Tính cấp thiết của đề tài
Để một quốc gia và xã hội phát triển bền vững, nền kinh tế cần có sự phát triển đồng bộ và hiệu quả Điều này yêu cầu các nhà lãnh đạo phải đưa ra các chính sách hợp lý nhằm ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế – xã hội Đồng thời, mỗi cá nhân cũng cần tiếp thu và áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong sản xuất và kinh doanh, không chỉ để gia tăng lợi nhuận cá nhân mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đồng thời đảm bảo sự ổn định xã hội.
Nhân loại đã trải qua hai nền văn minh chính: văn minh nông nghiệp và văn minh công nghiệp Hiện nay, chúng ta đang bước vào nền văn minh thứ ba - văn minh trí tuệ, với nền kinh tế tri thức là phần quan trọng nhất Trong thập niên 90, những thành tựu công nghệ thông tin như web, internet và thương mại điện tử, cùng với các tiến bộ trong công nghệ sinh học như công nghệ gen và thụ tinh trong ống nghiệm, đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn cầu và xã hội, đưa con người vào thời đại kinh tế tri thức.
Sự phát triển của mỗi quốc gia hiện nay phụ thuộc vào con người, đặc biệt trong bối cảnh các cuộc cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ Điều này yêu cầu các quốc gia phải chú trọng vào việc xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam, một trong những quốc gia đang phát triển và còn nhiều thách thức, cần đẩy mạnh phát triển kinh tế tri thức để bắt kịp với tiến bộ của khu vực và thế giới Việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững cho nền kinh tế đất nước.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Đảng Cộng sản và Nhà nước luôn chú trọng phát triển một hình thái kinh tế – xã hội mới toàn diện, đặc biệt là giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ Chiến lược phát triển kinh tế tri thức đã được đề ra trong các Nghị quyết của Đại hội, nhấn mạnh việc ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong sản xuất, kinh doanh, quản lý và quốc phòng – an ninh Đảng xác định tầm quan trọng của nghiên cứu cơ bản, cải tiến công nghệ nhập khẩu và sáng tạo công nghệ mới nhằm nâng cao trình độ công nghệ quốc gia Các văn kiện Đại hội X và XI khẳng định rằng khoa học và công nghệ sẽ là động lực chính cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh rằng thế kỷ XXI sẽ chứng kiến nhiều biến đổi lớn, với khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 xác định rằng con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam cần được rút ngắn thời gian, kết hợp giữa các bước tuần tự và nhảy vọt Để phát huy lợi thế đất nước, cần tận dụng mọi khả năng nhằm đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, đồng thời ứng dụng những thành tựu mới về khoa học và công nghệ để từng bước phát triển kinh tế tri thức.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, kinh tế tri thức đang trở thành động lực quan trọng cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, Việt Nam cần phát huy năng lực nội sinh và tích cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới Nghị quyết Đại hội IX nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định tại Đại hội X rằng cần tranh thủ cơ hội từ bối cảnh quốc tế và phát triển kinh tế tri thức để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa Việc phát triển các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, dựa vào trí thức và kết hợp nguồn vốn tri thức của người Việt Nam với tri thức toàn cầu, là một trong những phương hướng then chốt trong chiến lược phát triển.
Phát triển kinh tế tri thức cần dựa vào giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông Cần xây dựng cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ đồng bộ, nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn tri thức của người Việt Nam Để đạt được mục tiêu này, cần triển khai lộ trình phát triển kinh tế tri thức đến năm 2020.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất và kinh doanh Theo báo cáo của Ban chấp hành Trung Ương Đảng, nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, duy trì tốc độ tăng trưởng cao với GDP năm 2010 đạt 101,6 tỉ USD và GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD Đầu tư nước ngoài cũng tăng mạnh, với tổng vốn FDI thực hiện gần 45 tỉ USD và ODA cam kết trên 31 tỉ USD Tỷ trọng khu vực công nghiệp trong GDP tăng lên 41,1%, trong khi khu vực nông nghiệp giảm xuống 20,6%, cải thiện đời sống vật chất của người dân Chỉ số phát triển con người cũng tăng, xếp thứ 100/177 quốc gia và hoàn thành 6/8 mục tiêu thiên niên kỷ do Liên hợp quốc đề ra.
