Từ những đánh giá ban đầu cùng với việc xem xét tình hình nghiên cứu thực tế hiện nay về tác giả này, chúng tôi cho rằng Kiều Thanh Quế vẫn là một cái tên gợi lên nhiều vấn đề cần tiếp t
Trang 1-
TRẦN THỊ MỸ HIỀN
KIỀU THANH QUẾ TRONG ĐỜI SỐNG NGHIÊN CỨU,
LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÝ LUẬN VĂN HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023
Trang 2-
TRẦN THỊ MỸ HIỀN
KIỀU THANH QUẾ TRONG ĐỜI SỐNG NGHIÊN CỨU,
LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 9220120
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN HỮU HIẾU
PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:
1 PGS.TS TÔN THỊ THẢO MIÊN
2 PGS.TS NGUYỄN THÀNH THI PHẢN BIỆN:
1 PGS.TS NGUYỄN THÀNH THI
2 PGS.TS TRẦN THỊ PHƯƠNG PHƯƠNG
3 PGS.TS NGUYỄN KIM CHÂU
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023
Trang 3Luận án này được hoàn thành, tôi xin chân thành biết ơn sâu sắc những Thầy, Cô của tôi tại Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt tri ân PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu đã trực tiếp hướng dẫn chuyên môn trong suốt quá trình tôi thực hiện luận án
Xin cảm ơn PGS TS Nguyễn Hữu Sơn (Viện văn học), TS Phan Mạnh Hùng (Khoa Văn học trường ĐH KHXH&NV TPHCM), Nhà nghiên cứu Thiện Mộc Lan (Đồng Tháp), gia đình ông Kiều Nguyên Trung (em trai nhà văn Kiều Thanh Quế) đã hỗ trợ tôi trong quá trình tìm kiếm tư liệu nghiên cứu liên quan đến Kiều Thanh Quế
Xin cảm ơn sự đóng góp ý kiến quý báu của các Giáo sư, nhà khoa học trong các Hội đồng bảo vệ từ cấp chuyên đề, cấp đơn vị chuyên môn và cấp Trường Chúng tôi đã cố gắng hoàn thiện công trình nhưng chắc chắn vẫn chưa thể thỏa mãn được yêu cầu nghiêm khắc và chính đáng của quý vị
Xin cảm ơn Sở Nội vụ - Ủy Ban Nhân dân tỉnh Bình Dương đã cấp kinh phí
hỗ trợ tôi hoàn thành khóa học Nghiên cứu sinh, cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Thủ Dầu Một, lãnh đạo Khoa Sư Phạm qua các thời kỳ đã đồng ý, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình tham gia học tập, nghiên cứu
Sau cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình tôi, những người luôn bên cạnh động viên, chia sẻ những khó khăn của tôi trong suốt chặng đường nghiên cứu
Trân trọng
Trần Thị Mỹ Hiền
Trang 4Tôi cam đoan luận án tiến sĩ “Kiều Thanh Quế trong đời sống nghiên
cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi Toàn văn công trình chưa từng công bố ở bất kỳ nơi nào khác Mọi nội dung tham khảo và trích dẫn trong luận án đều trung thực
và được ghi chú xuất xứ rõ ràng
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2023
Tác giả luận án
Trần Thị Mỹ Hiền
Trang 5DẪN NHẬP 1
1 Lý do nghiên cứu đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 5
6 Cấu trúc của luận án 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỀ TÀI 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về đời sống lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 7
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về Kiều Thanh Quế 18
1.2 Hướng tiếp cận đề tài – cơ sở lý luận và thực tiễn 45
1.2.1 Cơ sở lý luận 45
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 48
Tiểu kết 50
CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT ĐỜI SỐNG NGHIÊN CỨU, LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA KIỀU THANH QUẾ 51
2.1 Bối cảnh văn hóa, xã hội và sự vận động của đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 51
2.1.1 Bối cảnh văn hóa, xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 51
2.1.2 Sự vận động của đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 56
2.2 Sự hiện diện của Kiều Thanh Quế trong đời sống văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 72
2.2.1 Vài nét về cuộc đời Kiều Thanh Quế 72
2.2.2 Sự nghiệp văn học của Kiều Thanh Quế 76
2.3 Một vài nhận định 80
Tiểu kết 82
CHƯƠNG 3 KIỀU THANH QUẾ VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC, DỊCH THUẬT – BIÊN SOẠN 84
3.1 Kiều Thanh Quế với hoạt động nghiên cứu văn học 84
3.1.1 Nghiên cứu về “cuộc tiến hoá” của văn học Việt Nam 84
3.1.2 Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và giới 98
3.1.3 Nghiên cứu tư tưởng – văn hoá Đông, Tây 108
3.1.4 Nghiên cứu một số vấn đề khác trong đời sống văn học 112
Trang 63.2.2 Phổ biến học thuyết, tư tưởng tinh hoa thế giới vào Việt Nam 122
3.3 Một vài nhận định về hoạt động nghiên cứu, dịch thuật – biên soạn của Kiều Thanh Quế 125
3.3.1 Về hoạt động nghiên cứu văn học 125
3.3.2 Về hoạt động dịch thuật- biên soạn 129
Tiểu kết 131
CHƯƠNG 4 KIỀU THANH QUẾ VỚI HOẠT ĐỘNG LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC 133
4.1 Kiều Thanh Quế với hoạt động lý luận văn học 133
4.1.1 Bàn luận về đặc trưng bản chất và chức năng của văn học 133
4.1.2 Bàn luận về đặc trưng hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật 144
4.1.3 Quan niệm về bộ môn phê bình văn học 145
4.1.4 Quan niệm về nhà văn, tác phẩm, người đọc 148
4.1.5 Giới thiệu các lý thuyết phê bình văn học 156
4.1.6 Một số hoạt động mang tính lý luận khác của Kiều Thanh Quế 160
4.2 Kiều Thanh Quế với hoạt động phê bình văn học 165
4.2.1 Phê bình đa dạng tác phẩm/ vấn đề trong đời sống văn học 165
4.2.2 Sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp phê bình văn học 172
4.2.3 Xây dựng phong cách nhà phê bình Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX 185
4.3 Một vài nhận định về hoạt động lý luận, phê bình văn học của Kiều Thanh Quế 192
4.3.2 Về hoạt động lý luận văn học 192
4.3.3 Về hoạt động phê bình văn học 194
Tiểu kết 194
KẾT LUẬN 196
DANH MỤC BÀI NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 200
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 201
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lý do nghiên cứu đề tài
1.1 Kiều Thanh Quế là một trong số ít các cây bút xuất thân từ vùng đất Nam Bộ tham gia vào hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Trong các công trình về lịch sử văn học, tên ông thường được đặt bên cạnh các cây bút biên khảo nổi bật như Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, … Ở mảng phê bình văn học, người ta thường nhắc đến tên ông bên cạnh Lê Thanh, một
cây bút phê bình nổi bật trên tạp chí Tri Tân Mặc dù vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu
và phổ biến các tác phẩm của ông cho đến thời điểm này vẫn còn khá khiêm tốn Có thể có nhiều nguyên nhân, mà theo chúng tôi, lý do đầu tiên có lẽ là bởi sự xuất hiện khá ngắn ngủi của ông trên văn đàn Sự ra đi có phần đột ngột và lặng lẽ cùng với
vụ án liên quan đến Quốc vệ Đội Bà Rịa chưa được làm sáng tỏ một thời gian dài khiến cho người đương thời tỏ ra dè dặt khi nhắc đến ông Nguyên nhân thứ hai khiến cho các tác phẩm của ông ít được nhắc đến bởi quán tính nghiên cứu “ít quan tâm” tới các cây bút nghiên cứu, phê bình văn học xuất thân từ vùng đất Nam Bộ Ở góc độ cá nhân, những ngày đầu khi mới tiếp cận các tác phẩm của nhà nghiên cứu
và phê bình văn học này, chúng tôi cũng khá lúng túng Sự quen thuộc với phong cách nghiên cứu và lối hành văn của các nhà nghiên cứu miền Bắc mang tính từ chương, học thuật, hàn lâm đã cản trở chúng tôi khi lần đầu tiếp cận với cách làm văn học có phần phóng khoáng cùng lối hành văn thô mộc, giản dị, đậm chất văn nói của vùng miền Nam Bộ Vì lẽ đó, chúng tôi cũng ít nhiều chia sẻ với những người nghiên cứu khác nếu họ không đánh giá cao ngòi bút của Kiều Thanh Quế Thế nhưng sau khi gạt bỏ những quán tính và định kiến, đọc một cách tỉ mỉ những công trình của Kiều Thanh Quế, giờ đây, chúng tôi ít nhiều đã cảm thấy thú vị với chất văn sống động, tư duy linh hoạt, phóng túng của nhà nghiên cứu Nam Bộ này
1.2 Hoạt động văn học của Kiều Thanh Quế có thể nói là đa dạng hơn các tác giả cùng thời Ở tuổi đôi mươi, ông thử bút ở địa hạt sáng tác, nhưng không thành công Những sáng tác đăng báo không để lại tiếng vang nào Vài năm sau, ông bước chân sang lĩnh vực nghiên cứu văn học, dịch thuật, phê bình văn học và nhanh chóng được người trong văn giới chú ý Theo sự sưu tầm, thống kê của chúng tôi, ông có 8 đầu sách đã xuất bản, trên dưới 50 bài nghiên cứu, phê bình văn học đăng tải trên các báo, tạp chí trước 1945 ở khắp trong Nam ngoài Bắc Hệ vấn
đề nghiên cứu, phê bình trong các tác phẩm của ông khá rộng, trải từ văn học dân gian đến văn học viết, từ văn học trung đại đến văn học hiện đại Những bài phê bình của ông chạm đến nhiều vấn đề có tính thời sự văn học đương thời Vì thế,
Trang 8bước đầu nhìn nhận, chúng tôi nhận thấy Kiều Thanh Quế là một cây bút có những đóng góp đáng kể đối với tiến trình văn học hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
1.3 Năm 2016, khi tiếp cận đề tài này, chúng tôi nhận thấy có rất ít công trình, bài viết nghiên cứu về hoạt động văn học của Kiều Thanh Quế Đến năm
2019, khi hội thảo về Kiều Thanh Quế được tổ chức tại quê hương ông, đã có nhiều bài viết bàn đến những đóng góp nhiều mặt của ông, đồng thời ghi nhận Kiều Thanh Quế là một cây bút hoạt động văn học nổi bật ở Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung Mặc dù vậy, do tính chất của cuộc hội thảo, những bài viết cũng chỉ bàn một cách riêng lẻ từng vấn đề, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng quát, hoàn chỉnh về cuộc đời, sự nghiệp văn học của nhà nghiên cứu, phê bình văn học này
Từ những đánh giá ban đầu cùng với việc xem xét tình hình nghiên cứu thực
tế hiện nay về tác giả này, chúng tôi cho rằng Kiều Thanh Quế vẫn là một cái tên gợi lên nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thêm về bức chân dung, những đóng góp cùng vị thế của ông trong nền văn học Việt Nam hiện đại Vì thế,
Kiều Thanh Quế trong đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một công trình mà khi thực hiện, chúng tôi mong muốn sẽ
góp phần hiện thực hóa điều đó
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động văn học của Kiều Thanh Quế trong đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
có sự hiện diện của Kiều Thanh Quế trong nền văn học nên sẽ có những tác động, cộng hưởng qua lại với đối tượng nghiên cứu của luận án
Trang 92.2.2 Các công trình nghiên cứu văn học của Kiều Thanh Quế
Công trình nghiên cứu của Kiều Thanh Quế ở đây được chúng tôi nhìn nhận trong luận án này là các công trình chuyên về biên khảo mang tính chất văn học sử hoặc là nghiên cứu về một vấn đề văn học cụ thể chứ không phải quan niệm như khoa nghiên cứu về văn học xét theo nghĩa hiện nay Các công trình nghiên cứu văn học của Kiều Thanh Quế được chúng tôi phân loại ở đây cụ thể là ba cuốn biên
khảo: Ba mươi năm văn học (1942), Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (1943), Đàn
bà và nhà văn (1943) và các bài viết nghiên cứu về một số vấn đề thuộc lĩnh vực văn học và cả lịch sử được đăng tải trên Đông Dương tuần báo và tạp chí Tri Tân
trước 1945
2.2.3 Các tác phẩm phê bình văn học của Kiều Thanh Quế
Tác phẩm phê bình văn học của Kiều Thanh Quế là các công trình, bài viết trong lĩnh vực phê bình, bao gồm cả lý thuyết phê bình và thực hành phê bình Tác
phẩm cụ thể thuộc lĩnh vực này gồm cuốn Phê bình văn học (1942), trên dưới 30 bài phê bình đăng trên các báo Mai, Tri Tân, Đông Phong, Phổ thông bán nguyệt san, Học sanh trước 1945 Ngoài ra, chúng tôi cũng khảo sát các ý tưởng bàn luận,
nhận xét, đánh giá về văn học nằm rải rác trong các công trình nghiên cứu văn học của Kiều Thanh Quế
2.2.4 Các công trình dịch thuật – biên soạn của Kiều Thanh Quế
Công trình dạng này bao gồm các cuốn: Một ngày của Tolstoy (1942), Thi hào Tagore (1943), Học thuyết Freud (1943)
Ngoài ra, di sản văn học của Kiều Thanh Quế còn có các tác phẩm: Thương tâm (truyện ngắn), Hai mươi tuổi (tiểu thuyết), Đứa con của tội ác (tiểu thuyết), Hoa mai (truyện ngắn), Nam-mô-A-di-đà Phật (truyện dịch), Mùa thu với cuộc đời (tản văn), Ngôi mả hoang (bút ký) … Do đây là những tác phẩm thuộc lĩnh vực
sáng tác nên chúng tôi sẽ chỉ tham khảo để có cơ sở đánh giá về Kiều Thanh Quế về góc độ tư tưởng chứ không đặt nặng việc xem xét các đối tượng này
3 Mục tiêu nghiên cứu
Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu như trên, trong luận án này, chúng tôi
sẽ giải quyết các vấn đề cụ thể như sau:
- Thứ nhất: Sưu tầm, tập hợp một cách đầy đủ (trong điều kiện cho phép) các
tài liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp văn học của Kiều Thanh Quế, nhằm làm rõ một số vấn đề về tiểu sử và văn bản tác phẩm của ông Từ cơ sở đó, chúng
Trang 10tôi phác họa một bức tranh tổng thể về cuộc đời và sự nghiệp của Kiều Thanh Quế trong đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
- Thứ hai: Phân tích, đánh giá một cách toàn diện những đóng góp, hạn chế
trong các công trình văn học của Kiều Thanh Quế, đồng thời chỉ ra phương pháp, phong cách nghiên cứu, phê bình văn học của tác giả này
- Thứ ba: Xác định vị trí của Kiều Thanh Quế trong đời sống nghiên cứu, lý
luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
4 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh các phương pháp cơ bản như đọc sâu, tổng thuật, phân tích - tổng hợp trong luận án chúng tôi còn sử dụng kết hợp và linh hoạt các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành sau:
4.1 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử
Phương pháp nghiên cứu tiểu sử giúp chúng tôi tìm hiểu một cách kỹ lưỡng các dữ liệu xoay quanh cuộc đời Kiều Thanh Quế như xuất thân, những năm tháng tuổi thơ, quá trình trưởng thành, học tập và hoạt động chính trị - xã hội của ông Đó
là cơ sở giúp chúng tôi có cái nhìn tương chiếu để đi đến nhận diện, lý giải một số vấn đề về thị hiếu thẩm mỹ, quan điểm văn học của ông
4.2 Phương pháp nghiên cứu văn hóa – lịch sử
Văn hóa và văn học có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Bộ phận lý luận và phê bình văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX chịu sự tác động mạnh mẽ từ quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây Do đó, phương pháp này sẽ là
cơ sở để chúng tôi dựa vào nhằm xem xét, lý giải các hiện tượng trong đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học nói chung trong thời kỳ này Bên cạnh đó, với đối tượng nghiên cứu là Kiều Thanh Quế, chúng tôi cũng sẽ xem xét yếu tố vùng văn hóa, ở đây là văn hóa Nam Bộ và những tác động của nó đến phong cách nghiên cứu, phê bình văn học của tác giả này
4.3 Phương pháp nghiên cứu hệ thống
Phương pháp hệ thống giúp chúng tôi phân loại, tập hợp các vấn đề có cùng đặc tính với nhau để tiếp cận, từ đó có cái nhìn vừa bao quát vừa chi tiết đối tượng nghiên cứu Cụ thể ở đây là, dựa trên các trước tác của Kiều Thanh Quế, chúng tôi
sẽ phân loại, hệ thống lại các vấn đề theo ba mảng hoạt động chính: nghiên cứu văn học, lý luận văn học và phê bình văn học Đây là phương pháp được chúng tôi áp dụng xuyên suốt luận án
Trang 114.4 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh giúp chúng tôi nhận diện rõ đặc điểm đối tượng nghiên cứu, định vị được tọa độ của đối tượng nghiên cứu trong mối tương quan với các đối tượng và vấn đề có liên quan Đối với Kiều Thanh Quế, chúng tôi vận dụng phương pháp này để đối sánh giữa hoạt động văn học của ông với hoạt động văn học của các tác giả cùng thời kỳ hoặc cùng mảng hoạt động Ngoài ra, phương pháp
so sánh cũng giúp chúng tôi khám phá/ phát hiện có hay không có sự ảnh hưởng, tác động của các phương pháp, cách thức tư duy nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học phương Tây trong các tác phẩm của Kiều Thanh Quế
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Xác định những đóng góp của Kiều Thanh Quế trong đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
- Khẳng định vị trí của Kiều Thanh Quế trong đời sống văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục cấu
trúc nội dung chính của luận án gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và hướng tiếp cận đề tài
Chương này trình bày khái lược lịch sử nghiên cứu các vấn đề mà luận án đặt ra,
Trang 12bao gồm tổng quan tình hình nghiên cứu về đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và tổng quan tình hình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp văn học của Kiều Thanh Quế Theo đó, chúng tôi tiến hành tập hợp,
hệ thống lại toàn bộ quá trình tiếp nhận, nghiên cứu đối tượng theo trục thời gian từ
xa đến gần, từ đó có cái nhìn bao quát về quá trình tiếp nhận đối tượng nghiên cứu qua các thế hệ Trên tinh thần tiếp nhận có chắt lọc và kế thừa, chúng tôi sẽ có cơ sở
để triển khai các hướng nghiên cứu tiếp theo trong luận án Bên cạnh đó, chúng tôi cũng trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn làm điểm tựa cho hướng triển khai của đề tài, đề ra các tiêu điểm nghiên cứu trong luận án
Chương 2: Khái quát đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và sự hiện diện của Kiều Thanh Quế Chương này chúng
tôi đi vào tìm hiểu tình hình chính trị, bối cảnh văn hóa, xã hội ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX cùng với bức tranh tổng quát về sự vận động của đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Việt Nam đương thời Song song đó, chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu về tiểu sử, cuộc đời hoạt động chính trị, xã hội và văn học của Kiều Thanh Quế Dựa vào các dữ kiện về lịch sử - xã hội, tiểu sử tác giả và di sản tác phẩm, từ góc nhìn ngoài văn bản, chúng tôi sẽ bước đầu xác định vị trí Kiều Thanh Quế trong phối cảnh chính trị, văn hóa, văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Chương 3: Kiều Thanh Quế với hoạt động nghiên cứu văn học, dịch thuật – biên soạn Chương này chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu, phân tích kỹ lưỡng các
công trình/ bài viết của Kiều Thanh Quế trong các mảng hoạt động nghiên cứu văn học, dịch thuật – biên soạn Đó là cơ sở để chúng tôi xác định đường hướng tư tưởng Kiều Thanh Quế cũng như làm rõ những đóng góp cùng hạn chế của ông trong mảng hoạt động này
Chương 4: Kiều Thanh Quế với hoạt động lý luận, phê bình văn học
Do đặc thù giai đoạn văn học và đặc điểm đối tượng nghiên cứu, hoạt động
lý luận văn học của Kiều Thanh Quế không nằm hẳn trong một công trình cụ thể riêng biệt mà nằm lẫn trong các công trình/bài viết nghiên cứu, phê bình văn học
Vì thế, trong chương này, để tìm hiểu về hoạt động mang tính lý luận văn học của Kiều Thanh Quế, chúng tôi tiến hành nhận diện những vấn đề mang tính chất lý luận trong toàn bộ các trước tác của Kiều Thanh Quế để tìm hiểu những đóng góp của ông trong lĩnh vực này Về hoạt động phê bình văn học, chúng tôi sẽ tìm hiểu bình diện lý thuyết lẫn thực tiễn phê bình, từ hệ vấn đề đến phương pháp phê bình, nhằm xác định phong cách phê bình văn học cùng những đóng góp của ông cho nền phê bình hiện đại
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỀ TÀI
Nghiên cứu một đối tượng, dù bao quát hay chi tiết thì kết quả nghiên cứu đều ít nhiều chịu sự tác động, chi phối của yếu tố cá nhân, hoàn cảnh và thời điểm
Do vậy, việc tìm hiểu tổng quan lịch sử tiếp nhận đối tượng nghiên cứu sẽ là cơ sở
để chúng tôi đánh giá kết quả các nghiên cứu của người đi trước, từ đó xác định hướng nghiên cứu tiếp theo trong luận án
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về đời sống lý luận, phê bình văn học
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước trước 1975
Trước 1945, nền lý luận – phê bình văn học Việt Nam bắt đầu có những bước đi mới trên con đường hình thành nền lý luận và phê bình chuyên nghiệp Đời sống lý luận - phê bình văn học vô cùng sôi nổi với sự trợ lực của hệ thống báo chí,
in ấn, xuất bản Trong những năm này, do các hoạt động văn học đang diễn ra, chưa
có độ lùi thời gian nên chưa có nhiều bài viết hoặc công trình có ý nghĩa tổng kết, đánh giá hoạt động này Những tác giả có bài “tính sổ văn học” thường đăng trên báo như Lê Thanh, Hoa Bằng, Đinh Gia Trinh chủ yếu lưu tâm đến mảng sáng tác, còn lại dường như chỉ có Dương Quảng Hàm và Kiều Thanh Quế là có nghiên cứu
bao quát về bộ phận nghiên cứu, phê bình văn học Trong Việt Nam văn học sử yếu
(1941) của Dương Quảng Hàm, phần nghiên cứu về phê bình văn học Việt Nam hiện đại thuộc chương thứ năm của chương trình năm ba ban Trung học Việt Nam nằm gần cuối sách Ở đó, tác giả đã khái quát về sự ra đời của bộ môn mới này:
Thể phê bình là một thể ta mới mượn của Pháp văn Không phải xưa kia các cụ không hề phê bình, nhưng các lời phán đoán, khen chê của các cụ chỉ xen vào trong một bài văn hoặc một cuốn sách chứ chưa hề biệt lập thành một tác phẩm, thành một thể văn riêng Mãi gần đây, các văn gia mới phỏng theo thể phê bình của người Pháp mà viết các tác phẩm thuộc về thể ấy (Dương Quảng Hàm, 1968, tr 421) (1)
Ngoài ra, Dương Quảng Hàm còn phân loại các nhánh phê bình văn học gồm phê bình về văn chương, phê bình học thuyết, phê bình lai lịch tác phẩm, phê bình nguyên văn Thực ra, giai đoạn này chưa có sự phân định các lĩnh vực trong hoạt
1 Do chúng tôi không có bản in năm 1941 nên trong luận án này, chúng tôi căn cứ vào bản in năm 1968, do
Trang 14động nghiên cứu văn học như sau này nên công trình nào lấy văn chương, học thuyết làm đối tượng bàn bạc, nghiên cứu đều được xem là phê bình
Sau đó một năm, trong công trình Ba mươi năm văn học (1942), Kiều Thanh
Quế đứng ra tổng kết văn học trong vòng 30 năm giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, trong đó có một mục dành cho hoạt động phê bình (công trình này sẽ được bàn sâu
ở chương 3 của luận án)
Sau Cách mạng tháng 8/1945, cả nước tập trung công cuộc kháng chiến chống Pháp, hoạt động nghiên cứu văn học có phần chững lại, và từ năm 1954 trở
đi, ở miền Bắc, một số vấn đề về lý luận, phê bình văn học trước Cách mạng mới được đưa vào các bộ sách lịch sử văn học Một số cuốn sách tiêu biểu có thể kể đến
ở đây là: Lược khảo văn học Việt Nam tập 3 (1957) do nhóm Lê Quý Đôn biên soạn, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 (1964) của Nxb Văn học và Bàn
về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn
1930-1945 (1971) của Vũ Đức Phúc Trong các cuốn sách đó, cuốn Lược khảo văn học Việt Nam tập 3 (1957) có đề cập đến hoạt động của báo chí và biên khảo giai đoạn đầu thế kỷ XX, cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 (1964) đề cập đến một số vấn đề liên quan đến tác giả, tác phẩm lý luận - phê bình, còn cuốn Bàn
về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn
1930-1945 (1971) của Vũ Đức Phúc lại bàn đến các cuộc tranh luận văn học lớn giai đoạn 1900-1945 Tuy nhiên, cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 (1964)
theo Nguyễn Thị Thanh Xuân, chỉ “bàn ghé qua” vì chỉ nhắc đến một số công trình
được biên soạn theo lý thuyết chủ nghĩa Marx như Văn học khái luận của Đặng
Thai Mai, hay bài “Sức sống của dân tộc Việt Nam qua ca dao và cổ tích” (1944)
của Nguyễn Đình Thi (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2004, tr 12) Còn với cuốn Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1930-
1945 (1971) của Vũ Đức Phúc, tuy tác giả có bàn đến các cuộc tranh luận văn học
lớn giai đoạn 1900-1945 và cũng là cuốn sách đầu tiên hệ thống hóa các vấn đề tranh luận trong giai đoạn này, nhưng “khuyết điểm lớn nhất của công trình là tác giả đã quá cứng rắn khi đối xử với các hiện tượng văn học, và do đó sức thuyết phục của cuốn sách rất hạn chế” (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2004, tr 13)
Trong khi đó, ở miền Nam sau 1954, có nhiều công trình nghiên cứu khá công phu, vừa khái quát vừa chi tiết về đời sống lý luận, phê bình văn học giai đoạn
1900-1945 Đó là các công trình tiêu biểu, như Lược sử văn nghệ Việt Nam – Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của Thế Phong, do Đại Nam Văn Hiến Xuất bản Cục tự phát hành các năm 1959, 1960 (Nhà xuất bản Vàng Son tái bản năm 1974), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên 1862-1945 (1965) của Phạm Thế Ngũ, Bảng
Trang 15lược đồ văn học Việt Nam 1862-1945 (1967), Phê bình văn học thế hệ 1932-1945, hai tập (1972, 1975) của Thanh Lãng, Khuynh hướng thi ca tiền chiến – Một biến cố văn học thế hệ 1932-1945 (1968) của Nguyễn Tấn Long – Phan Canh, Lược khảo văn học, tập 3: Nghiên cứu và phê bình văn học (1968) của Nguyễn Văn Trung, …
