1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của liên bang nga đối với cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) từ năm 1991 đến năm 2011

129 936 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của liên bang nga đối với cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) từ năm 1991 đến năm 2011
Tác giả Phan Thị Hồng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Công Khanh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SNG trước thềm thế kỷ mới cũng chịu sự tác động sâu sắc của xu thếnày và những thay đổi trong cấu trúc địa - chính trị, địa - kinh tế thế giới đã có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển củ

Trang 1

Trờng đại học vinh

Trang 2

nghÖ an - 2012

Trang 3

Trờng đại học vinh

Trang 4

nghÖ an - 2012

Trang 5

Trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và góp ý chân thành từ quý thầy cô trong Khoa đào tạo Sau đại học và Khoa Lịch sử - Trường Đại học Vinh, đặc biệt là sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình

của Thầy giáo hướng dẫn - PGS TS Nguyễn Công Khanh Tôi xin

bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo Nguyễn Công Khanh và tất cả các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử, Khoa đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Vinh đã giúp đỡ về mặt tư liệu cũng như những ý kiến đóng góp, xây dựng luận văn.

Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, cổ vũ cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên luận văn không tránh khỏi khiếm khuyết, kính mong thầy cô và các bạn chân thành góp ý để tác giả rút kinh nghiệm cho các công trình nghiên cứu khoa học lần sau.

Vinh, tháng 10 năm 2012.

Tác giả

Phan Thị Hồng

Trang 6

A MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 13

6 Đóng góp của đề tài 14

7 Bố cục luận văn 14

B NỘI DUNG 15

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG CÁC QUỐC GIA ĐỘC LẬP (SNG) 15

1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực sau Chiến tranh lạnh 15

1.1.1 Xu thế toàn cầu hóa, hòa bình hợp tác và phát triển trong quan hệ quốc tế 15

1.1.2 Sự thay đổi bàn cờ địa kinh tế - chính trị sau Chiến tranh lạnh 18

1.2 Khái quát về Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) 23

1.2.1 Tổng quan về SNG 23

1.2.2 Vị trí chiến lược địa kinh tế - chính trị của SNG 34

1.3 Khái quát về tình hình LB Nga từ sau Chiến tranh lạnh đến nay 38

1.3.1 Thực lực của Liên bang Nga (thế và lực) 38

1.3.2 Chính sách đối ngoại của Nga nói chung và đối với khu vực SNG nói riêng 43

Tiểu kết chương 1 47

Chương 2 VAI TRÒ CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG CÁC QUỐC GIA ĐỘC LẬP (SNG) 49

2.1 Đối với vấn đề an ninh - chính trị của SNG 49

2.1.1 An ninh quân sự 49

2.1.2 Những biến động chính trị ở một số nước trong khu vực SNG 55

2.1.3 Vấn đề ly khai, sắc tộc, tôn giáo trong khu vực SNG 61

2.1.4 Vấn đề NATO mở rộng sang phía Đông 68

2.2 Đối với vấn đề kinh tế của khu vực SNG 74

2.3 Vai trò trong vấn đề an ninh năng lượng 80

Tiểu kết chương 2 87

Trang 7

Chương 3

MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ VAI TRÒ CỦA LIÊN BANG NGA

ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG CÁC QUỐC GIA ĐỘC LẬP (SNG) 89

3.1 Bước đầu nhận xét về vai trò của LB Nga đối với Cộng đồng SNG 89

3.2 Triển vọng vai trò của LB Nga đối với SNG 98

3.3 Một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong quan hệ với ASEAN 107

C KẾT LUẬN 111

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 8

ATS Trung tâm chống khủng bố khu vực SNG

BTC Đường ống dẫn dầu Bacu - Tbilixi - Ceyhan

CISFTA Khu vực mậu dịch tự do

EAEC Cộng đồng kinh tế Á - Âu

EEP Không gian kinh tế thống nhất

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

IAEA Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế

NACC Hội đồng hợp tác Bắc Đại Tây Dương

NATO Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

OCAC Tổ chức hợp tác Trung Á

ODKB Tổ chức Hiệp ước An ninh tập thể

OPEC Tổ chức dầu mỏ thế giới

OSCE Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu

SCO Tổ chức hợp tác Thượng Hải

SMO Hội đồng Bộ trưởng Quốc phòng các quốc gia SNGSNG Cộng đồng các quốc gia độc lập

TBCN Tư bản chủ nghĩa

WTO Tổ chức thương mại thế giới

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ra đời từ tháng 12/1991 và được coi như là sự cứu vãn việc sụp đổ củaLiên bang Xô Viết, Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) tồn tại đến nay đãhơn 20 năm SNG ra đời đã thiết kế với đầy đủ các bộ máy liên quốc gia, liênchính phủ trên cơ sở hàng loạt hiệp định được kí kết, nhưng nhìn chung SNGvẫn chưa phải là một thực thể liên kết khu vực hoạt động có hiệu quả Nhiềuhoạt động thực thi hiệp ước vẫn mang tính hình thức và không có hiệu lựccao, chính sách của các nước trong liên kết nội khối thường bị giao động.Ngoài ra, sự tan rã của Liên Xô đã để lại những hậu quả nặng nề như: sựchênh lệch trong trình độ phát triển, những bất đồng về quan điểm chính trị,mục tiêu phát triển làm cho sự lên kết kinh tế nội khối ngày càng giảm, sựphối hợp an ninh - chính trị tỏ ra lỏng lẻo, đồng thời đã có dấu hiệu hìnhthành những hướng đi tương đối riêng rẽ trong khu vực SNG, với các xuhướng “hướng tâm”, coi Nga là hạt nhân cũng như “li tâm” hướng tới phươngTây Đặc biệt, “khủng hoảng” của SNG là việc Grudia xin rút khỏi tổ chứcnày và vấn đề ly khai, sắc tộc vẫn là nhân tố bất ổn của khu vực, làm đảo lộnnhiều dự án liên kết SNG đòi hỏi các thành viên SNG không thể không cónhững biện pháp, chính sách thích hợp trong tương lai

Trong bối cảnh đó, do vị thế địa - chính trị đặc thù của các quốc giaSNG nên mỗi động thái phát triển của khối luôn được thế giới bên ngoài quantâm theo dõi sát sao Cùng với sự tồn tại của các thế lực chống đối xu hướngliên kết, cũng như ảnh hưởng của các chính sách của Mỹ sau sự kiện11/9/2001, đợt mở rộng NATO quy mô lớn năm 2004 không chỉ đơn thuầnmang ý nghĩa địa lý mà còn có ý nghĩa chính trị Mỹ và các nước đồng minh

Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã sử dụng chiêu bài “chốngkhủng bố” đã từng bước lấy lại sự ảnh hưởng của mình tới không gian SNG

Trang 10

Còn các nước Liên minh châu Âu (EU) sử dụng chiêu bài viện trợ kinh tế đểcan thiệp sâu vào khu vực này làm giảm đi hiệu quả hợp tác, liên kết trongkhu vực này Điều đó cho thấy, các nước lớn không thể bỏ qua, và dĩ nhiên cónhiều cách để gây ảnh hưởng, thậm chí gây sức ép chia rẽ, lôi kéo…để phục

vụ lợi ích chiến lược của mình

Rõ ràng sự mất ổn định trong SNG còn lâu dài, không có bất cứphương thuốc vạn năng có hiệu quả toàn diện nào có thể giải quyết đượcnhững vấn đề bất ổn ở Cộng đồng SNG Song, việc giảm và kiềm chế chúngtrong những giới hạn nhất định có thể là triển vọng thực tế, với điều kiện cácbên bị tác động, lôi kéo có tầm nhìn xa hơn về vận mệnh của mình và của cảkhu vực Ở đây, vai trò của Liên bang (LB) Nga thực sự quan trọng Tiềmnăng kinh tế, vị thế chính trị của LB Nga trên trường quốc tế, mặc dù bị thiệthại nặng nề và dường như đứng ngoài lề quá trình liên kết sôi động ở cả châu

Âu - Thái Bình Dương (hay Đại Tây Dương) lẫn châu Á - Thái Bình Dương,nhưng đã trở thành một trong những yếu tố có ảnh hưởng nhất tác động vào

đa số các nước SNG

Mặt khác, bước sang thế kỷ XXI, trong quan hệ quốc tế có những biếnđổi to lớn, tác động sâu sắc đến các quốc gia trên thế giới Trong đó toàn cầuhoá, khu vực hoá là xu thế tất yếu khách quan đặt ra những yêu cầu mới chocác quốc gia cũng như khu vực trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thếgiới SNG trước thềm thế kỷ mới cũng chịu sự tác động sâu sắc của xu thếnày và những thay đổi trong cấu trúc địa - chính trị, địa - kinh tế thế giới đã

có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của Cộng đồng, mà ở đó, vai trò củaLiên bang Nga thực sự quan trọng

Vậy vai trò của LB Nga được thể hiện như thế nào trong quá trình pháttriển của SNG, nhất là trong giai đoạn hiện nay? Kết quả SNG đạt được dướivai trò của LB Nga cũng như các nước SNG đã đón nhận vai trò của LB Nga

Trang 11

như thế nào trong quá trình phát triển của mình? Tương lai, triển vọng quan

hệ LB Nga - SNG như thế nào? Qua đó rút ra được bài học gì cho Việt Namtrong quan hệ với các nước lớn và láng giềng?

