1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những xu hướng chính của phê bình văn học việt nam trong thập niên đầu thế kỉ xxi

111 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những xu hướng chính của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI
Tác giả Nguyễn Thị Hà
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận Văn học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (11)
  • 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (12)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • 6. Đóng góp của luận văn (12)
  • 7. Cấu trúc của luận văn (13)
  • Chương 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI (14)
    • 1.1. Khái niệm chung về phê bình văn học (14)
      • 1.1.1. Các định nghĩa (14)
      • 1.1.2. Đối tượng và nhiệm vụ của phê bình văn học (15)
      • 1.1.3. Phương pháp phê bình văn học (19)
    • 1.2. Khái quát về các chặng đường phát triển của phê bình văn học Việt Nam hiện đại (22)
      • 1.2.1. Phê bình văn học giai đoạn 1900 - 1932 (22)
      • 1.2.2. Phê bình văn học giai đoạn 1932 - 1945 (25)
      • 1.2.3. Phê bình văn học giai đoạn 1945 - 1985 (28)
      • 1.2.4. Phê bình văn học giai đoạn 1986 - 2000 (33)
    • 1.3. Điều kiện phát triển mới của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ XX (36)
      • 1.3.1. Sự giới thiệu rộng rãi các thành tựu lý luận văn học, phê bình văn học hiện đại của thế giới (36)
      • 1.3.2. Sự nhìn nhận sáng suốt hơn về lực cản đối với phê bình (41)
      • 1.3.3. Sự kích thích mỹ học của các sáng tác mang tính cách tân (44)
      • 2.1.2. Điểm tựa của xu hướng phê bình chấn chỉnh cách nhìn (52)
      • 2.1.3. Tác động của xu hướng phê bình chấn chỉnh cách nhìn (55)
    • 2.2. Nhận thức lại về các thước đo cũ (59)
      • 2.2.1. Cơ sở khoa học của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ (59)
      • 2.2.2. Nội dung phong phú của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ (61)
      • 2.2.3. Sức thúc đẩy tư duy của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ (63)
    • 2.3. Môi giới cho truyền thông (64)
      • 2.3.1. Hoàn cảnh phát triển thuận lợi của xu hướng phê bình môi giới cho truyền thông (64)
      • 2.3.2. Những loại hình hoạt động của xu hướng phê bình môi giới (66)
      • 2.3.3. Tính “phù phiếm” của xu hướng phê bình môi giới cho truyền thông (70)
  • Chương 3. NHỮNG XU HƯỚNG CHÍNH CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI TỪ GÓC NHÌN ĐỐI TƯỢNG PHÊ BÌNH (49)
    • 3.1. Hướng về văn bản văn học (74)
      • 3.1.1. Quan điểm nền tảng của xu hướng phê bình hướng về văn bản văn học (74)
      • 3.1.2. Nội dung của xu hướng phê bình hướng về văn bản văn học (77)
      • 3.2.3. Tác dụng khôi phục diện mạo chân thực đối tượng của xu hướng phê bình hướng về tác giả (88)
    • 3.3. Hướng về các vấn đề thời sự của văn học (92)
      • 3.3.1. Cơ sở thực tiễn của xu hướng phê bình hướng về các vấn đề thời sự của văn học (92)
      • 3.3.2. Thực trạng thiếu bản lĩnh của chủ thể phê bình trên xu hướng này (93)
      • 3.3.3. Sự giao tranh quan điểm trong xu hướng phê bình hướng về các vấn đề thời sự của văn học (96)
  • KẾT LUẬN (101)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (104)

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

Đóng góp của luận văn

Trong thập niên đầu thế kỉ XXI, nghiên cứu về phê bình văn học Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt, phản ánh rõ nét đời sống văn học hiện nay Các công trình này tập trung tìm hiểu các đặc điểm nổi bật của phê bình văn học Việt Nam trong bối cảnh mới, đảm bảo tính cập nhật và phù hợp với xu hướng phát triển của nền văn học Trước đó, các nghiên cứu về lĩnh vực phê bình mới chỉ dừng lại ở một số năm đầu của thế kỷ, chưa phản ánh đầy đủ sự biến đổi và đa dạng của hoạt động phê bình trong thời gian dài hơn.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3 chương:

Chương 1 Những tiền đề phát triển của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI

Chương 2 Những xu hướng chính của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn quan điểm phê bình

Chương 3 Những xu hướng chính của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn đối tượng phê bình

NHỮNG TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI

Khái niệm chung về phê bình văn học

Phê bình văn học là môn học quan trọng trong khoa học văn học, bên cạnh lý luận và lịch sử văn học Ba bộ môn này kết hợp chặt chẽ để giúp hiểu rõ và đánh giá sâu sắc các tác phẩm văn học Thiếu lý luận văn học, phê bình văn học sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các phán đoán chính xác và khái quát về các tác phẩm.

Trong văn học của một thời kỳ, phê bình văn học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền văn học đó Một nền văn học trưởng thành luôn dựa trên hai yếu tố cốt lõi: sáng tác và phê bình Tác phẩm văn học không chỉ là kết quả sáng tác của nhà văn mà còn phản ánh quá trình tiếp nhận và đánh giá của người đọc Chính hoạt động phê bình giúp tác phẩm có một đời sống riêng trong lịch sử, cho phép các độc giả cảm nhận sâu sắc hoặc nhận xét khác nhau về giá trị của nó.

Khái niệm phê bình văn học đã trải qua nhiều định nghĩa qua thời gian Ban đầu, nó chỉ đơn giản là những phán đoán tự nhiên dựa trên nhu cầu thưởng thức tác phẩm Sau đó, phê bình văn học được xem như một lĩnh vực khoa học mang tính nghệ thuật cao, đòi hỏi nhà phê bình phải có tri thức sâu rộng, kỹ năng phân tích và giải thích tác phẩm, cùng khả năng cảm thụ nghệ thuật để làm sáng tỏ các vấn đề liên quan.

