Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu và thanh điệu thựcsự có những vai trò đặc biệt không thể thiếu: nó là thành tố tham gia cấu tạonên âm tiết tiếng Việt; là đơn vị có chức năng cấu tạo
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạoTr
ờng đại học vinh
Lời núi đầu
Đề tài này hoàn thành ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thõn, một phần lớn cũn nhờ sự hướng dẫn tận tỡnh, chu đỏo của thầy giỏo
Trang 2– TS Nguyễn Hoài Nguyên; sự góp ý chân tình của các thầy cô giáo
tổ ngôn ngữ trường Đại Học Vinh; sự động viên khích lệ của bạn
Trang 31.1.1 Các xu hướng chính 10
1.1.2 Âm tiết và các đơn vị ngữ âm tiếng Việt 14
1.2 Hệ thống thanh điệu tiếng Việt 18
1.2.1 Khái niệm thanh điệu 18
1.2.2 Lịch sử hình thành thanh điệu tiếng Việt 20
1.2.3 Miêu tả hệ thống thanh điệu tiếng Việt 22
1.2.4 Các tiêu chí khu biệt thanh điệu 24
1.3 Tiểu kết chương 1 26
Chương 2: Chức năng của thanh điệu trong từ đơn tiết và từ láy đôi 28
2.1 Thanh điệu trong từ đơn tiết tiếng Việt 28
2.1.1 Từ đơn tiết trong tiếng Việt 28
2.1.2 Chức năng khu biệt nghĩa của thanh điệu trong từ đơn tiết 33
2.1.3 Thanh điệu thực hiện chức năng gợi tả nghĩa của từ (đơn tiết) 45
2.2 Thanh điệu trong từ láy đôi tiếng Việt 48
2.2.1 Từ láy trong tiếng Việt 48
2.2.2 Chức năng của thanh điệu trong cấu trúc hài âm của từ láy đôi
55 2.2.3 Thanh điệu thực hiện chức năng gợi tả nghĩa của từ (láy đôi) 68
2.3 Tiểu kết chương 2 70
Chương 3: Chức năng của thanh điệu trong thành ngữ, tục ngữ 72
3.1 Thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Việt 72
Trang 43.1.1 Khái niệm thành ngữ 72
3.1.2 Khái niệm tục ngữ 73
3.1.3 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ 74
3.2 Thanh điệu trong cấu trúc nhịp điệu của thành ngữ 78
3.2.1 Thanh điệu trong cấu trúc nhịp điệu của thành ngữ bốn âm tiết 78
3.2.2 Thanh điệu trong cấu trúc nhịp điệu của thành ngữ trên bốn âm tiết 93
3.3 Thanh điệu trong cấu trúc nhịp điệu của tục ngữ 96
3.3.1 Tiểu dẫn 97
3.3.2 Sự thể hiện thanh điệu trong cấu trúc nhịp điệu của tục ngữ bốn âm tiết 97
3.4 Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trang 51.1.Trên thế giới, số lượng ngôn ngữ có thanh điệu không nhiều, tiếngViệt thuộc số ít ấy Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu và thanh điệu thực
sự có những vai trò đặc biệt không thể thiếu: nó là thành tố tham gia cấu tạonên âm tiết tiếng Việt; là đơn vị có chức năng cấu tạo từ và khu biệt nghĩa củatừ; trong từ láy nó là một tiêu chí tổ chức hình thức và đặc biệt nó còn thamgia vào cấu trúc nhịp điệu của thành ngữ và tục ngữ Có thể nói, thanh điệutạo nên một dáng vẻ riêng cho tiếng Việt
Tiếng Việt có sáu thanh, mỗi thanh có một đặc trưng riêng, khả năngkết hợp riêng, biểu nghĩa riêng Sự phong phú về số lượng, tính chất và khảnăng hoạt động làm cho thanh điệu trở thành một đơn vị quan trọng góp phầnlàm nên vẻ đẹp riêng cho tiếng Việt
1.2 Thanh điệu là một đơn vị âm vị học, do đó có thể khảo sát sự phân
bố và tìm hiểu chức năng của thanh điệu trong vốn từ tiếng Việt Công việcnày sẽ đem lại lợi ích cho âm vị học tiếng Việt, đồng thời cũng có lợi ích choviệc xác định loại hình ngôn ngữ này và hơn nữa còn phần nào làm sáng tỏkhái niệm hình tiết (Syllabeme) trong nghiên cứu Việt ngữ ở cấp độ cao hơn
Ngoài ra, vấn đề thanh điệu trong từ đơn và từ láy đã có một số côngtrình nghiên cứu, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn để làm rõ hơn chức năngcủa thanh điệu ở hai đơn vị này Riêng thành ngữ, tục ngữ - hai đơn vị đượcứng dụng khá nhiều trong thơ văn và trong lời ăn tiếng nói hàng ngày Thànhngữ được xem là đơn vị ngôn ngữ, nó được hình dung là bộ phận cấu thành từvựng, được nghiên cứu trong từ vựng học, còn tục ngữ lại là đơn vị ngôn từ,
là một hiện tượng ý thức xã hội; mỗi câu tục ngữ được xem như một văn bản
và nó được nghiên cứu ở phương diện câu hoặc văn bản Bấy lâu nay, có khánhiều công trình lớn nhỏ nghiên cứu về tục ngữ và thành ngữ nhưng người tachủ yếu quan tâm đến ngữ pháp và từ vựng - ngữ nghĩa, còn vấn đề thanhđiệu (thuộc ngữ âm) – chưa được quan tâm nhiều, đặc biệt là vai trò của nótrong cấu trúc nhịp điệu Việc thống kê khảo sát cũng như chỉ ra được chức
Trang 6năng của thanh điệu trong cấu trúc nhịp điệu của thành ngữ, tục ngữ sẽ gópphần có cái nhìn toàn diện hơn về hai đối tượng này cũng như chức năng củathanh điệu trong các đơn vị ngôn từ và ngôn ngữ.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thanh điệu trong các đơn vị ngônngữ và ngôn từ gồm: từ đơn, từ láy, thành ngữ và tục ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài này hướng đến giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Dựa vào những kiến thức về từ vựng và ngữ pháp tiến hành thống kê
và xử lí tư liệu để xác lập danh sách về từ đơn, từ láy song tiết, thành ngữ, tụcngữ
- Dựa trên các tiêu chí khu biệt thanh điệu, bước đầu xác lập một toàncảnh về phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết, từ láy đôi, thành ngữ và tục ngữ,
từ đó tìm hiểu chức năng tạo lập vỏ tiếng và chức năng khu biệt nghĩa củathanh điệu trong các từ đơn tiết; trong cấu trúc hài âm trong từ láy song tiết;trong cấu trúc nhịp điệu của thành ngữ và tục ngữ
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Vấn đề thanh điệu tiếng Việt được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
và cũng có khá nhiều tài liệu viết về vấn đề này Qua tìm hiểu chúng tôi thấycác tài liệu nghiên cứu chủ yếu đi theo hai hướng: đồng đại và lịch đại, cụ thểnhư sau:
-Theo hướng đồng đại, phải kể đến các công trình nghiên cứu sau:
Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại của các tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn
Thung, Nguyễn Nguyên Trứ, Nxb Giáo dục, 1978
Trang 7Tiếng Việt hiện đại (ngữ âm, ngữ pháp, phong cách), Nguyễn Hữu
Quỳnh, Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, 1996
Giáo trình ngữ âm tiếng Việt, Vương Hữu Lễ, Hoàng Dũng, Nxb
Trường đại học sư phạm Hà Nội 1, 1994
Ngữ âm tiếng Việt, Đoàn Thiện Thuật, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,
2004
Giáo trình ngữ âm tiếng Việt, (Dùng cho sinh viên ngữ văn), Nguyễn
Hoài Nguyên, Trường Đại học Vinh, 2000
…
Đây chủ yếu là các giáo trình giảng dạy trong các trường cao đẳng, đạihọc Trong các công trình này, thanh điệu được bàn đến cùng với các đơn vịkhác tạo nên âm tiết và nội dung chủ yếu là miêu tả hệ thống thanh điệu tiếngViệt, xác định các phẩm chất ngữ âm của thanh điệu, các tiêu chí khu biệtthanh điệu và nhận xét về sự phân bố thanh điệu trong các loại hình âm tiết,trong từ láy, trong thơ…
Cũng theo hướng đồng đại có một số bài báo hoặc khóa luận, luận văn
có tìm hiểu cụ thể hơn về phân bố của thanh điệu trong từ đơn và từ láy như:
Thanh điệu trong từ láy đôi tiếng Việt, Hoàng Cao Cương, Ngôn ngữ số
Gần đây nhất là khóa luận tốt nghiệp : Tìm hiểu chức năng thanh điệu
tiếng Việt ( trên tư liệu từ đơn, từ láy) của Đỗ Thị Hường, Đại Học Vinh,
2010 Những kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên
Trang 8cứu sâu hơn về chức năng của thanh điệu trong từ đơn, từ láy và rộng hơn là ởthành ngữ và tục ngữ.
