1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX

146 2,7K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Tác giả Dương Ngọc Huyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Anh Chương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Thế giới
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế là một trong những lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.Lịch sử phát triển của nền kinh tế một quốc gia trong giai đoạn Tư bản chủnghĩa gắn liền với sự hình thành của các tổ c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

DƯƠNG NGỌC HUYỀN

VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐỘC QUYỀN (ZAIBATSU) ĐỐI VỚI LỊCH SỬ NHẬT BẢN TỪ

CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

DƯƠNG NGỌC HUYỀN

VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐỘC QUYỀN (ZAIBATSU) ĐỐI VỚI LỊCH SỬ NHẬT BẢN TỪ

CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

Trang 3

Nghệ An - 2012

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ sự tri ân sâu sắc đối với TS Nguyễn Anh Chương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đối với các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử, Trường Đại học Vinh - những người đã giành cho tôi những chỉ dẫn khoa học quý báu.

Tôi cũng xin thể hiện sự biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè, người thân - nguồn động lực lớn lao giúp tôi hoàn thành luận văn này.

Nghệ An, tháng 10 năm 2012

Tác giả Luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi đề tài 7

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp của đề tài 8

6 Bố cục của đề tài 9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐỘC QUYỀN NHẬT BẢN (ZAIBATSU) TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 10

1.1 Nhận thức chung về Zaibatsu 10

1.1.1 Khái niệm Zaibatsu 10

1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Zaibatsu 13

1.2 Cơ sở hình thành của các Zaibatsu 14

1.2.1 Sự phát triển của các tổ chức kinh doanh dưới thời Tokugawa 14

1.2.2 Những chính sách cải cách kinh tế dưới thời Minh Trị Duy Tân 19

1.2.3 Truyền thống văn hóa, cách thức quản lý của người Nhật Bản 23

1.2.4 Sự hình thành của những tư tưởng kinh doanh mới 27

1.3 Hoạt động của các Zaibatsu Nhật Bản 29

1.3.1 Bốn Zaibatsu lớn thời kỳ đầu 30

1.3.2 Các Zaibatsu mới xuất hiện 36

1.3.3 Sự giải thể của các Zaibatsu 40

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐỘC QUYỀN (ZAIBATSU) ĐỐI VỚI LỊCH SỬ NHẬT BẢN 49

Trang 6

2.1.1 Thúc đẩy sự phát triển kinh tế Tư bản chủ nghĩa 49

2.1.2 Hình thành nên các tổ chức lũng đoạn 54

2.1.3 Tạo nên thể thức, cấu trúc quản lý kinh doanh riêng 60

2.1.4 Tác động của sự giải thể Zaibatsu 64

2.2 Đối với nền chính trị Nhật Bản 65

2.2.1 Mối quan hệ chặt chẽ giữa Zaibatsu và chính phủ 65

2.2.2 Zaibatsu góp phần thiết lập nhà nước quân phiệt Nhật Bản 72

2.3 Đối với nền quân sự Nhật Bản 75

2.3.1 Tạo cơ sở cho sự xâm nhập và cai trị của Nhật Bản vào các quốc gia khác 75

2.3.2 Góp phần tạo nên sức mạnh quân sự cho nước Nhật trong các cuộc chiến tranh 78

2.4 Tác động của Zaibatsu đối với xã hội 83

2.5 Một số nhận xét về Zaibatsu 85

2.5.1 Những hạn chế của Zaibatsu 85

2.5.2 Một vài so sánh giữa Zaibatsu với các hình thức tổ chức độc quyền khác 90

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự tiệm tiến của Chủ nghĩa tư bản sang giai đoạn Chủ nghĩa đế quốc gắnliền với việc hình thành các tổ chức độc quyền Lịch sử phát triển Chủ nghĩa tưbản chứng kiến sự tồn tại của các hình thức độc quyền: syndicat, cartel, trust,zaibatsu… Các hình thức độc quyền này lũng đoạn nền kinh tế quốc gia, rồisau đó mở rộng ra khu vực và bành trướng khắp thế giới, cuốn thế giới vàovòng xoáy phát triển của Chủ nghĩa tư bản Vấn đề đặt ra ở đây là, các hìnhthức tổ chức độc quyền là phạm trù mang tính lịch sử (tức sự phát sinh, hìnhthành, phát triển trên cơ sở kế thừa của những hình thức tổ chức kinh doanhtruyền thống), hay chỉ đơn thuần là sản phẩm của thời đại (tức sự phát sinh,hình thành, phát triển là kết quả trực tiếp của sự phát triển kinh tế đương thời)?

Lịch sử luôn chứa đựng, dung hòa những khác biệt Chủ nghĩa tư bản

áp dụng trong từng quốc gia trên thế giới là khác nhau, do đó, sự hình thành

và phát triển của từng hình thức tổ chức tư bản lũng đoạn cũng khác nhau.Xét trong trường hợp Nhật Bản - một quốc gia tư bản phương Đông, có sự tồn

tại, giao thoa của “công nghệ phương Tây, tinh thần phương Đông” đã làm

nên một Chủ nghĩa tư bản với những đặc trưng riêng Chủ nghĩa tư bản ởNhật Bản đóng góp vào sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản thế giới một hình

thức quan trọng là các tổ chức độc quyền mang màu sắc Nhật Bản: Zaibatsu.

Zaibatsu là tổ chức kinh tế mang tính độc quyền, lũng đoạn thị trường Nhật

Bản thời kỳ cận - hiện đại, và có những tác động to lớn đối với sự phát triểncủa nước Nhật trong thời kỳ này

Với vị trí đặc biệt cùng những đóng góp quan trọng của Zaibatsu đối với tiến trình phát triển của lịch sử Nhật Bản, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Vai

trò của các tổ chức độc quyền (Zaibatsu) đối với lịch sử Nhật Bản từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình Việc

Trang 8

Kinh tế là một trong những lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.Lịch sử phát triển của nền kinh tế một quốc gia trong giai đoạn Tư bản chủnghĩa gắn liền với sự hình thành của các tổ chức độc quyền Do đó, nghiêncứu vấn đề này sẽ góp phần cung cấp cái nhìn toàn diện về đất nước Nhật Bảnthời cận - hiện đại Từ đó, tìm hiểu được tình hình chính trị, xã hội Nhật Bảnđương thời, những biến động của tình hình xã hội dẫn đến sự phát triển củađất nước Nhật Bản thời kỳ ấy Nghiên cứu về các tổ chức độc quyền còn chothấy được quá trình phát triển của Chủ nghĩa tư bản Nhật Bản, từ tự do cạnhtranh sang độc quyền với những đặc trưng riêng biệt.

Bên cạnh đó, việc tìm hiểu về Zaibatsu Nhật Bản còn góp phần bổ sung

thêm về các hình thức tổ chức độc quyền của Chủ nghĩa tư bản trên thế giới:bên cạnh syndicat, cartel, trust,… còn có hình thức độc quyền mang đặc trưng

Nhật Bản là Zaibatsu Các cứ liệu này sẽ là căn cứ để lý giải nguyên nhân cho

sự phát triển hùng mạnh của Nhật Bản - một hiện tượng của châu Á: từ mộtquốc gia phong kiến lạc hậu chậm phát triển nhanh chóng trở thành một nước

tư bản giàu mạnh

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được thể hiện ở việc nghiên cứu về các

Zaibatsu và cách thức hoạt động của nó để từ đó đúc rút ra được kinh nghiệm

về phương thức tổ chức, quản lý kinh doanh cho sự phát triển của Nhật Bảntrong thời kỳ mới Đồng thời, những kinh nghiệm này có thể chuyển giao vàcải tiến sao cho phù hợp với tình hình Việt Nam, một quốc gia trên con đườngđổi mới, phát triển, mong muốn hội nhập và học hỏi kinh nghiệm tổ chứcquản lý của các quốc gia trên thế giới, nhất là từ một quốc gia đề cao vấn đềnguồn lực con người như Nhật Bản

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lịch sử Nhật Bản nói chung và lịch sử kinh tế Nhật Bản cận - hiện đạinói riêng luôn là những đề tài nghiên cứu nhận được sự quan tâm của rấtnhiều học giả trong nước và trên thế giới Các vấn đề nghiên cứu về kinh tế

Trang 9

Nhật Bản cận - hiện đại được đề cập chủ yếu trên các phương diện: sự xác lậpmầm mống của phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa; quan hệ thương mại;

sự phát triển của các thành thị; sự phát triển lên giai đoạn Đế quốc chủ nghĩamang đặc trưng Nhật Bản; các cách thức quản lý và điều hành nền kinh tế…Mặc dù vậy, chưa có một công trình nào đề cập cụ thể đến sự hình thành vàphát triển của các tổ chức độc quyền kinh tế mang đặc trưng Nhật Bản -

Zaibatsu Các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến lịch sử phát triển của

các Zaibatsu qua từng giai đoạn của nền kinh tế Nhật Bản, hay tiền đề dẫn đến sự hình thành của các Zaibatsu trong lòng xã hội Nhật Bản đương thời,

hoặc sự phát triển kinh tế của một gia tộc cụ thể,… Các công trình này đãđóng góp cái nhìn đa chiều về quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của

Zaibatsu Nhật Bản.

Về tổng quan nền kinh tế Nhật Bản, những nguyên nhân, điều kiện dẫn

đến thành công, đánh giá vai trò của Zaibatsu đối với sự phát triển của đất nước Nhật Bản trong thời kỳ cận – hiện đại, có thể kể đến công trình: Tại sao

Nhật Bản “thành công”? Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản của

tác giả Michio Morishima, Nhà xuất Bản Khoa học Xã hội xuất bản năm

1991 Chương II, III, IV là những chương trung tâm của tác phẩm, tập trungnghiên cứu về “Cách mạng Minh Trị” và “Đế quốc Nhật Bản” Các chương

sách đã cho thấy những tiền đề dẫn đến sự hình thành các Zaibatsu nảy sinh

từ trong lòng cuộc Minh trị Duy tân, đồng thời chỉ ra vị trí, vai trò của

Zaibatsu với tư cách là đối tượng đem đến sự “thành công” cho Nhật Bản

trong những thập niên cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX

Về nền kinh tế Nhật Bản thời cận hiện đại, và nghiên cứu cụ thể vềtừng khía cạnh của nó là các doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh của các

doanh nghiệp ấy, quan trọng nhất phải kể đến tác phẩm: Công ty Nhật Bản:

Lịch sử và hoạt động thực tiễn của Rodney Clark do Nhà xuất bản Khoa học

Trang 10

ty Nhật Bản dưới góc độ lịch sử và hoạt động thực tiễn, đồng thời có nhữngđối chiếu với công ty Mỹ và Tây Âu Trong đó, quan trọng nhất là chương II:

“Những ảnh hưởng của lịch sử đối với công ty” đã chỉ ra được các yếu tố

mang tính tiền đề cho sự hình thành của các Zaibatsu trong thời kỳ cận - hiện

đại Tác phẩm cũng đã chỉ ra cách thức tổ chức và quản lý của một công ty,cũng như mối quan hệ của công ty trong những biến thiên tương ứng với hoàn

cảnh xã hội, đấy cũng chính là những khó khăn mà các công ty Zaibatsu phải

đương đầu trong tình hình xã hội đương thời

Về sự phát triển của các Zaibatsu, chỉ ra được định nghĩa khái quát nhất cũng như phân loại Zaibatsu qua các thời kỳ và phân tích thông qua dẫn chứng bằng một vài Zaibatsu điển hình của mỗi thời kỳ, tiêu biểu có thể kể đến tác phẩm: The Japanese Enterprise system: Competitive Strategies and

Cooperative Structures (tạm dịch: “Hệ thống doanh nghiệp Nhật Bản: Chiến

lược cạnh tranh và cơ cấu hợp tác”) của W.Mark Fruin, nhà xuất bảnClaredon, New York, xuất bản năm 1992 Trong chương III: “Inventing theenterprise system” (tạm dịch: “Kiến tạo nên hệ thống doanh nghiệp”), khái

niệm Zaibatsu đã được chỉ ra theo quan điểm của tác giả, được xem như là

“doanh nghiệp quốc gia” (national enterprise) Tác phẩm có sự khái quát sơ

bộ về thời gian tồn tại của Zaibatsu và nguồn gốc hình thành cũng như quá trình phát triển của các Zaibatsu lớn như: Mitsui, Mitsubishi, Yasuda,

Sumitomo,… Tác phẩm còn cung cấp một hệ thống bảng số liệu đầy đủ vềdoanh thu, lợi nhuận và từng mảng hoạt động kinh doanh cũng như thị trường

chiếm lĩnh được của các Zaibatsu lớn Quan trọng hơn, cơ cấu tổ chức theo hướng hoàn thiện hơn của các Zaibatsu qua từng thời kỳ cũng được phản ánh.

