LỜI CẢM ƠNTrong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành công tác xã hội với đề tài: “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ định hướng nghề nghiệp cho
Trang 1Trờng đại học vinh
khoa lịch sử
=== ===
dơng thị thủy
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc
Hỗ trợ định hớng nghề nghiệp cho trẻ mồ côi là học sinh
cấp III tại huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh
chuyên ngành công tác xã hội
Vinh - 2011
Trang 2Trờng đại học vinh
khoa lịch sử
=== ===
dơng thị thủy
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc
Hỗ trợ định hớng nghề nghiệp cho trẻ mồ côi là học sinh
cấp III tại huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh
chuyên ngành công tác xã hội
Lớp 48B3 - CTXH (2007 - 2011)
Giảng viên hớng dẫn: phan thị thúy hà
Vinh - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành công tác xã
hội với đề tài: “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ định hướng nghề nghiệp cho trẻ mồ côi là học sinh cấp III tại huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình của gia đình, thầy cô, bạn
bè.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin cảm ơn chân thành tới nhà trường cùng các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Công tác xã hội - Trường Đại Học Vinh đã trang bị tri thức khoa học xã hội cho tôi trong suốt 4 năm qua Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên Phan Thị Thúy Hà, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo, truyền thụ kiến thức cho tôi làm hành trang trong suốt quá trình hoàn thành bài khóa luận này.
Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các cô, chú và các cán bộ, nhân viên làm việc tại UBND huyện Nghi Xuân đặc biệt là bà ngoại đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tìm hiểu thông tin, đóng góp
ý kiến, giúp tôi thực hiện thành công phần can thiệp trong luận văn Những ý kiến đóng góp chân thành và sự quan tâm giúp đỡ của cán bộ nhân viên tại UBND huyện Nghi Xuân cùng tất cả các cán bộ nhân viên, các cô, chú tại xóm 4 đã giúp tôi hình thành và phát triển kinh nghiệm nghề nghiệp một cách vững chắc Tôi hiểu rằng chỉ khi thâm nhập vào thực tiễn người học mới có thể kiểm nghiệm được chính xác điều gì nên và không nên làm và theo đuổi nó trong quá trình làm việc sau này Qua quá trình làm khóa luận này cũng là khoảng thời gian quý giá để tôi kết nối lý thuyết vào các hoạt động cụ thể.
Vì thời gian và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên bài luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, các bạn và những người quan tâm tới đề tài này.
Vinh, tháng 5 năm 2011.
Sinh viên
Trang 4Dương Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 4
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
NỘI DUNG 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 9
1.1.1 Những quan điểm, chính sách và các quy định của Đảng, Nhà nước ta trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 9
1.1.2 Những đề tài, dự án trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 13
1.2 Các lý thuyết liên quan 15
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của nhà tâm lý học Maslow 15
1.2.2 Lý thuyết hệ thống 17
1.2.3 Lý thuyết Trao đổi và lựa chọn hợp lý 17
1.3 Các khái niệm công cụ 18
1.3.1 Khái niệm trẻ em 18
1.3.2 Khái niệm trẻ mồ côi 19
1.3.3 Khái niệm vai trò 19
1.3.4 Nhân viên công tác xã hội 20
1.3.5 Khái niệm nghề nghiệp 20
2.3.6 Năng lực nghề nghiệp 20
Trang 62.3.7 Khái niệm định hướng nghề nghiệp 21
2.3.8 Khái niệm tư vấn chọn nghề 22
2.3.9 Khái niệm tuyển chọn nghề 22
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 24
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 24
2.1.1 Vị trí địa lý 24
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 24
2.1.3 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội 26
2.2 Thực trạng trẻ mồ côi 30
2.3 Các chương trình, chính sách và công tác tổ chức chỉ đạo chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 33
2.3.1 Hình thức trợ giúp xã hội thông qua hộ trợ học nghề và tạo việc làm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 33
2.3.2 Thực hiện trợ cấp xã hội đối với trẻ mồ côi 34
2.3.3 Hình thức trợ cấp xã hội thông qua các chương trình Y Tế và chăm sóc sức khoẻ 37
2.3.4 Công tác tổ chức chỉ đạo chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 37
2.4 Đánh giá kết quả thực hiện chương trình hành động vì trẻ mồ côi huyện Nghi Xuân giai đoạn 2001 - 2010 40
2.4.1 Về giáo dục- Đào tạo 40
2.4.2 Chăm lo đời sống cho trẻ mồ côi 41
2.4.3 Chăm lo đời sống văn hoá tinh thần, vui chơi giải trí 42
2.4.4 Tồn tại, nguyên nhân của việc thực hiện chương trình hành động vì trẻ mồ côi giai đoạn 2001 - 2010 42
2.5 Giải pháp trong việc thực hiện chương trình hành động vì trẻ mồ côi 44
Trang 7Chương 3 VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG TIẾN TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ
NGHIỆP CHO TRẺ MỒ CÔI 47
3.1 Một số yếu tố tác động đến sự lựa chọn nghề nghiệp của trẻ mồ côi .47
3.1.1 Tác động của gia đình 47
3.1.2 Tác động từ xã hội 49
3.1.3 Tác động từ phía nhà trường 53
3.2 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong tiến trình định hướng nghề nghiệp cho trẻ mồ côi 55
3.2.1 Vai trò là nhà giáo dục 57
3.2.2 Vai trò là nhà tư vấn 58
3.2.3 Vai trò là cầu nối 59
Chương 4 TRƯỜNG HỢP ĐIỂN CỨU 61
4.1 Tóm tắt trường hợp 61
4.2 Tiến trình định hướng nghề nghiệp cho trẻ mồ côi đang là học sinh cấp III 65
4.2.1 Tìm hiểu và nhận diện vấn đề 65
4.2.2 Lập kế hoạch can thiệp 70
4.2.3 Triển khai kế hoạch can thiệp 75
4.2.4 Kết thúc công việc và lượng giá 89
4.3 Bài học kinh nghiệm 90
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
BHXH Bảo hiểm xã hội
BVCSTE Bảo vệ chăm sóc trẻ em
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hẳn trong mỗi chúng ta đều nhận thấy một điều rằng việc bảo vệ vàchăm sóc trẻ em bao giờ cũng là một nội dung hoạt động cơ bản trong chiếnlược phát triển của mỗi Quốc gia Không một Quốc gia văn minh và tiến bộnào lại không chăm lo cho thế hệ trẻ bởi lẽ “Trẻ em hôm nay thế giới ngàymai” và cần có sự quan tâm giúp đỡ của cả cộng đồng, xã hội đó chính là các
em nhỏ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
“Để có một tương lai tốt đẹp và đạt được ước mơ đó là lúc chúng taphải có kế hoạch và thực hiện ngay từ ngày hôm nay”, chính vì vậy mà giáodục và hướng nghiệp là nội dung hết sức cần thiết và quan trọng hơn bao giờihết, đặc biệt đối với các em học sinh cấp III nói chung và trẻ mồ côi nói riêng.Chọn nghề là bước đầu để khởi nghiệp, đặt nền móng cho tương lai, với lứatuổi đứng trước ngưỡng cửa cuộc sống, điều này rất quan trọng
Nhiệm vụ xã hội cơ bản của Giáo dục song song với hướng nghiệp là:Tìm một nghề phù hợp nhất với với những khả năng của cá nhân và thỏa mãn
nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở
cấp quốc gia Hướng nghiệp cho học sinh bậc Trung học Phổ thông là bướckhở đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn nhân lực
Có đến 37% sinh viên tốt nghiệp ra trường không tìm được việc làm vìngành nghề các sinh viên tốt nghiệp thừa quá nhiều
Sau Hội nghị tuyển sinh toàn quốc do Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa tổchức là thời điểm các em học sinh lớp 12 bắt đầu làm hồ sơ dự thi cao đẳng,đại học năm 2011 Chọn ngành gì, nghề gì trong tương lai đã và vẫn là nhữngcâu hỏi khó với các em trước ngưỡng cửa cuộc đời Chính vì vậy, việc tư vấnđịnh hướng giúp học sinh chọn được đúng ngành nghề phù hợp với khả năng
và phù hợp với nhu cầu xã hội là vấn đề nhà trường, gia đình và xã hội cần
Trang 11Có một nghịch lý là điều đa số học sinh quan tâm khi làm hồ sơ dự thivào các trường đại học cao đẳng không xuất phát từ năng lực, sở thích củamình mà lại là tỷ lệ chọi và điểm chuẩn của các trường dự thi Bởi mục tiêuduy nhất của nhiều em là phải vào được một trường đại học Một số khácchọn ngành nghề dự thi theo mong muốn của cha, mẹ hoặc làm theo bạn bè.