Từ khi nền phê bình văn học hiện đại hình thành tại Việt Nam, khái niệm phê bình đã nhận được sự quan tâm giới lý thuyết và minh định rõ ràng Năm 1933, Thiếu Sơn định nghĩa nhà phê bình là "người đọc giúp người khác", nhấn mạnh vai trò của nhà phê bình trong việc truyền tải và hướng dẫn cảm nhận của công chúng Trong khi đó, Lê Thanh cho rằng: "Phê bình là việc giải thích cảm xúc của cá nhân về một tác phẩm hoặc nhân vật, nhưng mỗi người lại cảm nhận và suy nghĩ theo cách riêng của mình", thể hiện sự đa dạng trong nhận thức và cách tiếp cận phê bình văn học.

Đến nay, định nghĩa về phê bình văn học đã được điều chỉnh và bổ sung hợp lý, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bộ môn khoa học này Những điều chỉnh này góp phần làm rõ vai trò và đặc trưng của phê bình văn học, đồng thời mở rộng phạm vi hiểu biết về lĩnh vực này Nhờ đó, chúng ta có cái nhìn toàn diện và hoàn thiện hơn về công tác phân tích, đánh giá tác phẩm văn học.

Từ điển Tiếng Việt năm 1999 định nghĩa: Phê bình văn học là “bộ môn nghiên cứu chuyên phân tích các tác phẩm văn học nhằm mục đích đánh giá và hướng dẫn việc sáng tác”[52,1034]

Còn với Từ điển thuật ngữ văn học (do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), phê bình văn học được hiểu: “Là sự phán đoán, phẩm bình, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học Phê bình văn học vừa là một hoạt động, vừa là một bộ môn khoa học về văn học…” [19, 210]

Phê bình văn học được định nghĩa là quá trình phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời bao gồm việc bình luận và phân tích các hiện tượng đời sống liên quan đến tác phẩm Đây là hoạt động tác động sâu sắc vào đời sống và quá trình sáng tạo văn học, được xem như một loại hình sáng tác văn học riêng biệt Ngoài ra, phê bình văn học còn là một bộ môn nghiên cứu thuộc lĩnh vực văn học, mang vai trò quan trọng trong việc hiểu và đánh giá giá trị của các tác phẩm.

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng nhấn mạnh rằng “Đi tìm cái Đẹp trong tự nhiên là sáng tác, đi tìm cái Đẹp trong sáng tác là phê bình”, thể hiện quan điểm sâu sắc về mối liên hệ giữa sáng tác và phê bình nghệ thuật.

Như vậy, xét đến cùng, phê bình văn học chính là quá trình khám phá, phát hiện và quy phạm hóa cái Đẹp

1.1.2 Đối tượng và nhiệm vụ của phê bình văn học

Để trở thành một ngành khoa học chính thống, một lĩnh vực cần có đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu rõ ràng Trong lĩnh vực phê bình văn học, đối tượng nghiên cứu chính là các tác phẩm văn học và các yếu tố liên quan đến nội dung, hình thức của chúng Nhiệm vụ của phê bình văn học là phân tích, đánh giá và lý giải các tác phẩm để làm rõ giá trị nghệ thuật và ý nghĩa sâu xa của chúng Phê bình văn học đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy giá trị văn hóa và nâng cao nhận thức về văn học trong xã hội.

Phê bình văn học được định nghĩa trong cuốn 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân là sự phán đoán, bình phẩm và đánh giá các hiện tượng đời sống được phản ánh qua tác phẩm Đối tượng chính của phê bình văn học là các tác phẩm văn học, hay nói cách khác, chính là các văn bản văn học.

Trong quan điểm của Đỗ Lai Thúy, đối tượng của phê bình văn học là chính tác phẩm, vì tác phẩm là yếu tố trung tâm của hệ thống văn học, kết nối tác giả, truyền thống, hiện thực và độc giả Tác giả chỉ trở thành tác giả khi sáng tạo ra tác phẩm, trong khi độc giả chỉ trở thành độc giả khi đọc và đánh giá tác phẩm Truyền thống và hiện thực là những điều kiện bên ngoài tồn tại của tác phẩm Do đó, dù phê bình một tác giả, hiện tượng hay thời đại văn học, cơ sở cốt lõi vẫn là phê bình tác phẩm, vì tác phẩm vừa là nguồn cảm hứng, vừa là kết quả của quá trình sáng tạo, hình thành nên nhà văn, hiện tượng và thời đại văn học.

Phê bình văn học không chỉ tập trung vào tác phẩm và hiện tượng văn học đương đại mà còn bao gồm những tác phẩm trong quá khứ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình phát triển của văn học và giá trị văn học qua các thời kỳ Việc phân tích các tác phẩm cũ kết hợp với các tác phẩm mới tạo nên một cái nhìn toàn diện, góp phần làm phong phú hơn công tác nghiên cứu và đánh giá văn học.

? Hiện tồn tại hai quan niệm về đối tượng của phê bình văn học:

Phê bình văn học được hiểu là việc phân tích và đánh giá các hiện tượng văn học đương đại, nhằm làm rõ các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Theo sách "Từ điển thuật ngữ văn học" của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc, mục tiêu của phê bình văn học là phản ánh thực tiễn sáng tác và hình thành quan điểm đánh giá khách quan về các hiện tượng văn học hiện tại Phê bình giúp độc giả hiểu sâu hơn về các tác phẩm nghệ thuật và góp phần phát triển bức tranh văn học đương đại phong phú, đa dạng.

