1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ấn độ giáo và vai trò của nó đối với lịch sử ấn độ thời kỳ cổ trung đạI

78 848 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ấn Độ Giáo Và Vai Trò Của Nó Đối Với Lịch Sử Ấn Độ Thời Kỳ Cổ Trung Đại
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 238 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và cũng là trạm lu chuyển của các tôn giáo khác: Ixlam giáo, Kitô giáo...vì thế không ở đâu trên thế giới, tôn giáo lại giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của lịch sử đất nớc

Trang 1

Phần I- Dẫn luận

Lịch sử thế giới hiện đại đang chứng kiến những bớc chuyển biến của loài ngời từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh hậu công nghiệp, văn minh trí tuệ Tơng lai loài ngời sẽ phát triển về mọi mặt với những tiến bộ làm thay đổi cả cuộc sống trên trái đất Song sự tiến bộ ấy vẫn cha thể giải đáp cho nhân loại những vấn đề có tính chất vĩnh cửu nh mối quan hệ đối lập giữa chủ quan và khách quan, giữa cái tất nhiên và ngẫu nhiêm, giữa hữu hạn và vô hạn, giữa đau khổ và vui sớng, giữa lý tởng và hiện thực, giữa tình cảm và lí trí

Vả lại dù xã hội có phát triển đến trình độ cao thì sự khác biệt giữa con ngời

về phơng thức lao động, thu nhập, phơng thức sinh hoạt cũng có sự chênh lệch con ngời ở các hoàn cảnh khác nhau sẽ có trình độ nhận thức khác nhau, dẫn tới sự va chạm của các ý kiến khác nhau theo chiều hớng duy tâm và duy vật Tất cả những

sự phức tạp đó chính là điều kiện để cho tôn giáo tồn tại, cho nên cuộc sống của con ngời không thể dễ dàng gạt bỏ tôn giáo, nó chính là một nhu cầu tinh thần, một hiện tợng văn hoá của con ngời.

Hơn nữa, tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay, tồn tại cùng loài ngời trong một thời gian khó mà đoán định đợc Trong quá trình tồn tại và phát triển, tồn giáo ảnh hởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, t tởng, văn hoá xã hội đến tâm lý, đạo đức, lối sống của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc Vì thế, việc tìm hiểu tôn giáo và vai trò của nó đối với lịch sử xã hội loài ngời đang là một vấn đề thu hút nhiều ngời,quan tâm nghiên cứu.

Đất nớc ấn Độ bao la, huyền bí và quyến rũ này là quê hơng của những tôn giáo lớn: ấn Độ giáo, Phật giáo và cũng là trạm lu chuyển của các tôn giáo khác: Ixlam giáo, Kitô giáo vì thế không ở đâu trên thế giới, tôn giáo lại giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của lịch sử đất nớc ấn Độ

ấn Độ giáo không phải là một tôn giáo của thế giới nhng lại là một tôn giáo lớn của nhân dân ấn, và quá trình phát triển của nó gắn liền với lịch sử đất nớc ấn

Độ Đặc biệt trong thời kỳ cổ trung đại vai trò của ấn Độ giáo đợc thể hiện rõ nét nhất Mà chính điều đó tạo nên những bản sắc cốt lõi của Văn hoá tinh thần, dân tộc ấn Độ

Nghiên cứu đề tài "ấn Độ giáo và vai trò của nó đối với lịch sử ấn Độ cổ trung đại" không chỉ là nghiên cứu một vấn đề đã đợc cố định luận, mà ngợc lại khi ngày nay tôn giáo đang nổi lên nh là một vấn đề mang tính toàn cầu với chiến tranh sắc tộc, ly khai, chiến tranh tôn giáo còn đang xẩy ra một cách đẫm máu ở Paletin, Ixaren, Apganistxtăng, ở Pakistăng và ngay cả ở ấn Độ Thì việc nghiên cứu ấn Độ giáo và vai trò của nó, có ý nghĩa rất lớn trong giai đoạn lịch sử hiện nay.

Trang 2

-Phần II Nội dung

Những nhân tố tác động đến sự ra đời của ấn Độ giáo

Khung cảnh thiên nhiên, với dãy núi Himalaya cao nhất thế giới vắt ngang trên đất liền phía Bắc, với những dòng sông huyền diệu, những cánh đồng màu mỡ; cùng với biển cả bao bọc hai bờ Đông - Tây đã tạo cho đất nớc ấn Độ có sức hút lạ

kỳ Đó chính là cái nôi nuôi dỡng con ngời từ thở ban sơ Song trong buổi đầu bình minh của lịch sử loài ngời, những c dân sinh sống trên đất ấn Độ, phải đối phó với muôn vàn thử thách khắc nghiệt, những tại hoạ khủng khiếp và những bất trắc không lờng nh: lụt lội, hạn hán, dịch bệnh, chế chóc, đói khát và sự bất công điều

đó làm cho con ngời ấn cảm thấy cuộc đời thật ngắn ngủi, đầy chua xót.

Chính cuộc sống luôn bấp bênh, lo âu, phiền não, đã khiến ngời dân ấn luôn mơ ớc vơn tới một viễn cảnh của một cuộc sống an lành, tốt đẹp, vĩnh hằng Sống một cuộc sống "thiên đờng" không có sinh ly và tử biệt, hạnh phúc không còn bị những áng mây buồn che khuất Vì thế để thoả mãn sự khát khao đó, ng ời dân ấn đã nhào nặn ra một thế giới cho riêng mình Thế giới h ảo của thần linh Đó chính là những hạt mầm đầu tiên cho những t tởng tôn giáo sơ khai xuất hiện trên

đất ấn Độ.

Tuy nhiên, khi nhận thức của ngời ấn ngày càng phát triển, thì một thế giới

đa thần với những biểu tợng cụ thể, tợng trng không còn có sức hấp dẫn nữa Vì thế, tôn giáo sơ khai đó, đã đợc nhào nặn lại thành một tôn giáo mới, với tầm khái quát hoá, trừu tợng hoá cao hơn và tách hẳn khỏi cuộc sống con ngời, trở thành một lực lợng chi phối con ngời ấn Độ giáo ra đời trên cơ sở đó.

ấn Độ giáo quá trình hình thành phát triển

Thời kỳ Vêda đợc ớc tính vào khoảng 1500 đến 600 năm TCN gắn liền với

sự xâm nhập của ngời Aryan Sở dĩ gọi là thời kỳ Vêda bởi lịch sử ấn Độ đợc phản

ánh trong các tập của Kinh Vêda Nội dung của kinh Vêda gồm 4 cuốn: Rig Vêda, Samma - Vêda, Yajur - Vêda, Athara - Vêda Đây là thời kỳ đặt nền móng

-về thần phả, gíáo lý cũng nh -về nghi thức cho đạo Hindu Những thần linh trong giai đoạn này phần lớn là những biểu tợng cụ thể của tự nhiên nh thần Mặt trời, thần Sấm, thần Lửa những thần linh trừu tợng nh Brama, Visnu, Siva, cha xuất hiện Nó phản ánh mối quan hệ hoà đồng giữa con ngời với tự nhiên Thông qua cúng tế, hiến tế, xng tụng ca ngợi thần, họ hi vọng sẽ đợc giải thoát sau khi chết và tránh đợc mọi điều rủi ở đời Nh vậy giai đoạn Vêda mục đích tôn giáo vẫn còn mang nặng tính hủ tục, cha thoát khỏi tín ngỡng địa phơng, đó là những khúc hát thể hiện sự lạc quan, yêu đời của ngời ấn - Aryan

Tuy nhiên đến đầu thiên kỷ I TCN do sự phát triển của xã hội có giai cấp, sự không bình đẳng về các đẳng cấp ngày càng sâu sắc Cho nên các quan niệm tôn giáo thời Vêda có sự thay đổi Nó đợc nâng lên tầm triết lý thần bí, sâu xa hơn đó

là đạo Bàlamôn.

Đạo Bàlamôn đợc đánh dấu bằng vai trò ngày càng cao của đẳng cấp tăng lữ Bàlamôn, trong cúng tế, hiến tế, và uy thế của nó đối với đẳng cấp khác Đạo Bàlamôn đợc xây dựng trên 3 yếu tố: Đacma (đạo) là cách xử thế đúng đắn ở đời theo tập cấp Varna là chế độ đẳng cấp đợc sắp xếp theo trật tự của Đacma Asrama là các giai đoạn sống của con ngời Nhìn chung đạo Bàlamôn cho vạn vật trong vũ trụ là bất biến, con ngời sống chết theo quy luật luân hồi Song trong quá

Trang 3

trình phát triển với các nghi lễ, tập tục lễ luật hết sức phức tạp, khắt khe, cổ hủ đạo Bàlamôn mất dần uy thế trên bình diện thợng tầng xã hội Chỉ đến khi đạo Phật suy sụp thì đạo Bàlamôn mới khôi phục trở lại song đã bớc sang một giai đoạn cao hơn

là đạo Hindu.

Đạo Hindu về mặt thế giới quan là bớc trừu tợng các biểu tợng thần linh thời Bàlamôn Ba vị thần đợc tôn thờ nhiều là Brama (sáng tạo), Visnu (bảo tồn), Siva (huỷ diệt) Đồng thời về mặt nhân sinh quan, đạo Hindu thể hiện ở các cặp phạm trù: Atman - Brahman (tiểu ngã - đại ngã), Đhacma: những trật tự đợc quy định dựa trên bổn phận của con ngời Karma - Samsara đó là thuyết luân hồi nghiệp báo tồn tại ngoài ý muốn con ngời Môksa - Bhakti là con đờng để giải thoát bằng sự sùng tín thần linh và làm đúng bổn phận trong xã hội.

Tóm lại đạo Hindu là một sự tổng hợp nhiều thứ tôn giáo, tín ngỡng Nó là một quá trình vừa phủ định vừa kế thừa Vêda, Bàlamôn, thậm chí cả Phật giáo để tạo thành một tôn giáo chính thống ở ấn Độ.

Vai trò của ấn Độ giáo đối với lịch ấn Độ cổ - trung đại

Vai trò của ấn Độ giáo trên lĩnh vực T tởng - Chính trị:

Mới thoát thai từ cuộc sống hoang dã, con ngời bớc vào kỷ nguyên xây dựng xã hội của mình còn mang theo nhiều tàn d của chế độ công xã thị tộc thấp kém Vì thế sự nhận thức về tự nhiên còn nhiều hạn chế, khi bớc vào xây dựng xã hội của mình lại gặp ngay phải những lực cản ghê gớm đè nén: chế độ đẳng cấp, sự bóc lột, chết chóc Vì thế làm cho con ngời cảm thấy cuộc sống thật mong manh,

đầy lo âu phiền não Cuộc đời thật khắc nghiệt và ngắn ngủi Cho nên cách duy nhất làm cho con ngời thanh thản, thoát khỏi những nỗi khổ đau đó là tìm đến tôn giáo.

Nh vậy ấn Độ giáo đã đáp ứng một nhu cầu nào đó sâu kín trong con ngời

ấn Nó trở thành một chỗ dựa tinh thần không thể thiếu của nhân dân ấn Độ Song

đó cũng là một hạn chế bởi nó đã làm cho con ngời ấn luô mang t tởng khuất phục, sống an phận thủ hoà mà không đứng lên đấu tranh

Trong lúc đó giai cấp thống trị để duy trì và củng cố địa vị của mình họ sử dụng ấn Độ giáo nh là một công cụ chính trị đắc lực phục vụ cho chế độ ấn Độ giáo cho rằng xã hội có giai cấp và chủng tính là không thay đổi, do thần thánh tạo nên, bất di bất dịch Nh vậy giáo lý ấn Độ giáo đã giữ vai trò trong việc uy hiếp tinh thần của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị Bao che cho chế độ chủng tính, tạo cho giai cấp bị trị sự hoài nghi vào khả năng tự giải phóng của mình.

Đồng thời bào chữa cho tình trạng bất bình đẳng trong xã hội Tuy nhiên cũng phải thừa nhận vai trò của ấn Độ giáo trong việc tập hợp các nhóm vốn thù địch lẫn nhau vào một xã hội chung cùng tôn giáo Thế nhng đó cũng là một nét hạn chế bởi nó tạo nên một lối sống tôn giáo tiêu cực trong xã hội Ngời dân ấn đã xem vấn đề tôn giáo hơn là vấn đề dân tộc và chính trị Vì thế đất nớc ấn Độ luôn luôn rối ren, không thống nhất về mặt chính trị và luôn bị ngoại xâm thống trị.

Vai trò của ấn Độ giáo trên lĩnh vực Xã hội - Kinh tế thời cổ - trung đại.

ấn Độ giáo trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ thời Vêda đếnBàlamôn và Hindu ngày càng giữ vai trò thiết yếu trong xã hội ấn Độ Đó là

Trang 4

đã xác lập một cơ cấu xã hội, tạo nên một trật tự xã hội bị ràng buộc bởi sợidây tô giáo vô hình.