Theo hướng lịch đại, đầu tiên phải kể đến : Về nguồn gốc các thanh
của tiếng Việt, Houdricuort (1954), Ngôn ngữ số 1, 1991 Tác giả này đã chỉ
ra lịch sử hình thành các thanh của tiếng Việt Quan điểm của Houdricuort vàkết quả nghiên cứu của ông được hầu hết các nhà Việt ngữ thừa nhận, tiếp thu
và lấy làm cơ sở trong công trình nghiên cứu của mình
Một công trình nữa là : Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nguyễn
Tài Cẩn, Nxb Giáo dục, 1995 Đây là một công trình nghiên cứu khá côngphu và đầy đủ về các đơn vị ngữ âm tiếng Việt trong đó có thanh điệu Trongcông trình này, trên cơ sở quan điểm của Houdricuort, tác giả đã nói cụ thểhơn về lai nguyên hệ thống thanh điệu và lai nguyên sinh ra hai loại âm vực,
ba kiểu đường nét…
Ngoài ra, vấn đề vai trò của thanh điệu trong các đơn vị nói trên cóđược nói tới trong một số công trình khác, nhưng nhìn chung chưa có côngtrình nào nghiên cứu thanh điệu độc lập với chức năng đầy đủ của nó ở cảphương diện ngôn ngữ lẫn ngôn từ Ở đề tài này, chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu
về chức năng của hệ thống thanh điệu tiếng Việt trên dẫn liệu từ đơn, từ láy,thành ngữ và tục ngữ
4 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu mà luận văn lựa chọn để nghiên cứu gồm:
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng, 2000
Từ điển từ láy tiếng Việt của Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, Nxb
Giáo dục, 1994
Thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang, Nxb Khoa
học xã hội, 1993
Trang 9Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri,
Nxb Khoa học xã hội, 1993
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ đề ra, luận văn sử dụng các phươngpháp, thủ pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp thống kê định lượng để lập danh sách các đơn vị khảosát (từ đơn, từ láy, thành ngữ, tục ngữ) làm cơ sở ngữ liệu cho luận văn
- Thủ pháp phân tích, miêu tả, tổng hợp… để làm rõ mối tương quangiữa cấu trúc và chức năng của thanh điệu trong các đơn vị nói trên
Ngoài ra chúng tôi còn tận dụng ngữ cảm của người bản ngữ, kiến thức
về phương ngữ học, văn hóa dan gian để thực hiện đề tài này
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Trong giới hạn của một luận văn chúng tôi không thể nghiên cứu hếtchức năng của thanh điệu của tất cả các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ mà chỉlựa chọn những đơn vị cơ bản Mọi cố gắng của chúng tôi là nhằm miêu tả sựphân bố thanh điệu và các thuộc tính âm vị học thanh điệu cùng với cácđường nét của thanh điệu được thể hiện một cách tự nhiên trong việc tham giacấu tạo từ đơn tiết, từ láy đôi, việc tổ chức nhịp điệu trong thành ngữ, tục ngữ
để làm tiền đề, cơ sở cho việc tìm hiểu chức năng của thanh điệu trong cácđơn vị này
Chúng tôi hi vọng kết quả tìm hiểu sẽ góp phần vào việc nghiên cứu vàứng dụng các đơn vị từ đơn, từ láy, thành ngữ, tục ngữ
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Chức năng của thanh điệu trong từ đơn tiết và từ láy đôi
Trang 10Chương 3: Chức năng của thanh điệu trong thành ngữ, tục ngữ
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trang 111.1 Vấn đề phân xuất các đơn vị ngữ âm trong tiếng Việt
1.1.1 Các xu hướng chính
Vấn đề phân xuất các đơn vị ngữ âm trong tiếng Việt đã được các nhàngữ học nghiên cứu từ lâu, tuy nhiên vẫn tồn tại những quan điểm, xu hướngkhác nhau trong cách xác lập, mô tả hệ thống ngữ âm tiếng Việt Nhữngkhuynh hướng nghiên cứu khác nhau do quan điểm, cách tiếp cận khác nhau,xuất phát điểm khác nhau: hoặc lấy Châu Âu làm trung tâm, hoặc tiếp thutruyền thống ngôn ngữ học khác như : âm vận học Trung Hoa, Phương Đônghọc ở Liên Xô cũ Dù tiếp cận theo hướng nào và tất yếu kết quả khác nhau,nhưng tất cả các khuynh hướng đều xuất phát từ âm tiết, coi âm tiết là đơn vịtrung tâm, và đều cho rằng âm tiết là đơn vị đa chức năng Cụ thể như sau:
a Theo cách hình dung của truyền thống ngữ âm học cổ điển Châu Âu: Chịuảnh hưởng mạnh mẽ của phương pháp phân tích âm vị học vốn được áp dụngcho các ngôn ngữ Châu Âu, một số nhà ngữ học như Lê Văn Lý (1948), M.B.Emeneau (1951) cho rằng tiếng Việt cũng có hiện tượng: âm tố - âm vị -nguyên âm - phụ âm Từ đ, họ cho rằng tiếng Việt chỉ cần xác lập hệ thốngnguyên âm và phụ âm Thậm chí âm đầu và âm cuối cũng quy vào một đơn vịthuộc hệ thống phụ âm Theo Lê Văn Lý (1948), một kí hiệu thanh tính đơntrong tiếng Việt có thể tồn tại bốn kiểu khác nhau: V, VC, CV, VCV (V:nguyên âm, C: phụ âm) Các đơn vị ngữ âm không được tính đến trong tiếngViệt là thanh điệu và âm đệm Riêng yếu tố âm đệm, tác giả xem nó là đặctrưng của âm đầu và hệ quả là tăng số lượng âm đầu Các phụ âm mở đầu vàkết thúc không có sự phân biệt, tức quy về một hệ thống phụ âm
Tác giả Emeneau (1951) cũng có quan điểm tương tự khi ông đưa ra mộtlược đồ âm tiết là tổ hợp âm đoạn bao gồm: phụ âm + nguyên âm + phụ âm
Cách phân tích và mô tả hệ thống ngữ âm tiếng Việt theo kiểu như vậy
ta còn bắt gặp ở thập niên 60 thế kỉ XX của tác giả Hoàng Tuệ (1962) Theotác giả Hoàng Tuệ, lược đồ âm tiết sẽ là: C1VC2 Trong đó C1 là thuỷ âm
Trang 12(âm đầu), C2 là chung âm (âm cuối), còn V là nguyên âm Quan điểm của tácgiả Hoàng Tuệ có khác là xác định hai hệ thống phụ âm.