Trong những năm qua, kinh tế và khoa học công nghệ Việt Nam đã đối mặt với nhiều hạn chế và khó khăn, chủ yếu dựa vào tài nguyên và lao động với năng suất thấp Chỉ số phát triển kinh tế tri thức (KEI) xếp thứ 104 trong 146 nước, cho thấy chất lượng giáo dục và năng lực cạnh tranh vẫn ở mức trung bình thấp Kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu và áp lực cạnh tranh mạnh mẽ, trong khi nguồn nhân lực và năng lực quản lý còn yếu kém Hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý chưa đủ sức thu hút nhà đầu tư lớn, khiến việc duy trì tốc độ tăng trưởng và phát triển bền vững trở nên khó khăn Để bảo vệ những thành tựu đã đạt được, cần có chính sách và chiến lược phát triển kinh tế hợp lý, phù hợp với điều kiện riêng của đất nước và xu thế toàn cầu Hơn nữa, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất và kinh doanh còn hạn chế, chính sách thu hút nhân tài chưa được chú trọng, và tình trạng chảy máu chất xám vẫn chưa được khắc phục.
Xây dựng và phát triển kinh tế tri thức là cần thiết để đạt được sự phát triển bền vững cho xã hội, đồng thời hoàn thiện con người cả về vật chất lẫn tinh thần.
Tiền Giang, tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, là một trong tám tỉnh thành của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Với vị trí địa lý thuận lợi, Tiền Giang đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị quan trọng, kết nối miền Tây Nam Bộ với TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ Tỉnh cũng dễ dàng tiếp cận nhiều dự án đầu tư và lĩnh vực ngành nghề, giúp nâng cao trình độ công nghệ và quản lý sản xuất Nhờ đó, Tiền Giang đã phát triển thành một trong những tỉnh có nền kinh tế hàng đầu khu vực miền Tây Nam.
Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Đảng bộ và nhân dân tỉnh Tiền Giang luôn chú trọng phát triển kinh tế theo tinh thần Nghị quyết các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc Trong các Đại hội, vấn đề xây dựng và phát triển kinh tế tri thức đã được Ban Chấp hành Đảng bộ Tiền Giang đề cập Tại Đại hội lần thứ VIII, Ban Chấp hành đã nhấn mạnh việc tăng cường đào tạo nguồn nhân lực và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ vào các lĩnh vực Quan điểm này tiếp tục được khẳng định ở Đại hội IX, trong đó nhấn mạnh rằng nghiên cứu khoa học cần đi trước và gắn chặt với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong 5 đến 10 năm tới, yêu cầu cán bộ nghiên cứu phải có tầm nhìn chiến lược để xây dựng mục tiêu phục vụ phát triển toàn diện trong thời kỳ đổi mới.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tiền Giang đã nỗ lực phát triển kinh tế với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trung bình đạt 10% Tổng sản phẩm năm 2010 ước đạt 13.767 tỷ đồng, với các lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,5%, công nghiệp và xây dựng tăng 16,7%, dịch vụ tăng 11,5% Tỉnh cần hoàn thiện quy hoạch chi tiết các vùng kinh tế và ngành kinh tế, đồng thời có chính sách mở cửa để thu hút đầu tư trong và ngoài nước Tiền Giang cũng cần tập trung vào sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp, và đa dạng hóa dịch vụ Đầu tư phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực là khâu đột phá quan trọng Ngoài ra, cần nâng cao chất lượng văn hóa – xã hội, xã hội hóa giáo dục – đào tạo, và chú trọng đào tạo nghề cho lao động Cuối cùng, phát triển kinh tế – xã hội phải gắn liền với củng cố quốc phòng, an ninh và giữ vững trật tự an toàn xã hội.
Kinh tế tăng trưởng nhanh đã nâng cao thu nhập và đời sống của người dân, từ đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của tỉnh cũng như đất nước.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và học giả Trong những năm đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là trước và sau Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã diễn ra nhiều hội thảo quốc gia về kinh tế tri thức Các nghiên cứu về chủ đề này được tiếp cận từ nhiều góc độ, bao gồm các đề tài khoa học cấp nhà nước, nghiên cứu sinh, cao học và nhiều bài viết của các chuyên gia Qua các công trình nghiên cứu và tác phẩm, các nhà khoa học đã thảo luận và trình bày quan điểm của họ về sự phát triển của kinh tế tri thức.
Công trình nghiên cứu tiêu biểu về kinh tế đã khái quát thực trạng phát triển và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, đồng thời so sánh với sự phát triển kinh tế của một số quốc gia khác Các tác giả cũng đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững.