Phi đã giải thích rằng phê bình văn học là một môn khoa học nghiên cứu các xu hướng vận động của văn học đương đại [19, 210] Theo quan niệm này, các hiện tượng văn học quá khứ thường không được xem là đối tượng chính của phê bình, hoặc chỉ mang tính thứ yếu Họ cho rằng những tác phẩm văn học cổ điển đã có giá trị ổn định và được thừa nhận rộng rãi, nên ít người đặt vấn đề phải đưa chúng vào phạm vi của phê bình văn học.

Khái quát về các chặng đường phát triển của phê bình văn học Việt Nam hiện đại

1.2.1 Phê bình văn học giai đoạn 1900 - 1932

Trong giai đoạn từ năm 1900 đến 1932, thế kỷ XX bắt đầu chứng kiến sự hình thành chính thức của phê bình văn học Đây là giai đoạn chuẩn bị và khởi động, mang ý nghĩa khai phá, mở đường cho sự phát triển của lý luận và phân tích văn học sau này.

Lịch sử phê bình văn học Việt Nam bắt đầu từ thời kỳ Đông Dương tạp chí (1913), do Snâyđe (Pháp) cộng tác cùng Nguyễn Văn Vĩnh sáng lập Đến năm 1917, Nam Phong tạp chí ra đời, do Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác điều hành, góp phần thúc đẩy hoạt động phê bình với các bài viết theo lối mới của văn học phương Tây Trong giai đoạn này, hoạt động phê bình trên báo chí còn khá thưa thớt và sơ lược, chủ yếu còn giữ phong cách bình thơ văn cổ truyền Đầu thế kỷ XX là thời kỳ bắt đầu nghiên cứu lịch sử văn hóa và văn học Việt Nam, với sự đóng góp của các nhà như Dương Quảng Hàm, Phan Kế Bính, Bùi Kỷ, cùng việc sưu tầm và giới thiệu các di sản văn học dân tộc như ca dao, dân ca, tục ngữ, phú Nôm, truyện Nôm Nhu cầu bình phẩm và đánh giá các tác phẩm cũng hình thành dựa trên ý thức dân tộc về thể loại, tác giả và văn hóa, góp phần tạo nên diện mạo của phê bình văn học từ năm 1900 trở đi.

Năm 1932 chứng kiến sự nổi bật của các bài viết của các sĩ phu Đông Kinh nghĩa thục, như Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, cũng như các nhà báo, nhà văn như Phan Kế Bính, Phan Khôi, Tản Đà, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Ngọc Những tác phẩm này đã khơi dậy tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc và đánh thức giá trị của văn học cổ truyền Việt Nam, đặc biệt là văn học chữ Nôm Lần đầu tiên, các di sản văn chương tiếng Việt được đánh giá cao, giúp đồng bào trong nước nhận thức rõ về nền văn hóa văn học giàu bản sắc của đất nước trước khi Pháp thực hiện chính sách khai hóa Văn học chữ Nôm, trước đó bị xem nhẹ và coi là “nôm na mách qué,” nay đã sống lại, khẳng định vị trí quan trọng của nó trong lịch sử văn học Việt Nam.

Tuy nhiên, những bài phê bình hồi đó, nhìn chung vẫn nghiêng về lối phê bình truyền thống điểm bình, yếu về năng lực tổng hợp và thiếu những khái quát sâu: Việt Hán văn khảo (1918) của Phan Kế Bính, Nam âm thi thoại

(1918) của Phan Khôi, Nam thi hợp tuyển (1927) của Nguyễn Văn Ngọc, Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ (1928) của Lê Thước,… Nội dung chứa đựng bên trong các bài viết hay đầu sách có tên “thi thoại”, “hợp tuyển”, kiểu như Nam âm thi thoại, Nam thi hợp tuyển, Việt Hán văn khảo vừa là bình văn, vừa là khảo cứu, vừa là lí luận

Nhưng lối điểm bình góp phần làm cho phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX mang bản sắc dân tộc Và đây cũng là một lí do giải thích vì sao lối phê bình trực cảm của phương Tây khi “nhập tịch” vào Việt Nam rất thuận lợi

Bên cạnh lối phê bình truyền thống đã xuất hiện những bài phê bình theo khuynh hướng hiện đại Trường hợp bài Truyện Kiều (1919) của Phạm

Quỳnh là một ví dụ tiêu biểu trong việc phân tích tác phẩm Truyện Kiều, khi tác giả tiếp cận đối tượng từ nhiều góc độ khác nhau Các góc nhìn này bao gồm việc xem xét cội rễ của tác phẩm trong mối liên hệ với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, giúp làm rõ nguồn cảm hứng và ý nghĩa sâu xa của tác phẩm Ngoài ra, nghiên cứu về lịch sử sáng tác của tác giả cũng giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh và chủ đề của Truyện Kiều Phân tích văn chương và các yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm cũng đóng vai trò quan trọng để làm sáng tỏ giá trị văn học của Truyện Kiều Cuối cùng, việc xem xét tâm lí nhân vật Kiều giúp làm rõ chiều sâu cảm xúc và số phận của nhân vật chính trong câu chuyện, góp phần nâng cao hiểu biết về toàn bộ tác phẩm.

Vũ Đình Long cùng các tác giả khác đã chuyển sang phương pháp tiếp cận mới vào thập kỷ thứ ba của thế kỷ XX Sự đổi mới này tạo đà cho phong trào phê bình hiện đại phát triển mạnh mẽ hơn trong những năm 1930 và về sau Từ đó, xu hướng phê bình hiện đại khẳng định vị trí vững chắc của mình trong đời sống văn học Việt Nam.