Trong các công trình trên, công trình của Thanh Lãng đúng với tính chất một bảng lược đồ văn học sử nhất vì ông đã có công sưu tập một khối lượng tư liệu lớn, tập hợp khá đầy đủ diễn biến các sự kiện văn học diễn ra từ 1862-1945 Đó cũng là cơ
sở để ông đưa ra các ý kiến, nhận định về tình hình lý luận, phê bình văn học nói riêng và đời sống văn học giai đoạn này nói chung Sau đây chúng tôi sẽ đi vào cụ thể một số công trình lớn, tiêu biểu:
• Phạm Thế Ngũ, 1965, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Quốc học
Tùng thư xuất bản, Sài Gòn
Đây là công trình nghiên cứu dài hơi và công phu Liên quan trực tiếp đến văn học thuộc nửa đầu thế kỷ XX là quyển 3 Dựa trên sự vận động về văn hóa, lịch
sử, quãng thời gian từ 1862 đến 1945 được ông chia thành 3 giai đoạn Giai đoạn một từ 1862 - 1907, giai đoạn hai từ 1907-1932 và giai đoạn ba là từ 1932-1945 Từ giai đoạn hai trở đi, ở mỗi phần ông đều dành một chương cho hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học Nhận định về từng giai đoạn, ông cho rằng từ 1907 đến 1932
là giai đoạn phồn thịnh về biên khảo Ngoài nhận định chung về giai đoạn, ông còn
đi vào giới thiệu một số cây bút biên khảo nổi bật như: Phan Kế Bính, Nguyễn Hữu Tiến, Trần Trọng Kim, Phan Khôi Chuyển qua giai đoạn từ 1932 đến 1945, ở mảng nghiên cứu, phê bình văn học ông chỉ tập trung từ 1940 đến 1945, vì cho rằng đó là giai đoạn cực thịnh của nghiên cứu, phê bình, đặc biệt là trên báo chí Do đó, ông đã
ghi nhận hoạt động này theo từng nhóm gắn với tên các tờ tạp chí lúc bấy giờ là Tri Tân, Thanh Nghị, Hàn Thuyên… Tuy nhiên, do chỉ tập trung các hoạt động văn học
trên báo chí nên ông đã bỏ qua các công trình nổi bật xuất bản trong thời kỳ này
• Thanh Lãng, 1967, Bảng lược đồ văn học Việt Nam 1862-1945, Nxb
Trình bày, Sài Gòn
Trong công trình này, Thanh Lãng đã dành một chương để bàn tổng quát về đời sống phê bình văn học thế hệ 1932 Nhận xét chung về đời sống lý luận, phê bình văn học giai đoạn này, Thanh Lãng cho rằng có “hiện tượng bè phái trong sinh hoạt phê bình văn học” Trong quá trình vận động, họ tự chia thành 4 khối lớn gồm: khối bị coi là cựu học, khối tự coi là cấp tiến, khối đối lập, phản công với khối tự coi là cấp tiến và khối khuynh hướng duy vật (Thang Lãng, 1967, tr 643) Bằng vốn tư liệu đồ sộ, ông tường thuật lại năm cuộc tranh luận văn học lớn gồm: “Cuộc
Trang 16mới và cũ”, “Cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh”,
“Cuộc tranh luận duy tâm và duy vật” Nhận định chung về xu hướng nổi bật của từng giai đoạn phê bình, ông cho rằng: “Nếu trước 1940, các cây bút phê bình đều hoạt động trên báo chí, thì ngược lại từ năm 1940 trở đi, sinh hoạt phê bình chuyển hẳn sang địa hạt xuất bản, phê bình” (Thanh Lãng, 1967, tr 700) Sau đó, ông liệt
kê ra 14 tên tuổi tác giả nổi bật cùng các công trình của họ gồm: Thiếu Sơn, Trần Thanh Mại, Trương Chính, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi, Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa), Hoàng Ngọc Phách, Phan Trần Chúc, Hoài Thanh và Hoài Chân, Ngô Tất Tố, Đào Duy Anh, Kiều Thanh Quế, Lê Thanh Đứng trên phương diện đặc tính khuynh hướng phê bình, ông chia ra thành 6 khuynh hướng, gồm: khuynh hướng phê bình cổ điển, khuynh hướng phê bình bút chiến, phe phái, khuynh hướng phê bình truyện ký, khuynh hướng phê bình xã hội, khuynh hướng phê bình văn học sử và khuynh hướng phê bình duy vật Marxist
• Nguyễn Tấn Long – Phan Canh, 1968, Khuynh hướng thi ca tiền chiến – Một biến cố văn học thế hệ 1932-1945, Sóng Mới, Sài Gòn
Gần giống với Bảng lược đồ văn học của Thanh Lãng, nhưng ở đây, bộ đôi
tác giả chỉ trình bày diễn biến văn học thế hệ 1932-1945, tức là giai đoạn thứ hai của nửa đầu thế kỷ XX Đặc biệt, nhóm tác giả cũng chỉ nhìn nhận các sự kiện mang tính chất “biến cố” bước ngoặt trong văn học Đó là hai cuộc tranh luận văn học lớn nhất thời kỳ: Cuộc bút chiến giữa “thơ cũ” và Thơ mới và cuộc bút chiến giữa phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh” Ngoài ra, nhóm tác giả còn nghiên cứu “Bản chất của biến cố thi ca” và “Khuynh hướng thi ca thế
hệ 1932-1945” Nhìn chung, đây là công trình nghiên cứu trên bình diện sáng tác, chủ đích không bàn về nghiên cứu và phê bình Tuy nhiên, vì trong đời sống văn học, hoạt động sáng tác không tách rời lý luận và phê bình, nên trên cái nền chung
là diễn biến các hoạt động văn học, tác giả đều có đề cập ít nhiều đến mặt lý luận
văn học (trong chương 2 phần Bản chất của biến cố thi ca) và phê bình (trong chương 4: Khuynh hướng thi ca thế hệ 1932-1945, tác giả có đề cập đến các trường
phái phê bình giai đoạn này bao gồm: trường phê bình cổ điển, trường phê bình lãng mạn, trường phê bình khách quan, trường phê bình ấn tượng, trường phê bình triết học) Nhìn chung, cách thức bố cục của công trình chưa được hệ thống nên người đọc muốn nghiên cứu phải tự bóc tách từng vấn đề Mặc dù vậy, cũng phải ghi nhận cuốn sách đã góp thêm một cách nhìn về đời sống văn học trong chặng thứ 2 của nửa đầu thế kỷ XX, trong đó có hoạt động nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học
Trang 17• Nguyễn Văn Trung, 1968, Lược khảo văn học, tập 3: Nghiên cứu và phê
bình văn học, Nxb Nam Sơn, Sài Gòn
So với các công trình trước, đây có lẽ đây là cuốn sách đầu tiên có sự phân định khái niệm nghiên cứu văn học và phê bình văn học Tác giả đã trình bày điều
đó ngay trong lời mở đầu Vì vậy, cuốn sách của Nguyễn Văn Trung có phần thiên
về nghiên cứu lý thuyết, trình bày những đánh giá về bộ phận nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam qua các thời kỳ chứ không chỉ dành riêng cho giai đoạn
1900-1945 Trong chương II: Phê bình văn học, ông dành một phần để nói về các lý
thuyết phê bình văn học được vận dụng trong nửa đầu thế kỷ XX bao gồm: phê bình
ấn tượng chủ quan, giáo điều, phê bình giáo khoa, phê bình luân lý, phê bình xã hội
Ở mỗi khuynh hướng phê bình, ngoài trình bày về mặt lý thuyết, nhà nghiên cứu còn dẫn chứng bằng tên các tác giả và tác phẩm cụ thể Cách làm của Nguyễn Văn Trung giúp ta có một hình dung khái quát về các khuynh hướng phê bình, đồng thời
có cơ sở lý thuyết để phân định khuynh hướng của một số cây bút phê bình thời bấy giờ Từ khi ra đời, cuốn sách đã được xem là một tài liệu tham khảo hữu ích khi nghiên cứu về các lý thuyết phê bình văn học từng hiện diện ở Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn trước 1945
• Thanh Lãng, 1972-1975, Phê bình văn học thế hệ 1932, Phong trào Văn
hóa, Sài Gòn
Đây là một chuyên luận công phu, bàn riêng về lý luận - phê bình văn học trong nửa đầu thế kỷ XX Nội dung cuốn sách được triển khai cả bề rộng lẫn bề sâu, bàn bạc cụ thể nhiều vấn đề của đời sống phê bình văn học bằng một vốn tài liệu đa dạng và tin cậy Cuốn sách gồm 4 chương lớn trình bày các vấn đề như đặc điểm của giai đoạn, lý thuyết về phê bình văn học, sự phân hóa của lực lượng cầm bút,
mười vụ án văn học (ngoài 5 cuộc tranh luận đã nêu trong Bảng lược đồ văn học,
ông bổ sung thêm 5 vụ: vụ án báo chí, vụ án Phan Khôi – Trần Trọng Kim, vụ án Tản Đà – Phan Khôi, vụ án Cô giáo Minh, vụ án Hàn Mặc Tử) Phần nói về các
khuynh hướng phê bình ông giữ nguyên như trong Bảng lược đồ văn học Cuối
cùng là phần giới thiệu 16 tác giả phê bình gồm: Phan Khôi, Nguyễn Văn Tố, Thiếu Sơn, Trần Thanh Mại, Lê Thanh, Trương Chính, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Bách Khoa, Hoàng Ngọc Phách, Phan Trần Chúc, Hoài Thanh và Hoài Chân, Ngô Tất Tố, Đào Duy Anh, Hoa Bằng Hoàng Thúc
Trâm và Kiều Thanh Quế (so với Bảng lược đồ văn học trong sách này ông thêm
Nguyễn Văn Tố và Hoa Bằng)
Trang 181.1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước sau 1975
Sau 1975, các công trình nghiên cứu văn học ra đời đều có đề cập đến bộ phận nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Nhiều vấn
đề văn học của các giai đoạn trước đã được đem ra bàn luận, nghiên cứu và có những lý giải hợp lý hơn Đặc biệt, có một số tác giả trước kia bị đánh giá có nhiều thiên lệch thì sau này cũng được nhìn nhận lại Hầu hết các tác giả đều công nhận
bộ môn lý luận, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX có vị trí và vai trò quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc Các bộ từ điển văn học đã bắt đầu sưu tập và bổ sung ngày càng đầy đủ tên tuổi các tác giả nghiên cứu, phê
bình văn học giai đoạn này Về công trình nghiên cứu có thể kể đến Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX (2 tập) của Nguyễn Ngọc Thiện (2003), Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900-1945) của Nguyễn Thị Thanh Xuân (2004), Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX của Trần Mạnh Tiến (2008), Lịch sử phê bình văn học Việt Nam hiện đại của Trần Thị Việt Trung (2010), Lịch sử lý luận phê bình văn học Việt Nam của Trịnh Bá Đĩnh (2013, tái bản 2016) Ngoài ra, các công
trình văn học sử ra đời giai đoạn này cũng có bàn sơ lược tình tình lý luận - phê bình văn học giai đoạn 1900-1945 mặc dù không đi vào cụ thể Đó là các công trình
Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX của Nguyễn Phạm Hùng (2001), Văn học Việt Nam 1900-1945 của nhóm biên soạn Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác… (2005), Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 của Trần
Đăng Suyền, Lê Quang Hưng (2016), … Sau đây chúng tôi sẽ đi vào cụ thể một số công trình chính có sự đóng góp cụ thể và nổi bật
• Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2004, Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX (1900-1945), Nxb ĐHQG TP HCM
Cuốn sách tập trung nghiên cứu bộ phận phê bình văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Đây là công trình thể hiện sự công phu trong sưu tầm tư liệu, đồng thời đánh giá tương đối đầy đủ về bộ môn phê bình văn học trên hai mảng: một là các cuộc tranh luận văn học, hai là các xu hướng phê bình Ở chương 2 và chương 3, tác giả có cái nhìn bao quát trên cả hai giai đoạn 1900-1930 và 1930-1945, điểm danh được các tờ tạp chí văn học lớn, đồng thời nêu ra được những vấn đề cốt lõi trong
đó Đến giai đoạn thứ hai, cũng qua hoạt động trên báo chí, tác giả đi sâu vào những bài viết ngồn ngộn các vấn đề văn học được các cây bút đương thời đặt ra Đánh giá
về giai đoạn 1940-1945 Nguyễn Thị Thanh Xuân cho rằng: “… bản thân sự vận động của hoạt động phê bình, sau 10 năm xây dựng đã đi đến giai đoạn chín muồi Các nhà phê bình có thời gian luyện bút, đồng thời các nhà văn có điều kiện tạo ra những thành tựu mới – một đối tượng có độ dày và ổn định – để các nhà phê bình
Trang 19có thể ngoái nhìn, đưa ra những nhận định có tính tổng kết” (tr 79) Sau khi trình bày qua các đặc điểm của từng giai đoạn, ở phần 2, tác giả đi vào tìm hiểu 12 tác giả phê bình nổi bật Như bản thân tên gọi của chuyên luận, cuốn sách này chỉ đề cập trực tiếp đến mảng phê bình, vì thế vẫn còn nhiều vấn đề về lý luận văn học chưa được nói tới
• Trần Mạnh Tiến, 2008, Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ
XX, Nxb ĐH Sư phạm, Hà Nội (2)
Chuyên luận này lại tập trung cho bộ phận lý luận văn học nhiều hơn phê bình Ông phân chia bố cục theo bình diện vấn đề chứ không theo trục thời gian:
Chương 1: Những quan niệm chung về văn học và nhà văn Chương 2: Quan niệm
về tác phẩm văn học và các thể loại chính Chương 3: Phê bình văn học Ở bộ phận
lý luận văn học, tác giả đi sâu vào các phương diện cốt lõi của văn học như đặc trưng của văn học, các mối quan hệ cơ bản của văn học, công dụng của văn học, vấn đề chủ thể sáng tác dưới nhiều góc độ khác nhau Tác giả cũng tập trung vào từng thể loại văn học trong thời kỳ đó Với chuyên luận này, tác giả đóng góp trong việc nghiên cứu chi tiết các vấn đề lý luận văn học Phần phê bình mang tính tổng thuật khi chỉ nêu khái quát những khuynh hướng chính trong phê bình văn học đầu
thế kỷ XX và tập trung vào cuộc tranh luận Truyện Kiều giữa những năm hai mươi