ấn Độ giáo cho rằng con ngời là do thần Brama sáng tạo nên,vì thếnhững ví trí của con ngời trong xã hội là do thần sắp đặt Con ngời phải làmviệc theo đúng bổn phận của mình, chịu đựng nhẫn nhục, không kêu caghanh ghét với những ngời khác

Phần I- Dẫn luận

Trang 5

1- Lý do chọn đề tài:

Lịch sử thế giới hiện đại đang chứng kiến những bớc chuyển biến củaloài ngời từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh hậu công nghiệp,văn minh trí tuệ Tơng lai loài ngời sẽ phát triển về mọi mặt với những tiến

bộ làm thay đổi cả cuộc sống trên trái đất Song sự tiến bộ ấy vẫn cha thểgiải đáp cho nhân loại những vấn đề có tính chất vĩnh cửu nh mối quan hệ

đối lập giữa chủ quan và khách quan, giữa cái tất nhiên và ngẫu nhiêm, giữahữu hạn và vô hạn, giữa đau khổ và vui sớng, giữa lý tởng và hiện thực, giữatình cảm và lí trí

Và nếu nh mai đây, khi con ngời lý giải đợc các vấn đề đó thì vẫn cònnhững vấn đề khác nảy sinh, con ngời vẫn cha thoát khỏi đợc những nỗi bấthạnh và dày vò cá nhân, những cảm giác trống rỗng, thiếu hụt và mất cânbằng về tâm lý trớc bệnh tật, giữa sinh ly và tử biệt Vả lại dù xã hội có pháttriển đến trình độ cao thì sự khác biệt giữa con ngời về phơng thức lao động,thu nhập, phơng thức sinh hoạt cũng có sự chênh lệch Hơn nữa về mặt nhậnthức, con ngời ở các hoàn cảnh khác nhau sẽ có trình độ nhận thức khácnhau, dẫn tới sự va chạm của các ý kiến khác nhau theo chiều hớng duy tâm

và duy vật Tất cả những sự phức tạp đó chính là điều kiện để cho tôn giáotồn tại, cho nên cuộc sống của con ngời không thể dễ dàng gạt bỏ tôn giáo,

nó chính là một nhu cầu tinh thần, một hiện tợng văn hoá của con ngời

Tuy vậy, tôn giáo cũng có quá trình phát triển của nó Tôn giáo chỉnảy sinh khi nhận thức của con ngời đạt đến một trình độ nhất định Và nóthực sự mất đi, khi con ngời hoàn toàn nắm đợc qui luật khách quan của tựnhiên - xã hội và bản thân con ngời không còn bị lực lợng tự nhiên và xã hộichi phối Xét trong thời điểm lịch sử hiện đại những vấn đề đó cha thể giảiquyết đợc bởi trình độ của con ngời cha thực sự "mu sự tại nhân, thành sựcũng tại nhân" Cho nên tôn giáo cha thể bị diệt vong, ngợc lại nó lại nổi lênngày càng mạnh mẽ Hơn nữa, tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời vàphát triển từ hàng ngàn năm nay, tồn tại cùng loài ngời trong một thời giankhó mà đoán định đợc Trong quá trình tồn tại và phát triển, tồn giáo ảnh h-ởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, t tởng, văn hoá xã hội đến tâm lý, đạo

đức, lối sống của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc Vì thế, việc tìm hiểu tôngiáo và vai trò của nó đối với lịch sử xã hội loài ngời đang là một vấn đề thuhút nhiều ngời,quan tâm nghiên cứu

Trang 6

Đất nớc ấn Độ bao la, huyền bí và quyến rũ này là quê hơng củanhững tôn giáo lớn: ấn Độ giáo, Phật giáo và cũng là trạm lu chuyển củacác tôn giáo khác: Ixlam giáo, Kitô giáo vì thế không ở đâu trên thế giới,tôn giáo lại giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của lịch sử đất nớc

ấn Độ

ấn Độ giáo không phải là một tôn giáo của thế giới nhng lại là một tôngiáo lớn của nhân dân ấn, và quá trình phát triển của nó gắn liền với lịch sử

đất nớc ấn Độ Đặc biệt trong thời kỳ cổ trung đại vai trò của ấn Độ giáo

đ-ợc thể hiện rõ nét nhất

Là một sinh viên chuyên nghành Lịch sử, việc nghiên cứu ấn Độ giáo

và vai trò của nó là một điều cần thiết, ngoài việc hiểu sâu sắc hơn về vănhoá dân tộc ấn, còn nhằm rút ra nhiều bài học trong việc đa ra các giải phápcho các vấn đề tôn giáo hiện nay Đợc sự gợi ý của giáo viên hớng dẫn vàqua quá trình bày tìm hiểu chúng tôi nhận thấy rằng trong các công trìnhnghiên cứu về ấn Độ giáo thì một mảng lớn cha đợc đề cập nhiều, đó chính

là sự tổng hợp một cách lôgic các giai đoạn phát triển của ấn Độ giáo, đặcbiệt là vai trò của nó trong lịch sử cổ - trung đại ấn Độ Mà chính những

điều đó tạo nên những bản sắc cốt lõi của văn hoá tinh thần dân tộc ấn Độ

Nghiên cứu đề tài "ấn Độ giáo và vai trò của nó đối với lịch sử ấn Độ

cổ - trung đại" không chỉ là nghiên cứu một vấn đề đã đợc cố định luận, màngợc lại khi ngày nay tôn giáo đang nổi lên nh là một vấn đề mang tính toàncầu với chiến tranh sắc tộc, ly khai, chiến tranh tôn giáo còn đang xẩy ramột cách đẫm máu ở Paletin, Ixaren, Apganistxtăng, ở Pakistăng và ngay cả

ở ấn Độ Thì việc nghiên cứu ấn Độ giáo và vai trò của nó cũng góp mộtphần nào lý giải các vấn đề trên

Hơn nữa nghiên cứu đề tài này cũng giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cácvấn đề tôn giáo, tại sao lại có tác động mạnh mẽ tới con ngời, tại sao tôn giáolại mê hoặc con ngời và có sức lôi kéo mạnh mẽ nh thế

Việt Nam không sản sinh ra tôn giáo song lại mảnh đất có mặt hầu hếtcác tôn giáo của thế giới Tôn giáo ở Việt Nam cũng có những tác độngkhông nhỏ tới sự phát triển của lịch sử Chính vì thế nghiên cứu đề tài nàymột mặt vừa giúp chúng ta hiểu hơn về con ngời, đất nớc ấn Độ, mặt kháckhi Việt Nam xây dựng XHCN thì phải có những giải pháp gì để giải quyếtcác vấn đề của tôn giáo

Trang 7

Chính những lý do đó tôi quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu.

2 Lịch sử đề tài

ấn Độ xứ sở của những con sông chảy "vắt vẻo trên bầu trời", vớinhững ngọn núi quanh năm tuyết phủ đợc coi là nơi ngự trị của các vị thầnlinh, đất nớc của những trờng ca mà đứa trẻ sinh ra, lớn lên và từ biệt cõi đờicũng không thể nào hiểu hết nổi Chính sự huyền diệu và kì bí đó đã có sứclôi cuốn biết bao thế hệ ngời từ thời cổ cho đến hiện đại luôn ao ớc, đợckhám phá nó

Vì thế, nghiên cứu về đất nớc ấn không phải là một điều gì mới mẻ và

xa lạ, đặc biệt là tôn giáo

Ngay ở thế kỷ V tr.CN cha đẻ của nền sử học thế giới Herodốt, cũng

đã nghiên cứu về ấn Độ Hay nh Vatxcôđơ - Gama đã dành trọn cả cuộc đờiphiêu lu của mình đi tìm ấn Độ Grittốp Côlông tìm ra châu Mỹ mà cứ ngỡ

đó là xứ sở của ấn Độ cổ kính

Riêng về ấn Độ giáo, khối lợng nghiên cứu đợc đo bằng khối lợng cáctác phẩm, kinh sách, bình chú, đánh giá, các luận văn hết sức đồ sộ Songtựu trung lại việc nghiên cứu ấn Độ giáo và vai trò của nó nằm ở các loạihình:

Loại hình nghiên cứu dới dạng t tởng triết học:

Phó tiến sỹ Doãn Chính Trờng ĐH KHXHNV thành phố HCM với đềtài: "T tởng giải thoát trong triết học ấn Độ" đã nghiên cứu ấn Độ giáo dớigóc độ là một t tởng giải thoát Tác giả đã nêu lên t tởng giải thoát là vấn đềtrung tâm của triết học ấn Độ, đồng thời lý giải các nội dung t tởng giảithoát trong triết học ấn Độ thời kỳ Vêda và Bàlamôn giáo, nhất là biểu hiệncủa t tởng giải thoát trong Vêda và Upasishad

Giáo s Nguyễn Đức Đàn nghiên cứu ấn Độ giáo cũng ở dạng t tởngtriết học: "Bởi lẽ trong lịch sử t tởng chúng ta đã thấy rằng bất cứ một tôngiáo lớn nào cũng đều có một cốt lõi triết học" [6; tr7] Trong tác phẩm " T t-ởng triết học và đời sống văn hoá - văn học ấn Độ" tác giả nêu lên sự tác

động của ấn Độ giáo dới góc độ triết học vào trong các lĩnh vực văn hoá văn học ấn Độ

-Ngoài ra có các tác phẩm nh "Đại cơng triết học Phơng Đông": củaMinh Chi - Hà Thúc Minh ( ĐH Tổng hợp TP HCM) "Đại cơng lịch sử triết

Trang 8

học phơng Đông cổ đại" của Doãn Chính, Trơng Chung (NXB ĐH - GDchuyên nghiệp HN - 1991); "Lịch sử triết học ấn Độ - cổ trung đại" trong tập

"Lịch sử triết học" của Hà Văn Tấn (NXB văn hoá t tởng 1991); " Nhập môntriết học ấn Độ" của Lê Xuân Khoa (Bộ GDSG 1972) Sách nớc ngoài có

"Nhng phát kiến về ấn Độ" của J Nehru (NXB văn học - HN - 1990) đãnghiên cứu triết học, tôn giáo ấn trong nền văn hoá chung của ấn Độ Từ ch-

ơng III đến chơng V với: "Bức tranh toàn cảnh về quá khứ ấn Độ"; "Sứcmạnh và nhợc điểm của ấn Độ"; "Những ghi chép bộ kinh và thần thoại sớmnhất"; "Kinh Vêda"; "Chấp nhận và phủ nhận cuộc sống"; "KinhUpanishat" tác giả đã phân tích, đánh giá những giá trị của triết lý giảithoát trong tôn giáo ấn Độ cổ đại; "áo nghĩa th Upanishad" (NXB An Tiêm

SG 1972)

Tóm lại các tác phẩm này khi nghiên cứu về ấn Độ giáo đều ở dớidạng triết học, mặt dù đi sâu phân tích khá sâu sắc, chặt chẽ, các nội dunggiáo lý của ấn Độ giáo song chỉ đề cập ở t tởng giáo thoát, cha thấy rõ vaitrò của nó trong lịch sử ấn Độ cổ trung đại Còn cha lý giải thấu đáo và có

hệ thống, chỉ để cập ở mặt này hay mặt kia của ấn Độ giáo mà thôi

Loại hình nghiên cứu dới góc độ văn hoá - văn học:

Các tác phẩm "Văn hoá ấn Độ" của Nguyễn Tấn Đắc (NXB TP HCM2000); "Văn học ấn Độ" của Lu Đức Trung (NXB GD 1997); "Tìm hiểu vănhoá ấn Độ" của Nguyễn Thừa Hỷ (NXB Văn hoá 1986), tác giả đề cập tớivai trò của tôn giáo: "Tôn giáo còn toả ảnh hởng đến tất các ngành văn hoánghệ thuật ở ấn Độ Thế giới thần linh đã tạo nên nguồn cảm hứng và có mặttrong hầu hết các loại hình nghệ thuật nh thơ, văn, kịch nhạc, kiến trúc ”

Hầu hết các tác giả đều hệ thống lại một cách tóm tắt nội dung củagiáo lý- hệ thống thần trong ấn Độ giáo song chỉ là sự miêu tả Vai trò của

ấn Độ giáo chỉ ở mức độ ảnh hởng tới đời sống tinh thần, văn học, còn vềmặt xã hội còn thiếu và cha thể hiện đợc lôgíc vấn đề

Loại hình nghiên cứu dới dạng lịch sử:

"Lịch sử thế giới cổ đại" của Lơng Ninh, Chiêm Tế; "Lịch sử thế giớitrung đại" của Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Hiển Lê "Lịch sử ấn Độ của VũDơng Ninh (NXBGD 1995) "Lịch sử văn minh ấn Độ" của Will Durant doNguyễn Hiển Lê dịch (Lá Bối- SG- 1971) Với các chơng: chơng I- "Tổngquan về ấn Độ" có các mục "Tôn giáo trong các kinh Vê đa", "Triết lý trong

Trang 9

các Upanishad"; chơng VI- "Đời sống tinh thần" với các đề mục "Sáu hệthống Bàlamôn chính thống" Tuy nhiên, do nghiên cứu ở bình diện củamột nền văn hoá, văn minh chung nên về t tởng tôn giáo chỉ mới trình bày ởdạng khái quát.

Nhìn chung các tác phẩm ở loại hình này cha hệ thống, nằm rải tác ởcác chơng mang tính khái quát lịch sử, cha trở thành hệ thống liên hoàn vàvai trò của ấn Độ giáo cha đợc thể hiện rõ nét, nằm lẫn trong các thành tựuvăn hoá

Loại hình nghiên cứu dới dạng t tởng- chính trị- tôn giáo:

Phó giáo s Dơng Xuân Ngọc với đề tài "Lịch sử t tởng chính trị" (NXBChính trị Quốc gia HN-2001) đã nghiên cứu quá trình phát triển của ấn Độgiáo dới các trào lu t tởng chính trị: "T tởng chính trị mang tính tôn giáoBàlamôn là một thứ lí luận nhằm bào chữa cho tình trạng bất bình đẳng trongxã hội Nó là một thứ giáo lý nhằm mục đích thủ tiêu đấu tranh giai cấp" [20;tr76] Nh vậy tác giả xem Bàlamôn giáo là một công cụ t tởng chính trị hoàntoàn không phải là một tôn giáo của quần chúng, hơn nữa ấn Độ giáo cũngcha đợc tác giả chú ý

Nguyễn Gia Phu (ĐH Đà Lạt) trong đề tài "Lịch sử t tởng Phơng Đông

và Việt Nam" đã tổng hợp một cách cơ bản quá trình phát triển của ấn Độgiáo, song vai trò của ấn Độ giáo không đợc đề cập tới

Cuốn "Các tôn giáo" của Paul Poupard (NXB Thế giới HN-2001) cũngchỉ dừng lại ở việc nêu ra nguồn gốc và các vị thần trong ấn Độ giáo

Nhìn chung ở loại hình này về cơ bản tập hợp đợc lôgíc sự phát triểncủa ấn Độ giáo Song vai trò của nó trong lịch sử chỉ thể hiện ở mặt xem nó

là một công cụ t tởng, cha thấy đợc vai trò của ấn Độ giáo

Trang 10

Ngoài ra, còn có loại hình nghiên cứu dới góc độ văn minh, xem đó lànhững thành tựu về văn hoá tinh thần của con ngời nh tác phẩm "Những nềnvăn minh thế giới" của (Almanach); "Lịch sử văn minh thế giới" của Vũ D-

ơng Ninh (NXB GD-2000)

Nh vậy, để nhận biết một cách có hệ thống và cụ thể chúng tôi chọn

đề tài này không tham vọng tìm ra các gì mới mà chỉ là sự tổng hợp lại cácvấn đề đã đợc nghiên cứu và làm sáng rõ một số vấn đề về vai trò của ấn Độgiáo đối với Lịch sử ấn Độ cổ- trung đại mà thôi Mặc dù có sự chuẩn bị kháchu đáo song bản thân là một sinh viên cha có đủ điều kiện để nghiên cứu,tìm hiểu hết các công trình đã nghiên cứu về ấn Độ giáo Đặc biệt là các tácphẩm bằng tiếng nớc ngoài Chính vì thế sẽ còn tồn tại nhiều thiếu sót vàkhiếm khuyết Chúng tôi mong muốn đợc thầy hớng dẫn, các thầy cô, bạn bè

đồng nghiệp góp ý để bài nghiên cứu sau sẽ tốt hơn

3 Phơng pháp nghiên cứu:

Dựa trên các tác phẩm nghiên cứu về ấn Độ ở các phơng diện: Lịch sử

- Văn hoá - Triết học - Tôn giáo của các tác giả khác nhau; Đề tài " ấn Độgiáo và vai trò của nó đối với lịch sử ấn Độ cổ- trung đại" đợc trình bày trêncơ sở tổng hợp- hệ thống hoá các công trình đã đợc nghiên cứu Đồng thời

sử dụng các phơg pháp phân tích logic lịcg sử, chứng minh

Mặc dù đề tài nghiên cứu về một tôn giáo của nớc ngoài, song đợcnhìn nhận trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nó phù hợp với t t-ởng đờng lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam

4- Đối tợng và phạm và giới hạn đề tài:

Xuất phát từ mục đích, yêu cầu, đề tài "ấn Độ giáo và vai trò của nó

đối với lịch sử ấn Độ thời kỳ cổ - trung đại" đợc nghiên cứu trong giới hạnlịch sử ấn Độ thời kỳ cổ -trung đại Và đối tợng đề tài tập trung nghiên cứu

là trên lĩnh vực tôn giáo Đồng thời đề cập tới vai trò của tôn giáo đó trênmột số lĩnh vực về Kinh tế- Xã hội- T tởng - Văn hoá

5- Bố cục của đề tài : 3 chơng

Ch ơng I : Những nhân tố tác động đến sự ra đời của ấn Độ giáo.