Phạm Quỳnh là một trong những nhà phê bình văn học tiêu biểu của ba mươi năm đầu thế kỷ XX, thuộc thế hệ khai phá mở đường của lĩnh vực này tại Việt Nam Ông đã nghiên cứu và giới thiệu văn hóa, văn học Pháp như Baudelaire, Pierre Loti, Voltaire và Rousseau cho công chúng Việt Nam, đồng thời quảng bá văn học Việt và tiếng Việt cho người Pháp Với sự quan tâm đến văn học bình dân và lí luận về thể loại như tiểu thuyết, thơ, kịch, Phạm Quỳnh không chỉ là nhà phê bình mà còn là người truyền bá mạnh mẽ văn hóa Pháp-Việt Trong các bài viết, ông thường nhấn mạnh khía cạnh đạo lí và học thuật hơn là thẩm mỹ, đồng thời vận dụng phương pháp phê bình của phương Tây để xây dựng nền “quốc học” Việt Nam, phản ánh tinh thần đặc sắc và bản sắc dân tộc.

Phê bình văn học ba mươi năm đầu thế kỉ XX đánh dấu một giai đoạn chuyển đổi quan trọng từ phương thức tư duy và phân tích văn học theo lối bình điểm phương Đông sang lối tư duy và phân tích theo phương Tây Trong thời kỳ này, việc sử dụng chữ quốc ngữ như một ngôn ngữ hoàn toàn mới đã đóng vai trò then chốt trong việc tiếp cận và phát triển lý luận phê bình văn học hiện đại tại Việt Nam.

Các trí thức Nho học đã bắt đầu vận dụng kỹ thuật và phương pháp phê bình văn học phương Tây, tuy nhiên quá trình này vẫn còn thiếu sự nhuần nhuyễn Sự tiếp thu chủ yếu tập trung vào phương pháp và tinh thần duy lý thay vì theo đuổi thị hiếu thẩm mỹ, dẫn đến những bài phê bình thường mang tính lí trí khô khan, thiếu sức hấp dẫn và chưa thực sự thỏa mãn nhu cầu thưởng thức văn học của công chúng.

1.2.2 Phê bình văn học giai đoạn 1932 - 1945

Từ đầu những năm 1930, khi văn học Việt Nam bước vào kỷ nguyên hiện đại, phê bình văn học đã trở thành một thể loại độc lập trong khoa học văn học Những bài viết của Thiếu Sơn trên báo Phụ nữ Tân Văn những năm 1931-1932 đã đánh dấu sự ý thức về vai trò của phê bình trong đời sống văn học Sau đó, phê bình hiện đại đã khẳng định vị trí của mình qua các hoạt động sôi nổi, sự xuất hiện của nhiều cây bút phê bình chuyên nghiệp, cùng với các cuốn sách và hàng trăm bài phê bình đăng trên các báo thời kỳ đó.

Giữa năm 1932 đến 1945, phê bình văn học bao gồm tất cả các thể loại như thơ, kịch, tiểu thuyết và nghiên cứu, phản ánh sự trưởng thành và phát triển rầm rộ của lĩnh vực này Hoạt động phê bình diễn ra qua nhiều hình thức như diễn thuyết, tranh luận và báo chí, từ các vấn đề nhỏ đến khái quát, từ phê bình tác phẩm đơn lẻ đến đánh giá cả giai đoạn văn học Nhiều nhà phê bình nổi bật như Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Hải Triều đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của phê bình văn học Việt Nam Các tờ báo như Tiểu thuyết thứ bảy, Phụ nữ tân văn, Trung Bắc chủ nhật, Ngày nay, Phong hóa, Tao Đàn, Tràng An, Tin văn, Hà Nội, Nghề mới và Tiếng dân đã có chuyên mục đọc sách, phê bình văn học thường xuyên đăng tải các bài viết chất lượng cao Bên cạnh đó, nhiều cuốn sách phê bình chính thống được xuất bản và phát hành rộng rãi, góp phần nâng cao nhận thức và phát triển tư duy lý luận văn học của đất nước.

Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn là tác phẩm đầu tiên viết về phê bình văn học theo chiều hướng chân dung nhân vật Trong khi đó, trước đó, Lê Thước cũng đã viết về Nguyễn Công Trứ, nhưng điểm mới của Thiếu Sơn là tập trung phân tích và miêu tả những người cùng thời với ông, góp phần làm rõ nét chân dung các nhân vật lịch sử và văn hóa đương đại.

Trần Thanh Mại là người đầu tiên ứng dụng phương pháp phê bình tiểu sử khách quan của Sainte Beuve vào giới văn học Việt Nam Qua hai tác phẩm nổi bật là "Trông dòng sông Vị" (1935) và "Hàn Mặc Tử, thân thế và thi văn" (1941), ông đã phân tích các khía cạnh về cử chỉ, tính tình, giai thoại và các giai đoạn trong cuộc đời của nhà thơ để hiểu rõ hơn về tác phẩm của họ Ngoài ra, Đào Duy Anh trong tác phẩm "Khảo luận về Kim Vân Kiều" (1943) đã nhấn mạnh vai trò của yếu tố về tác giả, thân thế, dòng họ, quê quán trong việc giải thích ý nghĩa và nội dung của tác phẩm, mở ra hướng tiếp cận mới trong phê bình văn học Việt Nam.

Điều kiện phát triển mới của phê bình văn học Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ XX

1.3.1 Sự giới thiệu rộng rãi các thành tựu lý luận văn học, phê bình văn học hiện đại của thế giới

Từ đầu thế kỷ XX, phê bình văn học Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển sôi động, góp phần thúc đẩy đời sống văn học dân tộc Trong quá trình này, sự giao lưu quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đã đóng vai trò quan trọng và không thể phủ nhận Đặc biệt, sự nở rộ của các trào lưu, trường phái phê bình hiện đại trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đã mở rộng tầm hiểu biết và nâng cao chất lượng phê bình văn học Việt Nam.

