Là một sinh viên khoa Sử, lại là một ngời con của vùng đất Cẩm Xuyên, nơi có công trình thuỷ nông Kẻ Gỗ, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài ''Kẻ Gỗ và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh
Trang 1Khoa lịch sử
-o0o -Khoá Luận tốt nghiệp đại học Đề tài: kẽ gỗ và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở hai huyện thạch Hà, Cẩm xuyên (Hà tĩnh) chuyên ngành lịch sử Việt Nam Giáo viên hớng dẫn: GVC Ths Hoàng Thị Nhạc Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Hiền Lớp : 41E1 - Khoa Lịch sử vinh- 2005 Mục lục A Mở đầu 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Phơng pháp nghiên cứu 5
4 Đối tợng và phạm vi đề tài 5
5 Bố cục đề tài 6
B Nội dung 7 Chơng 1: Khái quát vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và lịch sử
xã hội, con ngời huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên
Trang 21.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên của huyện Thạch Hà,
Cẩm Xuyên 7
1.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội của huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên 12
Chơng 2: Quá trình xây dựng công trình thuỷ nông Kẻ Gỗ 2.1 Tại sao ngời pháp lại đặt vấn đề xây dựng hồ Kẻ Gỗ và họ đã làm đợc gì ? 19
2.2 Sự phấn đấu nỗ lực của nhân dân Hà Tĩnh để xây dựng hồ Kẻ Gỗ 21
2.3 Nhiệm vụ của hệ thống thuỷ nông Kẻ Gỗ 29
Chơng 3: Vai trò của Kẻ Gỗ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên (vùng hởng lợi) 3.1 Đặc điểm kinh tế của hai huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên trớc khi có thuỷ nông Kẻ Gỗ .30
3.1.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp 31
3.1.2 Kinh tế vờn và chăn nuôi 33
3.1.3 Đời sống kinh tế - xã hội của ngời dân huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên trớc khi có Kẻ Gỗ 33
3.2 Vai trò của Kẻ Gỗ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên (vùng hởng lợi) 34
3.2.1 Vai trò của Kẻ Gỗ đối với việc phát triển nông nghiệp 35
3.2.1.1 Đối với nông nghiệp trồng trọt 35
3.2.1.2 Vai trò của Kẻ gỗ đối với phát triển kinh tế vờn 42
3.2.1.3 Vai trò của Kẻ gỗ đối với phát triển đối với chăn nuôi 44
3.2.2 Vai trò của Kẻ gỗ đối với việc nâng cao đời sống của nhân dân hai huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên 47
3.2.3 Vai trò của Kẻ gỗ đối với việc làm thay đổi môi trờng sinh thái 52
3.2.4 Tiềm năng du lịch sinh thái hồ Kẻ Gỗ 53
C Kết luận 56
Tài liệu tham khảo 60
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chânthành tới cô giáo Hoàng Thị Nhạc đã tận tình giúp đỡ và động viên em trongquá trình thực hiện đề tài
Ngoài ra, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoaLịch sử và bạn bè đã giúp đỡ em trong thời gian thực hiện đề tài
Do năng lực của bản thân còn hạn chế nên không thể không có nhữngthiếu sót, em rất mong nhận đợc sự đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất !
Tác giả
Hoàng Thị Hiền
Trang 4A mở đầu
1.Lí do chọn đề tài.
Dân tộc ta trải hơn bốn ngàn năm dựng nớc, trong điều kiện thiên nhiên
có thuận lợi nhng cũng đầy khó khăn biến động Nhng với một sức sống vôcùng mãnh liệt trên lĩnh vực giữ nớc, dân tộc ta đã dứng vững trớc mọi âm muxâm lợc
Trên lĩnh vực dựng nớc, dân tộc ta cũng đã ngoan cờng đấu tranh với thiênnhiên, từng bớc cải tạo thiên nhiên, không bao giờ thụ động trớc thiên tai
Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên thì hạn hán và lũ lụt là hai thứthiên tai chủ yếu Tuy cuộc đấu tranh ấy không dầu sôi lửa bỏng, một mất mộtcòn nh cuộc đấu tranh giữ nớc, nhng nó triền miên năm tháng không kémphần vất vả gian lao
Nớc ta là một nớc nông nghiệp, nền nông nghiệp lấy lúa nớc làm cây
l-ơng thực chủ yếu, một loại cây không chịu đợc úng ngập chua mặn Trong
điều kiện hoàn cảnh nh thế, hạn hán hay lũ lụt đều tác động đến đời sống vàsản xuất của xã hội
Ngày xa cha ông ta đã có truyền thống làm thuỷ lợi Ngày nay với yêucầu cao hơn trong sản xuất và xây dựng chủ nghĩa xã hội, dân tộc ta càng pháthuy truyền thống thuỷ lợi tốt đẹp để tiến tới những thành tựu vẻ vang nhất,
Trang 5xứng đáng với tinh thần làm chủ thiên nhiên làm chủ xã hội trong lao độngsản xuất Chúng ta chẳng những trừ thuỷ hại làm thuỷ lợi mà còn điều hoànguồn nớc và có kế hoạch sử dụng nó một cách hợp lí.
Thuỷ lợi tốt không những có lợi cho nông nghiệp mà còn phục vụ chocông nghiệp, phát triển giao thông vận tải, cung cấp nớc sinh hoạt, bảo vệ môitrờng sống
Hà Tĩnh là miền quê nghèo ở miền Trung, dân phần lớn là làm nôngnghiệp, nhng với khí hậu hết sức khắc nghiệt, mùa ma thì gây lụt lội, mùa hèvới ''nắng lửa, gió Lào'' đã làm cho đất đai ở đây trở nên khô cằn, nên ngời dân
ở đây vốn cần cù, chịu thơng, chịu khó, một nắng hai sơng, bán mặt cho đất,bán lng cho trời, bơn chải với cuộc sống nhng cũng chẳng khấm khá gì
Thạch Hà, Cẩm Xuyên là những huyện đồng bằng của Hà Tĩnh, tuyrộng lớn và tơng đối bằng phẳng nhng phần lớn đất đai canh tác ở đây do cấutrúc của địa hình cho nên ít màu mỡ, ruộng đất hầu hết bị bạc màu, độ chuamặn cao, trình độ canh tác cha cao cho nên trớc đây năng suất cây trồng rấtthấp Nhng ngày nay cuộc sống của ngời dân hai huyện Thạch Hà và CẩmXuyên đã đợc cải thiện đó chính là nhờ vào sự phấn đấu nỗ lực của họ trongcông tác thuỷ lợi
Công tác thuỷ lợi của Hà Tĩnh đã có từ thời nhà Trần, Lê Sơ và trongcông cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân Hà Tĩnh
đã tích cực làm thuỷ lợi, nhiều hồ, đập, trạm bơm, mơng máng đợc xây dựng
để tới tiêu cho đồng ruộng Công trình lớn nhất đợc ghi vào sử sách đó là côngtrình đại thuỷ nông Kẻ Gỗ
Ngày 26 tháng 3 năm 1976 Kẻ Gỗ chính thức bắt đầu khởi công- mộtngày đi vào lịch sử vẻ vang của nhân dân Hà Tĩnh Với sức chứa 345 triệu m3nớc, đã xoá đi qúa khứ nghèo của một vùng rộng lớn gồm hai huyện CẩmXuyên, Thạch Hà và thị xã Hà Tĩnh với 10 vạn dân Kẻ Gỗ ra đời có tác dụngrất lớn đối với cuộc sống của ngời dân nơi đây Từ chỗ không đủ ăn đến nay
đã có của d thừa, làm cho đời sống kinh tế- xã hội ở đây phát triển Ngời dân ở
đây không còn lo cảnh ''ngày 3 thàng 8'' nh trớc nữa, những ngôi nhà mới mọclên san sát, những ngôi trờng mới khang trang đợc xây dựng, những con đờng
Trang 6đợc rải nhựa thẳng tắp tất cả là nhờ có Kẻ Gỗ Có thể nói Kẻ Gỗ nh một biển
hồ góp phần quan trọng làm thay đổi một vùng quê Hà Tĩnh
Là một sinh viên khoa Sử, lại là một ngời con của vùng đất Cẩm Xuyên,
nơi có công trình thuỷ nông Kẻ Gỗ, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài ''Kẻ Gỗ và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của hai huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh)'' làm khoá luận tốt nghiệp đại học Qua khoá luận này
