chúng tôi phân chia âm tiết tiếng Việtthành các đơn vị dưới âm tiết mà Việt ngữ học quen gọi là âm vị theo mô hình cấutạo âm tiết sau đây: Âm tiết Cấu trúc chiết đoạn Cấu trúc siêu đoạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA SAU ĐẠI HỌC
TÌM HIỂU CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG VẦN TIẾNG VIỆT (TRÊN TƯ LIỆU TỪ ĐƠN, TỪ LÁY SONG TIẾT,
THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ VÀ THƠ CA)
Luận văn thạc sĩ Ngữ văn Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hoài Nguyên
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Loan
VINH, 2010
Trang 2Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầygiáo hướng dẫn, xin gửi đến các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình lời tri ânchân thành nhất.
Vinh, ngày 15 tháng 12 năm 2010
TÁC GIẢ
Trang 3MỤC LỤC
Mở đầu Trang
1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận văn 5
6 Bố cuc của luận văn 6
Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tài 1.1 Việc nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt 7
1.1.1 Tiểu dẫn 7
1.1.2 Các khunh hướng miêu tả ngữ âm tiếng Việt 12
1.3 Hệ thống vần tiếng Việt hiện đại 13
1.3.1 Nhìn chung về vần 13
1.3.1.1 Thế nào là vần? 13
1.3.1.2 Vấn đề tâm và biên 14
1.3.2 Xác lập các tiểu hệ thống vần tiếng Việt 15
1.3.3 Miêu tả hệ thống vần tiếng Việt hiện đại 16
1.3.3.1 Danh sách vần tiếng Việt hiện đại 16
1.3.3.2 Miêu tả hệ thống vần tiếng Việt hiện đại 19
1.4 Tiểu kết 21
Chương 2 Chức năng của hệ thống vần tiếng Việt trong từ đơn và từ láy song tiết 2.1 Dẫn nhập 22
Trang 42.2 Vần trong từ đơn
2.2.1 Khái niệm từ đơn
2.2.2 Chức năng cấu tạo các tín hiệu đơn tiết của hệ thống vần tiếng Việt 2.2.2.1 Tiểu dẫn
2.2.2.2 Cứ liệu thống kê 24
2.2.2.3 Nhận xét chung 32
2.3 Vần trong từ láy song tiết 39
2.3.1 Khái niệm từ láy 39
2.3.2 Số liệu thống kê 40
2.3.3 Nhận xét 52
2.4 Tiểu kết 54
Chương 3 Chức năng của hệ thống vần trong thành ngữ, tục ngữ và thơ ca
3.1 Vần trong thành ngữ, tục ngữ 56
3.1.1 Một số vấn đề chung 56
3.1.1.1 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 56
3.1.1.2 Vần và hiện tượng hiệp vần 58
3.1.2 Chức năng của vần trong thành ngữ 59
3.1.2.1 Phương pháp thống kê và xử lí tư liệu 59
3.1.2.2 Nhận xét 69
3.1.3 Chức năng của vần trong tục ngữ 75
3.1.3.1 Phương pháp thống kê và xử lí tư liệu 76
3.1.3.2 Nhận xét 79
3.2 Chức năng của vần trong thơ 81
3.2.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vần thơ Việt Nam 81
3.2.2 Chức năng của vần trong thơ 81
Trang 53.2.2.1 Chức năng tổ chức của vần 81
3.2.2.2 Chức năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp 85
3.2.2.3 Sức mạnh biểu đạt ý nghĩa của vần trong thơ 87
3.3 Tiểu kết 87
Kết luận 88
Tài liệu tham khảo 90
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Nếu như ở các ngôn ngữ Ấn Âu, nguyên âm và phụ âm làm thành hai hệthống song hành để tổ chức các đơn vị ngôn ngữ lớn hơn thì ở tiếng Việt là haithành phần đoạn tính âm đầu và phần vần Từ trước đến nay, trong các công trìnhnghiên cứu ngữ âm tiếng Việt, hầu hết các nhà Việt ngữ học đều nói đến sự chiatách âm tiết tiếng Việt thành âm đầu và phần vần cùng với một thành phần siêuđoạn tính là thanh điệu Trong âm tiết tiếng Việt, sự tương phản giữa âm đầu vàphần vần tỏ ra hiển nhiên hơn nhiều sự chia tách phần vần ra các yếu tố nhỏ hơn(gồm âm đệm, âm chính và âm cuối) Đây chính là một đặc điểm của ngữ âm tiếngViệt Thế nhưng, nếu âm đầu đã được các nhà nghiên cứu tập trung miêu tả trongcác công trình ngữ âm học tiếng Việt cả đồng đại và lịch đại thì phần vần chưa baogiờ trở thành đối tượng của việc miêu tả với tư cách là một đơn vị ngữ âm cơ bản 1.2 Tiếp thu công thức bốn thành tố của nhà Đông phương học Polivanov, tronghầu hết các sách vở ngữ âm tiếng Việt đều chia tách âm tiết thành âm đầu, âmđệm, âm chính, âm cuối (đơn vị đoạn tính) và thanh điệu (đơn vị siêu đoạn) Điềunày phù hợp với đặc điểm chữ viết theo hệ La tinh đòi hỏi phải phân tích âm tiếttiếng Việt thành những yếu tố nhỏ nhất, tương đương với âm tố Thế nhưng, cónhững thực tiễn cấu tạo từ láy (láy vần), iếc hóa, nghệ thuật sử dụng ngôn từ nhưnói lái, hiệp vần thơ, việc đánh vần tập đọc, mà trong đó, phần vần có một vai tròhết sức quan trọng không thể không được chú ý xem xét Rõ ràng, trong cơ cấungữ âm tiếng Việt, vần có một vị trí xứng đáng, một thực thể cần được nghiên cứumiêu tả
Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi mạnh dạn tập trung xem xét, nghiêncứu chức năng của hệ thống vần tiếng Việt trên tư liệu từ đơn tiết, từ láy song tiết,thành ngữ, tục ngữ và trong ngôn từ thơ ca Đề tài của chúng tôi chắc chắn sẽ chứa
Trang 7đựng nhiều vấn đề phức tạp nhưng hết sức lí thú Lấy hệ thống vần tiếng Việt làmđối tượng nghiên cứu, chúng tôi hy vọng đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ thêmnhững vấn đề thuộc lý thuyết cũng như thực tiễn có liên quan đến ngữ âm tiếngViệt.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên thực tế, vần và những vấn đề liên quan đến vần cũng đã được một số nhànghiên cứu đề cập đến trong phạm vi và mức độ nhất định Những nghiên cứu liênquan đến phần vần hướng đến các vần đề sau đây:
- Một số nhà nghiên cứu đã khảo sát vần thơ, các vấn đề liên quan đến vần thơnhư Võ Bình (1975, 1984, 1985), Lê Anh Hiền (1973), Mai Ngọc Chừ (1986,
1989, 1991) Tác giả Mai Ngọc Chừ (1991) đã dành sự quan tâm khảo sát vần thơViệt Nam, xem xét dưới ánh sáng ngôn ngữ học
- Một số tác giả tập trung tìm hiểu giá trị biểu trưng của các khuôn vần trongtiếng Việt Tác giả Phi Tuyết Hinh (1981, 1990) đã làm nổi bật giá trị biểu trưngcủa khuôn vần trong từ láy tiếng Việt Khi khảo sát tu từ ngữ âm, tác giả Cù Đình
Tú (1983) cũng đã chỉ ra biểu trưng ngữ nghĩa của một số khuôn vần trong tiếngViệt
- Cũng đã có vài nhà nghiên cứu đưa ra những thuyết minh về khái niệm vần và
chủ trương xác lập hệ thống vần tiếng Việt Trong công trình Âm tiết và loại hình
ngôn ngữ, tác giả Nguyễn Quang Hồng (1994) đã xác lập hệ thống vần tiếng Việt
gồm 124 vần (không tính những vần có âm đệm) Tác giả Hoàng Phê (1996) đã
xác lập Từ điển vần, giúp ta hình dung bảng vần tiếng Việt.
- Gần đây, một số nhà nghiên cứu dành sự quan tâm xem xét phần vần tiếng
Việt Nhà nghiên cứu Vương Lộc (1995), khi giới thiệu và chú giải cuốn An Nam
dịch ngữ đã dành một chương miêu tả hệ thống vần tiếng Việt thế kỷ XV - XVI.
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn (1995) trong Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt đã làm
sáng tỏ lai nguyên của hệ thống vần tiếng Việt hiện đại Còn nữa, luận văn cao học
Trang 8của Nguyễn Thị Hải (2009) đã mạnh dạn khảo sát diễn biến của hệ thống vần tiếngViệt từ thế kỷ XVII đến nay trên tư liệu chữ viết và một số phương ngữ.