Chương IV: “Defining the enterprise system” (tạm dịch: “Định nghĩa hệ

thống doanh nghiệp”) chỉ ra cách thức phân biệt Zaibatsu cũ và Zaibatsu mới,

và hoạt động của một số Zaibatsu mới như Nitchitsu, Chisso,…

Trang 11

Nghiên cứu về sự phát triển của các doanh nghiệp Zaibatsu với từng bộ phận riêng rẽ độc lập của nó, có thể kể đến công trình: Sogo Shosha - đội tiền

phong của nền kinh tế Nhật Bản của tác giả Yoshihara Kunio, do Nhà xuất bản

Khoa học Xã hội xuất bản năm 1993 Tác phẩm đã tạo dựng nên được cái nhìnkhái quát nhất về sự phát triển của các “Sogo shosha” tức các công ty thương

mại - là công ty con của các tập đoàn Zaibatsu lớn, đảm trách hoạt động điều phối thị trường kinh tế thương mại trong suốt thời gian Zaibatsu tồn tại và ngay

cả khi các Zaibatsu này đã bị giải tán Chương III: “Sự tiến triển lịch sử: thời

kỳ trước Chiến tranh” cung cấp cái nhìn toàn diện về hoạt động của các công ty

thương mại trong Zaibatsu, kể cả các Zaibatsu cũ lẫn các shinko Zaibatsu (tức các Zaibatsu mới) Chương VII: “Con người và tổ chức” chỉ ra cách thức quản

lý kinh doanh trong các công ty thương mại, yếu tố đảm bảo thành công trongcách thức quản lý ấy - những kinh nghiệm quan trọng đem tới sự thành công

trong hoạt động kinh doanh của các Zaibatsu.

Tác phẩm A History of Japanese Trade and Industry Policy (tạm dịch:

“Lịch sử chính sách thương mại và công nghiệp Nhật Bản”) của tác giả MikioSumiya, Nhà xuất bản Oxford University, xuất bản năm 2000 đã tạo dựng cáinhìn theo chiều dọc về lịch sử chính sách công nghiệp và thương mại Nhật

Bản Trong đó, Zaibatsu được xem như là một thành phần quan trọng, góp

phần điều phối thị trường, chi phối đường hướng phát triển của nền kinh tếNhật Bản trong giai đoạn từ Minh Trị Duy tân cho đến tận năm 1947 với sựgiải thể của hình thức tổ chức kinh tế này Tác phẩm cung cấp một hệ thốngbảng số liệu phong phú, chỉ ra được sự nắm giữ thị phần của các công ty

Zaibatsu lớn, sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế và tác động ngược trở

lại của tập đoàn kinh tế với chính sách phát triển của nhà nước Việc giải thể

của Zaibatsu cũng được đề cập rõ nét trong công trình Quá trình giải thể

được chỉ ra với những hoạt động từ phía quân Đồng minh Mỹ, hoạt động của

Trang 12

chính phủ Nhật Bản và quan trọng hơn cả là hoạt động của những người đứng

đầu Zaibatsu, đi đầu là Zaibatsu Yasuda.

Cụ thể hơn, sự phát triển của một Zaibatsu riêng biệt được đề cập đến trong: Mitsui: Three Centuries of Japanese Business (tạm dịch “Mitsui: ba thế

kỷ của hoạt động kinh doanh Nhật Bản”) của John G.Roberts, nhà xuất bản

Tokyo: Weatherhill, New York xuất bản năm 1989 Tác phẩm đã cung cấp mộtcái nhìn toàn diện về lịch sử phát triển của gia tộc Mitsui - từ những khởi phátcủa hoạt động kinh doanh bắt đầu từ thế kỷ XVI, cho đến tận cuối những năm

70 của thế kỷ XX Trong đó, những biến chuyển của hoạt động kinh doanhdưới thời Minh Trị Duy tân và sự tham gia của Mitsui với cương vị một

Zaibatsu được thể hiện rõ nét Lịch sử phát triển của Mitsui được tái hiện và

tập trung trình bày trên các phương diện: là trung tâm quyền lực chi phối nềnkinh tế đất nước, là động lực khởi phát của nhiều ngành kinh tế mới, là mộttrong những nhân tố đem nền kinh tế Nhật Bản xích lại gần với phương Tây,

đồng thời là một trong những Zaibatsu hùng mạnh nhất, độc quyền trên một số

lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế Nhật Bản, và cũng là một trong những nguyênnhân quan trọng dẫn tới sự hình thành Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản

Về hoạt động cụ thể của một công ty trong một Zaibatsu, tiêu biểu có thể kể đến công trình Mitsubishi and The N Y K 1870-1914: Business

Strategy in the Japanese Shipping Industry (tạm dịch: “Mitsubishi và Công ty

hàng hải thư tín Nhật Bản (NYK) 1870-1914: Chiến lược kinh doanh trongngành công nghiệp tàu thủy Nhật Bản”) của tác giả William D Wray, Nhàxuất bản Harvard University xuất bản năm 1984 Tác phẩm đã chỉ ra hoạtđộng kinh doanh thương mại của công ty hàng hải thư tín Nhật Bản (NihonYusen Kaisha), một trong những công ty giữ vị trí quan trọng nhất, đóng góp

nhiều lợi nhuận nhất cho Zaibatsu Mitsubishi nói riêng và nền kinh tế Nhật

Bản những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói chung Tác phẩm cungcấp một phông nền cơ bản về về sự hình thành và phát triển, hoạt động kinh

Trang 13

doanh của Zaibatsu Mitsubishi Đồng thời làm rõ lịch sử hình thành và hoạt

động của Công ty hàng hải thư tín Nhật Bản trong khoảng thời gian 1914: những hoạt động thương mại, vai trò đối với hoạt động quân sự trongnhững cuộc chiến tranh xâm lược buổi đầu của Đế quốc Nhật Bản cũng nhưnhững liên hệ chặt chẽ với nền chính trị đất nước

1870-Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập đến nhiều phương diện của

Zaibatsu, nhưng mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu những khía cạnh cụ thể, hoặc

cái nhìn về một bộ phận cấu thành trong tổng thể nền kinh tế Nhật Bản cận hiện đại, chứ chưa mang tính tổng quát về quá trình hình thành, phát triển

-cũng như đánh giá vai trò của Zaibatsu Trên cơ sở tổng hợp và kế thừa có

chọn lọc những thành quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi

mạnh dạn nghiên cứu về Zaibatsu - hình thức tổ chức độc quyền lũng đoạn thị

trường mang đặc trưng Nhật Bản thời cận - hiện đại Nghiên cứu đề tài này,chúng tôi muốn góp phần cung cấp một cái nhìn toàn diện về quá trình hình

thành và phát triển của Zaibatsu Nhật Bản thời cận - hiện đại cũng như những

đánh giá trên cả hai phương diện tác động tích cực và hạn chế của nó

3 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi đề tài

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa trên kết quả thu thập, xử lý các nguồn tư liệu, chúng tôi xác địnhluận văn này cần tập trung làm rõ các vấn đề sau:

- Đưa ra nhận thức chung nhất về khái niệm Zaibatsu và cơ cấu tổ chức của nó, cũng như cơ sở dẫn đến sự hình thành của Zaibatsu; chỉ ra sự phát triển của các Zaibatsu trong những thập niên cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế

kỷ XX với hai loại hình Zaibatsu: bốn Zaibatsu lớn thời kỳ đầu và các shinko

Zaibatsu mới xuất hiện trong những năm 1920 và sự giải thể của chúng.

- Phân tích sự tác động mang tính hai mặt của Zaibatsu đối với lịch sử

Nhật Bản từ những thập niên cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX trên tất

cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội

Trang 14

- Bước đầu tiến hành so sánh Zaibatsu với các hình thức tổ chức độc

quyền khác

3.2 Phạm vi đề tài

Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi không có tham vọng nghiêncứu toàn bộ quá trình phát triển của nền kinh tế Nhật Bản thời cận - hiện đại,

mà chỉ tập trung vào một điểm nổi bật mang đặc trưng của nền kinh tế Nhật

Bản cận - hiện đó là Zaibatsu Luận văn tập trung nghiên cứu về vai trò của các

Zaibatsu Nhật Bản trên cả hai phương diện tác động tích cực và những hạn chế

đối với tình hình kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội Nhật Bản đương thời

Về thời gian nghiên cứu, đề tài tập trung tìm hiểu về các Zaibatsu trong

khoảng thời gian những thập niên cuối của thế kỷ XIX, và mốc kết thúc là

năm 1947, năm mà các Zaibatsu chính thức bị giải thể.

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu tham khảo trong luận văn chủ yếu là các sách thông sử,chuyên khảo về lịch sử Nhật Bản thời kỳ cận - hiện đại, hoặc các bản dịch,các bài nghiên cứu riêng lẻ có liên quan Bên cạnh đó, có sự tham khảo tư liệubằng tiếng Anh, và một số tư liệu khai thác từ nguồn Internet, các website cóliên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở nguồn tư liệu sưu tầm được, chúng tôi đã tiến hành xử lý,phân tích, hệ thống hóa để làm sáng tỏ mục tiêu và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra.Phương pháp lịch sử và phương pháp logic cũng là hai phương pháp chủ yếuđược vận dụng để nghiên cứu đề tài Ngoài ra, để tiến hành nghiên cứu, chúngtôi còn sử dụng những phương pháp bổ trợ khác như thống kê, so sánh - đốichiếu,… để rút ra những nhận xét liên quan đến nội dung nghiên cứu

5 Đóng góp của đề tài

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về Zaibatsu đề tài sẽ có những đóng

góp sau:

Trang 15

- Đưa ra khái niệm về Zaibatsu dựa trên các cách định nghĩa của các

nhà nghiên cứu, và những kiến giải của cá nhân

- Tái hiện lại quá trình hình thành và phát triển của Zaibatsu trong lịch

Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức độc

quyền Nhật Bản (Zaibatsu) từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX

Chương 2: Vai trò của các tổ chức độc quyền (Zaibatsu) đối với sự

phát triển của lịch sử Nhật Bản

Trang 16

NỘI DUNG

Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐỘC QUYỀN NHẬT BẢN (ZAIBATSU)

TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Nhận thức chung về Zaibatsu

1.1.1 Khái niệm Zaibatsu

Sự hình thành và phát triển của các tổ chức độc quyền, tiến tới lũngđoạn thị trường là một trong những đặc trưng cơ bản của Chủ nghĩa tư bảntrong giai đoạn chuyển sang Chủ nghĩa đế quốc Lịch sử phát triển của Chủnghĩa tư bản thế giới chứng kiến sự tồn tại của các hình thức độc quyền khácnhau, tồn tại ở các quốc gia khác nhau Chủ nghĩa tư bản tồn tại ở phươngĐông, kết hợp với những đặc trưng văn hóa, lịch sử, mô hình kinh tế thươngmại phương Đông, cụ thể trong trường hợp Nhật Bản đã đem tới sự ra đời của

một hình thức tổ chức độc quyền mới: Zaibatsu Zaibatsu là một mô hình tổ

chức kinh doanh và thương mại của Nhật Bản ra đời vào kỷ nguyên Minh Trị

Duy tân, nhưng thuật ngữ Zaibatsu được sử dụng bắt đầu vào khoảng thời

gian sau Chiến tranh Thế giới I (1914 - 1918) và phổ biến vào những năm

1945 - 1947, thời kỳ mà các hình thức tổ chức độc quyền này bị giải thể sauChiến tranh Thế giới II (1939 - 1945)

Định nghĩa về Zaibatsu, có rất nhiều quan điểm, phản ánh tư tưởng của

các trường phái sử học phương Đông và phương Tây Một số học giả phương

Tây sử dụng thuật ngữ Zaibatsu “để mô tả sự tập trung của nền kinh tế Nhật

Bản… trong thời kỳ trước chiến tranh” [70; tr.110] Nhận thức này bị các học

giả Nhật Bản đánh giá là “một cách hiểu sai ở phương Tây” bởi nó “mangtính không chính xác” [70; tr.110]