tôi muốn tìm hiểu kĩ hơn những vấn đề về lịch sử địa phơng của quê hơngmình
2 Lịch sử vấn đề.
Từ trớc tới nay hồ Kẻ Gỗ đã đợc nhiều ngời biết đến, và nó đã trở thành
đề tài cho các nhà văn, thơ, nghệ sỹ sáng tác nên những tác phẩm của mình
mà tiêu biểu là bài hát Ngời đi xây hồ Kẻ Gỗ của nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý Và
Kẻ Gỗ cũng đã đợc dựng thành những phóng sự, phim ảnh Nhng cha có mộtcông trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về quá trình xây dựng và vai tròcủa nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở hai huỵên Thạch Hà, Cẩm Xuyên
Tuy cha có một công trình hoàn chỉnh về nó, nhng ta có thể tìm thấynhững bài viết về hồ Kẻ Gỗ ở các tài liệu nh:
- Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi tiểu dự án Kẻ Gỗ tập 5
- Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của hệ thống thuỷ nông Kẻ Gỗ của NinhXuân Sơn
- Kẻ Gỗ niềm hạnh phúc của nhân dân huyện Cẩm Xuyên của DơngXuân Thâu
Ngoài ra chúng ta còn có thể tìm hiểu nó thông qua những bài báo,những phóng sự, những đoạn phim t liệu về nó Nhng để tìm hiểu đợc mộtcách khái quát về vai trò của nó thì chúng ta cần có một công trình nghiên cứu
tỉ mỉ hơn
3 Phơng Pháp nghiên cứu:
Trang 7Để làm đợc đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp nghiên cứunh: Phơng pháp lịch sử, Phơng pháp lô gích, thu thập và xử lý tài liệu Ngoài
ra còn sử dụng phơng pháp điền dã thực địa
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về vai trò của Kẻ Gỗ đối với sự phát triển kinh tế - xãhội ở hai huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên và thị xã Hà Tĩnh (vùng hởng lợi), thờigian giới hạn từ khi thuỷ nông Kẻ Gỗ phát huy tác dụng đến năm 2002
5 Bố cục đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm có 3 chơng
Chơng 1: Khái quát vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và lịch sử xã hội conngời hai huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên
Chơng 2: Quá trình ra đời của thuỷ nông Kẻ Gỗ
Chơng 3: Vai trò của Kẻ Gỗ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở haihuyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên (vùng hởng lợi)
Trang 8b nội dung
Ch ơng 1 : Khái quát vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và lịch sử xã hội, con ngời huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên
1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên của huyện Thạch Hà và Cẩm Xuyên.
Thạch Hà nằm giữa khoảng giữa 5 huyện ven biển tỉnh Hà Tĩnh, trêntoạ độ 18010’03’’ đến 18029’ vĩ độ bắc và 10508’ đến 106002’ kinh độ đông,bắc giáp huyện Can Lộc, nam giáp huyện Cẩm Xuyên, tây giáp huyện HơngKhê, đông giáp biển Đông, là vành đai bao quanh tỉnh lỵ Hà Tĩnh
Diện tích toàn huyện là 44.088 ha, trong đó đất nông nghiệp có 16.943
ha, đất có khả năng trồng rừng trên 8000 ha, diện tích có nuôi trồng thuỷ sản2.600 ha
Năm 1942, mật độ dân số trung bình là 208 ngời/km2, hiện nay là 404ngời/km2
Từ một vũng biển thời xa xa, đợc bồi lấp do phù sa núi và cát biển tạothành nhng do trải qua nhiều kỷ địa chất, mảnh đất này có nhiều biến thiênlịch sử to lớn Ngày nay chúng ta có một vùng sông rộng, núi dài, dân c đông
đúc, khoáng sản giàu có nhng lại nằm trong một giải đất hẹp, độ dốc lớn,nhiều sông ngòi, kênh, lạch, địa hình chia cắt, tầng đất canh tác kém và đấtnhiễm mặn nhiều
Phía Tây liền với vùng núi Hơng Khê là dãy đồi núi thấp – rìa ngoàicủa Trờng Sơn Bắc kéo dài 24km từ Đông Sơn Mao (Thạch Ngọc) đến ngọnBáu Đài (Thạch Lu), ngọn Nhật Lệ (Thạch Điền) Vùng bán sơn địa này rộngkhoảng 11.000 đến 12.000 ha, chiếm 25% diện tích toàn diện, các núi đều ở
độ cao trung bình 200m – 250m, trừ ngọn Nhật Lệ cao 416m
Mé biển, phía đông bắc huyện có núi Bờng, (Bằng Sơn 213m), rú Bể,(Nam Giới – Quỳ Sơn 373m) Hai ngọn núi này cùng các đồi rải rác trongvùng đồng bằng đều là những hòn đảo trong vũng biển thủa trớc
Đồng bằng Thạch Hà rộng khoảng 29.000 ha, trong đó khoảng 13.000
ha là đất thịt và khoảng 10.000 ha là đất cát pha Do cấu tạo bằng phù sa núi
và cát biển, đồn điền tơng đối bằng phẳng nhng ít màu mỡ Ven biển có
Trang 9khoảng 6.000 ha (12,5% diện tích) trong đó có khoảng 1.000 ha là núi đá, cònlại là cát biển
Thạch Hà có mạng sông ngòi dày đặc, với tổng lu vực hứng nớc gần800km2 Tám con sông, có bốn sông chính (sông Già, sông Cày, sông RàoCái, sông Hà Hoàng) đổ ra Cửa Sót 36 – 40 triệu m3 nớc và 70.000 tấn bùncát mỗi năm Sông Già từ núi Bụt chảy theo địa giới phía Bắc huyện qua ViệtXuyên (Thạch Minh) xuống Cổ Kênh (Thạch Kênh) Đổ vào ngã ba Kênh ởvùng Sơn Điệm (Thạch Sơn), Gia Mỹ (Thạch Mỹ) Sông cùng bắt nguồn từcác khe núi Nhật Lệ, Báu Đài chảy qua Vĩnh Lu (Thạch Lu) xuống Ngọc
Điền, Ngọc Luỹ (Thạch Thợng), Hà Hoàng (Thạch Trung, Thạch Hạ) rồi cũngvào ngả ba Kênh
Sông Rào Cái từ Ngàn Mọ (Cẩm Xuyên) chảy xuống Đức Lâm (ThạchLâm) thì vòng theo địa giới phía Tây Nam huyện, đến Phất Mão (Thạch Bình),
Đại Nài gọi là sông Phủ, rồi chuyển sang đông bắc đến Kinh Hạ (Thạch Hng),Ngã Ba Sơn, lại qua các xã Thạch Đồng, Thạch Môn, Thạch Khê, Thạch Đỉnh,
đổ vào sông Hà Hoàng
Còn con sông Hà Hoàng chỉ là đoạn cuối của một dải sông chạy quacác huyện Đức Thọ, Can Lộc, với nhiều tên gọi khác nhau Đến ngả ba Kênhthì phình rộng ra, khi triều cờng nhận nớc của 10 nhánh sông hói lớn nhỏ Từ
đây sông mang tên Hà Hoàng, chảy qua Hộ Độ (Thạch Nam) gọi là sông Hộ
Độ, qua Mai Lâm (Thạch Bắc) thì gọi là sông Mai Thuỷ
Bở biển Thạch Hà dài 27km, với tổng diện tích vùng đặc quyền kinh tế
là 3.310km2, Cửa Sót là cửa biển lớn ở Hà Tĩnh
Thạch Hà ở vào nơi chuyển tiếp giữa hai vùng khí hậu Bắc – Nam nên
có ma lớn Lợng ma trung bình là 2.544mm/năm và độ ẩm rất cao 77% - 83%
Ba tháng 9, 10, 11 có ma lớn, nhng hàng năm có sáu tháng nắng to
Mùa đông kéo dài đến 95 ngày từ đầu tháng 12 cho đến đầu tháng 3năm sau Nhiệt độ trung bình trong mùa lạnh là 170C, khi thấp xuống dới 80C,cá biệt có năm xuống 6,70C Nhiệt độ trung bình mùa nóng là 27,50C, khi caonhất lên tới 29,20C, cá biệt có năm lên tới 400C
Xa nay, Thạch Hà là huyện nông nghiệp Nhng trên địa bàn có 3 vùng
đồi núi, đồng bằng và bờ biển nên nguồn tài nguyên khá dồi dào và đa dạng
Trang 10Ruộng đất tuy bạc màu, độ chua mặn cao nhng diện tích canh tác rộng và bìnhquân ruộng đất trên đầu ngời khá cao so với một số huyện khác.