xê xích về thời gian so với chuyên luận của Nguyễn Thị Thanh Xuân (2004) Giai đoạn 1 tác giả lấy mốc khởi đầu là 1900 và kéo dài đến 1932 và xem đây là giai đoạn chuyển mình, có nhiều hoạt động cổ vũ, cách tân sôi nổi nhưng là giai đoạn chuẩn bị cho sự trưởng thành, nhảy vọt của lý luận, phê bình văn học giai đoạn sau Giai đoạn 2 từ 1932 đến 1945 là giai đoạn trưởng thành vượt bậc của lý luận - phê bình văn học, có những cuộc tranh luận sâu sắc đụng chạm đến những vấn đề cốt yếu của văn học, có những công trình nghiên cứu vượt thời đại và trở thành kinh điển, xuất hiện những xu hướng tìm tòi lý luận và phương pháp đa dạng, nhiều hướng (tr.59) Vì là công trình lịch sử lý luận - phê bình văn học bao quát nhiều giai
2 Chúng tôi ghi nhận công trình này xuất bản lần đầu năm 2008, tuy nhiên các trích dẫn của cuốn sách này
Trang 20đoạn nên các nhận xét, đánh giá của Trịnh Bá Đĩnh có phần khái quát, điểm danh chứ không đi sâu vào từng vấn đề cụ thể
• Nguyễn Thị Thanh Xuân chủ biên, 2018, Nghiên cứu, lý luận, phê bình
văn học ở Nam Bộ thời kỳ 1865-1954, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
Đây là chuyên luận có những công bố mới về hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học riêng ở vùng đất Nam Bộ từ nửa cuối thế kỷ XIX đến 1954 Tập thể các nhà nghiên cứu đã dày công sưu tập một khối lượng lớn tư liệu, đặc biệt là báo chí quốc ngữ ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX làm cứ liệu để minh chứng, diễn giải, bàn sâu cụ thể nhiều vấn đề thuộc mảng nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học giai đoạn này Trước đây, văn học quốc ngữ Nam Bộ vốn đã được các tác giả Nguyễn Văn Trung, Bùi Đức Tịnh, Võ Văn Nhơn, Sơn Nam, Trần Nhật Vy… nhận định là “đứa con rơi” của nền văn học Việt Nam Riêng về mảng lý luận, phê bình văn học, Nam Bộ “bị” xem là một vùng đất không có truyền thống cũng không có thành tựu gì đáng kể (theo Nguyễn Văn Trung, 2015) Nhưng đến công trình này, nhóm nghiên cứu đã cho chúng ta thấy điều ngược lại Hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở vùng đất này không chỉ phong phú mà còn giữ vị trí tiên phong cho sự xuất hiện các lý thuyết nền tảng về lý luận, phê bình văn học theo xu hướng hiện đại Chuyên luận không chỉ góp phần minh định vấn đề có hay không có một nền nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở Nam Bộ mà còn góp phần trả lại vị trí xứng đáng cho một vùng văn học từ lâu bị “bỏ quên”, khẳng định những đóng góp mà bộ phận nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở vùng đất phương Nam này mang lại cho nền văn học Việt Nam Cuốn sách gồm 2 phần:
Phần 1: Tổng luận, có 7 chương Ngoài chương 1: Khái quát về lịch sử, xã hội, văn hóa và văn học ở Nam Bộ thời kỳ 1865-1954 do Võ Văn Nhơn chấp bút thì 6
chương còn lại đều do Nguyễn Thị Thanh Xuân nghiên cứu và trình bày Bắt đầu từ chương 2, khi đi vào nghiên cứu từng giai đoạn, tác giả đã có cách phân kỳ khá mới
so với cách phân kỳ trong các công trình nghiên cứu trước đó Đời sống văn học ở Nam Bộ từ 1865 đến 1954 được chia thành 4 giai đoạn Giai đoạn 1 từ 1865 đến
1912 được xem là giai đoạn phôi thai, mở đầu nền nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở Nam Bộ Giai đoạn 2 từ 1913 đến 1929, được xem là giai đoạn hình thành Giai đoạn phát triển là từ 1930 đến 1945 và cuối cùng là từ 1946-1954: giai đoạn tập trung đấu tranh cho độc lập dân tộc Có thể thấy, 2/3 quá trình văn học trong sách này nằm trọn trong nửa đầu thế kỷ XX (1900-1945), nhưng các tác giả lại lồng vào các giai đoạn phát triển khác nhau của dòng văn học chứ không tách riêng như các công trình trước đó Theo các tác giả, văn học ở Nam Bộ có sự khởi đầu và quá trình vận động riêng, không hoàn toàn trùng khớp với dòng văn học ở miền Bắc vẫn
Trang 21được tập trung nghiên cứu từ trước đến giờ Ở mỗi giai đoạn, các tác giả đưa ra nhiều cứ liệu nghiên cứu mới, khai thác một cách toàn diện các vấn đề thuộc mảng nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Cuối mỗi giai đoạn đều có tổng kết những thành tựu trong giai đoạn đó Chẳng hạn như giai đoạn 1865-1912, “hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học quốc ngữ ở Nam Bộ mang tính phôi thai” (tr 65) Còn giai đoạn từ 1913-1929 đã “góp phần đặt nền móng để chuẩn bị cho một bước ngoặt diễn ra rất gần, sau đó” (tr 112) Giai đoạn 1930-1945 “là giai đoạn phát triển, tư liệu về nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học giai đoạn này hết sức phong phú […] qua các trang viết cũng hiểu được những thao thức, băn khoăn, lo
âu, hào hứng của người cầm bút Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung cũng như mối quan hệ chặt chẽ giữa tiếp nhận và sáng tác” (tr 179) Riêng về giai đoạn cuối cùng trong thời kỳ này, nhà nghiên cứu cho rằng đây là một giai đoạn hết sức đặc biệt: “Về lý luận, lý thuyết Marxist ngày càng được công khai quảng bá, các nghiên cứu, phê bình cũng chú ý đặc biệt đến tính thực tiễn và tính giai cấp trong văn học […] dù vậy các xu hướng khác vẫn tồn tại và đối thoại một cách ôn hòa, khoa học” (tr 242) Lưu ý rằng, đây là những nhận định tổng kết về một giai đoạn văn học của riêng khu vực Nam Bộ nhưng vẫn có giá trị nếu xét rộng ra toàn bộ nền văn học (ví dụ như trong 2 giai đoạn đầu, tức là từ 1865-1929 và một phần của giai đoạn 1945-1954) Có được điều đó là bởi tính chất tiên phong của Nam Bộ trong sự
ra đời một số phương diện và lĩnh vực trong đời sống văn học như chữ quốc ngữ, báo chí quốc ngữ, tiểu thuyết, Thơ mới… Sau khi đi qua hết các giai đoạn, ở chương 6 và chương 7 nhà nghiên cứu bàn sâu hai vấn đề: 1 Kế thừa di sản văn học dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn học thế giới; 2 Xu hướng, đặc điểm, thành tựu, hạn chế của hoạt đông nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở Nam Bộ thời kỳ 1865-
1954 Đây là 2 chương thể hiện rõ ràng nhất những đúc kết của người nghiên cứu khi tiếp cận bộ phận văn học ở vùng đất này Nếu các chương trước đóng góp nhiều
về phương diện minh định các vấn đề văn học bằng tư liệu thì 2 chương sau có đóng góp sâu ở phương diện nghiên cứu lý luận Ở phần 2 của cuốn sách, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu, đánh giá kỹ 27 tác giả, trong đó có những tác giả được đánh giá lại gồm Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Hồ Biểu Chánh, Phan Khôi, Nguyễn An Ninh, Trần Huy Liệu, Phan Văn Hùm, Ngạc Xuyện Ca Văn Thỉnh, Đông Hồ, Thiếu Sơn Có những tác giả lần đầu được nghiên cứu, đánh giá một cách công phu, bài bản như Lê Thọ Xuân, Nguyễn Duy Cần, Trúc Hà, Lê Văn Hòe, Hồ Hữu Tường, Thiên Giang Trần Kim Bảng, Lê Tràng Kiều, Thê Húc Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Thị Kiêm, Kiều Thanh Quế, Tam Ích, Dương Tử Giang, Lưu Quý Kỳ, Triều Sơn, Thẩm Thệ Hà và Hoàng Hạ Huệ Tất nhiên, đó đều là những
Trang 22gương mặt có đóng góp nổi bật cho nền nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở Nam Bộ thời kỳ 1865-1954
Ngoài các công trình được xuất bản như đã trình bày ở trên, còn có một số nghiên cứu ở dạng công trình luận văn, luận án cũng nghiên cứu tổng quát về hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Một trong
số đó là luận án của Dương Thu Thủy (2010) với đề tài “Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” Không đi trên bình diện lịch sử mà đi vào nghiên cứu sự vận động bên trong hoạt động nghiên cứu văn học
giai đoạn này, luận án đi vào ba vấn đề chính: 1 Những tiền đề cơ bản của quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam, 2 Những chặng đường phát triển của hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, 3 Những đổi mới về phương pháp nghiên cứu Đi vào nội dung chính, luận án có sự
tổng lược khá đầy đủ các công trình nghiên cứu văn học qua 2 giai đoạn: 1900-1930
và 1930-1945 Nghiên cứu quá trình hiện đại hóa nghiên cứu văn học trên phương diện đổi mới phương pháp nghiên cứu, tác giả luận án ghi nhận có 5 phương pháp trong thời kỳ đó bao gồm: phương pháp so sánh, phương pháp trực giác, phương pháp xã hội học, phương pháp tiểu sử và phương pháp xã hội học Marxist Như vậy, luận án đã có sự bao quát về bộ phận nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX Nhưng vì chỉ khái quát ở góc độ tác phẩm và phương pháp nghiên cứu nên công trình vẫn còn thiếu một số phương diện như việc hình thành một số khái niệm, đặc trưng văn học theo quan điểm của giai đoạn đó, bình diện tiếp nhận lý thuyết văn học phương Tây, bình diện giao thoa và chuyển đổi hệ hình nghiên cứu, … Ngoài ra, luận án cũng chỉ tập trung vào bình diện nghiên cứu mà chưa đi vào bộ phận phê bình
1.1.1.3 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo sự tiếp cận còn hạn chế của chúng tôi (chủ yếu qua công cụ internet), các nghiên cứu về đời sống nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học giai đoạn 1900-
1945 ở hải ngoại rất ít ỏi (nếu có nghiên cứu về giai đoạn này, các tác giả cũng chỉ tập trung vào hoạt động sáng tác) Nguyên nhân khách quan của vấn đề này có thể
do sự hạn chế về mặt tư liệu, vì đây là giai đoạn trước khi diễn ra các biến cố lịch sử lớn lao của đất nước Hơn nữa các vấn đề trong đời sống lý luận - phê bình văn học Việt Nam trước 1945 đã được các nhà nghiên cứu ở miền Nam thời kỳ 1954-1975 tìm hiểu nên không thu hút hoặc không đòi hỏi phải có thêm những công trình nghiên cứu khác chăng? Mặt khác, theo chúng tôi nhận thấy, các nghiên cứu của người Việt ở hải ngoại thường “ưu ái” cho bộ phận sáng tác văn học quốc ngữ ở Nam Bộ (trước 1945 gọi là Nam Kỳ) hơn Liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên
Trang 23cứu của luận án, chúng tôi nhận thấy chỉ có hai tác giả có công trình/ bài viết nghiên cứu vấn đề này là Nguyễn Vy Khanh với bài “Miền Nam khai phóng” (1999) và
Huỳnh Ái Tông với công trình Văn học miền Nam 1623-1954 (2014)
Trong bài viết “Miền Nam khai phóng” (1999), Nguyễn Vy Khanh đã dành một phần ngắn nói đến bộ phận biên khảo nhưng chỉ ghi nhận các công trình và tên tuổi thuộc giai đoạn đầu của nền văn học chữ quốc ngữ, tức là những thập niên cuối
của thế kỷ XIX (bao gồm Đại Nam Quốc âm tự vị (1895), Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn (1897), Ca trù thể cách (1907) của Huỳnh Tịnh Paulus Của, Thi pháp nhập môn (1898) của Trương Minh Ký, Quốc âm thi hiệp tuyển của Lê Quang Chiểu, Việt âm thi hợp tuyển của Lê Sum…) Sang nửa đầu thế kỷ XX tác giả không nói
tới
Cuốn Văn học miền Nam 1623-1954 (2014) của Huỳnh Ái Tông là một công
trình dài hơi, nội dung đề cập đến tiến trình văn học qua nhiều thế kỷ Trong cuốn sách này, tác giả đã dành một phần (tiết 9 của chương 6) ghi nhận bộ phận khảo cứu, phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX Trong phần này, tác giả không khảo sát trên bình diện lý thuyết mà trực tiếp ghi nhận các gương mặt khảo cứu, phê bình ở miền Nam giai đoạn này gồm có Thuần Phong, Khuông Việt, Ca Văn Thỉnh, Thiếu Sơn và Lê Ngọc Trụ
Như vậy, nhìn trên tổng thể, hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Qua mỗi giai đoạn, những chuyên luận có sự bổ sung cho nhau, góp phần làm sáng rõ thêm nhiều vấn đề Tuy nhiên sự nghiên cứu này không mang tính chất tô đậm, kế thừa
mà là những công trình/ bài viết theo hướng nghiên cứu từng bộ phận, khi đặt cạnh nhau sẽ góp phần bổ khuyết cho nhau ít nhiều Giai đoạn trước 1945, những nghiên cứu còn sơ lược, chủ yếu mang tính tổng kết từng giai đoạn nhỏ nên còn rời rạc và giản lược Nguyên nhân của nó là do chưa có độ lùi về mặt thời gian, mọi thứ còn đang vận động và thay đổi không ngừng Phải đến giai đoạn 1954-1975, hoạt động nghiên cứu văn học mới đi vào hệ thống Cùng với đó là những công trình lớn, có giá trị không chỉ về mặt nhận định mà còn về mặt tư liệu Những công trình này giúp lưu lại nhiều dữ kiện về tư liệu văn học quý giá, phục vụ cho ngành nghiên cứu văn học cho cả giai đoạn sau Tuy nhiên, hạn chế của nó là vẫn chưa được chuyên sâu trong việc phân tích, đánh giá vấn đề Các công trình của Thanh Lãng thì có sự