Trong các tác phẩm như "Lựa chọn để tăng trưởng bền vững" của TS Nguyễn Đức Thành (Nxb Tri thức, 2010) và "Việt Nam tầm nhìn 2020" của TS Trần Xuân Kiên (Nxb Thanh niên, 2010), cũng như "Tăng trưởng kinh tế Việt Nam – Những rào cản cần phải vượt qua" của GS.TS Nguyễn Văn (Nxb Lý luận chính trị, 2005), các tác giả đã phân tích sâu sắc những thách thức và cơ hội trong quá trình phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam Những nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các yếu tố cần thiết để đạt được mục tiêu tăng trưởng hiệu quả và bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Trong cuốn sách "Tốc độ và chiến lược tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam" do GS.TS Nguyễn Văn Nam và PGS.TS Trần Thọ Đạt chủ biên, xuất bản bởi Nxb Đại học kinh tế quốc dân năm 2006, tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Bên cạnh đó, cuốn "Nông nghiệp nông thôn Nam Bộ hướng tới thế kỷ XXI" của PGS.TS Lâm Quang, xuất bản năm 2002 bởi Nxb Khoa học xã hội, đề cập đến những thách thức và cơ hội trong phát triển nông nghiệp và nông thôn tại khu vực Nam Bộ trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
Huyên, trong tác phẩm "Hướng tới sự phát triển của đất nước – Một số vấn đề lý thuyết và ứng dụng" (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2006), PGS TS Ngô Doãn đã trình bày những quan điểm quan trọng về phát triển đất nước, nhấn mạnh sự cần thiết của việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn để thúc đẩy sự tiến bộ và cải cách trong xã hội.
Vịnh (chủ biên); “Kinh tế Việt Nam 2008 – 2015 (Những kiến nghị gia tốc tốc lực phát triển lên trên 12% – 15% GDP/năm)”, (Nxb Hải Phòng, 2008) của
TSKT Lê Khoa trong tác phẩm “Kinh Tế Phát Triển – Lý thuyết và thực tiễn” (Nxb Thống kê TP.HCM, 2006) cùng với Tiến sĩ Đinh Phi Hổ, giảng viên trường Đại học Kinh tế, đã đóng góp quan trọng vào lĩnh vực kinh tế Bên cạnh đó, PGS.TS Phan Thúc Huân cũng có những nghiên cứu sâu sắc trong cuốn “Kinh Tế Phát Triển” (Nxb Thống kê TP.HCM, 2006) Tất cả các tác phẩm này đều mang đến cái nhìn toàn diện về kinh tế các nước Đông Nam Á.
Cuốn sách “Thực trạng và triển vọng” của Phạm Đức Thành và Trương Duy Hòa đã đánh giá và dự báo xu hướng phát triển của khu vực Đông Nam Á dựa trên nghiên cứu văn hóa, chính trị và kinh tế – xã hội Tác phẩm “Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020” trình bày các lý luận và thực tiễn quan trọng trong chiến lược phát triển, cùng với kinh nghiệm từ các nước Đông Á và Đông Nam Á Cuốn “Quá Trình Phát Triển Kinh Tế Việt Nam” của GS Lê Thanh Nghiệp nghiên cứu sự chuyển mình của nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, đồng thời phân tích triển vọng tương lai và hiệu quả của chính sách đổi mới trên GDP và sản lượng nông nghiệp, công nghiệp.
Một trong những công trình tiêu biểu về kinh tế tri thức tại Việt Nam là chuyên đề “Kinh tế tri thức ở Việt Nam, quan điểm và giải pháp phát triển” do TS Vũ biên soạn, xuất bản bởi Nxb Khoa học và Kỹ thuật vào năm 2004 Chuyên đề này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình và các giải pháp phát triển kinh tế tri thức trong bối cảnh Việt Nam.
Trọng Lâm; “Phát triển kinh tế tri thức, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004) của
GS.TS Nguyễn Kế Tuấn và GS.VS Đặng Hữu đã trình bày các khái niệm và đặc trưng của kinh tế tri thức trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam Các chuyên đề của họ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa dựa trên tri thức, đồng thời xác định các mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế tri thức Sự phát triển của đội ngũ trí thức là yếu tố then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế tri thức và đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Kinh tế tri thức gắn liền với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, như được nêu bởi GS.VS Vũ Đình Cự và các chuyên gia trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học năm 2001 Hội thảo nhấn mạnh sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, đang tạo ra những biến đổi chưa từng có trong lực lượng sản xuất Điều này đưa nhân loại từng bước chuyển mình sang nền văn minh trí tuệ, với nền tảng là kinh tế tri thức Đây là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển sức sản xuất và là thành tựu quan trọng mà chủ nghĩa xã hội cần nắm bắt và tiếp thu.