Diện tích mặt nớc có khả năng nuôi trồng thuỷ sản cũng rất lớn, khoảng
2600 ha
Khoảng 200.000ha rừng tự nhiên có nguồn lâm sản phong phú gỗ, củi,song, mây, cây thuốc, và nhiều loại chim thú quý, nhng hiện nay đã bị tànphá nghiêm trọng
Khoáng sản cũng rất dồi dào nhng mới chỉ là tiềm năng: ôxit titan ven
bờ biển có trữ lợng khoảng 60 vạn tấn, các thuỷ tinh ở vùng Thạch Lu, ThạchVĩnh, đá granit ở Nam Giới, Bằng Sơn đều có trữ lợng trên 500 triệu tấn làloại mỏ lớn trong nớc
Thạch Hà ở vào vị trí trung tâm của tỉnh, không có đờng sắt nhng đờngthuỷ, đờng bộ trong huyện đều khá thuận lợi
Huyện Cẩm Xuyên ở phía đông nam tỉnh Hà Tĩnh, vào khoảng 180 2’
-18020’ vĩ độ bắc, 105005’ = 106010’ kinh độ đông Đông giáp biển, tây giáprặng núi Hoành Sơn, nam giáp núi Rác và đồi núi trọc ngăn cắt huyện KỳAnh, bắc giáp huyện Thạch Hà
Trung tâm huyện cách Thành phố Vinh 65km về phía nam Toàn huyện
có 27 xã và 1 thị trấn, diện tích tự nhiên là 655,60 km2 Cẩm Xuyên là mộthuyện vừa có miền duyên hải, vừa có miền núi và bán sơn địa
Diện tích vùng rừng núi 30.680 ha chiếm 52% tổng diện tích toànhuyện Độ cao trung bình của núi là 200m (vùng đồi lợn sóng 25 – 250m)
Đỉnh cao nhất là 507m Sờn núi phía đông tơng đối thoải, có nhiều vùng địahình có độ cao 25m, vùng đồi thoải đó có thể sử dụng tốt cho trồng trọt vàchăn nuôi
Vùng đồi lợn sóng bị xói mòn, bạc màu hầu hết còn trơ lại sỏi đá bởivậy hiện tại phần đất sử dụng không còn bao nhiêu
Địa hình đồng bằng ven biển: tổng diện tích vùng này có 28580hachiếm 45% tổng diện tích toàn huyện
Đất đai vùng đồng bằng Cẩm Xuyên đại bộ phận có độ cao từ 3 4mcá biệt có vùng cao 7 8 m, vùng thấp nhất có độ cao từ 0,8 1,2m
Trang 11Có 3 con sông lớn chảy qua vùng đồng bằng Cẩm Xuyên và chia đồngbằng thành các vùng có điều kiện địa hình tơng đối khác nhau Vùng từ dãy
đồi phía Nam đến nhánh sông Rào Cái đổ ra Cửa Nhợng có độ dốc trung bìnhtơng đối lớn, chiều dài ngắn nên hiện tợng xói mòn và bạc màu tơng đốimạnh Vùng này chủ yếu nằm trong khu tới của hệ thống Thợng Tuy và KênhN2 của Kẻ Gỗ
Vùng từ phía trái nhánh sông Rào Cái đến bãi cát ven biển có địa hìnhbằng phẳng, rộng trải dài từ Thạch Hà vào giáp Cửa Nhợng Địa hình có dạnglòng chảo dốc về hai phía đổ vào sông Hói Súc chạy dọc giữa vùng độ dốcnhỏ
Vùng đồng bằng phía tây của Cẩm Xuyên, địa hình vùng này khá bằngphẳng, có độ dốc nhỏ nghiêng về phía nhánh sông Rào Cái đổ ra Cửa SótThạch Hà
Ven biển từ Thạch Hà đến Cửa Nhợng là bãi cát dài 18km rộng bìnhquân là 3km
Chạy dài từ phía biển là vùng cây chắn gió, phía đông đang đợc cải tạo,trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày
Với 12km bờ biển chạy dọc từ các xã: Cẩm Hoà, Cẩm Dơng, CẩmLong, Cẩm Lĩnh và Cẩm Nhợng đã làm cho Cẩm Xuyên có một nguồn tàinguyên về biển khá phong phú
Địa hình rừng núi cũng chiếm một diện tích đáng kể nên Cẩm Xuyêncũng đã có một nguồn lâm sản quý và nó cũng tạo điều kiện cho việc chănnuôi đại gia súc
Nền đất của huyện Cẩm Xuyên là nền đất cứng, chủ yếu là đất phù sa
do sông, biển bồi tụ có diện tích là 28.585 ha, bị bạc màu và phong hoá tơng
đối mạnh
Đặc điểm địa hình, địa chất thổ nhỡng của huyện Cẩm Xuyên nói trên
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải tạo đồng ruộng, đa cơ giới hoá vào sảnxuất nông nghiệp
Về khí hậu: Nhiệt độ bình quân lớn nhất trong năm là 30,80C, nhiệt độbình quân thấp nhất là 150C Độ ẩm bình quân năm 83,8%
Trang 12Có hai hớng gió thịnh hành vào hai mùa: Mùa đông: gió mùa đông bắcbắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau Mùa hè: gió mùa tâynam bắt đầu tháng 5 và kết thúc vào tháng 8.
Cẩm Xuyên có lợng ma lớn ở miền Bắc, có cờng độ ma lớn, thời gian
ma kéo dài, lợng ma tập trung trong hai tháng tháng 3 và tháng 8
Mạng lới sông ngòi của huyện có 3 con sông chính bắt nguồn từ rừngnúi phía Nam đó là: sông Rào Cái; sông Thợng Tuy; sông Rác Ngoài ra còn
có nhiều khe, suối, sông ngòi nhỏ khác
Ngày nay, đờng quốc lộ 1A chạy suốt từ Nam chí Bắc xuyên qua huyệnCẩm Xuyên
1.2 Đặc điểm lịch sử – xã hội và con ng ời của huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên.