Điểm qua một số nghiên cứu vần tiếng Việt, chúng tôi thấy rằng, phần vầnchủ yếu được xem xét ở một vài khía cạnh chức năng trong mối liên hệ với nhữngvấn đề khác mà các tác giả quan tâm Do đó, cho đến nay, hệ thống vần tiếng Việt
và hoạt động chức năng của chúng vẫn còn là chỗ trống, thực sự đã trở thành mộtđòi hỏi cấp thiết, cần phải được các nhà ngữ học quan tâm nghiên cứu
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống vần tiếng Việt và hoạt độngchức năng của chúng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho luận văn nhiệm vụ cố gắng giải quyết những vấn đề sauđây:
- Xác lập một cách miêu tả ngữ âm tiếng Việt và hệ thống vần tiếng Việt hiệnđại Cung cấp một cách nhìn hệ thống đối với vần tiếng Việt gồm các tiểu hệ thống
và cách miêu tả vần tiếng Việt
- Qua khảo sát vần trong từ đơn, từ láy song tiết làm sáng tỏ chức năng cấu tạocác đơn vị ngôn ngữ của vần tiếng Việt
- Từ việc khảo sát vần trong thành ngữ, tục ngữ và trong ngôn từ thơ ca làmsáng tỏ chức năng liên kết các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ của hệ thống vần tiếngViệt
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Lấy hệ thống vần tiếng Việt làm đối tượng nghiên cứu độc lập tức là chúng tôicoi vần là đơn vị ngữ âm cơ bản (cùng với âm đầu và thanh điệu) và được miêu tảvới tư cách đó Do vậy, để xây dựng cơ sở lý luận cho việc đề nghị một cách miêu
tả về ngữ âm tiếng Việt và hệ thống vần, chúng tôi dựa vào những thành tựu của
Trang 9âm vận học Trung Hoa, các sách lý luận về ngôn ngữ đại cương, các sách vở vềngữ âm tiếng Việt từ trước đến nay Để xác lập hệ thống vần tiếng Việt hiện đại,
chúng tôi dựa vào Từ điển vần của Hoàng Phê (2000), Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2000) có đối chiếu với Đại từ điển tiếng Việt của nhóm tác giả do
Nguyễn Như Ý chủ biên (1999), có tham khảo hệ thống vần của giáo sư NguyễnQuang Hồng (1994)
Tư liệu cho việc tìm hiểu các khía cạnh chức năng của hệ thống vần tiếng Việt
là các cuốn:
- Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê; Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học,
Hà Nội, 2000
- Từ điển từ láy của Viện ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995.
- Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của Vũ Dũng, Vũ Thúy Anh, Vũ
Quang Hào, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1995
- Từ điển tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Xuân Kính, Phan Hồng Sơn, Nxb
Văn hóa, Hà Nội, 1995
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng phương pháp cấu trúc - hệ thống đểxác lập các đơn vị ngữ âm tiếng Việt ở bình diện đồng đại, tức là hệ thống vầntiếng Việt hiện đại
- Để làm nổi bật các khía cạnh chức năng của hệ thống vần tiếng Việt, chúng tôi
sử dụng phương pháp thống kê định lượng để xác lập tư liệu khảo sát, đồng thời sửdụng các thao tác phân tích, miêu tả và tổng hợp nhằm chứng tỏ chức năng màchúng thể hiện
- Luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu để làm nổi bật chức năngcủa hệ thống vần tiếng Việt trong việc tổ chức các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ
5 Đóng góp của luận văn
Cùng với âm đầu và thanh điệu, phần vần được coi là đơn vị ngữ âm cơ bảntrong cấu trúc âm tiết tiếng Việt Theo cách tiếp cận này, lần đầu tiên, luận văn đã
Trang 10đặt ra nhiệm vụ giải quyết các câu hỏi: dựa vào những tiêu chí gì để xác lập hệthống vần tiếng Việt hiện đại, số lượng vần là bao nhiêu, cũng như các tiểu hệthống của nó? Cách miêu tả theo những hướng nào? Điều quan trọng hơn là từnhững tư liệu cụ thể, luận văn đã xem xét, khảo sát hoạt động chức năng của hệthống vần tiếng Việt từ các khía cạnh cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ và liên kết cácđơn vị ngôn ngữ và ngôn từ Từ đó, có thể thấy, khác với cách hình dung có phầnhạn hẹp về vai trò liên kết của vần trong thi ca, bởi vì vai trò liên kết thực ra chỉ làbiểu hiện một khía cạnh chức năng của vần tiếng Việt mà thôi Các kết quả củaluận văn, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy ngữ âm tiếng Việt
và việc nghiên cứu ngôn từ thi ca
6 Bố cục của luận văn
Toàn luận văn gồm 94 trang, trong đó phần chính văn 90 trang Ngoài phần Mởđầu (6 trang), Kết luận (2 trang) và Danh mục tài liệu tham khảo (4 trang), nộidung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Chức năng của hệ thống vần tiếng Việt trong từ đơn, từ láy song tiết Chương 3: Chức năng của hệ thống vần tiếng Việt trong thành ngữ, tục ngữ vàtrong thơ ca
Trang 11Chương1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Việc nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt
1.1.1 Tiểu dẫn
Cho đến nay, những nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt đã có nhiều thành tựuđáng kể Từ các công trình nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt, có thể nhận thấy khimiêu tả hệ thống ngữ âm tiếng Việt cùng với các đơn vị ngữ âm, các tác giả đã cónhững quan điểm, cách nhìn nhận khác nhau Từ quan điểm và cách làm việc củacác tác giả, chúng ta nhận thấy một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thái độ của họ đốivới việc xác định đơn vị ngữ âm học cơ bản trong tiếng Việt - tức âm vị Từ cáccông trình ngữ âm tiếng Việt đã công bố, chúng ta có thể xác lập được một sốkhuynh hướng miêu tả ngữ âm tiếng Việt, trong đó vấn đề mà chúng ta quan tâm,
đó là phần vần
1.1.2 Các khuynh hướng miêu tả ngữ âm tiếng Việt
1.1.2.1 Trong một thời gian dài trước đây, việc nghiên cứu các bình diện củaViệt ngữ học thường lấy châu Âu làm trung tâm (dĩ Âu vi trung) Theo cách hìnhdung của truyền thống ngữ âm học cổ điển châu Âu, cái hiển nhiên đối với các nhànghiên cứu là các âm vị (âm tố), nguyên âm và phụ âm, tương ứng với các chữ cái
a, b, c trên mặt giấy Ảnh hưởng mạnh mẽ của phương pháp phân tích âm vị họcvốn được áp dụng trong các ngôn ngữ Châu Âu, một số nhà ngữ học đã hình dung
về hệ thống ngữ âm tiếng Việt trên giống như bất kỳ một hệ thống ngữ âm nàothuộc loại hình ngôn ngữ châu Âu Theo đó, họ xác lập các hệ thống nguyên âm vàphụ âm trong cơ cấu ngữ âm tiếng Việt Thậm chí, phụ âm mở đầu (âm đầu) vàphụ âm kết thúc âm tiết (âm cuối) cũng không có sự phân biệt mà được quy vàomột đơn vị thuộc hệ thống phụ âm Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng nghiêncứu ngữ âm tiếng Việt mô phỏng châu Âu là Lê Văn Lý (1948) và M.B.Emeneu(1951) Theo hướng miêu tả này, các tác giả cho thấy âm tiết tiếng Việt được lý
Trang 12giải như một tổ hợp của các phụ âm và nguyên âm, trong đó nhất thiết phải có mộtnguyên âm, còn thanh điệu và âm đệm không được tính đến.