Phần lớn các nhà phê bình Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đều được đào tạo tại các trường Tây, tiếp xúc với văn hóa và văn học phương Tây trong học tập và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ lý luận phê bình hiện đại của nước ngoài Hoài Thanh từng khẳng định rằng “Mỗi nhà thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp”, và có thể áp dụng câu này cho các nhà phê bình hiện đại đầu thế kỷ, vì họ rất quen thuộc với các lý thuyết phê bình phương Tây Họ đã hiểu rõ và kế thừa có chọn lọc những phương pháp phê bình của các trường phái hiện đại, đồng thời điều chỉnh phù hợp với điều kiện và đặc thù của xã hội Việt Nam.

Vũ Ngọc Phan khẳng định rằng ông đã dựa vào “một lý thuyết” phê bình của phương Tây để xây dựng công trình phê bình vững vàng hơn Hoài Thanh trong bài tổng kết "Một thời đại trong thi ca" đã nhắc đến nhiều nhà thơ, nhà phê bình Pháp nổi tiếng như Baudelaire, Lanson, Valéry, Lamartine, Musset để làm rõ ảnh hưởng của văn học Pháp đối với nền văn học và phê bình Việt Nam trước 1945 Các nhà nghiên cứu như Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Nhân, Phùng Văn Tửu, Phan Ngọc đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng sâu sắc của phê bình Pháp đối với các nhà phê bình và văn học Việt Nam thời kỳ này Hoàng Nhân xác định rõ ảnh hưởng của phương pháp phê bình của Lanson đến nhiều nhà phê bình Việt Nam như Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Trương Chính, cùng với sự tiếp nhận phương pháp trực cảm của các nhà văn như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên Đối với các nhà phê bình Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, các tên tuổi như Baudelaire, Lamartine, Saintine Beuve, H Taine, Lanson, Brunetiere cùng các phương pháp phê bình như khoa học, ấn tượng, trực cảm, xã hội học đã trở thành những nguồn cảm hứng quen thuộc và là nền tảng phương pháp cho các công trình phê bình của họ.

Sau năm 1945, phê bình văn học phát triển rõ rệt với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin được xác lập để định hướng sự phát triển của nền văn học dân tộc với nội dung dân chủ và tính chất dân tộc Trong thời kỳ chiến tranh, điều kiện sáng tác và phê bình gặp nhiều khó khăn về in ấn và xuất bản, đồng thời bị cô lập về mặt giao lưu quốc tế Ở miền Bắc, từ 1954-1975, lý luận - phê bình chủ yếu dựa trên hệ tư tưởng Mác - Lênin và văn hóa của Liên Xô, tập trung vào khuynh hướng phê bình xã hội học, chú trọng phản ánh nội dung tác phẩm hơn là giá trị nghệ thuật hay phong cách sáng tạo của nhà văn, đồng thời không tiếp thu các lý thuyết hiện đại phương Tây như cấu trúc luận, hiện tượng luận hay mỹ học tiếp nhận Quan niệm bảo thủ này dẫn đến tình trạng kỳ thị và xem thường các xu hướng lý luận phương Tây Trong khi đó, xã hội miền Nam giai đoạn này đa dạng về văn hoá, gồm cả ảnh hưởng của phương Tây và Mỹ, tạo điều kiện cho các trường phái lý luận phương Tây như phân tâm học, hiện sinh, cấu trúc luận, hay mỹ học tiếp nhận tràn vào, góp phần tạo ra những giá trị mới cho đời sống văn học, đặc biệt trong việc tiếp cận các tác phẩm qua hệ quy chiếu triết học và mỹ học phương Đông, làm phong phú và sinh động thêm nền lý luận phê bình Việt Nam. -Nâng tầm phê bình văn học Việt với công nghệ phân tích AI hiện đại – khám phá ngay [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/2699274)

Hoạt động phê bình văn học trong suốt một thời kỳ dài tại hai miền Bắc - Nam có đặc điểm riêng biệt, nhưng nhìn chung được mô tả như “một dòng sông hiền hòa, không có thác ghềnh dữ dội” Tuy nhiên, phê bình văn học vẫn luôn hoàn thành nhiệm vụ của mình bằng cách đi sát tác phẩm để biểu dương những cố gắng, tính chiến đấu, tính thời sự và tinh thần cách mạng anh hùng trong các sáng tác.

Sau năm 1975, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới, đất nước mở cửa và tiếp nhận văn hóa phương Tây, phê bình văn học Việt Nam đã mở rộng hiểu biết và tiếp thu các lý luận phê bình hiện đại trên thế giới Phê bình văn học không còn chỉ là công cụ phân tích tác phẩm mà còn được xem là hoạt động ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và quá trình sáng tác văn học, thậm chí coi như một lĩnh vực sáng tạo riêng biệt trong lĩnh vực văn học Các lý thuyết như ký hiệu học, thi pháp học, văn học so sánh, phân tâm học, chủ nghĩa cấu trúc, mỹ học tiếp nhận và tự sự học đã lần lượt được giới thiệu vào Việt Nam, góp phần làm thay đổi căn bản nền phê bình văn học quốc gia Đặc biệt, các công trình dịch thuật như lý thuyết về thi pháp tiểu thuyết của M Bakhtin đã mở ra hướng đi mới trong nghiên cứu và phát triển phê bình văn học Việt Nam.

Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu (1992); Những vấn đề về thi pháp Dostoievski của M.Bakhtin do Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí

Nhàn dịch (1993); Tiểu luận Nghệ thuật tiểu thuyết và Những di chúc bị phản bội của Milan Kundera do Nguyên Ngọc dịch, Nxb Văn hóa Thông tin và

Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2001; Cấu trúc văn bản nghệ thuật của Iu.M.Lotman do Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch… Bên cạnh đó, phải kể đến các công trình được viết bởi các tác giả Việt Nam nhưng có nội dung giới thiệu khái quát - tổng hợp các loại lý thuyết phê bình hiện đại của phương Tây Đó là: Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX của Phương Lựu, Nxb Văn học, 2001; Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại của Đặng Anh Đào, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2001; Tiểu thuyết Pháp hiện đại những tìm tòi đổi mới của Phùng Văn

Tửu, Nxb Khoa học Xã hội, 2002; Chủ nghĩa cấu trúc và văn học do Trịnh Bá Đĩnh biên soạn, Nxb Văn học và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 2002… Hơn nữa, khi mạng Internet được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam sự tiếp xúc với các lý thuyết phê bình bên ngoài không còn phụ thuộc quá nhiều vào tình trạng xuất bản sách báo trong nước Sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, sự bùng nổ thông tin khiến văn hóa đọc có phần suy giảm, nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận Internet đã giúp những người quan tâm đến văn chương được tiếp cận với một kênh thông tin đa chiều, cập nhật được những vấn đề thời sự, có được những diễn đàn để công khai phát biểu những quan niệm, chính kiến riêng Nếu như ở thời kì trước, kênh phát - nhận của đời sống lí luận, phê bình văn học ở Việt Nam chủ yếu là qua sách in và báo viết thì đến thời kì này, các trang web, diễn đàn, blog… đã khiến cho đối tượng tham gia vào đời sống lí luận phê bình văn học ngày càng được mở rộng hơn, không còn bó hẹp riêng trong giới phê bình chuyên nghiệp Có thể nói, từ các nhà phê bình văn học đến cả bạn đọc đều có thể tiếp cận được với những lý thuyết mới, các tiêu chí mới để đánh giá một hiện tượng văn học

Nhìn lại hành trình đổi mới, tìm tòi khám phá của lý luận phê bình văn học Việt Nam có thể thấy rằng hệ thống lý luận phê bình đã thực sự được bổ sung, định hình, linh hoạt và mang tính thực tiễn cao, góp phần tạo tiền đề quan trọng để phê bình văn học nước nhà bắt kịp những bước tiến mới của văn hóa xã hội thời đại ở thập niên đầu thế kỉ XXI

1.3.2 Sự nhìn nhận sáng suốt hơn về lực cản đối với phê bình trong các giai đoạn văn học trước đây

Việc giới thiệu rộng rãi các thành tựu lý luận văn học và phê bình văn học hiện đại của thế giới đã khẳng định vai trò quan trọng trong thành tựu của phê bình văn học Việt Nam sau Đổi mới Đồng thời, việc nhìn nhận rõ các lực cản đối với phê bình trong các giai đoạn văn học trước đây cũng đóng vai trò thiết yếu để hiểu rõ tổng thể quá trình phát triển và đạt được những thành tựu ngày nay.

Phê bình văn học hiện đại Việt Nam đã có hơn một thế kỷ phát triển, với nhiều thành tựu và đổi mới rõ ràng nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế Trong quá trình đánh giá, nhiều người đã dũng cảm chỉ ra các lực cản của phê bình trong các giai đoạn trước 1975, phản ánh tinh thần chân thực và khách quan Xuất phát từ nhu cầu nhìn nhận lại chặng đường văn học cách mạng, các thuật ngữ như “phải đạo,” “phủ nhận,” và “phủ định” được đưa ra nhằm bàn luận về quan điểm có hay không phủ nhận thành tựu của văn học cách mạng Có ý kiến ​​cho rằng bên cạnh những tiếng nói khẳng định mạnh mẽ thành tựu của văn học xã hội chủ nghĩa, vẫn tồn tại những ý kiến ​​nghi ngờ, phản ánh sự đa dạng trong nhận thức về giá trị của các tác phẩm về chiến tranh sau chiến tranh.

Các nhà phê bình như 1976 đã chỉ ra rằng có sự khác biệt lớn giữa hiện thực chiến tranh đa dạng và phong phú với hình ảnh cuộc sống chiến tranh nghèo nàn, đơn điệu trong nhiều tác phẩm văn học Nguyễn Văn Long cũng nhấn mạnh rằng cuộc chiến tranh chống Mỹ đã thắng lợi rực rỡ, nhưng văn học viết về cuộc chiến đó mới chỉ bắt đầu đi qua giai đoạn đầu, phản ánh còn hạn chế về nội dung và chiều sâu Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do hạn chế trong tư duy và năng lực nghệ thuật của người sáng tác, khiến các tác phẩm còn sơ lược, nghèo nàn về nội dung phản ánh cuộc sống phong phú và mãnh liệt của dân tộc Nguyễn Minh Châu trong bài viết "Viết về chiến tranh" cũng nhận định rằng cần nâng cao khả năng phản ánh chân thực và sâu sắc hơn về cuộc sống chiến tranh trong văn học.

Châu chia sẻ suy nghĩ chân thành rằng trong tư duy của người Việt Nam, hiện thực văn học không chỉ phản ánh cuộc sống thực tại mà còn phản ánh những hi vọng và ước mơ của cộng đồng Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến phân tích sâu về đặc điểm của văn học Việt Nam qua bài viết trên báo Văn nghệ ngày 9/6/1979, nhấn mạnh rằng trong sáng tác hiện nay, việc mô tả những điều ‘phải tồn tại’ chiếm ưu thế hơn so với việc mô tả hiện thực khách quan Theo ông, tác phẩm nghệ thuật thường tập trung vào những hình ảnh và nội dung phản ánh những giá trị tích cực, hướng tới sự hoàn thiện, thay vì chỉ phản ánh thực trạng hiện tại Những quan điểm này giúp làm rõ những xu hướng và đặc điểm của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn đã qua, thể hiện mong muốn hướng tới một tương lai tươi sáng hơn.