Trang 17

Edwin W Pauley trong báo cáo đệ trình cho nghị viện Mỹ về việc “dânchủ hóa nền kinh tế” Nhật Bản sau Chiến tranh năm 1945, đã khẳng định

Zaibatsu là đối tượng quan trọng đầu tiên cần phải giải trừ, từ đó đưa ra định

nghĩa về Zaibatsu “Zaibatsu Nhật Bản (theo nghĩa đen là “phe cánh tài

chính”) là một nhóm tương đối nhỏ của một vài người, hợp tác gần gũi giữa cácgia đình và các tổ chức doanh nghiệp của họ, những người mà xuyên suốt lịch sửhiện đại Nhật Bản, kiểm soát không những tài chính, công nghiệp, thương mại

mà còn cả chính phủ Họ là tiềm năng chiến tranh vĩ đại nhất của Nhật Bản Họhợp lý hóa tất cả những sự chinh phục và các cuộc xâm lược của Nhật Bản…

Zaibatsu không những chịu trách nhiệm về chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản như

những người ủng hộ chủ nghĩa quân phiệt, mà còn thu được lợi nhuận vô cùng

từ nó Thậm chí hiện tại, dù đã sụp đổ, sức mạnh của nó vẫn được thể hiện trong

vị trí độc quyền… Trừ phi Zaibatsu sụp đổ, Nhật Bản mới có triển vọng nhỏ bé

về sự cầm quyền của chính họ và tự do cho nhân dân” [78; tr.18]

Một cách định nghĩa khác, phản ánh ngắn gọn quá trình hình thành phát

triển của Zaibatsu là: “tên gọi các công ty tư bản độc quyền ở Nhật Bản trước

năm 1945, thuộc quyền sở hữu của các gia đình có thế lực lớn về chính trị,kinh tế và kiểm soát hầu như toàn bộ nền kinh tế đất nước Các công ty nàygiống như cartel, syndicat ở Đức, trust ở Mỹ Lớn nhất là các công ty Mitsuikiểm soát về than, chế tạo máy, hóa chất, ngoại thương Công ty Sumimoto vềcông nghiệp nặng, công nghiệp quân sự, tàu biển, các tổ hợp Iasuda, Okuro,

… Sau Chiến tranh Thế giới II, trước áp lực đấu tranh của nhân dân, chính

phủ Nhật Bản đã giải tán các Zaibatsu” [34; tr.159].

Định nghĩa Zaibatsu còn được mở rộng để chỉ một phương thức tổ chức

kinh doanh trên phạm vi thế giới theo mẫu hình này: “Trong trường hợp mộtdoanh nghiệp gia đình mở rộng và đa dạng hóa nhiều ngành nghề với từng mức,từng phạm vi và kết cấu của hoạt động thương mại, chúng ta sẽ xếp nó vào dạng

Trang 18

kiểm soát quyền sở hữu và quyền quản lý; (2) sự phát triển của hoạt động kinhdoanh đã mở rộng thêm các ngành và/ hoặc khu vực kinh tế mới; (3) vì vậy nhómnày tiến tới kiểm soát thị trường, ít nhất là trong một vài ngành công nghiệp hoặctrong khu vực đó Do đó mặc dù nghĩa của từ này xuất phát từ tiếng Nhật, nhưngnếu một doanh nghiệp thỏa mãn được ba điều kiện trên thì có thể được gọi là

Zaibatsu, bất kể khu vực nào ở trên thế giới mà từ đó được sử dụng” [74; tr.378].

Các cách định nghĩa về Zaibatsu nói trên đã thể hiện nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu về Zaibatsu Đó có thể là nhận thức về Zaibatsu truyền thống, hay các Zaibatsu mới xuất hiện; cũng có thể là quan niệm về Zaibatsu trong

phạm vi Nhật Bản, hoặc mở rộng những mô hình tổ chức kinh doanh trên thế

giới mang đặc trưng của Zaibatsu Nhật Bản; ngoài ra còn có quan điểm định nghĩa Zaibatsu dựa trên quá trình phát triển và xác định vai trò, sự chi phối,

tính hạn chế của nó đối với nền kinh tế quốc gia nói riêng và đất nước nóichung Đó cũng có thể là những cái nhìn mang tính chất chủ quan của ngườiNhật khi nói về một mô hình kinh tế đã tồn tại trong lịch sử của họ, cũng cóthể là những cái nhìn mang tính đánh giá khách quan từ bên ngoài dựa trên sựtổng hợp xuyên suốt lịch sử Nhật Bản

Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, phản ánh những cáchnhận định khác nhau, nhưng tựu trung lại giữa các cách định nghĩa ấy vẫn

mang những điểm giao thoa, thể hiện đặc trưng cốt lõi của Zaibatsu Từ những cách nhận định đó, chúng tôi đưa ra kiến giải của mình về Zaibatsu:

Zaibatsu là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các tổ hợp tài chính, công nghiệp

liên kết theo chiều dọc của Nhật Bản, tồn tại trong thời kỳ Duy tân Minh Trị

cho đến sau Chiến tranh Thế giới II Đứng đầu Zaibatsu là một gia đình hạt

nhân, có vai trò lãnh đạo, mở rộng và kết hợp các gia đình khác cùng tham gia

vào hoạt động kinh doanh thương mại, tín dụng, sản xuất,… Zaibatsu thể hiện

rõ nét việc gần như tách rời quyền sở hữu (của người sáng lập Zaibatsu) và quyền quản lý (người tham gia Zaibatsu), kiềm chế lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau

Trang 19

để cùng đưa doanh nghiệp gia đình phát triển Phạm vi hoạt động của

Zaibatsu được mở rộng theo hướng đa dạng hóa, tiến tới thao túng thị trường,

độc quyền trong một số lĩnh vực Zaibatsu có sự liên kết chặt chẽ với chính

quyền, chi phối chính trị xã hội và là một trong những động lực quan trọngdẫn tới sự thiết lập của Chủ nghĩa quân phiệt ở Nhật Bản, do đó mà nó đã bịgiải thể bởi SCAP(1) vào năm 1947

1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Zaibatsu

Bản chất của Zaibatsu là cơ sở kinh doanh mang tính chất gia đình Trung tâm của mỗi Zaibatsu có một công ty mẹ, do gia đình sáng lập nắm quyền kiểm

soát Vốn của các công ty mẹ do những thành viên trong gia đình hoặc nhóm giađình có cùng chung tổ tiên nguồn gốc đóng góp Công ty mẹ sở hữu một số cổphần lớn trong các công ty cốt lõi, ngân hàng, thương mại và bảo hiểm Cáccông ty cốt lõi này lại sở hữu hàng trăm cổ phần trong các công ty sáp nhập,công ty chi nhánh và thấp hơn nữa là các phân nhánh Cách thức quản lý theo

chiều dọc này khiến cho Zaibatsu trở thành một nhóm, kiểm soát từ 40 - 100%

vốn của các thành viên chủ yếu của nó [9; tr.74] Như vậy, “Các công ty

Zaibatsu trước chiến tranh được tổ chức theo cấu trúc kim tự tháp Công ty đứng

đầu sở hữu bởi gia đình mạnh nhất, kiểm soát những người đứng đầu hoạt độngtrong nhiều công ty của nhóm, lần lượt kiểm soát các công ty con và các công tysáp nhập Công ty đứng đầu được xem như “đầu não chỉ huy tối cao”, tiến hànhkiểm soát chặt chẽ hoạt động của nhóm và các thành viên của công ty phải duytrì mối quan hệ hợp tác gần gũi với các thành viên khác” [72; tr.35]

Cách thức kiếm soát này khiến cho mỗi công ty cốt lõi có thể có ít nhất

một hay hai công ty liên kết, hợp tác hoặc chi nhánh, đưa Zaibatsu trở thành tổ

hợp rộng lớn các công ty có liên quan với nhau nhưng lại mở rộng trong mộtloạt các ngành công nghiệp khác nhau Tính thống lĩnh và chi phối thị trường

Trang 20

của Zaibatsu được tăng lên mạnh mẽ Bên cạnh đó, “sự kiểm soát mối quan hệ

theo chiều dọc đã tồn tại giữa các công ty mẹ, công ty con, công ty đại diện

công ty con trong nhóm Zaibatsu được sắp xếp một cách hợp lý trên cơ sở liên

doanh nghiệp kiểm soát xuyên suốt cổ phần sở hữu và bởi sự bổ nhiệm các

viên chức của các công ty cao cấp như là giám đốc của các công ty thấp hơn”[76; tr.22] Sự phân công quản lý này khiến cho mối liên hệ giữa các thành viên

của Zaibatsu trở nên chặt chẽ, mang tính hệ thống và đạt hiệu quả cao do có

được đội ngũ quản lý có năng lực và là những người đáng tin cậy

Trong quá trình điều hành, các Zaibatsu cho phép thực hiện phân quyền

trong công việc kinh doanh của mình Một công ty chi nhánh này có thể muanhững vật tư thông qua một công ty chi nhánh khác, nhưng nó có thể khônglàm như vậy mà lại đi mua ở một công ty bên ngoài nếu nó thấy có lợi hơn

Nói cách khác, mỗi cơ sở của Zaibatsu có quyền tự chủ kinh doanh và hoạt

động vì lợi ích của chính mình

1.2 Cơ sở hình thành của các Zaibatsu

1.2.1 Sự phát triển của các tổ chức kinh doanh dưới thời Tokugawa

Năm 1602 Tokugawa Ieyasu lên ngôi, chấm dứt hoàn toàn những nămtháng loạn lạc, cát cứ phân quyền của Nhật Bản trong thời kỳ Chiến quốc

(sengoku jidai), mở ra một trang mới cho lịch sử thống nhất của đảo quốc

Nhật Bản Mạc phủ Tokugawa tiếp tục đường lối chính trị hai chính quyềnsong song tồn tại, cùng cai trị đất nước Sau một thời gian mở cửa giao lưu

với bên ngoài, năm 1650, chính sách Tỏa quốc (sakoku) được ban hành.

Sakoku được xem như là một quyết định: “có tính chất chiến lược để bảo vệ

an ninh quốc gia, sự thống nhất đất nước, trung lập hóa các mối quan hệ quốc tế, khắc phục tình trạng mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thương mại và nhằm đưa Nhật Bản từ một thị trường tiêu thụ hàng ngoại nhập thành một nước tự chủ về kinh tế” [25; tr.150] Mặt tích cực của chính sách Tỏa

quốc sakoku đã tạo điều kiện cho nền kinh tế hàng hóa Nhật Bản có điều kiện

Trang 21

phát triển mạnh mẽ trong những năm tháng của thời Mạc mạt Bakumatsu Trên cơ sở đó, các nhà buôn (ie) và phường hội (nakama) đã được thành lập.