Kết quả của hướng miêu tả này cho thấy âm tiết tiếng Việt được miêu
tả như một tổ hợp của các phụ âm và nguyên âm, trong đó nhất thiết phải cómột nguyên âm, còn thanh điệu không được tính đến
b Một cách tiếp cận khác là tiếp thu thành tựu của âm vận học Trung Hoa,tức xuất phát từ âm tiết mang thanh điệu, dựa vào cách hiệp vần trong thơ,phép phiên thiết, song thanh điệp vận mà chia tách âm tiết thành hai thànhphần đoạn tính là thanh mẫu - vận mẫu và thành phần siêu đoạn là hô và điệu.Đại biểu cho khuynh hướng này là tác giả Nguyễn Quang Hồng (1994) Tácgiả này cho rằng âm tiết tiếng Việt, một mặt giữ chặt biên giới của mìnhtrong ngữ lưu nhưng mặt khác lại khẳng định cấu trúc đoạn tính của chỉnh thể
âm tiết và có thể phân xuất từ âm tiết ra thành các đại lượng ngữ âm khácnhau Dựa vào các cứ liệu như: cấu tạo từ láy, iếc hoá, nói lái, mô phỏng âmthanh Tác giả chia tách âm tiết thành bốn bộ phận như sơ đồ sau:
Thanh điệu
Âm đệm
Trong đó, thanh điệu và âm đệm thuộc thành phần siêu đoạn, còn âmđầu và vần cái thuộc thành phần đoạn tính
Tác giả tiến hành tính đếm số lượng các đơn vị âm thanh (âm vị): âmđầu là 21 đơn vị, vần cái gồm 124 (trong đó có 12 vần đơn (vần mở) và 112vần phức (gồm vần nửa mở, nửa khép và khép), thanh điệu có 6 thanh và 2
âm đệm
c Khuynh hướng thứ ba tiếp thu những quan điểm của các nhà Đông phươnghọc Xô Viết như: E.Polivanov, A.A.Dragunov, E.N.Dragunova,M.V.Gordina , các nhà Việt ngữ học đã không xây dựng hệ thống ngữ âmtiếng Việt thành hệ thống nguyên âm, phụ âm, cũng không nhìn nhận theo
Trang 13cách mô tả của âm vận học Trung Hoa mà tiến hành xác lập hệ thống bốnthành tố cấu thành cấu trúc âm tiết gồm âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối.Công thức xác lập bốn thành tố này gọi là công thức Polivanov, vì 1930,
trong công trình nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Hán hiện đại, nhà Đông phương
học Polivanov là người khởi xướng quan điểm không coi âm vị tiếng Hán nhưtrong các ngôn ngữ Châu Âu Ông đề xuất thuật ngữ Syllabeme (tiết vị) vàmỗi Syllabeme có thể chia thành bốn thành tố
Năm 1976 khi nghiên cứu về Vấn đề âm vị trong tiếng Việt
M.V.Gordina cũng tán thành công thức Plivanov chia âm tiết thành bốn thànhtố
Khuynh hướng này sau đó được áp dụng vào tiếng Việt, có ảnh hưởnglớn đối với các nhà Việt ngữ học Hầu hết các giáo trình ngữ âm tiếng Việtbậc đại học đều tiếp thu quan điểm này Hướng nghiên cứu này đã phá vỡcách hình dung lấy Châu Âu làm trung tâm và phần nào cho thấy diện mạongữ âm tiếng Việt là không thể đồng nhất với diện mạo ngữ âm các ngôn ngữChâu Âu Xu hướng phân tích và mô tả các đơn vị ngữ âm tiếng Việt theo bốnthành tố tuy không còn phỏng theo hai hệ thống nguyên âm và phụ âm nhưcác ngôn ngữ Châu Âu nhưng đồng thời cũng chưa thoát khỏi ấn tượng về cácchữ cái Những người đi theo khuynh hướng phân tích âm tiết tiếng Việtthành bốn thành tố cũng có những cách nhìn khác nhau trong cấu trúc âm tiết.Các tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ (1972)không hình dung cấu trúc từng bậc của âm tiết mà chỉ hình dung bốn thành tốnhư những đoạn âm kế tiếp nhau theo trật tự tuyến tính Ngoài bốn thành tốđoạn tính, yếu tố đặc trưng độ cao (thanh điệu) chỉ gắn với phần vần của âmtiết:
Thanh điệu
Trang 14Theo tác giả Hoàng Thị Châu (1989), bốn thành tố cũng được sắp xếpthành hai bậc nhưng các thành tố trong bậc có khác:
Âm tiết
Âm đầu Âm đệm Vần Thanh điệu
Nguyên âm Âm cuối
Theo cấu trúc này thì bậc một gồm âm đầu, âm đệm, vần và thanh điệu;bậc hai gồm: nguyên âm và âm cuối Thanh điệu là yếu tố độ cao của cả âmtiết Bốn thành tố tham gia cấu tạo không theo tuyến tính mà theo bậc
Các tác giả Đoàn Thiện Thuật (1977), Hữu Quỳnh (1980), Vương Hữu
Lễ, Hoàng Dũng (1994), Nguyễn Hoài Nguyên (2000) lại cho rằng: bậc mộtgồm âm đầu, vần và thanh điệu; bậc hai gồm âm đệm, âm chính và âm cuối,
sơ đồ như sau:
Thanh điệu
Âm đầu
Vần
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Sau khi đã chỉ rõ cấu trúc hai bậc của âm tiết tiếng Việt, các tác giả lạitiến hành mô tả các đối hệ là thanh điệu, âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối;phân biệt các âm tiết tiếng Việt theo từng đối hệ
d Đặt vấn đề có phải thứ tiếng nào âm vị cũng được thực hiện theo một âm tốkhông, tác giả Cao Xuân Hạo (1974, 1985) khẳng định kích thước của các đạilượng ngữ âm thể hiện âm vị có thể khác nhau tuỳ theo từng ngôn ngữ, và cái
mà ta gọi là âm tố chỉ có được cương vị âm vị trong một số ngôn ngữ thuộcmột loại hình nhất định mà thôi Tác giả cho rằng âm vị có hai loại là đoản âm
Trang 15vị và trường âm vị Trong các ngôn ngữ Châu Âu, âm vị có kích thước âm tố(nguyên âm, phụ âm) là những âm đoạn nhỏ nhất được phân xuất trong ngữlưu dựa vào tiêu chí chức năng- chức năng tạo lập vỏ tiếng cho các kí hiệungôn ngữ ( hình vị, từ) Còn trong tiếng Việt và các ngôn ngữ cùng loại hìnhnhư tiếng Việt, âm vị có kích thước âm tiết, âm tiết mới là âm đoạn nhỏ nhất.Trong ngữ lưu, chỉ có các âm tiết mới kế tiếp nhau theo tuyến tính Chỉ trong
âm tiết, các nét khu biệt mới được thực hiện đồng thời hay ít nhất là gần đồngthời Tóm lại, trong tiếng Việt, các âm tiết nguyên vẹn là đơn vị âm vị học cơbản – âm vị Đơn vị âm vị học cơ bản này sẽ được định nghĩa là đơn vị âmhọc đoạn tính nhỏ nhất không thể phân chia thành những đơn vị kế tiếp nhỏhơn hay một tập hợp nét khu biệt được thực hiện đồng thời Thay vì một lýthuyết xoay quanh âm vị - âm tố, trong tiếng Việt sẽ là lý thuyết xoay quanh
âm vị - âm tiết (Syllabeme) Quan niệm này được các giáo sư Nguyễn QuangHồng, Nguyễn Tài Cẩn ủng hộ
1.1.2 Âm tiết và các đơn vị ngữ âm tiếng Việt
Âm tiết được xem là điểm xuất phát để phân tích âm vị học Một đạilượng âm thanh ngôn ngữ nào đó sẽ có giá trị âm vị học khi nó thực hiện chứcnăng nào đó Có nghĩa là, nó trở thành đơn vị chức năng trong hệ thống ngônngữ Có hai chức năng cơ bản mà các đơn vị ngữ âm có thể đảm nhận là chứcnăng tạo lập và chức năng khu biệt vỏ tiếng các đơn vị mang nghĩa (tức các kíhiệu ngôn ngữ) trong một ngôn ngữ nhất định
Trong tiếng Việt, thực hiện chức năng tạo lập vỏ tiếng cho các đơn vịmang nghĩa phải là các âm tiết nguyên vẹn, nhưng khi nói đến chức năng khubiệt vỏ tiếng cho các đơn vị mang nghĩa trong tiếng Việt ta có thể nói đến cácđại lượng ngữ âm dưới âm tiết
Trong các ngôn ngữ Châu Âu, các nhà ngữ học dựa vào ranh giới hìnhthái học đi qua giữa các âm trong ngữ lưu để phân xuất các âm vị, nghĩa làngười ta xuất phát từ hình vị để phân tích âm vị học Còn trong tiếng Việt,
Trang 16hầu hết các âm tiết trùng với hình vị, nghĩa là hình thức biểu đạt của hình vị
và âm tiết là một cho nên có thể xuất phát từ âm tiết để phân tích âm vị học
1.1.2.1 Cấu trúc âm tiết
Vấn đề cấu trúc âm tiết đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm,nghiên cứu theo những phương hướng khác nhau như các tác giả: Cù Dình
Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ (1972), Hoàng Thị Châu (1989),Đoàn Thiện Thuật (1977), Hoàng Cao Cương (2000) Thực tế cho thấy, âmtiết tiếng Việt là một chỉnh thể có cấu trúc từ các yếu tố nhỏ hơn Có nhiều sựkiện ngôn ngữ chứng tỏ rằng có thể phân giải âm tiết tiếng Việt thành đơn vịngữ âm nhỏ hơn như cách cấu tạo từ láy, iếc hoá, nói lái, hiệp vần trong thơ,
mô phỏng ngữ âm Ta thấy âm tiết tiếng Việt có thể tách ra ba bộ phận trựctiếp tạo thành Trong luận văn này chúng tôi trình bày theo quan điểm của tácgiả Đoàn Thiện Thuật (1977) và một số tác giả khác cùng ý kiến như HữuQuỳnh (1980), Vương Hữu Lễ, Hoàng Dũng (1994) Đây cũng là quan điểm
về cấu trúc âm tiết được nhiều người ủng hộ Cấu trúc âm tiết tiếng Việt đượchình dung bằng lược đồ sau:
Thanh điệu
Âm đầu
Vần
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Như vậy, hệ thống ngữ âm tiếng Việt hiện đại là một cơ chế gồm nămthành phần, năm thành phần này được xếp thành hai bậc: bậc một gồm: thanhđiệu, âm đầu và phần vần; bậc hai gồm: âm đệm, âm chính và âm cuối Nămthành phần này cũng là năm hệ thống con: âm đầu, âm đệm, âm chính, âmcuối và thanh điệu Năm hệ thống con này là nét cố hữu của âm tiết, cấu tạonên âm tiết tiếng Việt
Trong năm thành tố có một thành tố được gọi là siêu âm đoạn tính, tức
là không xác định được vị trí của nó trong cấu trúc âm tiết mà trải dài lên toàn
Trang 17bộ âm tiết, đó là thanh điệu Bốn yếu tố còn lại được gọi là âm đoạn tính, tức
là xác định được vị trí của nó trong cấu trúc âm tiết: âm đầu - âm đệm - âmchính - âm cuối
Ở mỗi vị trí trong cấu trúc âm tiết chỉ do một đơn vị đảm nhiệm: âmđầu do các phụ âm đảm nhiệm; âm đệm do bán nguyên âm đảm nhiệm; âmchính do các nguyên âm đảm nhiệm; âm cuối do các phụ âm và bán âm đảmnhiệm; thanh điệu do các thanh đảm nhiệm Tên gọi các yếu tố trong cấu tạo
âm tiết là âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu là gọi theo vị trí
và chức năng của chúng trong cấu trúc âm tiết
1.1.2.2 Các đơn vị ngữ âm tiếng Việt
Một số nhà Việt ngữ học cho rằng, trong các âm tiết như: ăn, uống, ỡm
ờ, oái ăm… có âm đầu tắc thanh hầu /?/, nhưng trong thực tế phát âm, động
tác tắc thanh hầu không được thể hiện rõ ràng nên chúng tôi cũng không đưa
âm này vào hệ thống âm đầu
Cụ thể các âm đầu tiếng Việt gồm 21 đơn vị:
- Âm môi /b, m, f, v/
- Âm đầu lưỡi /t, t’, s, z ,d, n, l/ (đầu lưỡi bẹt), / ʈ, ş, ʐ,/ (đầu lưỡi quặt)
- Âm mặt lưỡi / c, ɲ / (giữa lưỡi), / k, χ, ŋ, ɣ / (cuối lưỡi)
- Âm họng /h/
b Âm chính
Trang 18Âm chính do nguyên âm đảm nhận Âm chính cùng với thanh điệu làđơn vị ngữ âm bao giờ cũng có mặt trong mọi âm tiết tiếng Việt Trong âmtiết tiếng Việt điểm thanh tính bao giờ cũng thuộc về nguyên âm Phụ âmkhông thể làm thành âm tiết được và đỉnh âm tiết không bao giờ xảy ra ở âmđoạn phụ âm mà chỉ có thể ở âm đoạn nguyên âm mà thôi Nguyên âm mang
âm sắc chủ yếu của âm tiết, trừ trường hợp âm tiết bị trầm hoá bởi âm đệm u-/ hoặc kết thúc bằng một bán nguyên âm, còn âm sắc của nguyên âm đượcthể hiện từ đầu đến cuối âm tiết Chính vì những lí do trên mà nguyên âmtrong tiếng Việt được coi là âm chính, nói cách khác đảm nhận thành phần âmchính của một âm tiết chỉ có thể là các nguyên âm
/-Hệ thống âm chính gồm có 14 đơn vị, trong đó có 13 nguyên âm đơn
và ba nguyên âm đôi, cụ thể:
- Các nguyên âm dòng trước không tròn môi / i, e, ε, ie/
- Các nguyên âm dòng sau, không tròn môi /ɯ, ɤ, ɤ, a, , ă, ɯɤ/
- Các nguyên âm dòng sau, tròn môi /u, o, ɔ, uo/
c Âm đệm
Âm đệm chỉ có một đơn vị là bán âm /w/ có tác dụng làm trầm hoá âmsắc của âm tiết Cùng với thanh điệu, âm đệm /w/ nằm trong cấu trúc siêuđoạn và nội dung âm vị học của nó là /+tròn môi/
Âm vị /w/ được thể hiện trên chữ viết bằng hai hình thức:
- u, khi /w/ xuất hiện trước các nguyên âm i, ê, iê (ia), ơ, â Ví dụ: tuy,
quế, luyện, huơ, huân và khi /w/ xuất hiện sau con chữ q: qua, qui, quê, que, quân
- o, khi /w/ xuất trước ba nguyên âm a, ă, và e: hoa, hoè, hoặc
d Âm cuối
Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết Âm tiết tiếng Việt có nhiềucách kết thúc khác nhau tạo nên các kiểu âm tiết khác nhau là do thành phầnnày quy định Các âm cuối tiếng Việt gồm 10 đơn vị, trong đó có 8 phụ âm và
Trang 19hai bán âm Tất cả các phụ âm cuối tiếng Việt đều có đặc điểm chung là tắc
và đều không buông Âm cuối gồm:
- Các phụ âm tắc điếc (khép điếc) /p, t, c, k/
- Các phụ âm tắc kêu (khép vang) /m, n, ɲ, ŋ/
1.2 Hệ thống thanh điệu tiếng Việt
1.2.1 Khái niệm thanh điệu
Thanh điệu là một đơn vị âm vị học có ở một số ít ngôn ngữ như tiếngViệt, tiếng Hán, tiếng Lào, tiếng Thụy Điển Trong các ngôn ngữ trên thếgiới, thanh điệu cùng trọng âm và ngữ điệu là các đơn vị siêu âm đoạn tính,hay là hiện tượng ngôn điệu, có chức năng là phương thức muôn màu muôn
vẻ để tổ chức và thống nhất các đơn vị đoạn tính thành những đơn vị ngônngữ lớn hơn Thanh điệu là yếu tố ngữ âm phủ đều lên đồng thời các âm vịđoạn tính khác nhưng lại có chức năng khu biệt giống như các đơn vị âm đoạntính khác Các thanh điệu tiếng Việt có chức năng khu biệt từ không khác gìnguyên âm, phụ âm nhưng khó lòng định vị được chúng trong âm tiết Người
ta buộc phải thừa nhận giá trị khu biệt của thanh điệu, coi đó là âm vị đặc biệt
- âm vị siêu đoạn tính
Thanh điệu là một âm vị siêu đoạn tính, là sự nâng cao hay hạ thấpgiọng nói trong một âm tiết, có chức năng khu biệt nghĩa của hình vị và từ
Theo Đoàn Thiện Thuật: Nó được biểu hiện trong toàn âm tiết hay đúng hơn
Trang 20là toàn bộ phần tính của âm tiết ( bao gồm cả âm đầu, âm đệm, âm chính và
âm cuối) [36] Xét về mặt cấu âm: Thanh được tạo ra do sự rung bật của dây thanh; tùy theo sự rung động đó nhanh hay chậm, nhiều hay ít, mạnh hay yếu, biến chuyển ra sao … mà ta có các thanh khác nhau ( theo Vương Hữu Lễ và
Hoàng Dũng) [24, 62] Các thanh điệu tiếng Việt được ghi bằng các kí hiệuchữ viết: “\” ( huyền), “?” (hỏi), “~” ngã), “/” (sắc), “.” (nặng), thanh ngang(không dấu) không có kí hiệu chữ viết
Thanh điệu cùng với trọng âm và ngữ điệu là các đơn vị siêu đoạn tínhnhưng thanh điệu có khác hai đơn vị kia ở chỗ: thanh điệu gắn liền với âmtiết, là đặc trưng độ cao các âm tiết trong từ Khi biết thanh điệu thuộc một
âm tiết nào đó của từ thì nói chung là không xác định được thanh điệu của âmtiết khác Còn trọng âm lại là đặc trưng của một âm tiết của từ, khi biết được
vị trí của trọng âm và số lượng âm tiết thì có thể xác định được đặc trưngngôn điệu của những âm tiết còn lại trong từ Các thanh điệu dùng để phânbiệt ý nghĩa của từ còn đối với trọng âm thì việc phân biệt ý nghĩa từ vựngcủa từ chỉ là thứ yếu
Ngữ điệu thì lại gắn với câu nói, có chức năng thể hiện, phân biệt cáccâu nói Thanh điệu chỉ có ở một số ngôn ngữ còn ngữ điệu có trong tất cả cácngôn ngữ
1.2.2 Lịch sử hình thành thanh điệu tiếng Việt
Về lịch sử hình thành thanh điệu tiếng Việt, cho đến nay lí thuyết củaA.G Haudricourt (một nhà nghiên cứu nổi tiếng Pháp) vẫn được nhiều ngườichấp nhận hơn cả Theo giáo sư A.G Haudricourt (1953) sự hình thành thanhđiệu là do sự biến đổi lịch sử của những phụ âm cuối và phụ âm đầu (biếnđiệu và tuyền điệu) cho nên tiếng Việt (cùng với tiếng Hoa và tiếng Mèo Dao)mới xuất hiện thanh điệu, và quá trình hình thành thanh điệu phải trải qua 4giai đoạn: đầu công nguyên, thế kỉ VI, thế kỉ X và ngày nay Qua trình hìnhthành thanh điệu được A.Haudricourt tổng kết bằng sơ đồ sau:
Trang 21Đầu công nguyên
hlabalapàhlàbàlàpáhlábálá
Thế kỉ XII(sáu thanh)pa
lapàlàpảlảpãlãpálápạlạ
Ngày nay
balabàlàbảlảbãlãbálábạlạNhìn vào bảng tổng kết của Haudricourt ta thấy, theo tác giả, đầu côngnguyên, tức ở giai đoạn tiền Việt - Mường là thời kì vừa tách khỏi các ngônngữ Môn - Khmer khác, tiếng Việt là ngôn ngữ không có thanh điệu, đến thế
kỉ VI tiếng Việt xuất hiện hệ thống thanh điệu gồm có 3 thanh là : huyền, hỏi-ngã, sắc-nặng Theo ông cái làm nên đặc trưng này là sự hìnhthành nên tuyến điệu do việc rụng đi các âm cuối xát /-h/ (hoặc /-s/) tạo racặp hỏi ngã và âm cuối /-?/ (hoặc /-x/) tạo ra cặp sắc nặng Quá trình nàyđược gọi là quá trình nhân ba Và từ thế kỉ X , hệ thống ba thanh được chuyểnhành hệ thống sáu thanh Lí do sự chuyển đổi này là để tránh sự lẫn lộn giữacác từ có cùng cấu trúc ngữ âm (do các âm đầu hữu thanh bị vô thanh hoá) thì
ngang-âm đầu là những phụ ngang-âm vô thanh sẽ tương ứng với thanh cao Ngược lại,
Trang 22những âm đầu là những phụ âm hữu thanh (trở thành vô thanh) sẽ tương ứngvới các thanh thấp Từ đó 3 thanh nhân đôi để có hệ thanh tiếng Việt gồm có
6 thanh Cụ thể, thanh cao gồm: ngang, hỏi, sắc (tương ứng với những âm đầu
vô thanh cổ) Thanh thấp gồm: huyền, ngã, nặng (tương ứng với những thanhđầu hữu thanh cổ)
Như vậy, sự biến mất của âm cuối tắc họng và các phụ âm xát làm xuấthiện sự đối lập về đường nét thanh điệu, kết quả tiếng Việt có 3 loại đườngnét thanh điệu: thanh bằng: ngang, huyền; thanh không bằng: sắc, nặng; thanhgãy: hỏi, ngã
Sự vô thanh hóa các phụ âm đầu tắc hữu thanh làm xuất hiện đối lập về
âm vực thanh điệu: thanh cao (thanh không, thanh sắc, thanh hỏi) và thanhthấp ( thanh nặng, thanh huyền, thanh ngã)
Sau gần nửa thế kỉ với những tư liệu mới thu thập về các ngôn ngữMôn-Khmer, nhất là các ngôn ngữ Việt – Mường, lí thuyết của A.GHaudricourt về nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt càng được khẳng định Đồngthời, những tư liệu mới cũng bổ sung, hiệu chỉnh thêm lí thuyết của ông, chochúng ta những hiểu biết sâu hơn về nguồn gốc và quá trình hình thành cácthanh điệu trong các ngôn ngữ Việt Mường
1.2.3 Miêu tả hệ thống thanh điệu Tiếng Việt
1.2.3.1 Thanh không dấu (còn gọi là thanh ngang, thanh không)
Đây là một thanh cao, đường nét âm điệu bằng phẳng, đồng đều từ đầutới cuối Thanh này xuất hiện trong tất cả các kiểu âm tiết, trừ âm tiết khép.Thanh không dấu không biểu hiện bằng các dấu như các thanh khác
1.2.3.2 Thanh huyền
Đây là một thanh thuộc âm vực thấp, đường nét âm điệu bằng phẳnghơi đi xuống thoai thoải, đồng đều (so với thanh không, thanh huyền thấp hơnmột bậc) Thanh huyền xuất hiện trong tất cả các kiểu âm tiết trừ âm tiết khép.Chữ viết ghi bằng dấu “\”
Trang 231.2.3.4 Thanh hỏi
Đây là thanh điệu thuộc âm vực thấp, không đều, bắt đầu ở độ cao củathanh huyền, hạ thấp dần một quãng, từ từ nâng lên cân đối với nét đi xuốngban đầu và kết thúc bằng với độ cao xuất phát Thanh điệu này xuất hiệntrong các kiểu âm tiết, trừ âm tiết khép Chữ viết ghi bằng dấu “?”
1.2.3.5 Thanh sắc
Đây là một thanh cao, không đều, đi từ thấp lên cao, đường nét có đổihướng: bắt đầu đi ngang, thấp hơn thanh ngang, sau đó đi vút lên cao và kếtthúc cách khởi điểm một quãng cao Thanh điệu này có thể xuất hiện trong tất
cả các loại âm tiết Chữ viết ghi bằng dấu “/”
1.2.3.6 Thanh nặng
Đây là một thanh điệu thuộc âm vực thấp, không đều, đi từ cao xuốngthấp, đường nét có đổi hướng: bắt đầu đi hơi ngang, xấp xỉ với mức cao banđầu của thanh huyền, sau đó đi xuống đột ngột và kết thúc cách khởi điểmmột quãng thấp Thanh điệu này có thể xuất hiện trong tất cả các loại âm tiết.Chữ viết ghi bằng dấu “.”
Miêu tả bằng sơ đồ 6 thanh điệu tiếng Việt:
Trang 251.2.4 Tiêu chí khu biệt thanh điệu
Xét về tiêu chí khu biệt thanh điệu có không ít cách nghiên cứu khácnhau: có người dựa vào tiêu chí âm vực hoặc âm điệu Có người lại dựa tiêuchí trường độ hoặc cường độ, có người lại dựa vào chất lượng thanh (tức lànét đồng chất và dị chất)…
Dưới đây chúng tôi trình bày hai tiêu chí cơ bản được nhiều người đồngtình sử dụng là tiêu chí âm vực và tiêu chí âm điệu
1.2.4.1 Âm vực (độ cao)
Âm vực là cao độ của thanh điệu Về mặt này, mỗi tác giả, khi nghiêncứu có thể có cách làm việc khác nhau và nhận xét khác nhau Có người căn
cứ vào ấn tượng tổng quát phân loại các thanh về cao độ Có người xác định
cụ thể hơn là cao độ kết thúc của thanh điệu (M.V.Gordina), hoặc cao độ củađiểm bắt đầu Có người tính cao độ trung bình của cả một thanh điệu (NguyễnHàm Dương)
Trong thực tế, cao độ kết thúc có một tầm quan trọng hơn hẳn cao độxuất phát, và đó cũng là lí do để người ta xếp thanh ngã là thanh cao và thanhhỏi là thanh thấp trong khi cả hai thanh đều bắt đầu ở độ cao xấp xỉ như nhaunhưng thanh ngã lại có cao độ kết thúc cao hơn thanh hỏi
Dựa vào tiêu chí âm vực Thompson (1965) nói đến 4 mức:
1/ cao: thanh sắc, thanh ngã
2/ cao vừa: thanh không dấu
3/ thấp vừa: thanh hỏi
4/ thấp: thanh huyền, thanh nặng
Chia 4 mức nhưng về cơ bản cũng là chia 2
Trang 26Huỳnh Sanh Thông với R.Jone (1960) và Nguyễn Đình Hòa (1967) lạichia thanh tiếng Việt ra 3 mức:
1/ âm vực cao: thanh sắc
2/ âm vực trung: thanh không dấu và thanh ngã
3/ âm vực thấp: thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng
Còn lại đại đa số các tác giả xếp thanh điệu vào hai âm vực với thuậtngữ cao - thấp hoặc thượng - hạ
Thuộc âm vực cao có thanh không dấu, thanh sắc, thanh ngã; thuộc âmvực thấp gồm thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng Đây cũng là cách phân chia
mà luận văn lựa chọn
Theo truyền thống, cách chia âm vực cao thấp có khác chút ít so vớihiện đại Theo truyền thống, thanh hỏi được xếp vào âm vực cao còn thanhngã xếp vào âm vực thấp Nguyên do của nó gắn với lịch sử hình thành thanhđiệu theo lí thuyết của A.G Haudricourt về nguồn gốc thanh điệu
Nói chung dù cách nghiên cứu có khác nhau và sự đánh giá thanh điệu
về mặt âm vực chưa thống nhất nhưng không một ai nói đến thanh điệu lạikhông nói đến âm vực Đây là một trong những tiêu chí thỏa đáng âm vị họccủa thanh điệu, được xem là nét đầu tiên không thể thiếu được trong việc khubiệt thanh điệu
1.2.4.2 Âm điệu (đường nét)
Âm điệu là sự biến thiên cao độ theo thời gian và đặc trưng này dễnhận thấy trong thanh điệu Đường nét của sự biến thiên này có thể bằngphẳng hoặc không bằng phẳng Thế đối lập này được gọi là biến điệu/ khôngbiến điệu
Hầu hết các tác giả đều miêu tả thống nhất thanh có đường nét âm điệubằng phẳng (truyền thống gọi là thanh bằng), gồm: thanh không dấu (thanh
Trang 27ngang) và thanh huyền; thanh có đường nét không bằng phẳng (truyền thốnggọi là thanh trắc) gồm: thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc, thanh nặng.