1.1 Nhân tố về địa lý- tự nhiên

Trang 11

1.2 Nhân tố về cơ cấu các thành phần tộc ngời ở ấn Độ

1.3 Nhân tố về tín ngỡng dân gian ấn Độ

Ch ơng II: ấn Độ giáo- quá trình hình thành và phát triển.

2.1 Khái quát lịch sử ấn Độ thời cổ đại- trung đại

2.2 ấn Độ giáo thời kỳ Vêda

2.3 ấn Độ giáo thời kỳ Bàlamôn

2.4 Thời kỳ Hindu giáo ở ấn Độ

Ch ơng III: Vai trò của ấn Độ giáo đối với lịch sử ấn Độ cổ- trung

đại.

3.1 Vai trò ấn Độ giáo trên lĩnh vực T tởng - Chính trị

3.2 Vai trò của ấn Độ giáo trên lĩnh vực Xã hội - Kinh tế ấn Độ thời

cổ - trung đại3.3 Vai trò của ấn Độ giáo trên lĩnh vực Văn hoá ở ấn Độ cổ - trung

Trang 12

nhiên Nh vậy, từ một lực lợng ở trần thế đã trở thành một lực lợng siêu trầnthế chi phối con ngời Tôn giáo ra đời.

Cũng giống nh sự ra đời của các tôn giáo khác trên thế giới, đất nớc

ấn Độ với sự huyền bí- kì vỹ của tự nhiên là mảnh đất màu mỡ cho sự hìnhthành các tôn giáo nh Bàlamôn giáo, Phật giáo, Jaina giáo, đạo Xích

Đất nớc ấn Độ đợc biết đến nh là một tiểu lục địa của thế giới, bởi ờng biên giới đợc xác định bằng những ranh giới tự nhiên thật rạch ròi Dãynúi cao chắn ngang phía Bắc sừng sững nh bức tờng, chia cắt ấn Độ vớiTrung Quốc, Nêpan, Butan Hai cánh phía Nam đợc bao bọc bởi mặt biểnbao la rộng lớn Thiên nhiên dờng nh muốn tách mảnh đất này ra khỏi thếgiới xung quanh Thế nhng với vị trí địa lý, ấn Độ nằm trên hành lang Đông-Tây, mặc núi cao, biển rộng cũng không ngăn cản đợc bớc chân của các tộcngời đến đất ấn, trái lại là nơi gặp gỡ của nhiều giống ngời, cũng nh cácluồng văn minh

đ-Phía Bắc nơi có đèo Kaboul hiểm trở, là nơi xuất phát của những cuộcchiến tranh đẫm máu trong lịch sử, và nơi đây cũng còn in dấu chân củanhững dòng ngời, cũng nh các dòng văn hoá khác tràn vào ấn Độ

Mặt biển phía Nam, với những vịnh nhỏ là nơi trú ngụ lý tởng cho tàu

bè phơng xa.Với điều kiện thiên nhiên vừa khép kín, vừa hé mở với bênngoài, đó đã tạo nên một sự phức hợp trong tính cách con ngời ấn, vừa hớngnội một cách đậm nét bền vững nhng lại vừa phóng khoáng trong sự tởng t-ợng vợt ra khỏi hiện thực tồn tại của mình

Đi sâu vào lục địa ấn Độ, sự biệt lập giữa các miền càng đợc thể hiện

rõ nét

Phía Bắc là dãy núi Hymalaya gồm nhiều dãy núi trùng điệp, chạysong song theo hình vòng cung vắt ngang trên bầu trời Nơi đây đợc biệtdanh là nóc nhà của thế giới, bởi quanh năm băng truyết phủ kín, vì thếHymalaya còn đợc gọi là "nơi ngự trị của tuyết" Bên cạnh những ngọn núicao lại có những thung lũng ở phía Tây và phía Nam, đợc mở rộng tạo nênnhững cánh cửa cho phép ấn Độ tiếp xúc với bên ngoài, nh đèo Kaboul trêndãy Hindukush và đặc biệt là thung lũng mộng mơ Casơmia đợc ví là "thiên

đờng của hạ giới" Trong lúc đó ở phía Đông lại là nơi tập trung của cácngọn núi cao (có hơn 40 ngọn núi cao trên 6000mét) đỉnh Everst cao

Trang 13

9676mét với vẻ đẹp bí hiểm lạ kỳ, đã thôi thúc bao thế hệ ngời muốn chinhphục và khám phá nó.

Tuy vậy, điều đặc biệt mà dãy Hymalaya luôn đợc ngời dân ấn Độ tựhào ở chỗ, nó đã gắn liền với lịch sử- văn hoá ấn Độ Bởi dãy Hymalayachính là "Vạn lý trờng thành" vững chãi đã ngăn chặn vó ngựa của các đoànquân xâm lợc từ ngoài vào ấn Độ, không chỉ có thế bức bình phong sừngsững này là nơi nuôi sống các tộc ngời ấn Thảm thực- động vật ở vùng chânnúi với những rừng cây rậm rạp, ẩm thấp là nơi trú ẩn của nhiều loài thú dữ

nh hổ, báo, tê giác, khỉ Cùng với các loài thực vật tre trúc, đa đề, dây leo

và loài cây đợc a chuộng và đợc xem là chúa của các loài cây là cây Sôma.Chính sự đa dạng của thảm thực động vật là nguồn thức ăn lí tởng cho cáctộc ngời Ngoài ra dãy Hymalaya đã ngăn chặn những luồng khí hậu khắcnghiệt của lục địa tràn vào ấn Độ, tránh sa mạc hoá nh các nớc khác cùng vĩ

độ

Chính vì thế, Hymalaya giữ một vai trò rất quan trọng đối với đời sốngvăn hoá truyền thống ấn Độ Bao nhiêu luồng t tởng triết học, tôn giáo đãnảy nở dới bóng cây um tùm và yên tĩnh của Hymalaya Không phải là quákhi nói rằng những dòng văn hoá lớn cũng nh các dòng sông lớn ở ấn đềubắt nguồn từ Hymalaya Nhà thơ Kiladasa thế kỷ V gọi Hymalaya là của tấtcả các núi giăng ngang giữa 2 đại dơng, là con sào để đo trái đất Còn ngờidân ấn trong trí tởng tợng của họ thời cổ đại, Hymalaya là thứ "trụ trời", làhình ảnh cụ thể của ngọn núi thần thánh Mêru Vì thế Hymalaya đợc xem lànơi trú ngụ của thần linh, của sự cao cả và cũng là thế giới thuần tuý của tinhthần Các nhà đạo sĩ khổ hạnh thờng lấy rặng Hymalaya với phong cảnhhùng vĩ và vắng lặng làm nơi toạ thiền, tu hành khổ luyện để mong ngày đắc

đạo Các loài cầm thú- thảo mộc là những hình ảnh quen thuộc trong đờisống của con ngời Vì thế trong con mắt ngời dân ấn nó đợc xem là bầu bạn

và cũng mang một số kiếp luân hồi nh con ngời

Ngoài ra ngời dân ấn còn xem Hymalaya là ngôi đền tự nhiên mà tấtcả những ngôi đền do con ngời tạo ra, phải lấy đó làm mẫu, vì thế chóp đềngọi là Sikhara (đỉnh núi)

Trang 14

Nh vậy, Hymalaya đã kích thích mạnh mẽ sự hoạt động tinh thần củangời ấn Độ, đến đời sống tâm linh của ngời ấn và đợc xem là nguồn gốccảm hứng nảy nở tôn giáo Bởi nó đã trở thành một lực lợng siêu tự nhiên.

Gắn bó với Hymalaya là đồng bằng mênh mông vùng Bắc ấn, đợc tạobởi 2 con sông đã đi vào huyền thoại, là sông ấn ở phía Tây và sông Hằng ởphía Đông kéo dài từ bờ biển Ôman đến vịnh Bengan trên một chiều rộngkhoảng 200- 600km và chiều dài trên 3600km

Sông ấn dài 3000km bắt nguồn từ dãy Hymalaya chạy theo hớng Bắc bán đảo đến vùng Pen giáp phía Nam Casơmia tách thành 5 chi lu đổ rabiển Arập tạo thành châu thổ rộng 5000km2 Lu lợng hàng năm của sông ấn

Tây-ớc chừng khoảng 274 tỉ m3, nó gấp 2 lần sông Nin và 3 lần sông Tigiơ và

Ơphrát cộng lại Tuy vậy, sông ấn khó phát triển nông nghiệp vì lu lợng nớcgiữa 2 mùa chênh lệch, mùa đông lu lợng nhỏ do băng tuyết không tan, mùa

hè nhiều ma lớn dâng lũ lụt Hơn nữa, do khí hậu vùng sông ấn thờng khôkhan, nớc dễ bốc hơi, lại bị chia cắt bởi các bình nguyên, vì thế việc pháttriển nông nghiệp ở vùng này phải cần nhiều công sức của con ngời trongviệc trị thuỷ và làm thuỷ lợi

Trong khi đó sông Hằng ở miền Đông bắc ấn lại là vựa lúa và là nơiphát triển các loại cây lơng thực chủ yếu của ấn Độ Bởi lu lợng nớc ở sôngcao do ma nhiều và băng tan, đặc biệt lợng phù sa ở hạ lu nơi sôngBrahmapritra hợp nhất với sông Hằng tạo cho vùng này lợng phù sa dày 600-800m Chính sự màu mỡ kết hợp với khí hậu nhiệt đới đã tạo cho sông Hằng

có một vai trò quan trọng trong lịch sử ấn Độ

Nếu nh sông ấn là nơi dòng sông cổ xa đợc mang tên của đất nớc ấn

Độ (Indus) và đợc nhắc nhiều trong bộ kinh Vêđa, bởi đây là cái nôi đầu tiêncủa nền văn minh ấn thời Harappa và Mohengio Đarô thì sông Hằng lại cómột chỗ đứng rất riêng trong đời sống văn hoá, tình cảm của ngời ấn, nóchính là biểu tợng cho sự giàu có và sự dồi dào về đời sống vật chất và tinhthần của ngời dân ấn Độ

Sông Hằng đã đi vào truyền thuyết và trở thành vị thần bảo trợ chocuộc sống và con ngời ấn bởi "nữ thần Ganga từ trên trời đi xuống trên máitóc của Siva và Bhagiratha đã cầu xin giữ lại trong chốc lát và chỉ cần mộtgiọt nớc của dòng sông đó cũng đã tàn phá cả thế giới Rồi Bhagaratha dẫn

Trang 15

dòng sông đi theo mình để thanh lọc Nhng dòng sông vẫn thình lình bị ẩn sĩJahnu nuốt gọn vì nó đã dám nhấn chìm túp lều ở ẩn của ông May nhờBhagiratha van xin, nhà ẩn sĩ mới cho chảy ra lại qua lỗ tai của mình Do đócon sông lại mang tên là Jahnavi tức là con gái của Jahnu" [8; tr24].

Còn theo quan niệm của ngời ấn sông Hằng đợc thần Siva kéo xuống

từ trên trời sau đó xuống trần thế tạo thành 7 nguồn sông ở bên sờn rặngHimalaya, vì thế nó có tên gọi là Haimavati tức con gái Himalaya và cuốicùng nó chảy xuống thế giới âm phủ nên có tên gọi là Patalaganga

Nh vậy sông Hằng đợc xem là linh thiêng thần thánh, nó đã chảy qua

3 thế giới thiên - cõi trần và âm phủ vì thế nớc sông Hằng có sức thanh lọcrất lớn chỉ cần gọi đến tên nó thì cũng đã gột rửa đợc tâm hồn Và đặc biệtviệc đến thành phố Vanarasi (Benarat) nơi hành hơng linh thiêng nhất củangời ấn đợc tắm trong làn nớc thần thánh của sông Hằng và đợc chết bên bờsông Hằng là một diễm phúc lớn nhất của cuộc đời

Dòng sông Hằng có sức thanh lọc thần kỳ này từ buổi bình minh xa xacủa lịch sử đã gọi đến bên mình hàng triệu ngời ấn đến để đợc tẩy gột mọi

uế tạp tội lỗi Tắm nớc sông Hằng là một hành động tôn giáo linh thiêng,trong các lễ thì lễ Kunubh Mela là một ngày hội tắm lớn ở sông Hằng và việchành hơng lên thợng nguồn sông Hằng là việc làm có ý nghĩa nhất trongcuộc đời, đến để tìm mong phớc lành và một niềm an ủi cho cuộc sống trầngian

Ngoài ra nớc ở các con sông khác ở ấn Độ nhận nớc sông Hằng cũng

có tác dụng nh thế, cho nên trong lễ cầu nguyện, trớc khi tắm gội mỗi sángngời ta thờng đọc: "Oh ye Ganga và Yamuna Godavavi và Sarasvati, ohNarmadi Sindhu và Kaveri hãy về ở trong nớc này mà tôi tắm" (đây là têncủa 7 con sông ở ấn Độ) Không chỉ có thế, lịch sử của sông Hằng là lịch sửcủa ba triều đại lên xuống, thịnh suy của chế độ phong kiến Nó là chiếc nôikhai sinh ra những đế quốc lừng danh trong lịch sử, dấu tích còn lại là nhữngkinh thành cổ kính với những cột tháp, những lâu đài tráng lệ soi bóng bên

bờ sông "Câu chuyện dòng sông Hằng từ ngọn nguồn của nó đến biển cả, từthời xa xa đến nay, là câu chuyện của nền văn minh và văn hoá ấn Độ" [12;tr71]

Trang 16

Vùng thợng lu sông Hằng và sông Yamuna cùng với vùng đất KarukSetra ở giữa là Thethhindustan (là xứ ấn đích thực) Vậy là sông ấn và sôngHằng chính là cái nôi của nền văn minh ấn Độ, sự ra đời của các tôn giáo ở