Xuất phát từ những vấn đề trên mà chúng tôi quyết định chọn vấn đề

“Vai trò của Liên bang Nga đối với Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG)

từ năm 1991 đến năm 2011” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học cho

mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay đã có rất nhiều công trình viết về các vấn đề liên quan đếnCộng đồng các quốc gia độc lập từ khi ra đời đến nay, viết về nước Nga vàmột số cuốn sách có đề cập đến quan hệ Nga - SNG và các nước thành viên

Đó là:

Cuốn “Nước Nga trên trường quốc tế hôm qua, hôm nay và ngày mai”

của tác giả Hà Mỹ Hương, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006, đã đề cậpđến những yếu tố liên quan đến sự phát triển của Liên bang Nga trong tươnglai, các mối quan hệ chiến lược trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế,chính trị thế giới Cuốn sách, cũng đã đề cập đến những đường lối, chínhsách đối ngoại của chính quyền Liên bang Nga đối với cộng đồng các quốcgia độc lập

Cuốn “Cộng đồng các quốc gia độc lập - quá tình hình thành và phát

triển” của tác giả Nguyễn Quang Thuấn, Nxb KHXH, Hà Nội 2007, đã giới

thiệu tổng quan về quá trình phát triển của SNG trên một số khía cạnh nhưkinh tế, chính trị từ khi ra đời đến năm 2006 Đồng thời, tác giả cuốn sách cóđánh giá triển vọng phát triển của SNG đến năm 2010 Tuy nhiên, tác giảcuốn sách không đề cập đến vai trò của Liên bang Nga ở khu vực SNG

Cuốn “Cộng đồng các quốc gia độc lập: Những vấn đề chính trị - kinh

tế nổi bật” của tác giả Đặng Minh Đức, Nxb KHXH, Hà Nội 2011, đã đánh

Trang 12

giá tổng quan những vấn đề nổi bật của khu vực SNG về an ninh - chính trị,quân sự, kinh tế thương mại, năng lượng, xung đột giai đoạn 2001 - 2010.Đồng thời, cuốn sách cũng đưa ra dự báo xu hướng phát triển của SNG trongthời gian tới nhưng cũng không đánh giá vai trò của Nga đối với khu vục này.

Bên cạnh đó là các bài được đăng trên các tạp chí chuyên ngành, báo

chí hàng ngày: Như bài “Những động thái mới trong chính sách đối ngoại của

Liên bang Nga” của tác giả Nguyễn An Hà, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số

10/2010

Nhìn chung, các công trình đã phản ánh khá đa dạng quá trình hìnhthành và phát triển của SNG cũng như sự phục hưng nước Nga với vai trònước lớn dưới các góc độ đơn lẻ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trìnhnào trình bày cụ thể, hệ thống, đánh giá vai trò của LB Nga đối với SNG từkhi ra đời đến nay Thế nhưng, những công trình nghiên cứu trên là nguồn tàiliệu quý giá cho chúng tôi tham khảo để hoàn thành đề tài luận văn của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích những nhân tố tác động đến vai trò của LB Ngađối với SNG, đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò của LB Nga đối với SNGtrên một số lĩnh vực cụ thể về kinh tế, an ninh - quốc phòng, chính trị - ngoạigiao và một số lĩnh vực khác để thấy được những thành tựu đạt được vànhững hạn chế chưa làm được Từ đó, nhận định triển vọng quan hệ LB Nga -SNG với tư cách LB Nga đóng vai trò là nước lớn

Ngoài giới hạn về nội dung và thời gian nêu trên, các vấn đề kháckhông thuộc phạm vi nghiên của đề tài

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về vai trò của LB Nga đối với SNG từkhi ra đời đến nay trên một số lĩnh vực như đã đề cập trên Triển vọng vai tròcủa Nga ở SNG trong tương lai

Trang 13

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải nghiên cứu nhiều vấn đề liênquan khác Đó là những nhân tố tác động đến vai trò của LB Nga ở SNG như:quá trình ra đời và phát triển của SNG, tình hình nước Nga từ 1991 đến naycũng như bối cảnh quốc tế trong giai đoạn đó, đặc biệt là chính sách đối ngoạicủa Mỹ, sự mở rộng Đông tiến của NATO, EU đã tác động đến sự phát triểncủa SNG cũng như ảnh hưởng đến vai trò của LB Nga ở khu vực SNG.

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu nghiên cứu

Là đề tài khoa học lịch sử nên nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu ngoàicác sách, báo, tạp chí mang tính chất tham khảo như đã giới thiệu ở phần lịch

sử nghiên cứu vấn đề, các tư liệu sử dụng phục vụ việc nghiên cứu chủ yếu lànguồn tư liệu từ Viện Nghiên cứu châu Âu, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu,Thông tấn xã Việt Nam, Học viện Quan hệ quốc tế, báo Nhân Dân…, cácnguồn tài liệu từ Internet Ngoài ra, liên quan đến vấn đề này tôi còn tham khảo

một số công trình nghiên cứu khác như các luận văn thạc sỹ “Quan hệ Nga

-Grudia” của Lại Thị Hương (2009), Đại học Vinh “Cuộc cách mạng sắc màu

ở Grudia, Ucraina, Cưrơguxtan” của Phạm Thị Bình (2008), Đại học Vinh…

Do nguồn tài liệu phân tán nên công việc thu thập, sắp xếp và xử lýthông tin còn gặp nhiều khó khăn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu logic,phương pháp lịch sử kết hợp các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác như:phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu một mặt để xử lý thông tin để táihiện vai trò của LB Nga đối với SNG Mặt khác, rút ra những nhận xét, kếtluận ban đầu

Về cơ bản, đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp khoa học, chânthực và khách quan

Trang 14

6 Đóng góp của đề tài

Thông qua luận văn, chúng tôi sẽ cung cấp những tư liệu có ích về vai

trò của LB Nga đối với SNG trong hơn 2 thập kỷ lại nay Đồng thời góp phần

làm rõ vai trò, vị trí chiến lược của SNG trong đường lối, chiến lược của cácnước lớn như Mỹ, NATO, EU và cả LB Nga

Luận văn cũng giúp độc giả thấy được sự thay đổi chính sách đối ngoạicủa LB Nga đối với SNG trong chiến lược phát triển của Nga trên trường

quốc tế

Cũng thông qua những nội dung của luận văn, chúng tôi hy vọng gópphần giúp bạn đọc rút ra được bài học cho đất nước Việt Nam chúng ta trongquan hệ với các nước lớn và cảnh giác với âm mưu mới trong “diễn biến hòabình” của các thế lực thù địch

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung

của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Những nhân tố tác động đến vai trò của LB Nga đối với

Trang 15

B NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG CÁC QUỐC GIA ĐỘC LẬP (SNG)

1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực sau Chiến tranh lạnh

1.1.1 Xu thế toàn cầu hóa, hòa bình hợp tác và phát triển trong quan hệ quốc tế

Chiến tranh lạnh kết thúc đã kéo theo sự sụp đổ của Liên Xô và hệ

thống XHCN ở Đông Âu, cùng với sự “suy yếu tương đối của Mỹ”, sự trỗi dậy

của Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, sự phân hóa trong các nước thế giới thứ

ba Chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến tầm nhìn chiến lược của cácquốc gia trên thế giới Các quốc gia không còn đứng trên lập trường đối đầu

quyết liệt về ý thức hệ nữa, thay vào đó là đối thoại, là hướng tới “toàn cầu

hóa” theo nghĩa là một tiến trình phát triển mới về chất của nhân loại, trong

đó yếu tố lợi ích quốc gia trở thành yếu tố chủ đạo trong các mối quan hệ linhhoạt, biến chuyển giữa các quốc gia

Trong suốt thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, toàn cầu hóa đã và đang là một

xu thế khách quan mang tính hai mặt lôi cuốn hầu hết mọi quốc gia, bất luận ởtrình độ phát triển nào tham gia vào quá trình này Hoạt động giao lưu giữa cácquốc gia trên thế giới ngày càng mở rộng, xu hướng khu vực hóa và toàn cầuhóa nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên mạnh mẽ, đặc điểm là sự hình thành,tồn tại và phát triển các liên minh kinh tế - thương mại, tiểu khu vực và của cáccông ty xuyên quốc gia trong các thập kỷ qua đã đánh dấu một bước tiến quantrọng trong lịch sử phát triển của quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế

Thế kỷ XX đã khép lại, thế kỷ XXI với hơn 1 thập kỷ đã trôi qua, tiếntrình toàn cầu hóa vẫn đang diễn ra và tác động mạnh mẽ đến mỗi quốc gia,mỗi dân tộc và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống

Trang 16

nhân loại Vì thế, trong thời đại ngày nay, không một quốc gia, một dân tộcnào có thể phát triển nếu không hội nhập kinh tế quốc tế và đứng ngoài quátrình toàn cầu hóa Đường lối phát triển của mỗi quốc gia trong giai đoạn nàykhông chỉ phụ thuộc vào tiềm lực, vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hộitrong nước mà còn chịu tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực Ngay cả

Liên bang Nga cũng quan niệm rằng: “Nga chỉ có thể tồn tại và phát triển

được trong biên giới hiện nay của mình như một cường quốc năng động, luôn thực thi các chính sách đối với mọi vấn đề đang hiện diện của thế giới trên cơ

sở tính toán thực tế khả năng của mình” [6, 13] Nga còn cho rằng: “cần tạo

ra những điều kiện bên ngoài thuận lợi cho công cuộc cải tổ bên trong và đồng thời việc tác động tích cực tới sự phát triển của thế giới trước hết vì chính lợi ích của nước Nga” [7, 13] Như thế, tham gia toàn cầu hóa là một đòi hỏi

khách quan, vừa là nhu cầu nội tại cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mộtquốc gia Toàn cầu hóa là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, diễn ra ởnhiều cấp độ, quy mô với nhiều phương thức khác nhau