Sự lựa chọn ngành nghề của các em cũng bị ảnh hưởng về giá trị nghề Nhiều
em thích chọn những ngành nghề nghe tên rất kêu hoặc đang nóng, dễ kiếm ranhiều tiền hơn là phải chọn ngành nghề xã hội đang cần…
Tất cả những điều đó dẫn đến hệ lụy là có đến 37% sinh viên tốt nghiệp
ra trường không tìm được việc làm và cũng có tới 57% sinh viên ra trườngphải học thêm nghề khác do phát hiện mình không phù hợp với chuyên môn
đã học Đó là chưa kể, tại một số trường đại học, số lượng sinh viên khônghứng thú học ngành nghề đã chọn lên tới 50%
Trong khi đó, nhiều ngành nghề xã hội rất “khát” nguồn nhân lựcnhưng cung lại không đủ cầu Những con số nêu không chỉ thể hiện sự lãngphí chất xám và tiền bạc rất lớn, mà còn cho thấy sự thiếu quan tâm của các
cơ quan chức năng trước nhu cầu được tư vấn, định hướng nghề nghiệp trongtương lai của các bạn trẻ
Để giúp các em chọn được ngành nghề phù hợp với năng lực, sở thích
và nhu cầu xã hội trước hết phải làm tốt công tác cung cấp thông tin cho các
em Nếu chỉ có cuốn “Những điều cần biết về công tác tuyển sinh” với nhữngthông tin sơ lược về các trường đại học, về các ngành sẽ tuyển thì chưa đủ,các em cần được các cơ sở đào tạo giới thiệu chi tiết về từng khoa, từngnghành và mô tả công việc sẽ làm trong tương lai, thậm chí có thể nói rõ hơn
về những ưu điểm, hạn chế của ngành học Vì vậy công tác hướng nghiệp chocác em là vô cùng quan trọng
Thực tế cho thấy, việc tư vấn nghề nghiệp nên bắt đầu từ khi trẻ ý thứcđược các ngành nghề trong xã hội Theo các chuyên gia thì nên bắt đầu từ
Trang 12những năm đang học cấp trung học phổ thông, có như vậy các em sẽ địnhhình được mục tiêu và đề ra kế hoạch học tập lâu dài.
Việc chọn nghề của học sinh phổ thông không bao giờ là chuyện riêngcủa các em học sinh Bởi nó tác động đến chất lượng và sự ổn định của nguồnnhân lực và nói rộng ra là tác động đến nền kinh tế xã hội của đất nước Chính
vì vậy, ngành Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan chức năng, gia đình và xã hộiphải có trách nhiệm để các em lựa chọn được chính xác ngành nghề phù hợpvới khả năng, nguyện vọng và nhu cầu của xã hội Ý thức được sự cần thiếtcủa công tác hướng nghiệp, với vai trò là một nhân viên Công tác xã hội, xuất
phát từ thực tế khách quan em chọn chuyên đề: “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ định hướng nghề nghiệp cho trẻ mồ côi là học sinh cấp III tại huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh” Qua đề tài này tôi hi
vọng đây có thể là một mô hình được nhân rộng để hỗ trợ cho em về mặt tâm
lý thêm vững vàng và xác định hướng đi thích hợp nhất trong việc lựa chọnnghề nghiệp của em sau này Cũng qua nghiên cứu này là cơ hội quý báu đểnhân viên công tác xã hội nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm chínhnhững hoạt động hỗ trợ, bên cạnh đó để đóng góp, bổ sung về lý thuyết chophương pháp công tác xã hội cá nhân
Qua đề tài này bản thân tôi muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc giúp
em chuẩn bị cho tương lai, đảm bảo cho em nhận được sự giáo dục và những
kỹ năng mà em cần có để trở thành những thành viên thành đạt và đóng gópcho xã hội”
Công tác hướng nghiệp một cách đúng đắn và đạt hiệu quả cho trẻ mồcôi lại càng quan trọng và cần thiết hơn hết Thực tế khảo sát cho thấy tronglàng các em đều rất có tiềm năng, ý chí vươn lên và nghị lực với ước mơ hoàibão cho tương lai tốt đẹp hơn Chính vì vậy việc quan tâm hỗ trợ các em trongviệc định hướng nghề nghiệp là một nhu cầu bức thiết
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở khoa học, giải đáp những băn khoăn, vướng mắc củacác em học sinh cấp III khi kết thúc chương trình THPT, chuẩn bị bước vàothế giới nghề nghiệp trong tương lai
Trên cơ sở tiếp cận với trẻ mồ côi tại huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh.Luận văn sẽ đưa ra hình thức và hoạt động can thiệp hỗ trợ, định hướng giá trịnghề nghiệp cho các em học sinh cấp III, để nhằm giúp các em có những địnhhướng nghề nghiệp cho tương lai của mình
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh gia đình của trẻ mồ côi trướckhi quyết định chọn nghề
Tìm hiểu tâm lý, sở thích, thế mạnh và những khó khăn của các emtrong cuộc sống
Vận dụng kỹ năng làm việc trong công tác xã hội để giúp các em cóđịnh hướng và lựa chọn đúng đắn cho công việc của mình sau này để các emnhìn nhận sâu xa hơn cho việc chuẩn bị kiến thức
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu của bản thân tôi là một đề tài nhỏ và khá mới mẻ Tôithực hiện đề tài này với mong muốn đóng góp một phần nhỏ về lý luận đểphục vụ cho những đề tài liên quan khác sau này, góp phần cung cấp thôngtin, tài liệu tham khảo học tập cho các khóa học sau cũng như cho những aiquan tâm đến vấn đề này
Trong đề tài, tôi đã sử dụng các lý thuyết nhu cầu của Maslow, lýthuyết hệ thống, lý thuyết vai trò, lý thuyết lựa chọn hợp lý để tiếp cận, tìmhiểu đối tượng, từ đó có sự so sánh giữa lý thuyết và thực tế, hiểu rõ hơn về
Trang 14các lý thuyết, đồng thời khẳng định các lý thuyết và phương pháp nghiên cứucủa công tác xã hội.
Đề tài nghiên cứu này đã vận dụng các kỹ năng trong phương phápcông tác xã hội cá nhân để làm rõ những vấn đề của đối tượng, tìm hiểunhững nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu của đối tượng tại huyện Nghi Xuân
- tỉnh Hà Tĩnh trong việc định hướng nghề nghiệp, từ đó đưa ra những biệnpháp can thiệp, giúp đỡ đạt hiệu quả cao
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Với ý nghĩa nhân văn và trên tinh thần “tất cả vì tương lai trẻ thơ”,
“tất cả trẻ em là trẻ em của chúng ta” em mạnh dạn đưa ra ý tưởng và thực hiện đề tài “Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc hỗ trợ định hướng nghề nghiệp cho trẻ mồ côi đang là học sinh cấp III” Định hướng
nghề nghiệp cho các em học sinh cấp III đặc biệt là đối tượng học sinh lớp 11
sẽ tiếp thêm cho các em niềm tin và hoài bão khi có một kế hoạch rõ ràngchuẩn bị cho tương lai Giúp các em chuẩn bị cho tương lai, đảm bảo cho các
em nhận được sự giáo dục và những kỹ năng mà các em cần có để trở thànhnhững thành viên thành đạt và đóng góp cho xã hội” Bên cạnh đó chia sẻ mộtphần trách nhiệm với các gia đình trong việc giáo dục và hỗ trợ con cái
Đề tài này được nghiên cứu nhằm hỗ trợ định hướng nghề nghiệp chotrẻ mồ côi dựa trên chính nhu cầu của các em Từ đó giúp cho gia đình, nhàtrường, xã hội và đặc biệt là các em nhận thấy được tầm quan trọng và cầnthiết của việc tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho tương lai, trên cơ sở đó sẽ
có những suy nghĩ, những tác động tích cực đến vấn đề này
Bên cạnh đó, thông qua đề tài này, nó giúp tôi hệ thống lại các kiếnthức đã học một cách chắc chắn, đồng thời thực hành được các kỹ năng nghềnghiệp của mình trên thực tế, tích lũy kinh nghiệm cho công việc tương laisau này
Trang 154 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của nhân viên công tác xã hội trongviệc hỗ trợ định hướng nghề nghiệp cho trẻ mồ côi là học sinh lớp 11 tạihuyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh
4.2 Khách thể nghiên cứu
Trong đề tài này khách thể nghiên cứu chính là trẻ mồ côi học sinh lớp
11 mà đề tài hướng đến
Ngoài ra để tìm hiểu và xác thực thêm thông tin từ phía bà ngoại
Làm việc trực tiếp với cán bộ của huyện để nắm bắt tình hình hoạtđộng của huyện về mảng hướng nghiệp cho các em học sinh lớp 11
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Tại huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Định hướng nghề nghiệp cho trẻ mồcôi đang là học sinh cấp III sinh sống tại huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh
- Phạm vi về thời gian: từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 05 năm 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp được sinh viên sử dụng nhiều trong quá trìnhnghiên cứu, đặc biệt là kết hợp trong quá trình vãng gia
Mục đích của quan sát là nhằm thu thập và kiểm chứng các thông tin
cơ bản về hoàn cảnh gia đình, quan sát quá trình học bài của thân chủ, thái độhành vi của thân chủ, những người thân và mọi người xung quanh
5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phương pháp được sử dụng để có những thông tin
từ phía thân chủ Nó đòi hỏi nhân viên xã hội hoặc người phỏng vấn chuẩn bị
kỹ lưỡng các thông tin, câu hỏi và phải luôn để ý những thông tin còn thiếusót còn nhầm lẫn trong quá trình phỏng vấn
Trang 16Trong đề tài này nhân viên công tác xã hội tiến hành phỏng vấn vớinhững đối tượng sau:
Phỏng vấn cán bộ quản lý địa phương (cán bộ quản lý về trẻ em,
trưởng thôn): Nhằm thu thập thông tin về lịch sử hình thành, tình hình về kinh
tế, chính trị, văn hóa của Ủy ban nhân dân huyện, các chính sách hỗ trợ, nuôidưỡng và giáo dục trẻ mồ côi hiện nay Qua đó tìm hiểu những khó khăn vàthuận lợi cũng như những hạn chế trong các hoạt động hỗ trợ trẻ mồ côi tạiđịa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó phỏng vấn cán bộ quản lý về trẻ em nhằmtìm hiểu sâu về các chính sách hỗ trợ việc làm cho những trẻ em có hoàn cảnhkhó khăn, thông qua đó thu thập thêm những thông tin về thân chủ để làm cơ
sở cho quá trình can thiệp
Phỏng vấn bà ngoại: Người hiện nay đang trực tiếp nuôi dạy em Nhằm
thu thập thông tin về các hoạt động sinh hoạt, giải trí, chăm sóc sức khỏe vàlao động của bản thân em đặc biệt chú trọng tới thu thập thông tin sâu về vềquá trình học tập và thế mạnh của em trong cuộc sống Những nhu cầu,nguyện vọng vủa em dưới cách nhìn nhận của bà ngoại Những khó khăn màgia đình đang gặp phải trong cuộc sống
Phỏng vấn thân chủ: Thu thập thông tin sâu về hoạt động học tập của
em để phát hiện ra môn học mà em ưa thích cũng như tìm hiểu nhu cầu,nguyện vọng, ước mơ của em và khả năng nghề nghiệp để em làm việc trongtương lai Bên cạnh đó tìm hiểu mong muốn được tham gia các hoạt động vuichơi, giải trí, sinh hoạt, lao động của em trong cuộc sống cũng như tìm hiểunhững khúc mắc mà em gặp phải
Nội dung của các cuộc phỏng vấn được chia thành từng mảng vấn đề
mà đề tài cần quan tâm hướng tới Tuy nhiên trình tự các cuộc phỏng vấnkhông cố định tùy thuộc vào điều kiện và cơ hội để làm việc
Bên cạnh dùng phương pháp phỏng vấn sâu, luận văn còn sử dụng
Trang 17lục) Nội dung của phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin về hoàn cảnh sốngcủa thân chủ, thế mạnh về các môn học văn hóa, sở thích, ước mơ của thânchủ…những thông tin thu được qua phiếu điều tra nhằm mục đích hiểu rõ hơn
về những thuận lợi và khó khăn của thân chủ cũng như hiểu sâu hơn về vấn
đề mà thân chủ đang gặp phải, để từ đó NVCTXH cùng thân chủ lên kế hoạch
cụ thể giúp thân chủ định hướng nghề nghiệp tương lai cho mình
5.3 Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu thứ cấp
Trong quá trình nghiên cứu nhân viên CTXH đã tham khảo và sử dụngcác tài liệu từ các báo cáo tổng kết hàng năm trên tất cả các mặt của Uỷ banhuyện Nghi Xuân, các văn bản, nghị định pháp luật của nhà nước và các tàiliệu liên quan khác về vấn đề trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng
Qua đó để phân tích và tìm hiểu thực trạng về đời sống các khó khăncủa thân chủ trên địa bàn huyện Nghi Xuân, cũng như việc thực hiện công tác
hỗ trợ cho thân chủ và nhìn ra các nguồn lực hỗ trợ có thể huy động để giúpthân chủ giải quyết vấn đề của mình
5.4 Phương pháp công tác xã hội cá nhân
Kiểu tâm lý xã hội: Tiếp cận cá nhân bằng cách tìm hiểu họ thông qua
các mối quan hệ xã hội, chức năng xã hội Hiểu biết được hành vi của cá nhânvới môi trường, đánh giá được suy nghĩ và hành vi của cá nhân nhằm huyđộng tiềm năng và động cơ của cá nhân, từ đó có thể giúp đối tượng giảiquyết vấn đề
Phương pháp tiếp cận hệ thống: Là xem xét cá nhân trong mối tương
quan với hệ thống xã hội, thu thập thông tin qua việc tìm hiểu hệ thống chung
và tiểu hệ thống
Phương pháp công tác xã hội cá nhân đặt trọng tâm vào nhiệm vụ lànắm bắt được suy nghĩ, mong muốn của đối tượng Mục đích của quá trìnhcan thiệp là thu thập những thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đưa
ra mô hình can thiệp cho đối tượng
Trang 18NỘI DUNGChương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Theo số liệu cập nhật của Bộ Lao động thương binh - Xã hội (ngày16/01/2010) cả nước có khoảng 1.478.567 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn trong đó 85.193 trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, 1.316.227 trẻkhuyết tật tàn tật, 21.903 trẻ em lang thang, 10.328 trẻ bị nhễm chất độc hóahọc Nhà nước đã thực hiện nhiều hình thức chăm sóc cho trẻ có hoàn cảnhkhó khăn như: Gia đình nhận nuôi, gia đình với mẹ nuôi mới (làng trẻ SOS,
mô hình xã hội), trợ cấp xã hội cho trẻ tại cộng đồng và chăm sóc tại các cơ
sở bảo trợ xã hội Hàng tháng trên 90.500 trẻ được nhận trợ cấp từ nhà nước
về kinh phí giáo dục, y tế 55.3% tổng số em mồ côi được cộng đồng và nhànước chăm sóc, hàng ngàn trẻ đã được phẫu thuật miễn phí Hệ thống dịch vụtái hòa nhập cho trẻ đã được điều chỉnh để được đảm bảo cho trẻ có cơ hộihòa nhập cộng đồng một cách tốt nhất Đảng, Nhà nước ta luôn cố gắng đểđưa ra những chính sách phù hợp nhất tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ có hoàncảnh đặc biệt khó khăn
1.1.1 Những quan điểm, chính sách và các quy định của Đảng, Nhà nước
ta trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Được tập trung vào thực hiện các quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ
em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hài hòa vềthể chất, trí tuệ và tinh thần và đạo đức Trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật sống tronghoàn cảnh đặc biệt khó khăn được học tập vui chơi và giải trí
Các chính sách, chương trình của nhà nước cho trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt khó khăn bao trùm lên các lĩnh vực chủ yếu:
Trang 19Chính sách hỗ trợ nuôi dưỡng
Đây là một trong những nội dung cơ bản của hệ thống chính sách, đảmbảo, duy trì cuộc sống sinh hoạt cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Chính sách giáo dục đào tạo
Trong chính sách này hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ởmảng miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp và có học bổng khuyến khích
Chính sách cụ thể được thể hiện ở luật phổ cập giáo dục tiểu học: Điều
13 quy định học sinh (trong đó có trẻ em hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) học tạicác trường, lớp tiểu học quốc lập không phải đóng nộp tiền học phí
Quyết đinh 78/1998/QĐ - TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng chínhphủ về việc thu, sử dụng học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lậpthuộc hệ thống giáo dục quốc dân Thông tư 54/1998 TTLB - BGDĐT - BTChướng dẫn thực hiện quyết định 70/1998/QĐ - TTg đã quy định cụ thể: Trẻ
em bị tàn tật, trẻ em bị mồ côi cả cha lẫn mẹ, con hộ đói nghèo… khi học ởcác trường Phổ thông, Trung học dạy nghề, Cao đẳng và Đại học được miễngiảm học phí và các khoản đóng góp khác
Chính sách học nghề và việc làm
Trẻ mồ côi, trẻ em tàn tật, trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tìnhdục, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em con nhà quá nghèo… được hỗ trợ tiếp nhậndạy nghề miễn phí, được miễn giảm học phí học nghề trong các cơ sở dạynghề của nhà nước và cơ sở dạy nghề từ thiện nhân tạo
(Nguồn: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, 2002).