Trong văn học, việc “chọn phải đạo” thường đặt nặng yếu tố đạo đức và đúng chuẩn, trong khi đó, ở cấp độ tồn tại, tác giả chủ yếu quan tâm đến việc phản ánh chân thực cuộc sống Nhiều tác phẩm thể hiện sự ưu tiên sự phải đạo hơn là tính chân thật, dẫn đến khái niệm “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” Bài viết của Hoàng Ngọc Hiến đã tạo tiếng vang lớn, gây chấn động trong giới sáng tác và phê bình văn học nhờ những quan điểm sâu sắc và gây tranh luận về mối quan hệ giữa chân thật và đạo đức trong sáng tác.

Vấn đề “văn học phải đạo” tạm thời lắng xuống, nhưng vào những năm 80 của thế kỷ XX, cuộc tranh luận này lại nổi lên mạnh mẽ, kéo dài đến đầu những năm 90 Cuộc tranh luận tập trung vào đánh giá lại giá trị và mục đích của văn học qua các quan điểm của nhiều nhà lý luận, phê bình như Phan Cự Đệ, Hà Xuân Trường, Nguyễn Đăng Mạnh, Đinh Xuân Dũng, Ngô Thảo, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà Các ý kiến đều đặt câu hỏi về bản chất của văn học thời kỳ đó, đặc biệt là liệu nền văn học có quá nặng về xu hướng “quan tâm đến sự phải đạo” hơn là tính chân thật, như Hoàng Ngọc Hiến đã nhận xét Nhiều nhà phê bình nhấn mạnh rằng việc nhìn nhận chính xác bản chất của hiện tượng không đồng nghĩa với phủ nhận giá trị, mở ra một “nhận đường thứ ba” cho lý luận phê bình văn học đương đại thế kỷ XX.

Nhận thức lại về các thước đo cũ

2.2.1 Cơ sở khoa học của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ

Phê bình văn học chỉ thực sự trở thành một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt khi nền văn học đạt trình độ tự ý thức cao và phát triển đến mức tự phê Một dấu hiệu rõ ràng cho sự phát triển của phê bình là xu hướng nhận thức lại các thước đo cũ, phản ánh quy luật tiến triển của văn học và sự tiến bộ trong tư duy nghiên cứu Xu hướng đổi mới này cũng thể hiện khát vọng làm mới nền văn học, trong đó có sự đổi mới trong hoạt động phê bình văn học.

Những bước phát triển mới của khoa học xã hội và nhân văn thế giới đã được tiếp thu vào Việt Nam, tạo nền tảng quan trọng cho xu hướng phê bình nhận thức lại các tiêu chuẩn phát triển cũ trong những năm gần đây Các lý thuyết văn học phương Tây hiện đại ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong phân tích các hiện tượng văn học, mang lại nguồn sinh khí mới cho đời sống văn học và góp phần hình thành giá trị mới cho tác phẩm Lý luận phê bình văn học của Việt Nam ngày càng hội nhập vào đời sống học thuật quốc tế, đặc biệt là các xu hướng phê bình ngôn ngữ học như cấu trúc luận, ký hiệu học, tự sự học ngày càng phát triển trong các viện nghiên cứu và trường đại học Trong lĩnh vực tâm lý học, việc vận dụng các lý thuyết của Freud, Jung, Vygotski đã bước đầu mang lại thành tựu đáng kể, với những đóng góp tiêu biểu của Đỗ Lai Thúy trong việc phân tích hoài niệm phồn thực của thơ Hồ Xuân Hương, những ẩn ức trong thơ Hoàng Cầm, và mang lại những nhận thức mới mẻ về văn học Việt Nam.

Sự mở rộng nội hàm của các khái niệm trong văn học giúp các nhà phê bình đánh giá tác phẩm đương đại linh hoạt hơn, không bị ràng buộc bởi các tiêu chuẩn cũ Trước Đổi mới, lý luận văn học tập trung vào mối quan hệ giữa văn học và hiện thực dựa trên quan điểm phản ánh luận của Lenin và duy vật biện chứng của Marx, coi văn học là phản ánh chân thực cuộc sống xã hội Tuy nhiên, với việc áp dụng lý thuyết phương Tây vào phê bình văn học Việt Nam, các nhà nghiên cứu nhận thấy hiện thực của văn học còn bao gồm thế giới tinh thần, cảm xúc và tâm lý của con người trong xã hội Nhiều tác phẩm như truyện ngắn, tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái thể hiện rõ hiện thực pha trộn huyền ảo, phản ánh thế giới tâm linh đầy yếu tố kỳ ảo và ma quái Việc vận dụng các lý thuyết phương Tây giúp các nhà phê bình lý giải sâu sắc hơn về các vấn đề trong tác phẩm, đồng thời đem lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới phù hợp với xu hướng đổi mới trong xét đoán và thước đo đánh giá văn học.

Xu hướng phê bình nhận thức lại các thước đo cũ luôn gắn liền với việc kế thừa và đổi mới có chọn lọc những giá trị tinh hoa của lý luận phê bình xưa Nhận thức lại không đồng nghĩa phủ nhận những giá trị đã được khám phá và phát hiện, mà nhà phê bình tìm tòi những cách đánh giá mới nhằm tôn vinh giá trị thực sự của tác phẩm Thành công của nhà phê bình nằm ở khả năng làm mới cách tiếp cận, giữ gìn di sản lý luận đồng thời phát huy giá trị hiện đại của tác phẩm nghệ thuật.

2.2.2 Nội dung phong phú của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ

Với sự phát triển phong phú và sôi động của nền văn học, phê bình văn học cũng đã có nhiều sự thay đổi rõ nét về diện mạo và nội dung Xu hướng nhận thức lại các tiêu chuẩn cũ đang ngày càng tạo dấu ấn sâu đậm và đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam.