Mặt khác, những đường nét đặc trưng của thời kỳ sau Chiến tranh lạnh,

thời kỳ hậu Xô viết, “hậu chủ nghĩa xã hội hiện thực” như các học giả phương Tây gọi chưa được định hình rõ rệt “Chiến tranh lạnh kết thúc là xét trên bình

diện toàn cầu, còn ở nơi này nơi kia vẫn có biểu hiện tiếp diễn Đặc biệt một

số cuộc chiến tranh nóng cục bộ, xung đột vũ trang vẫn xảy ra và kéo dài” [14,

163] Tuy nhiên, với xu thế toàn cầu hóa như phân tích trên thì hòa bình, ổnđịnh hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chính, phổ biến của sự phát triển thế

giới kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, “cục diện vừa đấu tranh (thậm

chí bằng Chiến tranh lạnh cục bộ hoặc từng phần), vừa hợp tác vẫn là đặc điểm chính chi phối quan hệ quốc tế và trật tự thế giới mới trong nửa phần đầu của thế kỷ tới” [14, 162] Vì thế, các quốc gia - dân tộc dù lớn hay nhỏ,

mạnh hay yếu đều tăng cường hợp tác, liên kết với nhau theo nhiều tầng nấc,trước hết vì lợi ích và sự phát triển của quốc gia - dân tộc mình Tuy nhiên,

Trang 17

vẫn như từ ngàn xưa trong lịch sử loài người, các cường quốc luôn luôn cóvai trò, vị trí quyết định trật tự thế giới và chi phối hệ thống các quan hệ quốc

tế Chẳng hạn, trong suốt gần nửa thế kỷ Chiến tranh lạnh, Liên Xô và Mỹ đãtồn tại với tư cách là hai siêu cường đối địch, chi phối lẫn nhau và chi phốimọi mặt đời sống quốc tế trong trật tự hai cực

Sau khi Liên Xô tan rã, thế giới chỉ còn lại một siêu cường duy nhất là

Mỹ, nước luôn muốn duy trì địa vị bá chủ thế giới của mình Song, các cườngquốc khác - dù là những cường quốc lâu đời hay mới nổi lên đều không dễchấp nhận mô hình trật tự thế giới đơn cực Trong bối cảnh đó, quan hệ giữacác cường quốc trong xu thế toàn cầu hóa, hòa bình hợp tác và phát triển đangtạo ra cục diện thế giới mới - thế giới đa cực, khi mà sức mạnh của Mỹ đã suyyếu phần nào, các cường quốc khác như Trung Quốc, Nhật Bản, đặc biệt làLiên bang Nga ngày càng phát triển mạnh mẽ Các cường quốc này đangtrong quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh với nhau và ra sức tậphợp lực lượng, để từ đó xác lập vai trò, vị trí có lợi nhất cho mình Tuy nhiên,với tiềm năng, sức mạnh khác nhau, các cường quốc cũng có những lợi thế sosánh khác nhau trên con đường xác lập vị trí quốc tế cho mình cũng như vì lợiích quốc gia dân tộc mình Liên bang Nga cũng vậy, là quốc gia kế tục Liên

Xô trên trường quốc tế, thì “nước Nga mới cũng phải vật lộn với vô vàn khó

khăn trong nước và trong việc xác lập vị thế quốc tế xứng đáng với tiềm năng, tiềm lực, lịch sử và truyền trống của mình” [14, 124] Thực vậy, do những mối

quan hệ từ trong lịch sử, sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ, tan rã, đứng trướcnhu cầu phát triển chung, các nước Cộng hòa Xô viết cũ đã liên kết, hợp tácvới nhau trong một cộng đồng chung, đó là Cộng đồng các quốc gia độc lập

(SNG) Song, “SNG, vẫn chưa phải là một thực thể liên kết khu vực hoạt động

có hiệu quả” [4, 13] Tuy nhiên, trong cộng đồng, Liên bang Nga - nước có

tiềm lực nhất ở Liên Xô và SNG có thể đóng được vai trò lãnh đạo trong liên

Trang 18

kết kiểu mới, trong việc cố kết các quốc gia vốn gắn bó với nó từ trong lịch

sử, nhất là trong hơn 70 năm dưới ngôi nhà chung Liên bang Xô Viết

Như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, hòa bình hợptác và phát triển trên thế giới đã dẫn đến sự liên kết quốc tế, khu vực trên thếgiới, đó là cơ hội cũng là thách thức cho nhiều quốc gia và tổ chức trên thếgiới Bởi vậy, điều đó đặt ra những yêu cầu to lớn cho Liên bang Nga trongviệc liên kết và phát triển SNG trong xu thế chung của thế giới với tư cách -quốc gia kế tục Liên Xô - nước có tiềm lực nhất trong SNG

1.1.2 Sự thay đổi bàn cờ địa kinh tế - chính trị sau Chiến tranh lạnh

Trước khi đi vào phân tích sự thay đổi bàn cờ địa chính trị - kinh tế từsau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, chúng ta, trước hết phải hiểu khái niệm “địachính trị - kinh tế” là gì? Nó có liên quan gì đến vấn đề chúng ta nghiên cứu?

Từ điển bách khoa Britannica (2004 CD - ROM) định nghĩa địa chính

trị là “sự phân tích những ảnh hưởng của địa lý đến các mối quan hệ quyền lực

trong chính trị quốc tế Trong việc hoạch định chính sách quốc gia, các nhà lý thuyết địa chính trị đã tìm cách chứng minh tầm quan trọng của những điều đáng chú ý như việc xác lập được đường biên giới quốc gia, quyền tiếp cận các đường biển quan trọng và quyền kiểm soát những khu vực đất liền có tầm quan trọng chiến lược” [3, 17].

Hay như, tác giả người Anh Saul Bernard đã định nghĩa “địa chính trị

là mối liên hệ giữa quyền lực chính trị quốc tế với khung cảnh địa lý” [3, 18].

Như vậy, địa chính trị là thuật ngữ thông dụng để mô tả sự cạnh tranhtoàn cầu trong nền chính trị thế giới Chính vì vậy mà địa chính trị trở thành

sự tranh giành giữa các đại cường quốc có tham vọng đối với việc kiểm soátlãnh thổ, kiểm soát các nguồn tài nguyên và những vị trí địa lý quan trọng

“Sự cạnh tranh này chính là động lực của nền chính trị thế giới và đặc biệt là

của xung đột thế giới trong nhiều thế kỷ qua” [3, 22].

Trang 19

Gần gũi với khái niệm địa chính trị còn có khái niệm “địa chiến lược” Khái niệm này được dùng để chỉ việc “nghiên cứu giá trị chiến lược của các

nhân tố địa lý trong chính sách đối ngoại của một quốc gia và trong mối quan

hệ của nó với các quốc gia khác” [3, 30] Như vậy, địa chiến lược là một bộ

phận của địa chính trị, được áp dụng để cụ thể hóa chính sách đối ngoại củamột quốc gia Trong đó, quan trọng nhất là việc liên kết những tính toán chiếnlược với các nhân tố địa chính trị Các nhà nghiên cứu cho rằng, trong khi địachính trị có một vẻ ngoài trung lập khi nghiên cứu những đặc điểm địa lý vàchính trị của các khu vực khác nhau, đặc biệt là nghiên cứu sự tác động củađịa lý đến chính trị, thì địa chiến lược đòi hỏi phải có kế hoạch và đề ra cácbiện pháp toàn diện để thực hiện các mục tiêu quốc gia hoặc bảo vệ những tàisản có ý nghĩa quân sự hoặc chính trị

Bên cạnh đó là khái niệm địa kinh tế cũng được bàn luận rất nhiều

Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất với quan điểm “địa kinh tế là sự

phân tích những ảnh hưởng của địa lý đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia” [3, 18].

Như vậy, trên cơ sở các khái niệm đã nêu, chúng ta thấy bàn cờ địakinh tế - chính trị thế giới đã thay đổi từ sau Chiến tranh lạnh kết thúc Nếunhư trong thời kỳ chiến tranh lạnh bàn cờ địa chính trị - kinh tế trong thế cânbằng giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô, nhưng khi Chiến tranh lạnh kết thúcvới sự tan rã của Liên bang Xô viết, bàn cờ đó đã thay đổi theo hướng có lợicho lợi Mỹ và Tây Âu Ngược lại, Liên bang Nga - quốc gia kế tục Liên Xôtrên trường quốc tế đã mất đi những vùng đệm chiến lược trước đây thuộcphạm vi ảnh hưởng của Liên Xô cũ Các nước Cộng hòa Xô viết cũ đều đã lànhững quốc gia độc lập, có chủ quyền Những chủ thể pháp lý quốc tế mớinày có quan hệ khá phức tạp với Liên bang Nga, thậm chí là đối đầu quyếtliệt Điều đó làm cho vị thế nước Nga bị mất trên trường quốc tế Thế yếu củanước Nga đã bị bộc lộ rõ ràng trước năm châu, nhất là khi phương Tây, đứng

Trang 20

đầu là Mỹ tiến hành cuộc không kích vào Liên bang Nam Tư và xu hướng

bành trướng của khối NATO theo hướng “Đông tiến” khó có gì cưỡng nổi.