Ngày 23/05/2005, chính phủ đã có quyết định số 65/2005 phê duyệt đềán: “Chăm sóc trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tậtnặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em bị nhiễm HIV/AIDSdựa vào cộng đồng giai đoạn 2005 - 2010”
Trang 20Mục tiêu của đề án là tiến tới trợ giúp tất cả trẻ em có hoàn cảnh đặcbiệt khó khăn hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống và có cơ hội thực hiệncác quyền của trẻ em theo quy định của pháp luật Từng bước thu hẹpkhoảng cách chênh lệch về mức sống giữa trẻ em bình thường tại nơi cơ trú,trên cơ sở huy động nguồn lực xã hội, phát triển các hình thức chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng Cụ thể đến năm
2010, số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hưởng trợ cấp xã hội, đượcchăm sóc thay thế tại cộng đồng và được trợ giúp về y tế, giáo dục tăng từ30% - 65% (bình quân mỗi năm tăng thêm 15.000 trẻ em) Số trẻ tàn tậtnặng được chỉnh hình phục hồi chức năng từ 40% - 70% Đề án được thựchiện trên phạm vi toàn quốc
Nhiều chương trình hỗ trợ, tặng quà của nhà nước, các tổ chức phichính phủ, các nhà hảo tâm dành cho các em có hoàn cảnh đặc biệt khó khănđược tiến hành tại các địa phương trên cả nước từ nhiều năm qua Các chươngtrình này được diễn ra thường niên trong các dịp ngày lễ lớn và các hình thức
Chính sách bảo vệ và giáo dục trẻ em nói chung được thể hiện rõ nhấttrong hiến pháp nước ta năm 1992 đó là “Trẻ em được gia đình, nhà nước,
và xã hội bảo vệ chăm sóc và giáo dục” (Điều 65) Trong đó không kể đến trẻ
em bình thường hay khó khăn đặc biệt
Trang 21Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam là một nước đi đầutrong việc kí kết tham gia đã quy định rõ: “Bảo vệ trẻ em khỏi mọi hìnhthức bóc lột về thể xác lẫn tinh thần, gây tổn thương hay xúc phạm, bỏ mặchoặc sao nhãng trong chăm sóc, bóc lột hay ngược đãi, bao gồm cả lãmdụng tình dục…”.
Ngoài ra nhà nước ta cũng đã cho ra đời nhiều văn bản quy định riêng
về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Mới ban hành gần đây nhất là luậtbảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi nghị định hướng dẫn thi hànhnăm 2004) trong đó quy định rõ ràng việc chăm sóc và giáo dục trẻ em cóhoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng và trung tâm xã hội
Quan điểm của nhà nước ta nêu rõ: “Nhà nước có chính sách tạo điềukiện để trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng quyền trẻ em; hỗ trợ cánhân, gia đình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em, khuyến khích các tổ chức, cácnhân tham gia giúp đỡ trẻ em, thành lập các cơ sở trợ giúp trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn” Ngoài ra, trách nhiệm trợ giúp xã hội đối với từng nhóm đối
tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn còn được quy định rõ từ Điều 51đến Điều 58 của luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 2004) củanước ta
Từ khi luật này ra đời và có hiệu lực thì mọi quyền lợi và trách nhiệmnuôi dưỡng trẻ em đặc biệt đều được quy định rõ ràng và thực hiện theo quyđịnh đúng của pháp luật
Ngoài việc ra các quyết định cụ thể định mức trợ cấp xã hội cho các đốitượng nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng theo nghị định67/2007/NĐ-CP thì Đảng và Nhà nước ta còn ban hành nhiều quy định khácnữa đối với từng lĩnh vực trong đời sống của các em, cụ thể như sau:
Thông tư 14/2005/TT-BYT của bộ y tế hướng dẫn thực hiện khámbệnh, chữa bệnh và quản lí sử dụng, quyết toán kinh phí khám bệnh, chữabệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi tại cơ sở y tế công lập Đặc biệt mới đây là việc
Trang 22cấp thẻ BHYT cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn như người nghèo,dân tộc thiểu số …trong đó có trẻ em.
Thông tư liên tịch 86/2008TTLT-BTC-BLĐTBXH của bộ tài chính
và bộ lao động về việc hướng dẫn quản lý và sử dụng nguồn kinh phí thựchiện quy định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/02/2004 của Thủ tưởng chính phủ
về việc phê duyệt chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em langthang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em lao động sớm trong điều kiện độchại nguy hiểm giai đoạn 2004 - 2010
Trên đây là những quy định cụ thể của Đảng và Nhà nước ta đối vớiviệc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Đó là nhữngquy định quan trọng, là cơ sở để các gia đình, chính quyền các ban ngành địaphương cùng vào cuộc để đảm bảo tốt hơn cuộc sống cho trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt
1.1.2 Những đề tài, dự án trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Dự án “Giúp trẻ có hoàn cảnh đặc biệt vươn lên tự lập, hòa nhập cộngđồng” của Bộ Lao động thương binh và Xã hội Đây có thể nói là một chươngtrình rất thực tế đã giúp đỡ phần nào về tài chính cho các em và gia đình đồngthời cũng là ủng hộ tinh thần của các em có thể mạnh mẽ hơn cố gắng vươnlên trong cuộc sống
Ngày 9/12/2003, Ủy ban chăm sóc trẻ em trước đây, ủy ban dân số giađình sau này cùng với tổ chức Plan education Việt Nam đã ký kết văn bảnthành lập đường dây tư vấn qua điện thoại đầu tiên cho trẻ em Đây là dự án
hỗ trợ, lắng nghe các em nói, giúp đỡ cho các em và gia đình để các em cócuộc sống tốt đẹp hơn
Bên cạnh đó, nghề nghiệp cũng là một trong những nội dung được chútrọng nghiên cứu tìm hiểu và triển khai hỗ trợ cho nhóm các em có hoàn cảnh
Trang 23các biểu tượng về trẻ em, sự phát triển và những khó khăn của chúng” là đềtài nghiên cứ giữa 3 nước Pháp - Campuchia - Việt Nam do tổ chức hợp tácđại học cộng đồng pháp ngữ tài trợ (1997 - 2000) Tác giả Ngô Hoài Sơn đãnghiên cứu và cho ra cuốn sách “Định hướng nghề nghiệp cho giới trẻ” đượcviết ra từ những hiểu biết sâu sắc và bằng kinh nghiêm thực tế bản thân tácgiả, là một cuốn cẩm nang cần thiết cho các bạn chuẩn bị thi Đại Học CaoĐẳng, điều quan trọng là cuốn sách giúp cho các bạn trẻ định hướng đượcnghề nghiệp phù hợp cho tương lai Đề tài nghiên cứu “Việc làm và trẻ emlang thang tại thành phố Hồ chí Minh” của Th.s Lê Thị Mỹ Hiền giáo viên cơhữu khoa Xã hội Học trường Đại học Mở TP HCM có nội dung khỏa sát vàdạy nghề, tìm việc làm cho trẻ em đường phố - phân tích những phương ándạy nghề và việc làm cho các em Đề tài cấp Bộ ĐH (1994 - 1995), Địnhhướng nghề nghiệp của Sinh viên và học sinh ở một số trường phổ thôngtrung học và đại học với việc làm thêm hiện nay, ĐH Quốc gia HN (1996 -1998) Bài nghiên cứu hướng chọn ngành của học sinh sinh viên các trường ở
Hà Nội (Tạp chí chuyên san Khoa xã hội học, ĐH QGHN số 6/1995)
Gần đây Viện tâm lý học thuộc viện khoa học xã hội Việt Nam đã thựchiện nghiên cứu về “Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khókhăn, 2007, Phan Thị Mai Hương”
“Kết quả nghiên cứu cho phép phác họa bức tranh về cách thức ứng xửcủa trẻ vị thành niên trong những hoàn cảnh nhất định, hiểu được mối liênquan của nó với các yếu tố xã hội, đặc biệt đối với việc giáo dục và rèn luyện.Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây dựng chương trình giáo dục và rèn luyện
kỹ năng sống cho vị thành niên một cách thích hợp, chỉ ra những điểm mạnhđáng chú ý trong cách ứng phó của trẻ với những khó khăn trong cuộc sống
và trên bình diện quản lý xã hội góp phần hạn chế những hành vi đáng tiếcxảy ra ảnh hướng tới cuộc sống bình an của mỗi cá nhân cũng như của xã hội,góp phần đưa ra những kiến thức tâm lý để có các ứng phó tối ưu trong những
Trang 24hoàn cảnh khó khăn xảy ra trong cuộc sống” (Nguồn: Viện tâm lý học, Nguyễn Thị Mai Hương, chủ biên, 2007, sách “Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn”).