Ngoài ra, có nhiều công trình nghiên cứu về tri thức khoa học và kinh tế tri thức, tiêu biểu như sách “Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006) do Vũ Đình Cự và Trần Xuân Sầm biên soạn, cùng với “Một số vấn đề triết học trong sự phát triển kinh tế Việt Nam”.
Nam”, (Nxb Lao động, Hà Nội, 2003) của Thế Đạt; “Triển vọng và chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam”, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
Năm 2010, TS Trần Xuân Kiên đã biên soạn tác phẩm “Kinh tế tri thức: Thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam”, xuất bản bởi Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Tác phẩm này phân tích những cơ hội và thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong bối cảnh kinh tế tri thức, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của đất nước.
GS.VS Đặng Hữu (2004) đã cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý giá về nền kinh tế tri thức, đồng thời phân tích thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay và rút ra kinh nghiệm từ một số quốc gia đi trước Công trình của ông mang tên “Hướng đến nền kinh tế tri thức” đóng góp vào việc định hướng phát triển kinh tế cho Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Việt Nam”, tập thể các tác giả: GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền, PGS.TS Đào
Duy Huân và TS Lương Minh Cừ đã mô tả một cách hệ thống nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, từ quá trình hình thành đến thực trạng và các giải pháp cần thiết để xây dựng thành công nền kinh tế tri thức Tác phẩm "Kinh tế tri thức – vấn đề và giải pháp" của Hoàng Thu Hoà, xuất bản năm 2001, cung cấp tài liệu quan trọng về các vấn đề và giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở nhiều quốc gia và khu vực Tác giả cũng đề cập đến các tác động vĩ mô và vi mô của kinh tế tri thức Phần đầu của tác phẩm bao gồm 9 tài liệu theo chủ đề liên quan.
Năm 2001, Đông Nam Á chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế dựa trên tri thức, ảnh hưởng đến các vấn đề chính trị và xã hội trong khu vực Phần hai của tài liệu bao gồm bốn nghiên cứu về tác động của kinh tế tri thức đối với chính quyền, hoạt động nghiên cứu khoa học và kinh doanh Đặc biệt, một bài tổng thuật đáng chú ý được xuất bản vào tháng 11 năm 2000 đã nêu rõ cách các công ty nên áp dụng công nghệ số để tối ưu hóa hoạt động của mình.
Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ quan niệm về tri thức và vai trò của tri thức khoa học trong việc xây dựng và phát triển kinh tế tri thức Tác giả phân tích thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở tỉnh Tiền Giang và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của kinh tế tri thức trong phát triển kinh tế – xã hội hiện nay.
Nhi ệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra và thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất, phân tích và làm rõ khái niệm kinh tế tri thức
Thứ hai, bài viết sẽ phân tích thực trạng phát triển kinh tế tri thức tại tỉnh Tiền Giang và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của kinh tế tri thức trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương này.
Luận văn này tập trung nghiên cứu tác động của kinh tế tri thức đến sự phát triển kinh tế – xã hội tại tỉnh Tiền Giang trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiện nay.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn này được xây dựng dựa trên nền tảng của phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp, so sánh, cùng với phương pháp logic, lịch sử và thống kê.
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn này làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về tri thức khoa học và chiến lược phát triển kinh tế tại tỉnh Tiền Giang, đồng thời chỉ ra vai trò quan trọng của kinh tế tri thức trong phát triển kinh tế – xã hội ở đây Tài liệu này có thể được sử dụng làm nguồn tham khảo cho sinh viên và học viên cao học trong các lĩnh vực triết học và khoa học xã hội nhân văn, đặc biệt trong nghiên cứu về ảnh hưởng của tri thức khoa học đến quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tại tỉnh Tiền Giang.
Luận văn nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển nhanh chóng khoa học và công nghệ, đồng thời nắm bắt các xu thế mới của thời đại Điều này được coi là một trong những điều kiện tiên quyết giúp tỉnh Tiền Giang tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, đồng góp vào sự phát triển chung của cả nước, nhằm đuổi kịp các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Kết cấu của luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận, và nội dung chính được chia thành 2 chương, 4 tiết và 8 tiểu tiết nhằm thực hiện các vấn đề nghiên cứu chủ yếu Cuối cùng, luận văn còn có danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TRI THỨC
1.1.TRI THỨC, ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, tri thức đã được bàn luận từ rất sớm, đặc biệt là tri thức khoa học, đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con người nhận thức thế giới Khi tách ra khỏi thế giới động vật, con người phải đối mặt với các thế lực thiên nhiên và để tồn tại, họ đã tự tìm hiểu và khám phá thế giới xung quanh Qua quá trình này, con người đã phát hiện ra những đặc điểm, mối liên hệ và thuộc tính của thế giới, từ đó hình thành các khái niệm và quy luật chung Những tri thức này không chỉ giúp con người thích nghi mà còn cho phép họ cải tạo thế giới theo nhu cầu của mình, khẳng định tri thức là yếu tố thiết yếu và đặc trưng của con người, phân biệt họ với các loài động vật khác.