Động thái đó không chỉ đe dọa an ninh mà còn nhằm kiềm chế không để nướcNga phục hồi địa vị cường quốc Âu - Á của mình

Như vậy, Chiến tranh lạnh kết thúc, phần thắng thuộc về Hợp chúngquốc Hoa Kỳ, còn Liên Xô chịu phần thua làm cho tương quan lực lượng thayđổi bất lợi cho Liên bang Nga Vai trò địa kinh tế - chính trị của Nga bị suygiảm: chẳng những ảnh hưởng toàn cầu của Nga bị mất đi mà khả năng tácđộng vào tiến trình vận động của các sự kiện đang diễn ra ở khu vực Âu - Ácận kề cũng bị hạn chế, thậm chí ở SNG, Nga phải khó khăn lắm mới giữđược ưu thế của mình Trên thế giới và ngay ở cả châu Âu, có hàng chục,hàng trăm vấn đề đã và đang được giải quyết mà không có sự tham gia củaLiên bang Nga, trong đó NATO mở rộng là một ví dụ Chính Tổng thốngV.Putin cũng đã bày tỏ sự tiếc nuối về việc Liên Xô tan rã, trong bản thôngđiệp đọc trước quốc hội Nga ngày 25/4/2005, ông đã tuyên bố việc sụp đổ

Liên Xô năm 1991 là “tai họa địa chính trị lớn nhất” của thế kỷ XX [3, 180].

Nhưng đa số các nhà nghiên cứu, nhà chính trị ở cả phương Đông lẫnphương Tây đều cho rằng nước Nga trong tương lai sớm hay muộn sẽ khôiphục được vị thế của mình trên trường quốc tế với tư cách là một cường quốc

lớn Thế nên, Z Brzezinski đã viết: “nước Nga là một nước, do số phận quy

định, bằng cách này hay cách khác vẫn là một cường quốc trong các vấn đề thế giới, bất luận những khó khăn mà nó đang gặp phải” [14, 36] Thực vậy,

dù hiện nay “những nước cạnh tranh địa kinh tế -chính trị của Nga là Mỹ và

các nước NATO thuộc châu Âu, một bên là Trung Quốc và Nhật Bản, nhưng

dù thế nào đi nữa, thì họ cũng phải giữ quan hệ đúng mực với Nga, vẫn phải e ngại, dè chừng nước Nga” [14, 30].

Đặc biệt khi mà “nước Nga may mắn được nằm trong miền đất trái tim

của hòn đảo thế giới” theo lý thuyết địa chính trị của Mackinder Đại sứ

Trang 21

Anđrây - Tatarinôp - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Nga tại Việt

Nam cũng nhấn mạnh rằng: “chính vị trí địa chính trị có một không hai của

đất nước chúng tôi đã định ra một bình diện vô cùng rộng lớn đối với các quyền lợi đối ngoại của nó Điều này có nghĩa là dù bất kỳ trong hoàn cảnh nào Nga cũng không thể cho phép mình tiến hành một chính sách đối ngoại thụ động hoặc biệt lập Ngược lại những lợi ích quốc gia luôn buộc nước Nga phải luôn đóng một vai trò tích cực nhất trong các công việc quốc tế” [9] Vị trí địa

chính trị đặc thù của nước Nga với tư cách là một cường quốc Âu - Á, vị trí

án ngữ giữa các cường quốc Đại Tây Dương cũ và các cường quốc châu Á

-Thái Bình Dương mới là “nhân tố quan trọng nhất, nhân tố nền tảng do số

phận quy định để nước Nga từ ngàn xưa, hiện nay và trong tương lai luôn luôn chiếm vị trí quan trọng trong bài toán ngoại giao của các thời đại” [14,

32] Vì: “vị trí địa - chính trị của Liên bang Nga là nhân tố ít thay đổi, ít biến

động nhất trong thế giới hẳn còn nhiều biến động phức tạp, dù chúng ta cũng không loại trừ khả năng tan rã của nước Nga như Liên bang Xô viết hoặc Liên bang Nam Tư cũ Nhưng tan rã đến mức mất đi vị trí bản lề giữa châu Âu và châu Á thì có lẽ không” [14, 37]

Vì vậy, vấn đề bây giờ của Liên bang Nga là “phải làm sao lấy lại được

vị trí đã mất trên trường quốc tế sau khi Liên Xô tan rã” [3, 180] Với sức

mạnh có phần suy giảm so với Hoa Kỳ trong thời gian đầu của thời kỳ Liênbang Nga mới, nước Nga luôn phải chống đỡ yếu ớt và thụ động trước sự tấncông của NATO qua việc khối này mở rộng áp sát biên giới Nga Lúc này,Nga hoàn toàn trông đợi vào tiềm năng địa - chính trị tài nguyên, mà chủyếu là chính trị dầu mỏ để chờ thời cơ lấy lại vị trí đã mất Trong khi chờ đợi,

“nước Nga tìm cách biến nguồn tài nguyên quý giá này thành con bài chính trị

để kiềm chế ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại sân sau của mình” [3, 180] Như vậy,

có thể nói chính trị và dầu mỏ đã trở thành con bài cặp đôi chủ chốt trong nềnchính trị đối ngoại của Nga và trong cuộc chơi cờ đó, Nga đã chớp được cơ

Trang 22

hội “bằng việc tận dụng sự lệ thuộc về năng lượng của nhiều nước châu Âu

vào nước Nga” [3, 182].

Hơn 1 thập niên đầu của thế kỷ XXI đã trôi qua trong những làn sónggió của các cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng của cac cường quốc, khu vực…trong đó nổi bật nhất vẫn là tham vọng bá quyền của Mỹ Tuy nhiên, sau cuộcchiến tranh ở Nam Ossetia và tiếp đến là cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ sau

đó đã nhanh cóng lan tỏa ra khắp toàn cầu, mới đây nhất là cuộc chiến ở Syrialàm lung lay không ít những người luôn đặt niềm tin tuyệt đối vào sức mạnhcủa nước Mỹ Nếu như niềm tin nước Mỹ - trung tâm tài chính và kinh tế toàncầu đã bị lung lay thì vị thế chính trị hàng đầu thế giới của Mỹ cũng sẽ không

còn chắc chắn Vì, “chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế” Hệ quả tiếp

theo là sức mạnh quân sự Mỹ cũng sẽ không mạnh như trước vì không có gìphụ thuộc vào kinh tế như quân sự Vị thế siêu cường duy nhất lãnh đạo thếgiới của Mỹ trong trật tự thế giới đơn cực đã bị đụng chạm không ít

Mặt khác, sự trỗi dậy của EU và ngày càng mở rộng ảnh hưởng củamình sang phía Đông đã ảnh hưởng đến quyền lợi của Liên bang Nga Vớiviệc hàng loạt các nước Đông Âu lần lượt gia nhập vào NATO làm cho khônggian địa - chính trị của Nga ngày càng hẹp lại Đặc biệt những động thái mớiđây của Mỹ và NATO bố trí tên lửa đánh chặn ở Ba Lan và Cộng hòa Séc làmcho Nga rất bất bình

Như vậy, trong bối cảnh địa chính trị - kinh tế thay đổi sau khi Liên Xô

tan rã, Liên bang Nga nhận thức rõ ràng hơn “lợi ích sống còn của Nga đòi

hỏi Nga phải cải thiện, phải tăng cường liên hệ liên kết với các nước SNG - Đó

là hướng ưu tiên bất di bất dịch của chúng ta” [14, 111] Tuy nhiên, trên thực

tế Nga chưa hoàn thành được vai trò đó Trong khi đó, các nước SNG khác lạiluôn lo sợ Nga muốn gây áp lực chính trị, kinh tế, quân sự nhằm giữ lấy vaitrò lãnh đạo SNG Điều đó cho thấy, những khó khăn trên con đường hợp táccủa SNG nói chung, trong việc thực hiện vai trò của Nga ở khu vực này nói

Trang 23

riêng Song, trong tương lai có nhiều cơ sở để khẳng định sự hợp tác đó là cótriển vọng và sẽ đem lại lợi ích cho các nước thành viên Vì sự phát triển củakhu vực SNG không chỉ giúp các nước thành viên phát triển mà còn tác độngtích cực đến hòa bình, ổn định của khu vực và toàn thế giới.

1.2 Khái quát về Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG)

các nước Hiệp ước đầu tiên là “Hiệp ước thành lập Cộng đồng các quốc gia

độc lập” được lãnh đạo 3 nước Nga, Bêlarút và Ucraina kí ngày 8/12/1991, tại

Minxcơ, Hiệp ước đã xác nhận: Liên bang Xô viết như một chủ thể pháp lý vàđịa chính trị quốc tế đã hoàn toàn kết thúc sự tồn tại của mình và tuyên bốthành lập thể chế liên kết mới là Cộng đồng các quốc gia độc lập Hiệp ướccũng tuyên bố SNG là Cộng đồng mở cho tất cả các nước thuộc Liên bang Xôviết trước kia cũng như tất cả các nước khác chia sẻ mục tiêu và nguyên tắc

của Cộng đồng Tiếp theo là “Hiệp đinh về thành lập liên minh kinh tế” đươc

Trang 24

kí ngày 24/9/1993 tại Mátxcơva, rồi “Hiệp định về việc thành lập khu vực mậu

dịch tự do” ngày 15/4/1994 tại Mátxcơva,…

Mục tiêu

Việc kí kết hàng loạt các Hiệp ước, Hiệp định như vậy, SNG cũng chỉmuốn các nước thành viên thực hiện các mục tiêu mà Cộng đồng đưa ra Mụctiêu đó được thể hiện trong Điều mục 2 của Hiến chương Cộng đồng các quốcgia độc lập Đó là các mục tiêu:

- Thực hiện hợp tác trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, môi trường,nhân văn, văn hóa và một số lĩnh vực khác

- Phát triển kinh tế, xã hội đa phương và bền vững cho tất cả các nướcthành viên trong khuôn khổ một không gian kinh tế thống nhất, liên kết vàhợp tác liên quốc gia