Như vậy có thể thấy các chương trình, dự án trên chủ yếu tập trung vào
hỗ trợ về vật chất, ủng hộ tài chính chính cho các em có hoàn cảnh khó khăn,bên cạnh đó giúp các em hòa nhập vào cộng đồng xã hội để từ đấy có mộtcuộc sống tốt đẹp hơn
Tuy nhiên các chương trình, dự án trên chỉ hỗ trợ cho các em nhữngđiều trước mắt, chưa thấy những dự án, chương trình nào đi sâu nghiên cứu,định hướng nghề nghiệp một cách đúng đắn để phù hợp với năng lực của các
em cũng như nhu cầu lao động của toàn xã hội Đây là một việc làm hết sứccần thiết, bởi vì các em sẽ ngày càng trưởng thành, không thể cứ dựa mãi vàocác chính sách hỗ trợ của nhà nước và các nhà hảo tâm… điều đó chỉ giúp các
em được phần nào trong cuộc sống chứ không đảm bảo một cách đầy đủ chocác em đi suốt cả cuộc đời
Như vậy, mặc dù đã có nhiều hoạt động nghiên cứu và thực hành nhằm
hỗ trợ cho các em có hoàn cảnh khó khăn, song chưa có nghiên cứu can thiệpnào đi sâu nghiên cứu hỗ trợ định hướng nghề nghiệp cho các em để giúp các
có việc làm phù hợp với năng lực của mình trong tương lai Vì vậy, nghiêncứu ứng dụng phương pháp CTXH nhằm hỗ trợ, định hướng nghề nghiệp chotrẻ em mồ côi là rất cần thiết
1.2 Các lý thuyết liên quan
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu của nhà tâm lý học Maslow
Cấu trúc tháp nhu cầu có 5 tầng, ttrong đó các nhu cầu của con ngườiđược liệt kê theo một trật tự thứ bậc
Trang 25Thể hiện bản thân- muốn sáng tạo, thành
đạt
Nhu cầu được quý trọng kính mến (esteem)- tôn trọng ,tin tưởng, kính mến
Nhu cầu được giao lưu tình cảm và trực thuộc (love/belonging)- muốn thuộc về một nhóm nào đó nào đó, có
bạn bèNhu cầu an toàn (sarety) như: có cảm giác an toàn về thân thể, gia đình, việc làm, sức khỏe, tài sản được
bảo đảm
Nhu cầu cơ bản thuộc về thể lý như”:
thức ăn, nước uống, nơi cư trú, nghỉ ngơi…
Tháp nhu cầu của Maslow
Con người có những nhu cầu cần được thoả mãn: Nhu cầu vật chất, nhucầu an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu được coi trọng, nhu cầu tự khẳngđịnh Các nhu cầu đó được sắp xếp theo một nấc thang nhất định, khi đạtđược nhu cầu cơ bản con người sẽ hướng tới các nhu cầu khác cao hơn theotừng nấc thang đó Khi con người đạt được các nhu cầu thì con người sẽ có cơhội phát triển hoàn thiện hơn
Trẻ em là lứa tuổi có tâm lý nhạy cảm vì vậy nhu cầu của trẻ nhiều hơn
và cần được đáp ứng kịp thời nhằm đảm bảo cho trẻ có sự phát triển toàn diện
về nhân cách Với trẻ em mồ côi thì tâm lý và đời sống của trẻ luôn căngthẳng và thiếu thốn so với những đứa trẻ bình thường khác Thiếu đi sự quantâm, chăm sóc của cha mẹ, và đặc biệt thiếu đi sự định hướng cho tương lai
Trang 26của bản thân từ đó nhu cầu thể hiện bản thân khó có thể thực hiện Nên cầnxác định và đáp ứng nhu cầu kịp thời cho trẻ.
1.2.2 Lý thuyết hệ thống.
Hệ thống là tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ vớinhau để hoạt động thống nhất Một hệ thống bao gồm nhiều tiểu hệ thống,đồng thời hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn
Bản thân cá nhân cũng là một hệ thống, bao gồm các tiểu hệ thống nhưlà: Sinh lý, nhận thức, tình cảm, hành động, phản ứng…Tìm hiểu về nhóm hệthống lớn hơn bao gồm hệ thống cá nhân Cá nhân là một mắt xích trong hệthống, khi một mắt xích thay đổi thì dẫn đến sự thay đổi của toàn hệ thống Vàtrẻ em được ví như những mắt xích đó Có 3 hình thức hệ thống chính thức
• Hệ thống phi chính thức: Gia đình, bạn bè…
• Hệ thống chính thức: Cộng đồng
• Hệ thống xã hội: Bệnh viện, trường học…
Đánh giá được những nhu cầu của đối tượng trong hệ thống chung đó
để tìm ra nguồn hỗ trợ phù hợp từ các nguồn hệ thống Việc tiếp cận thuyết
hệ thống cho chúng ta hiểu hơn các yếu tố tác động đến trẻ em mồ côi và qua
đó sẽ hiểu và phát huy các nguồn lực để hỗ trợ cũng như giúp đỡ em
1.2.3 Lý thuyết Trao đổi và lựa chọn hợp lý
Trong hệ thống lý thuyết đồ sộ của Xã hội học thì lý thuyết Trao đổi vàlựa chọn hợp lí được coi là lý thuyết có nguồn gốc đa dạng nhất
Cơ sở cho sự xuất hiện quan điểm này bắt nguồn từ những quan điểmcủa các nhà Kinh tế, Nhân loại học, Tâm lí học
Khi nhắc đến lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý, có lẽ không ai cóthể vượt qua được tên tuổi của Georg Simmel, ông nêu ra nguyên tắc “cùng
có lợi” trong mối tương tác xã hội giữa các cá nhân và cho rằng mỗi cá nhânluôn phải cân nhắc, toan tính thiệt hơn để theo đuổi các nhu cầu cá nhân, thỏa
Trang 27người đều dựa vào cơ chế cho - nhận, tức là trao đổi mọi thứ ngang giá nhau.
Vận dụng lý thuyết vào đề tài này để hỗ trợ định hướng giúp trẻ mồ côilựa chọn cho mình một hướng đi thích hợp Đưa ra những lựa chọn có lợi chobản thân mình dựa trên những định hướng của NVCTXH, em sẽ cân nhắc,tính toán để lựa chọn cho mình một ngành học, trường học phù hợp với mongmuốn, sở thích, thỏa mãn các nhu cầu cá nhân và đáp ứng được nhu cầu củathị trường lao động Trình độ học vấn nó đóng vai trò quan trọng trong việclựa chọn nghề nghiệp cho bản thân Năng lực, tiềm năng tiến thân trên thangbậc đẳng cấp xã hội trong xã hội hiện nay càng cao thì các em sẽ càng nhiều
cơ hội kén chọn ngành học và trường học cho mình và sau khi ra trường tìmcho mình một nơi làm việc thích hợp
Như vậy, không phải là chân lí cho mọi thời đại hay là lý thuyết baotrùm của xã hội học và do dó lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lí có nhữnghạn chế của nó khi mà quá đề cao tính kinh tế, sự toan tính thiệt hơn mà conngười nhiều khi không phải lúc nào cũng chỉ có hành động duy lý nhưng rõràng trong thời đại ngày nay khi mà những giá trị kinh tế được đề cao thì nótrở nên dễ dàng được chấp nhận khi tham gia vào việc định hướng nghềnghiệp cho các em
1.3 Các khái niệm công cụ
1.3.1 Khái niệm trẻ em
Theo công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hiệp Quốc năm 1989xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới 18 tuổi, trừtrường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớmhơn” Công ước quốc tế nhấn mạnh “Trẻ em là người non nớt về thể chất vàtrí tuệ ” do vậy cần được bảo vệ và giúp đỡ để các em được phát triển đầy đủ
và hài hòa nhân cách của mình, được trưởng thành trong môi trường gia đìnhcủa mình, trong bầu không khí thương yêu, đồng cảm
Trang 28Ở Việt Nam theo quy định của luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” (Điều 11 luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004).