Xét về mặt kinh tế miền Đêcăng khí hậu nóng và khô ít có giá trị lớntrong nông nghiệp, ngoại trừ những đồng bằng nhỏ hẹp ở ven biển, cho nêncon ngời ở đây chịu sự tác động mạnh của thiên nhiên, điều đó dẫn tới hiện t-ợng "sức nóng nó làm cho cơ thể ta suy nhợc, con ngời mau già chỉ có mỗimột cách chống với sức nóng đó là ngồi yên không ham muốn gì hết Mùa

hè, gió mùa thổi, ma đổ xuống không khí mát mẻ đợc một chút, đất đai trồngtrọt đợc, nhng khi nó ngừng thổi thì ấn Độ lại chịu nạn đói và chỉ mơ tởng

đến cảnh viết bàn" [32;tr40]

Đó chính là cơ sở cho sự hình thành các tín ngỡng tôn giáo ở vùngnày

Nhìn chung thiên nhiên ấn có vai trò quan trọng trong đời sống vậtchất- tinh thần của ngời ấn, nó là cái nôi nuôi dỡng con ngời từ thuở bìnhminh hoang dã, song thiên nhiên với sự huyền bí và uy lực của nó lại gây chocon ngời biết bao bất trắc, khổ hạnh và để lý giải điều đó con ngời thờng mơ

ớc, cầu mong một cuộc sống tốt đẹp hơn, mong thoát khỏi thiên tai, dịchbệnh thú dữ, đói khát, già nua mong đợc một cuộc sống mà không có cáichết, sống ở thiên đàng Đó chính là nguồn t duy đơn giản hình thành nênluồng tín ngỡng, phong tục, tập quán, hội hè của ngời dân ấn, tạo nên bớc

đệm cho các tôn giáo lớn đợc hình thành

1.2 Nhân tố về cơ cấu các thành phần tộc ngời ở ấn Độ.

Trang 17

ấn Độ là một đất nớc có sự đa dạng và phức tạp về các thành phần tộcngời Suốt hàng ngàn năm lịch sử, trải qua nhiều đợt thiên di, những cuộcxâm nhập, ấn Độ đã tồn tại và tiếp nhận nhiều làn sóng ngời khác nhau vào

và trụ lại ở đấy Những tộc ngời pha trộn với nhau, tạo thành một hỗn hợpnhân chủng khó tách biệt Tuy nhiên về đại thể có thể chia thành các nhómngời sau:

Ngời Nêgrôid là chủng tộc bản địa cổ xa nhất ở ấn Độ, họ phân bốrộng khắp lục địa Đặc điểm chủng ngời này có nớc da đen sẫm, tóc xoăn tít,mông nở, khổ ngời thấp, mũi tẹt Ngời này đợc tìm thấy qua các di chỉ khảo

cổ, qua các bức tranh vẽ và điêu khắc ở trong hang động Ajanda Ngày nayngời Nêgrôrid còn lại một số ít nhng không thuần chủng ở vùng núi hẻo lánhNam ấn (nh ngời Kadar ở Cocbin hoặc ở Đông Bắc ấn nh ngời Naga ởAssam và một số còn mang tính thuần chủng ở đảo Anđaman, trong vịnhBengan thuộc phía Đông ấn )

Mặc dù ngời Negrôrid là c dân cổ và sống ở một trình độ lạc hậu

và không còn tồn tại trên đất ấn nhng nó đã để lại những dấu vết không thểphai mờ, trong nền văn hoá ấn Chính ngời ấn đã nhận đợc ở ngời Nêgrôidtục thờ cây đa, những nghi lễ phồn thực và quan niệm về linh hồn ngời chết

Và cũng có thể ngời Nêgrôid đã truyền lại cho ngời ấn câu chuyện về con ờng ngời chết đi lên thiên đờng có quỷ canh giữ và một số quan niệm vềTôtem giáo có liên quan đến các loài động - thực vật sau này

đ-Ngời Autraloid là chủng ngời cơ trú sớm ở ấn Độ thời còn gắn liền vớiChâu Đại Dơng Ngời Autraloid có tóc cuộn sóng, mũi rộng, khổ ngời thô da

đen Hiện nay có sống trong tình trạng tơng đối nguyên thuỷ đó là ngờiMunda ở vùng biển phía Đông; ngời Satal ở vùng núi Rajmabal ở đông Bắc

ấn, ngời Ho ở Singhbbum; ngời Mcobar ở Đông Nam trong đó ngời Santalchiếm 3/5 triệu ngời Đây là chủng tộc có nhiều đóng góp trong văn hoá ấn

nh các loại hình vũ khí Bumerang, các loại ống thổi có thể mặt tín ngỡngcủa ngời Autralôid đã đặt cơ sở cho truyện loài vật trong văn học ấn Độ, chotruyện ngụ ngôn trong Panchatantra và Hitopadesa, truyện Jataka Đăc biệtquan niệm vũ trụ nh một quả trứng khổng lồ mà ngời ấn gọi là Brahman,quan niệm về sự hoá thai của tinh thần tối thợng trong hình hài của những

Trang 18

con vật nh cá, lợn, bò mà ngời ấn gọi là Aratar có thể bắt nguồn từ ngờiAutraloid.

Ngời Autraloid cho rằng con ngời sau khi chết có sự tồn tại của linhhồn và họ cũng dựa vào sự biến đổi của mặt trăng để tính ngày tháng, những

từ nh là Ràkà (trăng tròn), Kuhù (trăng non) nó giống ngữ hệ Austric Đóchính là những cơ sở quan trọng trong thuyết luân hồi Samsara trong các tôngiáo ở ấn Độ

Ngời Đravidian là những bộ tộc di c đến ấn Độ sớm nhất vì thế đợcxem là ngời bản địa Họ c trú phần lớn ở Nam ấn thuộc cao nguyên ĐêCăng.Ngời Đravidian có nớc da nâu sẫm, khuôn mặt hẹp mũi thẳng, tóc đen Ngàynay nhóm ngời này sống rải rác các nơi, nh ngời Kui ở Orissa, ngời Kenakh

ở Chotanagpur thuộc Đông ấn, ngời Brahui ở Baluchistan ở Tây ấn C dânnày là chủ nhân của nền văn hoá Harappa - Mohengô Đarô cách ngày nay5000năm

Về mặt tôn giáo ngời Đravidian có những đóng góp lớn, việc thờ thầnSiva và vợ Siva là Uma; thần Visnu và vợ là Sri của ngời ấn đợc bắt nguồn từnhững tín ngỡng của ngời Đravidian Hơn nữa ngời Đravidian là c dân nôngnghiệp, sống định c cho nên kiểu t duy hớng nội là chủ yếu Do đó, chính lànền tảng cho kiểu t duy của ngời ấn, kiểu yoga và đặc biệt trong các côngtrình kiến trúc của ngời Đravidian có những bể tắm lớn, dài 55m rộng 33m, ởgiữa có một bồn nớc hình chữ nhật dài 12m, rộng 7m, sâu 2,4m có các bậcthang lên xuống và một hệ thống phòng tắm liền nhau Mặc dù còn có nhiều

ý kiến về loại hình kiến trúc này song có thể nói các công trình kiến trúc này

có liên quan tới nghi lễ tắm thần mà sau này đợc đạo Bàlamôn phát triểntrong các nghi lễ tôn giáo

Ngời Aryan chiếm 72% c dân ấn, là chủng tộc từ bên ngoài, có thể làvùng núi Cápcadơ di chuyển vào ấn Độ qua ngõ hẹp ở vùng Tây Bắc vàokhoảng giữa thiên niên kỷ thứ II tr.CN Tộc ngời này có nguồn gốc châu Âuvới vóc ngời to lớn, mũi hẹp và cao, da sáng, mắt đen, mặt nhiều râu và theongữ hệ ấn - Âu Lúc đầu ngời Aryan có chừng 5 bộ lạc sống ở thợng lu sông

ấn vùng Pengiáp, sau đó lan dần sang sông Hằng ở phía Đông và vợt dãyVindhya xuống phía Nam Ngời Arian vốn là một bộ lạc du mục trải qua quá

Trang 19

trình định c, họ đã chuyển sang làm nghề trông trọt và thủ công Họ chính làlực lợng làm nên diện mạo cho đất nớc ấn Độ ngày nay.

Về mặt Totem giáo, do xuất phát từ những c dân du mục cho nên sảnphẩm dùng thờng ngày chủ yếu từ chăn nuôi vì thế con vật đợc ngời Arianquý trọng (ngời ta gọi nó là Aghnya nghĩa là con vật không phải để mà giết)trong đó con bò cái với việc cung cấp sữa cho ngời Aryan và để trao đổi nuôisống ngời dân vì thế nó đợc tôn sùng, thậm chí đợc xem là một vị thần linhthiêng Điều đó cũng lý giải tại sao trong các cuộc chiến ,khi ra trận họ hôhét không phải là để đề cao tinh thân dân tộc mà thực chất là hô hào chiếmcho đợc nhiều bò, ngựa Và cũng xuất phát từ cuộc sống hoang dã, phụ thuộc

tự nhiên cho nên con ngời Aryan tôn thờ các vị thần tự nhiên nh: thần gió,thần mặt trời, đặc biệt ngọn lửa có vai trò trong đời sống của ngời Aryan nhsởi ấm, nớng chín thức ăn xua đuổi thú dữ từ đó ngọn lửa đợc thần thánhhoá và xem đó là cái mồm của thần linh đón nhận vật cúng hiến, và là sự môigiới giữa con ngời và thần linh

Ngời Aryan là bộ tộc di c từ bên ngoài vào ấn độ, vì thế những cuộcchiến tranh xẩy ra là không thể tránh khỏi Trong các cuộc chiến, chiếc xe có

vị trí quan trọng quyết định thắng lợi cho ngời Aryan Từ đó chiếc xe đã đivào thần thoại ấn độ, các vị thần đều di chuyển bằng xe do sức vật kéo làmột biểu tợng liêng thiêng đợc ngời Aryan tôn sùng và đợc gắn với mệnh củacon ngời

Tất cả những điều đó đã tạo nên nền tảng vật chất quan trọng cho sựhình thành lý luận tôn giáo sau này

Đến muộn hơn ngời Aryan là ngời Môngôlôid thuộc chủng tộc davàng, mắt xếch gò má cao Họ sống chủ yếu ở vùng Đồng Bắc ấn và ở sờnnúi phía Nam Hymalaya Ngời Môngôlôid có tâm tình lạc quan, vui vẻ, thích

tự do nhng rắn rỏi chịu làm, họ chuộng thực tế hơn là lý thuyết suy luận tiếthọc Chính vì vậy chủng ngời này là một lực lợng có khả năng tiếp thutruyền tải các nền văn hoá khác nhau

Nhìn chung, nền văn hoá-văn minh ấn là kết quả đóng góp, tích tụ củanhiều chủng tộc ngời khác nhau sống trên đất ấn Tuỳ theo thời gian sớmmuộn, khu vực c trú, rộng- hẹp, số lợng c dân nhiều-ít mà có sự đóng góp

Trang 20

khác nhau Song nhìn về mội phơng diện Lịch sử- Văn hoá thì chủng tộc

Đrandian và Aryan là cội nguồn làm nên nền văn hoá truyền thống ấn Độ

Bên cạnh sự đa dạng về chủng tộc ngời, kéo theo nó là sự phức tạp vềngôn ngữ ấn Độ nh là một bức tranh nhiều màu sắc song lại không có màuchủ đạo, theo tính toán có khoảng 500 đến 1500 thứ tiếng đợc sử dụng trong

đó 15 thứ tiếng đợc sử dụng: Hindu, Udru, Bengali, Assam, Oriya, Sindhi,Marathi Tuy vậy thời tiền sử ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việctruyền tải t tởng, tình cảm, tinh thần ấn cũng nh tạo nên bộ mặt văn hoáchung của ấn Độ, đó là tiếng Sanskrít Và nó cũng là thứ ngôn ngữ môi giớigiữa các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau, chính vì thế trong tôn giáo, tiếngSanskrít cũng là công cụ truyền đạo đắc lực cho việc lôi kéo các tín đồ vàomột tôn giáo hợp nhất sau này

Tóm laị, xã hội ấn thuở ban sơ có sự phức tạp về chủng tộc và ngônngữ, điều đó một mặt tạo nên sự phong phú đa dạng về nền văn hoá, tạo nênnhững nền văn minh lừng lẫy trong lịch sử, mặt khác nó lại tạo nên sự cáchbiệt, bí hiểm giữa các vùng, các dân tộc, sự khép kín trong mỗi cơng vực,cho nên trong lich sử ấn cha có một triều đại nào thống nhất đợc hoàn toàn

ấn Độ Bên cạnh đó về mặt tôn giáo, sự đa thần giáo là điều khó tránh khỏisong khi một tôn giáo hợp nhất ra đời, nó là một công cụ không chỉ về mặt ttởng mà còn có vai trò quan trọng trong chính trị, đó là sức mạnh tinh thầntrong việc tập hợp các chủng tộc khác vào một chính thể duy nhất

1.3 Nhân tố về tín ngỡng dân gian ấn Độ:

Trên nền tảng của sự chia cắt địa lý cũng nh sự đa dạng của chủng tộc

và ngôn ngữ ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo khác Song mỗi tôn giáo

đều dựa trên cơ sở nền móng cổ xa của tín ngỡng dân gian nguyên thuỷ Sự

đúc kết và nâng cao của những tín ngỡng đó dung hợp với trí tởng tợngphong phú và những suy nghĩ t biện siêu hình đã nhào nặn nên một tôn giáotrục ở ấn Độ đó là đạo Hindu mà các hình thức trớc đó là Vêda, Balamôngiáo

Đặc điểm của giai đoạn tiền Ve-đa này là tính chất tự phát, tự nhiêncủa nó, cha có một sự chỉ đạo của một giáo lý hay kinh sách nào dù là truyềnkhảo hay thành văn, cho nên mỗi tộc ngời có những tín ngỡng riêng

Trang 21

ở vùng Đông ấn ngời Bhil tôn thờ con ngựa hơn mọi con vật khác

Ng-ời Baiga ở Trung ấn có tục hôn nhân cách thế hệ, tức ông bà có thể lấy cháucủa mình, do ở lòng tin vào chuyện đầu thai của ngời vợ hay chồng chết vào

đứa cháu cùng giới với ngời chết Ngời Birhor có tục ăn thịt ngời để tỏ tìnhthơng hoặc ngời Sannara đốt xác chết nhng vẫn giữ tục làm nhà mồ tạm thờicho hồn ngời chết, rồi dựng cột đá ở trong rừng khi hồn ngời chết rời khỏihẳn cõi sống để đi về với tổ tiên, sau đó họ tổ chức một lễ táng thứ hai để t -ớng nhớ tới những ngời chết trong thời gian đó, ngoài ra việc dựng cột đá nhngời Naga còn để truyền sinh khí sống của ngời chết cho mùa màng sinh sôinảy nở Ngời Maratha thực hiện chế độ hôn nhân lệch(Hypergany) tức ngời