Huyện Thạch Hà ngày nay là mảnh đất lịch sử tồn tại từ thời dựng nớc,thuộc địa bàn nớc Văn Lang thời Hùng Vơng, nớc Âu Lạc thời An Dơng V-
ơng Trong thời Bắc thuộc, vùng đất này thuộc quận Cửu Chân thời Triệu,huyện Hàm Hoan thời Hán, quận Cửu Đức thời Ngô, quận Nhật Nam thờiTuỳ, châu Phúc Lộc thời Đờng
Địa danh Thạch Hà xuất hiện đầu tiên ở thời Lê (980 - 1009) với đơn vịhành chính mang tên châu Thạch Hà, thời Trần đổi tên là châu Nhật Nam vàhuyện Thạch Hà ngày nay tơng ứng với 2 huyện Hà Hoàng và Bàn Thạch.Thời thuộc Minh (1407 – 1427) thuộc châu Nam Tĩnh, phủ Nghệ An Sangthời Hậu Lê, huyện Thạch Hà thuộc phủ Hà Hoa, đạo Nghệ An
Thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 12 đặt huyện Thạch Hà thuộc phủ
Hà Hoa, tỉnh Hà Tĩnh Năm Tự Đức thứ 6 (1853) bỏ tỉnh, đem phủ Đức Thọ lệvào Tỉnh Nghệ An và phủ Hà Hoa đổi làm Hà Thanh lập thành đạo Hà Tĩnh.Huyện Thạch Hà do đạo Hà Tĩnh kiêm lý (không có tri huyện) Năm Tự Đức
28 lập lại tỉnh Hà Tĩnh, Thạch Hà đặt tri huyện, do phủ Hà Thanh thống hạt.Năm đầu Khải Định (1916) đổi huyện phủ Thạch Hà đặt tri phủ, phủ trị đóngtại xã Đại Nài
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, phủ Thạch Hà lại đổi thành huyện vàhuyện lỵ dời về xã Thạch Thợng Số đơn vị hành chính dới huyện là xã cũngnhiều lần thay đổi
Trang 13Năm 1945 cắt 6 xã, thôn cũ cho Can Lộc Toàn huyện còn lại 79 đơn vịxã, thôn cũ Năm 1946 hợp 79 xã, thôn nhỏ thành 26 xã lớn Năm 1950 lạihợp 26 xã thành 17 xã lớn hơn Năm 1954 chia 17 xã thành 44 xã nhỏ Năm
1965 lập thành 1 xã đó là xã Thạch Bàn Năm 1968 thành lập nên thị trấnnông trờng Thạch Ngọc Năm 1983 thành lập xã Nam Hơng Năm 1985 thànhlập nên xã Bắc Sơn và lập thị trấn Cày – huyện lỵ Đến năm 1990 cắt 6 xã(Thạch Trung, Thạch Quý, Thạch Linh, Thạch Phú, Thạch Hoà, Thạch Yên)chuyển về thị xã Hà Tĩnh
Trên đất Thạch Hà, cuộc sống con ngời đã bắt đầu khá sớm, các di chỉkhảo cổ học cồn sò điệp Thạch Lạc, Thạch Lâm, Cồn Lôi Mốt (Thạch Vĩnh,Thạch Đài) thuộc văn hoá hậu kỳ thời đá mới Chứng minh rằng, ngời tiền sử
đã từng sống trên đất Thạch Hà từ trên 4000 năm trớc
Tuy nhiên suốt thời cổ đại, dân c ở đây vẫn còn tha thớt Hơn nữa Thạch
Hà nằm trong miền biên viễn, chiến tranh, giặc giã, trộm cớp, thiên tai, đóikém xảy ra triền miên nên c dân phân tán, bị xáo trộn rất mạnh Những lớpngời đầu tiên không để lại mấy dấu vết, theo gia phả các dòng họ lớn thì tổtiên lớp ngời hiện nay đến đây sớm nhất từ cuối đời Trần, đầu Lê (thế kỷ XIII,XIV, XV) Nhng trong hơn nghìn năm lịch sử, lớp c dân Thạch Hà đã ra sứckhai phá, mở mang những cánh đồng và họ đã dựng nên những xóm làng đôngvui, vun đắp cuộc sống ngày càng tốt đẹp
Làm lụng cần cù, nhẫn nại, chịu đựng gian khổ, chắt lót trong đời sống,khôn ngoan trong khi tính việc, tình nghĩa với làng nớc, là đức tính quý báucủa nhân dân Thạch Hà Con ngời ở đây đã từng chứng kiến và tham dự mọibiến cố xã hội từ thời Bắc thuộc, Tuỳ, Đờng, đến các cuộc chống ngoại xâmNguyên, Minh, Thanh, chịu đựng các cuộc nội chiến đẫm máu Lê - Mạc,Trịnh – Nguyễn
Từ đầu thế kỷ XVIII, một ngời mẹ ở làng Mai Phụ đã sinh ra vị vua anhhùng Mai Hắc Đế, ngời đã lãnh đạo cuộc khởi binh chống quân xâm lợc nhà
Đờng năm 772
Khi quân Minh sang xâm lợc (đầu thế kỷ XV), có cuộc khởi nghĩa củaviên tri phủ Phan Liêu quê ở xã Tôn Lỗ, và 2 ngời Tôn Lỗ khác là cha conNguyễn Tất Vinh, Nguyễn Tất Đạt đã tham gia vào nghĩa quân Lam Sơn
Trang 14Tiếp đó nhiều ngời dân Thạch Hà nh Dơng Bá Học, Hồ Phi Chân đãtham gia nghĩa quân Tây Sơn đánh giặc Thanh.