Trong thực tiễn đời sống văn học, xu hướng phê bình mới thể hiện qua việc đánh giá lại các tác phẩm xưa bằng những thước đo sáng tạo và đổi mới Việc tiếp thu các trường phái lý luận, phê bình văn học phương Tây đã thúc đẩy khát vọng đổi thay trong nền phê bình Việt Nam, giúp các nhà phê bình khám phá và lý giải các giá trị văn học một cách sâu sắc hơn Các nhà phê bình có tâm huyết như Hoài Thanh, Phan Cự Đệ và Đỗ Lai Thúy đã sử dụng nhiều phương pháp tiếp cận đa dạng như phê bình ấn tượng, xã hội học, thi pháp học để khám phá phong cách, đặc điểm riêng của từng nhà thơ và hiện tượng văn học Đặc biệt, phương pháp thi pháp học của Đỗ Lai Thúy giúp làm nổi bật các chiều sâu nghệ thuật và quan niệm về con người trong thơ ca mới, mang lại những phát hiện mới về thời đại thơ mới và các nhà sáng tạo Trong các phong trào văn học như Nhân văn giai phẩm, phương pháp phê bình thi pháp học cũng thể hiện khả năng khám phá giá trị tác phẩm vượt khỏi giới hạn của phê bình xã hội học đơn thuần Các sáng tác như "Nỗi buồn chiến tranh" của Bảo Ninh hay các tác phẩm của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Hữu Loan đều đã thể hiện sự cách tân trong sáng tác, chứng minh vai trò của phê bình thi pháp học trong việc thúc đẩy đổi mới văn học Việt Nam.

Quang Dũng, Bên kia sông Đuống và Mưa Thuận Thành của Hoàng Cầm là những tác phẩm gây chú ý trong giới phê bình, nhận được cả lời khen lẫn chỉ trích, thậm chí từng bị cấm đọc Tuy nhiên, sau này độc giả mới nhận ra rằng văn học Việt Nam có nhiều tác phẩm có giá trị vượt thời gian, mà lâu nay còn chưa được công nhận đúng mức.

Trong xu hướng hiện nay của văn học Việt Nam, việc khuyến khích các sáng tác mang tính đột phá và sáng tạo mới là nội dung trọng tâm, phản ánh sự sôi động của đời sống văn học trong những năm đầu thế kỉ XXI Nhiều nhà thơ trẻ như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Thanh Xuân đã khơi nguồn khát vọng đổi mới trong thi ca, trong khi các nhà văn nổi bật như Nguyễn Thị Thu Huệ, Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu đã tạo ra những tác phẩm mang dấu ấn mới mẻ, góp phần định hình diện mạo văn học hiện đại Việt Nam Đặc biệt, những tác phẩm tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh đã gây tiếng vang lớn và làm khuấy đảo văn đàn trong thời gian gần đây Những tác giả này đều dấn thân, khám phá và vượt qua khó khăn để tìm ra những con đường sáng tạo mới, trong khi sự đón nhận nhiệt tình của công chúng ngày càng chứng minh giá trị và sức ảnh hưởng của họ trong sự phát triển của văn học Việt Nam thế kỷ XXI.

2.2.3 Sức thúc đẩy tư duy của xu hướng phê bình nhận thức lại về các thước đo cũ

Phê bình nhận thức lại phù hợp với sự phát triển của tư duy nghiên cứu văn học, yêu cầu nhà phê bình phải phân tích kỹ lưỡng các yếu tố bên trong tác phẩm Chính điều này đã tạo nên sức mạnh thúc đẩy tư duy phê bình mạnh mẽ và mang tính đổi mới Xu hướng phê bình này hướng đến việc làm rõ giá trị nội dung và ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm, góp phần nâng cao chất lượng phân tích và đánh giá văn học một cách toàn diện hơn.

Xu hướng phê bình nhận thức lại các thước đo cũ đã tác động tích cực đến các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực lý luận và phê bình văn học, thúc đẩy sự đổi mới và cập nhật Hiện trạng văn học gần đây cho thấy có dấu hiệu “chững lại”, mặc dù đã có những thành tựu đáng kể, nhưng hạn chế trong việc áp dụng các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu mới vẫn tồn tại Nhiều trường phái lý thuyết quốc tế đã được giới thiệu nhưng chưa được dịch thuật đầy đủ và vận dụng rộng rãi, ngoại trừ thi pháp học Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới và cập nhật lý luận phê bình theo xu hướng của lý luận văn học hiện đại thế giới Người nghiên cứu cần tự trang bị kiến thức mới để đáp ứng những yêu cầu này, góp phần thúc đẩy sự phát triển của phê bình văn học Việt Nam.

"Thước đo mới" thúc đẩy một thái độ nghi ngờ mang tính khoa học đối với các tiêu chuẩn đánh giá đã trở nên ổn định Xu hướng phê bình này kích thích các nhà phê bình sáng tạo và đổi mới, đặc biệt khi họ không hài lòng với những phương pháp đánh giá truyền thống trước đó.

Trong sự phát triển của nền phê bình văn học, hệ thống lý luận đóng vai trò nền tảng và công cụ quan trọng để giải quyết các vấn đề nghiên cứu phê bình Đồng thời, những nỗ lực của đội ngũ các nhà phê bình góp phần quyết định tạo nên những thành tựu nổi bật trong lĩnh vực này.

Xu hướng phê bình nhận thức lại các thước đo cũ đang thúc đẩy những chuyển biến tích cực và thiết thực trong đời sống phê bình văn học nước nhà, mở ra hướng đi mới cho sự phát triển của nền văn học và lý luận phê bình hiện nay.

NHỮNG XU HƯỚNG CHÍNH CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI TỪ GÓC NHÌN ĐỐI TƯỢNG PHÊ BÌNH

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:15

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w