Những tổ chức kinh doanh này được xem như là tiền đề quan trọng, đảm bảo

cho sự ra đời của Zaibatsu dưới thời Minh Trị Duy tân

Nhật Bản những năm đầu thế kỷ XIX với sự thống nhất và tập trungđược hình thành suốt trong các thế kỷ XVII-XVIII đã là điều kiện cơ bản để

kiến tạo nên “một nền kinh tế hàng hoá phát triển tương đối rộng khắp” [61;

tr.47] Sự lớn mạnh của ngành kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp đã tạonên một khối lượng sản phẩm lớn, không những phục vụ đủ cho nhu cầu củađịa phương mà đã vươn lên trở thành đối tượng của các hoạt động thương mại.Các làng bị lôi cuốn vào nền kinh tế quốc gia và quay theo vòng tuần hoàn củaquỹ đạo ấy Từ đó, một hệ quả tất yếu của tình trạng này là sự xuất hiện của thịtruờng tiền tệ - một minh chứng cho sự hưng khởi của nền kinh tế hàng hoá

Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá thời kỳ này được biểu hiện quamột ví dụ sinh động là những hoạt động kinh doanh mạnh mẽ của giới thươngnhân Osaka Trong quá trình buôn bán, những thương nhân này đã tiến hànhtích luỹ tư bản và thu về được nguồn lợi nhuận khổng lồ Khối lượng hànghoá đến Osaka trong những thập niên đầu của thế kỷ XVIII đã có giá trị lên

đến 286.500 kan bạc [27; tr.67] Tiền lãi trong buôn bán do số vốn đó sinh ra lại được đưa vào tái đầu tư Từ đó, “tiền tệ xâm nhập vào mọi miền đất nước

và được các tầng lớp xưa nay chưa dùng tiền bao giờ chấp nhận một cách dễ dàng” [38; tr.253] Đồng thời, việc tiền tệ hoá nền kinh tế đã tạo nên những

vụ làm ăn buôn bán lâu dài, mở rộng ra phạm vi toàn quốc và dần triệt tiêu đinhững phiên chợ mang tính trao đổi không thường kỳ

Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đòi hỏi phải có một tầng lớpđứng ra đảm trách điều hành các hoạt động thương mại, đảm bảo sự vận hànhliên tục cho hoạt động kinh doanh Trong điều kiện Nhật Bản đã dẫn đến sự ra

Trang 22

chức bao gồm nhà và những người gắn liền với nó Đây là một tổ chức kinh

tế, chính trị và pháp lý Mọi thành viên trong gia đình đều phụ thuộc vào chủnhà, mặc dù vậy, chủ nhà vẫn chưa phải là đối tượng nắm quyền lực tối cao

“Chính là nhà chứ không phải các thành viên của nó, là người sở hữu tài sản: chủ nhà chỉ là người quản lý tài sản cho nhà, cho các thành viên hiện

có, cho các thế hệ tổ tiên và cả hậu thế chưa ra đời”(2) [9; tr.29] Như vậy

doanh nghiệp gia đình không phải là một hoạt động thuộc về người chủ giađình mà là được các thành viên khác cùng chung sức, với tư cách quản lý

(banto) và người bán hàng (tedai) Tất cả các thành viên này chịu trách nhiệm

trong việc duy trì và mở rộng hoạt động của doanh nghiệp gia đình và nhận sự

chia sẻ những lợi ích do sự thịnh vượng của ie mang lại Bởi thế, “nhà Nhật

Bản là một thứ phường hội: một nhóm bền vững có những quyền hạn hoàntoàn tách biệt với quyền hạn của từng cá nhân thành viên vào bất cứ thời điểmnào” [9; tr.29] Tất cả các thành viên trong gia đình đều tham gia công việckinh doanh Thông thường, dinh cơ vừa là nơi sản xuất, vừa là nơi buôn bán

Tài sản kinh doanh đồng thời cũng là tài sản của ie và chủ nhà phải chịu trách nhiệm về tài sản đó Trách nhiệm đối với ie là trách nhiệm của toàn thể các

thành viên trong gia đình và cả những người tham gia vào hoạt động kinhdoanh của gia đình Tính cố hữu của tư tưởng xã hội đã làm nên một đặc thùtrong hoạt động kinh doanh của Nhật Bản là sự thành lập của những doanh

nghiệp gia đình - cơ sở của sự tiếp nối là các Zaibatsu trong thời kỳ cận đại.

Hoạt động kinh doanh gia tộc với tư cách là một tổ chức kinh doanhkhông bao giờ được xem là sở hữu riêng của chủ gia đình với tư cách cá nhân

Dù cho đó là gia đình hạt nhân hay gia đình mở rộng, thì đó cũng là khối tài

2 Sự mô tả của Yasukazu Takenaka cho thấy không khí của thời buổi đó: “Gia đình các thương nhân là những

tổ chức kinh doanh, do tổ tiên truyền lại cho con cháu và có một thứ tư cách pháp nhân Người chủ gia đình

kế thừa doanh nghiệp gia đình, có bổn phận duy trì và nếu có thể được mở rộng kinh doanh và có bổn phận bảo vệ nó để truyền nó lại cho thế hệ sau Các trách nhiệm này của người chủ gia đình, đều được nhấn mạnh,

không trừ một trách nhiệm nào, trong các nguyên tắc của gia đình (kakun) và các quy tắc của cửa hàng

(tensoku)” [63; tr.158]

Trang 23

sản chung của những người tham gia vào hoạt động kinh doanh của giađình(3) Khi một ie đã được xác lập và ngày càng mở rộng, những phương thức

để giúp đỡ người chủ gia đình gọi là tanakata seido cũng được hình thành.

“Chủ gia đình là người chịu trách nhiệm quản lý và giám sát kinh doanh Tuy

nhiên việc thực thi thật sự các vấn đề là dành cho người quản lý và người bán

hàng Theo tục lệ, không có sự đồng ý của họ, ngay cả chủ gia đình cũng

không thể làm được việc gì” [63; tr.159] Banto và tedai có trách nhiệm khiển

trách chủ gia đình nếu ông ta tham gia vào các hoạt động phi sản xuất và làm

hao phí lợi nhuận của ie Chủ gia đình được cung cấp tiền lương (ategai

buchi) và hạn chế các khoản chi tiêu; nếu sự chi tiêu cá nhân vượt quá tiền

lương cho phép, sẽ buộc phải ký nợ Banto và tedai cũng có quyền lực rất lớn

thể hiện ở việc có thể buộc chủ gia đình rút lui khỏi vai trò sở hữu tối cao với

sự đồng ý của các thành viên chi họ (bunke) và thành viên gia đình (bukke).

Sự phân bổ quyền lực mang tính đề cao vai trò cá nhân đã làm cho “công

nhân viên được xem như là một bộ phận của doanh nghiệp” [63; tr.159], và

do đó, tổ chức kinh doanh gia tộc càng trở nên vững chắc Cách thức sở hữu

và quản lý của ie là một trong những cơ sở quan trọng để cấu thành nên chế

độ quản lý hiện đại của các Zaibatsu ở thời kỳ sau.

Sự lớn mạnh của các nhà buôn cùng sự phát triển của các hoạt động kinh

doanh đã dẫn đến sự ra đời của phường hội (nakama) - một dạng liên kết theo

chiều dọc, thể hiện sự điều hòa cơ chế quản lý theo yêu cầu của thị trường

Nakama “là tổ chức của những người cùng nghề Chức năng của nó là để tăng sức cạnh tranh, cùng nhau bảo vệ lợi ích kinh tế, duy trì sự phát triển ổn định của mỗi thành viên, tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng tài chính, chống lại khuynh hướng mưu lợi cá nhân” [20; tr.225] Sự ra đời của nakama còn do

3 Rizaemon Minomura, người dẫn đắt các hoạt động kinh doanh của tập đoàn Mitsui qua thời kỳ hỗn loạn của

những năm Bakumatsu và đầu thời Meiji đã đưa ra quy tắc doanh nghiệp Omotokata kisoku (Các quy tắc cơ bản của doanh nghiệp Mitsui) khẳng định một điều trong đó rằng: “tài sản gia đình của nhóm Mitsui thuộc

về nhóm Mitsui và không phải là tài sản riêng của gia đình Mitsui Sự phân định này phải được làm rõ, đó là

Trang 24

mục đích tránh sự thâm nhập của các thành viên bên ngoài, khống chế giá cả,điều tiết khối lượng và chủng loại hàng hóa buôn bán trên thị trường, kiểm trachất lượng hàng hóa, bảo vệ quyền lợi của các thành viên và nâng cao uy tíngiữa người sản xuất, người buôn bán với người tiêu dùng.

Các nakama đề cao uy tín như là nguyên tắc sống còn Mỗi nakama tự

đề xướng một phương pháp, cách thức kinh doanh riêng, sao cho phù hợp vớingành nghề và nhu cầu của thị trường, cũng như thái độ của chính quyền, đểhướng tới mục đích làm cho công việc kinh doanh trở nên phát đạt Trong cácgia đình doanh thương, quyền đứng đầu doanh nghiệp mang tính cha truyền

con nối Nhưng trong trường hợp chủ nakama không có con trai, hoặc con trai

không đủ năng lực điều hành kinh doanh, người ta thường chọn trong sốnhững nhân viên một người có năng lực và có lòng trung thành nhất đứng ra

làm người quản lý Điều này thể hiện đối với các nakama, sự sống còn của

doanh nghiệp, danh tiếng của gia đình và hội buôn được đặt lên trên hết

Tổ chức của các nakama hết sức đa dạng; một nakama có thể bao gồm tới vài trăm ie, và có thể chia làm các hội, mỗi hội giao dịch một phần riêng biệt trong toàn bộ phạm vi kinh doanh của phường Số lượng các nakama

tăng lên một cách nhanh chóng Chỉ riêng thành Osaka, năm 1679 mới chỉ có

382 hội buôn, thì chỉ khoảng 30 năm sau (1711 - 1715) đã có 5.538 hội buônđược thành lập [20; tr.220]

Trong những năm Bakumatsu, nakama đã thể hiện vai trò quan trọng

của nó đối với nền kinh tế Nhật Bản, và do đó, được Mạc phủ sử dụng như làmột công cụ để củng cố chính quyền, khống chế giá cả thị trường và tăngthêm thu nhập cho ngân sách nhà nước Trong nhận thức của chính quyền

trung ương, nakama “tạo ra một cơ chế kiểm soát khắt khe, kiểm tra hàng

hóa nhập ngoại, cấp đặc quyền buôn bán, khống chế giá cả và cung cấp hàng hóa, đảm bảo cho việc lưu hành tiền tệ mới, đặt ra quy chế cho những người

Trang 25

sản xuất, bảo vệ các doanh nghiệp độc quyền, giải quyết cạnh tranh buôn bán, phát triển các vùng dân cư mới và tăng ngân khố” [20; tr.226].

Trên thực tế, vai trò của các nakama đối với lịch sử Nhật Bản thời cận thế

được thể hiện mang tính chất hai mặt Nó vừa là động lực thúc đẩy sự phát triểncủa nền kinh tế hàng hóa, xây dựng quy tắc thương mại, xúc tiến sự ổn định củathị trường,… là những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của mầm mống kinh

tế Tư bản chủ nghĩa, nhưng đồng thời cũng đã “ngăn trở sự cạnh tranh và

thường thao túng giá cả” [9; tr.33], từ đó, làm gia tăng yếu tố độc quyền

Ie và nakama “đem lại một tiền lệ lịch sử để hỗ trợ cho một số lý tưởng

chỉ trở thành phổ biến sau khi chế độ Tokugawa chấm dứt: đó là, người làmthuê phải ở lại với một tổ chức suốt đời, và quan hệ với các nhân viên về một

ý nghĩa nào đó phải tương tự với quan hệ bên trong một gia đình” [9; tr.34]

Tính chất hai mặt đó của ie và nakama được thể hiện rõ nét qua tính kế thừa ở

Zaibatsu với một mức độ cao hơn trong thời kỳ cận – hiện đại

Các tổ chức doanh nghiệp gia đình dưới thời Mạc phủ Tokugawa vớinhững đặc điểm về cách thức quản lý và sở hữu tài sản, phương thức kinhdoanh, hoạt động tín dụng,… đã là tiền đề quan trọng đảm bảo cho sự ra đời

của các Zaibatsu trong thời cận - hiện đại

1.2.2 Những chính sách cải cách kinh tế dưới thời Minh Trị Duy Tân

- Cuộc Duy tân Minh Trị

Nhật Bản những năm cuối thế kỷ XIX đã trải qua gần bảy thế kỷ song

song tồn tại của hai chính quyền: Thiên hoàng (Mikado) và Tướng quân

(Shogun), cùng phân chia quyền lực cai trị đất nước Mạc phủ Tokugawa được

thành lập vào thế kỷ XVI sau sự thống nhất Nhật Bản, chấm dứt thời kỳ Chiến

quốc (Sengoku jidai) Mạc phủ mới lúc này được thiết lập trên “nguyên tắc ba

cực, có ý nghĩa như một tam giác quyền lực gồm: Hoàng triều Kyoto – Shogun Edo và Daimyo lãnh chúa địa phương Tính ổn định và thống nhất của nó phụ

Trang 26

thuộc của các lãnh chúa địa phương với chính quyền Mạc phủ” [27; tr.61].