Rồi khi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lợc nớc ta, một lần nữa nhữngngời con Thạch Hà đã anh dũng kiên cờng cùng với quân dân cả nớc đấu tranhchống lại ách áp bức xâm lợc của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đã có nhiềungời con Thạch Hà vĩnh viễn nằm xuống, hy sinh đến giọt máu cuối cùng đểbảo vệ độc lập tự do cho tổ quốc
Tinh thần yêu nớc, ý chí đấu tranh chống áp bức xâm lợc liên tục trongquá trình lịch sử là điểm nổi bật của ngời dân huyện Thạch Hà
Thạch Hà còn là một vùng văn hoá có nét riêng ở Hà Tĩnh, có thể đây là
địa bàn phát sinh điệu hát dặm và một trong những vùng hát dặm phổ biến ởcuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với hàng loạt nghệ nhân xuất sắc nh: Sợi Đ-ờng, Tri Lơng, Nguyên Hạnh,
Về việc học ở Thạch Hà, ngời khai khoa là Hoàng giáp Nguyễn Hộc,ngời xã Cổ Kênh, đỗ khoa Nhâm Tuất (1842) Từ đó việc học hành ngày càngthịnh đạt, ngời đỗ khoa Hội, khoa Hơng ngày càng đông Cho đến nay truyềnthống hiếu học vẫn đợc lu giữ ở Thạch Hà
Ngời dân Thạch Hà cũng có những đức tính chịu thơng, chịu khó Thạch Hà cũng là vùng có di tích lịch sử mà tiêu biểu là chùa NghĩaSơn, Cẩm Sơn, danh thắng Quỳnh Vân…
Huyện Cẩm Xuyên theo dấu vết khảo cổ học di chỉ cồn sò điệp ThạchLâm – Thạch Hà thì có niên đại trên 4.000 năm cách ngày nay Theo truyềnthuyết xa thì Vua Hùng thứ 13 đi tuần thú Phơng Nam, khi đi đến một ngọnnúi sát cửa biển nghe tiếng đàn mà không thấy dấu chân ngời nên đặt tên lànúi Thiên Cầm (đàn trời) Đàn trời hiện nay thuộc địa phận 2 xã Cẩm Long vàCẩm Nhợng
Thời Bắc thuộc, vùng Cẩm Xuyên khi thuộc huyện Tỵ ảnh quận NhậtNam (thời Hán), huyện Tỵ ảnh, quận Tỵ ảnh (thời Tuỳ) huyện Việt ThờngChâu Hoan (thời Đờng)
Một thời gian ngắn vùng này bị ngời Chàm xâm lấn (910 - 980) Khi LêHoàn đánh thắng quân xâm lợc nhà Tống đã tiến đánh giải phóng vùng đất từnúi Nam Giới đến Đèo Ngang, lập ra châu Thạch Hà
Trang 15Nhà Lý lập trại Định Khiêm, nhà Trần lại đổi thành châu Nhật Nam.Năm 1469, Lê Thánh Tôn định lại bản đồ hành chính cả nớc nhập châu, huyệnvào các thừa tuyên Vùng đất Cẩm Xuyên bấy giờ thuộc huyện Kỳ Hoa phủ
Hà Hoa thừa tuyên Nghệ An
Năm 1831 Minh Mạng thứ 12, cắt 2 phủ Đức Quang và Hà Hoa củatỉnh Nghệ An lập ra tỉnh mới – tỉnh Hà Tĩnh
Năm 1836 Minh Mạng thứ 17, cắt 4 tổng: Lạc Xuyên – Thổ Ngoạ
-Mỹ Duệ – Vân Tán của huyện Kỳ Hoa lập ra huyện Hoa Xuyên
Năm 1841, Vua Thiệu Trị vì kị tên huý đổi phủ Hà Hoa ra Hà Thanh,
Kỳ Hoa ra Kỳ Anh và Hoa Xuyên thành Cẩm Xuyên
Từ thời nhà Tiền Lê, Lê Hoàn đã sai Ngô Tử An mở đờng bộ từ Cửa Sót
đến châu Địa Lý (Quảng Bình)
Ngời dân Cẩm Xuyên toàn là ngời Kinh, trong đó có 256 hộ gia đìnhtheo Thiên chúa giáo và một số ít theo đạo Phật
Nhân dân Cẩm Xuyên xa kia có tiếng hiếu học và thông minh, đã cónhững ngời học giỏi, đỗ đạt cao nh ông Võ Phơng Trứ quê ở làng PhơngPhong (xã Cẩm Duệ) đậu giải nguyên, dới thời nhà Nguyễn Hồi Pháp thuộc
có nhiều ngời đậu tú tài
Bị chế độ thực dân phong kiến kìm hãm, nhân dân Cẩm Xuyên không
đợc mở mang trí tuệ và thi thố tài năng nhng đó cũng là điều nói lên truyềnthống hiếu học và trí thông minh của nhân dân Cẩm Xuyên
Nhân dân Cẩm Xuyên có đức tính cần cù, giản dị, chịu đựng gian khổ,thông minh, dũng cảm và rất thuần phác, hầu hết đều sống bằng nghề nông
Dới chế độ thực dân phong kiến bóc lột, nhân dân Cẩm Xuyên vô cùngcực khổ, nhiều ngời phải bỏ làng quê đi kiếm ăn
Ruộng đất hầu hết nằm trong tay bọn địa chủ, cờng hào Ngoài việcchiếm lấy ruộng đất tốt cho riêng mình, chúng còn lấy số ruộng sản xuất lấyhoa lợi dùng vào việc cúng tế hởng lợi nhng lại bắt nhân dân phải chịu thuế.Bọn cờng hào địa chủ chẳng những dùng mọi âm ma, thủ đoạn chiếm đoạtruộng đất công để bóc lột kinh tế mà chúng còn dùng ruộng đất này để ràngbuộc nhân dân về mặt chính trị xã hội
Trang 16Trong lúc đó đại bộ phận nông dân thiếu ruộng không có ruộng phảisống cảnh ăn cơm vay, cày ruộng rẽ, nhiều ngời dấn thân đi ở suốt đời Thậmchí một số nông dân không có lấy một tấc đất để cắm dùi.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), thực dân Pháp ra sứckhai thác Đông Dơng, nạn áp bức bóc lột của đế quốc ngày càng đề nặng lênvai ngời dân Cẩm Xuyên
Su cao thuế nặng cùng với chế độ tô tức khắc nghiệt của giai cấp địachủ làm cho nhân dân huyện Cẩm Xuyên vô cùng cực khổ, họ phải chịunhững thứ thuế vô lý khác nhau Đời sống của ngời dân ở đây hết sức đói khổ,
đời sống chính trị, tinh thần cũng bị áp bức nặng nề
Về mặt văn hoá xã hội cũng bị hạn chế bởi chính sách ngu dân Dới chế
độ thực dân phong kiến, ở Cẩm Xuyên chỉ có một trờng tiểu học ở Huyện vàmột vài trờng sơ học ở các tổng Nhng đa số những ngời con nhà giàu mới đợc
tổ quốc
Phải sống trong cảnh cực khổ, cảnh nớc mất nhà tan nh vậy, nhng cũngchính vì thế mà đã hình thành trong mỗi ngời dân Cẩm Xuyên một tình cảmyêu nớc, yêu quê hơng nồng nàn và lòng căm thù bọn thực dân đế quốc
Chính mảnh đất Cẩm Xuyên đã sản sinh ra những ngời anh hùng dântộc nh Nguyễn Biên, Hà Huy Tập, Phan Đình Giót… họ là những ngời contiêu biểu đóng góp cho phong trào giải phóng dân tộc và bảo vệ độc lập cho tổquốc
Trang 17Ngày nay cẩm Xuyên cũng có nhiều ngời con thành đạt, có địa vị trongxã hội và đóng góp nhiều cho quê hơng nhằm làm cho quê hơng ngày cànggiàu đẹp hơn.
Trang 18Ch ơng 2 : Quá trình xây dựng công trình thuỷ nông Kẻ Gỗ.
Với một miền quê nghèo, khí hậu vô cùng khắc nghiệt, đất đai khô cằnthì việc làm thuỷ lợi nó trở nên hết sức cấp thiết Với quyết định 8/8 TTg-CPngày 23 tháng 12 năm 1974 đã phê duyệt cho xây dựng công trình đại thuỷnông Kẻ Gỗ Ngày 26 tháng 3 năm 1976 bắt đầu khởi công - một ngày đi vàolịch sử vẻ vang của nhân dân Hà Tĩnh, với sức chứa 345 triệu m3 nớc đã xoá điquá khứ đói nghèo của một vùng quê rộng lớn gồm hai huyện Cẩm Xuyên,Thạch Hà và Thị xã Hà Tĩnh với trên 10 vạn dân và 3 vạn héc ta đất canh tác
Có thể nói Kẻ Gỗ nh một biển hồ góp phần quan trọng làm thay đổi một vùngquê Hà Tĩnh
Kẻ Gỗ đợc xây dựng tại xã Cẩm Mỹ huyện Cẩm Xuyên trên lu vực consông Rào Cái, cách thị xã Hà Tĩnh khoảng 15 km về phía Nam
Tuy đợc khởi công xây dựng vào ngày 26 tháng 3 năm 1976 nhng ý đồxây dựng công trình này đã có từ trớc - khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta
2.1 Tại sao ngời Pháp lại đặt vấn đề xây dựng hồ Kẻ Gỗ và họ đã làm đợc gì?
Thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, chúng đến nớc ta với khẩu hiệu là khaihoá văn minh nhng thực chất chỉ là để bóc lột và vơ vét tài nguyên của nớc ta
về làm giàu cho chính quốc
Khi đến nớc ta thực dân Pháp là một nớc công ngiệp có trình độ kĩ thuậthơn ta rất nhiều, về trình độ thuỷ lợi của họ rất phát triển Đến Việt Nam vàvùng Nghệ An, Hà Tĩnh họ thấy đây là vùng đất nghèo, khí hậu khắc nghiệt,
đất đai khô cằn, cuộc sống của ngời dân hết sức cực khổ nhng con ngời ở đâylại rất anh dũng và kiên cờng
Sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), với khí thế cách mạng ởvùng này, toàn quyền Pháp đã đệ trình chính phủ Pháp “cho xây dựng hồ Kẻ
Gỗ để lấy nớc cho vùng này nếu không thì dân tình đói khổ, hay theo cộng sản
để làm loạn” [22;5]
Trên thực tế ở Nghệ An họ đã làm hai công trình đó là đập nớc Đô
L-ơng ngăn cả con sông Lam, đây là cả một kì công và một công trình nữa đó làcống Mụ Bà ở Nam Đàn Cả hai công trình này họ đã xây dựng hoàn tất
Trang 19ở Hà Tĩnh, thực dân Pháp cũng đã cho khảo sát để thi công hai côngtrình đó là Cẩm Trang để giải quyết tới cho Đức Thọ, Can Lộc và một phầnThạch Hà Còn ở phía Nam Hà Tĩnh là làm Kẻ Gỗ, để tới tiêu cho Thạch Hà,Cẩm Xuyên, Thị xã Hà Tĩnh và một phần của Bắc Kỳ Anh.
Theo tài liệu thời Pháp thuộc để lại, năm 1934 nhà cầm quyền thuộc địa
đã cho khảo sát đắp đập ở vùng Kẻ Gỗ và họ mới chỉ làm đợc quy hoạch kênhmơng (kênh mơng hiện nay của hệ thống Kẻ Gỗ chủ yếu là dựa vào bản thiết
kế của ngời Pháp), năm 1943 họ đã cho làm kênh chính và kênh phụ nhng bịNhật cản trở cho nên mới chỉ đắp đợc một đoạn giữa kênh N9 về Thạch Khê
Còn về đập chính họ đã đa ra ba phơng án: Đào giữa lòng đồi để lấy chohết cát; đóng ván chặn cát lại; đào và đổ vào đó một thứ dung dịch khôngthấm đợc Đó là 3 phơng án đề ra của các kĩ s Pháp nhng cuối cùng cũng bịNhật cản trở, vả lại kĩ thuật xử lý tầng cát cha đợc kết luận cho nên công trình
đã bị dừng lại
Nh vậy về kênh mơng thì họ đã quy hoạch xong, còn về đập chính thì
họ mới chỉ dừng lại ở việc đa ra các phơng án xử lý cát nhng cha có kết luậncuối cùng cho nên công trình bị tạm dừng
2.2 Sự phấn đấu nỗ lực của nhân dân Hà Tĩnh để xây dựng hồ Kẻ Gỗ.
Sau khi cớp chính quyền ở Nghệ An đã có hai công trình đó là đập nớc
ở Đô Lơng và cống Mụ Bà ở Nam Đàn Còn Hà Tĩnh vẫn cha có gì, bây giờ
mà làm Kẻ Gỗ thì quá khó Đảng bộ Hà Tĩnh vẫn thờng xuyên báo cáo lêntrên để xin làm hồ Kẻ Gỗ, nhng vì chiến tranh liên miên nên không có điềukiện để làm Bác Hồ lúc sinh thời cũng đã có đặt vấn đề là phải làm sao chonhân dân Hà Tĩnh đỡ khổ, phải làm cho Hà Tĩnh một cái gì đó để cho nhândân Hà Tĩnh đợc đổi đời
Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc (năm 1954), Đảng bộ Hà Tĩnh,khi bàn phơng hớng thuỷ lợi đã đề cập đến việc xây dựng công trình Kẻ Gỗ
Năm 1957 Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh và Bác đã dặn “phải lục hồ sơ Kẻ
Gỗ nghiên cứu trớc để lúc có thời cơ là xây dựng” [20;12] Cũng trong nămnày Uỷ ban tỉnh đã cho làm tài liệu kĩ thuật, lập tổ theo dõi thuỷ văn tại Kẻ
Gỗ
Trang 20Đến đại hội Đảng bộ Hà Tĩnh năm 1963, vấn đề xây dựng đập Kẻ Gỗlại đợc nêu ra, đề xuất lên trung ơng cho xây dựng nhng cha đợc quyết định.Sau đó do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ nên việc thiết kế công trìnhphải dừng lại, song vẫn tiếp tục các vấn đề về kĩ thuật.
Với thiết tha của Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh, tuy chiến tranh cha kếtthúc nhng năm 1967 Bộ Thuỷ Lợi đã cho một bộ phận vào Cẩm Xuyên khảosát, và đến tháng 12 năm 1974, Chính phủ đã ra quyết định phê chuẩn nhiệm
vụ thiết kế hồ chứa nớc Kẻ Gỗ
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, với tinh thần hồ hởi sau thắng Mỹ
và lòng mong ớc xây dựng quê hơng tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xãhội, một công trình đại thuỷ nông đợc gấp rút thi công ở Hà Tĩnh trong nhữngnăm 1975 đến 1979 đó là hồ Kẻ Gỗ
Hồ Kẻ Gỗ đợc thiết kế có lu vực rộng 223 km2, lòng hồ rộng 2,9 km,dài 22km, trữ lợng nớc 345 triệu m3 có khả năng tới cho 24.136 héc ta, diệntích thực tới là 15 nghìn héc ta
Về hồ sơ thiết kế nhìn chung ta vẫn lấy hoàn toàn hồ sơ thiết kế kênhmơng của ngời Pháp, chỉ sửa đổi lại một số ít Còn về thiết kế tuyến đập chính
là của ta tự thiết kế không theo dự kiến nh ban đầu của Pháp là tới vào cho tớiBắc Kì Anh mà chỉ vào đến hết huyện Cẩm Xuyên
Công trình thuỷ nông Kẻ Gỗ là một công trình mơ ớc ngàn đời của nhândân Hà Tĩnh mà đặc biệt là huyện Thạch Hà và Cẩm Xuyên, nh lời của nhạc
sỹ Nguyễn Văn Tý đã viết “Kẻ Gỗ là đây bao năm đợi tháng chờ" Công trìnhnày ra đời sẽ đảm bảo nớc tới cho hai huyện Cẩm Xuyên và Thạch Hà, hạnchế lũ, xói mòn, kết hợp làm thuỷ điện, làm hồ cá, cải tạo môi trờng sinh thái,khí hậu, nơi nghỉ mát du lịch
Các hạng mục lớn của công trình Kẻ Gỗ gồm có phần đầu mối, 1 đậpchính, 3 đập phụ, 1 công trình xả lũ, 1 cống lấy nớc, 1 nhà máy thuỷ điện đặtsau cống lấy nớc Phần kênh mơng gồm kênh chính, kênh cấp 1, cấp 2, cấp 3,cấp 4 dài 90 km, và 584 công trình trên kênh [10;229]
Thời gian dự kiến xây dựng trong 6 năm, trong đó phần đầu mối là 5năm Trên thực tế thì từ tháng 2 năm 1975 khi nớc nhà cha thống nhất, chathành lập tỉnh Nghệ Tĩnh, công trờng Kẻ Gỗ đã đợc thành lập và bắt đầu triển
Trang 21khai xây dựng Do phải tập trung cho mọi nỗ lực để chi viện cho cuộc tổngtiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, nên lúc đó Hà Tĩnh mới chỉ bắt đầuchuẩn bị đợc một số việc: Thành lập ban chỉ huy công trờng, làm 17 km đờnggiao thông, xây dựng hệ thống thông tin liên lạc, sản xuất vật liệu xây dựng(cát, sỏi) chuẩn bị thủ tục, tổ chức lao động và xe, máy, thiết bị Với tinh thần
“có một viên gạch, một lao động cũng dành cho xây dựng hồ Kẻ Gỗ”[10;292]
Tháng 6 năm 1975, Uỷ ban tỉnh huy động 2000 lao động thi công trongmùa ma Cuối năm 1975 đã triển khai 2500 lao động thủ công làm kênh mơng