1.3.2 Khái niệm trẻ mồ côi
Hiện nay khái niệm trẻ mồ côi vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi
Đã có nhiều ngành, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đưa ra những cách hiểukhác nhau về khái niệm này Nhưng phổ biến nhất là hai khái niệm:
Trẻ mồ côi thực tế: Là một đứa trẻ chia ly vĩnh viễn với một người thân(cha hoặc mẹ) do cha hoặc mẹ bị chết, hoặc cả cha và mẹ đều chết gọi là trẻ
để nương tựa, cha hoặc mẹ, những người còn lại là cha hoặc mẹ bị mất tích
Với khái niệm này có thể đưa ra ba tiêu chí để nhận dạng trẻ mồ côi:
Mất cả cha lẫn mẹ: Cha mẹ đều chết hoặc chết một người, mộtngười mất tích
Mất cha: Cha chết hoặc bỏ đi mất tích, mẹ không có điều kiệnchăm sóc
Mất mẹ: Mẹ chết hoặc bỏ đi mất tích, cha không có điều kiệnchăm sóc
Trong bài nghiên cứu này sẽ tiếp cận với trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ
1.3.3 Khái niệm vai trò
Thuật ngữ vai trò dược dùng để xác định thành phần các mô hình vănhóa gắn liền với một địa vị cụ thể Nó gồm tâm thế, giá trị hành vi do xã hộigán cho bất cứ ai hoặc tât cả những người chiếm một địa vị cụ thể Nó bao
Trang 29hành vi người khác hướng đến họ (Nguồn: Sách xã hội học quản lý, TS Vũ Hào Quang, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001)
1.3.4 Nhân viên công tác xã hội
Theo Lê Văn Phú: Nhân viên công tác xã hội là những người được đàotạo một cách chuyên nghiệp về Công tác xã hội có bằng cấp chuyên môn Đó
là những cán bộ, những chuyên gia có khả năng phân tích các vấn đề xã hội,biết tổ chức, giáo dục, vận dụng, biết cách thức hành động nhằm mục đích tối
ưu hóa sự thực hiện vai trò chủ thể của con người trong mọi lĩnh vực của cuộcsống xã hội, góp phần tích cực vào quá trình cải thiện, tăng cường chất lượngsống của cá nhân, nhóm và cộng đồng xã hội
Cán bộ công tác xã hội chuyên nghiệp không chỉ biết hướng vào nhữngnhóm dân cư yếu thế nhằm hỗ trợ, bảo vệ và tăng cường năng lực tự chủ của
họ mà còn xây dựng những chương trình, giải pháp khoa học nhằm bảo vệ xã
hội với toàn thể dân cư (Nhập môn Công tác xã hội - Lê Văn Phú, Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội).
1.3.5 Khái niệm nghề nghiệp
“Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đàotạo, con người có được những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất
hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội” (Nguồn: www.huongnghiepviet.com/ /706-khai-niem-nghe).
2.3.6 Năng lực nghề nghiệp
Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh
lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra Nếu không có sự
tương ứng này thì con người không theo đuổi nghề được (Nguồn: Phạm Tất Dong, Giúp bạn chọn nghề, NXB Giáo dục, Hà Nội 1989, trang 72).
Ở những nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu nghề nghiệp cụthể khác nhau, nhưng theo tác giả Mạc Văn Trang thì năng lực nghề nghiệpđược cấu thành bởi 03 yếu tố:
Trang 30 Tri thức chuyên môn.
Kỹ năng hành nghề
Thái độ đối với nghề
Năng lực nói chung và năng lực nghề nói riêng không có sẵn như mộtnhà tâm lý học tư sản quan niệm mà nó được hình thành và học tập qua hoạtđộng học tập, lao động và trong hoạt động nghề nghiệp Chúng ta có thểkhẳng định rằng học tập và lao động không mệt mỏi là con đường phát triểnnăng lực nghề nghiệp của mỗi cá nhân Chính vì vậy để đạt hiệu quả cao nhất
và có được một nghề nghiệp tốt, phù hợp với sở thích thì vấn đề hỗ trợ chocác em trong định hướng nghề nghiệp là thực sự cần thiết
2.3.7 Khái niệm định hướng nghề nghiệp
Định hướng nghề nghiệp là xác định những nghề mà học sinh có thểtham gia, có thể lựa chọn, phù hợp với hứng thú, sở trường của mình, đồngthời hứa hẹn có thể làm việc lâu dài và đạt thành tích trong nghề Trong tất cảcác nghề ta có thể sắp xếp theo sự ưu tiên cho sự lựa chọn Muốn định hướngđúng người chọn nghề phải có những thông tin cần thiết về yêu cầu của nghềđặt ra đối với người lao động cũng như những thông tin về thị trường laođộng, thiếu một trong hai thông tin đó, việc định hướng nghề sẽ sai lệch,không thể chọn được nghề phù hợp
Nếu không có những hiểu biết về yêu cầu của nghề, học sinh rất dễchọn những nghề không phù hợp với năng lực của mình Mỗi người sinh ra ởtrên đời đều có năng lực, phẩm chất độc đáo của riêng mình Muốn thànhcông cần có sự phù hợp giữa yêu cầu của nghề với năng lực, bản tính củamình Song như thế vẫn chưa đủ, muốn học xong có thể tìm được “đất dụngvõ”, tìm được công việc thích hợp, người chọn nghề phải thấy được nhu cầu
của thị trường lao động (Nguồn: Sách hoạt động giáo dục hướng nghiệp, NXB Giáo dục, năm 2008, trang 55).
Trang 312.3.8 Khái niệm tư vấn chọn nghề
Người chọn nghề nhiều khi chưa thật hiểu về mình, cũng có thể do ảnhhưởng của dư luận xã hội hoặc thiếu cái nhìn thực tế về nhu cầu của thịtrường lao động mà có những quyết định chọn nghề thiếu chín chắn, chínhxác, có thể dẫn đến hậu quả chán nghề, xin đổi nghề hoặc bỏ nghề Nhờ cócông tác tư vấn chọn nghề, học sinh có thể có định hướng nghề đúng đắn hơnhoặc sẽ chuẩn bị tốt hơn đối với đối với việc xin được tuyển vào làm việctrong một nghề nào đó Thực chất của tư vấn chọn nghề là căn cứ vào cácbiện pháp chuyên môn để đưa ra những lời khuyên cho thanh niên, học sinh
về việc chọn nghề sát hợp và có cơ sở khoa học, giúp họ chọn được cho mìnhmột nghề yêu thích, thực sự phù hợp với mình, cống hiến được tài năng và trítuệ của mình để có được sự tiến bộ vững chắc trong nghề nghiệp…
Tư vấn chọn nghề là công việc đòi hỏi người làm công tác này phải cótinh thần trách nhiệm rất cao trước việc đưa ra những lời khuyên, đồng thờiphải tôn trọng nguyên tắc tự do chọn nghề của mỗi cá nhân Rõ ràng tronggiai đoạn hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, khi mà thương trường như làchiến trường, con người phải đối mặt với thực tế cạnh tranh khốc liệt, thì việcchọn nghề thiếu những luận cứ khoa học sẽ gây tác hại đến bản thân ngườichọn nghề cũng như đối với lợi ích của cộng đồng Về phía người chọn nghề,nếu không chọn được nghề phù hợp, lao động đối với họ sẽ không còn cóniềm vui, không trở thành hạnh phúc và sự tự hào, mà chỉ là những công việcmáy móc, buồn tẻ Còn đối với công việc lao động sản xuất, do thiếu hứng thú
và năng lực làm việc, người lao động không tạo ra được năng suất cao, chất
lượng tốt (Nguồn: Sách hoạt động giáo dục hướng nghiệp 12, NXB Giáo dục, năm 2008, trang 56).
2.3.9 Khái niệm tuyển chọn nghề
Ngoài xã hội tuyển chọn nghề là công việc xác định sự phù hợp nghềcủa mỗi người cụ thể khi quyết định nhận hay không nhận người đó vào làm
Trang 32việc ở nơi đang có nhu cầu nhân lực Để tuyển chọn nghề, người làm công tác
tuyển chọn phải hiểu biết về các mặt sau đây: một là, phải nắm chắc nhu cầu
cụ thể về số lượng và chất lượng nhân lực sẽ tuyển, (tức là nắm vững nhu cầu
nhân lực của đơn vị mình, công ty mình, ngành mình); hai là, phải nghiên cứu
để hiểu biết một số đặc điểm nhân cách và phẩm chất đạo đức của người đi
tìm việc làm (Nguồn: Sách hoạt động giáo dục hướng nghiệp 12, NXB Giáo dục, năm 2008, trang 57).
Trang 33Nghi Xuân phía Đông giáp Biển Đông, thuận lợi cho phát triển kinh tếbiển, phía Tây giáp Hồng Lĩnh; Phía Nam giáp huyện Can Lộc - Hà Tĩnh;phía Bắc giáp thành phố Vinh - Nghệ An Vị trí địa lý này thuận lợi cho việcgiao lưu buôn bán, luân chuyển kinh tế của, tạo cơ hội để huyện nắm bắt vàphát triển kinh tế của mình.