Theo Lê Văn Lý (1948), một ký hiệu thanh tính đơn trong tiếng Việt có thể tồntại bốn kiểu khác nhau: V, VC, CV, và VCV (V: nguyên âm, C: phụ âm) Còn tácgiả M.B.Emeneu (1951) cũng có một quan điểm tương tự khi ông đưa ra mô hình
âm tiết tiếng Việt là một tổ hợp âm đoạn bao gồm "phụ âm + nguyên âm + phụâm" Cho đến thập niên 60 của thế kỷ XX, chúng ta còn bắt gặp cách phân tích vàmiêu tả hệ thống ngữ âm tiếng Việt theo kiểu như vậy ở tác giả Hoàng Tuệ (1962).Theo Hoàng Tuệ (1962), lược đồ âm tiết tiếng Việt sẽ là C1VC2, trong đó C1 làthủy âm, C2 là chung âm, còn V là nguyên âm Như vậy, theo Lê Văn Lý,M.B.Emeneau và Hoàng Tuệ, cái nổi bật lên trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt lànguyên âm và phụ âm
1.1.2.2 Trong miêu tả âm vị học, âm vận học Trung Hoa tỏ ra hết sức cần thiết
đối với các ngôn ngữ âm tiết tính phương Đông Nghiên cứu mặt âm thanh của chữ
vuông Hán mà trên thực tế là trùng khít với âm tiết mang thanh điệu, âm vận họcTrung Hoa đã phân tích âm tiết tiếng Hán thành hai bộ phận đoạn tính là thanhmẫu (âm đầu) và vận mẫu (phần vần), cùng với hai đơn vị có cấu trúc siêu đoạn làđiệu (thanh điệu) và hô (âm đệm) Tiếp thu thành tựu của âm vận học Trung Hoa,tác giả Nguyễn Quang Hồng (1994) dựa vào các cứ liệu như cấu tạo từ láy, iếc
hóa, nói lái, tiến hành phân xuất âm tiết tiếng Việt thành hai đại lượng âm thanhđoạn tính là âm đầu và vần cái, và cùng với hai thành phần đoạn tính đó là haithành phần như cái khung âm điệu của âm tiết là âm đệm và thanh điệu (hai đơn vịsiêu đoạn) Lược đồ âm tiết tiếng Việt của tác giả Nguyễn Quang Hồng [23] đượctrình bày như sau:
Thanh điệu
Âm đệm
Âm đầu Vần cái
Trang 13
Tác giả tiến hành tính đếm số lượng các đơn vị âm thanh (âm vị) gồm âm đầu là
21 đơn vị (phụ âm), còn vần cái gồm 124, trong đó 12 vần đơn (vần mở) và 112vần phức (nửa mở, nửa khép và khép)
1.1.2.3 Tiếp thu công thức bốn thành tố của các nhà Đông Phương học mà đạidiện là E.Polivano (1930), các nhà Việt ngữ học đã tiến hành xác lập hệ thống bốnthành tố cấu trúc âm tiết gồm âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối (chưa tínhthanh điệu) Công thức xác lập bốn thành tố này gọi là công thức E Polivano Bởi
lẽ, năm 1930, trong công trình Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán, ông là người khởi
xướng không coi âm vị tiếng Hán như âm vị trong các ngôn ngữ Ấn- Âu Ông đềxuất thuật ngữ Syllabeme (tiết vị) và mỗi Syllabeme có thể chia thành bốn thành
tố Có thể nói, quan điểm bốn thành tố của E.Polivanov (sau này được các nhàĐông Phương học khác như A.A Drugunou, E.NDragunova, M.V Gordina, ủnghộ), ảnh hưởng rất lớn đối với các nhà Việt ngữ học Hướng nghiên cứu này được
áp dụng khá phổ biến trong các giáo trình ngữ âm tiếng Việt ở bậc đại học và caođẳng Tuy nhiên, tuy cũng tiếp thu công thức bốn thành tố nhưng khi bắt tay vàophân tích cấu trúc âm tiết tiếng Việt, các nhà nghiên cứu cũng có những cách nhìnkhác nhau Các tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung và Nguyễn Nguyên Trứ(1972, 1978) không hình dung ra cấu trúc tầng bậc của âm tiết mà chỉ hình dungbốn thành tố như những âm đoạn kế tiếp nhau theo trật tự tuyến tính Ngoài bốnthành tố đoạn tính, yếu tố đặc trưng độ cao (thanh điệu) chỉ gắn với phần vần của
âm tiết Còn hầu hết các nhà nghiên cứu đều chỉ ra cấu trúc hai bậc của âm tiếtnhưng các thành phần trong bậc lại có sự khác nhau Theo Hoàng Thị Châu (1989,2004), bốn thành tố được tổ chức thành hai bậc: bậc 1 gồm âm đầu, âm đệm, vần
và thanh điệu; bậc 2 gồm nguyên âm và âm cuối (trong phần vần) Còn tác giảĐoàn Thiện Thuật (1977), Hữu Quỳnh (1980), Vương Hữu Lễ và Hoàng Dũng(1994), Nguyễn Hoài Nguyên (2000), lại cho rằng: bậc 1 gồm âm đầu vần vàthanh điệu; bậc 2 gồm âm đệm, âm chính và âm cuối Sau khi đã xác lập cấu trúc
Trang 14hai bậc của âm tiết tiếng Việt, các tác giả tiến hành mô tả các đối hệ âm đầu, âmđệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu, phân biệt các âm tiết theo từng đối hệ 1.1.2.4 Tác giả Cao Xuân Hạo (1974, 1985) cho rằng kích thước của cái đạilượng ngữ âm thể hiện âm vị có thể khác nhau tùy từng ngôn ngữ Cái mà ta gọi là
âm tố (nguyên âm, phụ âm) có cương vị âm vị chỉ có ở một số ngôn ngữ thuộc loạihình không đơn lập Theo đó, tác giả xác định hai loại âm vị đó là đoản âm vị vàtrường âm vị Các ngôn ngữ đoản âm vị và trường âm vị khác nhau một cách sâusắc về cách tổ chức và sử dụng chất liệu âm thanh Trong các ngôn ngữ châu Âu,
âm vị có kích thước âm tố (nguyên âm và phụ âm) là những âm đoạn tối thiểuđược phân xuất trong ngữ lưu dựa vào tiêu chí chức năng (tiêu chí thuần ngônngữ), chức năng tạo lập vỏ tiếng cho các kí hiệu ngôn ngữ (hình vị, từ) Còn trongtiếng Việt và các loại hình như tiếng Việt, âm vị có kích thước âm tiết; âm tiết mới
là đơn vị nhỏ nhất, kế tiếp nhau theo tuyến tính Chỉ trong âm tiết, các nét khu biệtmới được thể hiện đồng thời hay ít nhất gần đồng thời Tóm lại, trong tiếng Việt,các âm tiết nguyên vẹn là đơn vị âm vị học cơ bản - âm vị Hay nói cách khác, theoCao Xuân Hạo, âm vị trong tiếng Việt thuộc loại trường âm vị
Nếu theo giải pháp này, người nghiên cứu tiến hành tính đếm số lượng âm tiết
có nghĩa trong tiếng Việt, xác định con số cụ thể từ đó hình dung đơn vị ngữ âm cơbản trong tiếng Việt
1.2 Cấu trúc âm tiết và các đơn vị ngữ âm tiếng Việt
1.2.1 Âm tiết là xuất phát điểm để phân tích âm vị học
Đơn vị âm vị học được người Việt tri giác tự nhiên nhất trong mọi hoàn cảnhphát ngôn là âm tiết Điều này là hoàn toàn tự nhiên xét về mặt thuần túy ngữ âmhọc Bởi vì, xét từ góc độ sinh lý - cấu âm, âm tiết là sản phẩm của nhịp thở, luồnghơi đi ra từ phổi Các ngôn ngữ trên thế giới đều có chung đặc điểm này Tuynhiên, khác với âm tiết trong ngôn ngữ Ấn - Âu, trong tiếng Việt và các ngôn ngữcùng loại hình, ngoài tính tự nhiên về vật chất trong cấu tạo, hầu hết các âm tiếtđều có tính tự nhiên về ý nghĩa hoặc chức năng ngữ pháp Như vậy, xét từ phương
Trang 15diện nội dung, âm tiết tiếng Việt cũng đồng thời là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ,tương đương với khái niệm hình vị trong thuật ngữ truyền thống Vậy là âm tiếtViệt có sự kết hợp giữa một bên là tính tự nhiên về hình thức với một bên là tính tựnhiên về nội dung nếu xét từ áp lực hệ thống Nói cách khác, âm tiết Việt là mộttín hiệu ngôn ngữ Có lẽ, chính vì lý do này mà các nhà Đông phương học gọi âmtiết là tiếng Việt là Syllabeme, là hình tiết Theo hướng nhận thức này, đơn vị ngữ
âm quen gọi là âm tiết trong tiếng Việt xét từ góc độ âm vị học là đơn vị cơ sở củatiếng Việt, tương đương với khái niệm âm vị trong truyền thống ngôn ngữ họcchâu Âu
Thế nhưng, như đã biết, một đại lượng ngữ âm nào đó sẽ có tư cách một đơn