và đa xe, máy hoạt động trên khu vực đầu mối Những hoạt động chuẩn bị đó
đã thể hiện rõ hơn tinh thần, nguyện vọng của nhân dân và quyết tâm của cáccấp, các ngành của tỉnh Hà Tĩnh
Và đến ngày 26 tháng 3 năm 1976 đợc lấy làm ngày khởi công chínhthức của công trình thuỷ nông Kẻ Gỗ do bộ Thuỷ lợi và Uỷ ban nhân dân tỉnhNghệ Tĩnh phát động cùng xây dựng
Tháng 12 năm 1975 Quốc Hội Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá V, tạikì họp thứ hai đã quyết nghị phê chuẩn hợp nhất một số tỉnh thành mới , trong
đó có việc hợp nhất hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An thành tỉnh Nghệ Tĩnh
Với thế mới và lực mới, sau khi hợp tỉnh hai Thờng vụ Tỉnh uỷ đã hạquyết tâm: Thống nhất với đồng chí Bộ trởng Bộ Thuỷ Lợi quyết động viêntoàn lực chiến thắng trận đầu, rút ngắn tiến độ thi công công trình đại thuỷnông Kẻ Gỗ từ 6 năm xuống 3 năm
Việc rút ngăn thời gian thi công từ 6 năm xuống 3 năm có thuận lợi là
đáp ứng nguyện vọng của nhân dân địa phơng, sớm có lợi cho sản xuất nênnhân dân Nghệ Tĩnh đã nô nức tham gia xây dựng Hà Tĩnh huy động toàn bộnhân dân trong tỉnh, còn Nghệ An huy động nhân dân của các huyện: NghiLộc, Nam Đàn, Hng Nguyên, Quỳnh Lu
Với sự huy động lực lợng lớn và đông nh vậy nên đã làm cho sự chuẩn
bị trở nên gấp gáp, thiếu lán trại cho dân công, bộ đội, xe, máy Vì vậy phải
động viên tinh thần “lều chõng cộng với tấm lòng cộng sản đi xây dựng cơ sởvật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội” [10;293]
Trang 22Do chỉ có 4.800 ngời có thể ở đợc trong nhà dân vùng lân cận nênhuyện Thạch Hà đã phải làm 600 lán cho 600 đội dân công, Cẩm Xuyên có
400 đội làm 400 lán, Hơng Sơn có 1000 dân công phải đa theo 700 cái chõngtre Tổng cộng công trờng đã có 5 vạn m2 nhà ở cố định [10;293]
Đối với cán bộ công nhân viên chuyên nghiệp, việc rút ngắn thời gianthi công đã làm cho nhiều thủ tục không tiến hành kịp thời, đồ án vừa làm vừathiết kế, thiết kế từng phần thi công từng phần, nhiều chỗ không có khảo sátvừa làm vừa điều chỉnh Hơn 24 nghìn công nhân trong và ngoài tỉnh đợc cấptốc điều động về nên thiếu thốn đủ thứ, đời sống khó khăn phải sản xuất ngay
để tự túc một phần lơng thực
Các lực lợng thi công ở công trờng gồm Công ty thuỷ lợi IV, công tyvật liệu II, Công ty xây lắp II, Công ty cơ giới thuỷ lợi III (Bộ Thuỷ Lợi),Trung đoàn 375 (thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh) Công trờng địa phơng có 13nghìn dân công của 11 huyện Để làm nên công trình thuỷ nông Kẻ Gỗ chúng
ta không thể không nói đến vai trò của lực lợng đoàn viên thanh niên Đây làmột lực lợng đông đảo với khí thế tuổi trẻ hừng hực, không phải ngẫu nhiên
mà lấy ngày 26 tháng 3 năm 1976 làm ngày khởi công, bởi đó cũng là ngàythành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Lực lợng nhân công cơ giới đây là lực lợng vất vả nhất và có thể nóikhông có lực lợng này thì không làm đợc đập Kẻ Gỗ, nên trong bài hát “Ngời
đi xây hồ Kẻ Gỗ” mới có câu “ngồi trong xe ủi anh nhớ những ngày hè, chânlội qua khe em nhớ mùa đông giá” chính nó đã nói lên nỗi khó nhọc của họkhi tham gia xây dựng thuỷ nông Kẻ Gỗ
Sau 3 năm phấn đấu quyết liệt, ngày 26 tháng 3 năm 1979, công trình
đại thuỷ nông Kẻ Gỗ hoàn thành, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh
đã mở hội mừng công trọng thể Có thể nói công trình đại thuỷ nông Kẻ Gỗ làmột chiến công đầu tiên của sự kiện hợp nhất hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnhbởi lẽ sau lễ khởi công dân công của 8 huyện Hà Tĩnh và 9 huyện Nghệ Anrầm rập kéo quân vào Kẻ Gỗ với khí thế rầm rập nh một đoàn quân ra trận nêntrong bài hát “Ngời đi xây hồ Kẻ Gỗ” mới có câu “bởi chúng mình thơng baonhiêu mảnh đất cằn, mà đời không ngại đào mấy con kênh” Với quyết tâm đó
Trang 23chỉ đạo có nhiều hình thức động viên dồn sức cho Kẻ Gỗ cả lơng thực, vật t,lực lợng mạnh xe cơ giới và dân công sau 3 năm các đập đã đắp xong.
Kẻ Gỗ đã tạo đợc kỷ lục thi công với tốc độ nhanh cha từng có trên mặttrận xây dựng cơ bản thuỷ lợi, phá vỡ nếp nghĩ cũ và cách làm ăn cũ thờngkéo dài Ngoài ra Kẻ Gỗ cũng là một công trình đảm bảo chất lợng, sớm pháthuy giá trị công trình, vừa có tính cách mạng lại vừa có tính khoa học, đã thuhút đợc sự quan tâm công sức trí tuệ của các ngành ở trung ơng, của toàn tỉnh,
từ các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nớc nh đồng chí cố tổng bí
th Lê Duẩn
Kẻ Gỗ ra đời có ý nghĩa đặc biệt đối với ngời dân Hà Tĩnh đặc biệt làngời dân của ba huyện, thị: huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà, thị xã Hà Tĩnh
Về qui mô của công trình thuỷ lợi Kẻ Gỗ:
Đập chính dài 1200 m, chỗ cao nhất 41m, trên 100 nghìn m3 đất đắp,trên 3000m3 bê tông, cửa cống cao 5m, rộng 3m và nằm sâu so với mặt đập26m áp lực nớc vào cửa cống lên tới 84 tấn khi ở cao trình mực nớc dângbình thờng, phải có máy nâng 100 tấn mới vận hành đợc cống Tởng chừngcác nhà máy cơ khí của ta không làm đợc nhng Nhà máy công cụ số I HàNam Ninh, cơ khí thuỷ lợi đã giải quyết đợc
Tràn xả lũ đợc thiết kế theo hình thức tràn có máng phun, lu lợng thiết
kế 1200m3/s, khối lợng xây lắp trên 5000m3 bê tông cốt thép, gần 160 tấn sắtthép các loại
Về kênh mơng: 17 km kênh chính, có lu lợng đầu kênh thiết kế 28m3/s.Một vài đoạn phải đào trên đá, còn phần lớn là đắp nổi cao 5 đến 6m Gần 100
km kênh cấp 1 và hàng nghìn km kênh cấp 2, cấp 3 và kênh vợt cấp Trên hệthống kênh có 584 công trình trên kênh
Đập, cống, tràn, hệ thống kênh mơng, hệ thống công trình phục vụ quản
lý của Kẻ Gỗ nh vậy trong đó có nhiều vấn đề phức tạp nh: dẫn dòng thi công,
xử lý túi cát
Với phơng án thi công 6 năm nay rút xuống 3 năm đây thực sự là mộtkhó khăn nhng với quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân Nghệ Tĩnh họ đã đạpbằng mọi khó khăn, lao động quên mình cho Kẻ Gỗ:
- Lực lợng xe, máy của các nghành thuỷ lợi đợc huy động cao nhất
Trang 24- Lực lợng công nhân cơ giới, cơ khí, sắt , mộc, nề, bê tông cũng đợchuy động đến mức cao nhất.