đồ sộ nếu xét trên phương diện hệ vấn đề được tập hợp; công trình của Phạm Thế Ngũ thì không chuyên vào mảng phê bình văn học nên chưa dành nhiều dung lượng cho vấn đề này Công trình của Nguyễn Văn Trung có đóng góp về mặt lý luận văn học nhưng sự phân chia khuynh hướng còn nhiều điểm cần xem lại Chỉ đến sau
Trang 241975, các nhà nghiên cứu mới có điều kiện chia nhỏ vấn đề ra để nghiên cứu Chuyên luận của Nguyễn Thị Thanh Xuân (2004) thì tập trung vào mảng phê bình văn học giai đoạn 1900-1945, còn chuyên luận của Trần Mạnh Tiến tập trung cả lý
luận, phê bình văn học giai đoạn 1900-1930 Công trình Nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học ở Nam Bộ thời kỳ 1865-1954 do Nguyễn Thị Thanh Xuân chủ biên
(2018) thì lại bao quát cả mảng nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học của giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX nhưng về phạm vi thì chỉ tập trung ở Nam Bộ Mỗi công trình đóng góp một mảng khác nhau, và vì hầu hết tác giả các cuốn sách đều cố gắng tái hiện những bức tranh tổng thể, có tính khái quát nên một
số tên tuổi các nhà phê bình, khảo cứu văn học chỉ được đề cập lướt qua cùng những bài viết của họ trên các báo và tạp chí Sau những công trình mang tính khái quát ấy, công việc còn lại của những người nghiên cứu sau là tiếp tục hoàn thiện, làm đầy đặn hơn bức tranh văn học Việt Nam bằng những nghiên cứu cụ thể về từng cá nhân, từng trường hợp trong đời sống văn học Vì thế, việc đi sâu nghiên cứu từng tác giả, đặc biệt là những tác giả đã từng bị lãng quên hoặc bị che khuất bởi lớp bụi thời gian là một trọng trách của những người nghiên cứu sau này, trong
đó có tác giả luận án
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về Kiều Thanh Quế
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu tiểu sử Kiều Thanh Quế
Kiều Thanh Quế là một cây bút nghiên cứu và phê bình văn học người Nam
Bộ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Các tác phẩm của ông ra đời trong khoảng thời gian cuối thập kỷ thứ ba, đầu thập kỷ thứ tư của thế kỷ trước Tên ông vẫn thường được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu văn học mang tính tổng quát về lịch trình văn học nửa đầu thế kỷ XX Tuy nhiên có khá ít người quan tâm đến cuộc đời ông
Trước 1975 chỉ có Bằng Giang trong cuốn Mảnh vụn văn học sử (1974) có
đề cập đến cuộc đời Kiều Thanh Quế qua bài viết mang tên “Kiều Thanh Quế và
Nguyễn Văn Hai với quyển Thi hào Tagore (1943)” Trong bài viết, Bằng Giang
trình bày về tiểu sử của Kiều Thanh Quế như sau:
Họ Kiều nguyên là người tỉnh Bà Rịa (nay là Phước Tuy), chào đời năm 1914 Năm
1940, ông còn tuổi thanh niên máu nóng, dám gây gổ với tên xếp chợ người Ấn có quốc tịch Pháp Sau vụ đó, Kiều Thanh Quế bị nhà cầm quyền thuộc địa cưỡng bách lưu trú ở Cần Thơ […] Năm 1942, ông K.T.Q được miễn cưỡng bách lưu trú
ở Cần Thơ và về Sài Gòn
Trang 25Mùa thu năm 1945, cách mạng bùng nổ […] K.T.Q là một trong những người ra đi
đó Vào khoảng cuối năm 1947 ông mất tích luôn” (tr 176 - 178)
Ở những dòng ghi chép trên, Bằng Giang đã hé lộ cho chúng ta một chi tiết
là Kiều Thanh Quế “mất tích” năm 1947 chứ không khẳng định đó là năm mất của nhà văn Theo ông, đó cũng chỉ là một trong những trường hợp “biến mất” đột ngột trên văn đàn, có thể vì một lý do mang tính lịch sử
Trong vòng 20 năm đầu sau ngày thống nhất đất nước, các công trình biên soạn về lịch sử văn học và lịch sử phê bình văn học không nhắc đến Kiều Thanh
Quế Chỉ có một số ít công trình viết về các vấn đề riêng lẻ như Nhà văn phê bình: Khảo cứu văn học Việt Nam thời kỳ 1932-1945 của Mộng Bình Sơn và Đào Đức
Chương chủ biên (tái bản 1996?) (3) có viết về nhà phê bình văn học Nam Bộ này Phần tiểu sử Kiều Thanh Quế được viết khá sơ lược, một số chi tiết về năm sinh, năm mất, bút danh và các mốc thời gian chính người viết hầu như giữ nguyên
những thông tin đã được Bằng Giang công bố Năm 1997, trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q Thắng và Nguyễn Bá Thế có mục từ về Kiều Thanh Quế Đến năm 1999, sách Từ điển tác gia Việt Nam của Nguyễn Q Thắng
cũng có mục dành cho tác giả này, nhưng trong đó, tiểu sử của Kiều Thanh Quế được người biên soạn giới thiệu khá sơ lược, không có thông tin nào mới Từ năm
2000 trở đi, cái tên Kiều Thanh Quế mới được chú ý và nhắc đến nhiều hơn Đặc biệt, đã có nhiều thông tin khác nhau về tiểu sử và cuộc đời của tác giả này
Trong cuốn Một số nhân vật lịch sử Bà Rịa – Vũng Tàu (2000) của Hồ Song
Huỳnh, cuộc đời và sự nghiệp Kiều Thanh Quế được ghi chép khá tỉ mỉ qua bài viết
Kiều Thanh Quế - Nhà nghiên cứu văn học Bài viết mở đầu bằng các chi tiết tiểu
sử Kiều Thanh Quế như sau:
Kiều Thanh Quế sinh năm Giáp Dần (1914) quê cha ở làng Hắc Lăng (nay Tam
An, huyện Long Đất, quê mẹ ở làng Long Hương thị xã Bà Rịa Ông từng viết tiểu thuyết và phê bình văn học với các bút danh: Tô Kiều Phương, Mộc Khuê, Quế Lang, Nguyễn Văn Hai… Thuở nhỏ, Kiều Thanh Quế học tại Bà Rịa, sau đó ông lên Sài Gòn học ở trường Pétrus Ký và tham gia vào các tổ chức yêu nước Sau khi lấy bằng thành chung, Kiều Thanh Quế dạy học ở trường Nguyễn Văn Khuê (Sài Gòn)
3 Có ý kiến cho rằng cuốn sách này đã được xuất bản trước 1975, nhưng chúng tôi không tiếp cận được bản này, chúng tôi chỉ có bản in năm 1996 nên trong luận án này chúng tôi sẽ trình bày theo những tư liệu chúng
Trang 26Năm 1940 Kiều Thanh Quế gây với tên xếp chợ người Ấn có quốc tịch Pháp, nhân
vụ này ông bị thực dân Pháp cưỡng bức lưu trú tại Bà Rá, sau đó chuyển về Cần Thơ Trong thời gian này, ông quen thân với nhóm trí thức trong Hội Khuyến học
Cần Thơ Ở đây ông viết quyển Thi hào Tagore với bút danh Nguyễn Văn Hai (tên
một người bạn ở Cần Thơ)
Năm 1942, ông được miễn cưỡng bức lưu trú và về sống tại Sài Gòn Trong thời gian này ông viết một số sách nghiên cứu có giá trị Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, rồi thực dân Pháp tái chiếm, Kiều Thanh Quế về Bà Rịa và tham gia trong đoàn người lên đường kháng chiến Ông mất vào cuối tháng 4 năm 1948 lúc mới 34 tuổi, chưa lập gia đình” (tr 99-100)
So với thông tin đã có trước đây, bài viết này nêu chi tiết hơn và đã cung cấp một dữ kiện khác về năm mất của Kiều Thanh Quế
Trong Chân dung văn học (2001) của Hoài Anh có bài viết về Kiều Thanh
Quế với tựa đề: “Kiều Thanh Quế, nhà phê bình văn học hiếm có của Nam Bộ” Trong mục tiểu sử, Hoài Anh ghi Kiều Thanh Quế sinh năm 1919 (tr 923)
Hai năm sau, báo Văn nghệ trẻ, số 8 và số 9 (ra ngày 20-3-2003 và
27-3-2003) đăng bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Mẫn về Kiều Thanh Quế có nhan đề: “Kiều Thanh Quế - Một nỗi oan khuất” và “Kiều Thanh Quế - Trăng buồn lại sáng” Hai bài viết này đã cung cấp khá nhiều thông tin về cuộc đời và sự nghiệp nhà phê bình họ Kiều Được biết, nhà nghiên cứu Nguyễn Mẫn chính là con của nhà văn Nguyễn Bảo Hóa, một người bạn rất thân của Kiều Thanh Quế lúc sinh thời, cùng quê hương Bà Rịa Sau này, vì cảm thương số phận bạn mình Nguyễn Bảo Hóa đã thay đổi bút danh thành Tô Nguyệt Đình (nhà văn lấy chữ “Tô” từ trong bút danh Tô Kiều Phương của Kiều Thanh Quế) Từ những tài liệu của ông thân sinh để lại, Nguyễn Mẫn đã có nhiều thông tin liên quan đến cuộc đời của Kiều Thanh Quế Trong bài “Kiều Thanh Quế - Một nỗi oan khuất”, Nguyễn Mẫn nêu dữ kiện về ngày mất của Kiều Thanh Quế như sau:
Bất ngờ, ngày 7-4-1948, một nỗi oan khuất đã cắt đứt sinh mạng nhà phê bình giữa tuổi ngoài ba mươi sung mãn Cái chết bất ngờ khiến cho Kiều Thanh Quế chưa kịp hoàn thành ước nguyện văn chương của mình (tr 15)
Nhưng đó chỉ mới là những hé lộ ngắn về cuộc đời Kiều Thanh Quế Đến bài
“Kiều Thanh Quế - Trăng buồn lại sáng”, tác giả mới ghi lại cuộc đời hoạt động Cách mạng cùng nỗi oan của Kiều Thanh Quế đã bị lớp bụi thời gian che phủ mấy
Trang 27mươi năm Ông cho biết Kiều Thanh Quế không chỉ là một nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học mà còn là một người nhà hoạt động cách mạng Nhưng trong tình thế nhiễu nhương của lịch sử, ông đã bị người khác vu hại Nguyễn Mẫn cho biết, tháng 8-1991, Đồng Nai đã tổ chức một cuộc hội thảo có sự tham gia của các
nhân chứng năm xưa để làm sáng tỏ vấn đề Trong Lịch sử công an nhân dân Đồng Nai (1992) ghi nhận Trưởng Ty Huỳnh Công Vinh, chỉ huy trưởng Đoàn Hồng Tâm
và nhà văn Kiều Thanh Quế đều được công nhận là “cán bộ cách mạng” (như trích dẫn ở Nguyễn Mẫn, 2003b, tr 15)
Trong Từ điển văn học (bộ mới) (2004), mục Kiều Thanh Quế do Nguyễn Huệ Chi biên soạn, rồi bộ Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (2005), tập 2 của tác
giả Nguyễn Q Thắng, tiểu sử của Kiều Thanh Quế vẫn không có thay đổi gì mới so với các cuốn sách đã công bố trước đó
Năm 2009, công trình đầu tiên sưu tầm biên soạn về cuộc đời và tác phẩm
của Kiều Thanh Quế được xuất bản có tên Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam – tuyển tập khảo cứu, phê bình do Nguyễn Hữu Sơn, Phan Mạnh Hùng biên soạn Trong
công trình này, phần tiểu sử và cuộc đời của Kiều Thanh Quế được người biên soạn
kế thừa, tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn tài liệu nên khá đầy đủ Tuy nhiên, về năm mất của Kiều Thanh Quế, người viết vẫn chọn dữ kiện là năm 1947 và ghi chú
là thông tin do ông Kiều Nguyên Trung, em ruột nhà nghiên cứu Kiều Thanh Quế cung cấp (tr 3)
Cuối năm 2019, Ban tuyên giáo Tỉnh Ủy Bà Rịa – Vũng Tàu đứng ra tổ chức Hội thảo “Về thân thế, sự nghiệp văn học của nhà văn, chiến sĩ Kiều Thanh Quế” Trong số 30 bài tham luận tham gia trong Hội thảo có 3 tham luận góp phần cung cấp thông tin, làm rõ thêm về tiểu sử, cuộc đời hoạt động của Kiều Thanh Quế Bài
“Một số vấn đề liên quan đến tiểu sử Kiều Thanh Quế” của Trần Thị Mỹ Hiền bổ khuyết một số thông tin về thân thế, những năm tháng tuổi thơ và làm rõ năm mất của ông thông qua con đường tiếp xúc với gia đình cũng như đối chiếu với các nguồn tài liệu tin cậy có liên quan Bằng các cứ liệu lịch sử và cá nhân, bài viết xác định Kiều Thanh Quế mất ngày 7.4.1948 (tức ngày 28.2 Al) Tham luận thứ hai do Công an Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thực hiện có tên “Nhà văn Cách mạng Kiều Thanh Quế nhìn từ sự kiện về việc giải tán ty Công an, Quốc vệ đội Bà Rịa năm 1948” Thông qua các nguồn tài liệu về phía lịch sử, cộng với các tư liệu có tính chuyên biệt (tài liệu mật) của ngành Công an, bài viết góp phần làm sáng tỏ nhiều
Trang 28vấn đề mà trước giờ chưa có bài viết nào công bố Nguyên nhân vì sao có vụ án oan sai về Quốc vệ đội Bà Rịa, bài viết cung cấp thông tin như sau:
Việc giải giáp Ty Công an Bà Rịa, tước khí giới Quốc vệ đội và bắt giữ hàng trăm chiến sĩ lực lượng Công an cùng với những người có quan hệ với Ty Công an và Quốc vệ đội đều nằm trong sự sắp đặt của Chỉ huy trưởng Chi đội 7 Bình Xuyên là Mai Văn Vĩnh Lúc đầu Mai Văn Vĩnh lấy lý do là do sự xung đột giữa Đảng Dân chủ chiếm đa số trong Ty Công an với Đảng Cộng sản giành quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang, sau đó là thực hiện theo lệnh của Trung tướng Nguyễn Bình và cuối cùng lộ rõ bản chất sự việc Đó là do uy danh của Ty Công an và Quốc vệ đội ảnh hưởng sâu sắc trong nhân dân, lại được giữ nòng cốt của lực lượng vũ trang Bà Rịa, chịu trách nhiệm chống càn, bảo vệ cơ quan lãnh đạo kháng chiến và Tỉnh ủy Những chiến sĩ của lực lượng Công an ăn mặc chỉnh tề, trang bị đầy đủ, kỷ luật nghiêm minh, trung thành với Đảng Lãnh đạo Ty Công an và Chỉ huy Quốc vệ đội
có phong cách và khẳng khái mà những người của Chi đội 7 cho là coi thường họ, lại được ký giả, nhà văn ca ngợi, góp phần gây ảnh hưởng mà lan truyền tiếng tốt trong nhân dân nên Mai Văn Vĩnh đã tạo chứng cứ giả, lợi dụng sự mất cảnh giác của tướng Nguyễn Bình để thực hiện âm mưu xóa sổ Ty Công an Bà Rịa, tịch thu khí giới để trang bị cho Chi đội 7 của mình, đặc biệt là thủ tiêu những người được coi là coi thường mình” (tr 160)
Về lý do vì sao Kiều Thanh Quế lại bị liên hệ trong vụ án của Quốc vệ đội
Bà Rịa, bài viết cho biết:
Kiều Thanh Quế bị lôi theo vụ án và bị thủ tiêu bởi vì ông là một ký giả có sự gắn