- Đảm bảo quyền và tự do cơ bản của con người phù hợp với nguyêntắc và tiêu chuẩn luật pháp quốc tế

- Hợp tác giữa các nước thành viên trong việc bảo đảm hòa bình và anninh quốc tế, thực hiện hiệu quả các giải pháp chống phổ biến vũ khí, thủ tiêu

vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí giết người hàng loạt, tiến tới giải trừ quân bị

- Tạo điều kiện cho công dân các nước thành viên SNG tự do tronggiao tiếp, hợp tác và đi lại trong cộng đồng

- Cùng nhau hợp tác và trợ giúp pháp lý trong các lĩnh vực quan hệpháp luật khác

- Giải quyết các tranh chấp và xung đột giữa các nước trong cộng đồngbằng các giải pháp hòa bình

* Nguyên tắc hoạt động

Các nước thành viên SNG xây dựng các quan hệ liên kết kinh tế trênnguyên tắc tôn trọng chủ quyền và nhu cầu của mỗi quốc gia, dân tộc khôngphụ thuộc vào tiềm năng của mỗi nước Nguyên tắc này được thể hiện trongĐiều mục 3 của Hiến chương, đó là:

Trang 25

- Thực hiện hợp tác theo nguyên tắc công bằng và cùng có lợi, trên cơ

sở tiêu chuẩn pháp luật quốc tế phổ biến và Định ước Henxinhki

- Tôn trọng chủ quyền các nước thành viên, không tách rời quyền tựquyết của các dân tộc, không can thiệp từ bên ngoài

- Giữ vững biên giới, thừa nhận các đường biên giới hiện tại

- Toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và chống lại tất cả các hành động phânchia lãnh thổ các nước khác

- Không sử dụng vũ lực chống lại tự do chính trị của các nước thànhviên khác

- Giải quyết tranh chấp bằng các giải pháp hòa bình để loại bỏ các mối

đe dọa đối với hòa bình, an ninh và chính nghĩa thế giới

- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

- Đảm bảo quyền tự do của con người, không phân biệt chủng tộc, dântộc, tôn giáo, ngôn ngữ, chính trị và các niềm tin khác…

* Cơ chế hợp tác (cơ quan phối hợp)

Các nước thành viên thống nhất cơ quan phối hợp của Cộng đồng đặttại thành phố Minxcơ, thủ đô Bêlarút Chỉ trong năm đầu thành lập, Cộngđồng SNG đã hình thành khoảng hơn 30 cơ quan phối hợp, trong đó có: Hộiđồng các nhà lãnh đạo quốc gia (SGG), Hội đồng các nhà lãnh đạo chính phủ(SGP), tòa án kinh tế, tổ chức liên nghị viện, 16 hội đồng liên quốc gia và liênchính phủ theo các lĩnh vực hợp tác như giao thông, viễn thông,…, 6 lĩnh vực

an ninh quốc phòng và 3 lĩnh vực về bảo đảm thông tin

Các nước thành viên trong Cộng đồng xác định quan điểm: “SNG

không phải là một quốc gia và SNG không có quyền hạn “siêu quốc gia” nên mọi công việc của Cộng đồng đều được giải quyết trên cơ sở khuyến nghị và trao đổi ý kiến” [32, 17] Vì vậy, các tổ chức, thể chế của SNG liên tục phát

triển và hoàn thiện Hệ thống tổ chức phối hợp hoạt động của SNG được thểhiện bằng sơ đồ sau:

Trang 26

Sơ đồ: Hệ thống tổ chức hoạt động của Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG)

1.2.1.2 Các giai đoạn phát triển của SNG

Ra đời ngày 8/12/1991, đến nay (2011), Cộng đồng các quốc gia độclập (SNG) đã tồn tại và phát triển được 20 năm Dựa vào quá trình phát triểncủa SNG trong 20 năm qua, chúng ta có thể chia làm hai giai đoạn phát triểncủa Cộng đồng như sau:

Giai đoạn từ 1992 - 1999

Đây là giai đoạn khủng hoảng trầm trọng ở các nước SNG, kể cả Nga quốc gia kế tục Liên Xô cũ Vì, đây là thời kỳ chuyển tiếp của các thể chếkinh tế, chính trị - xã hội ở các nước thuộc Cộng đồng SNG sau khi Liên Xôtan rã Đặc biệt là sự kiện đồng Rúp tan rã năm 1993 khi các quốc gia mới

Hội đồng

Bộ trưởng Quốc phòng

Hội đồng Liên nghị viện

Hội đồng Quyền con người

Cơ quan tối cao Hội đồng các nguyên thủ quốc gia

Hội đồng các nhà lãnh đạo chính phủ

Trang 27

độc lập phát hành đồng tiền mới riêng của mình Tình hình đó gây ra hậu quảphá vỡ sự thống nhất kinh tế, làm hệ thống thanh toán ở SNG trở nên phứctạp, các đồng tiền mới không đáp ứng được quá trình chuyển đổi của nền kinh

tế các nước, mặc dù tất cả các nước thành viên đều đã tiến hành cải cách thểchế và chuyển sang cơ chế thị trường Do đó, ở thời kỳ đầu này, sự đổ vỡ củanền kinh tế Xô viết thống nhất và sự non yếu của quan hệ liên kết SNG đãlàm đảo lộn các yếu tố tăng trưởng kinh tế cơ bản như nguồn nhân lực,nguyên liệu, tài chính…khiến cho hầu hết các nước thành viên SNG đều rơi

vào khủng hoảng kinh tế - xã hội Đến năm 1998, “sản xuất công nghiệp của

các nước SNG so với năm 1991 chỉ bằng một nửa, nông nghiệp giảm hơn 3 lần, đầu tư cơ bản giảm 2/3, vận tải hàng hóa giảm 3/4” [36, 28] Chưa kể,

trao đổi thương mại giữa các nước SNG với nhau trong giai đoạn này ngàycàng giảm Nếu ngoại thương hai chiều của các nước SNG với nhau năm

1995 chiếm 34% tổng kim ngạch thương mại của SNG thì đến năm 1998 là31%, năm 2000 là 28% Thậm chí, Liên bang Nga là nước lớn nhất trong khối

SNG và có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển SNG, nhưng “nước

Nga không thu được lợi nhiều trong phát triển liên kết SNG” [36, 28] Cụ thể,

năm 1991 tổng kim ngạch ngoại thương của Nga là 210 tỷ USD, trong đó vớicác nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước kia là 115 tỷ USD, thì kim ngạch củaNga năm 1994 chỉ còn 105 tỷ USD, tức chưa tới 50% kim ngạch của năm

1991, trong đó kim ngạch ngoại thương với các nước thành viên SNG chỉ còn

24 tỷ USD, giảm 4,7 lần so với năm 1991

Ngược lại, về chính trị - an ninh thì hoàn toàn khác Sau khi Nga mất

“lá chắn” an ninh Đông Âu thì vị thế địa - chính trị của các nước SNG càngtrở nên quan trọng đặc biệt đối với Nga Vì vậy, củng cố, phát triển và làmlớn mạnh SNG là trọng tâm của sự điều chỉnh chiến lược của Nga, từ “đặttrọng tâm vào việc xây dựng các mối quan hệ với các nước phương Tây, trước

Trang 28

hết là Mỹ và các nước tư bản phát triển Tây Âu” vào những năm 1991 - 1993

để đến năm 1994 chuyển sang “định hướng Âu - Á” phù hợp với vị thế địa chính trị đặc thù của mình, trong đó “hướng ưu tiên bất di bất dịch của Nga là

SNG” [14, 111], vì đó là lợi ích sống còn của Nga.

Tuy vậy, thời kỳ này trong quan hệ giữa các nước SNG vẫn còn tồn tạinhiều vấn đề chưa được giải quyết, cản trở quá trình liên kết giữa họ Mộttrong những vấn đề nổi cộm, đó là các cuộc xung đột - tranh chấp phức tạptrên nhiều lĩnh vực Đó là những xung đột liên quốc gia trong không gian hậu

Xô viết, những xung đột chịu tác động mạnh của sự tan rã Liên Xô và bắtnguồn từ thời kỳ chuyển tiếp của các thể chế kinh tế - chính trị - xã hội ở cácnước SNG những năm qua

Vì vậy, thời kỳ 1991 - 1999, sự phát triển, liên kết hợp tác của Cộngđồng SNG nhìn chung còn lỏng lẻo, hoạt động chưa hiệu quả, lâm vào tìnhtrạng khủng hoảng trầm trọng cả về kinh tế - chính trị và xã hội

Giai đoạn từ sau năm 2000 đến nay (2011)

Đây là thời kỳ quan hệ liên kết SNG có bước khởi sắc, nhưng cũngkèm theo các sự kiện gây biến động trong Cộng đồng, điển hình nhất là chiến

sự Nga - Grudia vào tháng 7 - 8/2008 và sự kiện Grudia chính thức rút khỏiCộng đồng SNG vào ngày 18/8/2009

Về kinh tế, sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế của các nước SNG trongthập kỷ 90 của thế kỷ XX, đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính ở Nga năm 1998, thì đến năm 2000, kinh tế các nước SNG mới bắt đầuhồi sinh và phát triển nhờ có điều kiện tương đối thuận lợi: tình hình kinh tếthế giới ổn định, giá nguyên, nhiên liệu tăng cao, đầu tư nước ngoài tăng, thunhập quốc dân ổn định nhờ xuất khẩu tài nguyên Điều này chúng ta có thểthấy qua một số bảng số liệu về nhịp độ tăng trưởng GDP hàng năm của cácnước SNG, sản phẩm quốc nội của các nước thành viên SNG, sản phẩm quốcnội bình quân đầu người ở các quốc gia thành viên SNG như sau:

Trang 29

Bảng 1: Nhịp độ tăng trưởng GDP hàng năm của các nước SNG, so sánh hai giai đoạn

(trước năm 2000 và sau năm 2000)

(Tỷ lệ phần trăm so với năm trước)

109,9109,6104,7104,8113.5105,3106,1105,1109,6120,4104,2109,2

110,6113,2105,0105,5109,8100,0107,8104,7110,8115,8104,2105,2

111,2114,0107,0111,1109,3107,0106,6107,3111,0117,1104,4109,6

110,2110,5111,4105,9109,6107,0107,4107,2110,3114,7107,4112,1

126,4113,9109,4109,6109,799,8107,5106,4106,7113,3107,0102,7

134,5113,2110,0109,4110,7103,1104,8107,7107,0109,0107,3107,9

125,0113,7108,5112,3108,9108,3103,0108,1107,8111,6109,5107,6

110,81o6,8110,2102,1103,3107,6107,2105,6107,9110,5109,0102,1

109,385,6100,2 -101,0102,393,592,1103,4106,1108,185,0

105,0102,6107,6 -98,6107,0106,9104,0106,5109,2108,5104,2

Trung bình 107,8 106,0 105,0 108,0 108,0 107,0 108,0 109,0 106,0 93,0 104,5

Trang 30

Bảng 2: Tổng sản phẩm quốc nội của các nước thành viên SNG (2000 - 2010)

(theo tỷ giá chính thức hàng năm của đồng nội tệ so với đồng USD)

5,72,112,13,122,21,51,5306,61,14,611,638,0

6,22,414,53,424,61,61,7345,51,25,29,742,3

7,32,817,64,030,81,92,0431,51,66,59,950,1

8,73,623,15,143,22,22,6591,82,17,912,064,9

13,24,930,26,457,12,53,0764,72,317,213,786,2

21,06,436,97,781,02,83,4989,92,83,417,0107,8

33,19,245,210,2104,93,84,41295,03,724,022,3142,7

48,911,960,412,8133,45,16,01663,05,219,527,9180,3

43,08,748,8 -109,24,65,41232,05,0 -32,8117,4

45,79,6754,5 -146,55,06,01500,05,6 -136,8

Trung bình 353,4 410,2 458,3 556,0 767,2 100,4 1276,6 1698,5 2174,4 1601,6 1910,0

Trang 31

Bảng 3: Sản phẩm quốc nội bình quân đầu người ở các quốc gia SNG (2000 - 2009)

(Đơn vị: triệu USD)

704656121073714903064272106172851462788

756750146579116513204722383185929382885

88087517969302053380556299222611023851057

10481125235711862861431722412430912544621378

15711531308214883757490833535532414625211846

247020003804175052605389446955394 -6372318

3630287546602318672471212229085514 -8233056

53223719636029098443962166711799699 -10103919

477826365137 -674185215008682658 -11712552

Trang 32

Như vậy, nhìn chung tăng trưởng kinh tế của các nước SNG giai đoạn

từ sau năm 2000 đạt được nhiều thành tựu đáng kể Điều này góp phần giảiquyết các vấn đề an sinh xã hội và tạo vị thế nhất định của các nước thànhviên SNG trong giai đoạn này Đặc biệt, đây cũng là giai đoạn kinh tế Liên

bang Nga - nước lớn nhất trong khối không ngừng “hồi sinh và trỗi dậy” để phát huy vai trò “đầu tàu” nhằm đưa SNG lên tầm cao mới Song, khu vực

SNG nằm ở khu vực giao tranh lợi ích chiến lược của những trung tâm sứcmạnh thế giới, vì vậy trong những năm tới, cuộc tranh giành ảnh hưởng ởSNG có thể rất khắc nghiệt

Về an ninh - chính trị: Đây là lĩnh vực giữ vị trí cực kỳ quan trọngtrong các nội dung, hợp tác của SNG và nó là một trong những biểu hiện rõrệt nhất của xu hướng liên kết ở khu vực SNG Điều này xuất phát từ bối cảnhhậu Xô viết, khi mà các quốc gia thành viên, ngoại trừ Nga, có tiềm lực quân

sự yếu kém, không có khả năng tự mình ngăn cản và chống lại các lực lượngkhủng bố, cực đoan hay tình hình phát triển tội phạm quốc tế ngày càng giatăng ở khu vực này Ngoài ra, sức ép và phạm vi hoạt động ngày càng mởrộng tới biên giới nước Nga từ phía NATO và EU cũng như sự cạnh tranh vềlợi ích của các nước lớn trong khu vực càng làm gia tăng nhu cầu về hợp tác

an ninh chính trị, quân sự giữa các nước thành viên trong khối SNG

Bước vào những thập niên đầu thế kỷ XXI, hợp tác trong lĩnh vực anninh - chính trị có nhiều thay đổi ở khu vực SNG Những thay đổi này bắtnguồn từ ảnh hưởng của sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ và nhữngđiều chỉnh chiến lược của Nga dưới thời Tổng thống V.Putin Sau khi thoát

khỏi khủng hoảng rằng, “nhất thiết phải duy trì sự ổn định ở môi trường

xung quanh để phát triển” [4, 19] Vì vậy, quan điểm của Nga hiện nay là

cần phải có một liên minh quân sự đủ mạnh để làm đối trọng với NATO, trụcột của liên minh là Nga và các đồng minh SNG Xương sống trong lĩnh vực

Trang 33

hợp tác này là Tổ chức Hiệp ước An ninh tập thể (ODKB) hay còn gọi làHiệp ước Tasken, bao gồm 9 nước tham gia kí kết: Adếcbaigian, Ácmênia,Bêlarút, Grudia, Cadắcxtan, Cưrơgưxtan, Nga, Tátgikixtan, Udơbêkixtan.Tuy nhiên, trong bối cảnh xây dựng một không gian Xô viết, việc có nhiềulực lượng như Mỹ, NATO, EU muốn mở rộng ảnh hưởng ở khu vực SNG đãkhiến một số nước trong khu vực muốn độc lập hoàn toàn khỏi nước Nga,trong đó có Grudia, Adếcbaigian, Udơbêkixtan, Ucraina Do đó, đến năm

1993, ba nước Grudia, Adếcbaigian, Udơbêkixtan đã từ chối tham gia Hiệpước Tasken

Cũng vì vậy, từ cuối năm 2004, các cuộc cách mạng màu sắc nổ ra liêntục tại các nước SNG gây ra sự bất ổn định ở khu vực này Đó là chưa kể vấn

đề li khai, sắc tộc, tôn giáo trong khu vực cũng hết sức nóng bỏng Tính đếnnăm 2010, trên lãnh thổ SNG đã có tới 8 khu vực xảy ra xung đột hoặc tranhchấp tạo nên 8 điểm nóng, trong đó lâu nhất, dai dẳng và mới tiếp diễn phứctạp nhất là xung đột Nga - Grudia xung quanh vấn đề hai vùng tự trị NamOssetia và Apkhadia của Grudia đòi độc lập

Như vậy, trải qua hơn 20 năm tồn tại và phát triển, Cộng đồng các quốcgia độc lập (SNG) đã thực hiện nhiều hình thức hợp tác với nhau để đáp ứngnhững mục tiêu của cả khối cũng như của các nước thành viên Nếu như thời

kỳ đầu, thập niên 1990 của thế kỷ XX, SNG chỉ là một liên minh lỏng lẻo,

“hữu danh vô thực”, không có bất cứ một cơ cấu, thể chế nào hoạt động hiệuquả, thì cùng với thời gian, đến nay SNG đã có những bước phát triển mới rấtcăn bản, theo đó các thành viên liên kết với nhau chặt chẽ hơn, nhất là về kinh

tế và an ninh quốc phòng Tuy vậy, hiện nay trong quan hệ giữa các nướcSNG vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề chưa được giải quyết, cản trở quá trình liênkết giữa họ Vì vậy, ở đây, vai trò của Liên bang Nga - nước có tiềm lực nhấtthực sự rất quan trọng

Trang 34

1.2.2 Vị trí chiến lược địa kinh tế - chính trị của SNG

Toàn bộ lãnh thổ của các quốc gia thuộc SNG nằm gọn trong diện tíchLiên bang Xô viết trước kia Về vị trí địa lý, hầu hết các nước này đều nằm ởphía Tây và có đường biên giới chung với nước Nga, tạo thành một hành langbảo vệ biên giới Tây Nam cho nước Nga Diện tích của 11 nước trong SNG(không bao gồm Nga) khoảng 5 025 500 km2 với dân số khoảng 300 triệungười Các nước SNG có vị trí ở phía Đông châu Âu và phía Tây Nam ở châu

Á Có thể chia các nước SNG thành các tiểu khu vực: Các nước thành viên

nằm ở khu vực Trung Á, gồm 5 nước: Udơbêkixtan, Cadắcxtan, Cưrơgưxtan,

Tátgikixtan, Tuốcmênia, là nhóm nước có vị trí chiến lược vô cùng quan

trọng, được coi là khu vực trung tâm của “hòn đảo thế giới” Các nước khu

vực ngoại Kavkaz (capcadơ), gồm 3 nước: Adếcbaigian, Ácmênia, Grudia

(trong đó Grudia đã chính thức rút khỏi SNG ngày 18/8/2009), còn

Adếcbaigian là nước có nguồn dầu mỏ dồi dào Các nước phía Tây: Ucraina,

Bêlarút, Mônđôva, là những quốc gia có vị thế địa - chính trị khá quan trọng,nối Nga với Tây Âu, đặc biệt Bêlarút có quan hệ rất tốt đẹp với Nga