Trước sự lùi bước của Mạc phủ, liên tục kí kết các hiệp ước bất bình đẳng vớiphương Tây làm mất đi chủ quyền của dân tộc; nhìn thấy tình cảnh của các quốcgia phương Đông khác đã và đang lần lượt trở thành thuộc địa của các nước tưbản, dân tộc Nhật Bản nhận thức được rằng cần phải có sự thay đổi trong bảnthân, trong nội tại của chính họ để vươn lên nếu không muốn mất đi nền độc lậpnhỏ bé Có thể nói, cơn lốc Chủ nghĩa thực dân đã ảnh hưởng sâu rộng trên khắpthế giới trong thế kỷ XIX, tác động mạnh mẽ đến châu Á nói chung, Nhật Bảnnói riêng, làm thức tỉnh Nhật Bản Người Nhật tự nhận thấy được chặng đường

mà họ đi hàng trăm, hàng nghìn năm qua đã không còn phù hợp Người ta hiểurằng cần phải tìm một con đường mới, một hướng đi mới thoả mãn với nhữngyêu cầu của lịch sử khi mà lịch sử đã chuẩn bị sẵn sàng

Các tầng lớp tiến bộ trong xã hội Nhật Bản nhận thấy được cần phảixoá bỏ rào cản phong kiến, xoá bỏ những luật lệ khắt khe của Mạc phủTokugawa để phát triển Người ta đề ra những khẩu hiệu “Tôn vương nhườngdi” (Phò vua đánh đuổi người man rợ), “Vương chính phục cổ” (Phục hồichính quyền vua như trước kia) và nhanh chóng được đông đảo các lãnh chúa

và quần chúng ủng hộ [27;113-114]

Trước sức ép của phong trào đấu tranh này, cùng sự lên ngôi của Thiênhoàng Minh Trị (1852 - 1912, tại vị 1867 - 1912) - một người sớm có tư tưởngcải cách, cuối cùng, ngày 14/10/1867, tại Kyoto, Tokugawa Yoshinobu đãquyết định trao trả quyền lực chính trị cho Thiên hoàng Sự kiện này đã đánhdấu sự ra đời của chính thể mới, đồng thời chấm dứt hoàn toàn quyền thống trịcủa chính quyền Tokugawa sau 267 năm tồn tại Chính quyền Minh Trị chínhthức được thành lập, liên kết Nhật Bản thành một khối thống nhất để phát triển

Nhật Bản, trước những tác động lớn lao của tình hình quốc tế và khuvực những năm cuối thế kỷ XIX đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ,

mà biểu hiện tập trung của nó là sự thành lập nên được một hệ thống chính trị

Trang 27

thống nhất, hoàn chỉnh, và hướng ngoại, hứa hẹn cho sự phát triển của mộtnước Nhật Tư bản Chủ nghĩa về sau.

- Những chính sách cải cách trong lĩnh vực kinh tế của chính quyền mới

Ngay từ khi lên ngôi, Thiên hoàng Meiji đã đề ra khẩu hiệu của công

cuộc cải cách đất nước là “Phú quốc cường binh”(fukoku kyohei) [20; tr.246],

có nghĩa là “Một quốc gia giàu mạnh và một quân đội hùng cường” [48; tr.99].

Mục tiêu phát triển đất nước đặt kinh tế làm điều cốt yếu, do đó, những chínhsách cải cách tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, khuyếnkhích phát triển sản xuất đã được ban hành Trên thực tế, sự thi hành của những

chính sách này là điều kiện quan trọng dẫn tới sự ra đời của các Zaibatsu

Năm 1870, Bộ Công nghiệp được thành lập Năm 1874, Bộ Nội vụ và

Bộ Tài chính ra đời, chịu trách nhiệm quản lý các công việc trong lĩnh vựckinh tế Trên cơ sở kế thừa các xí nghiệp, nhà máy, xưởng sản xuất sợi,xưởng đóng tàu và các hãng chuyên chở đường thủy,… của các lãnh địaphong kiến trước đây, nhà nước đã tiến hành đầu tư, tổ chức lại và mở rộngthêm Trong những năm 70 của thế kỷ XIX, chính phủ tiến hành mở các nhàmáy với thiết bị hiện đại ở một số ngành công nghiệp then chốt và đặt muatàu biển của nước ngoài Năm 1880, những công trình công nghiệp thuộc nhànước quản lý bao gồm 3 xưởng đóng tàu, 51 tàu buôn, 5 xưởng chế tạo đạndược, 52 nhà máy các loại khác, 10 hầm mỏ, 75 dặm đường xe lửa và một hệthống điện tín [5; tr.12] Chính phủ cũng đã giúp đỡ cho các hãng tư nhân vềmặt tài chính và bán cho họ với những điều kiện ưu đãi những máy móc nhập

về từ nước ngoài; đồng thời thuê những kỹ thuật viên, giáo viên, chuyên viênquản lý và các công nhân lành nghề để truyền đạt kiến thức chuyên môn cầnthiết cho sự điều hành các trang thiết bị mới

Chính phủ Minh Trị đã tiến hành sắp xếp lại hệ thống tài chính và ngânkhố, bắt tay vào xây dựng hệ thống giao thông, chăm lo phát triển cơ sở hạ

Trang 28

hiện đại phát triển, hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc đã được

mở mang hoặc xây dựng mới Năm 1869, Nhật Bản khánh thành hệ thốngđiện tín Tokyo - Yokohama, đến năm 1873, mạng lưới điện tín Tokyo -Nagasaki và năm 1874, đường dây Tokyo - Aomori được hoàn thành Đường

xe lửa Tokyo - Yokohama cũng được khánh thành vào năm 1872 với sự giúp

đỡ của các chuyên gia Anh Vào năm 1874, tuyến xe lửa Osaka - Kobe hoànthành Đến năm 1889, toàn bộ tuyến đường Tokkaido nối liền Tokyo và Kobeđược đưa vào sử dụng Tổng cộng, đến năm 1893, Nhật Bản đã có hơn 2.000dặm đường xe lửa, 4.000 dặm đường điện thoại và 100.000 tấn trọng tải tàubiển chạy bằng hơi nước [20; tr.254] Sự liền mạch của giao thông vận tải vàthông tin liên lạc đã tạo điều kiện cho sự phát triển xuyên suốt của các mạchmáu kinh tế nói chung và các ngành kinh tế nói riêng Do đó, nó đảm bảo cho

sự ra đời và nhanh chóng thống lĩnh thị trường của các Zaibatsu

Hệ thống tài chính tiền tệ hiện đại cũng đã được nhà nước thiết lập, hỗtrợ cho sự phát triển của các ngành kinh tế Năm 1871, chính phủ ban hànhquy định chế độ tiền tệ mới của Nhật Bản và thiết lập hệ thống ngân hàngquốc gia theo mô hình của Hoa Kỳ Năm 1873, Ngân hàng quốc gia đuợcthành lập, giúp cho chính phủ ổn định nguồn tài chính và quản lý tốt ngânsách nhà nước cũng như thuế khóa

Việc chuyển nhượng các công ty được thành lập trong thời kỳ đầu cho các

tổ chức doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp gia đình cũng được nhà nước tiếnhành với những chính sách hết sức ưu đãi Đối tượng chuyển giao là các công ty

độc quyền có thế lực lớn hay những tổ chức kinh doanh thuộc bốn han Satsuma,

Tosa, Choshu, Hizen - lực lượng quan trọng trong cuộc phục hưng Minh Trị.Hành động mở đường này của chính phủ đã khiến cho những người đương thời

phải đưa ra nhận xét: “tất cả các công ty hoặc nhà máy có tầm cỡ nào đó đều

được chính phủ cung cấp vốn hoặc được ban cho các đặc quyền” [5; tr.14]

Trang 29

Những chính sách của chính phủ mới đã “đem lại cái đà khởi động đầu

tiên” [9; tr.39] cho nền kinh tế Nhật Bản những năm đầu thời kỳ cận đại Sự

rút lui của nhà nước, chuyển giao sang cho tư nhân những hoạt động điều

phối thị trường đã tạo điều kiện cho các Zaibatsu hình thành và phát triển

mạnh mẽ trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu XX

1.2.3 Truyền thống văn hóa, cách thức quản lý của người Nhật Bản

- Hoạt động kinh doanh cộng đồng trên nền tảng tư tưởng Khổng giáo

Nhật Bản là một quốc đảo thể hiện đậm nét sự giao thoa và lưu giữ của

nhiều giá trị văn hóa văn minh Ở nơi đây “nền văn minh cũ không bị nền văn

minh mới phá hoại, nền văn minh mới chỉ thêm vào nền văn minh cũ và làm cho nền văn minh cũ được hoàn toàn… Những thứ văn minh khác nhau ấy không tương phản nhau, chỉ thêm vào với nhau từng thế hệ một… giữa những

sự thay đổi ấy có một sự điều hòa rất rõ rệt, đó chính là tính chất cốt yếu của

xứ sở và của văn hóa Nhật Bản” [22; tr.6-7] Tiến trình phát triển của lịch sử

Nhật Bản thể hiện nhiều tầng tiếp xúc và giao lưu văn hóa khác nhau Trong

đó, đầu tiên là những tiếp xúc với Trung Hoa(4) - sự tiếp xúc mang tính địnhhình rõ rệt cho một nền văn hóa Đông Á mang đậm những yếu tố Khổng giáo

Với những quan niệm của Khổng giáo, những thương nhân bị xem làtầng lớp thấp kém nhất trong xã hội Việc kinh doanh bị xã hội xem nhẹ, thậm

chí không thừa nhận bởi “họ không cai trị mà cũng chẳng sản xuất ra của

cải, mà chỉ buôn bán những cái người khác trồng trọt hoặc chế tạo ra” [9;

tr.46] Những nhận định mang tính cố hữu của tư tưởng xã hội đã dẫn đến sự

hạn chế của nền kinh tế thương mại Thậm chí, đây là một điều “hoàn toàn

đáng ghê tởm đối với các giá trị tinh thần của Khổng giáo - một kẻ vụ lợi bất

4 Sự tiếp xúc Nhật Bản – Trung Hoa diễn ra vào khoảng trước thế kỷ II tr CN Trong khi ở Nhật Bản đang diễn ra nền văn hóa Yayoi (Thằng văn), thì ở Trung Quốc, nhà Hán lật đổ nhà Tần và trở thành một đế quốc hùng mạnh Năm 108 tr CN, Hán Vũ Đế chinh phục bán đảo Triều Tiên, chia thành bốn quận, đứng đầu là quận Lạc Lang Từ đây, ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc sang phía Đông là Nhật Bản ngày càng rõ nét Cuốn sách đầu tiên viết về Nhật Bản của Trung Quốc có lẽ là “Sơn Hải kinh” (không rõ tác giả) và “Luận

hành” (Vương Sung) viết về việc wajin (Oải nhân hay Nụy nhân, nghĩa là người nhỏ, lùn theo cách người Trung Quốc xưa gọi người Nhật, còn người Nhật dùng chữ Hoà nhân để nói về mình) thần phục nước Yên.