- Công ty thuỷ lợi IV thuộc Bộ Thuỷ Lợi đợc giao thi công đập chính,các đập phụ, tràn xả lũ và hỗ trợ địa phơng làm 5 kênh chính, một cầu mánglớn trên kênh Tất cả đều hoàn thành đúng tiến độ và đảm bảo chất lợng
- Công ty xây lắp thuỷ lợi III thuộc bộ thuỷ lợi đợc giao thi công cốnglấy nớc và hỗ trợ địa phơng thi công 5km và một cầu máng lớn trên kênhchính Đơn vị đã hoàn thành đúng tiến độ
Sau một năm kể từ ngày khởi công, các lực lợng của bộ thuỷ lợi và củatỉnh đã lập nên một kì tích, đa nớc Kẻ Gỗ về tới cho 5.000 héc ta của huyệnCẩm Xuyên Kết quả bớc đầu này đã làm náo nức lòng ngời, không khí lao
động lại càng náo nức hơn, quyết tâm cao hơn
Trung ơng Đảng, Chính phủ và các nghành trung ơng hết sức giúp đỡ và
động viên, cổ vũ đối với Kẻ Gỗ:
- Một khối lợng sắt, thép, xi măng, nhiên liệu phục vụ cho thi công,nghành vật t đã đem đến cho từng công trình ở đầu mối cho các đơn vị thicông
- Lơng thực, thực phẩm cho 16 vạn ngời (lúc bấy giờ chủ yếu là bột mì,một ít thịt lợn, mì chính) nghành lơng thực, thực phẩm cũng đã đáp ứng đợc
- Nhân dân Cẩm Xuyên đã chia ngọt xẻ bùi với 16 vạn lao động của cảtỉnh đến làm Kẻ Gỗ
- Công ty xây lắp thuỷ lợi II Nghệ Tĩnh đợc giao thi công 4 km đầukênh N1, thi công các công trình trên kênh tất cả đều hoàn thành tốt
- Công trờng Kẻ Gỗ, ngoài việc hớng dẫn thi công các kênh, còn đảmnhận thi công lắp ghép hàng trăm cống lấy nớc, thi công các cống tiêu trên địabàn cả hệ thống Hoàn thành đợc nội dung này trong thời gian không dài quả
Trang 25- Lực lợng quân đội tổ chức thành tiểu đoàn trực tiếp tham gia thi công,
ở huỵên Cẩm Xuyên tổ chức tiểu đoàn “Phan Đình Giót” để thi công đào đákênh N2
- Các ngành văn hoá, thông tin, báo chí cũng đều đến với Kẻ Gỗ vớinhiều tiết mục đậm đà, nhiều sáng tác có giá trị tạo thêm sức mạnh cho “Ngời
đi xây hồ Kẻ Gỗ” Và bài hát “Ngời đi xây hồ Kẻ Gỗ” do nhạc sỹ NguyễnVăn Tý sáng tác đã góp phần làm cho khí thế lao động ở Kẻ Gỗ đợc nhân lêngấp bôị, chỗ nào trên công trờng ngày cũng nh đêm tiếng hát “Ngời đi xây hồ
Kẻ Gỗ” cũng đợc vang lên:
"Bởi chúng mình thơng bao nhiêu mảnh đất cằn
Mà đời không ngại đào mấy con kênh
Đắp hồ xây đập ta nuôi dòng nớc ngọt
Để đàn mơng nhỏ tắm mát quanh nămRuộng đồng ta thoả mơ ớc bao ngàn năm"
Đứng trên đập phụ 1 nhìn về phía Tây Nam, hay đi xuồng máy 22 kmtheo hớng đó nhìn biển nớc mênh mông anh chị em cán bộ, công nhân, bà connông dân ai nấy cũng đều phấn khởi, cũng thấy mình nh cao lớn hơn trớc
Kẻ Gỗ đợc xây dựng, đây là niềm mơ ớc bao đời nay của ngời dân HàTĩnh và đây cũng là công trình lớn đầu tiên chào mừng sự hợp nhất của haitỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Họ đã hợp sức để xây nên một hồ chứa nớc lớn nhấtBắc miền Trung
Sự hội tụ ở đây không những về trí tuệ trong thiết kế, trong phơng án tổchức thi công mà còn là sự hoà hợp chung sức chung lòng của cả cộng đồngNghệ Tĩnh, là sự kết hợp giữa thô sơ và hiện đại, giữa thủ công và cơ giới,giữa trung ơng và địa phơng Bởi đó là lòng dân ý Đảng
Kẻ Gỗ đã tạo nên một mô hình đẹp đẽ, hài hoà với phơng châm: Nhà
n-ớc và nhân dân cùng làm Kẻ Gỗ còn là biểu hiện của ý chí tự lực tự cờngtrong lĩnh vực khoa học, công nghệ, phơng thức đầu t và tổ chức xây dựng.Ngày nay nếu có dịp đến Kẻ Gỗ đứng trên tháp tròn chúng ta sẽ nhìn thấy mộtquang cảnh đổi mới đến mức kì lạ - hồ chứa nớc mênh mông với 345 triệu m3chạy dài từ Nam Thạch Hà đến Bắc Kì Anh tạo nên một nền sinh thái tốt tơi,
Trang 26hàng ngày chuyển tải hàng chục mét khối nớc theo các trục kênh ngang dọc
về khắp các bản làng thôn xóm, vờn cây, ao cá [21;12]
Kẻ Gỗ ra đời tạo nên sự đổi đời cho một miền quê rộng lớn, từ đây trên
30 vạn nhân dân đã thoát khỏi cảnh hạn hán, lũ lụt, "Kẻ Gỗ đã xoá đi cảnh đóinghèo cơ cực khoai sắn quanh năm, nhờng chỗ cho sự ấm no cơm ngon gạotrắng, nớc Kẻ Gỗ đã xoá đi những mái lều tranh xơ xác, đất cằn đá sỏi, thayvào đó là làng xóm sầm uất, nhà ngói sân gạch, nớc mát đồng quê tạo cảnhquan tơi đẹp môi trờng sinh thái đợc giữ gìn làm sáng tỏ thêm chân lí "dângiàu nớc mạnh" Kẻ Gỗ đã xoá đi cảnh nớc mặn đồng chua nơi "túi ma chảolửa” [20;12-13]
2.3 Nhiệm vụ của công trình thuỷ nông Kẻ Gỗ.
- Tới tiêu cho nông nghiệp
- Cung cấp nớc
- Phát điện
- Chống chua, mặn
- Chăn nuôi và phát triển nghề cá nớc ngọt