đàn ông ở nhóm trên chỉ lấy vợ nhóm dới đối với nhóm của mình điều đódẫn tới tình trạng dôi tha đàn bà ở nhóm trên và khan hiếm đàn bà ở nhómthấp điều này tạo nên tiền đề cho chế độ Varna trong viêc xác định thế hệhôn nhân cùng tập cấp

Ngời Đravidian trớc khi ngời arian xâm nhập họ đã có một nền vănminh đô thị phát triển khá cao.Về mặt tôn giáo -tín ngỡng nó có nhiều nét in

đậm trong đạo Hindu sau này Đó là tục sùng bái các nữ thần Mẹ thể hiệnqua các tợng phụ nữ làm bằng đất nung đợc tìm thấy với những bức tợng đợctạc ở các t thế khác nhau: T thế đứng, ngồi trên ghế 3 chân cùng với cáctrang phục bằng vải quấn quanh mông, đeo đồ trang sức và 1 khăn lớn trùm

đầu Bên cạnh còn có cả tợng phụ nữ mang thai hoặc có con, điều này thểhiện tín ngỡng phồn thực cầu mong cho sự nảy nở sinh sôi Rồi tục tắm thần

mà dân chúng để lại là các bể tắm lớn ở Mêhengô Đarô mà ngời ta gọi là Đạidục đờng (the Great Barth) Những quả ấm bằng đất nung miêu tả chân dungcác vị thần linh nh tợng hình nam ở trần đầu đội mũ có sừng đợc tạc ở t thếngồi, đặc biệt bức tợng 3 mặt ngồi xếp chéo chân có thể đây là tiền thân củathần Siva, rồi các bức phù điêu miêu tả đạo sĩ ngồi thiền, hình tợng sinh thựckhí, bò rừng, thờ cúng cây đa, các l hơng song trên bình diện chung ngời

ấn Độ thời tiền Vêda, do trình độ sản xuất còn thấp kém, sự nhận thức cònlạc hậu, thuần phác, vì thế họ cha hoàn toàn tách mình ra khỏi tự nhiên, nên

về mặt ý thức, họ cha cảm thấy những mâu thuẫn cũng nh khổ đau của cuộc

đời Do đó, t tởng bi quan, ngẫm thế để tố cáo những khổ đau ở cõi thế giancha đợc bộc lộc Họ sống chủ yếu đối phó với sự đe doạ của những lực lợng

tự nhiên đầy huyền bí, ma lực để sinh tồn, mặt khác, lại phải dựa vào tự

Trang 22

nhiên để tồn tại, dẫn tới tất yếu khi cha ý thức - nhận thức đợc tự nhiên thìphải chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên.

Nhng trong quá trình tồn tại, họ muốn thoát khỏi vòng vây ràng buộc

tự nhiên để khẳng định và làm chủ trớc tự nhiên Song họ cha thể giải quyết

đợc các mâu thuẫn, các nguồn gốc gây nên nỗi khổ, nạn sinh ly, sự lo lắng,

sự kỳ vĩ và khắc nghiệt của tự nhiên Vì thế, cách tốt nhất để tìm sự an lànhcủa cuộc đời là nhờ vào sự phù hộ của các lực lợng tự nhiên, và từ đó dẫn tới

sự sùng bái, thờ phụng, cầu nguyện các đấng thần linh đợc tởng tợng, đợcnhào nặn, bớc ra từ thế giới tự nhiên, và xem đó là nơi phù hộ của con ngời

Vì thế, mẫu số chung của các tộc ngời ấn Độ thời tiền Vêda là tôn thờ

và ca ngợi thần Núi, thần Sông, thần Cây Cối, thần Súc vật, thần Rắn (Naga)thần cổ thụ (yatsa), thần bò mộng (Nandi), thần sấm sét, thần khỉ(Hanuman) Theo họ các sự vật, hiện tợng trong tự nhiên đều có chung mộtnguồn gốc, chỉ các dáng vẻ khác nhau của cùng một thực thể thống nhất, tấtcả đều có linh hồn và sự vật, hiện tợng này có thể luân hồi thành sự vật, hiệntợng khác Ngoài ra tín ngỡng thờ thần Mẹ, thờ cúng âm lực coi âm vật(Yoni) là nguồn gốc của mọi sự sáng tạo Thần Yoni và Linga đợc tạo bằng

đá hoặc nặn bằng đất sét và đợc thờ, cũng nh có mặt hầu hết ở các lễ hội,mục đích tín ngỡng này là muốn miêu tả ý niệm về sự sinh tồn Họ cho rằng

sự sinh sôi nảy nở trong trời đất là do đực - cái kết hợp

Tóm lại, những tín ngỡng dân gian truyền thống đóng vai trò quantrọng trong việc tạo nền cho sự hình thành đạo Hindu

Trang 23

Ch ơng 2 :

ấn Độ giáo quá trình hình thành và phát triển.

2.1 Khái quát lịch sử ấn Độ thời kỳ cổ - trung đại.

Từ khi bớc vào xã hội có nhà nớc cho đến khi bị thực dân Anh chinhphục, lịch sử ấn Độ có thể chia thành các giai đoạn sau:

- Thời kỳ của văn minh lu vực sông ấn (từ đầu thiên kỷ III đến giữathiên kỷ II TCN) đặc điểm nổi bật nhất của giai đoạn này là ấn Độ, đã bớcvào thời kỳ văn minh với việc phát triển 2 di chỉ ở Harasppa và Môhenjô -

Đarô

Những hiện vật tìm thấy chứng tỏ xã hội của nền văn hoá sông ấn đãvợt qua trình độ nguyên thuỷ để bớc vào giai đoạn văn minh Nông nghiệpkhá phong phú với các loại lúa mì, lúa mạch, bông dùng dệt vải Nhiều loạisúc vật đợc thuần hoá Thủ công nghiệp khá phát triển Đặc biệt thành tựunổi bật nhất là các công trình kiến trúc đô thị ở đây có khu "thành" trên đồicao đợc đoán định là chỗ ở của các tầng lớp trên và những khu "phố" ở dớithấp là nơi c trú của quần chúng nhân dân Các thành phố đợc xây cất dọcngang, vuông vắn nh bàn cờ Nhà đợc xây bằng đất nung, một số nhà gác cónhiều tầng Hầu hết các nhà đều có giếng nớc, hệ thống cống thoát nớc vàphòng tắm về mặt xã hội có sự cách biệt 2 khu "thành trên" và "phố dới"cho phép ta thấy rằng đó là một xã hội đã có sự phân hoá giai cấp, tuy ch asâu sắc

Tuy vậy vào giữa thiên kỷ II TrCN nền văn minh này tàn lụi dần vànhanh chóng chìm sâu trong lòng đất Mặc dù sự biến mất của nền văn minh

Trang 24

này còn có nhiều giải thuyết đặt ra song có thể nói đây chính là khúc dạo đầutạo nền tảng cho lịch sử ấn Độ phát triển tiếp theo.

- Thời kỳ Vêda (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN)

Thời kỳ này, lịch sử ấn Độ đợc phản ánh trong các tập Vêda nên gọi

ở ấn Độ đã xuất hiện 2 vấn đề có ảnh hởng rất quan trọng và lâu dài trong xãhội, đó là chế độ đẳng cấp (Varna) và đạo Bàlamôn

- ấn Độ từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XII

Vào nửa đầu thiên niên kỷ I TCN ở miền Bắc ấn có 16 nớc trong đónổi bật lên và cờng thịnh hơn cả là vơng quốc Magadha ở lu vực sông Hằng,vùng đất châu thổ sông Hằng màu mỡ và giao thông thuận lợi đã tạo điềukiện cho trồng trọt, chăn nuôi và thơng mại Magadha phát triển Bên cạnhnền kinh tế nông nghiệp, đã hình thành một số đô thị công- thơng nghiệp.Trong vơng quốc, tầng lớp thống trị có thế lực là đẳng cấp tăng lữ Bàlamôn

và đẳng cấp vũ sĩ

Trong lúc Magadha tiến hành thôn tính các nớc xung quanh phát triểnlãnh thổ, thì ở phía tây Ba T trở thành một đế quốc cờng thịnh, cũng đangtiến hành chinh phục các nớc láng giềng và đến thế kỷ VI TCN ngời Ba Ttràn vào miền tây bắc ấn Độ lập ra các khu tự trị

Năm 327 TCN nhà vua xứ Maxêđôin là Alêchxăngđrơ đại đế sau khichinh phục đế quốc Ba T lúc này đã suy yếu, tiếp tục đánh chiếm các miền

đất phụ thuộc của Ba T, tràn qua Hindukux tiến vào vùng Pen giáp đất ấn

Độ Theo kế hoạch Alechxăng sẽ tiến tới tận vùng Ben gan song đã vấp phải

sự kháng cự mạnh mẽ của Magadha, vì thế buộc Alếchxăng phải rút lui chỉ

để lại một lực lợng chiếm đóng các vùng chinh phục còn đại quân rút về Ba

T và Lỡng Hà

Trang 25

Sau khi Alếchxăngđrơ rút lui ở ấn Độ đã dấy lên phong trào đấu tranhgiải phóng chống lại sự chiếm đóng của quân Makêđônia Thủ lĩnh phongtrào này là Sandragupta Sau khi đánh bật quân Makêđônia ông tiến quân vềphía đông dành đợc ngôi vua ở Magađa, lập ra một triều đại huy hoàng tronglịch sử ấn Độ cổ đại.

Đến thời Axôca (273-236 TCN) vơng triều Môrya đạt đến giai đoạn ờng thịnh nhất Đạo Phật ra đời từ khoảng thế kỷ VI TCN đến thời kỳ này đ-

c-ợc phát triển nhánh chóng và trở thành quốc giáo Sau khi Axôca chết, v ơngtriều Môrya suy sụp nhanh chóng, nớc Magađa thống nhất dần dần tan rã,

đến năm 28 TCN thì diệt vong

Trong mấy thế kỷ sau đó, ấn Độ lâm vào tình trạng bị chia cắt, cónhiều bộ tộc nớc ngoài xâm nhập, trong đó bộ tộc Kusana (cùng 1 huyếtthống với ngời Tuốc) từ trung á tràn vào chiếm đợc niềm Tây bắc ấn lậpthành một nớc tơng đối lớn Vua nớc Kusana là Kaniska (78-123) cũng làmột ngời sùng đạo phật nên thời kỳ này Phật giáo cũng rất hng thịnh Sau khiKaniska chết nớc Kusana suy yếu và tồn tại đến thế kỷ V thì diệt vong

Trong thế kỷ III ấn Độ lại bị chia cắt trầm trọng, năm 320 vơng triềuGupta đợc thành lập, miền Bắc và một phần niền Trung ấn tạm thời thốngnhất một thời gian Dới triều đại Gúpta, nền kinh tế - văn hoá ấn đạt nhiềuthành tựu, đặc biệt dới triều vua Chanda Gúpta II đợc xem là "thời đại hoàngkim" của lịch sử ấn Độ

Từ 500-528 miền Bắc ấn bị ngời Eptalil xâm chiếm và thống trị, đến

535 triều đại Gupta bị diệt vong

Năm 606 vua Hácsa lại dựng lên một vơng triều tơng đối hùng mạnh ởmiền Bắc ấn Chính trong thời kỳ này nhà s Huyền Trang của Trung Quốc

đã sang ấn Độ để tìm kiếm kinh Phật Năm 648 Hacsa chết, quốc gia hùngmạnh do ông dựng lên cũng tan rã

Từ đó đến thế kỷ XII ấn Độ bị chia cắt càng trầm trọng, và nhiều lần

bị ngoại tộc xâm nhập Đặc biệt từ đầu thế kỷ XI ấn Độ bị các vơng triềuHồi giáo liên tục tiến hành chiến tranh và đến 1200 toàn bộ miền Bắc ấn bịchinh phục

Trang 26

Năm 1206 Viên tổng đốc Cutut Đinaibếch ở miền Bắc ấn tách miềnbắc ấn Độ thành một nớc riêng tự mình làm Xutan (vua) đóng đô ở Đêli, gọi

là nớc Xutan ĐêLi (vơng quốc hồi giáo Đêli) Từ đó đến 1526 ở miền Bắc ấn

đã thay đổi đến 5 vơng triều nhng đều do ngời ngoại tộc theo Hồi giáo thànhlập Trong khi miền Bắc ấn đang ở dới ách thống trị của vơng triều Hồi giáo

Đeli Thì ở phía Bắc rặng Hymalaya các tộc Mông cổ đã phát triển lớn mạnh.Năm 1398 thủ lĩnh Mông cô là Timuleng tràn vào cớp phá Đêli Hơn 150năm sau, các tộc Mông Cổ lại một lần nữa tràn vào ấn Độ, lần này ở lại vàxây dựng lên một đế quốc rộng lớn đó là đế quốc Môgôn

Đế quốc Môgôn phát triển cờng thịnh dới triều đại Akbar nhờ nhữngcuộc cải cách khôn khéo của Akbar về kinh tế - chính trị- xã hội Song cũng

nh một số vơng triều ấn trớc kia, triều đại Akbar chứa đựng một nhợc điểmcơ bản đó là không có một cơ sở kinh tế- xã hội vững chắc Sau khi Akbarchết, đế quốc Môgôn dần dần suy yếu Từ giữa XVIII thực dân Anh bắt đầuchinh phục ấn Độ, đến 1849 ấn Độ hoàn toàn biến thành thuộc địa của Anh,vơng triều Môgôn trở thành bù nhìn và đến 1857 bị diệt vong

Trong giai đoạn cổ - trung đại này, một trong những hiện tợng làm nênnét đặc sắc cho lịch sử ấn đó chính là một bức tranh toàn cảnh về sự đa dạngcác tôn giáo: đó là Vêda giáo, Bàlamôn giáo, đạo Phật, đạo Xích, Hindugiáo, Hồi giáo mà chính nó là một nhân tố gắn với lịch sử ấn Độ, nh mộtnhà nghiên cứu đã nói "các tôn giáo tự chúng không làm ra lịch sử nhng xãhội ấn đã phát triển trớc hết là nhờ những biến đổi tôn giáo liên tục chứkhông phải do bạo lực" [6;tr231]

Trong các tôn giáo đó thì Hindu giáo có bớc phát triển thăng trầm theodòng lịch sử của đất nớc ấn Độ Nó đợc xem là tôn giáo lớn, cổ xa và là tôngiáo trục của ấn Độ Tính chất đặc biệt của nó không phải là một tôn giáonguyên dạng, thuần khiết, có ngời sáng lập, mà nó là một sự tổng hợp củanhững hệ thống tôn giáo - tín ngỡng - triết học đợc hình thành trong suốtchiều dài lịch sử, từ Vêda đến Bàlamôn và cuối cùng là Hindu giáo.Quá trìnhhình thành và phát triển của Hindu giáo trải qua ba thời kỳ

2.2 ấn Độ giáo thời kỳ Vêda:

Thời kỳ Vêda đợc ớc tính vào khoảng 1500 đến 600 năm TCN, nó gắnliền với sự xâm nhập của các tộc ngời Aryan vào ấn Độ Sau khi vào đất ấn,