Như vậy, với vị trí tiếp giáp với cả hai lục địa Âu - Á nên SNG là khuvực gây được sự chú ý của các nước lớn Hay nói chính xác hơn là mỗi độngthái phát triển của khu vực luôn được thế giới bên ngoài quan tâm theo dõisát sao

Không những thế, SNG còn là hành lang bảo vệ an ninh cho Nga khiNATO đang mở rộng về phía Đông Từ các nước SNG, Nga có thể kiểm soátđược con đường tiến xuống Nam Á, xuống vùng Ấn Độ Dương, ngăn chặncác thế lực tôn giáo cực đoan tiến vào nước Nga Do từ thời Liên Xô, đặc biệtdưới thời Xtalin đã thực hiện chiến lược di dân, đưa người Nga đến định cư ởkhu vực này, do đó hiện nay ở các nước này vẫn còn rất nhiều người gốc Ngasinh sống nên chính quyền Nga cần bảo vệ lợi ích của người Nga SNG là khu

Trang 35

vực ảnh hưởng truyền thống của Nga, do đó bảo vệ ảnh hưởng ở khu vựccũng chính là bảo vệ uy tín, chủ quyền và thể diện nước Nga trên trường quốc

tế Ngay trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Nga, ông V.Putin đã từng tuyên

bố ưu tiên số một trong chính sách đối ngoại của Nga là bảo vệ người Nga vàlợi ích của nước Nga

Trong số các nước SNG, Ucraina là nước lớn thứ hai sau Nga về địa vịchiến lược và tiềm năng kinh tế, có tầm quan trọng bậc nhất đối với Nga Vàogiữa thế kỷ XVII, Ucraina tự nguyện gia nhập vào nước Nga sa hoàng, nhờ đóthế lực của nước Nga mạnh lên đáng kể Sự kiện Ucraina tuyên bố tách khỏiLiên bang Xô viết là một đòn giáng nặng nề đối với Liên Xô và là sự kiện gópphần quan trọng vào sự sụp đổ của thể chế XHCN Hiện nay trên lãnh thổUcraina còn lại rất nhiều vũ khí hạt nhân từ thời Liên Xô Phần lớn chúng đãhết hạn bảo quản và Ucraina không có kinh phí để duy trì Nếu những kho vũkhí này rơi vào tay bọn khủng bố thì an ninh của thế giới nói chung, Ucraina

và các nước SNG bị đe dọa nghiêm trọng Bên cạnh đó, về mặt chính trị,Ucraina không muốn duy trì tổ chức SNG trong khi Nga thì ngược lại.Ucraina coi SNG là công cụ để Nga áp đặt ảnh hưởng đối với các nước Cộnghòa thuộc Liên Xô trước đây

Với những ý nghĩa trên, SNG là khu vực “bất khả xâm phạm” của Nga.

Đối với Mỹ, mục tiêu lâu dài và xuyên suốt của các nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ

kể từ sau Chiến tranh thế giới đến nay là thiết lập trật tự thế giới do Mỹ lãnhđạo, kiềm chế sự nổi lên của các cường quốc khác đe dọa vị thế của Mỹ Xét

về địa - chiến lược, châu Âu án ngữ vị trí trọng yếu trên thế giới Nằm cạnhdòng hải lưu Bắc Đại Tây Dương, châu Âu có lợi thế trong việc sử dụng vàkiểm soát các tuyến giao thông huyết mạch trên Đại Tây Dương để sang Bắc

và Nam Mỹ Sau đó qua kênh đào Sue, các nước châu Âu có thể đến đượcvùng vịnh Persique, Nam Á và Đông Nam Á trên những tuyến đường biển

Trang 36

ngắn nhất Đồng thời từ châu Âu cũng có thể đến vùng Kavkaz, trung Á, ViễnĐông bằng đường bộ Do mỗi quan hệ chặt chẽ giữa châu Âu với Mỹ nên mọibiến cố quan trọng ở châu Âu trên tất cả các lĩnh vực luôn có ảnh hưởng nhấtđịnh đối với Hoa Kỳ Đối với nước Nga, các chính quyền kế tiếp nhau của

Mỹ nhận thấy đây là một “thế lực” có nhiều khả năng đe dọa thế lực của Mỹ

trong tương lai Để kiềm chế Nga, một trong những biện pháp có tính khảquan là thu hẹp ảnh hưởng của nước này ở những khu vực truyền thống, SNG

là một khu vực như vậy Nếu SNG có ý nghĩa sống còn với Nga thì với Mỹ,khu vực này cũng có tầm quan trọng đáng phải quan tâm Z.Brzeziski -

nguyên trợ lý an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ đã gọi khu vực “hậu Xô

viết” này là “ván cờ lớn trong ván cờ địa chính trị của Mỹ ở đại lục địa Á Âu” Nếu kiểm soát được khu vực này, Mỹ không những có điều kiện để

-khống chế hai lục địa Á - Âu, kiềm chế Nga ở phía Tây và phía Bắc, mà cònkiểm soát được Ấn Độ ở phía Nam, kiểm soát được Trung Quốc ở phía Đông

và kiểm soát được châu Âu ở phía Tây Bên cạnh đó, nếu tiếp cận được khu

vực này, Mỹ coi như đặt chân được vào “sân sau” của Nga, từ đó có những

can thiệp vào Nga khi cần thiết

Bên cạnh đó, SNG còn là một trong những khu vực giàu tài nguyên vàoloại bậc nhất của thế giới Không chỉ có tài nguyên trên mặt đất, trong lòngđất của các nước thuộc khu vực này cũng rất phong phú tài nguyên Có thể kểđến một số tài nguyên như than đá, vàng, đồng, kẽm, nhôm…, trong đó, dầu

mỏ, khí đốt là nguồn tài nguyên chiếm vị trí số một Tuy nhiên, do những bất

ổn về chính trị và sự yếu kém vầ kinh tế nên nhũng loại tài nguyên này chưađược khai thác đúng tiềm năng Các nước lớn rất muốn tham gia vào quá trìnhthăm dò, khai thác các nguồn tài nguyên của khu vực này

Không chỉ giàu về tài nguyên, các nước SNG còn là thị trường nhiềutiềm năng Hầu hết các nước này đều mới tuyên bố giành độc lập, đang trong

Trang 37

thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, vì vậy họ rất cần những nguồnvốn đầu tư từ bên ngoài để một mặt tạo đà cho phát triển kinh tế, mặt khácngày càng bớt phụ thuộc vào Nga hơn Hiện nay, trong nội bộ các nước SNGđang diễn ra quá trình tái liên kết kinh tế giữa các nước thành viên nhằm khôiphục những quan hệ kinh tế và thương mại, củng cố quan hệ hữu nghị anh emgiữa các nước thành viên Tuy nhiên, quá trình này diễn ra không dễ dàng nhưmong đợi của các nước SNG Có thể kể đến một số nguyên nhân của nó nhưchưa có cơ cấu liên kết mang tính chính trị hiệu quả, chất lượng của các sảnphẩm xuất khẩu rất thấp dẫn đến khả năng cạnh tranh kém do công nghiệp lạchậu và thiết bị máy móc cũ kỹ… Vì vậy, bên cạnh sự giúp đỡ lẫn nhau củacác nước trong khu vực, SNG rất cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài, đặc biệt là từcác nền kinh tế mạnh Đây là một cơ hội lớn cho Mỹ đặt chân vào khu vựcSNG trong lĩnh vực kinh tế.

Đối với Nga, mậu dịch giữa Nga với SNG luôn chiếm tỉ trọng cao trongcán cân ngoại thương giữa hai bên Trong kim ngạch ngoại thương của Nga,các nước SNG chiếm 23% Nga chiếm tới 70% xuất nhập khẩu của SNG.Trong năm 1998, tổng giá trị trao đổi thương mại của các nước SNG xuất khẩuvào Nga là 51,7%, còn nhập khẩu từ Nga là 38,8% Mặt khác, đối với một sốnước SNG, thị trường Liên bang Nga không chỉ hấp dẫn mà đôi khi là duy nhấtcho việc xuất nhập khẩu các sản phẩm công nông nghiệp, nguyên liệu thô vàvật liệu Số liệu ngoại thương của các nước cho thấy, tỉ trọng của Nga đối vớixuất khẩu của Bêlarút năm 1998 là 64,9% còn đối với tổng xuất khẩu của cácnước SNG là 89,2%, những chỉ số này của Mônđôva tương ứng là 53,3% và78,5%, Cadắcxtan là 28,9% và 73,5%, Ucraina là 23,1,% và 69,2% [4, 67]

Một tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng cho khu vực này là “vàng đen”.

Khu vực Trung Á được đánh giá có trữ lượng dầu khí lớn hơn cả Cowet, vùngvịnh Mehico và Biển Bắc Nước Nga cũng là nước có trữ lượng dầu mỏ và

Trang 38

khí đốt lớn vào loại bậc nhất trên thế giới Tuy nhiên, để khí đốt Nga đến vớithị trường thế giới, các hệ thống đường ống dẫn dầu của Nga đều phải đi quaSNG để tới cảng Novorosik trên biển Đen trước khi xuất khẩu trên thị trườngchâu Âu và thế giới là con đường ngắn nhất.