Trong các thanh có đường nét không bằng phẳng lại chia ra:
- Đường nét phức tạp đổi hướng gọi là thanh gãy, gồm: thanh ngã vàthanh hỏi
- Đường nét đơn giản, một hướng (đi lên hoặc đi xuống) gọi là thanhkhông gãy, gồm: thanh sắc và thanh nặng
Khi đánh giá, phân loại thanh điệu thì âm điệu cũng là một tiêu chí quantrọng, bởi một điều rõ ràng là các thanh điệu khu biệt nhau không chỉ về cao
độ mà còn về sự biến thiên của nó theo thời gian và âm điệu hiển nhiên được
kể đến như là một tiêu chí khu biệt âm vị học
Như vậy, theo quan niệm truyền thống, các thanh điệu tiếng Việt có ba
sự đối lập có giá trị âm vị học, đó là: 1/ cao – thấp, 2/ bằng phẳng – khôngbằng phẳng, 3/ gãy – không gãy
- Các đơn vị ngữ âm tiếng Việt gồm 21 phụ âm đầu, 14 âm chính, một đơn vị
âm đệm, 10 phụ âm cuối và 6 thanh điệu
- Về lịch sử hình thành thanh điệu, chúng tôi chọn lí thuyết của tác giảHauddricourt
- Hai tiêu chí khu biệt thanh điệu cơ bản là âm vực và âm điệu
Đây là cơ sở, tiền đề để chúng tôi tiếp tục tìm hiểu chức năng cụ thể củathanh điệu trong từ đơn, từ láy, thành ngữ, tục ngữ ở chương 2 và chương 3
Trang 28Chương 2CHỨC NĂNG CỦA THANH ĐIỆU TRONG TỪ ĐƠN TIẾT
VÀ TỪ LÁY ĐÔI 2.1 Thanh điệu trong từ đơn tiết tiếng Việt
2.1.1 Từ đơn tiết trong tiếng Việt
2.1.1.1 Khái niệm từ đơn tiết
a Các quan niệm về từ đơn
Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng và ngôn ngữ nói chung Chính vì thế,trong các đơn vị ngôn ngữ “từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhiệm nhiềuchức năng nhất” [12]
Trang 29Khái niệm từ bao gồm từ đơn, từ phức, từ láy, từ ghép và các đơn vịtương đương với từ, trong đó từ đơn là lớp từ trung tâm trong vốn từ tiếngViệt, là đơn vị đầu tiên trong việc hình thành nên các loại từ khác Khinghiên cứu về vốn từ của tiếng Việt không thể không nhắc đến vai trò và vị trícủa từ đơn.
Xung quanh khái niệm từ đơn có thể kể đến các ý kiến tiêu biểu sau:Những năm đầu thế kỉ XX các tác giả Nguyễn Hiệt Chi, Lê Thước đã
bàn đến từ đơn: Từ có thân từ trùng với căn tố, nghĩa là từ mà trong thành
phần cấu tạo không thể tách ra thành tố phụ Từ trong tiếng Việt chỉ do một hình vị (âm tiết, tiếng) có ý nghĩa tạo nên Ví dụ: học, làm, nhà, ruộng, đẹp, cao…”/Các tác giả, Sách mẹo tiếng Nam, Lê Văn Tâm xuất bản, 1935/.
Tác giả Nguyễn Văn Tu lại cho rằng: Một từ đơn âm tiết là tổ hợp âm
thanh gồm một đơn vị hay nhiều đơn vị với thanh điệu kết hợp chặt chẽ với nhau làm thanh một âm tiết, diễn đạt một nội dung không thể chia nhỏ và có chức năng ngữ pháp nhất định [37]
Tác giả Hồ Lê (1976) thì dùng khái niệm “nguyên vị” thay cho hình vị
hoặc tiếng, ông cho rằng: Trước hết cần phải phân ra từ đơn và từ ghép Từ
đơn là từ do một nguyên vị có khả năng dùng độc lập tạo thành Từ ghép là
từ gồm hai nguyên vị trở lên.[23]
Tác giả Đỗ Hữu Châu (1999) cũng cho rằng từ đơn là do một hình vịcấu tạo nên nhưng ông nói rõ hơn về mặt ngữ nghĩa và xem cấu tạo không có
ý nghĩa quan trong: Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt ngữ nghĩa, chúng
không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ [5]
Tập thể tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến(1990) lại dùng khái niệm “tiếng” thay cho hình vị và quan niệm của họ lại
Trang 30chú trọng về cấu tạo: Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ
đơn (còn gọi là từ đơn tiết) Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ được cấu tạo bằng một tiếng Ví dụ: tôi, bác, nhà, cây, đi, chạy, vui, buồn, vì, nếu,
b Quan niệm về từ đơn mà luận văn lựa chọn
Trong luận văn này, chúng tôi dựa trên khung lí thuyết về từ và các đơn
vị cấu tạo từ tiếng Việt của hai giáo sư Nguyễn Thiện Giáp và Nguyễn TàiCẩn
Quan niệm của giáo sư Nguyễn Thiện Giáp về từ đơn:
Trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học Nxb Giáo dục, 1997, phần viết về
từ vựng, tác giả cho rằng: Trong tiếng Việt, những tiếng như: bố, mẹ, ba, bốn,
đây, đâu, đó, và, với, nhà, cây, đi, cười, đẹp, à, ừ, nhỉ, nhé…đều được coi là
từ đơn Lí do là: chúng đều là những cấu trúc có tính hoàn chỉnh, không thểxen thêm một đơn vị nào vào giữa; vừa có tính độc lập, có thể tách rời khỏicác đơn vị khác một cách dễ dàng Về mặt ngữ âm, chúng đều là những âmtiết cấu tạo theo đúng nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt Về mặt chính tả, chúngđược viết liền thành một khối theo đúng quy tắc chính tả hiện hành Chúngđều biểu thị những sự vật, hiện tượng và những quan hệ của thực tại như:
nhà, cây, đi cười… nói một cách khác là các từ này có một ý nghĩa từ vựng
mà ta chỉ ra được Người ta gọi đó là các thực từ Lại có những đơn vị chỉ cóchức năng dẫn xuất và chức năng biểu hiện mà không có chức năng định danh
như: và, với, tuy, sẽ, nhưng,…Nói một cách khác, các từ này chỉ có chức năng
ngữ pháp thuần túy mà không có ý nghĩa từ vựng Người ta gọi các từ này là
Trang 31các hư từ Mỗi lớp từ như vậy là một hệ thống lớn Mỗi hệ thống lớn lại baohàm nhiều hệ thống nhỏ Chẳng hạn trong lớp thực từ ta có thể tập hợp các từ
có cùng một ý nghĩa chung thành các nhóm khác nhau: 1/ Nhóm 1: ăn, ngủ,
đi đến, đổ,…biểu thị ý nghĩa hành động, trạng thái 2/ Nhóm 2: nhà, áo, xe, bút, sách,… biểu thị ý nghĩa sự vật, hiện tượng 3/ Nhóm 3: đẹp, xấu, to, dài, cao, thấp,…biểu thị tính chất, đặc điểm Người ta gọi nhóm 1 là nhóm động
từ, nhóm 2 là nhóm danh từ, nhóm 3 là nhóm tính từ Cứ theo như vậy, ta cóthể tách các nhóm (lớp) này thành các nhóm (lớp) nhỏ hơn nữa.(…) Bên cạnh
đó, còn có những đơn vị chỉ dẫn xuất tình thái, cảm xúc nào đó trong thực tại
chứ không có chức năng định danh như: à, ôi, ái,…, những đơn vị như: tôi,
nó, đấy, nọ, kia,… vẫn có ý nghĩa và ý nghĩa đó chỉ được bộc lộ trong những
hoàn cảnh nhất định Như vậy, ý nghĩa của những đơn vị (tiếng) đang xét rất
đa dạng, trong bất cứ trường hợp nào ta cũng thấy sự gắn bó không tách rờigiữa mặt hình thức vật chất với mặt nội dung ý nghĩa
Các đơn vị như trên đều tham gia cấu tạo câu nói Tùy theo tính chất, ýnghĩa của mình, chúng có thể đảm nhận những chức năng ngữ pháp khác
nhau ở trong câu Những đơn vị như : bàn, đi, ăn, đẹp, tốt,… có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ Những đơn vị như: những, các, vẫn, đều, mãi,… luôn đi
kèm với những đơn vị biểu thị sự vật, hành động, tính chất, bổ sung thêm ý
nghĩa cho những đơn vị đó Những đơn vị như: của, để, vì bởi, nên, và, với,
mà thì,… làm chức năng liên kết các từ, nhóm từ hay mệnh đề trong câu Còn
các đơn vị như: à, ôi, hả, ơi,… đem lại cho câu nói một tình thái nào đó.