vị âm vị học chừng nào có đảm nhận một chức năng nhất định đối với đơn vị mangnghĩa trong một hệ thống ngôn ngữ Có hai chức năng cơ bản mà đơn vị ngữ âm cóthể đảm nhận là chức năng tạo lập (constitutive) và chức năng khu biệt(distinctive) đối với vỏ tiếng mang các đơn vị mang nghĩa (tức kí hiệu ngôn ngữ)trong một ngôn ngữ nhất định Trong tiếng Việt, thực hiện chức năng tạo lập vỏtiếng cho các đơn vị mang nghĩa phải là các âm tiết nguyên vẹn (syllabeme) nhưngkhi nói đến chức năng khu biệt vỏ tiếng cho các đơn vị mang nghĩa trong tiếngViệt, ta có thể nói đến các đơn vị âm thanh dưới âm tiết Trong các ngôn ngữ châu
Âu, các nhà ngữ học dựa vào ranh giới hình thái học đi qua giữa các âm trong cácngữ lưu để phân xuất các âm vị, nghĩa là xuất phát từ hình vị để phân tích âm vịhọc Trong tiếng Việt, hầu hết các âm tiết đều trùng hình vị, nghĩa là hình thứcbiểu đạt của hình vị và âm tiết là một (trùng khít), cho nên, có thể xuất phát từ âmtiết để phân tích âm vị học
1.2.2 Các thành tố cấu tạo âm tiết - đơn vị âm vị học
Nếu xem âm tiết tiếng Việt có cương vị ngôn ngữ học thì có thể thấy rằng âmtiết tiếng Việt khác hoàn toàn với âm tiết trong các ngôn ngữ biến hình: có danhsách hữu hạn, có giá trị hình thái học, là đơn vị trung gian giữa hai cấp độ: đơn vị
âm vị học (hướng tới nghĩa) và hình thái học (chứa nghĩa) Do đó, xem xét tư cách
Trang 16ngôn ngữ học của đơn vị âm tiết tiếng Việt có thể hình dung vấn đề theo hai hướngsau đây:
(1) Nếu coi âm tiết là đơn vị âm vị học thì chúng là các nét khu biệt cấu tạođồng thời để tạo nên cái gọi là đơn vị âm học ấy (âm tiết tương đương với các âm
vị nguyên âm phụ âm trong các ngôn ngữ biến hình)
(2) Nếu coi mỗi cấp độ ngôn ngữ học đều có một cấu trúc đẳng cấu thì ở cấp
độ âm vị học Việt có hai loại thực thể có tư cách như đơn vị: các thành phần cấutạo âm tiết là đơn vị cơ sở, còn âm tiết nguyên vẹn là bậc cao của cấp độ đó Sự tồntại song song của hai loại đơn vị đó là nét đặc thù của tiếng Việt và các ngôn ngữcùng loại hình đơn lập Dĩ nhiên, ranh giới hình thái học đi qua các thành phần cấutạo âm tiết Việt mờ nhạt hơn nhiều so với âm tiết trong các ngôn ngữ biến hình.Mặc dù vậy, vẫn phải thừa nhận có một loại đơn vị như thế tồn tại trong trực cảmcủa người bản ngữ thể hiện qua các trò chơi dân gian quen gọi là chơi chữ có trongtruyền thống ngữ văn của người Việt Trong luận văn này, chúng tôi chấp nhậnhướng thứ hai để tiện cho việc lý giải phần vần trong tiếng Việt Từ các cứ liệu cấutạo từ láy, iếc hóa, nói lái, hiệp vần thơ, chúng tôi phân chia âm tiết tiếng Việtthành các đơn vị dưới âm tiết mà Việt ngữ học quen gọi là âm vị theo mô hình cấutạo âm tiết sau đây:
Âm tiết
Cấu trúc chiết đoạn Cấu trúc siêu đoạn
Âm đầu Vần Thanh điệu
Chúng tôi cho rằng, mỗi một thành phần này có một danh sách riêng, được ký
mã một cách thụ động trong óc người bản ngữ và có thể miêu tả chúng một cách
Trang 17chi tiết nhằm phục vụ cho mục đích làm sáng tỏ chức năng của hệ thống vần tiếngViệt.
1.3 Hệ thống vần tiếng Việt hiện đại
1.3.1 Nhìn chung về vần
1.3.1.1 Thế nào là vần?
Khi nói đến vần, nhiều người có chung cách hiểu đó là phần còn lại của âmtiết trừ âm đầu, Tuy nhiên, cách hiểu phần thứ hai của âm tiết, sau âm đầu là khárộng rãi, đôi khi rất xê dịch trong các cách nói bình thường không đòi hỏi một cáchchặt chẽ của thuật ngữ Còn nữa, vần trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt và vần trongthơ lại không hoàn toàn giống nhau Bởi vậy, vần là gì, gồm có những yếu tố nào?Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào cách trả lời hai câu hỏi sau đây:
(a) Vần có bao gồm yếu tố âm đệm không?
(b) Vần có bao gồm yếu tố thanh điệu không?
Có thể có bốn khả năng trả lời như sau:
- Khả năng 1: có (a) và (b)
- Khả năng 2: có (a) không (b)
- Khả năng 3: có (a) có (b)
- Khả năng 4: không (a) không (b)
Nếu lấy âm tiết toàn để xem xét thì tương ứng với các khả năng trên ta sẽ có lần lượt các vần là: oàn, oan, àn, an Lâu nay, chúng ta vẫn dùng khái niệm vần
cho bốn trường hợp trên Các tác giả Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, NguyễnNguyên Trứ (1972, 1978) quan niệm vần theo khả năng 1 (vần gồm âm đệm, âmchính, âm cuối và thanh điệu) Tác giả Nguyễn Quang Hồng (1994) quan niệm vầntheo khả năng 4 (vần gồm âm chính và âm cuối) Các tác giả Đoàn Thiện Thuật(1977, 2002), Hữu Quỳnh (1980), Vương Hữu Lễ, Hoàng Dũng (1994) NguyễnHoài Nguyên (2007), quan niệm vần theo khả năng 2 (vần gồm âm đệm, âmchính, âm cuối) Trong luận văn này, chúng tôi chọn cách hiểu vần trong cấu trúc
âm tiết tiếng Việt gồm 3 yếu tố âm đệm, âm chính và âm cuối
Trang 181.3.1.2 Vấn đề tâm và biên
Dựa vào chữ quốc ngữ hiện hành với tất cả các khả năng ghi âm của nó và đốichiếu với những âm tiết có thể có trong tiếng Việt, chúng tôi tiến hành ghi chép vàxác lập các vần tiếng Việt hiện đại Như vậy, trong danh sách của chúng tôi sẽ baogồm những vần ít được sử dụng (chẳng hạn vần "ơu") và cả những vần mà chữquốc ngữ có khả năng phân biệt tối đa, tồn tại trong các phương ngữ (chẳng hạn,các vần "ơng", "ơi", 'ưn" ) Trong phạm vi thu nạp rộng rãi như thế, dĩ nhiên, cónhững vần đạt được hai tiêu chuẩn sau: 1) Không chỉ có mặt trong các từ ngữ địaphương hay ngoại lai, 2) Được sử dụng rộng rãi trong các âm tiết làm thành từ thực
tế Theo đó, những vần nào đạt hai tiêu chuẩn trên là những vần tâm Còn nhữngvần nào không đạt hai tiêu chuẩn trên là những vần biên
Vấn đề tâm biên của hệ thống vần tiếng Việt còn có thể xác định dựa vào cáctiêu chí khác Chẳng hạn, dựa vào khả năng sản sinh âm tiết thực trong các kết hợpcủa vần với âm đầu và thanh điệu, đồng thời dựa trên nguyên tắc định lượng đểphân loại, hệ thống vần tiếng Việt có thể được chia thành các tiểu hệ thống vầntâm và vần biên Thuộc tiểu hệ thống vần tâm là những vần có khả năng kết hợpđược với nhiều âm đầu và thanh điệu Những vần hạn chế trong sự kết hợp với âmđầu và thanh điệu là thuộc tiểu hệ thống vần biên
1.3.2 Xác lập các tiểu hệ thống vần tiếng Việt
Căn cứ vào khả năng phân biệt tối đa mà chữ quốc ngữ đã phản ánh, chúng tôixác lập được 159 vần có trong tiếng Việt hiện đại 159 vần tiếng Việt không phải
là một hệ thống đơn giản mà bao gồm các tiểu hệ thống được xác lập và phân biệttheo chiều hướng khác nhau Để tiện cho việc tìn hiểu vai trò và chức năng của hệthống vần tiếng Việt, chúng tôi xác lập các tiểu hệ thống vần từ phía cuối vần căn
cứ vào đặc trưng nguyên âm tính hay phụ âm tính của kết vần Căn cứ vào đặctrưng nguyên âm tính và phụ âm tính của kết vần, chúng ta sẽ xác lập được các tiểu
hệ thống vần như sau:
Trang 19- Các vần có đặc trưng kết vần nguyên âm tính, đó là những vần mở Trong cácvần mở lại bao gồm hai tiểu loại: các vần thực mở (gọi tắt là vần mở), có đặc trưng