Trang 27

từ chăn nuôi du mục chuyển sang nông nghiệp định c, và hình thành ngời ấn

Aryan Cùng với quá trình định c thì những hành vi tôn giáo của ngời ấn Aryan cũng đợc hình thành, và sau một thời gian truyền khẩu thì những hành

-vi tôn giáo đó, đợc biên soạn thành sách, tập hợp lại thành bộ kinh Vêda, -viếtbằng tiếng Phạn Bộ kinh này đợc xem là công cụ tinh thần của ngời Aryan,hay đó là "Những thổ lộ dạt dào của ngời Aryan khi họ kéo vào đất đai giàu

có của ấn Độ Họ mang theo những ý tởng của họ" [12; tr115]

Vì thế, Vê đa không chỉ là cuốn bách khoa toàn th về văn hoá - xã hội

ấn Độ, mà nó còn là bộ sách ghi chép toàn bộ các mặt đời sống tôn giáo củangời Aryan Bộ thánh kinh này bắt nguồn từ căn tự "vid" nghĩa là tri thức,hiểu biết và cũng chỉ sự sáng suốt cao nhất Nó có cấu trúc nh sau:

Rig Vêda: "Rig" có nghĩa là tán ca, "Vêda" có nghĩa là tri thức, hiểubiết Đây là bộ kinh cổ nhất và quan trọng nhất trong 4 cuốn

Nó là nguồn gốc triết lý đầu tiên của Hindu giáo gồm 1028 bài ca với10.562 câu thơ đợc sắp xếp theo từng đoạn, mỗi đoạn 4 câu, hết câu lạixuống hàng, mỗi câu có 5 đến 12 âm tiết, nhng 4 âm tiết cuối cùng thờnggồm một âm tiết dài tới một âm tiết ngắn rồi lại tới một âm tiết dài cứ lặp

đi lặp lại nh thế Rig Veda dùng để ca ngợi, chúc tụng công đức của các

đấng thần linh, thể hiện sự đồng cảm gắn bó giữa con ngời và tạo vật, mangnét lạc quan yêu đời, sự hồn nhiên và ngây thơ của ngời ấn Độ Bộ kinh nàychuyên dùng cho các bậc "Khuyến thỉnh s" (Hotri)

Trong Rig Vêda 2 vị thần đợc nhắc đến nhiều nhất là thần Indra (sấmsét 250 bài) và thần Agni (thần lửa: 280 bài) Rig Vêda đợc ngời ấn sử dụngnhiều nhất và xem đó là "Cuốn sách sớm nhất nhân loại trong đó có thể thấyrằng những thộ lộ đầu tiên của trí óc con ngời, sự rực rỡ của thơ ca, sự say

mê trớc vẻ đẹp và tính huyền bí của tự nhiên"[12; tr119]

Sama Vêda gọi là "Ca vịnh Vêda" gồm 1549 bài, là những bài hát catụng thánh thần, đợc xem là tri thức về các giai điệu ca chầu, cầu nguyệnthần linh khi hành lễ Trong lễ hiến tế ngời, ta đồng thanh hát ngân dàinhững bài ca, các giai điệu và kết thúc bằng khúc ngân dài là một từ hết sứchuyền bí thiêng liêng: Aum Sama Vêda chính là một bản nhạc trong Vêda,chuyên dùng cho các bậc " Ca vịnh s" (Udgrat)

Trang 28

Yajur Vêda: hay "Tế tự vê da" Là bộ kinh tập hợp những lễ thức khấnbái thần linh khi tế lễ, hiến tế Nó bao gồm có thơ, văn xuôi, phần chính vănxen lẫn với chú giải Bộ kinh này có 2 cuốn: Yajur Veda đen (TaiHiriya -Samhita) gồm những câu thần bí khó hiểu, trong đó không phân biệt phầnkinh với phần Brahmana (tức nghi thức tế tự lẫn lộn không phân biệt), vàcuốn Yajm Veda trắng (Yajasaneyi-Samhita) có chú giải rõ ràng hơn YajurVeda đợc các "Hành lễ s" dùng (Adhvarya)

Cuốn Atharva Vêda: Bộ kinh này mới đợc biên soạn và gộp vào bộ Vê

da sau này, gồm 731 bài văn vần, một số ít văn xuôi, dài khoảng 6000 khổthơ Nó không liên hệ gì với việc cúng tế, hiến tế, mà là những tri thức về cácloại bùa chú, phù phép, dùng để xua đuổi bệnh tật, đem lại điều tốt lành maymắn cho bản thân tránh điều rủi và làm hại kẻ địch Thực chất bộ sách này

nó là công cụ tinh thần của Vua nhằm giữ gìn cuộc sống yên ổn may mắn và

sự thịnh vợng, trờng thọ cho nhà vua

Mỗi cuốn Veđa lại có 4 phần:

Samhitas (Sam: nghĩa là cùng với nhau, hita: là sắp xếp) là phần su tậpnhững bài ca, bài hát bằng thơ, dùng để đọc hay hát khi cầu nguyện thần linhtrong lúc hành lễ Đó là những bài kinh (Man tra) tức thánh ca để ca ngợithần, để mời thần về hởng lễ vật hoặc để cầu xin một điều ân phớc gì đó

Brahmanas: Gọi là Phạn th hay kinh Bàlamôn là phần miêu tả chỉ dẫngiải thích các nghi thức tế tự, các buổi cúng hiến lễ tế, đi liền với các bàikinh trong phần Samhitas Nó đợc viết bằng văn xuôi chuyên dùng cho các

tu sĩ, chức sắc cao cấp của Bàlamôn

Aranyaka gọi là kinh rừng, hay Sâm lâm th Có thể xem là : phần phụcủa Brahmana, nhằm diễn giải khía cạnh thần bí của các lễ hiến tế Phần nàydùng cho các tu sĩ khổ hạnh Là những giáo sĩ già nua lúc không còn đủ sứcchủ trì các buổi tế lễ, không liên quan gì đến bụi trần, họ lùi về chốn rừngsâu hoang vắng để ngồi suy t, thiền định và suy tởng về lễ uyên nguyên của

vũ trụ, về đời sống, về nhân sinh

Upanishads : gọi là "áo nghĩa th" (có ý nghĩa thâm tâm uyên náo) làphần cuối của các Veda Nó có hơn 300 cuốn, hiện nay còn lại 108 cuốn.Trong đó 10 cuốn đợc nhiều ngời biết đến nhất và đợc coi là chính truyền từthời cổ Hai cuốn Brihad Aranygka Upanisald và Sanđô-ghia Upanisad có

Trang 29

nội dung hàm súc và sáng sủa, có nhiều câu chuyện minh hoạ thông qua đốithoại.

Cuốn Upanishad là những kinh sách bình chú, có tính tôn giáo, triếthọc giải thích ý nghĩa triết lý sâu xa của các kinh Veda, nó là giai đoạn pháttriển đỉnh cao của một học thuyết siêu hình, trừu tợng có vai trò quan trọngtrong triết lý tôn giáo Hindu

Trong 4 phần trên thì phần Samahita và Brahman gắn liền với lễ thứctôn giáo và đợc dành cho thầy cúng, còn 2 phần sau là Aranyaka vàUpanishad mang tính chất tri thức triết lý, giành cho tu hành đạo sĩ Trong đó

3 phần sau là để luận giải cho những bài kinh tụng, hoặc hát của Samahita

Về mặt hình thức, thì lễ hiến tế (giết súc vật để dâng thần linh) là quantrọng nhất Khi tiến hành buổi lễ, có 4 vị thầy cúng ngồi ở 4 góc của bàn lễ:

Thầy cúng chính chủ trì cả buổi lễ, ngồi ở góc Bắc của bàn hiến tế làBrahman, có nhiệm vụ đọc các bài kinh trong cuốn Atharva - Vêda

Bên trái Brahman là Hota với vai trò là ngời đọc các bài kinh trongRig - Vêda, để tán tụng thánh thần và mời thánh thần xuống hởng lễ

Thầy cúng Udgata ngồi bên phải Brahman, hát các bài tụng ca trongSamma - Vêda theo tiếng nhạc, để làm vui cho thần linh, các bài hát thờngbiểu hiện một cuộc sống tràn đầy tinh thần lạc quan yêu đời Những khúc hátvang lên trong các buổi lễ nhằm xin các thánh thần ban phát hạnh phúc chonhân dân Và đổi lại với các lễ vật dâng lên, họ xin có những đàn súc vật lớn,

sự giàu có, trờng thọ, và mọi việc đều tốt đẹp

Ngồi đối diện với Brahman là Adhvaryu, có nhiệm vụ đa vật tế vàongọn lửa thiêng để dâng lễ vật cho thần linh, và đọc các bài kinh trong Yajur

- Vêda

Hầu hết trong các buổi cầu nguyện đều có một mục đích rõ rệt, nhtrong Rig Vêda có câu "Hỡi Mitra và Varuna, chính do mệnh lệnh của thần

mà bò cái cho sữa, sông ngòi cho nớc ngọt và ba vị thần tài giỏi mang nớc

ma đến", hoặc cầu trúng mùa, sống lâu hoặc có nhiều bài kinh "Có hồn thơ

tự nhiên, bình dị làm cho ta nghĩ tới tình cảm ngây thơ, ngạc nhiên của một

em bé Trong một thánh ca, tác giả ngạc hiên tại sao một con bò cái nâu lại

Trang 30

cho sữa trắng, trong một bài khác tác giả tự hỏi tại sao mặt trời khi hạ xuốngchân trời không rớt độp xuống mặt đất" [32;tr70]

Về mặt nội dung kinh Vêda có những nét cơ bản sau:

Trong điều kiện nhận thức còn ở trình độ thấp kém, những hiện tợng

tự nhiên luôn ẩn dấu những điều bí ẩn, kỳ diệu và đầy uy lực, thờng gây cho

đời sống con ngời những tai hoạ, những bất trắc khôn lờng, vì thế ngời ấn đãtạo ra một thế giới các vị thần linh có tính chất tự nhiên, để giải thích cáchiện tợng đó Họ tin rằng trong vũ trụ này đồng thời tồn tại ba lực lợng cóliên quan với nhau: Thần linh - con ngời, và quỉ ác, cùng với ba cõi của vũtrụ là: thiên giới - trần gian và địa ngục Họ đã phân tích các hiện tợng đó, lýgiải chúng qua biểu tợng của tôn giáo thần linh phong phú, đa dạng biểuhiện khắp mọi nơi, mọi lúc Đó chính là những nội dung cơ bản của Vêda

Xét về mặt thế giới quan, kinh Vêda cho rằng: vũ trụ tôn giáo có 3 thếgiới, thế giới trên cùng, thế giới ở giữa và thế giới lòng đất Mỗi thế giới cónhững vị thần linh sáng tạo lên nó

Thế giới trên cùng là thế giới của ánh sáng, nơi mặt trời ngự trị Thầnmặt trời (Surya) đợc miêu tả là vị thần mình màu đồng đỏ, tóc và râu màuvàng, ngự trên xe do bảy ngựa hồng dữ tợn kéo Thần đeo vơng miện kếtvòng toả ánh hào quang chói lọi khắp mọi phơng trời Thần Surya là nguồngốc của thời gian, là con mắt của vũ trụ, là nguyên nhân của ban ngày Vì thếthần mặt trời có 12 tên gọi khác nhau (có lẽ tơng ứng với 12 tháng trongnăm) nh thần Mitra cai quản đôn đốc trật tự vận động của vũ trụ, trời - đất

và theo dõi các mối liên hệ giữa con ngời với con ngời, là vị thần ánh sángtrụ trì ban ngày Thần Varuna là vị thần của bầu trời xanh, chúa tể của vũ trụ,trông nom mối quan hệ giữa thần và ngời, bảo vệ công lý, trừng trị và thởngphạt con ngời, đây là vị thần trụ trì ban đêm, hàng vạn ngôi sao đợc coi làngững con mắt cảnh giác của Varuna đối với trần thế ở giai đoạn đầu củaVêda đây là vị thần đợc tôn kính nhất, bởi vị thần này có vai trò đảm bảocông bằng cho con ngời

"Phép thần, ta thể không cỡng nổi

Thần ngồi trên cao giữ phép nhiệm màu

Chăm chú nhìn mọi thứ ẩn kín

Trang 31

Mọi thứ đã qua và mọi thứ sắp thành" [10; tr104]

Về sau ít đợc chú ý và giữ vai trò là thần biển trấn giữ phía Tây ThầnVinu đợc miêu tả là vị thần chỉ ba bớc đã đi khắp vũ trụ (có thể là 3 chặng đ-ờng của mặt trời, mọc lên cao và lặn) là vị thần hiện thân của nguyên lý phổbiến, có ở khắp nơi, ở vị trí tối cao trong tất cả các thần Sau này là một trong

3 vị thần chính của Hindu giáo

Thế giới ở giữa là thế giới của không khí - của nớc Indra (thần sấm) làchúa tể của thế giới này Trong Rig Vêda có 250 bài ca về Indra, đây là vịthần đích thực cuả ngời ấn - Aryan Bởi vì hình ảnh Indra mang đậm tínhchất "Nh nhân" gần gũi với con ngời trần thế, bởi vì đó là vị thần duy nhất cócha sinh mẹ đẻ Thần Indra có sức khoẻ và ăn uống phi thờng (gần giống vớitính cách ngời Aryan khi tràn vào ấn Độ) có thân hình khổng lồ, nớc da đỏrực, có nhiều tay, mang lỡi sấm sét, sinh ra sấm chớp Trong các chiến côngcủa thần thì hiển hách nhất là giết đợc con rồng hạn hán Vitra tạo nên hiện t-ợng tự nhiên ma gió thuận hoà (đó chính là hiện thân của ngời Aryan trongcông cuộc chinh phục tự nhiên) Đây là vị thần duy nhất đợc uống sợu Sômaloại cây có thật, có chất gây men say, mọc ở vùng Casơmia sau đó đợc thầnthánh hoá xem là một loại cây thần "Chúa tể của các loài cây ", "Đứa concủa trời" có thể chữa khỏi mọi bệnh tật và ban phát phớc lành Loại rợuSôma chủ yếu dùng trong lễ cúng tế Ngoài ra còn có các thần nh thần gió(Vayu) có nhiệm vụ làm trong sạch bầu trời và cùng với ngọn lửa chuyển các

lễ vật cho thần linh Thần mây (Darijanya) thần Diêm Vơng (Yama)

Thế giới lòng đất là thế giới trực tiếp với con ngời có thần Sôma, thầnsông (Sarasvati) thần đất, đặc biệt là thần Agni (thần lửa) đợc xng tụng nhiềunhất trong kinh Vêda