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Đất đai, thổ nhưỡng
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 218km2, trong đó đất nôngnghiệp là 25.68km2 (chiếm 11.68%), đất chuyên dùng là 38.92km2 (chiếm17.72%), đất khu dân cư và đô thị là 47.29km2 (chiếm 21,69%) còn lại là một
ít đất hoang hóa chưa được khai thác hết
Với địa hình phức tạp bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao ở phía Tây, lại
có sông rộng có đồng bằng và bờ biển nên huyện Nghi Xuân được chia thành
4 vùng địa lý thổ nhưỡng như sau:
- Vùng cát bờ biển: Vùng đất này chạy dọc theo bờ biển, gồm cát bờbiển, cồn cát biển và các tràng cát giữa các dãy cồn cát Chiều rộng của vùngnày thay đổi từ 500m đến 2000m kể từ biển vào qua các xã Cương Gián, CổĐạm, Xuân Liên, Xuân Thành, Xuân Hải, Xuân Yên, Xuân Phổ, XuânTrường, Xuân Đan
- Vùng đất cát biển: Ở vào khoảng giữa của huyện, vùng này gồm cóđất cát biển ngập nước và đất cát biển xen phù sa của các xã Xuân Mỹ, Xuân
Trang 34Yên, Xuân Giang, Xuân Thành, Xuân Viên, Xuân An Đây là vùng có vị triđịa lý quan trọng sản xuất ra khối lượng lương thực lớn của huyện.
- Vùng phù sa Sông Lam; Đây là vùng đất chủ động nước và phù saven sông được phân bố chủ yếu ở các xã Xuân Lam, Xuân Hồng, XuânTrường, Xuân Đan, Xuân Hội Được xem là vùng lúa trọng điểm của huyện
- Vùng đất chân núi: Vùng này gồm có đất dốc tụ chân núi Hồng Lĩnh
và đất phù sa sông suối khác, phân bố ở các xã: Xuân Hồng, Xuân Lĩnh, XuânLam, Xuân Liên, Cổ Đạm, Cương Gián Đây là vùng tiềm năng lớn phát triểnkinh tế nông - lâm - ngư nghiệp của huyện Điển hình với các khu lâm trại,nông trại, ngư trại…
Điều kiện khí hậu
Khí hậu Nghi Xuân điển hình cho khí hậu vùng bờ biển nhiệt đới ẩm cógió mùa Nhiệt độ ở Nghi Xuân cao Lượng mưa trung bình/năm từ 1600mm -1800mm, lại phân bố không đều 4 tháng, mưa nhiều nhất là các tháng 8, 9,
10, 11 Tổng lượng mưa 4 tháng này lên tới khoảng 1200mm chiếm trên 65%tổng lượng mưa cả năm
Nghi Xuân có gió tây nóng thổi mạnh trong những tháng 5, 6, 7, vàtháng 8 Cộng với gió mùa Đông Bắc vào những tháng 12, 1, 2, làm đất bốchơi mạnh, lượng bốc hơi hàng năm lớn, (965mm) băng ½ lượng mưa Chế độnhiệt và ẩm làm cho đất đai nơi đây bị phong hóa mạnh mẽ, gây xói mòn, rửatrôi và bốc hơi lớn làm cho đất nghèo và chua đi một cách nhanh chóng
Về tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn huyện Nghi Xuân khá phong phú
và đa dạng, bao gồm tài nguyên đất đai, nguồn nước, tiềm năng thủy hải sản,khoáng sản (cát, quặng, chì, kẽm, vật liệu xây dựng)… với tổng diện tích đất
tự nhiên là 128km2, trong đó đất nông nghiệp là 10,230 ha, đất đai là mộttrong những thế mạnh lớn nhất của huyện Tiếp đó là nguồn nước dồi dào từ
Trang 35hệ thống sông gòi hồ chứa và biển đủ cung cấp cho sinh hoạt và tưới tiêunông nghiệp toàn huyện và các vùng lân cận.
Bờ biển Nghi Xuân còn có nhiều tiềm năng về khoáng sản như cát,quặng, chì, kẽm, nguyên vật liệu chịu lửa Quazi và vật liệu xây dựng Huyện
có nhiều di tích danh thắng cảnh nổi tiếng như Khu lưu niệm Nguyễn Du, nhàthờ Nguyễn Công Trứ, Đình Hội Thống, Đền Chợ Củi, bãi biển Xuân Thành
đã được khai thác phục vụ nghỉ dưỡng và du lịch… hàng năm thu hút nhiềukhách du lịch đây là một thế mạnh lớn của huyện nhà
2.1.3 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội
Điều kiện kinh tế
Nghi Xuân là một huyện khá phát triển của tỉnh Hà Tĩnh, trong nhữngnăm qua cơ cấu kinh tế luôn có sự chuyển dịch nhanh và ngày càng phù hợphơn, sản xuất kinh doanh tiếp tục phát triển nhanh với tốc độ tăng trưởng ướcđạt 11,9%, trong đó khu vực không sản xuất vật chất tăng nhanh ước đạt 16%(thống kê năm 2009) Giá trị sản xuất của cả lĩnh vực ước đạt: Khu vực nông -lâm - ngư nghiệp đạt 501,578 tỷ đồng Khu vực công nghiệp, xây dựng, bưuchính viễn thông đạt 349,664 tỷ đồng Khu vực thương mại, dịch vụ và dulịch đạt 450 tỷ đồng
Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch khá: Đến nay khu vực nông lâm ngư nghiệp chiếm 38,5%, khu vực Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xâydựng, bưu chính viễn thông chiếm 26,9%, khu vực thương mại, du lịch vàdịch vụ chiếm 34,6%
-Đáng chú ý là trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có 859
cơ sở sản xuất, trong đó có 25 doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã, chiếm3,01% với 2.123 lao động sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chuyên
và không chuyên, tập trung khai thác các thế mạnh về tài nguyên, lao động,nghề truyền thống tại địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóađói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội có nhiều chuyển biến tích cực Năm
Trang 362009 giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 501,578 tỷ đồng, tăng 8,3% so với năm
2008 Sản lượng lương thực đạt 17,916 tấn, trong đó lạc đạt 4,611 tấn, sảnlượng nuôi trồng thủy hải sản đạt 8.500 tấn
Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt 8,5 triệu đồng/người/năm(tăng 2 triệu đồng/người/năm so với năm 2008)
Về thương mại - dịch vụ: Tổng mức lưu chuyển hàng hóa ước đạt 450
tỷ đồng (năm 2009), doanh thu xuất khẩu đạt 3,3 triệu USD, các loại hàng hóađược phục vụ tương đối đầy đủ, nhu yếu phẩm cung ứng kịp thời cho sảnxuất, tiêu dùng trên địa bàn Tuy nhiên do việc làm, thu nhập của đa số ngườilao động bị ảnh hưởng do biến động của nền kinh tế chung nên nhu cầu cókhả năng thanh toán của nhân dân có phần bị hạn chế
Về tài chính ngân hàng: Thu ngân sách ước đạt 44,180 tỷ đồng, chi
ngân sách ước đạt 32,tỷ đồng Hoạt động ngân hàng đã thực hiện tốt công tácquản lý tín dụng, cho vay đúng đối tượng và đảm bảo an toàn vốn, góp phầngiải quyết việc làm và phát triển sản xuất kinh doanh Ngân sách xã hội dư nợcho vay 143 tỷ đồng, đã giải quyết nhiều khó khăn cho nhiều lao động và cácđối tượng chính sách như học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, con emcác đối tượng chính sách, các đối tượng xuất khẩu lao động, người mù, ngườitàn tật…
Điều kiện văn hóa - xã hội.
- Giáo dục - đào tạo
Nghi Xuân được xem là một trong những vùng đất hiếu học, giáo dụcluôn là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu Cơ sở vật chất trường học tiếp tụcđược tăng cường, thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp học và nhàcông cụ (có 567/680 phòng học kiên cố và 100% trường học ở các bậc họcđược trang bị máy vi tính) Nghi Xuân là huyện được tỉnh công nhận là tỉnhhoàn thành phổ cập tiểu học sớm Đã có 6 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập trung
Trang 37(Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Bán Công Nghi Xuân), có 24 trường tiểuhọc gồm 14.949 học sinh, 12 trường Trung học cơ sở gồm 4.933 học sinh, 1trường bổ túc trung học phổ thông, 1 trung tâm dạy nghề, 1 trường trung cấp.Năm học 2008 - 2009 tỷ lệ đậu tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 73%, tốtnghiệp bổ túc trung học phổ thông đạt 44.7% Kết quả xét tốt nghiệp trunghọc cơ sở đạt 98%, năm 2009 có trên 600 em đậu vào các trường Đại học,Cao đẳng.