kết vần thực sự nguyên âm tính, ví dụ: i (y), u, ô, ơ, a, ; các vần nửa mở là những vần có đặc trưng kết vần bán âm tính, ví dụ: ao/au ai/ay, ui, oi, eo, êu,
- Các vần có đặc trưng kết vần phụ âm tính, gọi chung là các vần khép Trongnội bộ vần khép lại bao gồm hai tiểu loại: các vần nửa khép là các vần có đặc trưng
kết vần là những phụ âm tắc - mũi (còn gọi là vần khép - tắc - mũi, ví dụ: am, an,
ang ; các vần thực khép (còn gọi là vần khép) là những vần có kết vần là phụ âm
tắc - miệng (còn gọi là vần khép - tắc - miệng), ví dụ: ap, ât, oc,
Như vậy, theo cách phân loại này, hệ thống vần tiếng Việt hiện đại sẽ có 4 tiểu
hệ thống là vần mở (thực mở), vần nửa mở, vần nửa khép và vần khép (thực khép).Vần mở (thực mở) cũng có thể gọi là vần đơn, còn các tiểu hệ thống vần nửa mở,nửa khép và khép (thực khép) gọi là vần phức
1.3.3 Miêu tả hệ thống vần tiếng Việt hiện đại
1.3.3.1 Danh sách vần tiếng Việt hiện đại
Trang 20iêu ươu ươi uôi
uyên
Trang 21uên uênh
d Danh sách vần khép (khép - tắc - miệng), gồm 56 vần
ach
Trang 22e Bảng vần tiếng Việt hiện đại (ghi theo kí hiệu API)
ɯɤp
j
ɯ ɤt
ɯɤ n
wa waj waw wap wak wam
Trang 23wat wan waŋ
1.3.3.2 Miêu tả hệ thống vần tiếng Việt hiện đại
Trong 159 vần tiếng Việt, có 41 vần có âm đệm, còn lại phần lớn những vần chỉ
có âm chính và âm cuối Do đó khi miêu tả vần tiếng Việt, những vần có âm đệm
có thể miêu tả riêng nên chúng ta sẽ lần lượt miêu tả các vần theo hai hướng: từphía đỉnh vần và từ phía kết vần
- Từ phía đỉnh vần
Đỉnh vần do nguyên âm đảm nhiệm, do đó, các vần phân biệt với nhau theo bađặc trưng chủ yếu:
(1).Vị trí của lưỡi: ta có các vần có nguyên âm hàng trước ( i/y, ê, e) và nguyên
âm hàng sau (u, ô, a )
(2) Độ mở của miệng (hay độ nâng của lưỡi): ta có các vần có nguyên âm độ
mở hẹp (i, u, ư), hơi hẹp (ô, ơ, ê), hơi rộng (e, ô) và rộng (a)
(3) Dáng môi (tròn hay không tròn) ta có: các vần không tròn môi (i, ê, a ), cácvần tròn môi (u, ô, o)
Đỉnh vần còn phân biệt các nguyên âm thuần sắc (i/y), (ê, u) với các nguyên âmchuyển sắc (ia, ua, ưa), các nguyên âm dài (a, ơ, ô) với các nguyên âm ngắn (ă, â)
- Từ phía kết vần
Kết vần do bán âm ( vần nửa mở) và phụ âm đảm nhiệm (vần nửa khép và vầnkhép) Kết vần do bản âm đảm nhiệm, ta miêu tả theo hai nhóm (theo đặc trung vịtrí của lưỡi và dáng môi): Nhóm 1: các vần nửa mở có kết vần là bán âm dòng sau
- tròn môi (iu, iêu, êu, ưu, eo, ươu, âu, ơu, au, ao); Nhóm 2: Các vần nửa mở có kếtvần là bản âm dòng trước- không tròn môi (ưi, ươi, ây, ơi, ay, ai, ui, ôi, uôi, oi) Kết vần do phụ âm đảm nhiệm Dựa vào hai đặc trưng vị trí cấu âm và phươngthức phát âm ta sẽ miêu tả theo hai nhóm: kết vần theo phụ âm môi (m) đầu lưỡi
Trang 24(n) giữa lưỡi (nh), cuối lưỡi (ng), là những phụ âm tắc mũi- (vần khép - tắc- mũi);kết vần do các phụ âm môi (p), đầu lưỡi (t), giữa lưỡi (ch), cuối lưỡi (c), là nhữngphụ âm tắc- miệng (vần khép - tắc- miệng)
Kết vần còn thể hiện miêu tả theo phương thức kết âm chặt / lỏng, tức là dạngtiếp hợp giữa kết vần và đỉnh vần Theo đó, các vần có kết âm chặt là " um, ăn,inh, ât, ưp " tương ứng với các kết vần có kết âm lỏng là "uôm, an, iêng, ơt, ươp",
…
1.4 Tiểu kết
Nếu như ở các ngôn ngữ Châu Âu, đơn vị ngữ âm cơ bàn là nguyên âm và phụ
âm làm thành hai hệ thống song hành thì ở tiếng Việt đó là âm đầu và phần vần(cùng với thanh điệu là thành tố siêu đoạn) Thế nhưng, nếu như âm đầu được cácnhà ngữ học quan tâm nghiên cứu các các mặt đồng đại và lịch đại thì phần vầnchưa được dành vị trí xứng đáng như nó đáng có Để xác lập cơ sở lý luận cho đềtài, ở chương 1 chúng tôi đã lựa chọn một cách miêu tả cấu trúc âm tiết tiếng Việt
để xác lập các đơn vị ngữ âm dưới đơn vị âm tiết, từ đó xác định hệ thống vầntiếng Việt hiện đại gồm 159 đơn vị Hệ thống vần tiếng Việt hiện đại gồm bốn tiểu
hệ thống: vần mở, vần nửa mở, vần nửa khép và vần khép Chúng tôi đề nghị mộtcách miêu tả hệ thống vần tiếng Việt theo hai hướng: từ phía đỉnh vần và từ phiákết vần (các vần có âm đệm miêu tả riêng) Từ phía đỉnh vần (đỉnh vần do nguyên
âm đảm nhiệm) chúng tôi xác lập được các đặc trưng ngữ âm chủ yếu để miêu tảgồm: vị trí của lưỡi (hàng trước / hàng sau ), độ mở của miệng (hẹp, hơi hẹp rộng,hơi rộng), dáng môi (tròn môi, không tròn môi) Từ phía kết vần, kết vần do bán
âm đảm nhiệm được miêu tả theo vị trí của lưỡi và dáng môi; kết vần do phụ âmđảm nhiệm được miêu tả theo vị trí cấu âm và phương thức phát âm Trên cơ sở hệthống vần tiếng Việt hiện đại đã được xác lập, ở các chương tiếp theo chúng tôi sẽtiến hành phân tích và lý giải chức năng của vần tiếng Việt về cấu tạo liên kết cácđơn vị ngôn ngữ và ngôn từ
Trang 25Chương 2 CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG VẦN TIẾNG VIỆT
TRONG TỪ ĐƠN VÀ TỪ LÁY SONG TIẾT
2.1 Dẫn nhập
Khi bàn về chức năng của các đơn vị ngôn ngữ người ta thường nói đến haiphương diện: phương diện cấu trúc và phương diện ngữ nghĩa Ở phương diện cấutrúc hình thức, vần sẽ được xem xét nó đóng vai trò gì so với các đơn vị khác trongquan hệ tạo lập các đơn vị lớn hơn hay nhỏ hơn mà thông thường là lớn hơn.Chẳng hạn, các âm vị tạo lập nên các hình vị (âm tiết), các từ tạo lập nên câu Còn
ở mặt ngữ nghĩa, chức năng các đơn vị ngôn ngữ đó sẽ biểu hiện qua vai trò của nótrong việc thể hiện nghĩa hay khu biệt nghĩa các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ Vầntiếng Việt là đơn vị ngữ âm cơ bản nên việc tìm hiểu chức năng của nó sẽ khôngnằm ngoài phạm vi xem xét các khía cạnh đã nêu trên Tác giả Phi Tuyết Hinh(1990) đã từng nghiên cứu giá trị biểu trưng khuôn vần tiếng Việt, dựa vào mốiliên hệ liên tưởng, tìm sự tương ứng giữa đặc trưng ngữ âm của khuôn vần, dựavào mối quan hệ liên tưởng với ấn tượng ngữ nghĩa do khuôn vần tạo ra, tức là chỉ
ra chức năng thể hiện nghĩa của vần tiếng Việt Nếu như ở chương 1, chúng tôi đãgiới thuyết về số lượng vần tiếng Việt hiện đại, thì đến đây chúng tôi muốn đi sâuhơn để tìm hiểu chức năng cấu tạo của vần tiếng Việt trong từ đơn và từ láy songtiết
2 2 Vần trong từ đơn
2.2.1 Khái niệm từ đơn
Từ trước đến nay, các nhà Việt ngữ học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau
về từ đơn Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt ngữ
nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai
Trang 26trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ (Đỗ Hữu Châu, Từ vựng- ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1981) Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức
Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cũng cho rằng: Phương thức dùng một tiếng làm một
từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ đơn tiết) [8,51] Còn tác giả Đỗ Thị Kim Liên
thì khẳng định: Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ được cấu tạo bằng một
tiếng Dựa vào số lượng hình vị có thể chia từ tiếng Việt thành từ đơn và từ phức.
Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên Đa số từ đơn tiếng Việt là từ đơn đơn
Xung quanh định nghĩa về từ đơn, có thể dẫn ra nhiều định nghĩa khác nhau
Ở đây, chúng tôi chọn cách hiểu từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên, có cấutrúc hoàn chỉnh, có tính độc lập, có thể tách rời khỏi những đơn vị khác một cách
Từ góc độ chức năng tạo lập các tín hiệu ngôn ngữ, có thể nói vần tham gia cấu tạocác tín hiệu đơn tiết với tư cách là vật liệu xây dựng Do đó, để làm nổi bật chứcnăng cấu tạo của vần tiếng Việt phải xem xét trên thực tế, các vần đã được sử dụngvới tỷ lệ, tần suất như thế nào trong toàn bộ từ đơn tiếng Việt Danh sách của cácvần tiếng Việt, theo Hoàng Phê (1996) gồm 115 vần hiện diện trong từ đơn tiếng
Trang 27Việt Theo chúng tôi, số lượng vần tiếng Việt được xác lập dựa trên sự phân biệttối đa của chữ Quốc ngữ là 159 vần có mặt trong 5062 từ đơn tiếng Việt
Có 18 vần mở có mặt trong 1106 từ đơn tiết, chiếm gần 21,9% so với tổng số
5062 từ đơn tiếng Việt, có 28 vần nửa mở tham gia cấu tạo từ đơn tiếng Việt, cácvần nửa khép có mặt trong 2912 từ đơn tiết và vần khép có mặt trong 1165 từ đơntiết
- Nhận xét
Nhìn vào bảng vần mở thì các từ đơn chứa vần mở là nguyên âm hàng trước(không tròn môi) có số lượng lớn nhất là 583 từ Trong khi đó, số lượng từ đơnchứa vần mở là nguyên âm hàng sau - không tròn môi ít tham gia vào cấu tạo từđơn là một phần vì các vần này không có vần chứa âm đệm Trong nội bộ từnghàng, ta có thể thấy thuộc hàng trước (không tròn môi) vần có tần số xuất hiện vào
loại nhiều nhất là i (117 từ), tiếp theo là vần e (144 từ), ít nhất là vần uya (2 từ);
Trang 28hàng sau không tròn môi: vần có tần số xuất hiện nhiều nhất là a (120 từ), tiếp sau
là ơ (98 từ), ít nhất là uơ (7 từ) Còn hàng sau tròn môi, vần có tần số xuất hiện nhiều nhất là o (111 từ), tiếp theo là u và ô (90 từ), ít nhất là ư (38 từ).
Các vần mở là nguyên âm chuyển sắc (nguyên âm đôi), ia, ưa, ua tỏ ra hạn chế
hơn so với các vần là nguyên âm thuần sắc cùng dòng
Một phương diện khác là, trong 3 độ nâng của lưỡi: cao - vừa - thấp thì các độnâng thấp thì có khả năng xuất hiện trong từ đơn tiết nhiều hơn so với các độ nâng
khác (Độ nâng thấp vần e: 144 từ, vần a: 120 từ, vần o: 90 từ hoặc cùng một độ nâng thấp như a - e - o thì độ nâng thấp nhất là a: với 120 từ, độ nâng thấp hơn là
Khung các vần có tần suất cao trong các từ đơn tiết tiếng Việt, dễ dàng liên
hệ được với mô hình các nguyên âm có tần số sử dụng cao và có mặt hầu hết ở cácngôn ngữ
b Các vần nửa mở
- Bảng vần nửa mở
Trang 29548
297
- Nhận xét
Theo thống kê trong Từ điển vần của Hoàng Phê [34] thì hệ thống vần nửa
mở chỉ có 27 vần, nhưng nếu dựa vào chữ Quốc ngữ và cách phát âm địa phươngthì hệ thống vần nửa mở lại xuất hiện thêm vần "ơu" tạo nên vần thứ 28
Trong số 1092 từ đơn tiết được cấu tạo bởi các vần nửa mở thì các vần nửa mởkết thúc bằng bán âm -j, có số lượng là 620 chiếm gần bằng 58,7% tổng số các từ
Trang 30đơn tiết nửa mở kết thúc bằng bán âm -w có số lượng từ là 472 từ, chiếm gần bằng41,3% còn lại.
Xét từ phía đỉnh vần, chúng tôi thấy rằng các vần nửa mở có đỉnh vần lànguyên âm hàng sau - không tròn môi tham gia cấu tạo từ đơn tiết có số lượng lớnnhất là 576 từ, trong khi đó các vần nửa mở có đỉnh vần là nguyên âm hàng sau -tròn môi là 252 từ
Điều này có thể được giải thích bởi luật phân bố ngữ âm trong tiếng Việt: cácnguyên âm đỉnh vần hàng sau - không tròn môi có thể kết hợp được với 2 bán
âm /-j/ và /-w/ làm kết vần, trong khi đó đỉnh vần là các nguyên âm hàng sau - trònmôi thì không kết hợp được với kết vần là bán âm /-w/
Nếu xét theo các độ nâng của nguyên âm đỉnh vần thì các số từ đơn tiết có mặttrong các vần được tăng theo thứ tự: Các vần ở độ nâng cao (iu, iêu, ươu, ui, uôi),tiếp đến là các vần ở độ nâng vừa (êu, âu, uơ, ây, ơi, ôi) và cuối cùng là độ nângthấp (eo ao, ay, ai, oi)
Mặt khác, từ phía đỉnh vần, các nhóm vần tăng theo thứ tự như sau: các vầnhàng sau - tròn môi, các vần hàng trước - không tròn môi và cao nhất là các vầnhàng sau - không tròn môi
Như vậy, qua số liệu thống kê hệ thống vần nửa mở gồm 28 vần xuất hiệntrong 1092 từ đơn tiết, chiếm một số lượng lớn trong tổng số từ đơn tiết tiếng Việt( 21,5%)
Điều này chứng tỏ, vần nửa mở có tần số xuất hiện khá cao trong việc cấu tạocác đơn vị đơn tiết tiếng Việt
Trang 31êm 18 ơm 49 ôm 44
Trang 32Hệ thống vần nửa khép gồm 56 vần tham gia cấu tạo 2155 từ đơn tiết tiếng
Việt chiếm 42,5% tổng số từ đơn tiết mà chúng tôi thu thập được từ Từ điển tiếng
Việt của Hoàng Phê Trong vần nửa khép, các kết vần là phụ âm m, n, nh, ng, trong
đó, kết thúc bằng -m là 421 từ, kết thúc bằng -n là 642 từ, kết thúc bằng -nh là 179
từ, kết thúc bằng -ng là 539 từ Như vậy, cách kết thúc bằng âm cuối -n cho ta tần
số cao nhất, còn thấp nhất là -nh, chỉ có trong 179 từ
Nếu ta xem xét số liệu thống kê sẽ thấy một số vần có tần số xuất hiện
thấp như vần ưm chỉ xuất hiện trong một từ là hừm và vần ưn chỉ xuất hiện trong một từ đó là chưn.