bó mật thiết với Quốc vệ đội, giúp Đỗ Phước Tĩnh ra được tờ báo “Đỏ” tại thời điểm Tỉnh Đảng Bộ Bà Rịa – Vũng Tàu mới thành lập, đồng thời viết bài ca ngợi chiến công của Quốc vệ đội, đồng nghĩa hạ thấp vai trò và uy tín của các lực lượng
vũ trang khác” (tr 161)
Bài viết còn cung cấp thêm:
Qua ý kiến tranh luận tại các cuộc hội thảo để minh oan cho Ty Công an Bà Rịa, Kiều Thanh Quế nằm trong đối tượng phải thủ tiêu mà không qua xét xử cho thấy vai trò chính trị và thành tích kháng chiến của Kiều Thanh Quế tương đương với Huỳnh Công Vinh và Đoàn Hồng Tâm Chính vì giải quyết vụ án sai nguyên tắc này mà những tài liệu của Ty Công an Bà Rịa, những di sản văn hóa của Kiều Thanh Quế phục vụ cho kháng chiến cũng bị thủ tiêu hoặc thất lạc” (tr 161)
Trang 29Tham luận thứ ba nói về cuộc đời Kiều Thanh Quế có tên “Bước đầu tìm hiểu về cuộc đời của nhà phê bình văn học Kiều Thanh Quế” của Nguyễn Xuân Hồng Bài viết cung cấp thêm một số thông tin về nhân thân của Kiều Thanh Quế, còn về tiểu sử và cuộc đời thì không có thông tin gì mới
Như vậy, cho đến hiện tại, vấn đề về cuộc đời của Kiều Thanh Quế đã được nhiều người quan tâm, tìm hiểu và góp phần làm sáng tỏ
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu văn bản tác phẩm của Kiều Thanh Quế
Lúc sinh thời, Kiều Thanh Quế đã được đánh giá là một trong những cây bút viết khỏe Phần lớn sách của ông do nhà xuất bản Tân Việt phát hành Theo thông
tin quảng cáo ghi trong bìa lót cuốn sách Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam, NXB Tân Việt, 1943, thì đến năm này, Kiều Thanh Quế đã xuất bản những cuốn sau: Hai mươi tuổi (tiểu thuyết), Đứa con của tội ác (tiểu thuyết), Phê bình văn học (tập 1), Một ngày của Tolstoi, Ba mươi năm văn học, Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam Trong lời quảng cáo của nhà xuất bản còn ghi rằng sẽ tiếp tục xuất bản: Phê bình văn học (tập 2), Thi hào Tagore, Học thuyết Freud, Văn học bình luận (Vườn
phương thảo)
Ngoài ra, trên bìa tờ Học sanh đặc biệt, tờ báo ra đời nhân dịp khai trương
nhà sách Phượng Hoàng tại Sài Gòn – Chợ Lớn, cũng quảng cáo thêm một số tác
phẩm của Kiều Thanh Quế đã và sắp phát hành gồm: Nam-mô A-di-đà Phật, Công nương Cần Thơ, Giấc hương quan, Văn học quốc ngữ, Văn học Việt Nam Căn cứ
vào thông tin đó thì tính đến 1943, Kiều Thanh Quế có ít nhất 15 tác phẩm đã và sắp được công bố
Trong bài “Vì yêu chân lý” đăng trên Tri Tân, số 142, tháng 5 năm 1944 chính Kiều Thanh Quế cho biết có tự xuất bản quyển Xuân phong văn tập vào đầu
năm 1944 (Tết Giáp Thân) Đó là những tư liệu giúp ta có cái nhìn bao quát về di sản tác phẩm của Kiều Thanh Quế Tuy nhiên, những tác phẩm ấy có thật sự được xuất bản đầy đủ không thì đương thời chưa có tài liệu nào nói rõ
Sau này, nhà nghiên cứu Bằng Giang trong Mảnh vụn văn học sử (1974) có
làm công việc thống kê lại các tác phẩm của Kiều Thanh Quế Theo đó, ông liệt kê
ra 9 tác phẩm bao gồm: Hai mươi tuổi (1940), Ba mươi năm văn học (1942), Phê bình văn học (1942), Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (1943), Đàn bà và nhà văn (1943), Học thuyết Freud (1943, ký tên Tô Kiều Phương), Thi hào Tagore (1943,
ký tên Nguyễn Văn Hai), Cuộc vận động cứu nước trong Việt Nam vong quốc sử
Trang 30(1945), Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa tả thiệt xã hội (1945) (tr 176) Như vậy,
ngoài các cuốn sách đã được xác định từ trước 1945, Bằng Giang bổ sung thêm 3
quyển: Đàn bà và nhà văn (1943), Cuộc vận động cứu nước trong Việt Nam vong quốc sử (1945), Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa tả thiệt xã hội (1945) Tác giả còn cho biết phần lớn sách trên đều do Tân Việt xuất bản ở Hà Nội Song, ta không thấy ông đề cập đến các cuốn Một ngày của Tolsoy, Nam-mô A-di-đà Phật, Công nương Cần Thơ, Giấc hương quan, Văn học quốc ngữ, Văn học Việt Nam
Sau này, trong các cuốn Nhà văn và phê bình (1996) của Mộng Bình Sơn, Đào Đức Chương, sách Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (1997) của Nguyễn Q Thắng và Nguyễn Bá Thế và sách Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (tập 2) (2007) của Nguyễn Q Thắng, cuốn Một số nhân vật lịch sử Bà Rịa Vũng Tàu (2000) của Hồ Song Huỳnh, Từ điển văn học (bộ mới) (2005) đều ghi lại số tác
phẩm như công bố của Bằng Giang năm 1974
Trong khi đó, cuốn Phê bình văn học (Sưu tập tư liệu trên tạp chí Tri Tân) (1999) của Trịnh Bá Đĩnh và Nguyễn Hữu Sơn thì bổ sung 5 cuốn: Trần Hưng Đạo, Quốc văn thời Tây Sơn, Hồ Xuân Hương – nhà thơ cách mạng, Lịch sử xã hội Việt Nam, Lý Văn Phức Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, đây có lẽ là một sự sai
sót của người biên tập sách, vì thực tế cả 5 tác phẩm này đều của Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm và cũng được nêu trong danh mục tác phẩm của tác giả này trong sách
này Còn trong Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (2009) do Nguyễn Hữu Sơn và Phan Mạnh Hùng biên soạn thì có nêu thêm cuốn truyện dịch Nam-mô A-di-đà Phật (1941), Một ngày của Tolstoi (1942) Cũng trong sách này, từ trang 210 - 260 có in thêm cuốn Luận tùng gồm 2 phần: Phần 1 Văn tâm; phần 2 Triết lý và một phần
phụ là bổ di, phụ lục gồm nhiều bài trao đổi văn chương Qua tìm hiểu thì đây cũng
là một sự nhầm lẫn của người biên tập sách, vì Luận tùng là tác phẩm của Phan Văn Hùm, và Kiều Thanh Quế cũng đã từng phê bình cuốn Luận tùng của Phan Văn Hùm, đăng bài trên tạp chí Tri Tân
Gần đây nhất, năm 2021, Tỉnh Ủy Bà Rịa – Vũng Tàu phối hợp với ban biên soạn (Nguyễn Hữu Sơn và Phan Mạnh Hùng) và Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
TP Hồ Chí Minh cho xuất bản bộ sách Tuyển tập tác phẩm Kiều Thanh Quế (2 tập)
nhằm ghi nhận, lưu giữ những trước tác quý báu của tác giả này Đây là công trình biên soạn hoàn chỉnh nhất về tác phẩm Kiều Thanh Quế được công bố cho đến thời điểm này, mặc dù vẫn còn một số tác phẩm/ bài viết nhóm biên soạn chưa thể tiếp cận
Trang 31Trên đây là nói về phần sách đã xuất bản của Kiều Thanh Quế Còn về các bài nghiên cứu, phê bình văn học của Kiều Thanh Quế trên báo và tạp chí thì hầu
hết các tài liệu đều ghi nhận ông là cây bút đắc lực cho tạp chí Tri Tân Đó là ghi nhận của Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên), Bằng Giang (Mảnh vụn văn học sử), Hoài Anh (Chân dung văn học), Trịnh Bá Đĩnh và Nguyễn Hữu Sơn (Phê bình văn học trên tạp chí Tri Tân) Sách Từ điển văn học (bộ mới), mục Kiều Thanh Quế do Nguyễn Huệ Chi biên soạn thì bổ sung thêm tạp chí Thanh Nghị Tuy nhiên khi chúng tôi tiếp cận tạp chí Thanh Nghị thì không thấy bài của Kiều Thanh Quế Nguyễn Mẫn trong bài Kiều Thanh Quế - Một nỗi oan khuất thì cho biết nhà phê bình này có đăng tiểu thuyết trên Tiểu thuyết thứ bảy và tạp chí Tri Tân, viết bài nghiên cứu văn học cho báo Mai (1935-1939) của Đào Trinh Nhất, rồi Văn Lang tuần báo của Huỳnh Văn Đơn Cũng theo Nguyễn Mẫn, năm 1942, Kiều Thanh Quế có tham gia Nam Kỳ tuần báo và Đại Việt tập chí Trong cuốn Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam do Nguyễn Hữu Sơn và Phan Mạnh Hùng biên soạn thì ghi thêm các tờ Tin điện Sài Gòn, Đông Dương tuần báo và Độc lập Hiện tại chúng tôi
chưa có điều kiện tiếp cận 5 tờ báo trên nên chưa thể xác minh lại thông tin này
Về việc thống kê tác phẩm đăng trên báo/ tạp chí của Kiều Thanh Quế chúng tôi thấy có 4 công trình sau:
1 Phê bình văn học (Sưu tập tư liệu trên tạp chí Tri Tân) (1999) do
Trịnh Bá Đĩnh và Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm, biên soạn, thống kê được 18 bài nghiên cứu, phê bình văn học
5) (2008) do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên thống kê được 15 bài nghiên cứu, phê
bình văn học trên tạp chí Tri Tân
Mạnh Hùng sưu tầm và biên soạn được 44 bài nghiên cứu, phê bình văn học của Kiều Thanh Quế đăng trên hai tờ Mai và Tri Tân
Vũng Tàu phối hợp Nguyễn Hữu Sơn, Phan Mạnh Hùng sưu tầm và biên soạn được
44 bài nghiên cứu, phê bình văn học của Kiều Thanh Quế đăng trên hai tờ Mai và Tri Tân
Trang 32Như vậy, về thống kê tác phẩm của Kiều Thanh Quế trên tạp chí, công trình của do Tỉnh Ủy Bà Rịa – Vũng Tàu phối hợp Nguyễn Hữu Sơn, Phan Mạnh Hùng sưu tầm và biên soạn có phần đầy đủ và chính xác về văn liệu hơn
1.1.2.3 Tình hình nghiên cứu sự nghiệp văn học của Kiều Thanh Quế
• Trước 1975
Trước 1945, trong sự nhộn nhịp của đời sống nghiên cứu văn học, Kiều
Thanh Quế là một hiện tượng trên báo chí Ông tham gia cộng tác với tạp chí Tri Tân từ năm 1941 đến 1945, đóng góp nhiều bài nghiên cứu, phê bình văn học có giá
trị Sự tham gia ấy được đánh dấu bằng một bài viết liên quan đến sử học trong mục
“Sử học luận đàn” Bài “Quốc sử chép đúng” thực chất là phần trao đổi với ông Lê
Văn Hòe, tác giả cuốn Quốc sử đính ngoa Trong sách, ông Lê Văn Hòe cho rằng
Mị Nương con gái Hùng Vương họ Mị, Mị Châu con gái An Dương Vương họ Mị
Trong bài viết trao đổi lại, Kiều Thanh Quế đã dựa vào tài liệu là sách Dư địa chí và
Sử ký của Tư Mã Thiên để lập luận, cho rằng người Việt và người Âu Lạc đều thuộc
họ Mị Bài này đăng trên Tri Tân số 23, ngày 14 -11-1941 thì đến số 25, ngày
28-11-1941 trên báo có bài viết của Lam Giang tựa đề: “Bàn lại về bài Quốc sử chép đúng” Dưới góc độ lập luận cá nhân, tác giả bài viết cho rằng Kiều Thanh Quế không nên “quá tin một đoạn sách Tàu mà viết quyết đoán như vậy” (tr.4) Kế đến,
trên Tri Tân số 29, ngày 26-12-1941 đã có bài đáp lại của học giả Lê Văn Hòe, tác giả cuốn sách Quốc sử đính ngoa mà Kiều Thanh Quế phê bình Theo đó, học giả
nêu ra hai quan điểm: Thứ nhất, “Tư Mã Thiên là một sử gia sinh vào thời vua Hán Văn đế, nghĩa là ngang với thời Triệu Đà, tức là sau Hùng Vương những 2000 năm Không những cách nhau về thời gian xa như vậy, mà về không gian cũng chẳng gần
gì” Vì thế không nên quá tin vào sách Sử ký chép về thời kỳ ấy Thứ hai, Kiều
Thanh Quế bị mâu thuẫn trong bài viết của mình Nguyên văn lời ấy như sau:
Nhận rằng Tư Mã Thiên chép đúng tức là bảo rằng Quốc sử chép lầm Vì Quốc sử chép họ các vua Hùng Vương (hay Lạc Vương) là họ Hồng Bàng; họ An Dương Vương là kẻ xâm lược nước Văn Lang là họ Thục, chứ không chép là họ Mị Con trai vua Hùng Vương gọi là Quan Lang chứ không phải là Mị Lang Và dòng dõi Hùng Vương cùng dân Việt sau này cũng không có ai là người họ Mị
Như vậy, thì một là cho rằng Quốc sử chép lầm và nhận Tư Mã Thiên chép đúng; hai là phải bảo Tư Mã Thiên chép lầm và nhận rằng Quốc sử chép đúng Đằng này,
Trang 33ông Kiều Thanh Quế lại vừa nhận rằng Tư Mã Thiên chép đúng, vừa bảo Quốc sử không lầm Thành ra ông tự phản đối mình (tr.11, 13)
Sau bài viết của Lê Văn Hòe ta không thấy Kiều Thanh Quế nêu thêm ý kiến nào nữa chứng tỏ ông cũng đã nhận thấy cái lầm của mình Tuy vậy, sự khởi đầu ấy
đã không làm ông chùn bước mà sau đó ông vẫn cộng tác đều đặn với Tri Tân bằng
nhiều bài nghiên cứu và phê bình có giá trị
Với văn giới đương thời, Kiều Thanh Quế là một cây bút khỏe, nhạy bén với các hiện tượng văn học trong nước cũng như trên thế giới Năm 1942, Phạm Mạnh
Phan viết một bài giới thiệu cuốn Một ngày của Tolstoy một cách trân trọng trên tạp chí Tri Tân như sau:
Trong tủ sách Gió Tây của Nhà xuất bản Tân Việt mới có một cuốn sách lạ: Một ngày của Tolstoy của ông Kiều Thanh Quế, tác giả cuốn Phê bình văn học Đó là
một cuốn sách mỏng gần ngót trăm trang nói về nhà văn hào Nga Léon Tolstoy (1828-1910), một tâm hồn bí hiểm, giàu lòng bác ái đối với những người nghèo khổ Ở chương Mở đầu, tác giả phác qua cái sự nghiệp văn chương của Tolstoy, một sự nghiệp đã được hầu hết dịch ra các thứ tiếng ngoại quốc Rồi lần lượt tác giả
tả tới cái chân dung quê mùa chất phác với đôi mắt có thiên tài của nhà văn ấy cùng những hành vi tư tưởng trong đời kỳ dị của văn nhân Tolstoy là người thế nào mà
tư tưởng quảng đại bác ái luôn luôn xung đột với gia đình để về sau phải sống một cuộc đời đau khổ, phải hắt hơi thở cuối cùng trên toa xe lửa xa vắng họ hàng thân thích? Ngày thường Tolstoy đã xếp đặt đời mình ra sao và vì lẽ gì trước khi đi ngủ Tolstoy cũng viết vào trang nhật ký ba chữ bí hiểm: N.T.S (Nếu tôi sống?)