Trang 30

lương tạo dựng một công cuộc kinh doanh cũng làm được nhiều điều tốt cho thiên hạ không kém gì một nhà cai trị là một học giả uyên bác” [9; tr.50-51]

Mặc dù thương nhân và hoạt động thương mại bị bài xích, nhưng đâyvẫn là điều cần thiết cho xã hội Đặc biệt trong bối cảnh lịch sử mới, trước sựphát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa do sự xâm nhập của Chủ nghĩa

tư bản phương Tây, và trước sự nhận thức lại của người dân Nhật Bản vềkhoảng cách của dân tộc với thế giới, những cách nhìn đối với hoạt động kinhdoanh đã có những thay đổi Người ta đã đề ra những lý do để lý giải cho việc

vì sao phải tiến hành kinh doanh Tất nhiên trong buổi đầu của thời kỳ hiệnđại, cơ sở của những lý do này phải được đặt trên nền tảng xã hội – tức các tưtưởng Khổng giáo và tư tưởng cộng đồng Với quan điểm này, mục đích củahoạt động kinh doanh đã trở nên quan trọng hơn cả Tất cả chỉ nhằm hướngtới mục tiêu “Phú quốc cường binh” Do đó, việc thu lợi nhuận sẽ dựa trên

các nguyên tắc đạo đức và “vỡ nợ vì nguyên tắc đạo đức không phải là thất

bại, ngay dù đó là vỡ nợ Trở nên giàu có không có nguyên tắc đạo đức gì cả không phải là thành công, ngay dù là trở nên giàu có” [9; tr.52] Với quan

điểm này, lợi ích cá nhân thu được chỉ mang tính ngẫu nhiên mà đến chứkhông phải là sự vụ lợi ngay từ ban đầu

Việc kinh doanh dường như đã trở nên cởi mở hơn và được sự thừanhận của xã hội Tuy nhiên kinh doanh bởi tập thể gia đình dù sao cũng được

dễ dàng chấp nhận hơn hoạt động kinh doanh của cá nhân Có thể nói, tư

tưởng kinh doanh mới đã được sự thừa nhận của Khổng giáo, và “vào những

năm đầu thời Minh Trị, Khổng giáo đóng một vai trò giống như vai trò của đạo Tin lành ở phương Tây trong việc sản sinh ra ý thức kinh doanh” [64;

tr.112] Trên nền tảng tư tưởng cởi mở trong khuôn khổ đó, Zaibatsu ra đời,

nhanh chóng xác lập được vị trí thích đáng trong xã hội

- Tư tưởng “Chủ nghĩa gia đình” và ý thức đề cao tập thể

Yếu tố gia đình và tinh thần tập thể chính là cốt lõi của những giá trị xãhội truyền thống Nhật Bản Tư tưởng “Chủ nghĩa gia đình” ở Nhật Bản chính

là biểu trưng của tính cố kết, tính cộng đồng, cho thấy sự hòa nhập và không

Trang 31

tách biệt của con người trong xã hội Hệ tư tưởng này được áp dụng trong mọi

mặt của đời sống và cả trong kinh doanh, để từ đó “với sự nhất quán chưa

từng có trong bất kỳ xã hội nào… xây dựng các nhóm xã hội phi gia đình theo hình mẫu gia đình” [64; tr.141].

“Chủ nghĩa gia đình” Nhật Bản đề cao lợi ích gia tộc và cao hơn là lợi

ích tập thể, yêu cầu “lợi ích cá nhân phải đặt dưới mục đích và tiêu chuẩn của

tập thể… Tận tình và trung thành… được coi là đúng đắn và tốt đẹp và được tận hưởng vinh quang và thành tích mà tập thể đạt được” [62; tr.76] Với quan

niệm đó của xã hội, các tổ chức kinh doanh thời Minh Trị là sự tiếp nối và pháttriển cao hơn của “chủ nghĩa gia đình” Hệ tư tưởng này đã đem đến sự ra đời

của Zaibatsu với sự kết cấu và tổ chức lại theo hình mẫu chế độ gia đình truyền

thống, làm cho nó phù hợp với hệ tư tưởng gia đình truyền thống

Trong bối cảnh xã hội đương thời, khi mà những giá trị văn hóa truyềnthống vẫn được đề cao, song hành việc tiếp thu những hình thức văn hóa mớiđược du nhập, người Nhật Bản đã tìm cách để dung hòa giữa chúng Văn hóa

Nhật Bản đề cao ý thức tập thể, do đó, “về nguyên tắc (tatemae) người Nhật

chấp nhận các nhu cầu của nhóm càng nhiều càng tốt, trong khi đó, mặt khác,

họ che giấu và dồn nén các nhu cầu riêng của họ (honne) và chỉ được phép thể

hiện nó trong những tình huống hạn chế” [63; tr.183] Đặc điểm xã hội với sựphụ thuộc lẫn nhau, tin cậy lẫn nhau và làm cho các quan hệ cá nhân hợp đạo

lý đã khiến cho honne và tatemae bị tách rời Ý thức với nhóm cộng đồng hay

tập thể được đề cao, vượt quá những đề xuất hay ham muốn cá nhân Lợi íchcủa tập thể vì thế cũng được đặt lên hàng đầu Do đó, các hoạt động kinh doanhđược khởi xướng bởi một nhóm hay một gia đình và lớn hơn là một gia tộc dễ

dàng tìm được sự đồng tình trong xã hội Các Zaibatsu trên cơ sở ấy nhanh

chóng nhận được sự hưởng ứng và sự gia nhập của các thành viên trong xã hội

Ý thức xã hội vì tập thể bắt nguồn trong lòng xã hội phong kiến và vẫn

phát huy được giá trị của nó trong xã hội hiện đại “Quên mình vì tập thể là

đạo đức cơ bản trong xã hội phong kiến - tinh thần đồng đội của người Nhật

Trang 32

cần công nhân trong các tổ chức Minh Trị hiện đại Tính hiệu quả và siêng năng quay trở lại thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa” [62; tr.37-38] Với

nền tảng tư tưởng xã hội này, hoạt động kinh doanh của các gia tộc được xãhội thừa nhận và tạo điều kiện cho sự phát triển Đồng thời, từ gia đình hạtnhân ban đầu, theo quá trình phát triển sẽ mở rộng mạng lưới hoạt động kinhdoanh ra một phạm vi rộng hơn, nhưng quan hệ gia đình vẫn được giữ vững.Mối quan hệ giữa người sở hữu, người quản lý và người lao động chủ yếuđược duy trì trên cơ sở mối quan hệ gia đình Nhà máy gần như đồng nhất vớikhái niệm gia đình khi mà doanh nghiệp gia đình truyền thống bao gồmkhông những các thành viên của gia đình mà cả những người bán hàng Trongquá trình chuyển giao sang thời đại mới, quan hệ chủ - tớ giữa chủ sở hữu vàngười làm thuê đã chấm dứt, thay thế vào đó là quan hệ của người sáng lập vàngười ủng hộ công ty, cùng hợp tác làm việc tích cực và cùng chia sẻ kết quả.Người lao động trong các doanh nghiệp gia đình được mặc nhiên là thànhviên của gia đình, và trở thành cổ đông nắm giữ các cổ phần của công ty trongthời đại mới Sự đề cao tư tưởng “Chủ nghĩa gia đình” đã dẫn tới sự ra đời

của các Zaibatsu trên cơ sở các gia đình kinh doanh truyền thống

Bắt đầu từ những năm 1890, với sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản ởNhật Bản, những tư tưởng kinh doanh truyền thống bị các quan điểm Tư bảnchủ nghĩa phương Tây du nhập vào và lấn át Việc gia đình Mitsui tái sở hữucác cổ phần của Ngân hàng Mitsui đã được phân phối cho công nhân viênMitsui là một minh chứng cho xu hướng đương thời đó Tư tưởng coi côngnhân là bộ phận có thể không cần thiết đã được phổ biến, và từ đó, gây nênnhững tranh chấp mạnh mẽ [28; tr.164]

Sự đối lập giữa tư tưởng kinh doanh mới và cũ đã khiến cho các nhàkinh tế tiến hành so sánh tính hiệu quả của hai mô hình, và từ đó, như một lẽtất nhiên phù hợp với truyền thống văn hóa, “chủ nghĩa gia đình” đã thắngthế, tư tưởng kinh doanh truyền thống được phục hồi Kết quả là tư tưởng

“doanh nghiệp như một gia đình” (keiei kazoku shugi) đã quay trở lại và làm nên sự ra đời của các Zaibatsu mới vào những năm 1920

Trang 33

Tư tưởng “Chủ nghĩa gia đình” đã “cho thấy nhận thức truyền thống về

kinh doanh đã chi phối như thế nào bất chấp xu thế hướng về Chủ nghĩa tư bản” [63; tr.117] Rõ ràng, tư tưởng “Chủ nghĩa gia đình” tồn tại mang tính

xuyên suốt trong xã hội Nhật Bản đã là điều kiện cơ bản đảm bảo cho sự ra

đời của Zaibatsu trong thời kỳ cận đại của Nhật Bản

1.2.4 Sự hình thành của những tư tưởng kinh doanh mới

Lợi ích quốc gia và lợi ích cá nhân cùng song hành là một trong nhữngđặc điểm cơ bản của cuộc Duy tân Minh Trị Trong đó, lợi ích cá nhân kiếntạo nền tảng cho sự phát triển của lợi ích quốc gia và ngược lại, sự phát triểncủa quốc gia tạo điều kiện thuận lợi, ổn định cho cá nhân phát huy được hếtkhả năng của mình trong thời đại mới Các nhà lãnh đạo công cuộc Duy tânmong muốn đưa Nhật Bản phát triển bắt kịp với phương Tây, và các nước tưbản Âu - Mỹ chính là mẫu hình để học hỏi, hướng tới Hoạt động kinh tế trởthành một hoạt động nổi bật, thu hút sự tham gia của nhiều giai tầng xã hội,biến Nhật Bản thành một xã hội kinh doanh, tạo dựng nên được nhiều doanh

nghiệp - là một cơ sở quan trọng đem đến sự ra đời của các Zaibatsu

Những tư tưởng kinh doanh mới được đề xướng và nhanh chóng đi vàohoạt động thực tiễn Hệ tư tưởng kinh doanh đầu thời Minh Trị đã tạo nên mộthình ảnh mới về các nhà kinh doanh bằng cách nhấn mạnh sự khác biệt củacác thương nhân hiện thời với các nhà buôn phong kiến Các thương nhân nàykhông chỉ phục vụ lợi ích dân tộc mà còn đảm nhận các chức năng sản xuất

và mang lại lợi ích kinh tế xã hội, trái với các hoạt động buôn bán phi đạo đức

và không minh bạch vốn bị xã hội chối bỏ dưới thời Tokugawa Các cựu

Samurai với óc sáng kiến, trình độ nhận thức và khả năng kinh nghiệm đã

tham gia tích cực vào các ngành kinh tế Từ đó, một thuật ngữ mới ra đời để

chỉ các nhà kinh doanh trong thời đại mới: Jitsugyoka, nghĩa là “Người đảm

nhận một nhiệm vụ thực sự”

Đại biểu tiêu biểu cho tư tưởng dám kinh doanh đầu thời Minh Trị này

là Eiichi Shibusawa (1840-1931) và Fukuzawa Yukichi (1835-1905) Đây là

Trang 34

những cá nhân “có ảnh hưởng hơn ai hết trong việc hình thành và diễn đạt rõ

ràng tư tưởng kinh doanh mới của thời Minh Trị” [64; tr.105]

Eiichi Shibusawa quan niệm rằng giới kinh doanh không thể thiếu đượcđối với quá trình công nghiệp hóa và nhận thức rõ ràng sự cần thiết phải lôicuốn những người có khả năng và nhiều tham vọng vào các ngành côngnghiệp mới, nhằm xây dựng một khu vực kinh doanh tư nhân mạnh Ôngcũng tin tưởng rằng vai trò của các nhà kinh doanh đối với sự thịnh vượng củaquốc gia cũng quan trọng không kém vai trò của các quan chức và các nhàlãnh đạo chính trị, và do đó, ý thức được sứ mệnh tạo ra một khu vực tư nhân

có thể đứng vững, đem lại sự giúp đỡ quan trọng cho sự phát triển một tầnglớp các nhà kinh doanh hiện đại và tiến bộ Quan điểm này tạo điều kiện chokhu vực kinh doanh tư nhân đảm nhận bởi các doanh nghiệp gia đình có điềukiện hình thành và xác lập vị trí trong thời đại mới, để từ đó nhanh chóng phát

triển thành các Zaibatsu lớn về sau

Tư tưởng kinh doanh mới của E Shibusawa còn được thể hiện thôngqua việc dựa trên chủ nghĩa duy lý để tiến tới thiết lập các công ty cổ phần,vốn vẫn còn là một điều xa lạ đối với hoạt động kinh doanh của Nhật Bảnđương thời Sự ra đời của các công ty cổ phần sẽ làm giảm bớt những hạn chế

cố hữu trong các tổ chức kinh doanh truyền thống, đồng thời giúp cho việcquản lý trở nên dân chủ hơn và không rơi vào tình trạng độc quyền lợi nhuậncủa một vài cá nhân Chính sách mới này đã được áp dụng rộng khắp trong

thời kỳ Duy tân Minh Trị, lập nên các Zaibatsu lớn và các phân nhánh của nó,

chiếm lĩnh thị trường kinh tế Nhật Bản trong một thời gian dài

Fukuzawa Yukichi, nhà giáo dục vĩ đại Nhật Bản đã đóng góp vào sựphát triển của các tư tưởng kinh doanh mới và phổ biến chúng thông qua cáctrước tác và việc giảng dạy Yukichi đề cao tính chất thực tế của việc học tập

và cho rằng học vấn phải được giải thoát khỏi những khuôn mẫu nặng nề về

lý thuyết để áp dụng vào đời sống hàng ngày và đặc biệt là trong lĩnh vựckinh doanh Tư tưởng của Yukichi nhấn mạnh việc tách rời các hoạt độngkinh doanh ra khỏi sự chi phối của chính phủ một cách tương đối Tư tưởng