Các vần nửa khép có đỉnh vần là nguyên âm hàng sau - không tròn môi có mặttrong 1212 từ đơn tiết; đỉnh vần là nguyên hàng trước - không tròn môi là 476 từ;đỉnh vần là nguyên âm hàng sau - tròn môi có trong 647 từ Các số liệu chứng tỏ,các vần có đỉnh vần là nguyên âm hàng sau - không tròn môi có tần số xuất hiệncao nhất, còn các vần có đỉnh vần là nguyên âm hàng trước - không tròn môi vànguyên âm hàng sau - tròn môi có tỉ lệ gần tương đương nhau
Như vậy, nếu so sánh hệ thống vần nửa khép với vần mở và vần nửa mở ta
sẽ nhận thấy hệ thống vần nửa khép có khả năng tham gia vào các từ đơn tiết nhiềuhơn cả vần mở, vần nửa mở Cụ thể:
Trang 34êt 22 ơt 19 ôt 26
Trang 35các vần khép có đỉnh vần là nguyên âm hàng trước có trong 39 từ, đỉnh vần lànguyên âm hàng sau - tròn môi có trong 33 từ.
Số liệu thống kê cũng cho thấy, vần khép có nguyên âm đỉnh vần hàng sau không tròn môi kết thúc bằng -t là các vần có tần số xuất hiện nhiều nhất trong cấutạo từ đơn tiết
Nếu xét khả năng tham gia cấu tạo từ đơn tiết của các vần khép, xét từ kết vần
-p, -t, -ch, -c thì cũng cho kết quả cụ thể như sau:
+ Kết vần bằng -p (môi - môi) có 14 từ
+ Kết vần bằng -ch ( mặt lưỡi - giữa) có 4từ
+ Kết vần bằng -c (cuối lưỡi) có 13 từ
Trong khi đó, kết vần -t có trong 520 từ đơn tiết
Nếu xét từ phía đỉnh vần thì vần khép có nguy ên âm đỉnh vần hàng sau không tròn môi và vần khép có nguyên âm đỉnh vần làhàng trước - không tròn môi
-có số lượng tương đương nhau (14 vần) và cũng ít hơn so với hàng sau- tròn môi(17 vần)
Vần khép có tần số tham gia nhiều nhất vào các từ đơn tiết tiếng Việt là các
vần ac xuất hiện trong 29 từ, vần khép có tần số tham gia ít nhất là vần ooc chỉ với
5 từ (coóc, moóc, phooc, soóc, coọc)
- Sở dĩ, vần khép chiếm một tỷ lệ phần trăm thấp so với với các tiểu hệ thống
vì các vần khép chỉ kết hợp được 2 thanh điệu là thanh sắc (') và thanh nặng (.) màkhông kết hợp được với các thanh khác Điều này kéo theo sự hạn chế khi các vầnkhép tham gia cấu tạo các từ đơn (âm tiết) cụ thể Do đó, số lượng ký hiệu đơn tiết
dĩ nhiên cũng bị giảm đi đáng kể.
2.2.2.3 Nhận xét chung
a Dựa vào khả năng sản sinh hình tiết thực (từ đơn) trong các kết hợp của vầnvới âm đầu và thanh điệu là chủ yếu, dựa trên nguyên tắc định lượng để phân loại,chúng tôi cho rằng hệ thống vần tiếng Việt có thể được chia thành các tiểu hệthống tâm và biên Dĩ nhiên, để tiến hành phân loại, chúng tôi phải xác lập các tiêu
Trang 36chí phân loại Hệ thống vần tiếng Việt gồm 159 đơn vị Số liệu thống kê khả năngsản sinh hình tiết thực của các vần cho thấy khả năng kết hợp với âm đầu và thanhđiệu là không như nhau Vần thấp nhất chỉ có khả năng tạo hình tiết thực với một
âm đầu và một thanh điệu, vần cao nhất có khả năng tạo hình tiết thực với 23 âmđầu và 6 thanh điệu Còn lại là các vần có khả năng tạo hình tiết thực trong kết hợp
từ 1 đến 23 âm đầu và từ 1 đến 6 thanh điệu Như vậy, về mặt lí thuyết, tổng cộng
159 vần tiếng Việt có khả năng sản sinh hình tiết thực trong kết hợp với 2312 lượt
âm đầu với 6149 lượt thanh điệu Tính trung bình mỗi vần có khả năng kết hợp với
14 âm đầu để tạo nên hình tiết thực và số hình tiết thực được tạo thành trong kếthợp với thanh điệu trung bình là 18
Qua đối chiếu các cấu trúc hình thức được sản sinh từ mặt kết hợp lí thuyết vớithực tế sử dụng của hình tiết Việt trong ngữ dụng thường nhật, có thể nhận thấyrằng các vần có khả năng kết hợp với âm đầu hạn chế thì kết hợp với thanh điệucũng bị hạn chế Các hình tiết thực được tạo thành từ các vần có khả năng kết hợpvới âm đầu và thanh điệu hạn chế thì trong thực tế ít được sử dụng thành từ đơnthực tế Ngược lại, những vần có khả năng kết hợp với âm đầu rộng rãi thì đồngthời cũng có khả năng kết hợp với thanh điệu rộng hơn Các hình tiết thực được tạothành từ các vần có khả năng kết hợp với âm đầu và thanh điệu cao là những hìnhtiết có tần số sử dụng cao Những vần hạn chế trong khả năng kết hợp với âm đầu
và thanh điệu thường nằm trong khu vực những hình tiết không mang nghĩa, không
có tư cách hoạt động độc lập thành từ đơn (tiết), hoặc là các âm tiết cổ, âm tiết vay
mượn, âm tiết tượng hình, tượng thanh Chẳng hạn, vần uych chỉ có khả năng kết
hợp với âm đầu tắc thanh hầu /?/ và /h-/ và một thanh điệu là thanh nặng /6/ để tạo
nên các hình tiết uỵch, huỵch (từ đơn tượng thanh) Trái lại, những vần có khả
năng rộng trong kết hợp với âm đầu và thanh điệu thường nằm trong khu vực hìnhtiết mang ý nghĩa từ vựng hoặc ý nghĩa ngữ pháp, là những hình tiết có khả năng
làm thành từ đơn (tiết) Chẳng hạn, vần i có khả năng tạo thành hình tiết thực với
23 âm đầu và 6 thanh điệu Các hình tiết thực này đồng thời là từ đơn (tiết): ti, tì,
bi, bì, bí, xì, xị, nghi, nghĩ, li, lí, mì, mí, đi, chỉ, Vậy là, dựa vào khả năng kết hợp
Trang 37với âm đầu và thanh điệu, ta sẽ xác định được các tiểu hệ thống vần trong tiếngViệt theo lí thuyết tâm biên.
b.Trước hết là tiểu hệ thống vần biên Các vần được xếp vào tiểu hệ thống vầnbiên là những vần có khả năng kết hợp với âm đầu và thanh điệu hạn chế Chứcnăng cấu tạo từ đơn của các vần thuộc tiểu hệ thống vần biên là không lớn Cụ thể:
- Là những vần có khả năng kết hợp với ít nhất là một âm đầu và một thanh điệu
để tạo nên hình tiết thực Đó là những vần im, ông, op, at, uên, kết hợp được với
các âm đầu là t-, b-, m-, h-, k- và các thanh /1/ (thanh ngang), /2/ (thanh huyền), /5/
(thanh sắc), /6/ (thanh nặng) để tạo thành các hình tiết thực tim, bồng, móp, hạt,
quên,
- Là những vần thường chỉ có khả năng tạo được các loại hình tiết thực làm vỏ
âm thanh cho các đơn vị ngữ pháp sau đây: 1/ Vỏ hình tiết tượng thanh, ví dụ: vần
ưm trong kết hợp với âm đầu h- và thanh /2/ tạo thành hình tiết hừm; hoặc vần eng
trong kết hợp với âm đầu k- và thanh /1/ tạo thành hình tiết keng 2/ Vỏ hình tiết tượng hình, ví dụ: vần uăp trong kết hợp với âm đầu k- và hai thanh /5/, /6/ tạo thành các hình tiết tượng hình quắp, quặp; hoặc vần oăt trong kết hợp với âm đầu ng- và hai thanh /5/, /6/ tạo thành các từ tượng hình ngoắt, ngoặt 3/ Hình tiết vỏ từ vay mượn, ví du: vần uyn trong kết hợp với âm đầu t- và thanh /1/ để tạo thành hình tiết vay mượn tuyn (màn tuyn); hoặc vần uy trong kết hợp với âm đầu ph- và thanh /1/ để tạo thành hình tiết phuy (thùng phuy) 4/ Hình tiết vỏ từ địa phương có phạm vi sử dụng hẹp, ví du: vần ơu kết hợp với âm đầu ph- và thanh /1/ để tạo thành hình tiết phơu (phơu bở, có nghĩa là may, hời); hoặc vần ơng trong kết hợp với âm đầu b- và thanh /2/ để tạo thành hình tiết bờng (rú Bờng, ở Can Lộc, Hà
Tĩnh)
Như vậy, các hình tiết thực được tạo thành từ tiểu hệ thống vần biên có rất ít hìnhtiết tạo thành từ đơn (tiết).Căn cứ vào các tiêu chí trên, chúng tôi thấy trong 159vần tiếng Việt có thể quy 48 vần vào tiểu hệ thống vần biên Danh sách các vầnthuộc tiểu hệ thống biên là:
Trang 381 ưn 10 oat 19 oen 26 en 35 uê 44 uân
2 uych 11 uăp 20 uêu 27 oep 36 uên 45 uâp
3 uyn 12 uâng 21 uyu 28 ươu 37 uyt 46 uât
4 uy 13 oam 21 uya 29 ươt 38 oen 47 uat
5 iêc 14 uau 22 uơ 30 ươp 39 uyêt 48 uăt
6 oc 15 oao 23 uây 31 ưt 40 oet
7 uyp 16 uâu 24 oeo 32 ưc 41 ưc
8 ưi 17 oach 25 uăm 33 uôm 42 oai
9 uăc 18 oet 26 êm 34 ong
Phân tích một trường hợp cụ thể, chẳng hạn, vần oen được xếp vào tiểu hệ thống
vần biên vì nó chỉ kết hợp được với các âm đầu kh-, k-, ch-, nh-, h-, tức là chỉ kếthợp được 5/ 23 âm đầu và các thanh /1/, /2/, /3/, tức là chỉ 3/ 6 thanh Các kết hợp
này cho ta các hình tiết làm thành từ đơn như: khoen, quen, choèn, nhoẻn, hoen Ngoài ra, vần oen có trong một số hình tiết trong từ láy song tiết như ngoẻn (ngoen ngoẻn), hoẻn (toen hoẻn, choen hoẻn); trong từ ghép như choèn (nông choèn).