Đọc cuốn Một ngày của Tolstoy của ông Kiều Thanh Quế, độc giả sẽ rõ Chẳng
những cuốn sách đó đã phân tích tâm hồn Tolsoy một cách rành mạch, sáng sủa mà đến cách hành văn của ông Kiều Thanh Quế đã tỏ ra mình có một ngòi bút chắc chắn và bay bướm Hai tỉ dụ sau đây chứng cho lời nói đó:
Trang 29: “Khi đến giáp giới cánh rừng, ông chỉ Tolsoy dừng ngựa lại, lặng ngắm cái phút thiêng liêng của mặt trời lên, phút hồi sinh muôn vật của ánh triêu dương chói rạng Trên muôn lá thắm, những mũi tên yến sáng nạm vô vàn hạt ngọc kim cương Con tuấn mã chậm rãi phi nước kiệu”
Trang 43: “Tolstoy kéo dài mãi cuộc đời trong gia đình, ngày này sang ngày khác, kiên tâm yên lặng trong những phẫn nộ âm thầm nhìn vào tận đáy lòng mà so đo,
Trang 34suy xét, hoài nghi, ghi chép Cuộc đời ông là một tù ngục bí mật núp sau những cái tráng lệ huy hoàng” … (Mạnh Phan, 1942, tr.23)
Sau đó, năm 1943, Kiều Thanh Quế cho in chuyên khảo Thi hào Tagore với
bút danh Nguyễn Văn Hai, Phạm Mạnh Phan cũng viết bài giới thiệu trên tạp chí
Tri Tân như sau:
Thi hào Tagore của Nguyễn Văn Hai giá 4$80 do Tân Việt xuất bản Sách dày 400
trang, bìa in hai màu và cách trình bày có màu sắc đặc biệt Á Đông Nội dung cuốn sách chia làm 5 phần: Thời kỳ phục hưng của xứ Bengale – Sự thai nghén một thiên tài- Thơ Tagore – Tư tưởng Tagore – Hòa bình viện Cuối sách thêm mục: Tham khảo thơ loại Sách viết rất công phu và dày công khảo cứu: đáng khen Tác giả đã dùng một phương pháp rành mạch phân tích thơ Tagore để cố hiểu nhà đại thi hào ấy của Ấn Độ Nhiều tài liệu của tác giả phần nhiều chưa ai nói đến bằng quốc văn Tác giả đã đọc nhiều bản dịch thơ Tagore bằng Pháp văn nên thường dẫn chứng để độc giả dễ hiểu Thật là một cuốn sách dày có thể khiến độc giả thấu rõ tâm hồn huyền bí và cao cả của Tagore Chúng tôi xin vui lòng giới thiệu cùng bạn đọc và mong ông Nguyễn Văn Hai sẽ được giới trí thức hoan nghênh” (Mạnh Phan,
Có thể thấy Mạnh Phan là người luôn dõi theo bước đường nghiên cứu của Kiều Thanh Quế Và đương nhiên, không phải vì Phạm Mạnh Phan là thư ký tòa
soạn tạp chí Tri tân (một tạp chí mà Kiều Thanh Quế cộng tác rất thân thiết) mà làm
giảm đi giá trị những lời đánh giá chân thành ấy Ngược lại, ngay khi tác phẩm ra đời mà đã có những lời giới thiệu công phu như vậy đã phần nào cho thấy sự tiếp nhận một cách trân trọng của người đương thời dành cho Kiều Thanh Quế
Trên Đại Việt tập chí, số 32, Ler Février 1944, tác giả Ngọc Nhơn cũng có
một bài tên là “Cuộc phiếm du trong vườn văn học Nam Kỳ năm mới qua”, dành
Trang 35những lời trân trọng khi nói về Kiều Thanh Quế, cũng là muốn đề cập đến những cuốn sách mà ông mới cho xuất bản:
Tôi theo con đường sửa sang vén khéo léo thẳng lên cái nhà lẻ loi kia Vừa lên đến đỉnh đồi, tôi gặp ngay một người trẻ tuổi đứng ngó mông ra ngoài biển Tôi biết là
Kiều Thanh Quế, có lẽ ông đang đón gió bốn phương, tự thành Vienne (Học thuyết Freud) hay tự Ấn Độ (Rabindranah Tagore) hoặc ông đang nghe ngóng phong trào
văn học để điều khiển ngọn bút cho hợp thời Trên đàn văn học Nam Kỳ, ông đã chiếm một địa vị kha khá nhờ hai tai rất thính của ông Chẳng những ông đón tiếp phong trào mau lẹ, ông cũng là một trong những người khơi nguồn những phong
trào ấy Quyển Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam là giai phẩm của văn đàn Nam Kỳ
trong năm vừa qua, và trong những kẻ có chút công phu, tôi không thể nào chẳng
kể tên ông được” (tr.10)
Mặc dù vậy, trong không khí dân chủ của sinh hoạt văn học lúc đó, Kiều Thanh Quế cũng bị xem là có khá nhiều “đụng chạm” bởi lối phê bình thẳng thắn
vốn có của ông Bằng Giang trong Mảnh vụn văn học sử cho biết, có một tờ báo ở
Hà Nội lúc bấy giờ nhại tên ông là “Kiều Thanh Củi” Điều này một phần ngụ ý cho việc Kiều Thanh Quế viết nhiều, cộng với lối phê bình bộc trực, không câu nệ, một phần là nhại bộ “Mộc” chiết tự từ chữ “Quế” trong tên ông Bằng Giang còn cho
biết “Ông cũng là một tác giả bị chỉ trích nhiều nhất trên tờ báo Thanh Niên về nội
dung bài vở và cả về xử thế nữa” (Bằng Giang, 1974, tr 175-176) Về điều này, Kiều Thanh Quếcũng từng thừa nhận và viết hẳn một bài đăng trên Tri Tân để giải thích Trong bài “Vì yêu chân lý”, ông cho biết báo Thanh Niên số 26, ra ngày 26-2-
1944 có làm cho độc giả hiểu lầm rằng ông đánh cắp văn của nhà nghiên cứu Phạm
Thiều để đăng trên tạp chí Tri Tân và in trong cuốn Xuân phong văn tập của ông
Trong bài viết này, Kiều Thanh Quế giải thích đó là một sự hiểu nhầm, vì đương thời, ông và Phạm Thiều có qua lại quen biết nhau Khi viết lại những điều mà hai người trao đổi, ông đều cho vào hai dấu ngoặc nhỏ để ngụ ý đang trích dẫn Còn việc không để tên Phạm Thiều vì biết ông này không muốn nhiều người nhắc ông
trên mặt báo Báo Thanh Niên (1944) trong vài số liên tiếp cũng có phê bình những
cuốn sách mới xuất bản của Kiều Thanh Quế bằng những lời khá nặng nề, nhưng hầu như không đi vào phê bình nội dung tác phẩm mà chỉ trích những vấn đề bên lề như tại sao lại dịch học thuyết Freud và được in trước trong khi đã có người dịch tác phẩm đó trước mà chưa được in?!