Mỹ hiện nay chiếm 1/4 nhu cầu tiêu thụ dầu thô trên thế giới, do đó Mỹkhông thể bỏ qua khu vực giàu tài nguyên dầu mỏ này Nền kinh tế Mỹ pháttriển nhanh nhưng phụ thuộc quá nhiều vào nguồn năng lượng từ bên ngoài.Trong tương lai gần, khi các nguồn năng lượng thay thế dầu mỏ chưa đượcđưa vào sử dụng rộng rãi, chưa đóng vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế Mỹthì khu vực SNG vẫn còn là một trong những mục tiêu chủ đạo mà chính sáchđối ngoại của Mỹ không thể không chú ý tới

1.3 Khái quát về tình hình LB Nga từ sau Chiến tranh lạnh đến nay

1.3.1 Thực lực của Liên bang Nga (thế và lực)

Thập niên cuối cùng của thế kỷ XX là thập niên chứa đầy những biếnđộng dữ dội và phức tạp của lịch sử nước Nga Trước hết, vào cuối năm 1991

là sự tan rã của Liên bang Xô viết trong tư cách một siêu cường, một thực thểđịa - chính trị thống nhất, để từ đó, một “nước Nga mới” xuất hiện trên bản đồchính trị thế giới

Bước ra vũ đài quốc tế sau Chiến tranh lạnh, với tư cách là một thựcthể chính trị độc lập, quốc gia kế tục Liên Xô nên được thừa hưởng vị trí Ủyviên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, vị trí đại sứ quán, lãnh sự

quán của Liên Xô ở tất cả các nước, “nút bấm hạt nhân” được trao cho Tổng

thống Nga và những tiềm năng, gia sản lớn với 70% lãnh thổ, 61% dân số,

60% công nghiệp, 70% ngoại thương” [13, 20] Cùng với “những lợi thế

khách quan khác, Liên bang Nga có tất cả những nhân tố cấu thành sức mạnh,

vị thế của một cường quốc thế giới” [14, 103].

Trang 39

Tuy nhiên, nước Nga mới cũng phải vật lộn với vô vàn khó khăn trongnước và trong việc xác lập vị thế quôc tế xứng đáng với tiềm năng, tiềm lực,

lịch sử và truyền thống của mình Nước Nga của Tổng thống B.Eltsin “không

có được vị thế siêu cường thế giới của Liên Xô cũ, ngoại trừ vị thế siêu cường hạt nhân” [14, 124] Nhưng trong tổng thể lợi thế so sánh giữa các cường

quốc thế giới sau Chiến tranh lạnh, sức mạnh hạt nhân không phải là nguồngây ảnh hưởng quốc tế quan trọng cho nước Nga Trong thế giới ngày nay,sức mạnh kinh tế, quyền lực kinh tế trở nên quan trọng hơn Trên thực tế, căn

cứ vào một loạt thông số quyết định ảnh hưởng, vị thế quốc tế của một nước,thì những chỉ số kinh tế của nước Nga không có gì khả quan cho lắm Vớidiện tích lớn nhất thế giới (17.075.200 km2), dân số đứng thứ 6 thế giới (148

triệu người), song, “GDP của Liên bang Nga chỉ chiếm 1,8% GDP thế giới

-đứng thứ 14, GDP/người ở vị trí 102, nghĩa là thấp hơn 10 - 15 lần mức của các nước công nghiệp phát triển, thậm chí còn thấp hơn nhiều nước đang phát triển” [14,125] Vì vậy, “trong quan hệ kinh tế quốc tế, Liên bang Nga đang bị đẩy vào hàng các quốc gia hạng hai và rơi vào vị trí rất bất lực trong phân công lao động quốc tế” [14,125].

Trong quan hệ chính trị quốc tế thập niên 1990 của thế kỷ XX, nướcNga có nguy cơ bị cô lập, bị gạt ra khỏi các công việc của châu Âu và thế giớinói chung, dường như nước Nga hậu Xô viết đứng ngoài lề quá trình liên kếtsôi động ở cả châu Âu - Đại Tây Dương lẫn châu Á - Thái Bình Dương Mộtquốc gia không tham gia thực sự vào việc xác định các luật chơi mới trên

trường quốc tế thì rõ ràng không thể nói đến việc bảo vệ và thúc đẩy các lợi

ích của mình ở đó Thực vậy, “Liên bang Nga là quốc gia đầu tàu của SNG nên sự phát triển thịnh hay suy của quốc gia này ảnh hưởng rất lớn đến Cộng đồng Nhưng đầu thập niên 1990, nước Nga rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng kinh tế - chính trị trầm trọng làm cho sức hấp dẫn của nước Nga đối với các nước SNG ngày càng giảm” [32, 29].

Trang 40

Như vậy, trong suốt hầu hết thập niên 1990, nước Nga lâm vào cuộckhủng hoảng toàn diện về kinh tế, chính trị và xã hội làm cho xã hội căngthẳng, bất ổn suốt thời kỳ cầm quyền của Tổng thống B.Eltsin Điều đó cũng

đồng nghĩa với việc “thế và lực” của Nga đang suy yếu trên mọi phương diện

nên chưa thể hoàn thành vai trò, sứ mệnh quốc gia kế tục Liên Xô ít nhất làđối với không gian hậu Xô viết - nơi có sự gần gũi về lịch sử, truyền thống…với mình

Tuy nhiên, trưa ngày 31/12/1999, trong khi người dân Nga đang bậnrộn chuẩn bị cho thời khắc chuyển giao thế kỷ mới, Tổng thống B.Eltsin

tuyên bố từ chức trước thời hạn Sự kiện này được xem là “tiếng sấm kinh

động cuối thế kỷ XX làm chấn động cả thế giới” để rồi một “ngôi sao chính trị mới vụt xuất hiện” sẽ dẫn dắt nước Nga vượt qua “khoảng tối trước bình minh” [13, 33] Người đó chính là Vladimir Putin.

Với vai trò là “người thuyền trưởng”, V.Putin đã chèo lái con thuyền

nước Nga vượt qua bao sóng gió thăng trầm, đã làm thay đổi hình ảnh của

một nước Nga “ảm đạm” trong thập niên 1990 của thế kỷ XX bằng một hình ảnh về một nước Nga mới với “sự hồi sinh và trỗi dậy” trong thế kỷ XXI.

“Một nước Nga giàu hơn, mạnh hơn và độc lập hơn là hình ảnh có thể dễ dàng

hình dung ra từ những gì mà Nga đã và đang thể hiện trên trường quôc tế Chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta ví nước Nga hiện nay là “chú gấu lớn” đã tỉnh lại sau giấc ngủ đông dài, khi Mátxcơva đang giành lại vị thế chiến lược của mình và ngày càng đóng vai trò trụ cột trong các vấn đề toàn cầu” [37].

Trong suốt hai nhiệm kỳ Tổng thống từ năm 2000 đến năm 2008,V.Putin đã thổi vào nước Nga một luồng gió mới, giúp nước Nga dần ổn định,phục hồi và phát triển nhanh chóng Bởi hơn bao giờ hết, Tổng thống V.Putin

hiểu rằng “chỉ khi thực lực quốc gia được tăng cường thì Nga mới giành lại

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đức Anh (2003), “Liệu Nga có mất sân sau Grudia?”, Phụ nữ, ra ngày 25/2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liệu Nga có mất sân sau Grudia?”, "Phụ nữ
Tác giả: Đức Anh
Năm: 2003
[12]. Nguyễn Hòa (2007), “Tổng thống Putin đánh giá về lịch sử và sự giải thể của Liên Xô”, An ninh thế giới, (620), ra ngày 6/1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng thống Putin đánh giá về lịch sử và sự giảithể của Liên Xô”, "An ninh thế giới
Tác giả: Nguyễn Hòa
Năm: 2007
[13]. Hà Mỹ Hương (1997), “Cộng đồng các quốc gia độc lập qua chặng đường nửa thập kỷ (12/1991 - 12/1996)”, Nhân dân, ra ngày 15/1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng các quốc gia độc lập qua chặngđường nửa thập kỷ (12/1991 - 12/1996)”, "Nhân dân
Tác giả: Hà Mỹ Hương
Năm: 1997
[26]. Nguyễn Đình Tự (2003), “Quan hệ nga - SNG: Thực trạng và triển vọng”, Nghiên cứu quốc tế, (54), tháng 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ nga - SNG: Thực trạng và triểnvọng”, "Nghiên cứu quốc tế
Tác giả: Nguyễn Đình Tự
Năm: 2003
[27]. Tiến Thành (2001), “Hội nghị thượng đỉnh không chính thức SNG:Con đường liên kết rõ dần”, Tiền phong, ra ngày 15/8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị thượng đỉnh không chính thức SNG:Con đường liên kết rõ dần”, "Tiền phong
Tác giả: Tiến Thành
Năm: 2001
[40]. Thông tấn xã Việt Nam (2000), Nước Nga đã giúp đỡ các nước SNG như thế nào?, ra ngày 18/8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước Nga đã giúp đỡ các nước SNGnhư thế nào
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2000
[41]. Thông tấn xã Việt Nam (2000), Lãnh đạo Liên bang Nga khẳng định tính tất yếu của SNG, ra ngày 18/12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãnh đạo Liên bang Nga khẳng địnhtính tất yếu của SNG
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2000
[53]. Thông tấn xã Việt Nam (2009), Trung Á từng bước đòi lại quyền kiểm soát nguồn dầu khí, ra ngày 9/10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Á từng bước đòi lại quyền kiểmsoát nguồn dầu khí
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2009
[54]. Thông tấn xã Việt Nam (2002), Tuốcmênia và trò chơi năng lượng, ra ngày 5/1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuốcmênia và trò chơi năng lượng
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2002
[63]. Thông tấn xã Việt Nam (2008), Nga thay đổi chính sách với các vùng lãnh thổ ly khai trong không gian hậu Xô Viết, số ra ngày 5/6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nga thay đổi chính sách với các vùnglãnh thổ ly khai trong không gian hậu Xô Viết
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w