Agni đợc miêu tả là vị thần mình đỏ, có hai đầu 7 lỡi, tay cầm rìu vàngồi trên xe do 7 con ngựa kéo đi khắp ba cõi mỗi nơi một dạng có nhiệm vụkhác nhau Agni là thần chủ tế của ngôi nhà, ngọn lửa thiêng là vị thầnchứng giám và theo dõi đời sống của gia đình Nó mang đến cho con ngờinhiều phúc lợi ở ngay cuộc sống trên thế gian, chứ không phải ở kiếp sau.Quan trọng hơn, Agui là vị thần sứ giả giữa con ngời với thần linh Ngọn lửa

sẽ mời mọc các vị thần xuống dự và chính ngọn lửa sẽ nhận lễ vật con ngờidâng cúng, để chuyển lên thần linh Trong vở kịch Sơkuntala có đoạn:

Trang 32

"Hỡi những ngọn lửa thiêngNgày ngày lửa dâng lên trờiNhững lễ vật thơm ngọtGiữ sạch tội lỗi cho ngời trần" [10; tr104]

Hoặc trong Vêda có đoạn: "Hỡi Agni ngời ban phá niềm vui, dẫn dắtcon ngời trong cuộc sống gia đình, là sứ giả giúp mời mọc thần kinh Bất kỳnhững công nào các thần làm ra đều hội tụ ở ngời" Vì thế Agni đợc coi làngời bạn của tất cả con ngời và sau này đợc xem là vị thần tiền bối của Siva

Ba thế giới đó tạo thành vũ trụ và vũ trụ đợc tạo thành từ một đấng tạohoá đó chính là trời - đất vị thần sáng tạo ra tất cả mọi vật trong vũ trụ Đấngtạo hoá có nhiều tên gọi Visuakacman (ngời sáng thế) Pragiapati (thuỷ tổloài ngời) Purusa (ngời khổng lồ) Manu (ngời nguyên thuỷ) đây chính lànhững quan niệm của Vêda giáo về nhân sinh quan

Thần Visucakarman tạo ra trời đất và đợc xem là ngời đầu tiên làm ranhà cửa cho các thần ở, rèn đúc vũ khí cho thần dùng và thần có mặt khắpmọi nơi, mọi lúc

Thần Pragiapati thuỷ tổ của loài ngời theo từ nguyên là Bố dân về sautrở thành khái niệm chung: đấng sáng tạo, ngời đã phát triển dòng giống củaloài ngời

Thần Purusa (ngời khổng lồ) có nghìn đầu, nghìn mắt, nghìn chân làngời sinh ra mọi thứ trên cõi đời, sinh ra muôn loài Con ngời có mặt trongxã hội ấn là do Purusa sinh ra đợc sắp xếp "mồm của ngời khổng lồ ? đó làngời Balamôn Tay ? là ngời Ragianya Đùi ? là ngời Vaisya Còn bàn chân ?

là ngời Suđra"[26; tr28]

Thần Manu (thuỷ tổ của loài ngời) theo truyền thuyết Manu là concháu của đấng Brahama Tên Manu dùng để chỉ tổ tiên loài ngời thuộc thế hệthứ 14 đã cai quản trần thế Mỗi Manu trị vì một thời gian dài hơn 4 triệunăm của trần thế gọi là thời đại Manu Manu đầu tiên là tinh thần tuyệt đốicủa Brahma Brahma tự tách mình làm đôi thành hai cực âm - dơng hay đực -cái Sự kết âm dơng sinh ra Manu hay đấng tự tôn tự tại Đứa con Manu thứtám chính là thuỷ tổ của loài ngời

Trang 33

Nh vậy con ngời là một sản phẩm do các thần tự tạo ra bằng cách hiếndâng bản thân mình Nhờ sự hy sinh của đấng sáng tạo, thế giới cũng nh conngời đợc sinh ra Vì thế thời Vêda ngời ta rất coi trọng việc cúng lễ, hiến tế,bởi nó đồng nghĩa với sáng tạo Trong các cuộc hiến tế Sôma, bơ, sữa, bò

đực, bò cái, ngựa, voi, ngũ cốc, bánh thì hiến tế ngựa là quan trọng nhất donhà vua chủ trì Thời gian này cũng có việc tế ngời song rất ít và có thể đợcthay thế bằng ngời chết hoặc bằng vật khác Tuy nhiên việc hiến tế nặng nề,vì thế về sau ngời ta đã đi ngợc lại với chủ trơng, này bởi vì hình thức hiến tếchỉ truyền thông đến các vị thần ngự trị ở thế giới giữa, thế giới không khí.Sau khi chết họ chỉ lên ở thế giới này, một thời gian sau đó lại trở về cuộcsống con ngời ở dới đất

Thời Vêda, những quan niệm về luân hồi - nghiệp báo đã xuất hiện,song chỉ là những t tởng sơ khai Biểu hiện của nó chính là việc hiến tế đặcbiệt là xng tụng ca ngợi các thần Đó là họ hát lên các bài tụng ca trong phầnSamhita của các Vêda Lời bài hát tụng đó sẽ đợc thần tiếp nhận và đều bùbằng những ân huệ xứng đáng Chỉ có các thần ở thế giới trên cùng mới tiếpnhận các bài hát tụng, nghĩa là coi trọng sự hiểu biết về thần linh của con ng-

ời Khi con ngời tiếp cận thần linh bằng tri thức nh vậy, họ đạt đợc mục đích

là đợc giải thoát khỏi cuộc sống trần thế Họ tin rằng sau khi chết, cuộc sốngkhông phải đã chấm dứt mà chuyển sang một kiếp khác, một thể thức sốngkhác ở thế giới bên kia ở thế giới trên cùng, thế giới ánh sáng, ở đó linh hồn

có thể bị trừng phạt, hoặc sống trong hạnh phúc bất tuyệt hoặc bị thần Yama

đày xuống địa ngục, hay đợc thần Vanura đa lên trời, điều đó phụ thuộc vàohành vi con ngời ở kiếp trớc Nhng một đặc điểm trong thời Vêda là thầnYama (Diêm vơng) không phải ở sâu trong lòng đất mà ở trên cao, vì thếkhông có âm phủ, địa ngục, ngời chết sẽ lên thế giới của tổ tiên, còn vui thúhơn cõi trần, điều này cũng lý giải việc sau khi chết ngời ấn thờng thiêu xác

Hình ảnh thiên đờng dờng nh đã xuất hiện mặc dù đó chỉ là nhữnghình ảnh của đời sống hiện thực đợc lý tởng hoá lên mà thôi Song nó cũngphản ảnh một thực tế, xã hội ấn lúc bấy giờ con ngời bắt đầu suy nghĩ vềcuộc đời, về sự sống và cái chết, và tìm mọi cách thoát giới khỏi cái chết,mơ ớc một cuộc sống hạnh phúc ở một thế giới bất minh, bất diệt, trờng sinhbất tử, Đó chính là những khát vọng sinh tồn tự nhiên của con ngời với một

Trang 34

thế giới quan mang tính chất đa thần, tự nhiên và lòng tin nhiệt thành, vào sựphù hộ của các vị thần linh đại diện cho các lực lợng tự nhiên đầy uy lực.

Nh vậy từ những trí thức tôn giáo tích tụ và truyền miêng từ thế hệ nàysang thế hệ khác, ngời Arian đã hoàn thành đợc một bộ kinh mang tính tôngiáo của mình Bộ kinh này có thể do Rsi một loại đạo sĩ hiền triết tu luyệncông phu sống ở ấn Độ thời cổ soạn thảo nên Những ngời ấn cổ xem Vêda

là ngời gốc thần linh hết sức linh thiêng, con ngời không thể sáng tạo ra nó

đợc, cho nên họ cho Vêda là do Rsi đợc thần linh truyền dạy chứ không phải

là họ sáng tạo Vì thế Rsi chỉ là những ngời có năng lực cảm thụ siêu phàm

đã "nhìn thấy", "ghi nhớ" các vê đa mà thôi

Tóm lại thời kỳ Veda giáo có những đặc điểm cơ bản sau:

Tôn giáo Vê da thờ rất nhiều thần, mỗi thần tợng trng cho một lực ợng của tự nhiên Nh thần mặt trời, mặt trăng, thần gió, từ đó lý giải và sứcmạnh kỳ diệu vô hình của vũ trụ Nh vậy tính đa thần giáo biểu hiện rõ, nhấtsong trong quá trình tôn thờ thì ngời ấn Độ quan niệm vị thần nào quantrọng nhất, thì đó là vị thần duy nhất Và bao trùm lên các vị thần là đấngsáng tạo Vì vậy thời kỳ Vê da có sự lng chừng giữa đa thần và nhất thần

l-Điều đó lý giải đặc điểm của Vêda giáo là cái thiêng liêng duy, nhất lại có sựbiểu hiện đa dạng, một tôn giáo nhất thần có thể biểu hiện đa thần Đây cũngthể hiện sự phát triển về t duy của ngời ấn.Từ cụ thể cảm tính sang trừu tợnghoá, khái quát hoá, từ đa thần sang nhất thần

Tôn giáo Vê đa thờ nhiều thần, song không có tợng thần, một vị thầnchỉ đợc tởng tợng, miêu tả trong các kinh Vêđa Vì thế thời kỳ này không cónhững công trình kiến trúc tôn giáo lớn mà, chỉ là những bãi cỏ xanh, giànlửa để tiến hành nghi lễ tôn giáo Mỗi buổi tế lễ ngời ta tiến hành xng tụng,

và cầu xin ân phớc với những mục đích rõ ràng nh đợc mùa, đàn bò sinhcon và ngọn lửa giữ vị trí trung tâm

Ngời Aryan là những bộ tộc du mục Vì thế ngời đàn ông giữ vị tríquan trọng cho nên trong các vị thần thì thần nam chiếm địa vị chính, rất ít vịthần nữ Điều này chứng tỏ chế độ phụ quyền đã tồn tại trong xã hội ấn, và

nó ảnh hởng tới các tục lệ, ngời con trai đến tuổi thiếu niên đợc đọc kinhVêda, và đến khi về già sau khi làm xong các nhiệm vụ trần tục thì vào rừngchuyên chú lễ đạo

Trang 35

Thời kỳ Vêda nhìn chung cuộc sống của con ngời cha quá khắcnghiệt, số phận con ngời không đến nỗi quá cay đắng, không lối thoát Vì thếmục đích tôn giáo vẫn mang nặng tính chất thế tục, cuộc đời cha phải là bểkhổ Do đó ít nhiều tôn giáo Vê đa còn phóng khoáng và cha thoát khỏinhững tín ngỡng địa phơng Nó thực chất là những khúc hát của ngời Aryanthể hiện sự lạc quan, yêu đời mặc dù sự nghèo nàn, cùng cực luôn đi cùngngời Aryan

Nh vậy, giai đoạn Vêđa có vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của

đạo Hindu, nó là thời kỳ đặt nền móng về thần phả, giáo lý cũng nh về nghithức cho đạo này Đặc biệt là giai đoạn Balamôn giáo "Bản kinh mà ngờiBàlamon ngày nay mỗi ngày ba lần đọc tụng vẫn là bài kinh đã đợc tổ tiên

họ đọc tụng cách đây 3000 năm không thay đổi một câu, một chữ Các lễthức cho đứa trẻ sơ sinh, đám cới, đám tang đều đợc ngời ấn giữ y nguyên

nh cách đây 3000 năm" [5 ; tr60]

2.3 ấn độ giáo thời kỳ Bàlamôn.

Trải qua một quá trình phát triển lâu dài trên đất ấn vào thời hậu kỳVêda, ngời Aryan về cơ bản đã định c ổn định và xây dựng đợc một thể chếxã hội của mình Song ngời Aryan đang ở trong một trình độ sản xuất thấpkém hơn ngời bản địa Đravidian Vì thế phơng sách để củng cố địa vị thốngtrị của mình là duy trì chế độ "chủng tính", đồng thời về mặt t tởng từ tôngiáo Vêda họ đã nâng lên tầm triết lý duy tâm thần bí và ở một mực độ trừutợng, phức tạp hơn xa rời cuộc sống chân thực của con ngời, đó là đạoBàlamôn

Đạo Bàlamôn về mặt giáo lý đợc đánh dấu bằng bộ "Thánh điểnBrahmana" là bộ sách chú giải, diễn giải của kinh Vêda nó đợc xây dựngtrên 3 yếu tố:

Đác-ma (Dharma-đạo): đây là những quy định về công việc, cáchsống, bổn phận và kỷ luật thuộc về tập cấp của mình Ngời ấn nào giữ tục lệthì cứ sống trong vòng truyền thống đó, ông cha sống ra sao thì mình sống

nh vậy, một cách thoả mãn không bao giờ thay đổi tập cấp Vì thế một ngờitheo Dharma thì cứ nh một quy luật tự nhiên vậy, có từ xa xa rồi Ngoài

Đharma của mỗi tập cấp còn có Đharma chung gồm những bổn phận chungcho mỗi tập cấp nh phải: sùng bái tôn trọng Bà Lamôn, sùng kính bò cái, bổn

Trang 36

Varna (đẳng cấp) cho rằng mọi ngời phải tuân thủ những trật tự kiên

định của mình (dharma) không ai đợc ganh tị với sự thành đạt và giàu có củangời khác Mỗi ngời phải bằng lòng với vị trí của mình và tuân thủ nhữngdharma quy định cho đẳng cấp của mình Theo đó những ngời thuộc thânphận thấp kém, bị áp bức buộc phải có ý nghĩ về sự cần thiết phải phục tùng

và tuỳ thuộc đẳng cấp trên Sự bần cùng, thê lơng và vị trí đã đợc quy địnhcho mỗi tập cấp, mỗi con ngời trong xã hội chính là sự trừng phạt đối vớinhững tội lỗi mà kiếp trớc họ mắc phải Cho nên mỗi ngời ở đằng cấp khácnhau phải chịu trách nhiệm của mình và làm tốt trách nhiệm đó

Asrama (các giai đoạn của đời sống) theo thuyết này mỗi con ngời lầnlợt trải qua 4 giai đoạn của cuộc đời: đồ đệ BàLamôn- chủ gia đình- ẩn sĩ và

đạo sĩ khuất thực

Là một con ngời trớc hết phải là một Brahma - chari, nghĩa là giữ sựtinh khiết trớc khi có vợ, 12 năm sống tuyệt đối trong trắng dới quyền mộtbậc thầy tinh thần trong một thứ tu viện kiểu Bàlamôn Là điều kiện tối thiểu

để học kinh Vêđa, ngữ pháp và các nghi lễ Phải tụng niệm, cúng vái, họchỏi, hết lòng thờ Guru (thầy của mình) Sau giai đoạn trở thành đồ đệBàlamôn, ngời thanh niên bớc sang giai đoạn Grihastha (gia trởng) làm chủgia đình và phải có con trai để săn sóc mình và thờ cúng tổ tiên Sau giai