Trang 35

kinh doanh mới đi vào thực tiễn còn được thể hiện thông qua việc thành lậpcủa Keio Ginjuku (Khánh Ứng nghĩa thục) - trường Cao đẳng hiện đại nhấtNhật Bản, nơi đào tạo nên nguồn nhân lực quan trọng với tính thực tiễn caocho sự phát triển kinh tế đất nước Trên thực tế, sinh viên của trường học này

về sau đã nắm giữ những vị trí then chốt trong các Zaibatsu

J.Hirschmeier trong bài nghiên cứu nổi tiếng của mình về giới kinhdoanh thời Minh Trị đưa ra một so sánh thú vị giữa Thanh giáo của Mỹ và tưtưởng kinh doanh thời Minh Trị Ông khẳng định: “cái trước được bắt nguồn

từ lòng tin vào Thượng đế, cái sau bắt nguồn từ lòng trung thành với quốc gia.Thanh giáo mang tính chất cá nhân, nguyên lý đạo đức của nó tập trung vàoThượng đế và cá nhân Đạo đức kinh doanh ở Nhật tập trung vào xã hội và cánhân, hay Nhà nước và cá nhân, nói một cách khác, nó tìm cách làm chonhững quyền lợi cá nhân lệ thuộc vào lợi ích chung” [64; tr.112]

Tư tưởng kinh doanh mới “là sự kết hợp kỳ lạ và có hiệu quả to lớn

giữa chủ nghĩa dân tộc và đạo đức Khổng giáo với sự mê say chủ nghĩa tự

do, chủ nghĩa duy lý và kỹ thuật phương Tây Nó dựa chủ yếu vào tư tưởng truyền thống Samurai, nhấn mạnh đến đạo đức và trách nhiệm” [64; tr.112].

Với sự kết hợp hài hòa đó, những tư tưởng kinh doanh mới đầu thời Minh Trị

đã tạo những điều kiện cơ sở dư luận, phương pháp kinh doanh, cách thứcquản lý và đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ, có tinh thần làm việc với ý

thức kỷ luật cao cho các Zaibatsu được hình thành.

1.3 Hoạt động của các Zaibatsu Nhật Bản

Sự phát triển của các Zaibatsu Nhật Bản có thể chia làm hai giai đoạn, thể hiện rõ nét qua việc hình thành của hai dạng Zaibatsu: bốn Zaibatsu lớn thời kỳ

đầu, ra đời trong kỷ nguyên Minh Trị Duy tân, có mối liên hệ chặt chẽ với chính

phủ, từ đó khuynh đảo nền kinh tế; và các Zaibatsu nhỏ hơn (được gọi là shinko

Zaibatsu), ra đời trong khoảng thời gian sau Chiến tranh Thế giới I (1914-1918),

gắn liền với các hoạt động quân sự của Đại Đế quốc Nhật Bản Sự phát triển của

các Zaibatsu là một nét nổi bật trong lịch sử Nhật Bản thời kỳ cận - hiện đại

Trang 36

- Khái quát quá trình hoạt động của bốn Zaibatsu lớn

Zaibatsu Nhật Bản hiểu trong một nội hàm hẹp được xem như là các

doanh nghiệp gia đình Được tạo dựng trên các cơ sở vững chắc về kinh tế, chính

trị, xã hội, truyền thống văn hóa lịch sử,… Zaibatsu nhanh chóng xác lập vị trí

quan trọng trong nền kinh tế Nhật Bản Trong đó lớn nhất là bốn công ty lớn:

Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo, và Yasuda Các công ty này đã nắm giữ “25%

tài sản của các tập đoàn Nhật Bản, và hai trong số chúng nắm giữ ba phần tư nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong suốt thời kỳ đỉnh cao của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản” [73; tr.5] Kết thúc Chiến tranh Thế giới II, hoạt động sản xuất những

sản phẩm chủ chốt của bốn Zaibatsu lớn chiếm một tỷ trọng khổng lồ: 51% số

than, 69% số nhôm, 69% đầu máy xe lửa, 50% bột giấy, 88% natri hidroxit, 43%axit sunfuric, 60% tổng thị trường vận tải hàng hải [65; tr.37-38]

Trong số bốn Zaibatsu lớn thời kỳ đầu, Mitsui và Sumitomo là những

gia tộc có truyền thống kinh doanh lâu đời với những hoạt động thương mạibắt đầu từ thời Tokugawa, còn Mitsubishi và Yasuda hình thành và phát triểntrong những thuận lợi mà cuộc cải cách Minh Trị mang lại

Mitsui là một công ty thương mại lớn được hình thành vào đầu thậpniên 1670 Người sáng lập công ty Mitsui mở những cửa hiệu bán tơ lụa gầnNagoya, Kyoto và Edo Một thập niên sau đó, Mitsui bắt đầu cho vay và nhận

gửi tiền, nên trở thành ryogae hay ngân hàng cho các thương gia Mitsui chi

phối hoạt động kinh doanh của nước Nhật thông qua ba công ty: Ngân hàngMitsui (Mitsui Ginko), Công ty thương mại Mitsui (Mitsui Bussan) và Công

ty Khai khoáng Mitsui (Mitsui Kozan) Sumitomo cũng giống như Mitsui, lậpnghiệp từ thời Edo từ lĩnh vực khai thác và sản xuất đồng ở mỏ Besshi thuộctỉnh Ehime từ thế kỷ XVI Hoạt động của Sumitomo sau đó đã được mở rộngsang lĩnh vực chế biến đồng, bạc và các kim loại màu khác, rồi chuyển sangthành lập các ngân hàng và đảm trách hoạt động kinh doanh thương mại

Mitsubishi và Yasuda là hai Zaibatsu ra đời muộn hơn, và không phải

là các gia tộc có truyền thống kinh doanh từ lâu đời Người sáng lập ra

Mitsubishi là Iwasaki Yataro, xuất thân trong một gia đình Samurai cấp thấp,

Trang 37

nhờ những tiếp cận nhanh chóng với sự thay đổi của thời thế đã mở đầu hoạtđộng kinh doanh trong lĩnh vực vận chuyển hàng hải, và sau đó chuyển sangcác hoạt động khai khoáng, ngân hàng, tín dụng,… Yasuda khởi đầu từ tỉnhToyama, rồi sau đó hướng đến Edo bằng các hoạt động trao đổi tiền tệ, vàcuối cùng lập nghiệp bằng cách cho vay.

Vào cuối những năm 30 của thế kỷ XX, việc kiểm soát tài chính của

các Zaibatsu diễn ra với phạm vi rộng và có nhiều mức độ Điều này có thể chứng minh bởi các ngân hàng Zaibatsu, cái mà hoạt động như trung tâm thần

kinh chi phối hoạt động của các công ty cổ phần của họ Năm 1944, khoản

tiền cho vay của bốn ngân hàng Zaibatsu đã lên tới 74,9% số khoản vay so

với tất cả các ngân hàng khác của Nhật Bản:

Bảng 1.1 Các khoản cho vay của bốn ngân hàng Zaibatsu năm 1944

vay (triệu yen)

[Nguồn: Yamamura Kozo (1967), Economic Policy in Postwar Japan:

Growth verus Economic Democracy, Universities of California Press,

Los Angeles, p 112]

Gia đình Mitsui chiếm 67,6% số tiền cho vay của ngân hàng Mitsui; giađình Iwasaki chiếm tới 43% của ngân hàng Mitsubishi, gia đình Sumitomochiếm 34,5% của ngân hàng Sumitomo và gia đình Yasuda chiếm tới 30,9%của ngân hàng Yasuda [70; tr.112] Những tỷ lệ phần trăm này biểu thị mức

độ của Zaibatsu kiểm soát mỗi ngân hàng.

Trang 38

Với sự hỗ trợ có phạm vi rộng của quyền lực tài chính này, mỗi

Zaibatsu kiểm soát được nhiều doanh nghiệp hơn Ví dụ Mitsui trong thời

gian liền trước khi giải thểkiểm soát 46 công ty con và 143 công ty sáp nhập

Mô hình tương tự của sự kiểm soát có thể dễ dàng nhận thấy ở trường hợp

những Zaibatsu khác Mitsubishi kiểm soát 28 công ty con và 153 công ty sáp

nhập; Sumitomo kiểm soát 19 công ty con và 186 công ty sáp nhập; Yasudakiểm soát 19 công ty con và 18 công ty sáp nhập(5) Những kim tự tháp của

các gia đình Zaibatsu, ngân hàng và các công ty sáp nhập thâm nhập vào tất

cả các lĩnh vực của nền kinh tế [70; tr.113]

Bốn Zaibatsu lớn của thời kỳ đầu được sắp xếp theo thứ tự Mitsui,

Mitsubishi, Sumitomo và Yasuda đã cho thấy tầm cỡ của các công ty này

Một điểm chung của các Zaibatsu thời kỳ đầu là đều tiến hành các hoạt động

kinh doanh tương tự nhau: từ một ngành nghề ban đầu đã mở rộng ra các lĩnhvực khác có liên quan theo nguyên tắc liên kết theo chiều dọc đã chỉ ra ở trên

Một nhà nghiên cứu đã cho rằng: “sự đa dạng hóa của các doanh nghiệp với

những lĩnh vực không liên quan là điểm đặc trưng của các công ty của chúng.

Đó là nếu chúng ta phân định đa dạng hóa làm hai loại: đa dạng hóa theo chiều dọc như khai mỏ sắt - chế tạo sắt - chế tạo thép; và đa dạng hóa theo chiều ngang như ngân hàng - hàng hóa - khai mỏ” [81; tr.87]

Việc đa dạng hóa theo nhiều cách thức khác nhau đã làm cho hoạt độngkinh doanh rộng mở và được hỗ trợ lẫn nhau bởi các lĩnh vực có liên quan Từ

đó tạo nên mạng lưới hoạt động kinh doanh mang tính liên kết cao độ và có

sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, đem lại lợi nhuận cao nhờ hoạt

động kinh doanh ở thị trường nội địa và nước ngoài “Một điều dường như là

chân lý trong các Zaibatsu đã được thành lập từ lâu đời như Mitsui, Mitsubishi và Sumitomo, sự đa dạng hóa của doanh nghiệp diễn ra trên những lĩnh vực không liên quan đến nhau, nhưng nếu chúng ta xem xét một

5 Xem Phụ lục, Bảng 3.3 để thấy được mức độ kiểm soát nền kinh tế Nhật Bản của các gia đình này.

Trang 39

cách kĩ càng, trong nhiều trường hợp, các Zaibatsu này có mối quan hệ chặt chẽ hơn với các thành viên khác hoặc một lĩnh vực mà họ có thể tham gia với

sự tin cậy từ những kinh nghiệm xuyên suốt trong quá khứ” [81; tr.87]

Một ví dụ, gia tộc Mitsui trong năm 1876 đã liên kết hoạt động nộithương và ngoại thương của họ với nhau, tổ chức lại thành nghiệp đoànMitsui Bussan Năm 1888, được sự thừa nhận của Hiệp hội khai thác than đácủa chính phủ, Mitsui Bussan đã thành lập nên Công ty khai khoáng Mitsui

Sự đa dạng hóa này có thể giải thích bởi một nguyên nhân là Mitsui Busan đãnhận thấy nguồn lợi nhuận khổng lồ từ việc kinh doanh than đá trong nhiềunăm qua và muốn được mở rộng hoạt động của mình sang lĩnh vực khai thácthan đá Tương tự, ngân hàng Mitsui được thành lập vào năm 1876, được tiến

hành cải tổ, gọi là Goyosho, là công ty“quản lý nguồn tài chính của chính

phủ từ năm 1876” [81; tr.87].