- Y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình
Mạng lưới y tế tiếp tục được củng cố, hoàn thiện và phát triển Cơ sởvật chất, trang thiết bị từ bệnh viện đa khoa huyện đến các trạm y tế xã tiếptục được tăng cường, bổ sung cán bộ y tế cho tuyến xã và trường học, đạt tỷ lệxấp xỉ 5 bác sỹ/10.000 người dân, chất lượng khám chữa bệnh và thái độ phục
vụ của các cán bộ nhân viên y tế được nâng cao, tỷ lệ bệnh nhân đến khám vàđiều trị đạt trên 130%
Dân số toàn huyện có gần 100.300 người Trong đó, lao động chiếm45.280 người Nhân khẩu trong nông nghiệp chiếm 80%, nhân khẩu phi nôngnghiệp chiếm 20% Nhân khẩu Nghi Xuân đa số sống bằng nghề nông và ởvùng nông thôn là chủ yếu Trình độ dân trí ngày càng được nâng lên nhanhchóng, do vậy tỷ lệ phát triển dân số đã giảm xuống 1.9% (1995)
- Công tác chính sách, an sinh xã hội giải quyết việc làm và xóa đóigiảm nghèo
Những năm qua, huyện nhà luôn quan tâm đặc biệt đến việc thực hiệncác chính, an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động và công tácxóa đói giảm nghèo Thực hiện tốt công tác chi trả chế độ chính sách chongười có công và các đối tượng hưởng hiểm xã hội, (khoảng 140,2 tỷ đồng),thanh toán kịp thời kinh phí khám chữa bệnh (khoảng 10 tỷ đồng), mở rộngcác loại hình BHYT, BHXH bắt buộc khoảng 25 tỷ đồng, cấp thẻ BHYT chongười có công với cách mạng và với người nghèo Kiểm tra, rà soát các đối
Trang 38tượng bổ sung, tăng giảm các đối tượng theo nghị định 67, chất độc da cam,dân hòa tuyến Năm 2009 cấp lại hơn 1000 thẻ bảo hiểm y tế cho các đốitượng người có công hưởng 2 chế độ hưu trí và thương binh Nhờ đó đời sốngvật chất cũng như tinh thần của những người có công với cách mạng khôngngừng được cải thiện và ổn định.
Công tác chăm sóc trẻ em cũng được chú trọng, đặc biệt là trẻ emnghèo, trẻ em mồ côi, trẻ em là con của các đối tượng nhiễm chất độc màu dacam Phối hợp quỹ bảo trợ trẻ em tỉnh, khám và phẫu thuật cho 50 cháu cácbệnh về mắt, sứt môi, hở vòm miệng và dị tật hệ vận động tại trung tâm mắt
Hà Tĩnh và bệnh viện đa khoa Hà Tĩnh, cấp xe lăn cho 18 cháu khuyết tậtbẩm sinh và 30 xe lăn cho các đối tượng người có công bị di chứng chiếntranh, phẫu thuật xơ hóa cơ Delta cho hơn 100 cháu
Các nguồn cứu trợ xã hội được quan tâm, tổ chức quyên góp và huyđộng nhiều nguồn trợ cấp, trợ cứu các đối tượng nghèo đói, khó khăn đặcbiệt, nạn nhân chất độc màu da cam… với tổng giá trị hoạt động nhân đạo đạttrên 945 triệu đồng Nghi Xuân được coi là một trong những huyện thực hiệntốt công tác từ thiện, đền ơn đáp nghĩa, đó là nền tảng quan trọng để xây dựngmạng lưới an sinh tốt cho các đối tượng thiệt thòi, trong đó người có công vớicách mạng là một trong những đối tượng được chú trọng
Như vậy có thể nói rằng, huyện Nghi Xuân thuộc tỉnh Hà Tĩnh, là mộthuyện có khá nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xãhội Trong những năm qua, Nghi Xuân đã có những chính sách phát triển hợp
lý, cơ cấu kinh tế đã có những bước chuyển dịch khá mạnh theo hướng ngàycàng phù hợp hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế không ngừng được nâng lên, tốc
độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa cũng diễn ra nhanh chóng Tuynhiên địa bàn cũng xuất hiện nhiều hơn các loại tệ nạn xã hội, một bộ phậndân cư còn trong tình trạng nghèo khó, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, đặc
Trang 39giờ hết cần phải triển khai những chính sách an sinh hiệu quả để phát triển vàphát triển bền vững, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân.
2.2 Thực trạng trẻ mồ côi
Nghi Xuân có 19 xã, thị trấn trong đó có 5 xã miền núi, 09 xã vùng venbiển bãi ngang đặc biệt khó khăn, 02 thị trấn, 03 xã vùng đồng bằng, Có 194thôn, khối phố; Dân số 94.325 người, 25.600 hộ, tỷ lệ phát triển dân số 6,7%
Có 21.465 trẻ em dưới 16 tuổi, chiếm tỷ lệ 22,75% dân số, 8.847 trẻ em
0 - 5 tuổi, chiếm tỷ lệ 9,37 % dân số, 3.750 người chưa thành niên 16-18 tuổi,
tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 16%, có 100 trẻ em bị khuyết tật, bệnh hiểmnghèo, có 2.000 trẻ em thuộc gia đình hộ nghèo
Hiện nay có trên 50 trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, có gần một ngàn emhọc sinh còn mẹ mất cha và ngược lại ở các cấp học Huyện đã giải quyết trợcấp xã hội thường xuyên cho các em, bao gồm; 5 em đang được nuôi dưỡng,chăm sóc trong các cơ sở bảo trợ xã hội với mức trợ cấp thấp nhất 240.000tháng/em 45 em hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng 100% trẻ
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được chăm sóc Đặc biệt tronggiai đoạn 2011 - 2020 huyện phấn đấu 100% trẻ em mồ côi có hoàn cảnh đặcbiệt khó khăn được chăm sóc
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã xây dựng và đang thựchiện các đề án để trợ giúp trực tiếp các đối tượng trẻ em như: Đề án Chăm sóctrẻ em mồ côi
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã triển khai hàng loạt các hoạtđộng có tính chiến lược, tạo tiền đề và cơ sở giải quyết vấn đề trẻ em mồ côi
Bên cạnh đó các em còn nhận được sự quan tâm do họ hàng, cộng đồngcưu mang hoặc nhận con nuôi Phối hợp với Ủy ban mặt trận Tổ Quốc và cácđoàn thể hỗ trợ sữa chữa nhà cho 2 cháu mồ côi cha mẹ (Xuân Yên, XuânLiên) trị giá 35 triệu đồng
Trang 40Mặc dù nhận được sự trợ giúp xã hội của các cơ quan, chính quyềnnhưng cuộc sống của các em trẻ mồ côi vẫn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Khi nói về hoàn cảnh của trẻ mồ côi em Liên ở xã Xuân Liên nói:
“Cuộc sống cơ cực quá, nhiều lúc em chỉ muốn buông xuôi Nhưng lại nghĩ đến người cha đã mất còn mẹ thì nhẫn tâm bỏ hai chị em phải chịu cảnh mồ côi, là em nhủ lòng mình không được gục ngã Chỉ có sống mới thực hiện được ước mơ làm người” Như vậy chúng ta có thể nhận thấy rằng mặc dù
cuộc sống của các em rất khó khăn vất vả, thiếu thốn, phải chịu những mấtmát đau khổ nhưng bằng nghị lực vươn lên trong cuộc sống, bằng những ước
mơ đang âm ỉ chảy các em trẻ mồ côi không nơi nương tựa đã biết vượt quanhững khó khăn, rào cản để được tiếp tục đến trường, tiếp tục cuộc sống Các
em luôn khao khát có một mái ấm gia đình như bao đứa trẻ bình thường khác
có như thể các em mới có thể yên tâm học tập được Vậy mộtvấn đề đặt ra làphải có sự hỗ trợ định hướng cho các em một hướng đi đúng để các em thựchiện được những ước mơ của mình
Một thực tế cho rằng bản thân các em là trẻ mồ côi khi lựa chọn vàomột trường ĐH, CĐ nào thì các em phải tính toán đến các yếu tố: Tài chính,năng lực bản thân… Khi tìm hiểu về thực tế việc học của hai em Liên nói:
“Giờ đây, khi mà ước mơ của Liên đã thành hiện thực thì một nỗi lo nữa lại đến bởi cả hai chị em không chỉ phải tự nuôi sống bản thân mà còn phải kiếm tiền để tiếp tục học Giờ đây Hiền đang là học sinh cấp III không biết em sẽ lựa chọn cho mình học ngành gì và thi vào trường nào Để sau khi ra trường
em tìm được cho mình một công việc Rồi đây, nếu Hiền thi đỗ đại học, không còn ai đi làm, cũng không có nguồn thu nhập nào khác, hai chị em biết làm gì
để sống, lấy tiền đâu để có thể tiếp tục theo đuổi ước mơ ” Từ thực tế đó
đang đặt ra một yêu cầu bức thiết đối với xã hội là làm sao để giúp những đứatrẻ mồ côi được tiếp tục đến trường, giúp các em có được một công việc ổn