- Dựa vào các đặc điểm ngữ âm- âm vị học, có thể rút ra những đặc điểm chính
về cấu trúc hình thức của tiểu hệ thống vần biên như sau: 1/ Trong 159 vần tiếngViệt có 46 vần có âm đệm, chiếm gần 29%, trong khi đó có 39 vần có âm đệmthuộc tiểu hệ thống vần biên, chiếm gần 81% toàn bộ vần biên Như đã biết, cácvần có âm đệm kết hợp rất hận chế với âm đầu Sau 7 âm đầu b-, m-, ph-, v-, n-, r-,g/gh- không bao giờ xuất hiện những vần có âm đệm (chỉ có vài ba ngoại lệ) 2/Tiểu hệ thống vần biên chủ yếu là những vần có kết vần là phụ âm tắc- miệng (tắc-khép), tức là các vần khép, gồm 20 vần Các vần này (cùng với âm đầu) chỉ kếthợp được với hai thanh là thanh /5/ và /6/ Tiếp theo là các vần nửa khép (khép-vang) gồm 15 vần, các vần nửa mở, gồm 10 vần, vần mở, gồm 3 vần
c Tiếp theo là tiểu hệ thống vần tâm Vần tâm là những vần có khả năng tạo hìnhtiết thực rất lớn, có khả năng hoạt động độc lập rất cao để tạo thành từ đơn (tiết).Khả năng ấy thể hiện trong các tỉ lệ kết hợp với âm đầu và thanh điệu để tạo nên
Trang 39hình tiết thực của mỗi vần, thể hiện trong khả năng phân bố và số lần xuất hiện củacác hình tiết thực được tạo thành.
- Đó là những vần có khả năng kết hợp với trên 14 âm đầu và hầu hết có khả năngtạo thành hình tiết thực trong kết hợp với từ 2 đến 3 thanh điệu; số hình tiết thựcđược tạo thành qua kết hợp với thanh điệu gấp hai đến ba lần số kết hợp giữa vầnvới âm đầu Những vần có khả năng kết hợp với trên 18 âm đầu thì hầu hết cũng
có khả năng kết hợp được từ 3 đến 6 thanh; số hình tiết thực được tạo thành quakết hợp với thanh điệu gấp từ hai đến năm lần số kết hợp với âm đầu Các hình tiếtthực được tạo thành từ các vần có khả năng sản sinh càng cao thì khả năng hoạtđộng độc lập của hình tiết thực cũng cao Kết hợp sự tương ứng giữa cấu trúc hìnhthức và sự hành chức ngữ dụng, có thể xác định các thuộc tính của tiểu hệ thốngvần tâm như sau: 1/ Vần được xếp vào tiểu hệ thống vần tâm trước hết là nhữngvần có khả năng tạo thành hình tiết thực trong các kết hợp với âm đầu và thanhđiệu, chiếm từ 80 đến 100% trong tổng số các kết hợp 2/ Các vần thuộc tiểu hệtâm có khả năng sản sinh hình tiết thực trong sự kết hợp với từ 2 đến 6 thanh điệu.3/ Là những vần thường nằm trong khu vực các loại hình tiết thực làm vở ngữ âmcho các từ đơn (tiết) sau: a/ Hình tiết là vỏ có khả năng hoạt động độc lập thành từ
đơn (tiết) Ví dụ: vần i trong sự kết hợp với âm đầu t- và các thanh /1/, /2/, /4/, /5/, /6/: ti, tì, tỉ, tí, tị; hay vần en trong sự kết hợp với âm đầu ch- với các thanh / 1/, /2/, /3/, 5/, /6/: chen, chèn, chẽn, chén, chẹn b/ Hình tiết là vỏ của yếu tố có nghĩa
từ vựng trong từ láy, chẳng hạn, vần ep trong kết hợp với âm đầu đ- và thanh /6/ tạo nên yếu tố có nghĩa đẹp trong đèm đẹp; hay vần ung trong kết hợp với âm đầu b- và thanh /2/ tạo thành yếu tố có nghĩa bùng trong bập bùng c/ Hình tiết là vỏ của yếu tố có nghĩa từ vựng trong từ ghép Ví du: vần ông trong kết hợp với âm đầu r- và thanh /3/ tạo thành rỗng trong từ ghép rỗng tuếch; hoặc vần at trong kết hợp với âm đầu nh- và thanh /6/ để tạo thành nhạt trong từ ghép nhạt phèo.
- Dựa vào các thuộc tính trên đây, chúng tôi cho rằng trong 159 vần tiếng Việt có
81 vần thuộc tiểu hệ thống vần tâm Đó là các vần sau đây:
1 i/y 16 anh 32 ao 47 ăp 62 ôi 76 ôc
Trang 402 ê 17 ep 33 au 48 ương 63 oi 77 oc
3 e 18 it 34 ơi 49 âp 64 uôi 78 uôc
4 ia 19 êt 35 ây 50 ât 65 um 79 oa
5 iu 20 et 36 ai 51 at 66 ôm 80 oe
6 êu 21 iêt 37 ay 52 ăc 67 om 81 oan
7 eo 22 ich 38 âm 53 ưc 68 un
8 iêu 23 êch 39 ăm 54 ac 69 ân
9 êm 24 ach 40 am 55 ăt 69 on
10 em 25 ec 41 ơn 56 ươc 70 uôn
11 iêm 26 ư 42 ân 57 u 71 ông
12 in 27 ơ 43 an 58 ô 72 ong
13 ên 28 a 44 ưng 59 o 73 ut
14 en 29 ưa 45 ap 60 ua 74 ôt
15 iên 30 âu 46 oan 61 ui 75 ot
81 vần trên thoả mãn các thuộc tính của tiểu hệ vần tâm Đối chiếu các thuộc tính
đó với một số vần cụ thể, chẳng hạn, vần an có khả năng kết hợp được với 23 âm
đầu (cùng với thanh điệu) để tạo ra các hình tiết thực; số hình tiết thực tạo thànhtrong sự kết hợp với thanh điệu lên tới 93 hình tiết (tính trung bình mỗi kết hợpvần với âm đầu có khả năng sản sinh hình tiết thực trong kết hợp với hơn 4 thanhđiệu) Các hình tiết được tạo thành có khả năng tạo thành từ đơn (tiết) kiểu như:
án, ban, bàn, bạn, phát, phạt, tan, tàn, tản, tán, than, nan, đàn, đạn, chan, chán, ngán, màn, vạn, ván, hạn, khan, khản, gan, can, càn, cán, cản, cạn, Vần an còn
tồn tại với tư cách là yếu tố có nghĩa trong các từ láy, từ ghép kiểu như: an (an ủi),
ban (ban phát), than, vãn (than vãn), khan (khan hiếm), tan (tan rã), nan (nan
giải),
- Tiểu hệ thống vần tâm có những thuộc tính sau đây: 1/ Các vần thuộc hệ tâm lànhững vần hầu hết không có âm đệm Trong 159 vần tiếng Việt, vần tâm chiếm