Trang 36Trên Thanh Nghị số 55 ra ngày 26-2-1944, mục Đọc sách mới đã có những ý kiến xoay quanh hai cuốn Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (Đời Mới xuất bản) và Học thuyết Freud (Tân Việt xuất bản) của Kiều Thanh Quế do một người có bút hiệu P.T viết Bài viết tập trung nhận xét về cuốn Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam ở
các chỗ như phần nội dung chưa tương xứng với tầm cỡ mà đề mục gợi ra cho người đọc, lối trình bày theo kiểu liệt kê, điểm danh tác giả và tác phẩm mà chưa phân tích, đánh giá giá trị các tác phẩm, lối hành văn thiếu chuẩn mực của một nhà nghiên cứu … (tr 22) Thật ra, việc nêu lên được những hạn chế này cho thấy người viết đã đọc khá kỹ tác phẩm (hơn là không có người đọc), đồng thời tác giả bài viết cũng là kiểu độc giả có kinh nghiệm trong việc khảo cứu nên đã có những góp ý về
nội dung công trình Về Học thuyết Freud, người viết cho biết họ đã nhầm khi nghĩ
rằng đó là cuốn khảo cứu về học thuyết Freud do Kiều Thanh Quế thực hiện (trong thực tế đó là một bản phỏng dịch từ công trình của Stefan Zweig) Các ý kiến và đánh giá như trên của người đương thời đã cho thấy không khí dân chủ của đời sống văn học, cũng như sự quan tâm nhất định của học giới đối với các công trình này
Sau khi Kiều Thanh Quế đột ngột mất tích trên văn đàn cho đến 1954, chúng tôi nhận thấy không có bài viết/ nghiên cứu nào nhắc đến các tác phẩm của ông, mà chỉ đến sau 1954, trong đời sống văn học ở miền Nam, tên ông mới được một số
công trình nghiên cứu văn học nhắc đến Cuốn sách đầu tiên có thể kể đến là Lược
sử văn nghệ Việt Nam – Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của Thế Phong, do Đại Nam
Văn Hiến Xuất bản Cục tự phát hành các năm 1959, 1960, Nhà xuất bản Vàng Son tái bản năm 1974 Kiều Thanh Quế được tác giả xếp vào phần “Những nhà văn biên khảo” bên cạnh Phan Văn Hùm, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Đăng Thục, Lê Thanh
và Doãn Kế Thiện Cũng như những mục của các tác giả khác, mục về Kiều Thanh Quế được Thế Phong trình bày ngắn, sơ lược, kèm ý kiến đánh giá Điều đặc biệt là Thế Phong đánh giá Kiều Thanh Quế cao hơn Lê Thanh về phần tài liệu và lập luận, nhưng nếu đứng về góc độ vùng miền, ông xếp họ Kiều sau Phan Văn Hùm Tuy nhiên, do không biết Mộc Khuê cũng là một bút danh khác của Kiều Thanh Quế nên khi so sánh, Thế Phong đã xếp Kiều Thanh Quế cao hơn Mộc Khuê một bậc Thực
ra, việc một nhà văn sử dụng nhiều bút danh có thể gây ra sự nhầm lẫn cho độc giả cũng là điều không thể tránh khỏi Mặc dù còn nhiều cảm tính trong cách đánh giá nhưng bài viết cũng phần nào cho thấy sự quan tâm, ghi nhận sớm của Thế Phong dành cho cây bút người Nam Bộ này
Trang 37Cuốn thứ hai là Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) của Phạm Thế
Ngũ do Quốc học tùng thư ấn hành Tác giả cuốn sách nhận định rằng: “Ngay từ
năm 1941, miền Nam đã cung cấp cho tạp chí Tri Tân những cây bút khảo luận xuất
sắc: Lê Thọ Xuân, Tố Phang, Kiều Thanh Quế” (tr 630) Phạm Thế Ngũ xếp Kiều
Thanh Quế vào trong số những cây bút Nam Bộ có đóng góp cho tạp chí Tri Tân,
vốn là một tạp chí văn học có uy tín ở miền Bắc lúc bấy giờ
Còn Nguyễn Văn Trung trong Lược khảo văn học III (1968) thì xếp Kiều
Thanh Quế vào trường phái phê bình giáo khoa cùng với Lê Thanh, Trần Thanh Mại và Dương Quảng Hàm Ông còn cho biết “đây là một lối phê bình rất thịnh hành” (tr 128) Hầu hết những sách giáo khoa về văn học sử hay sách phê bình một tác giả lúc đó đều ít nhiều dựa trên lối phê bình này Nguyễn Văn Trung nhận định
về Kiều Thanh Quế như vậy là do ông tập trung vào hai quyển: Ba mươi năm văn học (1942) và Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (1943) Cả hai cuốn đều dưới dạng
khảo cứu văn học Tuy nhiên, theo nhận định của Nguyễn Văn Trung thì “Việc làm của Kiều Thanh Quế chưa hẳn là một xây dựng có hệ thống văn học sử mà chỉ là một phác họa những nét lớn của một lịch trình diễn tiến văn học và những tiêu chuẩn đề ra để phân chia thời kỳ, khuynh hướng văn học cũng chưa được hợp lý lắm” (tr 136)
Nguyễn Tấn Long – Phan Canh trong Khuynh hướng thi ca tiền chiến (1968)
thì nhắc đến Kiều Thanh Quế khi bàn về sự chuyển hướng của văn học giai đoạn từ
1941 trở đi Căn cứ vào số sách được xuất bản trong năm 1941 đến 1945 cho thấy mảng sáng tác tiểu thuyết và thơ ca đã xuống hàng thứ yếu Thay vào đó là các sách nghiên cứu, sách phê bình Kiều Thanh Quế cũng là một cây bút có đóng góp trong việc xây dựng và phát triển nền nghiên cứu, phê bình văn học trong giai đoạn đó Cái tên Kiều Thanh Quế được đặt cạnh những cây bút nổi tiếng thời ấy như Nguyễn
Đổng Chi với Việt Nam cổ văn học sử, Vũ Ngọc Phan với Nhà văn hiện đại, Trần Thanh Mại với Hàn Mặc Tử, Hoài Thanh – Hoài Chân với Thi nhân Việt Nam, Ngô Tất Tố với Việt Nam văn học, Kiều Thanh Quế với Phê bình văn học và nhiều sách
khảo cứu văn học khác nữa (tr 373)
Trong công trình Phê bình văn học thế hệ 1932 (quyển 2) (1972) của Thanh
Lãng, ở phần các nhà phê bình, tác giả có dành một mục cho Kiều Thanh Quế Mặc
dù chỉ tập trung vào ba tác phẩm lớn là Phê bình văn học (1942), Ba mươi năm văn học (1942) và Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (1943), nhưng những phân tích của
Thanh Lãng khá kỹ lưỡng Đặc biệt, ông có những nhận định sắc sảo, chỉ ra những
Trang 38ưu, khuyết điểm trong các công trình của Kiều Thanh Quế Về ưu điểm, đóng góp
của Ba mươi năm văn học là “Mộc Khuê đã tự tay và trước tiên vẽ ra được một biểu
đồ văn học” (tr 443) Nhược điểm của cuốn này là “chương trình mà Mộc Khuê phác ra, ông chưa thi hành được nguyên vẹn đầy đủ” (tr 444) Nhận xét về cuốn
Phê bình văn học, nhà nghiên cứu cho rằng Kiều Thanh Quế “là người đầu tiên đã
đề cập đến vấn đề phê bình văn học một cách tỉ mỉ, chi tiết và giới thiệu với học giả
Việt Nam những phương pháp phê bình mới” (tr 437) Còn đối với Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam, Thanh Lãng nhận ra Kiều Thanh Quế lấy lại cách phân chia của Dương Quảng Hàm trong Quốc văn trích diễm và dựa theo cách phân chia các thời
kỳ lịch sử, Phật giáo và Nho giáo như Dương Quảng Hàm còn giữ trong Văn học sử yếu Chỉ khác một điều là trong mỗi thời đại, Kiều Thanh Quế không kể luôn tên tác
giả mà dành một tiết riêng để kê cứu các nhà văn Theo ông, lối phân chia này có lợi là giúp độc giả dễ thấy diễn tiến của các thời kỳ nhưng bất lợi ở chỗ thiếu giá trị biện minh (tr 446) Nhận định chung về các công trình lịch sử văn học, ông nhận thấy đôi chỗ Kiều Thanh Quế còn sai sót về mặt thời gian, là bởi ông (Kiều Thanh Quế) chưa nắm được trong tay tất cả các tài liệu cần thiết
Nhà nghiên cứu Bằng Giang trong Mảnh vụn văn học sử (1974) thì góp phần minh định về bút danh Nguyễn Văn Hai trên tác phẩm Thi hào Tagore của Kiều
Thanh Quế Đánh giá về tác giả này, Bằng Giang mạnh dạn khẳng định nhà phê bình họ Kiều là “người viết khỏe nhất thời đó trong số ba tác giả được Phạm Thế Ngũ nhắc tới” (tr 176) Lý giải về việc nhà phê bình bị một tờ bào ở Hà Nội nhại tên, Bằng Giang cho rằng “Xưa nay, những nhà cầm viết dấn thân vào ngành phê bình dễ gây ra sự đụng chạm” Với nhận xét này, có vẻ như Bằng Giang có ý bênh vực cho Kiều Thanh Quế, rằng việc ông bị người khác biếm nhẽ không phải do bất tài mà do hệ lụy của cái nghiệp làm phê bình
Thông qua việc sơ lược các đầu sách nghiên cứu văn học giá trị ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 chúng tôi nhận thấy các tác giả nghiên cứu đã ít nhiều công nhận sự đóng góp của Kiều Thanh Quế trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học Những đánh giá về Kiều Thanh Quế tuy có khen có chê nhưng có thể thấy một điều, họ đều có ý thức trân trọng những điều mà cây bút người Nam Bộ này mang đến cho đời sống văn học lúc bấy giờ
• Sau 1975
Sau 1975, hoạt động nghiên cứu và phê bình văn học có sự tập trung hơn trên phạm vi cả nước Nhiều bộ văn học sử ra đời nhằm tổng kết, đánh giá lại nền văn
Trang 39học trong những thời kỳ đã qua Tuy nhiên, các bộ văn học sử ra đời sau 1975 vẫn còn đi theo quán tính cũ nên chưa tập hợp, đi sâu và đánh giá hết giá trị của nền văn học các giai đoạn trước Các công trình văn học sử chủ yếu ghi lại những nét lớn của nền văn học như sự xuất hiện các trào lưu văn học, các cuộc tranh luận văn học lớn của thời đại, ít chú ý cũng như đánh giá đúng mức vai trò của những cây bút riêng lẻ và hoạt động văn học chủ yếu trên báo chí Phải đến sau 1990 trở đi, hoạt động nghiên cứu văn học mới đi vào chiều sâu và có nhiều thành tựu nhất định
Trong chuyên khảo Nhà văn và phê bình của Mộng Bình Sơn và Đào Đức
Chương (1996), trong số 18 nhà nghiên cứu, phê bình giai đoạn 1932-1945 được tìm hiểu gồm Phan Khôi, Trần Thanh Mại, Vũ Ngọc Phan, Đào Duy Anh có Kiều Thanh Quế Ngoài việc khảo cứu kỹ lưỡng tiểu sử, tác phẩm của tác giả này, các nhà nghiên cứu còn cho biết “Kiều Thanh Quế là nhà phê bình văn học có nhiều tác phẩm giá trị vào thời kỳ 1932-1945” (tr 310) Nhóm tác giả đã tìm hiểu kỹ ba cuốn
sách của Kiều Thanh Quế là Phê bình văn học (1942), Ba mươi năm văn học (1942)
và Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (1943), phân tích sơ bộ về các cuốn đó Khi bàn
về cuốn Phê bình văn học, nhóm tác giả có những đánh giá đáng để chúng ta lưu
tâm như cho rằng “Kiều Thanh Quế vì quá chủ quan, có lúc tự mâu thuẫn với mình”
(tr 315) hay là “Cuốn Phê bình văn học của Kiều Thanh Quế mục đích không phải
đi tìm lịch sử văn học […] mà trong cuốn này ông muốn soát xét lại những nhà văn phê bình với tư cách, nhiệm vụ và sự nghiệp của họ đã có trên lịch sử văn học Ông Kiều Thanh Quế đã làm cái việc mà từ trước đến lúc bấy giờ chưa ai làm” (tr 319)
Với cuốn Ba mươi năm văn học, các nhà nghiên cứu cho rằng, thành công của
quyển sách nằm ở chỗ “công phu sắp xếp mạch lạc, tuy đơn sơ, có chỗ không rõ nét […] nhưng nó mang tính chất trật tự về thời gian, liên tục về sự việc và lối chia thành chương mục để khảo sát diễn biến của sự việc có vẻ khoa học hơn” (tr 324)
Đối với Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam, các tác giả này lại nhận định cuốn sách
“thể hiện một công phu sắp xếp hoàn bị hơn những cuốn về cổ văn trước đây” (tr
326), và nếu đem ráp cuốn sách này với cuốn Ba mươi năm văn học thì “ta có cả
một lược đồ văn học sử từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ XX” (tr 324) (4) Những đánh giá này có phần giống với ý kiến của Thanh Lãng như đã trình bày ở trên Điều đó cho thấy các tác giả của cuốn sách đã để tâm nghiên cứu các tác phẩm của Kiều Thanh Quế từ rất sớm, đồng thời cũng có chú ý đến các hiện tượng văn học từ thời trung đại đến hiện đại
Trang 40Từ năm 2000 trở đi, sự tiếp nhận các tác phẩm Kiều Thanh Quế có phần bài bản, tập trung và chuyên sâu hơn Hoài Anh là người mở đầu giai đoạn này bằng
cuốn Chân dung văn học (2001) Cuốn sách tập hợp 114 chân dung, trong đó Kiều
Thanh Quế đứng vị trí thứ 71 qua bài: “Kiều Thanh Quế - Nhà phê bình văn học hiếm có của Nam Bộ” Bài viết đã lược thuật và phân tích tỉ mỉ các tác phẩm của Kiều Thanh Quế từ mảng sáng tác đến sách khảo cứu và các bài phê bình trên báo chí Nhà nghiên cứu đánh giá cao những đóng góp của Kiều Thanh Quế đối với nền nghiên cứu, phê bình văn học đương thời Đối với phê bình trên báo chí, Hoài Anh đặc biệt chú ý đến các bài phê bình tác phẩm mang tính hiện thực xã hội hoặc những tác phẩm khêu gợi tinh thần dân tộc, yêu nước của nhân dân ta Có thể nói, Hoài Anh đã bắt được mạch tư tưởng trong các bài phê bình văn học của Kiều Thanh Quế khi có những phát hiện đó Tuy nhiên, ông cũng phản biện lại một số chỗ ông cho là chưa hoàn thiện trong các công trình nghiên cứu của Kiều Thanh
Quế Ví dụ như nhận xét về cuốn Phê bình văn học, ông cho rằng Kiều Thanh Quế
còn thiếu sót khi nói nền phê bình ở nước ta lúc bấy giờ chỉ có hai lối phê bình: phê bình cổ nhân và phê bình danh sĩ đương thời Ngoài ra, nhà nghiên cứu cũng đưa ra những nhận xét thẳng thắn đối với phương pháp phê bình của Kiều Thanh Quế Ông cho rằng “Kiều Thanh Quế chiết trung lối phê bình cảm thụ nhưng đây là lối cảm thụ bằng lý trí chứ không phải bằng trực giác” (tr 934), hoặc “Về nhiệm vụ của nhà phê bình, Kiều Thanh Quế cũng mang tính chất chiết trung” (tr 935) cũng như cho rằng Kiều Thanh Quế có phần mâu thuẫn trong quan điểm khi đưa ra quan niệm về nhà phê bình Nhận xét về bức phác họa nền phê bình văn học trong nước của Kiều Thanh Quế, Hoài Anh cho rằng “Vì không nhận ra những sắc thái dị biệt trong các khuynh hướng phê bình ở Việt Nam, có khi cùng một người mà mỗi giai đoạn đi theo một khuynh hướng, nên Kiều Thanh Quế chỉ điểm tên các nhà phê bình mà không nói đến những đặc điểm của họ” (tr 933) Theo chúng tôi, có thể do điều kiện cá nhân nên những công trình của Kiều Thanh Quế còn khá sơ lược, làm cho người đọc có phần không được thỏa mãn Nhưng nói Kiều Thanh Quế “không nhận
ra những sắc thái dị biệt trong các khuynh hướng phê bình ở Việt Nam” thì không hẳn là đúng Bởi Kiều Thanh Quế đã cho thấy khả năng nhận thức thấu đáo đặc điểm của khuynh hướng phê bình cổ điển cũng như các khuynh hướng phê bình du nhập từ phương Tây thông qua việc giới thiệu một cách hệ thống ở phần đầu cuốn
sách Phê bình cuốn Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam, theo Hoài Anh, Kiều Thanh
Quế có những điểm đạt nhưng cũng có những chỗ chưa đạt Điều tâm đắc nhất của ông trong cuốn sách này là chỗ Kiều Thanh Quế khuyên thanh niên Việt Nam nên