Những đặc trưng của cả phương diện vật chất lẫn mặt chức năng ý nghĩa trênđây đã làm cho những đơn vị đang xét trở thành một loại đơn vị thực tại, hiểnnhiên đối với mỗi người nói tiếng Việt, tức là chúng trở thành đơn vị tiếngViệt
Quan niệm của GS Nguyễn Tài Cẩn về từ đơn:
Trang 32Theo tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong Ngữ pháp tiếng Việt (Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội, 1997) trong tiếng Việt, có một loại đơn vị xưa nay người ta
thường xuyên gọi là “tiếng”, “tiếng một” hay là “chữ”, ví dụ: ăn, học, nhà
cửa, cao rộng, và, đã, sẽ,…, gọi loại đơn vị này là tiếng, tiếng một, tức là căn
cứ vào ngữ âm; còn gọi là chữ, tức là căn cứ vào mặt văn tự (chữ viết) Trongtiếng Việt, mỗi tiếng bao giờ cũng phát ra một hơi, nghe thành một tiếng và
có mang một thanh điệu nhất định Mỗi tiếng như thế chính là một đơn vị gốc
- một hình vị - của ngữ pháp tiếng Việt Như vậy, tiếng là đơn vị có đủ cả haiđặc trưng: đơn giản về mặt tổ chức và có giá trị về mặt ngữ pháp
Nói: “Tiếng là đơn vị đơn giản nhất về mặt tổ chức” là vì: xét ở góc độngữ pháp, mỗi tiếng làm thành một chỉnh thể, không thể xé ra thành những bộphận nhỏ hơn được nữa Còn nói: “ Tiếng có giá trị về mặt ngữ pháp” là vì:trong tiếng Việt, mỗi tiếng bao giờ cũng giúp ta giải thích được, phân tíchđược tổ chức bên trong của những đơn vị trực tiếp lớn hơn nó Do đó, khichúng ta tiến hành khảo sát, mỗi tiếng bao giờ cũng có thể tách rời khỏinhững tiếng bên cạnh bằng những đường ranh giới ngữ pháp Tiếng còn cókhả năng giải thích về mặt ngữ nghĩa Tiếng cũng có khả năng giải thích mặtđơn thuần hình thức Tác dụng của tiếng về mặt hình thái đơn thuần thể hiện
rõ nhất khi khảo sát các hiện tượng tách, hiện tượng lặp và hiện tượng iếc hóa
Như vậy, quan điểm về từ đơn mà khóa luận lựa chọn vừa cụ thể vềmặt ngữ âm và cả về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa
2.1.1.2 Danh sách từ đơn tiết tiếng Việt
Xét về mặt cấu tạo, từ là đơn vị được hình thành nhờ việc kết hợp cáchình vị lại với nhau Như vậy, từ đơn là từ do một hình vị tạo thành Hình vịnày có thể có ý nghĩa từ vựng hoặc ý nghĩa ngữ pháp
Về nguồn gốc, đa số từ đơn tiếng Việt đều nằm trong vốn từ cơ bản củatiếng Việt có từ lâu đời, đó có thể là những từ thuộc lớp từ thuần Việt - đượcquan niệm là những từ người Việt quen dùng, dễ hiểu Từ thuần Việt thường
Trang 33trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, chúng biểu thị những sự vật,
hiện tượng cơ bản nhất, tồn tại từ rất lâu đời, ví dụ: ăn, nằm, mua, bán, lửa,
mây, mù, con, cháu
Một số lượng lớn từ đơn nữa nằm trong lớp từ Việt gốc Hán (lớp từ Việtgốc Hán chiếm khoảng 70% vốn từ tiếng Việt) trong đó đặc biệt quan trọng là
lớp từ Hán Việt, ví dụ: nam, nữ, trà, trọng, vãn, trúng, truy, đao
Ngoài ra còn có một lớp từ đơn nữa thuộc lớp từ Việt gốc Ấn Âu, ví dụ:,
xăm, xăng, lốp, xút Tuy nhiên, lớp từ này không nhiều, không tạo thành hệ
thống, chỉ tập trung ở một số lĩnh vực nhất định
Riêng ở lớp từ thuần Việt và Hán Việt đã có sự tương xứng ngữ âm bởi
vì đây là hai ngôn ngữ cùng thuộc loại hình đơn lập đã có quá trình tiếp xúc,ảnh hưởng qua lại lâu dài Đối với những từ gốc Châu Âu (chủ yếu gốc Pháp),đây là các ngôn ngữ thuộc loại hình khác xa với tiếng Việt, thời gian tiếp xúcchưa dài, chúng tôi chỉ coi những từ gốc Châu Âu là những từ đơn tiết khi:
- Chúng được nói (đọc) theo cách nói, đọc của người Việt, nghĩa là phát
âm theo cơ cấu ngữ âm tiếng Việt, chịu sự chi phối của cấu trúc ngữ âm tiếngViệt: bỏ trọng âm, thêm thanh điệu, chuyển các tổ hợp phụ âm thành các âm
khác cho phù hợp với cách phát âm của tiếng Việt Chẳng hạn: gác (<garde),
xăng (<essence), lốp (<enveloppe), đui (đèn) (<douille)
- Người Việt có ý thức Việt hoá âm đọc của các từ Châu Âu bằng cách rútngắn bớt độ dài của các từ nên họ chỉ việc cấu trúc lại hoá thành một âm tiết
theo kiểu Việt là xong, chẳng hạn: van (<valse), bom (<bombe), bồi (<boy),
Trang 34Tuân thủ các nguyên tắc đề ra, tiến hành lựa chọn và xác lập trong cuốn
Từ điển tiếng Việt 2000, chúng tôi đã chọn ra được 5062 từ thoả mãn định
nghĩa và cách phân loại của chúng tôi về từ đơn
2.1.2 Chức năng khu biệt nghĩa của thanh điệu trong từ đơn tiết
2.1.2.1 Sự phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết
a Số liệu thống kê
Dựa vào cơ sở lí thuyết về từ đơn đã nói ở trên, chúng tôi tiến hành lựa
chọn và xác lập danh sách từ đơn trong cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê
chủ biên, 2000 Chúng tôi chọn ra được 5062 từ đơn tiết thoã mãn định nghĩa
và cách phân loại Nghĩa là, trong tiếng Việt Văn hoá có 5062 tín hiệu đơn tiếttối thiểu làm thành mục trong từ điển Và hệ thanh tiếng Việt với 6 thanh điệu
có tần số xuất hiện như sau:
Bảng 1: Sự phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết tiếng Việt
TT Thanh điệu Tần số xuất hiện Tỉ lệ %
Trang 35của âm điệu ở thanh sắc không cần phải bộc lộ một cách chi tiết trong cáchphát âm kéo dài Do đó thanh sắc có thể được phân bố ngay cả trong những
âm tiết có âm cuối là những phụ âm tắc vô thanh Mà số âm tiết có âm cuối vôthanh lại chiếm vị trí hàng đầu trong các kiểu âm tiết, cho nên, thanh sắcchiếm vị trí đầu bảng cách xa cách thanh khác về số lượng Nói cách khác,đây là thanh điệu phân bố rộng, nó ưa thích với mọi loại âm tiết (mở, nửa mở,khép, nửa khép)
Đứng ở vị trí tiếp theo là thanh ngang và thanh nặng Hai thanh này có
tỉ lệ xấp xỉ nhau: Thanh ngang với 1028 lần xuất hiện chiếm tỉ lệ 23,86% vàthanh nặng 975 lần xuất hiện, chiếm tỉ lệ 19,26%
Đường nét của thanh ngang yêu cầu có một trường độ nhất định mớibộc lộ được tính chất bằng phẳng của chúng nên không bao giờ được phân bốtrong các âm tiết có âm cuối vô thanh (có đặc điểm là kết thúc nhanh) Nhưngthanh ngang lại có một ưu thế đặc biệt hơn hẳn các thanh điệu khác là đườngnét bằng phẳng nhất và dễ phát âm nhất Chính vì vậy mà nó cũng là thanhđược ưa thích và dễ dàng xuất hiện trong các từ đơn tiết
Còn thanh nặng, nó cũng giống thanh sắc ở chỗ đường nét không bằngphẳng nhưng đơn giản một hướng và nó có thể xuất hiện trong mọi loại âmtiết kể cả những âm tiết có âm cuối là những phụ âm tắc vô thanh Tuy nhiên,
so với thanh sắc thì đường nét của thanh nặng lại đi xuống trong khi thanh sắclại đi lên Phải chăng vì tâm lí thích cao hơn thấp của người Việt (cao tượngtrưng cho những gì tốt đẹp sáng sủa hơn?) cho nên thanh nặng có số lần xuấthiện đứng sau thanh sắc
Cách thanh sắc một quãng khá xa là thanh huyền với số lần xuất hiện là
803 lần, chiếm tỉ lệ 15,86% Thanh huyền mặc dù cũng giống thanh ngang ởđường nét âm điệu bằng phẳng, nhưng so với thanh ngang nó vẫn khó phát
âm hơn Còn so với thanh sắc và thanh nặng nó lại “kén chọn” kiểu âm tiếthơn (do đường nét yêu cầu cũng phải có một trường độ nhất định mới bộc lộđược tính chất bằng phẳng nên nó cũng không thể xuất hiện trong các âm tiết
Trang 36có âm cuối tắc vô thanh) cho nên tần số xuất hiện của thanh huyền đứng ởhàng thứ tư cũng là điều dễ hiểu.