đoạn có vợ có con thì ngời nào nguyện thành thánh thì phải dắt vợ con ẩntrong rừng núi, vui vẻ sống đời một Vanaprasthor có ái ân với nhau thì đủ đểcho có con thôi Và muốn đạt mức cao nhất thành thánh thì ngời BàLamônkhi về già phải bỏ nốt gia đình thành một Sannyasi nghĩa là "Ngời đã từ bỏxã hội từ bỏ mọi vinh hoa phú quý, mọi ái dục, hệ luỵ chỉ còn giữ một miếng

da sơn dơng để che mình, một chiếc gậy để chống và một cái bầu nớc đểuống Mỗi buổi sáng phải trát tro lên đầy mình, thờng uống "Năm chất" của

bò cái thiêng liêng và khuất thực để sống

Nh vậy, đạo Bàlamôn cho rằng con ngời dù ở đẳng cấp nào (trừ nhữngngời ngoài đẳng cấp) thì cuối cùng cũng trở thành một đạo sĩ Bàlamôn thựcthụ, và 3 yếu tố: Đác-ma, Varna, asrama đợc coi là những quy phạm vĩnhhằng tồn tại trong xã hội

Về mặt nội dung, đạo Bàlamôn là một tôn giáo đa phần trong đó caonhất là thần Brama, là vị thần sáng tạo thế giới Song có nơi cho thần Siva vị

Trang 37

thần phá hoại là cao nhất; có nơi lại cho thần Visnu (thần bảo vệ, thần ánhsáng, thần bốn mùa, thần làm cho nớc sông Hằng dâng lên và làm ma tới choruộng đồng tơi tốt) là vị thần cao nhất Vì vậy, đạo Bàlamôn có sự phân chiathành các phái khác nhau trong việc thờ thần Siva và Visnu Và để thốngnhất, đạo Bàlamôn quan niệm thần sáng tạo là Brama, thần phá hoại là Siva

và thần bảo tồn là Visnu Nhng 3 ngôi này đều là một [Tam vị nhất thế] có

sự gắn bó mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất biến chứng vừa

đối lập vừa hoà đồng Sáng tạo để bảo tồn rồi huỷ diệt, huỷ diệt để sáng tạorồi bảo tồn và bảo tồn để huỷ diệt rồi sáng tạo, sự chuyển hoá chức năng đó

cứ thế tiếp diễn trong một chu kỳ bất tận Vì vậy, thần huỷ diệt nhiều khi lạibiểu hiện mặt sáng tạo và baỏ tồn Visnu có khi kết hợp với Siva thành một

vị thần duy nhất Trong khi đó thần Brama là vị thần sáng tạo, song trên thực

tế lại thấp kém hơn 2 vị thần kia

Ngoài 3 vị thần chính đó đạo Bà lamôn còn thờ nhiều vị thần khác nữa

nh thần voi, thần khỉ, thần bò đợc nhắc nhiều trong các buổi hành lễ

Một trong những đặc điểm quan trọng trong nội dung giáo lý đạo Bàlamôn là thuyết luân hồi Nếu nh ở giai đoạn Vêda còn ở dạng sơ khai thì

đến giai đoạn này đã đợc hoàn thiện hơn Họ cho rằng Brama là linh hồn của

vũ trụ, là một tồn tại duy nhất và vĩnh hằng Con ngời là một bộ phận củaBrama, vì thế có sống, có chết song linh hồn của con ngời đợc dời từ vỏ bọcvật chất này chuyển sang vỏ bọc vật chất khác Linh hồn mãi mãi tồn tạo và

sẽ luân hồi trong nhiều kiếp sinh vật khác nhau Nhờ vậy con ngời sẽ đợc hồisinh trong một trạng thái mới Linh hồn có thể ở trạng thái cao hơn hoặc thấphơn về chất, điều đó tuỳ thuộc vào con ngời có giữ đúng các luật lệ của tôngiáo và các qui tắc mà thần đã định sẵn cho mỗi ngời hay không ? Quanniệm này đợc sử dụng để xây dựng học thuyết về Karma (nghiệp) tức conngời đợc báo đáp ở cõi chết tuỳ theo hành vi lúc sinh thời của mình Việccon ngời đợc biến hoa ra sao, theo đạo Bà lamôn nó phụ thuộc việc ngời tatuân thủ Dharma (đạo) nh thế nào? Và tuân thủ chính xác sự sai khiến củacác giáo sĩ đến mức độ nào ? Vi phạm những nguyên tắc đã qui định trongDharma, Varna sẽ dẫn đến việc đầu thai làm ngời khổ cực, thậm chí là những

động vật bẩn thỉu, song nếu thực hiện đúng thì sẽ trở thành ngời cao quí, conngời sẽ thoát khỏi sự biến hoá và linh hồn đợc giải phóng

Trang 38

Và để lí giải cho thuyết Varna về sự bất bình đẳng trong xã hội, đạo

Bà lamôn cho rằng: Thế giới, cảm giác, con ngời là ảo tởng Do vậy, sự đaukhổ của con ngời, sự bần cùng bất hạnh cũng chỉ là sự ảo tởng Đối với conngời cái quan trọng là linh hồn chứ không phải là thể xác Vì vậy, họ kêu gọimọi ngời từ bỏ ý định cải tạo xã hội, mọi ngời chỉ cần hoàn thiện linh hồn dothần thánh ban phát, thiên định là đủ Bởi vì con ngời đợc sinh ra từ những

bộ phận của thần thánh Thần Purusa (ngời khổng lồ) hi sinh cơ thể để tạonên 4 đẳng cấp trong xã hội

Đẳng cấp Bà lamôn đợc sinh ra từ "mồm" thần, vì thế đợc ban cho tinhthần thiêng chuyên lo việc tôn giáo, học và dạy kinh Vêda nhằm đảm bảocho kinh Vêda đợc lu truyền

Đẳng cấp Ksatriya đợc sinh ra từ "tay" vì thế đợc ban cho sức mạnhchuyên sử dụng vũ khí để che chở của cải và sinh mạng con ngời, đảm bảocho chính quyền đợc đứng vững

Đẳng cấp Vaisya từ "đùi" thần mà ra, vì thế đợc giao cho việc lao

động sản xuất, chuyên lo trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán nhằm tạo ra của cảivật chất nuôi sống xã hội

Đẳng cấp Sudra từ bàn "chân" thần sinh ra cho nên đợc giao cho bổnphận phải hầu hạ, phục dịch 3 đẳng cấp trên

Từ những qui định đó, đạo Bà lamôn cho rằng chỉ 3 đẳng cấp trên đợcxem là trong sạch về mặt tôn giáo, có quyền học tập kinh Vêda, Họ đợc xem

là ngời sinh ra 2 lần: một lần sinh thể xác và một lần sinh tinh thần và đợc

đeo sợi dây thiêng Những ngời đó đợc gọi là Dvija(ngời 2 lần sinh) Còn

đẳng cấp cuối bị xem là không trong sạch về tôn giáo Vì thế không thuộcnhững ngời Dvija mà thuộc những ngời Eka-Jati (sinh một lần thể xác) tuyvậy họ vẫn là ngời thuộc thành phần trong đẳng cấp Ngoài ra còn có nhữngngời ngoài đẳng cấp (Out caster) nh ngời hèn hạ (Pariah), ngời bẩn thỉu(Intouchahbes)

Về mặt giới luật đạo Bàlamôn thực hiện luật Manu

Luật Manu đợc soạn ra trong khoảng từ năm 200 trớccông nguyên đếnnăm 200 sau công nguyên Gồm 12 phần với 2685 điều Sáu phần đầu nói về

sự sáng tạo ra thế giới và đẳng cấp BaLamôn; phần 7 nói về nhà vua; phần 8,

Trang 39

9 nói về các luật lệ; phần 10 nói về đẳng cấp; phần 11 nói về các nghi lễ;phần 12 nói về sự tái sinh và cứu rỗi.

Theo bộ luật quy định: u tú nhất trong mọi sinh vật là động vật, u túnhất trong giống động vật có lý tính là con ngời; u tú nhất trong loài ngời làngời BàLamôn BàLamôn sinh ra sớm nhất và có những hiểu biết về kinhVêda nên cần phải thống trị toàn thế giơí Vì thế họ đợc tôn trọng nh các vịthần Trong điều 135 ghi: "BàLamôn 10 tuổi nếu đợc coi là bố con, nhngtrong 2 ngời ấy bố là BàLamôn" [1; tr 1012]

Về mặt xã hội bộ luật quy định chế độ hôn nhân hết sức khắt khe,những cuộc hôn nhân khác chủng tính đều bị cấm đoán nếu ngời BàLamôncới vợ hoặc chồng ngoài đẳng cấp thì họ sẽ bị đẩy ra ngoài hệ thống đẳngcấp trở thành ngời bẩn thỉu, ti tiện và nh vậy sẽ không đợc theo đạoBaLamôn Điều 163 ghi "Ngời đàn bà bỏ ngời chồng thấp kém của mình ăn

ở với ngời cao quý hơn cũng bị đáng chê trách trong thế giới vì bị gọi là ngờitái giá" [1; tr 1012]

Về lễ nghi tôn giáo: Nếu ngời Sudra hoặc ngời ngoài đẳng cấp nếunghe thánh kinh thì sẽ bị điếc, bị đổ chì vào, nếu tụng thánh kinh thì sẽ bị cắtlỡi, nếu học thuộc lòng thánh kinh thì sẽ bị chặt làm hai Còn ngời BaLamônphải "Nghiên cứu kinh Vêda, sự khổ hạnh, kiến thức, sự sách sẽ, sự kiềm chếcác khí quan cảm giác, sự suy nghĩ về tâm hồn là những dấu hiệu của phẩmchất thiên tâm" điều 31 chơng XII) [1; tr1013]

Đồng thời luật Manu quy định các nghi lễ về các ngày, tháng, nămthực hiện việc cúng thần "khi có lễ phải tẩy rửa thân thể, kiêng rợu thịt, nớcthơm, đồ trang sức, đồ gia vị, kiêng đàn bà, kiêng tất cả những cái đã hoáchua, cũng nh tránh hãm hại các sinh vật" (điều 176 chơng II) hoặc nếuphạm tội trong tôn giáo thì phải " tập trung tinh thần ăn chay trong 3 ngày; 1ngày 3 lần vào nớc; đồng thời 3 lần nhắc lại bài tụng thì ngời đó sạch mọi tộilỗi" (Điều 41 chơng XI) [1; tr 1013]

Tóm lại, đạo BàLamôn cho vạn vật trong vũ trụ là bất biến, vì thế sựphân chia đẳng cấp trong xã hội cũng cố định Con ngời trong vũ trụ sống-chết theo quy luật luân hồi Những ngời thuộc đẳng cấp thấp, là do phạm tội

từ kiếp trớc, muốn giải thoát phải nhịn nhục chịu đựng, nó là sự phù hợp với

ý của thần tối cao Đạo BàLamôn thực hiện các nghi lễ, lễ luật phức tạp,

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Almanach: "Những nền văn minh thế giới" - NXB Văn hoá - Thông Tin, HN - 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn minh thế giới
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông Tin
[2]. C.Mác - F.Enghen: "Tuyển tập" - tập 1 - NXB sự thật HN, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Nhà XB: NXB sự thật HN
[3]. Doãn Chính: "T trởng giải thoát trong triết học ấn Độ" - NXB Thanh niên - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T trởng giải thoát trong triết học ấn Độ
Nhà XB: NXB Thanhniên - 1999
[4]. Doãn Chính, Lơng Minh Cừ: "Lịch sử triết học ấn Độ cổ đại" - NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp , HN 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học ấn Độ cổ đại
Nhà XB: NXB Đạihọc và giáo dục chuyên nghiệp
[5]. Minh Chi - Hà Thúc Minh: "Đại cơng triết học phơng Đông" - Ban xuất bản trờng ĐHTH TP.Hồ Chí Minh 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng triết học phơng Đông
[6]. Nguyễn Đức Đàn: "T trởng triết học và đời sống văn hoá - văn học ấnĐộ" NXB Văn học 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T trởng triết học và đời sống văn hoá - văn học ấnĐộ
Nhà XB: NXB Văn học 1998
[7]. Cao Huy Đỉnh: "Văn hoá ấn Độ" NXB HN 1933 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ấn Độ
Nhà XB: NXB HN 1933
[8]. Nguyễn Tấn Đắc: :"Văn hoá ấn Độ" NXB TP.Hồ Chí Minh 2000 [9]. F.Anghen: "Chèng duy Rinh" NXB sù thËt HN 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ấn Độ" NXB TP.Hồ Chí Minh 2000[9]. F.Anghen: "Chèng duy Rinh
Nhà XB: NXB TP.Hồ Chí Minh 2000[9]. F.Anghen: "Chèng duy Rinh" NXB sù thËt HN 1971
[13]. Đinh Trung Kiên: "Nền vănminh ấn Độ" cuốn "Những nền văn minh cổ xa rực rỡ" NXB HN 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền vănminh ấn Độ" cuốn "Những nền văn minhcổ xa rực rỡ
Nhà XB: NXB HN 1993
[14]. Lê Xuân Khoa: "Nhập môn triết học ấn Độ" Trung tâm học liệu - Bộ Giáo dục, SG, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn triết học ấn Độ
[15]. Nguyễn Hiến Lê: "Lịch sử thế giới" tập 1,2 - NXB VH - TT - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới
Nhà XB: NXB VH - TT - 1998
[16]. Vũ Dơng Ninh - Phan Văn Ban - Nguyễn Công Khanh ..."Lịch sử ấn§é" -NXB GD 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ấn§é
Nhà XB: NXB GD 1995
[17]. Lơng Ninh: "Lịch sử thế giới cổ đại" - NXB GD - 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Nhà XB: NXB GD - 1997
[18]. Dơng Văn Ninh: "Bớc đầu tìm hiểu chế độ đẳng cấp và tôn giáo trong lịch sử ấn Độ" - Thông báo khoa học ĐHSP Vinh 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bớc đầu tìm hiểu chế độ đẳng cấp và tôn giáo tronglịch sử ấn Độ
[19]. Vũ Dơng Ninh: "Lịch sử văn minh thế giới" NXB GD 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Nhà XB: NXB GD 2000
[20]. Dơng Xuân Ngọc (chủ biên): "Lịch sử t tởng chính trị" - NXB Chính trị Quèc gia HN 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử t tởng chính trị
Nhà XB: NXB Chính trịQuèc gia HN 2001
[21]. "Nớc cộng hoà ấn Độ" - NXB sự thật 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nớc cộng hoà ấn Độ
Nhà XB: NXB sự thật 1983
[22]. Paul Pouppard: "Các tôn giáo" - NXB thế giới - HN 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tôn giáo
Nhà XB: NXB thế giới - HN 2001
[23]. Nguyễn Gia Phu: "Lịch sử t tởng phơng Đông và Việt Nam" - NXB ĐHĐà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử t tởng phơng Đông và Việt Nam
Nhà XB: NXB ĐHĐà Lạt
[24]. Nguyễn Gia Phu: "Lịch sử thê sgiới trung đại" - NXB GD 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thê sgiới trung đại
Nhà XB: NXB GD 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w