Sự phát triển của xã hội loài người phụ thuộc vào tri thức và khả năng sáng tạo của con người Sự chuyển đổi từ nền văn minh nông nghiệp sang công nghiệp, và từ công nghiệp sang nền văn minh trí tuệ, đều cần tri thức Trong giai đoạn chuyển đổi này, quan niệm về tri thức đã có những đổi mới và trở nên đặc biệt quan trọng trong thời đại hiện nay Tri thức không chỉ là thông tin mà còn là yếu tố quyết định trong đời sống con người, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy sự phát triển xã hội Do đó, tri thức được đề cao trong đời sống của xã hội loài người.
Xét về mặt lịch sử, tri thức đã luôn được coi trọng trong các tư tưởng triết học phương Đông và phương Tây từ thời cổ đại Platon cho rằng tri thức xuất hiện để phục vụ nhu cầu phát triển đạo đức và tinh thần cá nhân Tương tự, triết học Nho giáo nhấn mạnh tri thức là khả năng hiểu và diễn đạt đúng ý nghĩ của mình, là con đường dẫn đến thành công Trong khi đó, triết học Phật giáo và Lão giáo cũng cho rằng tri thức là con đường dẫn đến sự thông thái và khôn ngoan Do đó, không ngẫu nhiên mà thuật ngữ triết học được gọi là “Philosophia” trong thời kỳ cổ đại.
Trong thời kỳ cổ đại, các nhà tư tưởng được kính trọng với những danh xưng như hiền triết, minh triết và thông thái, thể hiện sự thông thái và trí tuệ của họ.
Nghiên cứu các học thuyết cổ đại về tri thức cho thấy tri thức được hiểu là sự hiểu biết chung của con người về thế giới, nhưng nội dung này thường trừu tượng hoặc đơn giản Trong thời kỳ phong kiến, đặc biệt là thời kỳ trung cổ, nhận thức về thế giới bị coi là tội lỗi, và khoa học bị xem là kẻ thù của chúa trời, bị kiềm hãm hoặc chỉ phục vụ cho tư tưởng thiên chúa và chế độ thần quyền tôn giáo.
Trong các thời đại sau, tri thức ngày càng thu hút sự chú ý của các nhà khoa học với nhiều phương pháp và mục đích khác nhau Nguyên lý cơ bản để xác định vai trò và ý nghĩa của tri thức vẫn dựa trên cuộc cách mạng công nghiệp, được xem là quan niệm chính thống trong lịch sử phát triển xã hội, khẳng định nền văn minh công nghiệp.
Theo GS.TSKH Vũ Đình Cự, tri thức được hiểu là sự hiểu biết có hệ thống mà con người có về các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên cũng như xã hội.
[35, tr.169] Nhưng cho đến nay có nhiều cách diễn giải khác nhau về tri thức Trong Từ điển Triết học của nhà xuất bản tiến bộ Mátxcơva cho rằng,
Tri thức là kết quả của hoạt động xã hội và tư duy con người, phản ánh những mối liên hệ khách quan đang biến đổi trong thực tế qua ngôn ngữ.
Tri thức được định nghĩa là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới thực, trong đó con người tái hiện các thuộc tính và quy luật của thế giới qua tư tưởng Điều này được diễn đạt dưới dạng ngôn ngữ hoặc các ký hiệu khác.
Tri thức, theo định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt của Văn Tân, là những hiểu biết tích lũy được từ quá trình hoạt động hệ thống và liên tục của trí tuệ trong một khoảng thời gian dài.
Tri thức được định nghĩa là kết quả của nhận thức, phản ánh trung thực thực tiễn vào tư duy con người, hay còn gọi là sự hiểu biết Nó bao gồm khả năng hiểu biết về thế giới khách quan và ứng dụng kiến thức vào thực tế Tri thức cũng là sự tích lũy thông tin và kỹ năng qua trải nghiệm Độ chính xác của tri thức được kiểm nghiệm qua thực tiễn Quá trình nhận thức bắt đầu từ các giác quan tiếp nhận đối tượng, tạo ra dữ liệu, sau đó được xử lý bởi hệ thần kinh và tư duy, chuyển hóa thành thông tin, quy luật, tri thức, trí tuệ, và cao nhất là minh triết.