Cuối cùng là hai thanh có tần số xuất hiện thấp nhất là thanh ngã vàthanh hỏi Đây là hai thanh có đường nét âm điệu không bằng phẳng và phứctạp - đổi hướng Chính vì vậy, hai thanh này rất khó phát âm, đặc biệt làthanh ngã (có sự đổi hướng lên xuống đột ngột) Hơn nữa, nếu xuất hiện trongđiều kiện trường độ bị hạn chế thì hai thanh này không thể đảm bảo được đặctrưng phức tạp về đường nét của mình, do đó hai thanh này cũng không baogiờ được phân bố trong các âm tiết có âm cuối vô thanh
Riêng thanh ngã có số lần xuất hiện khiêm tốn nhất có thể còn vì một lí
do nữa là thanh này xuất hiện muộn hơn các thanh khác Một thực tế nữa, đó
là, do tình trạng khó phát âm nên ở trẻ em, thanh ngã được phát âm gần nhưthanh sắc và ở một số phương ngữ thì thanh ngã nhập với thanh hỏi thànhthanh hỏi - ngã nên còn năm thanh Như vậy, kết quả trên cho chúng ta thấytiếng Việt có sáu thanh nhưng tỉ lệ xuất hiện của chúng không như nhau thậmchí có những thanh cách xa nhau Đây như là một đặc trưng của thanh điệuViệt Từ đây, chúng ta cũng có thể biết đôi điều về khả năng hoạt động củacác thanh điệu Việt Nhìn chung, những thanh ít đánh dấu hơn có xu hướngđược yêu thích hơn
2.1.2.2 Các nét âm vị học của thanh điệu trong từ đơn
a Số liệu thống kê
Có hai tính chất cơ bản để khu biệt các thanh điệu là cao độ (âm vực)
và đường nét (âm điệu) Có thể hình dung cụ thể hơn qua sơ đồ sau:
Thanh điệu
[+ bằng phẳng] [- bằng phẳng]
Trang 37[+ cao] [- cao] [+uốn] [- uốn]
[+ cao] [- cao] [+ cao] [- cao]
/1/ /2/ /3/ /4/ /5/ /6/
Bảng 2: Bảng phân bố âm vị học thanh điệu trong từ đơn
xuất hiện
Tổng số các âm tiết trong nét Tỉ lệ %
Dựa vào kết quả bảng 2 ta thấy:
- Số lượng các thanh điệu có đường nét không bằng phẳng có số lượnglớn hơn nhiều so với số lượng các thanh điệu có đường nét bằng phẳng dođường nét không bằng phẳng chiếm tới 4 thanh Còn những thanh có đườngnét bằng phẳng mặc dù toàn những thanh dễ phát âm, được ưa thích nhưng sốlượng chỉ có hai thanh
Trang 38- Trong các thanh có đường nét không bằng phẳng thì số lượng cácthanh có đường nét không uốn (không gãy) chiếm tỉ lệ lớn hơn rất nhiều sovới các thanh uốn (gãy), lí do thanh gãy gồm hai thanh hỏi và ngã là nhữngthanh khó phát âm, không xuất hiện trong các âm tiết có âm cuối vô thanh nên
nó cũng xuất hiện ít nhất trong từ đơn
- Số lượng các thanh có âm vực cao thì chiếm số lượng lớn hơn sốthanh có âm vực thấp, vì thanh cao có hai thanh đầu bảng được ưa thích làthanh ngang và thanh sắc
2.1.2.3 Thanh điệu với chức năng khu biệt nghĩa trong từ đơn tiết
a Số liệu thống kê
Nói đến “khu biệt” có nghĩa là phải có sự đối lập Nói cách khác, phải
có sự đối lập thì sự khu biệt mới có giá trị Vậy khi nói đến chức năng khubiệt nghĩa của thanh điệu trong từ đơn tiết thì có nghĩa là nó chỉ thực hiệntrên những đơn vị có vỏ âm tiết (hay cấu trúc âm tiết) giống nhau chỉ khác vềthanh điệu
Xuất phát từ cơ sở trên, sau khi lập thành danh sách từ đơn chúng tôi sẽloại bỏ đi những từ không có giá trị khu biệt về thanh điệu, tức những từkhông có sự đối lập với các từ khác về thanh điệu Sau đó sẽ xem xét chứcnăng khu biệt nghĩa của thanh điệu trên số từ còn lại
Với 5062 từ đơn tiết thì có 787 từ (chiếm 15,55%) không có sự đối lập
về thanh điệu với các từ đơn tiết khác Nghĩa là có 787 từ trong tiếng Việt chỉthể hiện với một thanh điệu duy nhất Ví dụ:
“ Ác”, chỉ có ác, chứ không có ạc, ac, ãc,ảc, àc
“Bám”, chỉ có bám chứ không có bạm, bam, bãm, bàm, bảm
“Chơi”, chỉ có chơi chứ không có chời, chới, chợi, chỡi, chởi
“Khinh”, có khinh chứ không có khỉnh, khính
“Tóc”, chỉ có tóc chứ không có toc, tọc,tõc, tòc, tỏc
Trang 39
Ở loại này, mỗi vỏ tiếng chỉ chấp nhận một thanh điệu, còn lại hoặc làkhông kết hợp được; hoặc kết hợp được nhưng không có nghĩa; hoặc là những
từ kết hợp được, có nghĩa nhưng chỉ xuất hiện trong từ ghép, từ láy hay thuộc
từ địa phương
Như vậy, với 787 từ đơn tiết nói trên thanh điệu không thực hiện chứcnăng khu biệt nghĩa Còn lại 4275 từ, chiếm tỉ lệ 84,45% từ đơn tiết có sự đốilập về thanh điệu, có nghĩa là thanh điệu có thể thực hiện chức năng khu biệtnghĩa trên 4275 đơn vị này Đây là một tỉ lệ khá lớn, chứng tỏ thanh điệutiếng Việt thực hiện chức năng khu biệt nghĩa trong từ đơn tiết khá rộng rãi vàđều khắp Ví dụ:
- Am/ ám khu biệt nghĩa với nhau nhờ thanh ngang và thanh sắc
- Chua/ chùa/ chúa khu biệt nghĩa với nhau nhờ thanh ngang thanh
huyền và thanh sắc
- Căn/ cằn/ cắn/ cặn có nghĩa khác nhau nhờ có sự khác biệt về các
thanh: thanh ngang, thanh huyền thanh sắc thanh nặng
- Re/ rè/ rẻ/ rẽ/ ré, chỉ có thanh nặng không thực hiện chức năng khu
biệt nghĩa vì không có rẹ, còn lại các thanh đều có thể thực hiện được
- Ba/ bà/ bả/ bã/ bá/ bạ thì cả 6 thanh đều có thể đảm nhiệm chức năng
khu biệt nghĩa trên vỏ âm tiết này
Xét tổng thể 4275 từ này, thứ tự xuất hiện các thanh điệu như sau:Bảng 3: Sự phân bố thanh điệu ở từ đơn được khu biệt nghĩa
Trang 40b1 Nhìn vào bảng thống kê, ta thấy trật tự tôn ti thể hiện vai trò chức năng
của thanh điệu tiếng Việt là khác nhau Thanh sắc sau đó đến thanh ngang vớinhững ưu thế riêng, dẫn đầu về số lượng và tỉ lệ trong việc tham gia đối lập vềthanh điệu Tiếp theo là thanh nặng và thanh huyền Thanh hỏi và thanh ngã
do những hạn chế của mình nên có số lượng và tỉ lệ tham gia sự khu biệtnghĩa ít nhất Thứ tự xuất giống với thứ tự xuất hiện thanh điệu trong tổng thể
từ đơn ở bảng 1
Trong 4275 từ nói trên, chúng tôi tiếp tục phân chia ra: loại vỏ tiếng chỉchấp nhận 2 thanh điệu; 3 thanh điệu; 4 thanh điệu; 5 thanh điệu và 6 thanhđiệu, sau đó tiến hành thống kê khảo sát tỉ lệ xuất hiện các thanh để xem xétkhả năng thực hiện chức năng khu biệt nghĩa của các thanh Kết quả:
b2 Loại âm tiết xuất hiện hai thanh điệu
Nếu thanh điệu chỉ thực hiện được sự khu biệt nghĩa dựa trên sự đốilập thì ở loại vỏ âm tiết này chỉ xuất hiện được 2 thanh đối lập và thực hiệnchức năng của mình: ví dụ:
Tỉ lệ xuất hiện các thanh theo thứ tự như sau:
Bảng 4: Sự phân bố thanh điệu ở âm tiết xuất hiện hai thanh điệu