nhận bước phát triển, trưởng thành về tư duy lí luận văn học ở ta
Nền lí luận, phê bình văn học từ đầu thế kỉ XX đến 1945 đã có những biến đổi mạnh
mẽ và hội tụ ở nhiều công trình có giá trị Ba mươi năm đầu thế kỉ là chặng đường vật vã chuyển mình, có đấu tranh, mâu thuẫn và cả thỏa hiệp, song tựu chung, nền lí luận, phê bình đã manh nha hình thành, là tiền đề quan trọng cho những quan niệm, tư tưởng mới
và những thành tựu kết tinh ở giai đoạn sau Và trong gần mười lăm năm từ 1932 đến
1945, nền lí luận, phê bình Việt Nam đã đánh dấu sự trưởng thành về nhiều mặt và có những thành tựu Nhiều quan điểm, tư tưởng mà nó đặt ra, đến hôm nay vẫn còn gây tranh cãi bởi đó là những vấn đề cốt yếu của văn học - những vấn đề về bản chất, đặc trưng của nghệ thuật, các vấn đề trong mối quan hệ nội tại của tác phẩm; những vấn đề liên quan đến mỹ học và sự tiếp nhận của người đọc
Về phương pháp phê bình văn học, do tiếp nhận ảnh hưởng sâu đậm văn học, văn hóa Pháp, giai đoạn này đã hình thành các phương pháp khoa học trong nghiên cứu và trong lí luận phê bình văn học, bao gồm các phương pháp chủ yếu sau: Phê bình văn học
theo lối tiểu sử học, phê bình văn học theo lối ấn tượng, chủ quan, phê bình văn học dựa
vào khoa học khác
Trang 6III Kết luận
Như vậy nền lý luận, phê bình văn học đến năm 1945 đã đi qua một chặn đường dài, những biến đổi mạnh mẽ hội tựu ở nhiều công trình có giá trị Ba mươi năm đầu thế kỷ là chặng đường vất vả chuyển mình có đấu tranh có thỏa hiệp để đạt những thành tựu giai đoạn sau Gần mười lăm năm năm 1932-1945 nền lý luận và phê bình đã đánh dấu sự trưởng thành nhiều mặt và những thành tựu Với những thành tựu nổi bật, đầy ấn tượng,
lí luận phê bình văn học giai đoạn 1932 – 1945 đã hành trình cùng với phong trào sáng tác rầm rộ, mạnh mẽ đưa văn học Việt Nam thoát khỏi các phạm trù nghệ thuật đã ngự trị suốt ngàn năm của văn học Trung đại, tiến thẳng lên con đường hiện đại