Khởi nghiệp từ ngành dịch vụ tàu thủy, Mitsubishi tiến tới mở rộnghoạt động kinh doanh bằng cách quản lý hai mỏ than đá, vốn là tài sản thếchấp của một khoản cho vay Nguồn than từ các mỏ này được sử dụng làmnhiên liệu cho các đoàn thương thuyền của doanh nghiệp Năm 1875,Mitsubishi thành lập Công ty đóng tàu Yokohama (Yokohama Irons Works)chủ yếu là để thu nhận kinh nghiệm trong nghề đóng tàu Năm 1876, vớinhững kinh nghiệm và lợi nhuận thu được trong hoạt động mậu dịch hàng hải,cùng với việc có được các tài liệu về hối phiếu từ sự phát triển của ngân hàng,Mitsubishi đã tiến hành mở sở hối đoái Năm 1881, Mitsubishi mua mỏ than

đá Takashima từ Shojiro Goto, một trong những người có ảnh hưởng lớn nhấtđến nền chính trị Nhật Bản thời kỳ này Sau đó năm 1887, sau khi kết thúchợp đồng cho thuê cảng Nagasaki trong vòng 3 năm, Mitsubishi đã mua hảicảng này từ chính phủ Từ sau đó, Mitsubishi tập trung phát triển khai khoáng

và nghề đóng tàu, và tiếp tục bắt đầu kinh doanh bất động sản

Trang 40

Như đã mô tả, Mitsubishi đa dạng hóa kinh doanh trên các lĩnh vực cóquan hệ với ngành khai khoáng và đóng tàu, là những ngành chính của công

ty Năm 1873, Mitsubishi mua mỏ đồng Yoshioka (Yoshioka Copper Mine),nhưng điều này được coi như là một ngoại lệ trong quá trình mở rộng pháttriển của gia tộc này

Đối với Sumitomo, từ khi gia tộc gặp phải tình huống bất lợi trong thời

kỳ Duy tân Minh Trị, ngoại trừ việc khai thác đồng, đa dạng hóa của doanhnghiệp chỉ diễn ra trong phạm vi của Sumitomo Sự mở rộng hoạt động kinh

doanh chủ yếu trong lĩnh vực xuất khẩu đồng Mặc dù vậy, Zaibatsu Sumitomo

đã cố gắng phát triển xuất khẩu thương mại nhưng không thành công, và tình

trạng này tiếp diễn cho đến năm 1895 mới kết thúc khi Zaibatsu Sumitomo

thành lập được ngân hàng sở hữu của họ Quá trình đa dạng hóa theo chiều dọcnày diễn ra hết sức khó khăn mặc dù họ đã có những hoạt động trao đổi thươngmại ngay từ kỷ nguyên Edo Ở Sumitomo, sự đa dạng hóa xảy ra chủ yếu theophương ngang với hoạt động của Công ty khai thác đồng Besshi, tiến hành mởrộng ra sản xuất metal, hóa chất đặc và công nghiệp điện

Việc mở rộng hoạt động kinh doanh một cách thận trọng đã đem đến

những kết quả hết sức lớn lao Kết thúc năm 1945, bốn Zaibatsu lớn đã kiểm

soát hầu hết các ngành kinh tế quan trọng của Nhật Bản(6) Sự tích lũy cao độ

nguồn vốn tư bản của bốn Zaibatsu lớn trong suốt thời gian Chiến tranh Thế

giới II (1939-1945), dẫn đến kết quả là kết thúc năm tài chính 1945, bốn

Zaibatsu này chiếm đến 24,1% tổng sản phẩm quốc dân Sự tập trung một

khối lượng lớn tư bản của các Zaibatsu nhờ vào hoạt động đầu cơ và buôn bán vũ khí, phục vụ chiến tranh đã khiến cho bốn Zaibatsu lớn này trở thành

đối tượng đầu tiên và chủ yếu trong công cuộc “dân chủ hóa nền kinh tế”Nhật Bản của lực lượng Đồng minh khi Chiến tranh Thế giới II kết thúc

- Đặc điểm của bốn Zaibatsu lớn thời kỳ đầu

6 Xem thêm Phụ lục, Bảng 3.2 để thấy được mức độ các Zaibatsu lớn kiểm soát nền kinh tế.

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. James C.Abegglen (1988), Kaisha: Công ty Nhật Bản, Tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kaisha: Công ty Nhật Bản
Tác giả: James C.Abegglen
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1988
[2]. James C.Abegglen (1988), Kaisha: Công ty Nhật Bản, Tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kaisha: Công ty Nhật Bản
Tác giả: James C.Abegglen
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1988
[3]. James C.Abegglen (1988), Kaisha: Công ty Nhật Bản, Tập 3, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kaisha: Công ty Nhật Bản
Tác giả: James C.Abegglen
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1988
[4]. C. G.Allen (1988), Chính sách kinh tế Nhật Bản, Tập 1, Viện Kinh tế Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế Nhật Bản
Tác giả: C. G.Allen
Năm: 1988
[5]. C. G.Allen (1988), Chính sách kinh tế Nhật Bản, Tập 2, Viện Kinh tế Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế Nhật Bản
Tác giả: C. G.Allen
Năm: 1988
[6]. Michel Beaud (2002), Lịch sử Chủ nghĩa tư bản từ 1500 đến 2000, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Chủ nghĩa tư bản từ 1500 đến 2000
Tác giả: Michel Beaud
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2002
[7]. Fernand Braudel (1998), Những cấu trúc sinh hoạt thường ngày, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cấu trúc sinh hoạt thường ngày
Tác giả: Fernand Braudel
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1998
[8]. Nguyễn Anh Chương – Dương Ngọc Huyền (2012), Về cơ sở dẫn tới sự hình thành các tổ chức độc quyền ở Nhật Bản, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 8 (138) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cơ sở dẫn tới sự hình thành các tổ chức độc quyền ở Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Anh Chương – Dương Ngọc Huyền
Năm: 2012
[9]. Rodney Clark (1989), Công ty Nhật Bản: Lịch sử và hoạt động thực tiễn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty Nhật Bản: Lịch sử và hoạt động thực tiễn
Tác giả: Rodney Clark
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1989
[10]. Đỗ Lộc Diệp (2003), Mỹ - Âu - Nhật văn hóa và phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ - Âu - Nhật văn hóa và phát triển
Tác giả: Đỗ Lộc Diệp
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
[11]. Trịnh Nam Giang (2006), Chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ năm 1868 đến năm 1945, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ năm 1868 đến năm 1945
Tác giả: Trịnh Nam Giang
Năm: 2006
[12]. Phạm Gia Hải - Phạm Hữu Lư (1992), Lịch sử thế giới cận đại (1871 - 1918), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại (1871 - 1918)
Tác giả: Phạm Gia Hải - Phạm Hữu Lư
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
[13]. Hasebe Heikichi (1997), Văn hóa Nhật Bản: Đặc điểm chung và sự tiếp cận ở góc độ cá nhân, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Nhật Bản: Đặc điểm chung và sự tiếp cận ở góc độ cá nhân
Tác giả: Hasebe Heikichi
Năm: 1997
[14]. Hoàng Thị Minh Hoa (1999), Cải cách ở Nhật Bản trong những năm 1945 - 1951, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách ở Nhật Bản trong những năm 1945 - 1951
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hoa
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
[15]. Hồ Hoàng Hoa - Ngô Hương Lan (2003), Nghề thủ công truyền thống Nhật Bản, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 3 (45) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ công truyền thống Nhật Bản
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa - Ngô Hương Lan
Năm: 2003
[16]. Nguyễn Văn Hoàn (2004), Phát triển kinh tế hàng hóa ở Nhật Bản thời Edo và vai trò của gia tộc Sumitomo, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 2 (50) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế hàng hóa ở Nhật Bản thời Edo và vai trò của gia tộc Sumitomo
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn
Năm: 2004
[17]. Nigel Holloway – Phillip Bowring (1992), Chân dung nước Nhật ở châu Á, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung nước Nhật ở châu Á
Tác giả: Nigel Holloway – Phillip Bowring
Nhà XB: Nxb Thông tin lý luận
Năm: 1992
[18]. Nguyễn Văn Hồng (1994), Lịch sử giáo dục thời Minh Trị Duy tân, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục thời Minh Trị Duy tân
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
[19]. Nguyễn Văn Hồng (2004), Phong trào Duy tân ở châu Á khát vọng chuyển mình, hội lưu thời đại, trong “Đông Á, Đông Nam Á - Những vấn đề lịch sử và hiện tại”, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Duy tân ở châu Á khát vọng chuyển mình, hội lưu thời đại", trong "“Đông Á, Đông Nam Á - Những vấn đề lịch sử và hiện tại”
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
[20]. Nguyễn Quốc Hùng (Cb) (2007), Lịch sử Nhật Bản, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng (Cb)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Tỷ lệ % tổng số vốn đã chuyển nộp do các công ty Zaibatsu lớn  nắm giữ vào cuối Chiến tranh Thế giới II - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Bảng 1.2. Tỷ lệ % tổng số vốn đã chuyển nộp do các công ty Zaibatsu lớn nắm giữ vào cuối Chiến tranh Thế giới II (Trang 43)
Bảng 1.3. Các Zaibatsu Nhật Bản và việc giải tán chúng - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Bảng 1.3. Các Zaibatsu Nhật Bản và việc giải tán chúng (Trang 50)
Bảng 2.1: Chỉ số sản xuất công nghiệp từ năm 1880 đến 1925 - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Bảng 2.1 Chỉ số sản xuất công nghiệp từ năm 1880 đến 1925 (Trang 55)
Bảng 2.2: Các ngành công nghiệp động lực thế hệ thứ hai ở  năm nước tư bản chủ yếu - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Bảng 2.2 Các ngành công nghiệp động lực thế hệ thứ hai ở năm nước tư bản chủ yếu (Trang 57)
Bảng 2.5. Tỷ lệ % giá trị sản lượng do những công ty lớn nhất kiểm soát Ngành công - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Bảng 2.5. Tỷ lệ % giá trị sản lượng do những công ty lớn nhất kiểm soát Ngành công (Trang 62)
Bảng 2.6: So sánh diện tích, dân số thuộc địa của các cường quốc lớn 1876-1914 - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Bảng 2.6 So sánh diện tích, dân số thuộc địa của các cường quốc lớn 1876-1914 (Trang 81)
Bảng 2.7: Mục tiêu mở rộng công suất theo kế hoạch 5 năm cho phát  triển các ngành công nghiệp then chốt - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Bảng 2.7 Mục tiêu mở rộng công suất theo kế hoạch 5 năm cho phát triển các ngành công nghiệp then chốt (Trang 86)
Bảng 2.8: Những xu hướng trong sản xuất hàng quân sự - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Bảng 2.8 Những xu hướng trong sản xuất hàng quân sự (Trang 87)
Sơ đồ 2.1. Tập đoàn tài phiệt Mitsui đầu những năm 1930 - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Sơ đồ 2.1. Tập đoàn tài phiệt Mitsui đầu những năm 1930 (Trang 126)
Sơ đồ 2.3. Những thay đổi về tổ chức tập đoàn tài phiệt Mitsubishi  vào cuối những năm 1910 - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Sơ đồ 2.3. Những thay đổi về tổ chức tập đoàn tài phiệt Mitsubishi vào cuối những năm 1910 (Trang 129)
Bảng 3.1. Các văn phòng ở nước ngoài của Mitsui Bussan  (tính đến tháng 9/1939) - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Bảng 3.1. Các văn phòng ở nước ngoài của Mitsui Bussan (tính đến tháng 9/1939) (Trang 133)
Bảng 3.3. Kiểm soát tài chính của Zaibatsu trong các lĩnh vực khác nhau - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Bảng 3.3. Kiểm soát tài chính của Zaibatsu trong các lĩnh vực khác nhau (Trang 134)
Sơ đồ 3.5. Sự phát triển của cấu trúc của Zaibatsu Mitsubishi thời kỳ  1916-1926 - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Sơ đồ 3.5. Sự phát triển của cấu trúc của Zaibatsu Mitsubishi thời kỳ 1916-1926 (Trang 136)
Hình 4.1. Bản đồ Nhật Bản thể hiện chi tiết các đơn vị hành chính - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Hình 4.1. Bản đồ Nhật Bản thể hiện chi tiết các đơn vị hành chính (Trang 139)
Hình 4.2. Huy hiệu Zaibatsu Mitsui - Vai trò của các tổ chức độc quyền (zaibatsu) đối với lịch sử nhật bản từ cuối thế ký XIX đến nửa đầu thế ký XX
Hình 4.2. Huy hiệu Zaibatsu Mitsui (Trang 140)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w